Thư viện

Gặp người tham gia tiếp quản Sài Gòn

Vì lý do sức khỏe và hoàn cảnh gia đình (bố mẹ già yếu, mấy anh, em đã đi B), vài lần bác sỹ Nguyễn Thế Khởi nộp đơn tình nguyện đi B nhưng đều bị từ chối. Thế nên, ông không nghĩ mình lại được có mặt trong đoàn người tham gia tiếp quản Sài Gòn sau ngày 30.4.1975 lịch sử…

Sau khi ký Hiệp định Paris, ai cũng hiểu cuộc chiến đang vào giai đoạn cuối, nhưng vẫn không kém phần ác liệt. Miền Nam đã có một số vùng được giải phóng, rất cần bác sỹ bảo vệ sức khỏe cho quân và dân tiếp tục chiến đấu và sản xuất. Vì thế, cuối tháng 3.1972, bác sỹ Nguyễn Thế Khởi, khi đó 24 tuổi, là y sỹ khoa hồi sức cấp cứu tại Bệnh viện Thanh Hà, Hải Dương, cùng một số y, bác sỹ miền Bắc được triệu tập về Trường Bồi dưỡng cán bộ 105 ở Hòa Bình, thuộc Ban Thống nhất Trung ương, chuẩn bị đi B. Hồi đó, bộ đội chủ yếu đóng quân ở vùng rừng núi, bệnh sốt rét nhiều, nên trước khi vào Nam, ông và đồng nghiệp được tập huấn về căn bệnh này. Sau một thời gian rèn thể lực và tập huấn nghiệp vụ, các y, bác sỹ cùng hàng chục giáo viên, kỹ sư… lên đường, với niềm tin miền Nam sẽ sớm được giải phóng, non sông sớm thu về một mối. Mặc dù khi đó đã có đường Tây Trường Sơn, nhiều chặng đi ôtô, nhưng cũng nhiều đoạn mọi người phải đi bộ, ròng rã gần 6 tháng trời, đoàn mới đến Ban Dân y (BS67)å của Trung ương Cục miền Nam (N3072), thuộc Tây Ninh hiện nay. Sau 5 – 6 tháng đóng tại đây (Cứ C30), ông Nguyễn Thế Khởi được điều lên căn cứ Bù Đốp, Lộc Ninh – hai huyện đã giải phóng, vừa phòng chống sốt rét cho nhân dân, vừa nghiên cứu mùa truyền bệnh của muỗi, sử dụng thuốc diệt muỗi… Ở đó chừng 2 năm, ông trở lại căn cứ ở Tây Ninh.

Trước ngày 30.4.1975, ông Nguyễn Thế Khởi và một số đồng nghiệp được tập trung học chính trị, không ai nói nhưng ai cũng biết là để chuẩn bị tiếp quản Sài Gòn sau giải phóng. Các ông học chính sách của Chính quyền Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam về sử dụng người của chế độ cũ. Theo đó, với những người hưởng nhiều đặc ân của chế độ cũ, phải có thái độ kiên quyết, dứt khoát, còn với những người chỉ làm công ăn lương thì có thái độ thân thiện, tận dụng kiến thức, kinh nghiệm của họ. Thời gian tập huấn cũng cung cấp kiến thức về phong tục, tập quán của người dân để việc tiếp cận, làm việc sau này dễ dàng và hiệu quả hơn.

Sài Gòn ngày 30.4.1975                                              Ký họa của họa sỹ Trung Sơn

Ngày 28.4.1975, các đoàn cán bộ từ Tây Ninh đồng loạt tiến về Sài Gòn, tập trung ở vùng ven thành phố như Trảng Bàng, Củ Chi. Nghe ngóng tình hình chiến sự qua radio, ai cũng đoán già đoán non giờ G sắp đến, nhưng không nghĩ nó lại đến sớm thế. Trưa 30.4.1975, tin quân ta đánh chiếm dinh Độc lập được thông báo qua radio và qua những người làm công tác quân quản. Mọi người đều mừng vui khôn tả. Sau mấy chục năm chiến tranh, Sài Gòn đã được giải phóng, Bắc – Nam sum họp một nhà.

Chiều cùng ngày, từng đoàn người tiến vào tiếp quản thành phố. Đến sáng 1.5.1975, các cán bộ y tế được đưa đến tiếp quản Nha y tế công cộng – bộ phận y tế dự phòng của chính quyền Sài Gòn. Bác sỹ Nguyễn Thế Khởi nhớ lại: những người có trách nhiệm của Nha y tế công cộng vẫn ở đó đón chúng tôi và bàn giao, nhưng nhiều nhân viên đã sợ hãi, bỏ đi. Sau đó, chúng tôi phải mời họ đến, phỏng vấn, kê khai và phân chia các nhóm đối tượng cụ thể. Nhiều người được sử dụng lại, họ đã làm tốt công việc của mình, gắn bó và cống hiến cho đến khi nghỉ hưu. C30 chỉ có khoảng 30 người, nhưng phải tiếp quản 21 tỉnh, thành, nếu không dựa vào lực lượng này, chương trình phòng chống sốt rét nói riêng, việc bảo vệ sức khỏe cho quân và dân nói chung những năm mới giải phóng khó đạt kết quả.

Phải hơn một tháng sau ngày 30.4.1975, ở quê nhà mới nhận được thư ông Khởi – một niềm vui xen lẫn tự hào và cả mong ngóng ngày ông trở về. Nhưng sau giải phóng, số bộ đội từ trong rừng ra mang theo ký trùng sốt rét, nhân sự bị xáo trộn, TP Hồ Chí Minh, các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang… bùng nổ dịch sốt rét. Lực lượng y tế của các tỉnh còn mỏng, nên những cán bộ y tế từ miền Bắc vẫn phải tiếp tục công tác điều trị, chữa bệnh cho bộ đội và nhân dân, đồng thời tham gia chống dịch. Phấn khởi vì đất nước thống nhất, cộng với sức trẻ và nhiệt huyết, ai cũng hăng hái làm việc, nguyện vọng về Bắc tạm gác sang một bên. Thời gian cứ thế trôi đi, ông Khởi không nghĩ mình lại gắn bó với thành phố đến tận bây giờ, được chứng kiến những đổi thay, phát triển của mảnh đất này. Gia đình ông từ ngoài Bắc cũng đã chuyển vào TP Hồ Chí Minh. Ông tiếp tục sự nghiệp phòng chống sốt rét cho đến ngày nghỉ hưu.

Giờ đây, cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, bác sỹ Nguyễn Thế Khởi và đồng nghiệp công tác tại Ban Dân y miền Nam năm xưa lại tập trung, ôn lại một thời khó khăn, gian khổ nhưng đầy hào hùng. Nhà truyền thống Ban Dân y Nam bộ được xây dựng ở căn cứ Chàng Riệc, trên chính quả đồi ngày xưa, để lưu giữ những kỷ vật, ký ức giai đoạn đó; đồng thời góp phần giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống của cha ông.

Ng.Anh ghi
daibieunhandan.vn

Người chiến sĩ phất cờ chiến thắng tại Dinh Độc Lập

Ông Đô và đồng đội thường ôn lại kỷ niệm chiến đấu và chiến thắng bằng những hiện vật sờn cũ. (Ảnh: Trung Hiền/Vietnam+)

Người đàn ông nhỏ nhắn, lưng gù, dáng vẻ hiền hậu lật giở từng xếp tài liệu cũ mèm, miệng vanh vách kể cho người khách trẻ những trận chiến ác liệt để giải phóng miền Nam.

Ít ai biết rằng, ngày còn trai tráng, ông cao tới 1,73m, là một trong những chiến sĩ đặc công xuất sắc của Binh chủng Đặc công. Và, ông cũng chính là người đã phất lá cờ giải phóng trên dinh Độc Lập…

Theo nghiệp binh đao

Ngôi nhà nhỏ, giản dị của người lính đặc công năm xưa, ông Phạm Duy Đô nằm sâu trong một con ngõ… cực nhỏ ở Thành phố Thái Bình (tỉnh Thái Bình). Tiếp khách nhẹ nhàng, nhưng đến khi kể về những trận đánh năm xưa, ông Đô cất giọng sang sảng, rất đỗi tự hào.

Tháng 5/1969, khi mới 17 tuổi, Phạm Duy Đô nhập ngũ và trở thành chiến sĩ của Binh chủng Đặc công. Sau thời gian huấn luyện 9 tháng, anh được lựa chọn là một trong 6 chiến sĩ đặc công đi biểu diễn cho lãnh tụ Fidel khi ấy sang thăm Việt Nam.

Vào chiến trường miền Nam, Phạm Duy Đô luôn đi đầu, là một người lính quả cảm, luôn xông pha vào nơi mũi tên, hòn đạn.

Chỉ tay vào hai vết sẹo trên đùi, ông kể rằng trong trận đánh Chiến đoàn 43 đóng tại Biên Hòa của địch vào năm 1972, ông đã bị đạn găm vào hai bên đùi, cây đè lên cột sống bất tỉnh. Đồng đội tưởng ông đã hy sinh, bèn khênh Phạm Duy Đô ra bờ suối để đợi đến sáng đem chôn thì nửa đêm ông tỉnh lại. Sau khi điều trị tại chỗ một thời gian, ông lại tiếp tục vác súng chiến đấu với kẻ thù, giành giật từng thước đất cho quê hương.

Trong ký ức của những năm tháng trai trẻ ùa về, ông Đô nhớ như in lần bắt sống một viên đại tá Ngụy quyền tên là Kiệt khiến đám lính Ngụy khiếp sợ.

Nói về hành động táo bạo này, ông Đô kể rằng năm 1974, ông nhận lệnh của Quân ủy Miền phải bắt bằng được đại tá Kiệt (thuộc Chiến đoàn 43) – kẻ nắm hồ sơ về việc điều hành Mỹ-Ngụy bắn phá miền Bắc cũng như nắm rõ về lịch điều quân Ngụy ra Quảng Trị, Buôn Mê Thuột và các quân khu.

Để thực hiện nhiệm vụ, Phạm Duy Đô đã mất cả tháng trời cải trang thành lính Ngụy để theo dõi lịch trình sinh hoạt của tên Kiệt. Sau khi biết tên Kiệt có một rẫy cà phê ở khu vực Biên Hòa, ông đã lên kế hoạch chi tiết để bắt tên đầu sỏ này khi hắn đến thăm rẫy và cuộc vây bắt thành công.

Trận đánh cuối cùng

Trải qua hàng trăm trận đánh oai hùng, chiến sĩ đặc công Phạm Duy Đô thấy mình vô cùng may mắn khi chứng kiến thời khắc cuối cùng của chế độ Ngụy quyền, và tự tay vẫy lá cờ giải phóng trên dinh độc lập.

Theo lời kể của ông Đô, vào những ngày cuối cùng của tháng Tư năm 1975 (khi ấy ông Đô là Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 116 của Binh chủng Đặc công), Đại đội của ông được lệnh tấn công kho xăng An Bình, chiếm và giữ cầu xa lộ Biên Hòa.

Nhận lệnh, ngày 26/4, Đại đội của Thượng sĩ Phạm Duy Đô gồm 24 chiến sĩ đặc công đã bất ngờ tập kích kho xăng An Bình, đánh tan một trung đoàn của địch. Sau đó, ông Đô lại chỉ huy lực lượng đánh tan 1 trung đoàn thủy quân lục chiến của Ngụy ở trên thuyền (dưới cầu xa lộ Biên Hòa), giải phóng 2 ấp cạnh đó để làm nơi tập kết vũ khí, đạn dược… Những trận đánh ác liệt này đã cướp đi sinh mạng của 6 chiến sĩ đặc công, song đã giúp ta giành thắng lợi lớn, giữ thành công cây cầu để đường cho Đại quân thẳng tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Chiến sĩ đặc công Phạm Duy Đô (cầm cờ) trong những ngày đại thắng.
(Ảnh chụp lại tại Bảo tàng Binh chủng Đặc công).

Hoàn thành nhiệm vụ, Đại đội của ông Đô lại chia làm 2 mũi, cùng với xe tăng của Đại quân tiến vào Sài Gòn, thẳng tới dinh Độc Lập làm nhiệm vụ chiến đấu và chỉ đường. Chiếc xe tăng ông Đô ngồi đi thứ hai.

Sau khi chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cổng dinh độc lập, chiếc xe tăng chở Thượng sĩ Đô cùng Trung úy xe tăng Bùi Quang Thận (người cắm cờ trên dinh Độc lập)… vòng theo phía tay trái tiến lên.

Ngay lập tức, Thượng sĩ Phạm Duy Đô đã chạy lên ban công của dinh Độc lập, vẫy cờ giải phóng để ra hiệu cho xe tăng tiến vào. “Khi ấy, toàn bộ Trung đoàn Đặc công đã bao vây dinh Độc lập. Và địch đã chịu bỏ giáp đầu hàng,” ông Đô nhớ lại.

Sau khi ra hiệu cho xe tăng tiến vào, ông Đô cùng đồng đội đã phát hiện toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn trong phòng họp. Lực lượng đột kích thọc sâu của Quân đoàn 2 đã kịp thời bắt sống nội các chính quyền Sài Gòn. Và, tướng Dương Văn Minh-Tổng thống Ngụy quyền đã phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Ước vọng giản đơn

Sau giải phóng, Phạm Duy Đô được cử về tiếp quản quận Thủ Đức, làm công tác huấn luyện chiến sĩ mới. Sau đó, ông đã xin giải ngũ vào năm 1983.

Trải qua nhiều trận đánh ác liệt, lập nhiều chiến công và được tặng rất nhiều phần thưởng cao quý như 2 Huân chương Chiến công hạng Hai; Huân chương Chiến công hạng Nhất; Dũng sĩ diệt Mỹ; Dũng sĩ diệt cơ giới; Huân chương chiến sĩ Giải phóng hạng 2, 3…, Thượng úy Phạm Duy Đô [ông Đô được phong Thượng úy năm 1976] đã góp phần không nhỏ trong những trang sử vẻ vang của Binh chủng Đặc công nói riêng, Quân đội Nhân dân Việt Nam nói chung.

Về quê, ông cùng vợ – cũng là một bộ đội giải ngũ trở lại cuộc sống nông nghiệp và sinh con, có cháu. Thế nhưng, chiến thắng nào cũng phải trả giá, vóc dáng cao to lực lưỡng của người chiến sĩ năm nào nay như đã co lại. Ông trở thành một người gù nhỏ bé, không có nhiều sức khỏe bởi những cơn đau hành hạ khi trái nắng, trở trời.

Không những thế, con và cháu nội của ông Đô đã nhiễm di chứng chất độc hóa học do cuộc chiến tàn khốc để lại. Cuộc sống vất vả với trợ cấp thương binh hạng 2/4 và tiền trợ cấp chất độc hóa học (được lĩnh từ năm 2012) ít ỏi, nhưng vợ chồng ông Đô không lấy thế làm phiền lòng. Họ vẫn kể cho con cháu, hàng xóm nghe những chiến công năm xưa, về vinh dự khi được làm người lính bộ đội cụ Hồ, về ý chí quật khởi của những năm tháng hào hùng toàn dân tộc…

Khi nhắc đến sự đãi ngộ, ông Đô chỉ cười hiền, bởi khi khoác áo lính, mong ước duy nhất của ông chính là ngày quê hương giải phóng, đất nước thanh bình.

Trong tâm thức của người cựu chiến binh đặc công anh dũng năm xưa ấy, giờ chỉ có một mong muốn tột đỉnh: “Tôi chỉ ước đồng đội còn nằm lại đâu đó nơi chiến trường năm xưa sẽ được đoàn tụ với người thân trong một ngày gần đây,” ông Đô nghẹn giọng.

Nói như người chú ruột của ông Đô, một thương binh hạng 1/4, thì gia đình của ông có 8 người đi bộ đội, 1 là liệt sĩ và 2 là thương binh nặng. Và, đại gia đình của họ đã “mãn nguyện vì đã làm tròn nghĩa vụ với Đảng, với nhân dân”./.

Bài 4: Đặc công QĐND VN luôn sẵn sàng mọi tình huống

Trung Hiền (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Chiến thắng 30-4-1975: Nguồn động lực tinh thần bất diệt

(GD&TĐ) – Ngày 30/ 4/ 1975 đã đi vào lịch sử dân tộc và trở thành biểu tượng của chiến thắng. Vào ngày này cách đây 38 năm miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước ta được thống nhất, non sông thu về một mối; rợp trời cờ và hoa, ngập tràn nụ cười và nước mắt vui. Và từ đó, cứ mỗi độ tháng tư về, một không khí rạo rực thiêng liêng đón chờ ngày chiến thắng cứ rạo rực dâng lên khắp phố phường, làng bản trên đất nước Việt Nam yêu dấu và trong lòng biết bao người Việt Nam đang ở xa Tổ quốc.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 bao gồm 3 chiến dịch chính – 3 đòn tiến công chiến lược là chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế – Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh. Đây không chỉ là chiến thắng vĩ đại kết thúc 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, kết thúc 30 năm chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc mà còn là chiến thắng lẫy lừng nhất trong lịch sử dân tộc. Chỉ trong vòng 55 ngày đêm, với nhịp độ thần tốc, quân và dân ta với sức mạnh tổng hợp quân sự và chính trị, đã đánh tan hơn 1 triệu quân ngụy, đập tan bộ máy ngụy quyền được Mỹ đỡ đầu suốt hơn hai chục năm trời. Ngày 10/ 3/ 1975 ta nổ súng tiến công Buôn Mê Thuột. Ngày 17/ 3/ 1975 địch rút chạy hoàn toàn khỏi Bắc Tây Nguyên. Ngày 26/ 3/ 1975 ta giải phóng Huế. Ngày 29/ 3/ 1975, Đà Nẵng được giải phóng. Ngày 24/ 4/ 1975 ta đập tan phòng tuyến Xuân Lộc của địch, mở toang cánh cửa hướng đông tiến vào Sài Gòn. 17 giờ ngày 26/ 4/ 1975 chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu và 11h ngày 30/4/1975 cờ giải phóng tung bay trên nóc dinh Độc lập – dinh Tổng thống ngụy quyền, kết thúc thắng lợi cuộc Tổng tấn công thần tốc.

Xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc lậpXe tăng Quân giải phóng

Đại thắng mùa xuân 1975 đã chứng minh tài thao lược và trí tuệ của Đảng ta trong lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh cách mạng, đã thể hiện đậm nét nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân. Có được chiến thắng vẻ vang như vậy là do Đảng đã hội tụ được sức mạnh của quân và dân cả nước, sức mạnh của toàn dân tộc và sức mạnh thời đại. Chiến thắng 30/ 4/ 1975 là chiến thắng của khát vọng độc lập dân tộc “không có gì quý hơn độc lập tự do”, là chiến thắng của sự gắn kết mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đại thắng mùa xuân 1975 đã mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam: kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

35 năm đã trôi qua. Chiến tranh đã lùi xa nhưng ký ức chiến tranh còn đó. Thời gian có thể xóa đi những dấu vết chiến tranh nhưng hậu quả của nó còn hiển hiện ở nhiều nơi. Hàng triệu người đã bị thiệt mạng trong cuộc chiến tranh do đế quốc Mỹ tiến hành. Còn đó nghĩa trang Trường Sơn với hơn một vạn nấm mộ liệt sĩ. Còn có biết bao nghĩa trang liệt sĩ khác trên khắp đất nước này. Những dòng sông hoa đỏ tưởng nhớ người đã khuất không chỉ lặng chảy trên mặt đất của vùng chiến địa khốc liệt xưa mà còn âm thầm chảy trong tâm tưởng của biết bao người dân Việt hôm nay và cả mai sau. Những bà mẹ Việt Nam anh hùng dẫu được sống trong sự đùm bọc yêu thương của cộng đồng dân tộc, nhưng không tình cảm yêu thương nào có thể xóa đi nỗi đau quặn thắt tận sâu thẳm cõi lòng mẹ khi những đứa con yêu của mẹ ra đi mãi mãi không về. Rồi hơn 4 triệu nạn nhân chất độc màu da cam với những di chứng truyền lại cho thế hệ sau… Càng thấm thía nỗi đau bởi những hy sinh mất mát trong chiến tranh và thời hậu chiến, chúng ta càng hiểu và trân trọng giá trị của hòa bình, càng thêm biết ơn những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh cho cuộc sống hôm nay đơm hoa kết trái hạnh phúc.

Sau 35 năm, từ hoang tàn đổ nát của chiến tranh, từ một đất nước đói nghèo lạc hậu vì chiến tranh kéo dài và hàng trăm năm bị chủ nghĩa thực dân đô hộ, Việt Nam đã sớm hồi sinh, vươn mình trỗi dậy và tìm ra con đường đi lên đúng đắn, làm nên những bước phát triển diệu kỳ, nhất là trong 24 năm đổi mới và mở cửa. Nhiều năm liên tục, nền kinh tế Việt Nam có mức tăng trưởng dương trên 7%, trở thành nền kinh tế có tốc độ phát triển thuộc tốp đầu của thế giới. Nước ta đã vượt qua ngưỡng đói nghèo, có sự ổn định về chính trị, trật tự an ninh xã hội được đảm bảo, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện. Có thể nói chúng ta đã bước đầu thực hiện được di nguyện của Bác Hồ là sau ngày thắng lợi sẽ “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Riêng về lĩnh vực giáo dục, nước ta đã có hệ thống giáo dục quốc dân bề thế, thống nhất trong toàn quốc với đầy đủ các cấp học, các trình độ đào tạo từ mầm non đến sau đại học. Hệ thống giáo dục quốc dân đó đã góp phần quyết định vào việc giáo dục con người và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa qua các thời kỳ. Hiện nay nền giáo dục nước ta đang tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nhằm khắc phục những hạn chế, đưa sự nghiệp giáo dục phát triển lên một tầm cao mới để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Những thành công cơ bản của cuộc vận động “Hai không” và công cuộc đổi mới giáo dục đại học mới được phát động hiện nay đang thể hiện quyết tâm và sự nỗ lực phấn đấu của toàn ngành Giáo dục trên cơ sở được sự ủng hộ của toàn xã hội.

Tuy trước mắt còn nhiều khó khăn nhưng chúng ta có quyền tự hào về những thành tựu to lớn mà đất nước ta đã đạt được từ sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đến nay. Đạt được thành tựu to lớn như vậy, một phần quan trọng là nhờ toàn Đảng, toàn dân ta đã kế thừa và phát huy được tinh thần của

Đại thắng mùa xuân 1975 đã chứng minh tài thao lược và trí tuệ của Đảng ta trong lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh cách mạng, đã thể hiện đậm nét nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân. Có được chiến thắng vẻ vang như vậy là do Đảng đã hội tụ được sức mạnh của quân và dân cả nước, sức mạnh của toàn dân tộc và sức mạnh thời đại. Chiến thắng 30/ 4/ 1975 là chiến thắng của khát vọng độc lập dân tộc “không có gì quý hơn độc lập tự do”, là chiến thắng của sự gắn kết mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đại thắng mùa xuân 1975 đã mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam: kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

35 năm đã trôi qua. Chiến tranh đã lùi xa nhưng ký ức chiến tranh còn đó. Thời gian có thể xóa đi những dấu vết chiến tranh nhưng hậu quả của nó còn hiển hiện ở nhiều nơi. Hàng triệu người đã bị thiệt mạng trong cuộc chiến tranh do đế quốc Mỹ tiến hành. Còn đó nghĩa trang Trường Sơn với hơn một vạn nấm mộ liệt sĩ. Còn có biết bao nghĩa trang liệt sĩ khác trên khắp đất nước này. Những dòng sông hoa đỏ tưởng nhớ người đã khuất không chỉ lặng chảy trên mặt đất của vùng chiến địa khốc liệt xưa mà còn âm thầm chảy trong tâm tưởng của biết bao người dân Việt hôm nay và cả mai sau. Những bà mẹ Việt Nam anh hùng dẫu được sống trong sự đùm bọc yêu thương của cộng đồng dân tộc, nhưng không tình cảm yêu thương nào có thể xóa đi nỗi đau quặn thắt tận sâu thẳm cõi lòng mẹ khi những đứa con yêu của mẹ ra đi mãi mãi không về. Rồi hơn 4 triệu nạn nhân chất độc màu da cam với những di chứng truyền lại cho thế hệ sau… Càng thấm thía nỗi đau bởi những hy sinh mất mát trong chiến tranh và thời hậu chiến, chúng ta càng hiểu và trân trọng giá trị của hòa bình, càng thêm biết ơn những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh cho cuộc sống hôm nay đơm hoa kết trái hạnh phúc.

Sau 35 năm, từ hoang tàn đổ nát của chiến tranh, từ một đất nước đói nghèo lạc hậu vì chiến tranh kéo dài và hàng trăm năm bị chủ nghĩa thực dân đô hộ, Việt Nam đã sớm hồi sinh, vươn mình trỗi dậy và tìm ra con đường đi lên đúng đắn, làm nên những bước phát triển diệu kỳ, nhất là trong 24 năm đổi mới và mở cửa. Nhiều năm liên tục, nền kinh tế Việt Nam có mức tăng trưởng dương trên 7%, trở thành nền kinh tế có tốc độ phát triển thuộc tốp đầu của thế giới. Nước ta đã vượt qua ngưỡng đói nghèo, có sự ổn định về chính trị, trật tự an ninh xã hội được đảm bảo, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện. Có thể nói chúng ta đã bước đầu thực hiện được di nguyện của Bác Hồ là sau ngày thắng lợi sẽ “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Riêng về lĩnh vực giáo dục, nước ta đã có hệ thống giáo dục quốc dân bề thế, thống nhất trong toàn quốc với đầy đủ các cấp học, các trình độ đào tạo từ mầm non đến sau đại học. Hệ thống giáo dục quốc dân đó đã góp phần quyết định vào việc giáo dục con người và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa qua các thời kỳ. Hiện nay nền giáo dục nước ta đang tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nhằm khắc phục những hạn chế, đưa sự nghiệp giáo dục phát triển lên một tầm cao mới để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Những thành công cơ bản của cuộc vận động “Hai không” và công cuộc đổi mới giáo dục đại học mới được phát động hiện nay đang thể hiện quyết tâm và sự nỗ lực phấn đấu của toàn ngành Giáo dục trên cơ sở được sự ủng hộ của toàn xã hội.

Tuy trước mắt còn nhiều khó khăn nhưng chúng ta có quyền tự hào về những thành tựu to lớn mà đất nước ta đã đạt được từ sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đến nay. Đạt được thành tựu to lớn như vậy, một phần quan trọng là nhờ toàn Đảng, toàn dân ta đã kế thừa và phát huy được tinh thần của Chiến thắng 30/ 4/ 1975 lịch sử. Chiến thắng 30/ 4/ 1975 mãi mãi là nguồn động lực tinh thần bất diệt góp phần quan trọng vào việc tạo ra sức mạnh cho đất nước ta, dân tộc ta vững bước trên con đường phát triển hướng tới một tương lai tươi sáng nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Giáo dục & Thời đại
gdtd.vn

Đồng Tháp với mùa Xuân lịch sử và những năm đổi mới

(ĐCSVN) – Trong không khí cả nước phấn khởi chào mừng kỷ niệm 38 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, chúng tôi có dịp trò chuyện với những đồng chí lão thành cách mạng để tìm hiểu về hào khí của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 cùng sự đổi thay của Đồng Tháp sau 38 năm giải phóng.

Mùa Xuân lịch sử năm 1975

Gặp chúng tôi vào một chiều cuối tháng 4/2013, đồng chí Nguyễn Đắc Hiền, Nguyên Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ Đồng Tháp bồi hồi nhớ lại: Tháng 8/1974, để tạo điều kiện chuyển từ yếu sang mạnh, tạo sự gắn bó chiến trường giữa Đông và Tây sông Tiền, theo chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam, tỉnh Kiến Phong được giải thể và thành lập 2 tỉnh mới là tỉnh Sa Đéc và tỉnh Long Châu Tiền. Tỉnh Sa Đéc gồm các huyện Chợ Mới, Cao Lãnh, Kiến Văn, Mỹ An và thị xã Cao Lãnh của tỉnh Kiến Phong cũ và các huyện Lấp Vò, Lai Vung, Châu Thành, thị xã Sa Đéc của tỉnh Vĩnh Long giao lại. Tỉnh Long Châu Tiền gồm các huyện Hồng Ngự, Thanh Bình, Tam Nông của tỉnh Kiến Phong cũ và An Phú, Tân Phú, Phú Tân A và Phú Tân B của tỉnh An Giang.

Nhân dân thị xã Cao Lãnh nô nức xuống đường
mừng ngày giải phóng, tháng 5/1975 ( Ảnh tư liệu)

Xuất phát từ tính chất chiến trường, từ âm mưu bình định của địch và tình hình chung, Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Sa Đéc tháng 8/1974 đã thống nhất thông qua Nghị quyết quý IV/1974 và phương hướng năm 1975 là: động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện tốt các chủ trương, nghị quyết của Tỉnh và của Trung ương Cục; nỗ lực tấn công địch liên tục, đều khắp, tiêu diệt và làm tan rã địch; mở rộng vùng giải phóng, giành dân, phát huy tiềm lực tại chỗ nhằm làm thay đổi tương quan lực lượng, chuyển chiến trường lên một bước toàn diện. Tích cực xây dựng lực lượng mọi mặt, nhất là khâu xây dựng chi bộ, lực lượng vũ trang tại chỗ, xây dựng vùng ta vững mạnh, tạo cơ sở vững chắc giành thắng lợi cho năm 1975.

Trên cơ sở Nghị quyết của Đảng, trong chiến dịch Xuân Hè 1975 (từ 20/12/1974 đến 20/3/1975), toàn tỉnh Sa Đéc đã có 3 đợt tấn công địch, tiêu diệt hàng ngàn tên địch, tiêu diệt 64 đồn bót địch và 01 phân chi khu. Riêng 15 ngày đầu tháng 4/1975, toàn tỉnh bao vây pháo kích diệt thêm 45 đồn bót và 3 phân chi khu.

Ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tiến công giải phóng Sài Gòn – Gia Định, lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngày 15/16 – 4/1975, Thường vụ Tỉnh uỷ Sa Đéc họp Hội nghị khẩn cấp tập trung thảo luận Nghị quyết đặc biệt và Mệnh lệnh Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa của Trung ương Cục, đề ra những biện pháp đặc biệt nhằm động viên tối đa tinh thần, lực lượng, tập trung tấn công địch liên tục, táo bạo và triển khai ngay cho toàn Đảng bộ Tỉnh. Đây là Hội nghị có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, là ánh sáng trực tiếp mở đường, đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến toàn thắng. Trong toàn Tỉnh các lực lượng vũ trang thực hiện phương châm xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, liên tục tấn công địch ở khắp nơi.

Ngày 28/4/1975, Tỉnh uỷ Sa Đéc chính thức nhận lệnh hợp đồng với mặt trận Sài Gòn vào Chiến dịch Hồ Chí Minh.

11 giờ 30 ngày 30/4/1975, mặt trận Sài Gòn giành toàn thắng. Tổng thống ngụy Dương Văn Minh buộc phải tuyên bố đầu hàng, quân địch ở các nơi hoang mang rệu rã. Ban chỉ huy chiến dịch của Tỉnh điện lệnh cho 2 Tiểu đoàn 502A và B thần tốc về giải phóng thị xã Sa Đéc, phối hợp cùng lực lượng địa phương, du kích và lực lượng chính trị của quần chúng từ nhiều mũi tiến vào nội ô thị xã. 7 giờ sáng ngày 01/5/1975 quân ta từ nhiều hướng tiến vào tiếp quản và làm chủ hoàn toàn thị xã Sa Đéc. Các vùng lân cận cũng nhanh chóng được giải phóng.

Ở thị xã Cao Lãnh, Tiểu đoàn 3 của Tỉnh mới thành lập cùng với biệt động, du kích, chia làm 3 mũi tiếp cận thị xã từ chiều ngày 30/4. 20h quân cách mạng tiến vây tiếp quản và làm chủ hoàn toàn thị xã. Đêm ngày 30/4 và ngày 01/5, các huyện Hồng Ngự, Thanh Bình của tỉnh Long Châu Tiền cũng được giải phóng.

Ngày 01/5, ta giải phóng các huyện Mỹ An, Kiến Văn, Châu Thành, Lấp Vò, chi khu Đức Thành (Lai Vung) giải phóng ngày 02/5. Hết ngày 02/5, hầu hết tỉnh Sa Đéc được giải phóng.

Ở huyện Chợ Mới, bọn tàn quân gồm hàng chục ngàn tên từ các nơi còn ngoan cố rút về “tử thủ” tại khu vực chùa Tây An. Tỉnh ủy Sa Đéc cấp tốc điều 3 Tiểu đoàn và 01 chi đoàn xe thiết giáp lên Chợ Mới phối hợp lực lượng tại chỗ vừa bao vây chia cắt đánh địch vừa phối hợp lực lượng chính trị, binh vận đánh vào tâm lý phân hoá hàng ngũ địch. Sáng ngày 06/5, ta huy động lực lượng đồng loạt siết chặt vòng vây và tấn công địch, buộc chúng phải bỏ súng đầu hàng.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 và chiến dịch Hồ Chí Minh, quân và dân Sa Đéc đã tiêu diệt, làm bị thương, bắt sống và làm tan rã hơn 60.000 tên địch. Đánh tiêu diệt 18 đồn, bức hàng bức rút 125 đồn, đánh thiệt hại nặng 150 đồn khác. Riêng trong chiến dịch Hồ Chí Minh, ta tiêu diệt và chiếm lĩnh gần 400 đồn còn lại; thu 60.000 súng các loại, 500 tấn đạn, 650 xe các loại, 45 tàu lớn nhỏ, 02 máy bay và rất nhiều phương tiện chiến tranh khác.

Ngày 2/5/1975, Uỷ ban nhân dân Cách mạng tỉnh Sa Đéc ra tuyên bố: Kể từ giờ phút này, đất nước ta sạch bóng quân Mỹ, tỉnh ta đã hoàn toàn giải phóng. Đã xoá bỏ hoàn toàn các cơ cấu nguỵ quân, nguỵ quyền và các tổ chức chính trị phản động do Mỹ và tay sai lập ra. Tổng tiến công, tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn, nhân dân khắp nơi ở hai tỉnh Sa Đéc và Long Châu Tiền nô nức cờ hoa xuống đường reo mừng chiến thắng…

Đổi thay sau 38 năm thống nhất

Sau ngày thống nhất, hòa mình cùng sự phát triển chung của đất nước, 38 năm qua, Đảng bộ, quân và dân tỉnh Đồng Tháp đã nỗ lực rất lớn để đưa kinh tế – xã hội của tỉnh đứng vào hàng khá trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Thành tựu rực rỡ nhất là sau hơn 30 năm tiến công chinh phục Đồng Tháp Mười đã rửa phèn, mở đất và biến thành một đồng lúa mênh mông. Qua hơn 30 năm, nông nghiệp của tỉnh phát triển vượt bậc, diện tích gieo trồng lúa tăng 3,5 lần, năng suất tăng 5 lần, đưa sản lượng lúa lên trên 3 triệu tấn. Đồng thời, huy động sức sáng tạo của nông dân, tạo nhiều mô hình sản xuất thủy sản có hiệu quả cao, tăng giá trị xuất khẩu, kích thích phát triển mạnh công nghiệp phục vụ nông nghiệp, phá thế độc canh cây lúa trở thành ngành kinh tế then chốt của tỉnh, đưa giá trị tổng sản phẩm nội tỉnh tăng hơn 2,7 lần so với năm 2000, đứng ở tốp đầu các tỉnh, thành khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Tốc độ phát triển kinh tế năm 2012 đạt 9,76%, GDP bình quân đầu người đạt 24,8 triệu đồng tăng 14,69% so với năm 2011. Chỉ số năng lực cạnh tranh năm 2012 đứng đầu cả nước. Về văn hoá – xã hội cũng phát triển vượt bậc; quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội được giữ vững.

Thành phố Cao Lãnh đang vươn mình để trở thành một thành phố
năng động, văn minh, hiện đại (Ảnh: Viết Anh)

Đồng chí Đinh Phước Hải, nguyên Bí thư huyện uỷ Cao Lãnh những năm 1975, nguyên Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp cho rằng, bài học lớn nhất qua hai cuộc kháng chiến và 38 năm thống nhất chính là tinh thần đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng; là bài học lấy dân làm gốc; là tinh thần quyết đánh, quyết thắng dù trải qua thời gian dài và hoàn cảnh khó khăn; là tinh thần vượt khó, ham học hỏi cầu tiến bộ của người dân đất Việt; là tinh thần tự lực, tự cường, không chấp nhận khó khăn gian khổ. Trong hai cuộc kháng chiến, Đảng đã lãnh đạo nhân dân cả nước kháng chiến và giành thắng lợi; trong hoà bình Đảng đã không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, củng cố tổ chức ngày càng vững mạnh để lãnh đạo quân và dân cả nước tập trung phát triển kinh tế, đi lên khỏi nghèo nàn lạc hậu, giữ vững an ninh chính trị, độc lập tự do của dân tộc. Quân và dân Đồng Tháp cũng đã không đầu hàng khó khăn để khắc phục hậu quả chiến tranh; không ngại gian khổ để tiến quân khai thác, chinh phục Đồng Tháp Mười để có những cánh đồng lúa mênh mông, chất lượng như ngày hôm nay.

Đồng chí Nguyễn Đắc Hiền khẳng định, bài học về sự chấp hành nghiêm chỉnh và vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng; bài học về phát huy truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân; về tranh thủ sự ủng hộ của các nước trên thế giới hiện nay vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn. Tinh thần dám nhìn thẳng vào sự thật, đối diện với sự thật đã giúp nước ta đổi mới thắng lợi giờ phải phát triển lên thành tinh thần dám làm, dám chịu trách nhiệm trong từng cán bộ, đảng viên; tinh thần tự lực tự cường trong kháng chiến phải chuyển sang chủ động, linh hoạt để thích ứng với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế. Các cấp uỷ Đảng ở Đồng Tháp đã và đang tích cực chuẩn bị để sơ kết hoạt động giữa nhiệm 2010 – 2015 với tinh thần cầu thị, đánh giá đúng năng lực và thực chất của sự phát triển để từ đó kịp thời điều chỉnh, bổ sung những chủ trương, chính sách mới phù hợp với tình hình thực tiễn đang thay đổi rất nhanh chóng hiện nay; đồng thời, tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với việc triển khai, thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Tự hào về truyền thống của lịch sử, Đồng Tháp đang cùng cả nước phát huy tinh thần tổng khởi nghĩa, tổng tấn công những năm kháng chiến để phát triển toàn diện, đổi mới về mọi mặt, quyết tâm đưa kinh tế – xã hội tỉnh phát triển vào hàng khá trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời, nỗ lực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội IX Đảng bộ Tỉnh để góp phần cùng với cả nước phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020./.

Viết Anh
dangcongsan.vn

Xua đuổi kẻ chiếm đóng

Nhân kỷ niệm 38 năm ngày giải phóng Sài Gòn, chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết của ông Gerhard Feldbauer, nhà sử học, nhà báo, từng là phóng viên của hãng thông tấn CHDC Đức ADN và báo “Nước Đức Mới” thường trú tại Hà Nội từ 1967 tới 1970. Mặc dù bài viết của ông đã được công bố ngày 30/4/2010, nhưng giờ đây vẫn còn nguyên tính thời sự.

Vào lúc 11 giờ 30 ngày 30/4/1975 giờ địa phương, đơn vị tiên phong của một trung đoàn xe tăng của quân giải phóng đã tiến vào trung tâm Sài Gòn, “thủ đô” của miền Nam Việt Nam. Chiếc xe tăng T-54 ầm ầm đi qua sứ quán Mỹ để tiến tới Dinh Độc Lập, trụ sở của Tổng thống chính quyền Sài Gòn. Chiếc xe tăng đi đầu húc đổ hàng rào sắt. Trung tá Bùi Văn Tùng, Chính ủy trung đoàn trèo ra khỏi xe tăng, đi cùng một số sĩ quan lên bậc thang vào Dinh. Hoàn toàn không có kháng cự. Khi trung tá Tùng bước vào phòng, Tướng Dương Văn Minh, người vừa nhận chức Tổng thống từ ba hôm trước và Phó Thủ tướng Vũ Văn Mậu liền đứng dậy.

Hai vợ chồng ông bà Gerhard và Irene Feldbauer.

“Minh Lớn”, biệt danh của vị Tướng người miền Nam cao tới 1,80 m này, đã cầm đầu cuộc đảo chính năm 1963 chống lại Ngô Đình Diệm, bù nhìn của Mỹ. Trong những năm qua, thỉnh thoảng ông có kêu gọi “ký kết hòa bình”. Vì vậy, Đại sứ Mỹ Martin Graham coi ông là người mà “Việt Cộng” có thể dễ dàng nhất trong việc chuyển giao chính quyền. Vài giờ trước đó, Minh đã tuyên bố trên đài phát thanh là sẵn sàng đầu hàng và là chính khách Sài Gòn đầu tiên kêu gọi chấm dứt đổ máu và tuyên bố “chuyển giao chính quyền trong trật tự”.

Trong phòng Tổng thống, ông đã cho dỡ biểu tượng của nhà nước bù nhìn và treo một biểu tượng mới với hoa, biểu tượng cho hòa bình và thống nhất. Giờ đây, ông Minh – người cao lớn mặc comple xanh thẫm – đứng trước vị trung tá binh chủng xe tăng và từ tốn nói với giọng hoan nghênh: “Chúng tôi chờ đón để chuyển giao tất cả cho các ông”. Vị trung tá trả lời ngắn gọn: “Ông không còn gì để bàn giao. Ông chỉ còn có việc đầu hàng vô điều kiện”. Ông Minh cũng ký tuyên bố đầu hàng, công bố trên đài phát thanh và yêu cầu những đơn vị còn lại của quân đội Sài Gòn ngừng chiến đấu và hạ vũ khí.

Tại sân bay Tân Sơn Nhất, các đơn vị quân giải phóng lúc này đã bẻ gãy sự kháng cự cuối cùng, chiếm các bộ và cơ quan quan trọng, Bộ Tổng tham mưu, đài phát thanh và truyền hình, kiểm soát các đầu mối giao thông. Chính quyền Sài Gòn đã sụp đổ. Thủ tướng và các bộ trưởng cũng như phần lớn các tướng lĩnh đã chạy trốn. Hàng tháng trước đó, nhiều người đã sơ tán gia đình sang Băngcốc (Thái Lan) vì lường trước thất bại.

Năm 1975, khi đó tôi đang là sinh viên học nhiếp ảnh ở trường Đại học Đồ họa và Nghệ thuật sách ở Leipzig, CHDC Đức. Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, chúng tôi náo nức theo dõi hàng ngày, đánh dấu trên bản đồ những bước đi thần tốc của quân giải phóng, nhưng chiến thắng 30/4, giải phóng Sài Gòn vẫn hoàn toàn bất ngờ đối với chúng tôi, sau khi tướng ngụy tuyên bố “Tử thủ Xuân Lộc” để ngăn cản bước tiến của quân giải phóng.

Tác giả và một số anh hùng Việt Nam như Phan Hành Sơn (thứ hai từ phải qua), Nguyễn Đức Soát (thứ tư từ phải qua) tại Đại hội Liên hoan Thanh niên và Sinh viên Thế giới lần thứ 10, năm 1973, ở Béclin, chỉ mấy tháng sau khi ký Hiệp định Paris, nên đoàn Việt Nam được các bạn rất quý trọng.

Sau khi nghe tin Sài Gòn giải phóng, chúng tôi bàng hoàng cả người, vô cùng xúc động khi các bạn bè, sinh viên quốc tế ở cùng ký túc xá đến chúc mừng. Sáng ngày 1/5, chúng tôi dậy sớm tới trường để tham dự cuộc Tuần hành nhân ngày Quốc tế Lao động do thành phố tổ chức với sự tham dự của hàng trăm nghìn người. Chúng tôi sung sướng và cảm động, nhiều người không kìm nổi nước mắt khi nghe đài phát thanh liên tục phát bài “Sài Gòn giải phóng” của CLB Tháng Mười với điệp khúc: “Tất cả hãy xuống đường, tháng Năm rực màu đỏ, tất cả hãy xuống đường, giải phóng rồi, Sài Gòn ta đó!”. Khi đi diễu hành, nhiều người không quen biết hai bên đường cũng vẫy chào, nhiều người tới bắt tay hoặc ôm hôn chúng tôi chúc mừng.

Trong phát biểu hôm đó, ông Erich Honecker, Bí thư thứ Nhất BCH TƯ Đảng XHCNTN Đức đã nồng nhiệt chúc mừng Việt Nam chiến thắng, tiến tới thống nhất đất nước, nhưng cũng kêu gọi phải tiếp tục giúp đỡ Việt Nam và đưa ra khẩu hiệu: “Solidarität mit Vietnam, Jetzt erst recht!” (Đoàn kết với Việt Nam, lúc này hơn bao giờ hết).

Mặc dù đã gần 40 năm trôi qua, nhưng chúng tôi không bao giờ quên được cảm xúc hôm đó, không bao giờ quên được tình cảm của bạn bè Đức và quốc tế dành cho Việt Nam.

Văn Long

Mệnh lệnh cuối cùng của Mỹ

Mãi tới ngày 28/4, Tổng thống Mỹ Gerald Ford mới chỉ thị cho Đại sứ Mỹ bắt đầu sơ tán và tới nơi an toàn. Họ còn chần chừ vì người ta không nghĩ tới việc Sài Gòn bị chiếm nhanh như vậy. Trong khi việc sơ tán bắt đầu, các điệp viên CIA vội vàng đốt tài liệu trong khu vực sứ quán. Sau này, người ta mới biết rằng nhiều tài liệu tuyệt mật đã rơi vào tay Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó có cả danh sách điệp viên CIA. Điều đó lại càng nhạy cảm hơn, vì Tom Polgar, Giám đốc CIA tại Sài Gòn đã không kịp đưa nhiều cộng tác viên mật quan trọng ra nước ngoài. Bản thân ông ta cũng chỉ kịp leo lên một chiếc trực thăng để bay ra tàu chiến “Blue Ridge”. 81 máy bay trực thăng “Avican” được huy động để chở những nhân viên sứ quán khác từ nóc nhà sứ quán và một số nhà lân cận chở ra những tàu chiến đỗ ở ngoài khơi.

Lính thủy đánh bộ Mỹ gác cầu thang trong trụ sở sứ quán, mà qua đó người Việt chen nhau lên mái để được đưa đi. Họ vẫy vẫy những tấm hộ chiếu có thị thực Mỹ mà nhiều người đã bỏ ra 100.000 USD để “mua” ở Hồng Công. Những binh sĩ Sài Gòn giận giữ bắn vào những chiếc máy bay cất cánh và bị lính thủy đánh bộ Mỹ bắn trả. Khi chiếc máy bay trực thăng cuối cùng bay đi, kẻ cướp đã bắt đầu hoành hành ở tầng dưới. Nhiều nhân viên Tòa lãnh sự Mỹ chạy trốn bằng hai tàu thủy trên sông Mê Công theo hướng biển. Máy bay trực thăng của không quân Sài Gòn dùng súng máy bắn họ. Nhiều sĩ quan cao cấp ngụy quân cũng bị bỏ lại, mặc dù Đại sứ Graham cũng đã từng hứa hẹn là sẽ sơ tán họ. Tổng cộng người ta lên kế hoạch tiếp nhận 130.000 người Việt Nam, những người hợp tác gần gũi với Washington. 25.000 cố vấn quân sự Mỹ còn lại ở miền Nam Việt Nam đã được chuyển đi trong những ngày qua.

Mít tinh và lễ diễu hành nhân Ngày Quốc tế Lao động năm 1975 tại Béclin.

Khi Minh Lớn kêu gọi quân đội Sài Gòn ngừng bắn, họ đã ngừng chiến đấu từ trước rồi. Vũ khí mà họ vứt đi chất thành những đống lớn trên đường phố, quảng trường. Vào tối ngày 30/4, các đơn vị quân giải phóng trong quân phục màu xanh ô liu đã đứng gác trước các công sở và các ngã tư đường phố. Việc cướp bóc đột ngột dừng lại. Những người giải phóng được nồng nhiệt chào đón trên đường phố và quảng trường. Chẳng bao lâu sau, thông qua thực tế, nhân dân tin rằng sự tắm máu do chính quyền Sài Gòn tuyên truyền chẳng có gì là đúng với sự thật. Hoàn toàn không có việc bắn giết, cướp bóc, bạo lực. Những chiến sĩ giải phóng, được gọi là bộ đội, quân đội nhân dân, đã chứng tỏ rằng họ từ nhân dân mà ra. Có những tình huống mà họ đã ngăn cản được sĩ quan hoặc công chức Sài Gòn cấp cao có ý định tự sát vì sợ.

Chấm dứt sự chiếm đóng

Với việc chiếm được Sài Gòn ngày 30/4/1975, miền Nam Việt Nam đã được giải phóng sau hai thập kỷ Mỹ chiếm đóng, xiềng xích của gần một trăm năm ách thực dân, mà Pháp dựng lên đã bị phá bỏ. Ngày hôm sau, hàng triệu người trên khắp thế giới, những người đã đứng về bên họ trong cuộc chiến tranh đã ăn mừng cùng với Sài Gòn, với Việt Nam ngày 1/5 là Ngày chiến thắng. Ban nhạc Câu lạc bộ tháng Mười của CHDC Đức đã kịp thời sáng tác một bài hát nhân sự kiện này: “Alle auf die Strasse, rot ist der Mai, alle auf die Strasse, Saigon ist frei” (Tạm dịch: Tất cả hãy xuống đường, tháng Năm rực màu đỏ, tất cả hãy xuống đường, giải phóng rồi, Sài Gòn ta đó!).

Từ 1967 tới 1970, vợ tôi Irene và tôi, với tư cách là nhà báo ở miền Bắc Việt Nam, khi đó là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã được trải nghiệm cuộc đấu tranh kiên cường của nhân dân Việt Nam. Chúng tôi đã chứng kiến đất nước dưới mưa bom của Mỹ, những đau khổ không thể tả nổi, cũng như ý chí không thể khuất phục của những con người bảo vệ độc lập tự do đã giành được bằng những hy sinh không kể xiết. Chúng tôi cũng trở thành nhân chứng cho sự thất bại của cuộc xâm lược trên không dã man của Mỹ và bước ngoặt chiến lược trong cuộc đấu tranh giải phóng ở miền Nam Việt Nam sau chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Năm 1970, chúng tôi chia tay về nước với niềm tin tưởng chắc chắn rằng Việt Nam sẽ chiến thắng.

Văn Long (P/v TTXVN tại Berlin lược dịch)
baotintuc.vn

This entry was posted on Tháng Tư 30, 2013, in 30.04.1975.

Thứ tư, tháng tư, ngày 30… (kỳ cuối)

Được tự do về với gia đình

TT – Đoàn xe chở tổng thống Dương Văn Minh và thủ tướng Vũ Văn Mẫu chạy theo đường Thống Nhất, quẹo trái qua đường Nguyễn Bỉnh Khiêm để đến Đài phát thanh. Dù khá mệt mỏi và căng thẳng trước những gì vừa diễn ra, tướng Minh vẫn ôn tồn chỉ đường cho lái xe Đào Ngọc Vân.

Sau khi được thông báo trả tự do, tướng Dương Văn Minh (phải) đã có cuộc gặp gỡ thân mật với tướng Trần Văn Trà – chủ tịch Ủy ban quân quản Sài Gòn – Gia Định – Ảnh: Lâm Tấn Tài

Khoảnh khắc kỳ lạ nhất ở Đài phát thanh

Trụ sở Đài phát thanh lúc đó khá vắng lặng, dù đã được quân giải phóng và anh em sinh viên tiếp quản. Nhân viên đã “biến” hết sau khi hay tin quân giải phóng đã chiếm được dinh Độc Lập.

Việc đầu tiên là phải tìm cho được những người có thể vận hành được đài phát. Anh em sinh viên tìm được anh Trần Văn Bảng, nhân viên kỹ thuật phát sóng trú ngụ ở gần đó. Còn nhà báo Kỳ Nhân lại tức tốc lái chiếc UTE của Hãng tin AP chở hai anh bộ đội về làng báo chí Thủ Đức để mời hai anh Trọng Liêm và Tự Lập đến đài.

Sau khi lời tuyên bố đầu hàng đã được chỉ huy quân giải phóng soạn thảo, ông Dương Văn Minh lúc đó phải đọc và ghi âm hai lần vào máy của nhà báo Borries Gallasch (còn máy cassette hiệu Hitachi của anh em quân giải phóng bị rối băng liên tục, không xài được). Lần đầu, ông Minh có lẽ hơi bị xúc động nên đọc không tự nhiên và bị vấp, đồng thời khi bật máy nghe lại băng thì giọng ông Minh… nhão nhoẹt vì máy yếu pin. Anh em sinh viên có mặt lúc đó phải chạy ra ngoài, tìm đâu đó được mấy cục pin mới.

Tiếng nói của ông Minh phát trên đài nghe nhẹ và chậm rãi. Còn lời chấp nhận đầu hàng của viên trung tá chính ủy người Đà Nẵng Bùi Văn Tùng lại vang lên khá dõng dạc và mạnh mẽ. Mà cũng lạ, vào lúc ấy rất nhiều giọng Đà Nẵng xuất hiện trên sóng phát thanh: trung tá Bùi Văn Tùng, nhà báo Kỳ Nhân, sinh viên Nguyễn Hữu Thái….

Nhà báo Kỳ Nhân “kêu gọi anh em ký giả hãy bình tĩnh, hãy tập trung ở số 15 Lê Lợi để cùng trao đổi và làm việc (lúc này tự nhiên có tiếng súng nổ vang dội vào Đài phát thanh, anh Kỳ Nhân dù chưa biết chuyện gì cũng “ứng khẩu” luôn)… Đó là tiếng súng bắn mừng của quân giải phóng. Chúng ta đã thấy hòa bình trên đất nước của chúng ta”.

Còn sinh viên Nguyễn Hữu Thái lại trở thành người dẫn chương trình bất đắc dĩ. Anh liên tục thông báo, liên tục trấn an đồng bào và kêu gọi anh em công chức, nhân viên các cơ quan hãy trở lại nhiệm sở để giúp cho sinh hoạt ở Sài Gòn trở lại bình thường.

Tất cả đều “nói vo” thẳng vào máy phát nên nhiều khi ý tứ nghe rất ngộ, thí dụ: “Đây là tiếng nói của các Ủy ban cách mạng Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định. Chúng tôi yêu cầu tất cả đồng bào, anh chị em công nhân, nhất là anh chị em nhân viên các nhà đèn, các nhà nước (chắc ý nói công ty cấp nước) và tất cả SVHS tụ họp để mà có những cuộc điều động của Ủy ban nhân dân cách mạng…”.

Xen lẫn với những lời kêu gọi, tuyên bố là tiếng vỗ tay, tiếng người nói chuyện bàn tán qua lại. Thậm chí ngay sau khi chính ủy Bùi Văn Tùng tuyên bố rất hùng hồn thì bỗng phát ra một đoạn cải lương inh ỏi…

Đặc biệt, người dân Sài Gòn lần đầu tiên nghe đến tên gọi Thành phố Hồ Chí Minh từ buổi phát thanh “tự phát” này. Nguyễn Hữu Thái lúc đó nói: “Chúng tôi là giáo sư Huỳnh Văn Tòng và cựu chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn Nguyễn Hữu Thái. Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố mà Bác Hồ đã mong đợi, nay đã được giải phóng…”.

Không ai phân công, không ai duyệt nội dung, không ai chỉ đạo định hướng gì, nhưng quả tình những lời kêu gọi, thông báo “tự biên tự diễn” đầy rạo rực và chân tình đó đã có tác dụng rất lớn đối với đồng bào trong giờ phút căng thẳng. Cần phải hiểu là trong thời khắc “đổi đời” lịch sử đó, sự âu lo tràn ngập nhiều gia đình, nhất là những gia đình có người thân tham gia bộ máy chính quyền hoặc quân đội VN cộng hòa. Sài Gòn trước đó đã lan truyền tin đồn về một cuộc “tắm máu” và những biện pháp bạo lực của Việt cộng.

Trung tá Bùi Văn Tùng, đại úy Phạm Xuân Thệ và các sĩ quan trung đoàn 66 cùng có mặt trong lúc lời tuyên bố đầu hàng được soạn thảo cho tổng thống Dương Văn Minh đọc.

Việc soạn thảo này, 30 năm trước không có gì “khúc mắc”, nhưng giờ đây lại trở nên phức tạp khi ai cũng khẳng định mình là tác giả soạn thảo lời đầu hàng đó.

Trên báo A, hội thảo B đồng chí này kể mình đã đích thân soạn thảo văn bản ấy như thế nào. Trên báo C, đài truyền hình D đồng chí kia lại khẳng định một sự thật ngược lại.

(Tuổi Trẻ xin phép không đi sâu vào chi tiết còn gây tranh cãi này, vì suy cho cùng nó thật nhỏ bé so với cái lớn lao của thời khắc lịch sử ấy.

Tuy nhiên, cũng cần nói thêm: bản thảo 30 năm trước có chữ viết của chính ủy Bùi Văn Tùng vừa được phóng viên Tuổi Trẻ tìm thấy tại Nhà bảo tàng Quân đoàn 2, cách Hà Nội 80km – BT)

“Các anh được tự do…”

14g. Đoàn xe đưa ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu từ Đài phát thanh trở về dinh Độc Lập. Họ được đưa vào một gian phòng lớn gần tiền sảnh, có bộ đội vũ trang đứng gác thường trực bên ngoài. Đó cũng là nơi các thành viên nội các, dân biểu, nghị sĩ… có mặt ở dinh Độc Lập sáng 30-4 phải sống 48 giờ mà không được liên lạc gì với bên ngoài.

15g45. Những tiếng nổ lớn bắt đầu từ phía công viên Tao Đàn, phía sau dinh Độc Lập, tiếp theo là những tiếng súng đủ loại. Vài giây sau, đạn cối rơi xuống nổ liên tiếp giữa sân dinh, đúng lúc tướng Nguyễn Hữu An, tư lệnh Quân đoàn 2 quân giải phóng đang đi bách bộ cùng một sĩ quan tác chiến tên Duyến. Duyến bị mảnh đạn cối găm vào mắt. Tư lệnh Nguyễn Hữu An không bị sao. Lực lượng bộ đội bảo vệ dinh báo động: “Quân địch phản công!”.

Ông Dương Văn Minh và gần 20 người khác được đưa từ gian phòng nói trên xuống một căn hầm bên dưới hội trường lớn. Gần 60 phút trôi qua. Mọi người bắt đầu bị ngợp. Dân biểu Nguyễn Văn Binh lần dò ra cửa, đề nghị anh bộ đội cho ra ngoài lấy nước. Ông lượm một cái nón sắt cũ, hứng nước ở vòi nước máy rồi mang vào căn hầm. Cái nón sắt được chuyền từ người này sang người khác. Mọi người cứ bưng nón sắt mà uống. Ông Minh cũng vậy.

Rồi tiếng súng tự nhiên im bặt. Hóa ra là “quân ta đánh quân mình”: một đơn vị quân giải phóng từ hướng nam về không có ám hiệu đúng, thế là…

Mọi người được đưa trở về căn phòng cũ và trải qua hai ngày đêm đáng nhớ ở đó. Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh cũng bị “giam lỏng” như thế. Ông không có hành động và thái độ nào để chứng tỏ “ta đây là người của cách mạng”. Sự quản thúc chỉ được chấm dứt vào chiều tối 2-5.

Ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Văn Binh… được trả tự do. Quyết định trả tự do của Ủy ban quân quản được thông báo tại buổi lễ trang trọng và thân mật tại hội trường dinh Độc Lập tối 2-5-1975. Tại buổi lễ này, phó chủ tịch Ủy ban quân quản Sài Gòn – Gia Định Cao Đăng Chiếm đã phát biểu với một chất giọng miền Nam trầm ấm:

“…Nhân dân Việt Nam chúng ta đã trải qua cuộc đấu tranh anh dũng và khốc liệt, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh bại chính sách Việt Nam hóa chiến tranh để giành thắng lợi vĩ đại và vô cùng to lớn từ xưa đến nay.

Thi hành chính sách của Chính phủ cách mạng lâm thời, Chính phủ mong rằng trong tình hình mới chúng ta hãy cùng nhau nỗ lực xây dựng lại Tổ quốc của chúng ta, làm cho nhân dân chúng ta giàu mạnh, Tổ quốc của chúng ta hùng cường. Do đó, chúng tôi mong rằng mỗi người VN chúng ta đều tùy theo khả năng của mình, góp công sức vào việc xây dựng Tổ quốc của chúng ta.

Bữa nay, thi hành lệnh của cấp trên, các anh được tự do về với gia đình. Chúng tôi sẽ tổ chức đưa các anh về đến nơi đến chốn…”. (Trích băng ghi âm)

Tiến sĩ Nguyễn Nhã và các đồng nghiệp ở Đài Tiếng nói nhân dân TP.HCM đã cung cấp băng ghi âm nội dung phát sóng ngày 30-4 và 2-5-1975 để chúng tôi thực hiện bài báo này.

Xin chân thành cảm ơn tiến sĩ và các bạn đồng nghiệp.

Đáp lại, ông Dương Văn Minh nói ngắn gọn thế này:

“ …Ngày hôm nay, đại diện cho các anh có mặt tại đây, tôi nhiệt liệt hoan nghênh sự thành công của Chính phủ cách mạng trong công cuộc vãn hồi hòa bình cho đất nước. Với kỷ nguyên mới này, tôi mong rằng tất cả anh em có mặt tại đây, cũng như các tầng lớp đồng bào, sẽ có dịp đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng đất nước.

Riêng cá nhân tôi, hôm nay tôi rất hân hoan khi được 60 tuổi, trở thành một công dân của một nước Việt Nam độc lập”. (Trích băng ghi âm)

Mọi người được về với gia đình ngay sau buổi lễ đó. Chiếc xe Ford màu xanh dương đậm đưa ông Minh ra khỏi dinh Độc Lập lúc 22 giờ. Khi xe chuyển bánh, vị tổng thống 48 giờ nói:

– Thôi, giã từ quá khứ chết chóc. Vĩnh viễn hòa nhập vào đời sống hòa bình.

Năm 1975 và giờ Sài Gòn, giờ Hà Nội

Đây là tờ lịch ngày 30-4-1975 với bút tích của đại tướng Văn Tiến Dũng, nguyên tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh (ảnh do chị Phương Minh ở KS Tân Sơn Nhất cung cấp)

Trong khi tìm kiếm tư liệu và thực hiện những cuộc phỏng vấn cho loạt bài này, chúng tôi khá đau đầu về chuyện giờ giấc.

Chẳng hạn chuyện Bùi Quang Thận cắm cờ trên nóc dinh Độc Lập được xác định là vào lúc 11g30 ngày 30-4. Tuy nhiên, những nhân chứng ở dinh Độc Lập khẳng định không thể như thế vì lúc đó xe tăng chưa vào dinh (?).

Và hàng loạt thời điểm lịch sử trong lúc đó đều được các nhân chứng nêu ra hoàn toàn chênh nhau đến cả tiếng. Thậm chí cho đến nay, trong các tư liệu sách báo, hồi ký trong và ngoài nước viết về 30-4 cũng tiếp tục… lộn xộn về giờ giấc.

Tại sao vậy?

Câu trả lời là: khi đất nước bị chia cắt thì giờ giấc hai miền cũng không thống nhất.

Ông Trịnh Tiến Điều, trưởng Ban lịch nhà nước, cho biết cụ thể như sau:

Ngày 1-9-1945, Chính phủ lâm thời nước VN Dân chủ cộng hòa tuyên bố lấy múi giờ 7 làm giờ chính thức (sắc lệnh số 01/SL của Bộ Nội vụ). Từ đó, miền Bắc và miền Trung lấy múi giờ 7. Sau đó, theo quyết định số 121/QĐ-CP ngày 8-8-1967 thì giờ pháp định của VN Dân chủ cộng hòa là múi giờ 7 quốc tế, kể từ 0 giờ ngày 1-1-1968.

Trong khi đó, năm 1959, chính quyền Sài Gòn ra sắc lệnh số 362-TTP ngày 30-12-1959 qui định bắt đầu từ ngày 1-1-1960 giờ chính thức và pháp định của miền Nam VN nhanh hơn 60 phút đối với múi 7.

Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, đến ngày 13-6-1975 Chính phủ cách mạng lâm thời mới ra quyết định chính thức trở lại múi giờ 7, giờ Sài Gòn được vặn chậm lại một giờ.

Đến ngày 14-10-2002, Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN VN ra quyết định số 134/2002/QĐ-TTg “lấy múi giờ thứ 7 theo hệ thống múi giờ quốc tế làm giờ chính thức của VN”.

Như vậy, trước năm 1975 ở VN sử dụng hai múi giờ khác nhau ở hai miền Nam, Bắc. Miền Bắc theo múi giờ thứ 7, miền Nam theo múi giờ thứ 8 (nhanh hơn 60 phút) cho đến ngày 13-6-1975 mới thống nhất trở lại theo múi 7 cho đến ngày nay.

B.T. – L.Đ.

BÙI THANH
tuoitre.vn

Tin, bài liên quan:

– Kỳ 2: Giờ kết thúc
– Kỳ 1: Những tiếng súng cuối cùng

Thứ tư, tháng tư, ngày 30… (kỳ 2)

Giờ kết thúc

TT – Lúc xe tăng húc đổ cổng dinh Độc Lập và Bùi Quang Thận cầm cờ xông vào, không có một nhà báo VN nào có mặt ở đó để ghi lại khoảnh khắc lịch sử ấy. Và đối diện với những chiếc xe tăng vừa chạy vừa khạc đạn là một số ít phóng viên nước ngoài. Trong số đó có Franøoise Demulder.

Ảnh: Francoise Demulder

Tấm ảnh “có một không hai” (được treo trang trọng trong các nhà bảo tàng lịch sử và in bìa nhiều quyển sách ở VN nhưng ít khi thấy đề tên tác giả) đã được chụp bởi người nữ phóng viên dũng cảm người Pháp này.

Dũng cảm ư? Có thể nói như vậy. Lúc đó họ đâu biết trước chuyện gì sẽ xảy ra. Có một phóng viên truyền hình đứng gần Franøoise Demulder đúng khoảnh khắc ấy, nhưng anh ta cũng không dám ghi hình. Anh đặt máy xuống đất và chỉ ngồi im quan sát cảnh tượng xe tăng húc đổ cổng và tiến vào dinh (ảnh). Đó là một tình huống chiến tranh nguy hiểm: làm sao những người lính tăng từ xa có thể phân biệt được đâu là camera đâu là… súng chống tăng.

Nhưng những người lính tăng lúc đó hoàn toàn không có thái độ thù địch gì đối với các phóng viên nước ngoài. Ai làm việc nấy.

Khi chiếc tăng 390 đỗ xịch trước dinh, chính trị viên đại đội Vũ Đăng Toàn xách AK nhảy xuống, chờ Bùi Quang Thận đang cầm cờ tiến vào. Cả hai chạy lên thềm dinh trong tư thế sẵn sàng chiến đấu và với một tinh thần “cảnh giác cao độ”. Bùi Quang Thận hơi lo khi thấy bên trong lố nhố nhiều người mặc quân phục.

Và có lẽ do “cảnh giác cao độ” quá nên anh lao thẳng vào cửa kính, ngã bật ra phía sau nhưng tay vẫn cầm chắc lá cờ. Chắc đây là lần đầu tiên chàng trai miền biển Thái Bình này mới “tiếp xúc” với loại kính trong suốt như thế. Lúc này, từ trong dinh, một người bận đồ dân sự chạy ra, thân thiện mời hai anh lính tăng giải phóng vào.

Bùi Quang Thận thoáng chút bối rối trước tình huống này: không biết phải “xử lý” thế nào với tổng thống và mấy ông nội các Sài Gòn, bởi nhiệm vụ của những người lính tăng như anh là chiếm dinh và cắm cờ. Cuối cùng, Bùi Quang Thận đề nghị Vũ Đăng Toàn ở lại “canh chừng” các thành viên nội các và chờ cấp chỉ huy đến, còn mình phải thực hiện cho được nhiệm vụ cắm cờ trên nóc dinh Độc Lập.

Người được lệnh hướng dẫn Bùi Quang Thận đi thang máy lên nóc dinh cắm cờ là đại tá Chiêm, chỉ huy trưởng lực lượng phòng vệ phủ tổng thống. Cùng đi theo hỗ trợ Bùi Quang Thận cắm cờ còn có hai người nữa: sinh viên Nguyễn Hữu Thái (cựu chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn) và tiến sĩ báo chí Huỳnh Văn Tòng.

Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng và sinh viên Nguyễn Hữu Thái cùng nhà báo Cung Văn đến dinh Độc Lập sau khi nghe ông Dương Văn Minh tuyên bố ngừng bắn trên đài phát thanh. Họ đến để đón quân giải phóng và hi vọng góp phần nhỏ của mình cho một kết cục hòa bình và êm thắm nhất.

“Đêm 29-4 chúng tôi không ngủ được – tiến sĩ Tòng nhớ lại – Sài Gòn lan truyền tin đồn Việt cộng đã chuẩn bị hàng vạn quả đạn pháo và sẽ “rót” vào thành phố này sáng mai. Sài Gòn sẽ đổ nát và dân chúng sẽ khốn khổ, nếu không có một giải pháp thích hợp nào. Sáng sớm 30-4, anh em chúng tôi đã bàn nhau làm được nhiều việc. Và chúng tôi kéo nhau đến dinh Độc Lập. Tôi không phải là “thành phần thứ ba”.

Tôi ngả hẳn về phía cách mạng và mong muốn Sài Gòn được giải phóng nhanh chóng”.

Tấm ảnh lịch sử của Francoise Demulder: xe 390 húc văng hai cánh cổng chính, còn xe 843 bị kẹt lại ở cổng phụ. Bùi Quang Thận nhảy xuống xe, cầm cờ chạy bộ vào (mũi tên)

Những tấm ảnh của Francoise Demulder chỉ được đăng một lần trên một tờ báo Pháp, rồi sau đó “nằm im” trong văn phòng của chị.

Gần 20 năm sau, có một người VN phát hiện ra những tấm ảnh lịch sử ấy và đưa chúng về VN. Đó là anh Phạm Công Dũng (trung tâm báo chí nước ngoài, Bộ Ngoại giao).

“Năm 1994, tôi được Bộ Ngoại giao cử sang thực tập ở Pháp. Một lần, tôi ghé văn phòng của Francoise Demulder chơi. Ở đó có treo những bức ảnh để đời của chị. Tôi sửng sốt khi nhìn thấy những bức ảnh về ngày 30-4 ở dinh Độc Lập.

Đặc biệt, tôi phát hiện chiếc xe tăng húc đổ cổng dinh không phải là chiếc 843 như sách báo VN từng viết. Francoise cũng ngạc nhiên về điều này. Và năm 1995, Francoise trở lại VN, cùng tôi bước vào cuộc hành trình tìm lại những người lính tăng xe 390”.

Những tấm ảnh của Franøoise, sau khi được công bố ở VN, đã góp phần làm sáng tỏ một chi tiết lịch sử. Và những người lính tăng 390 đã được biết đến và được quan tâm nhiều hơn.

Nhưng Francoise Demulder không thể sang VN dự kỷ niệm ngày 30-4 năm nay. Chị bệnh rất nặng, không đi lại được và đang nằm trong một bệnh viện quân đội ở Paris.

…Đại tá Chiêm dẫn ba người đến trước thang máy (phải đi thang máy vì cầu thang chính không còn sử dụng được, do bị phi công Nguyễn Thành Trung ném bom làm sập ngày 8-4). Đến trước thang máy, Bùi Quang Thận thấy… lạ quá nên nhất quyết không vào. “Lúc đó tôi thấy thang máy giống như… cái hòm – Bùi Quang Thận nhớ lại – Vào đó nó nhốt mình luôn, biết bao giờ mới ra được!”.

Sau khi nghe đại tá Chiêm giải thích, Bùi Quang Thận mới chịu vào nhưng lại cảnh giác yêu cầu ông đại tá vào trước… Cuối cùng thì Bùi Quang Thận, Huỳnh Văn Tòng, Nguyễn Hữu Thái cũng lên được nóc dinh.

“Chúng tôi còn trèo thêm một cầu thang gỗ mới ra được chân cột cờ – kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái kể – Để treo lá cờ giải phóng lên, phải hạ lá cờ vàng ba sọc xuống. Nhưng lá cờ ba sọc quá lớn, lại được cột chắc chắn nên phải mất khá lâu chúng tôi mới hạ xuống được”. Bùi Quang Thận kéo lá cờ giải phóng xanh đỏ sao vàng lên, sau khi viết và ký tên vào lá cờ: “11g30 ngày 30-4. Thận”.

Và thật kỳ lạ, trong khoảnh khắc lịch sử ấy, trên nóc dinh Độc Lập có ba chàng trai của ba miền đất nước: Bùi Quang Thận (Thái Bình, miền Bắc), Nguyễn Hữu Thái (Đà Nẵng, miền Trung) và Huỳnh Văn Tòng (Tây Ninh, miền Nam). “Dường như tất cả chúng tôi đều không cầm được nước mắt – KTS Nguyễn Hữu Thái nhớ lại – Sài Gòn đã được giải phóng, hòa bình được lập lại và đất nước từ nay thống nhất làm một, không gì có thể chia cắt được nữa” …

…Bùi Quang Thận lúc đầu định ném lá cờ ba sọc xuống sân, nhưng nghĩ tới nghĩ lui sao đó, xếp lá cờ lại và đem xuống cất vào chiếc xe tăng 843 của mình. Cũng nhờ vậy mà sau này Bùi Quang Thận mới đưa ra được “bằng chứng”, khi cấp trên cho người đi xác minh: ai mới là người cắm cờ trên nóc dinh Độc Lập? Lá cờ cất trong xe tăng của Bùi Quang Thận có một vết rách trùng khớp với phần còn sót lại trên cột cờ!

Thật ra, cùng lúc lá cờ ba sọc được hạ xuống trên nóc dinh thì các chiến sĩ bộ binh trung đoàn bộ binh 66 và biệt động đặc công trung đoàn 116 cũng đã phất những lá cờ giải phóng từ bancông tầng hai. Lá cờ xanh đỏ sao vàng lớn nhất được phất lên lúc đó là của một người dân ở miệt Thị Nghè. Ông cầm lá cờ lao ra từ Thảo cầm viên, rồi leo lên chiếc xe Jeep của đại úy Phạm Xuân Thệ vào dinh, ít phút sau khi xe tăng 390 húc đổ cổng sắt.

Và trung đoàn phó trung đoàn bộ binh 66 Phạm Xuân Thệ cũng là viên chỉ huy đầu tiên “làm việc” với tổng thống Dương Văn Minh và những người bên trong dinh. Giống như Bùi Quang Thận trong khoảnh khắc đầu tiên, đại úy Phạm Xuân Thệ cũng hơi ngỡ ngàng và chưa biết phải làm gì. “Tôi chỉ được giao nhiệm vụ chiếm dinh Độc Lập. Việc của tôi là kiểm soát tòa nhà và cho anh em lên cắm cờ. Làm việc gì và làm như thế nào với tổng thống và nội các này đây?”.

Tổng thống Dương Văn Minh thông báo đã tuyên bố ngừng bắn và đang chuẩn bị tiến hành bàn giao chính quyền cho Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Nhưng trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ không chấp nhận chuyện bàn giao mà tuyên bố: phải đầu hàng!

Và trung úy Phùng Bá Đam cùng các sĩ quan bộ binh đã bàn với Phạm Xuân Thệ là cho tuyên bố đầu hàng ngay tại dinh. Nhưng đường dây từ dinh Độc Lập ra đài phát thanh không hoạt động được nữa do nhân viên đài lúc ấy đã “biến” hết. Phải ra đài phát thanh!

Ngay lúc đó, trung tá chính ủy lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng xuất hiện. Các sĩ quan biệt động đặc công đưa ông vào gặp tổng thống Dương Văn Minh. Trung tá Bùi Văn Tùng cũng bác bỏ lời đề nghị bàn giao chính quyền và tuyên bố giải pháp duy nhất là phải đầu hàng.

Thật ra thì những gì xảy ra trong 40 phút đó rất căng thẳng và đầy kịch tính. Nhưng Tuổi Trẻ xin không nêu lại vì xét thấy không cần thiết nữa.

Khoảng 12 giờ trưa 30-4, đại úy Phạm Xuân Thệ đưa tổng thống Dương Văn Minh, thủ tướng Vũ Văn Mẫu lên xe Jeep để đến đài phát thanh. Chiếc xe thứ hai chở trung tá Bùi Văn Tùng cùng hai nhà báo Borries Gallasch và Hà Huy Đỉnh. Đặc biệt, chạy trước hai chiếc xe nói trên là một chiếc UTE của Hãng tin AP (Mỹ), nhưng lại cắm cờ giải phóng và chở hai sĩ quan bộ binh. Người cầm lái là nhà báo Kỳ Nhân.

Trước đó không lâu, trưởng văn phòng AP George Esper yêu cầu Kỳ Nhân bỏ lá cờ giải phóng xuống vì đây là xe của hãng tin Mỹ. Nhưng nhà báo này không tháo bỏ và xách xe đi chở… Việt cộng, “bởi vì tôi là người VN và tôi hiểu mình phải làm gì trong lúc này….”.

BÙI THANH
tuoitre.vn

Thứ tư, tháng tư, ngày 30… (Kỳ 1)

Những tiếng súng cuối cùng

Tờ lịch ngày 30-4-1975 do bà Nguyễn Thị Tính cất giữ (ảnh chụp lại tại Bảo tàng TP.HCM) – Ảnh: Thanh Đạm

TT – Tháng 4-1975. Những người dân Sài Gòn dường như dừng lại lâu hơn trước tờ lịch mới: thứ tư ngày 30 (nhằm ngày 19-3 năm Ất Mão). Nhiều người trong số họ biết rằng lịch sử sẽ đọng lại ở ngày này, trước khi sang trang mới.

…Tiếng động cơ trực thăng ì ầm suốt đêm qua đã im tiếng. Đại sứ Martin và những tay súng thủy quân lục chiến người Mỹ cuối cùng đã rời khỏi đất nước này vào lúc tinh mơ. Không phải ra đi, mà là tháo chạy tán loạn.

Cả Sài Gòn lúc ấy dường như đang chờ đợi. Một cái gì đó khác lạ, mới mẻ và lớn lao đang đến…

Xe tăng đang đến.

Những chiếc xe tăng T54 và T59 thuộc lữ đoàn 203 cắm cờ xanh đỏ sao vàng ầm ầm từ hướng Biên Hòa lao về mục tiêu cuối cùng: dinh Độc Lập.

Lúc đó là khoảng 9g30.

Bất ngờ, đoàn xe tăng bị chặn lại tại cầu Sài Gòn bởi hỏa lực của tám chiếc M48 và M113. Cùng lúc, những chiếc tàu chiến của hải quân Sài Gòn đang neo đậu ở Tân Cảng cũng bắt đầu nã đạn như mưa vào đoàn tăng giải phóng. Hai chiếc T54 đi đầu bị bắn cháy, hai chiếc khác bị hỏng và lao xuống vệ đường. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 xe tăng Ngô Quang Nhỡ và nhiều chiến sĩ khác hi sinh tại chỗ.

Vào lúc này, trên radio, tổng thống Dương Văn Minh đã đơn phương tuyên bố ngừng bắn và chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh “yêu cầu binh sĩ chấp hành lệnh của tổng thống”. Nhưng bất chấp lệnh đó, tiếng súng kháng cự vẫn nổ và cuộc giao tranh vẫn diễn ra ác liệt ngay cửa ngõ Sài Gòn.

Không để ổ kháng cự ở cầu Sài Gòn cầm chân quân giải phóng quá lâu, Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 đã ra lệnh cho lực lượng pháo binh, cao xạ và bộ binh sư đoàn 304 tham chiến. Tiếng súng chỉ ngưng khi hai chiếc M48 của quân VNCH nổ tung ngay trên cầu. Hai chiếc tàu chiến bị bắn cháy, những chiếc khác chạy thẳng ra phía biển sau khi trút những loạt đạn cuối cùng.

Những chiếc tăng T54 và T59 vọt qua cầu (xe T54 do Liên Xô sản xuất, còn T59 do Trung Quốc sản xuất theo công nghệ Liên Xô). Trên những chiếc tăng lúc này còn có những chiến sĩ thuộc trung đoàn đặc công biệt động 116 và trung đoàn bộ binh 66. Đặc biệt, có một phóng viên ảnh của Hãng tin Mỹ UPI – đó là Hoàng Văn Cường.

…Hoàng Văn Cường kể: “Tôi được văn phòng UPI Sài Gòn yêu cầu ra ngoại ô để có được những hình ảnh nóng nhất trước giờ G. Đến ngã ba Vũng Tàu thì bất ngờ gặp xe tăng của “mấy ổng” ầm ầm lao tới. Tôi hoảng quá, vội lột bỏ áo giáp chống đạn, để lộ ra chiếc áo trắng và lỉnh kỉnh đủ thứ máy ảnh cho “mấy ổng” thấy, rồi giơ hai tay lên vẫy chào. Một chiếc tăng dừng lại.

Tôi nghe “mấy ổng” xì xào: “Phóng viên! Phóng viên!…”, rồi bất ngờ cho tôi lên xe luôn. “Mấy ổng” hỏi tôi đủ thứ, nhưng tôi chỉ trả lời bằng… tiếng Nhật”. “Tại sao anh lại giả bộ là một phóng viên Nhật?”. “Bởi vì lúc ấy tôi đang làm cho một hãng tin Mỹ. Thật tình tôi không biết Việt cộng sẽ đối xử với tôi ra sao. Tôi sợ “mấy ổng”… bắn!”.

Những chiếc xe tăng đầu tiên đã tiến đến ngã tư Hàng Xanh. Sài Gòn đã ở trước mặt! Nhưng đường nào vào dinh Độc Lập đây? Những người lính tăng tự hỏi. Trước giờ xuất quân, họ được hướng dẫn: quẹo trái, đi tiếp bảy ngã tư rồi quẹo trái tiếp… Nhưng hướng dẫn là một chuyện, còn thực tế đường phố xa lạ và chằng chịt trước mặt lại là chuyện khác. Cả lực lượng đột kích thọc sâu này chỉ có một bản đồ Sài Gòn – Gia Định. Và đó lại là tấm bản đồ du lịch mà một người bà con ở Đà Nẵng tặng cho trung tá chính ủy lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng (ông Tùng quê ở Đà Nẵng).

“Đến ngã tư Hàng Xanh, quẹo trái!”. Những chiếc tăng đầu tiên quẹo trái theo lệnh, rồi ầm ầm lao thẳng về phía Thị Nghè. Đi đầu là chiếc tăng T59 số hiệu 387, đi thứ hai cũng là một chiếc T59 số hiệu 390. Xe T54 số hiệu 843 của đại đội trưởng Bùi Quang Thận đi thứ ba… Theo sau những chiếc tăng dẫn đầu là chiếc Jeep (xe chiến lợi phẩm lấy từ Đà Nẵng) chở đại úy Phạm Xuân Thệ, trung đoàn phó trung đoàn bộ binh 66 (hiện nay là trung tướng tư lệnh Quân khu I).

Sau cuộc chạm súng cuối cùng diễn ra tại khu vực cầu Thị Nghè, người dân đã tràn ra đường đón chào quân giải phóng. Trên cầu vẫn còn công sự và xe tăng M41 của quân VNCH – Ảnh tư liệu TTXVN

Phố xá vắng tanh, không một bóng người. Tất cả những ngôi nhà đều đóng cửa. Vì sao vậy? Những người lính tăng căng thẳng. Rồi câu trả lời xuất hiện ngay lập tức: một ổ kháng cự mọc ngay trên cầu Thị Nghè, với cả xe tăng M41 và M113. Cuộc chạm súng cuối cùng đã diễn ra ngay trong nội thành Sài Gòn. Ổ kháng cự trên cầu bị “dập tắt” không lâu sau đó.

Nhưng bên này, chiếc tăng dẫn đầu 387 đã trúng đạn. Một chiến sĩ công binh ngồi trên xe hi sinh. Riêng trưởng xe 387 là trung đội trưởng Lê Tiến Hùng bị thương một cách hi hữu. Anh ngồi trong xe tăng, chỉ ló đầu ra ngoài quan sát thôi, nhưng không hiểu sao lại bị thương rất nặng ngay “chỗ ấy”. Đồng đội khiêng anh xuống xe, gõ cửa nhà một gia đình người Hoa để nhờ giúp đỡ cứu chữa (anh Hùng sau đó được cứu sống, về quê lấy vợ rất vui vẻ và đã có hai con).

Sau khi chiếc 387 bị bắn hỏng phải nằm lại, chính trị viên đại đội Vũ Đăng Toàn cho xe 390 vượt qua cầu Thị Nghè và trở thành chiếc tăng dẫn đầu lực lượng đột kích thọc sâu. Theo sau là chiếc 843 của đại đội trưởng Bùi Quang Thận. Nhưng tại sao chiếc xe đi sau lại húc vào cổng dinh Độc Lập trước?

“Chúng tôi đi lạc vì không biết đường – Vũ Đăng Toàn kể – Xe 390 của chúng tôi cứ thẳng tiến theo đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) và không biết chính xác phải quẹo trái ở ngã tư nào để đến dinh”. Khi xe 390 vượt qua luôn ngã tư Công Lý – Hồng Thập Tự, đến cổng Trường Lê Quý Đôn thì nhận được tín hiệu của Bùi Quang Thận từ phía sau: phải quay lại!

Thật ra thì đại đội trưởng Bùi Quang Thận cũng chẳng biết đường, dù dinh Độc Lập ở ngay bên cạnh rồi. Anh cho xe 843 dừng lại. Đang bối rối giữa phố phường vắng lặng thì bỗng xuất hiện một cô gái đi xe máy. Bùi Quang Thận ra lệnh cho cô gái dừng lại. Dù thất kinh hồn vía trước lính tăng Việt cộng, cô gái cuối cùng cũng hướng dẫn xe 843 quẹo qua đường Pasteur, rồi theo đường Thống Nhất thẳng đến dinh.

“Dinh Độc Lập đây rồi!”. Những người lính tăng trên chiếc 843 bỗng hồi hộp và căng thẳng hơn bao giờ hết. Và do căng thẳng, trưởng xe Bùi Quang Thận đã đi đến một quyết định bất ngờ: bắn đại bác vào dinh Độc Lập!

“Khi xe tăng 843 còn cách dinh hơn 50m, tôi ra lệnh cho pháo thủ nạp đạn pháo và bắn thẳng. Đạn không nổ! Tôi ra lệnh nạp đạn bắn lần thứ hai. Lần này không bắn điện nữa mà chuyển sang bắn cơ. Đạn vẫn không nổ! Thật kỳ lạ. Khi pháo thủ cho biết trong xe chỉ còn một viên đạn pháo cuối cùng, tôi quyết định không bắn nữa, mà cho xe lao lên húc thẳng vào cổng dinh”.

– Tại sao lúc đó anh lại cho đại bác bắn thẳng vào dinh?

– Tôi bắn để uy hiếp đối phương. Lúc đó nhìn qua nhìn lại chỉ mới có xe của tôi đối diện với dinh thôi. Tôi nghĩ đây là ổ kháng cự cuối cùng và họ sẽ kháng cự dữ dội. Anh thấy ngay ở cầu Sài Gòn, cầu Thị Nghè chúng tôi đã bị bắn như thế nào rồi…

– Anh có biết lúc đó trong dinh có ông Dương Văn Minh và các thành viên nội các Sài Gòn?

– Không. Lúc đó chúng tôi không hề biết. Chúng tôi không nghĩ họ đang ở đó, vì quân giải phóng đang tấn công thì nội các ở đó làm gì? Nếu chẳng may đạn pháo nổ trong dinh làm bị thương thành viên nội các nào đó thì chúng tôi cũng không có lỗi gì. Bởi vì chúng tôi là những người lính…

Loạt bài này được thực hiện dựa theo nội dung những cuộc phỏng vấn vào tháng 4-2005 giữa phóng viên Tuổi Trẻ với nhiều nhân chứng và nhân vật có liên quan: trung tướng Phạm Xuân Thệ, thiếu tướng Thiều Chí Đinh, đại tá Bùi Văn Tùng, đại tá Bùi Quang Thận, PGĐ phân xưởng sơn Kovik Vũ Đăng Toàn, đại tá Phùng Bá Đam, ông Phạm Công Dũng (Bộ Ngoại giao), ông Nguyễn Hữu Hạnh, KTS Nguyễn Hữu Thái, tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, nhà báo Kỳ Nhân…

Xe 843 xả hết tốc lực húc vào cổng phụ bên trái. Nhưng xe lại húc thẳng vào trụ cổng khá vững chắc nên cổng không đổ. Bùi Quang Thận cho xe lùi lại tiếp tục húc, nhưng lại va vào trụ cổng…

Ngay lúc đó, xe 390 xuất hiện từ phía đường Công Lý, quẹo phải lao thẳng vào cổng chính và ủi văng hai cánh cửa sắt. Xe 390 tiếp tục tiến thẳng vào dinh. Súng đại liên trên xe bắn liên tục. Cùng lúc đó, Bùi Quang Thận giật phăng cần ăngten có gắn cờ giải phóng, nhảy khỏi xe 843, chạy bộ vào dinh.

Trước khi đi, Bùi Quang Thận nói: “Nếu không thấy mình trở ra thì các cậu hãy bắn nốt viên đạn pháo còn lại. Và hãy báo cáo chỉ huy là đại đội trưởng đã vào dinh”. Anh cầm lá cờ xanh đỏ sao vàng nhuốm màu lửa đạn và bụi đường lao vào dinh mà không hề biết chuyện gì đang chờ đợi mình.

Lúc này, trên đường Thống Nhất, một cảnh tượng chưa từng có: xe tăng, xe bọc thép, xe Molotova chở bộ binh ầm ầm nối đuôi nhau hướng về dinh Độc Lập. Súng nổ vang trời. Tiếng súng chỉ thiên mừng chiến thắng của quân giải phóng xen lẫn với những tiếng súng kháng cự cuối cùng của những tay súng biệt kích dù 81 từ phía trụ sở Bộ Ngoại giao (nay là Sở Ngoại vụ TP.HCM).

Chiến sĩ tiểu đoàn 7 bộ binh Tô Văn Thành đang ngồi trên thành xe tăng bị bắn rớt xuống đường. Đó là người lính cuối cùng hi sinh, ngay trước dinh Độc Lập.

BÙI THANH
tuoitre.vn

Lan tỏa niềm tin tự hào chiến thắng

QĐND – Những ngày này, rất nhiều tốp học sinh – sinh viên và cả một số cựu chiến binh (CCB) ngực đeo đầy huân, huy chương đứng trò chuyện với những du khách quốc tế ở trong và ngoài Dinh Thống Nhất (TP Hồ Chí Minh). Các vị khách tỏ vẻ rất thích thú, thán phục và hào hứng chụp ảnh chung với mọi người để làm kỷ niệm. Hỏi ra mới biết là các bạn trẻ và các CCB đang giới thiệu cho khách nước ngoài về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Đặc biệt là Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, với đỉnh cao là chiến thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Xe tăng quân giải phóng húc đổ cổng dinh Độc Lập. Ảnh tư liệu/internet.

Việc làm của các bạn trẻ và các CCB thật ý nghĩa và mang đậm tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc. Họ thực sự trở thành các sứ giả hòa bình, là cầu nối để bạn bè quốc tế hiểu Việt Nam, ngưỡng mộ và yêu mến Việt Nam hơn. Có thể nói, đi trên đường phố của TP Hồ Chí Minh trong dịp kỷ niệm 38 năm Ngày giải phóng miền Nam – Thống nhất đất nước, ai cũng có thể cảm nhận được niềm vui, niềm tự hào sâu sắc không chỉ của người dân Việt Nam, mà còn lan tỏa đến bạn bè quốc tế. Chả thế mà ông Wi-li-am Ghết-tơ, một du khách đến từ nước Mỹ sau khi nghe CCB Nguyễn Minh Nho, quê ở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, nguyên là chiến sĩ của Sư đoàn 9, Quân đoàn 4 đã tham gia giải phóng Sài Gòn Xuân 1975 kể về chiến thắng 30-4 qua lời dịch của một sinh viên đã thốt lên: “Việt Nam là một nước nhỏ, người ít, kinh tế nghèo, nhưng khi đoàn kết lại đã làm lên những chiến thắng vô cùng vĩ đại. Thật là kỳ diệu. Đi đến đâu trên trái đất này, tôi sẽ giới thiệu điều kỳ diệu ấy cho mọi người biết”.

Điều kỳ diệu của dân tộc Việt Nam không chỉ có trong quá khứ, mà sau 38 năm khi đất nước ta được thống nhất, non sông gấm vóc thu về một mối, nhân dân Việt Nam đã nỗ lực không ngừng để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước ngày càng phát triển, đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, được thế giới ghi nhận và khâm phục.

Dịp này, những người con nước Việt, dù đang sinh sống ở quê hương hay ở nước ngoài tự hào, thành kính tưởng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ, các thương binh, bệnh binh đã hy sinh xương máu, hay một phần xương máu cho độc lập, tự do của Tổ quốc, tri ân những người đã góp phần làm lên chiến thắng. Đây cũng là dịp tốt để chúng ta giới thiệu với bạn bè quốc tế về chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Hy vọng sẽ có nhiều sứ giả hòa bình, nhiều cầu nối thân thiện như các bạn học sinh – sinh viên và các CCB ở TP Hồ Chí Minh, góp phần quảng bá hình ảnh tươi đẹp của đất nước và truyền thống vẻ vang của dân tộc với thế giới.

LÊ PHI HÙNG
qdnd.vn

Hùng ca đời đời vang vọng

Bài 1: Chiến trường vẫy gọi

LTS: Thắng lợi vĩ đại của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước là chiến công hiển hách của dân tộc ta trong thế kỷ XX. Đó chính là sự khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần Việt Nam qua ba mươi năm đấu tranh gian khổ. Ba mươi năm đó đã có mấy thế hệ người ViệtNam “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” (thơ Tố Hữu). Cổ vũ cho khí thế hào hùng ra trận, không thể không kể tới hàng nghìn nghệ sĩ-chiến sĩ đã hiên ngang, oanh liệt tiến ra sa trường. Những nghệ sĩ-chiến sĩ đã viết nên bản hùng ca đời đời vang vọng.

Bài 1: Chiến trường vẫy gọi

Khi những người nghệ sĩ ra trận, họ đã mang cả mùa xuân đến chiến trường khốc liệt. Nghệ sĩ cổ vũ bộ đội, bộ đội thành nghệ sĩ. Trong cuộc đấu tranh 30 năm của dân tộc ta đã có biết bao nghệ sĩ trưởng thành trên chiến trường, bao nghệ sĩ trở thành bộ đội…

“Lính chiến” Tây Nguyên vẫn thường nhắc câu chuyện về hai vợ chồng nhạc sĩ Doãn Nho đi chiến trường. Nhiều cựu chiến binh gặp hai vợ chồng nghệ sĩ vẫn dí dỏm trêu: Quả bom là quả bom to/Nó chui, nó rúc Doãn Nho mất hồn…. Tôi đến nhà thăm vợ chồng nghệ sĩ Doãn Nho-Nguyệt Ánh. Nhạc sĩ Doãn Nho đang đi thu âm trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Tiếp tôi chỉ có nghệ sĩ Nguyệt Ánh. Bà trẻ hơn nhiều so với tuổi 72, ánh mắt vẫn tinh tường hồn hậu. Bà vui vẻ hỏi: “Nhà báo lại đến vì cái chuyện “Quả bom to” phải không? Lính xưa họ tếu lắm. Chuyện nó như thế này…”.

Văn công trước cửa Dinh Độc Lập 30-4-1975. Ảnh tư liệu

Năm 1967, hai vợ chồng nghệ sĩ Nguyệt Ánh đang công tác tại Đoàn văn công Quân đội thì được lệnh lên đường đi B3. Lúc đó, chuyện nghệ sĩ ra chiến trường phục vụ là chuyện bình thường, nhưng vào chiến trường B3 (Mặt trận Tây Nguyên) lại kéo dài trong một năm thì lại là chuyện khác. Lo âu xen lẫn háo hức. Đoàn công tác có 13 người, trong đó có nữ. Nhạc sĩ Doãn Nho đi tiền trạm cùng một đoàn xe vận tải vũ khí. Đoàn xe này bị B52 rải thảm, bộ đội hi sinh rất nhiều. Trong số đó cũng có một chiến sĩ lái xe tên là Nho, nên khi báo về mọi người nhầm tưởng Doãn Nho đã hi sinh. Tình thực trước đó, nhạc sĩ “bị” một người bạn là sĩ quan cao cấp giữ chân ở binh trạm để tâm sự, nên may mắn thoát chết.

Nghe tin nhạc sĩ Doãn Nho – tác giả của ca khúc Tiến bước dưới quân kỳ đã hi sinh, anh em bộ đội thương lắm. Một đồn mười, mười đồn trăm, rồi cả Mặt trận Tây Nguyên đều biết. Tin đồn bay về với đoàn công tác. Lãnh đạo đoàn quyết định giữ kín thông tin để bà Nguyệt Ánh tiếp tục công tác.

Bà Ánh kể: “Mỗi lần tôi hát bài Nguyễn Viết Xuân, trong đó có câu: Nghe tin chúng giết anh rồi… tim sục sôi… Tất cả mọi người lúc đó đều đã nghe tin đồn anh Nho hi sinh. Họ đều khóc thương tôi. Tôi càng hồn nhiên diễn cảm, mọi người lại càng khóc”.

Thế rồi một hôm, khi 3 chị em trong đoàn tắm dưới suối, chợt nghe cậu “anh nuôi” hét gọi: “Chị Nguyệt, chị Tân ơi, anh Nho về rồi!”. Bà Ánh còn ngạc nhiên hỏi: “Anh Nho về thì làm sao?”. Hai chị ôm chầm lấy vai bà mà khóc: “Bọn tao giấu mày tin đồn anh Nho hi sinh cả tháng nay rồi!”. Lúc đó bà Ánh mới tá hỏa, òa lên, quên cả y phục chạy ra tìm chồng. Chuyện đó lại được đồn, lại thành thơ bút tre. Lính Tây Nguyên ai cũng biết.

“Văn công đi mặt trận có được ưu ái gì không?”-Tôi hỏi. Bà Ánh đáp: “Ưu ái nhiều chứ. Trừ khẩu phần thức ăn, quân trang (nặng khoảng 20kg) thì không phải vác thêm gì nữa. Đôi lúc đến trạm giao liên còn được ngủ lán. Thế là quý rồi, đã hơn bộ đội “thật” rất nhiều rồi”.

Vợ chồng nghệ sĩ Doãn Nho tuổi Thất thập. Ảnh: Đông Hà

Cảm động nhất là những lần gặp đồng hương trên mặt trận. Bà Ánh gặp một “cậu em” hàng xóm, hai chị em ríu rít trao đổi thư từ. Bà bùi ngùi nói: “Cậu ấy tên là Thái, nhà ở 32 Yết Kiêu, trẻ hơn tôi mấy tuổi. Trước khi đi tôi chỉ kịp giúi cho cậu ấy túi đường. Sau đó ít lâu đã nghe tin cậu ấy hi sinh tại mặt trận phía Nam”.

Những năm kháng chiến nghệ sĩ cả nước có một phong trào ra trận. Trong số đó có nhiều người không công tác trong quân đội. Họ ra mặt trận như một nhu cầu tự thân, góp sức phục vụ kháng chiến. Nhiều đoàn nghệ sĩ với chiếc xe đạp, túi bánh mì khô, một tờ giấy giới thiệu lên đường ra vùng “cán chảo”, “túi bom”. Văn nghệ sĩ ra trận đã trở thành nguồn động viên bộ đội, và chính họ đã có nhiều tác phẩm để đời: Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Thi, Nguyên Ngọc, Huy Thục, Thu Bồn, Hữu Mai, Vương Trọng, Nguyễn Đức Mậu… và còn nhiều tên tuổi lớn nữa… Sau mỗi chuyến đi là sự ra đời của hàng loạt những tác phẩm ca ngợi bộ đội, cổ vũ kháng chiến. Chính có những cuộc ra đi đó mà giờ đây trong nhạc Việt có một dòng nhạc được gọi là “nhạc đỏ”.

Trường hợp các nghệ sĩ trưởng thành trên mặt trận không phải hiếm gặp. Họa sĩ Trần Lê An là chiến sĩ Thành cổ. Ông có năng khiếu mỹ thuật nên được tham gia lớp đào tạo mỹ thuật cấp tốc do cán bộ trung đoàn tổ chức. Hiện ông còn giữ được rất nhiều tranh ký họa về những trận phòng ngự Cửa Tùng, Cửa Việt, Quảng Trị…

Nhiều cuộc triển lãm tranh ký họa chiến trường được tổ chức gần đây của các họa sĩ Huỳnh Phương Đông, Phạm Ngọc Liệu, Giang Khích, Lê Thiếu Nhơn, Đinh Rú, Lê Duy Ứng… đã khắc họa được hào khí của một thời gian khổ nhưng rất oai hùng.

Hào khí sa trường cuốn đi nhiều nghệ sĩ. Bom đạn cũng cướp đi nhiều tài năng: Tô Ngọc Vân, Hoàng Việt, Chu Cẩm Phong, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Văn Giá…

Xin cảm ơn người nghệ sĩ đã đồng hành cùng bước chân thần tốc của đoàn quân Nam tiến. Họ xứng đáng với danh xưng “Nghệ sĩ-chiến sĩ”!

Bài 2: Những tượng đài kỳ vĩ

Xin cảm ơn những người nghệ sĩ đã cho chúng tôi, những thanh niên sinh ra và lớn lên trong hòa bình được cảm nhận những giây phút hào hùng cả nước ra trận, cả nước nhìn về một hướng.

Tôi như bị ám ảnh bởi những câu thơ Chân trời/ Vực thẳm/ Ba lô sấp mặt/ Gió lặng hành quân/ Xơ tước cánh rừng/ Dốc người dựng ngược” (Trường ca Ngày đang mở sáng-Trần Anh Thái). Quả tình, tôi đã bắt gặp khung cảnh đó trong những câu chuyện mà đêm đêm cha tôi – nghệ sĩ Lê Duy Ứng vẫn rì rầm kể về một thời chiến trận. Cảm nhận thật của ông về chiến tranh là đói, rét, mệt lả, sợ hãi, đêm tối mịt mùng, cái chết cận kề… Giữa đêm tôi giật mình đạp chân. Cha hỏi, tôi đáp rằng mơ bước hụt một nấc thang mây.

Nụ cười Thành cổ. Ảnh: Đoàn Công Tính

Rồi cha tôi kể, ông đã vượt Trường Sơn bằng hình ảnh của những ánh sáng lung linh trong bài Đêm trên Cha Lo của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Sau chiến trận, cha tôi đã là thương binh, ánh sáng trong mắt đã mất. Một lần cha tôi được gặp nhạc sĩ Phạm Tuyên. Ông kể với nhạc sĩ: “Ngoài những chớp lửa của đạn pháo trong mắt tôi vẫn còn ánh sáng lung linh trong đêm Cha Lo”. Nhạc sĩ xúc động tặng cha tôi tập sách in nhạc, trong đó có bài Đêm trên Cha Lo.

Tôi nhiều lần được nghe nhạc sĩ Phạm Tuyên kể về hoàn cảnh sáng tác bài Đêm trên Cha Lo. Tôi biết ông đã viết bài hát đó bằng tình cảm rất thật. Chỉ có những người dám đội bom, vượt dốc, băng qua đêm đen giá buốt giữa mịt mùng núi rừng Trường Sơn mới cảm nhận được hơi ấm từ một đốm lửa nhỏ, mới thấy rạng rỡ lung linh ánh sao đêm, ánh sáng từ nụ cười của những em bé Vân Kiều. Tôi bỗng thấy Cha Lo thật gần gũi.

Tôi gặp anh hùng Lê Mã Lương, hỏi vui: “Nhiều người vẫn bảo vì chú mà họ lên đường ra trận đấy”. Anh hùng cười giản dị: “Vẫn có người trách yêu như vậy. Họ nói vì mình mà họ gắn với cuộc đời binh nghiệp. Có người lên cấp tướng, có người thì trở thành thương binh. Nhưng họ đều công nhận rằng đã làm đúng”. Cũng không ít người đã ngã xuống, không một tấm hình, không một dòng địa chỉ!

Hình tượng nghệ thuật lấy cảm hứng từ anh hùng Lê Mã Lương đã được các môn nghệ thuật như sân khấu, hội họa, văn chương, điện ảnh khai thác rất nhiều trong thời chiến. Câu nói bất hủ: “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” thời ấy đã thôi thúc hàng vạn thanh niên xếp bút nghiên lên đường ra trận. Mới đây thôi, ngài đại sứ Hy Lạp Ha-di-mi-cha-lít khi được nhận món quà là bức tranh cổ động có hình ảnh anh hùng Lê Mã Lương đã bày tỏ sự xúc động đặc biệt khi được gặp nguyên mẫu trong tranh. Ông nói đây là cuộc hội ngộ thật mà ngỡ trong mơ.

Họa sĩ Dương Ánh là người đã vẽ bức tranh cổ động có hình ảnh anh hùng Lê Mã Lương. Hai người gặp nhau lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1971. Lần đó anh hùng Lê Mã Lương cùng đoàn anh hùng dũng sĩ miền Nam ra báo cáo tại Hà Nội. Ông kể: “Lúc đến Tạp chí Văn nghệ Quân độitôi rất hồi hộp. Rồi từ hồi hộp chuyển qua xúc động vì có các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, họa sĩ nổi tiếng đã ngồi chờ sẵn. Ngày còn đi học mình chỉ biết các nhà văn, nhà thơ qua các bài học trên trong sách. Đâu biết rằng sẽ có ngày được ngồi gần họ đến vậy”. Trong lúc Lê Mã Lương kể lại chuyện chiến trường cho các nhà văn, nhà thơ… thì họa sĩ Dương Ánh đã ký họa rất nhiều.

Bẵng đi sau đó chừng hai tháng, anh hùng Lê Mã Lương lần đầu tiên được thấy hình ảnh của mình trên bức tranh cổ động “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” trong một hoàn cảnh rất bất ngờ. Đó là lần máy bay Mỹ ném bom kho xăng Đức Giang, khi khói bom tan hết, nhìn sang bên đường vẫn thấy bức tranh đứng vững mà không bị hơi bom hất đổ, ông lặng người đi xúc động, lòng muốn về ngay đơn vị để được chiến đấu với quân thù.

Đại tá, nhà báo Nguyễn Sĩ Bình kể: “Năm 1971, Đoàn TNCS có phong trào học tập những tấm gương như Lê Mã Lương, Lê Thị Hồng Gấm… Chính họ đã cuốn chúng tôi ra mặt trận. Trên chiến trường, hình ảnh họ giúp chúng tôi có thêm nghị lực, giữ niềm tin chiến thắng”.

Tôi đã gặp những cựu chiến binh Thành cổ, và cả những con người chiến thắng trong ngày 30-4-1975, họ đã lạc quan tin tưởng ngày chiến thắng và rồi niềm tin đó đã thành hiện thực.

Tôi lại nhớ đến những nhân vật trữ tình trong văn học giai đoạn kháng chiến chống Mỹ đã được học trong trường phổ thông, như: Núp (Đất nước đứng lên – Nguyên Ngọc), Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng – Nguyễn Minh Châu), T’nú (Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành)… Họ là hiện thân cho một lối sống đầy trách nhiệm với đất nước. Họ có chung một niềm tin giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Tâm hồn họ trong lành, yêu ghét rõ ràng, thủy chung son sắt. Tôi và bao thế hệ thanh niên sinh ra và lớn lên trong hòa bình được hòa mình trong lý tưởng sống cao đẹp.

Cảm ơn những nghệ sĩ – chiến sĩ đã lao động nghệ thuật hết mình, đã cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam một giai đoạn văn chương chói ngời, hình ảnh cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trở thành lý tưởng, là đích đến cho lớp lớp thanh niên, đó cũng là những tượng đài nghệ thuật kỳ vĩ của dân tộc ta trong thế kỷ hai mươi, muôn đời không khuất lấp.

LÊ ĐÔNG HÀ
qdnd.vn

Tháng Tư, niềm trăn trở về nhịp cầu dân tộc

Sau 38 năm chiến tranh kết thúc, cảnh đao binh mịt mù lửa khói giữa thế lực ngoại bang với hai miền Nam – Bắc lùi xa, có rất nhiều người con dòng máu Việt mang giấc mơ năm thứ 38 này là năm cuối cùng sau cuộc chiến không còn ngờ vực, không còn hận thù, mọi nỗi đau đều được chôn chặt trong tâm khảm giữa những người Việt Nam cùng dòng máu Lạc Hồng.

Đã là năm thứ 38, có rất nhiều những hậu quả chiến tranh để lại trên mảnh đất thân yêu đã được toàn dân tộc nỗ lực vượt qua bao khó khăn để xây dựng một Việt Nam mới của hòa bình và phồn thịnh. Nhưng vẫn còn có một nỗi suy tư day dứt mà chúng ta chưa toại nguyện. Vấn đề đó ngày đêm vẫn giày vò những người Việt Nam yêu nước chân chính đang sống ở hải ngoại: Hoà hợp – hoà giải lòng người.

Sau cái ngày rời đất Mẹ ra đi, biết bao nỗi cực nhọc phải vượt qua trên đất khách quê người, chăm chỉ, nhẫn nại – đức tính mà Mẹ Việt đã truyền lại cho chúng con mỗi khi đương đầu với sóng gió. Ôi! Mẹ Việt Nam ơi, hãy ôm tất cả chúng con vào lòng, dù mẹ nghèo nhưng mẹ có trái tim nhân hậu bao la. Có bao giờ Mẹ ruồng bỏ những đứa con mà Mẹ dứt ruột đẻ ra, chỉ có chúng con có những lúc chối từ tình thương của mẹ.

Các thế hệ, từ những người đã từng trực tiếp hay gián tiếp tham gia các cuộc chiến giành độc lập của dân tộc, đến những người chưa từng trải qua chiến tranh đều đang cùng nhau đánh giá, phân tích để tôn vinh sự hy sinh cống hiến to lớn của các thế hệ trước trong cuộc chiến tranh vệ quốc, rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm ngăn chặn chiến tranh đe dọa cuộc sống hòa bình.

Dân tộc Việt Nam đoàn kết một lòng, xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh. Vậy mà tiếc thay! Còn một số người không những vẫn hằn học hoặc cay cú với quá khứ, tiếp tục bằng mọi cách chống phá, bôi nhọ, xúc phạm sự hy sinh to lớn của dân tộc, tiếp tục chia rẽ, ngăn cản tiến trình phát triển của đất nước.

Họ núp dưới con bài “tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo” để đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập gây chia rẽ dân tộc, cản trở tiến trình hoà giải hoà hợp dân tộc mà đó là tính nhân văn của cha ông từ ngàn xưa để lại.

Xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. Ảnh: tư liệu.

Một số nhóm chống Cộng cực đoan ở hải ngoại thường tổ chức “ngày quốc hận” để hoài niệm một chế độ ở miền Nam Việt Nam đã đi vào quá khứ, hoài niệm thời kỳ đất nước bị chia cắt, tìm cách bôi nhọ những gì tốt đẹp đang diễn ra ở Việt Nam. Hành động như vậy, họ đã tự hạ thấp chính họ, hạ thấp dân tộc Việt Nam và coi thường mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp của nhân dân Việt Nam với các nước trên thế giới. Đặc biệt là mối quan hệ với cựu thù là nước Mỹ, khi mà Việt Nam và Mỹ đã công nhận nhau, có quan hệ chính thức với nhau và mối quan hệ hợp tác Việt – Mỹ đang ngày càng phát triển, sự phát triển mà có nhiều người nói rằng “không ngờ ” nhanh và tốt đẹp đến như vậy.

Năm thứ 38 sau cuộc chiến, những đau thương mất mát, những vết thương còn chưa lành hết, những hậu quả do chiến tranh gây ra, có một số người họ đưa ra những đánh giá, nhận xét thiếu khách quan, thậm chí đầy tính kích động và xuyên tạc. Họ thẳng thừng tuyên bố: “ngày 30/4 là ngày toàn thắng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng là ngày thua của toàn dân tộc”.

Không thể nói lạc điệu như thế! Qua đó chúng ta nhận thấy rằng nỗi thù hận chưa tan nguôi, các tác giả các bài viết thường sử dụng những hiểu biết cũ rích, lạc hậu và lặp đi lặp lại những điều đã nói lâu nay. Họ đã bỏ qua thực tế những gì đang diễn ra trong nước, cố tình nói xấu bôi nhọ để lôi kéo những người chống đối. Tuy nhiên, trong thời đại thông tin được phổ cập và phát triển như vũ bão, khó có thể lừa được tất cả mọi người.

Chỉ có trở về dân tộc, đó chính là sự trở về với nhau với thời gian không còn nhiều của những con người Việt Nam bị xé ra từng mảnh bởi cuộc chiến tranh tàn khốc đã qua. Đã là năm thứ 38, chúng ta đã có đủ thời gian và trí tuệ để suy ngẫm về nỗi đau chia cắt lòng người. Và đối với tất cả những ai yêu dân tộc này bằng máu chảy trong trái tim mình đều nhận ra nỗi đau chia cắt nhiều lúc đến phi lý ấy.

Trong khoảng thời gian từ sau ngày 30/4/1975 đến nay ở hải ngoại, nhiều nỗi đau đã nguôi ngoai, nhiều vết thương đã lành lặn, nhiều nghi ngờ đã biến mất, nhiều sự thù hận đã chìm sâu, có biết bao người Việt Nam xa xứ đã trở về và cất tiếng nói về dân tộc mình, một dân tộc với truyền thống của tình thương yêu vô bờ bến, một dân tộc trong mọi hoạn nạn không rời bỏ nhau, một dân tộc đầy lòng vị tha, đầy lòng nhân từ bác ái ngay cả với kẻ thù của mình… Họ đã trở về trong vòng tay mẹ.

Có biết bao người Mỹ đã từng xuống đường biểu tình phản đối chiến tranh, đòi chính phủ phải cho con em họ ra khỏi cuộc chiến tranh phi nghĩa. Cuộc chiến tranh kết thúc vào ngày 30/4/1975 để có một nước Việt Nam như ngày hôm nay, máu của dân tộc Việt thấm đẫm từng thước đất. Cái giá phải trả quá lớn. Vậy mà những người chống đối vẫn coi Ngày Chiến thắng đó là “ngày quốc hận”. Phải chăng, như thế chính họ đã tự loại mình ra khỏi cộng đồng dân tộc Việt Nam, tự mình đứng ngoài sự trỗi dậy của dân tộc.

Sau chiến tranh, có rất nhiều lính Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam đã và đang trở lại chiến trường xưa sám hối về những tội ác mà họ gây ra, để lòng họ được thanh thản. Lòng vị tha của con người Việt Nam, lịch sử, văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam đang thu hút ngày càng nhiều người nước ngoài đến với Việt Nam, trong đó có các cựu binh Mỹ.

Có sai lầm hay không khi có những người Mỹ và nhiều nước khác tự nguyện đến với Việt Nam, coi Việt Nam hôm nay là một phần để gắn bó cuộc đời? Có sai lầm hay không khi những người nước ngoài xin được nhập quốc tịch Việt Nam hoặc nguyện ước được an táng tro cốt của mình sau khi qua đời vì kính trọng và yêu mến Việt Nam? Và có sai lầm hay không khi những tập đoàn, công ty của nước ngoài tự nguyện đến Việt Nam đầu tư, kinh doanh, làm bạn với Việt Nam? Chắc chắn là không!

Tất cả những người Việt Nam yêu đất nước, yêu dân tộc mình phải thấy đó là một điều hổ thẹn. Tại sao đã qua 38 năm mà chúng ta vẫn còn lại trong lòng mình những điều phi lý ấy. Những trai thanh nữ tú người Việt Nam sinh năm 1975 lớn lên đồng hành cùng dân tộc sống và học tập trong thời bình. Thế hệ những người đó sẽ trở thành những người ông và bà trong vài năm nữa thôi. Vậy mà cho đến lúc này, chúng ta vẫn còn đứng một phía nhìn nhau như những kẻ xa lạ và như không thể đến bên nhau. Lịch sử sẽ ghi lại nỗi đau buồn ấy của chúng ta, những người Việt ở Mỹ. Và đến một ngày nào đó trong tương lai, những thế hệ tiếp theo sẽ đặt câu hỏi về một giai đoạn lịch sử của chúng ta.

Và lúc này, sau 38 năm chiến tranh kết thúc, có rất nhiều người mang giấc mơ năm thứ 38 này là năm cuối cùng sau cuộc chiến, không còn hận thù giữa những người Việt Nam cùng dòng máu tổ tiên. Giấc mơ ấy thật giản dị và đủ lý do để trở thành hiện thực. Nhưng nếu chúng ta không vì đất nước, không vì dân tộc mình thì có thể chúng ta đi cả một nghìn năm nữa cũng không bao giờ chạm tay vào được.

Cả hai bên phải có thiện ý, trung thực để hoá giải sự ngờ vực và lòng thù hận, nếu chỉ một bên thôi thì hỏi đến bao giờ?

Hãy trở về cùng nhau và làm cho dân tộc này không phải hổ thẹn với con cháu sau này. Mỗi người Việt Nam yêu nước chân chính hãy cất tiếng về ước mơ lớn đó của dân tộc mình và hãy tìm ra một con đường nhân văn nhất để dân tộc ta tới được ước mơ đó. Đây không phải là một lời kêu gọi, đây chỉ là nỗi giày vò nhiều đau đớn và ngập tràn niềm tin của khát vọng của tất cả những người Việt Nam.

Để kết thúc bài này tôi mượn ý câu nói của nhà ngoại giao kỳ cựu Việt Nam Võ Văn Sung: “Nếu ai đó trong chúng ta dù từng đứng từ phía nào mà vẫn nuôi lòng thù hận, cản trở hòa hợp dân tộc thì sẽ dần trở nên lạc lõng và thật sự có tội với tương lai của chính con cháu mình”.

Viết tại Houston TX, Hoa Kỳ 4/2013

Amari TX- Việt kiều Mỹ
cand.com.vn

Trần Mai Hạnh và ký ức tháng 4

(VOV) – Mỗi khi nhớ về những giờ phút lịch sử trưa 30/4/1975 ở Dinh Độc lập tôi lại nghĩ về đêm 29/4, đêm cuối cùng của chiến tranh.

Buổi thời sự đặc biệt trưa 1/5/1975, Đài TNVN đọc trang trọng bài tường thuật đầu tiên của báo chí Việt Nam về giờ phút lịch sử giải phóng Sài Gòn trưa 30/4/1975 với đầu đề “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng” của đặc phái viên Việt Nam Thông tấn xã Trần Mai Hạnh từ Sài Gòn điện ra, bài báo đồng thời được đăng trên Báo Nhân dân với đầu đề “Tiến vào Phủ tổng thống Ngụy”.

Như một cơ duyên, 21 năm sau (1996) nhà báo Trần Mai Hạnh trở thành Tổng Giám đốc Đài TNVN. Sáu năm may mắn làm việc dưới quyền ông, gặp lại ông giữa những ngày tháng Tư trong cuộc trò chuyện cởi mở, chân tình tôi đã hỏi ông nhiều điều mà dư luận quan tâm.

Tổng Giám đốc TTXVN Đào Tùng (giữa) cùng hai nhà báo Trần Mai Hạnh (phải) và Văn Bảo tại cửa rừng Tây Ninh sáng sớm 29/4/1975.

Hơn một thập kỷ, kể từ “tai họa” nghề nghiệp kinh hoàng với bao hệ lụy phải gánh chịu, đây là lần đầu tiên ông tiếp xúc và trả lời phỏng vấn của một nhà báo. Được sự đồng ý của ông, nhân dịp kỷ niệm 38 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2013) xin chuyển đến bạn đọc cuộc trò chuyện này…

** Đầu tiên xin hỏi, giờ phút lịch sử giải phóng Sài Gòn trưa 30/4/1975 may mắn được chứng kiến và bài báo được viết ngay tại Sài Gòn vào thời khắc lịch sử ấy giữ vị trí thế nào trong đời sống tâm hồn ông?

– Đã 38 năm. Bao sự kiện diễn ra, bao biến cố đã đến với mỗi cuộc đời trong quãng thời gian không ngắn ấy. Riêng với tôi, không chỉ có những giây phút vinh quang và thời khắc huy hoàng được chứng kiến, mà còn có cả những “tai họa”, những bi thảm tột cùng phải gánh chịu. Trong những thời điểm khắc nghiệt của số phận khi vướng vòng lao lý, chính thời khắc huy hoàng trưa 30/4/1975 được chứng kiến và bài tường thuật đầu tiên của tôi về phút giây lịch sử tại Dinh Độc Lập đã giúp tôi bình tâm lại, giúp tôi đứng vững với niềm tin không gì lay chuyển về lý tưởng cao đẹp của người cộng sản mà mình đã theo đuổi để tiếp tục sống có ý nghĩa trong cuộc đời này.

** Hình ảnh đậm nét nhất trong tâm trí ông khi hồi ức về thời khắc lịch sử huy hoàng 30/4/1975 là gì?

– Mỗi khi nhớ về những giờ phút lịch sử trưa 30/4/1975 ở Dinh Độc lập mà tôi may mắn có mặt, không hiểu sao, bao giờ hình ảnh đầu tiên hiện lên trong ký ức tôi cũng là khung cảnh đêm 29/4, đêm cuối cùng của chiến tranh.

Khi tôi cột xong chiếc võng dù ở bãi trú quân dã chiến trên đường từ Tây Ninh về, ngay trước cửa ngõ Sài Gòn thì đã gần 12 giờ đêm. Tôi và anh Văn Bảo, phóng viên nhiếp ảnh của Việt Nam Thông tấn xã bị bỏ lại quá xa vì xe máy thủng lốp, không tìm đâu ra chỗ vá săm.

Cả nghìn cây số dọc đường chiến tranh, bom rơi đạn nổ, bao hiểm nguy rình rập, bao tình huống tưởng không thể khắc phục rồi cũng vượt qua. Chúng tôi đã từng chạy bộ đẩy xe cả chục cây số dưới trời trưa nắng như đổ lửa để giúp lái xe vượt qua những trảng cát ngút ngàn. Chúng tôi đã từng vào làng mượn thuyền của dân buộc ghép lại thành chiếc phà tự tạo có một không hai, cho ô tô bò lên rồi bơi đẩy cả thuyền và xe chòng chành vượt sông khi cầu bị địch phá hủy.

Chúng tôi từng hút chết giữa đêm trên “đường số 7 kinh hoàng” ngổn ngang xác địch rút chạy từ Tây Nguyên về đồng bằng, khi quả bom sót lại bên đường phát nổ, khói bụi trùm phủ tất cả.

Chúng tôi đã có những giờ phút cực kỳ hoành tráng khi các chiến sĩ pháo binh bất ngờ đón bằng xe bộ đàm đi trước, xe tiểu đội bảo vệ súng đạn đầy mình đi ngay phía trước và phía sau hai chiếc U-oát của chúng tôi. Các chiến sĩ đã đón nhầm anh Đào Tùng, Tổng Giám đốc Thông tấn xã vì cứ ngờ anh là Trung tướng Doãn Tuế, Tư lệnh pháo binh của mình…

Đêm cuối cùng của chiến tranh, tôi đã ở ngay cửa ngõ Sài Gòn. Mặt đất ầm vang tiếng rền của đủ loại vũ khí. Tiếng súng liên thanh rộ lên phía Trảng Bàng, Tây Ninh. Tiếng trọng pháo gầm, chớp lửa rực sáng bầu trời hướng đông nam trước mặt. Nơi đấy là Sài Gòn. Chúng tôi được lệnh sáng mai sẽ bám theo các binh đoàn chủ lực tiến thẳng vào Sài Gòn trong trận đánh cuối cùng. Ai trong số hàng trăm phóng viên các cơ quan thông tấn báo chí may mắn có mặt đầu tiên để bấm máy và viết bài tường thuật về Sài Gòn trong những phút giây lịch sử? Tôi thao thức, xúc động và hy vọng…

Như vậy, ông may mắn được tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử từ đầu với tư cách là đặc phái viên của Việt Nam Thông tấn xã?

Tôi đi trong đoàn công tác đặc biệt của Việt Nam Thông tấn xã được thành lập ngay sau chiến thắng Buôn Mê Thuột do đích thân Tổng Giám đốc Đào Tùng dẫn đầu. Đoàn rời Hà Nội sáng ngày 2/4/1975, sau các mũi phóng viên đã xuất phát trước đó một tuần, trên 2 chiếc xe U-oát của Liên Xô mới tinh, màu nòng súng. Trước giờ xe nổ máy, ông Đỗ Phượng, Phó Tổng Giám đốc Việt Nam Thông tấn xã, người trực tiếp tuyển chọn, ký quyết định cử tôi đi trong đoàn anh Đào Tùng, xiết chặt tay tôi dặn dò: “Mai Hạnh cố gắng dọc đường viết thật nhiều tin, bài gửi về. Nhưng cố gắng viết được bài tường thuật đầu tiên về giờ phút lịch sử trọng đại của dân tộc, mà tôi tin rằng sẽ không còn xa nữa”.

Bài tường thuật đầu tiên ông viết, “ra đời” như thế nào?

5 giờ sáng ngày 30/4, lệnh lên đường, bằng mọi cách vượt lên bám sát các lữ đoàn xe tăng tiến thẳng vào Dinh Độc Lập. Xe máy tăng ga, đồng hồ báo tới 50km/giờ. Văn Bảo đèo tôi vượt lên dòng thác người và xe cộ nườm nượp trên đường…

Khoảng 11 giờ 45 phút trưa 30/4, tôi tới được Dinh Độc Lập. Sự kiện lịch sử vừa diễn ra. Cờ chiến thắng vừa được cắm trên nóc Dinh Độc Lập. Trần Mai Hưởng em ruột tôi, Vũ Tạo, Ngọc Đản, Hoàng Thiểm, Đinh Quang Thành… đi theo Sư đoàn 304 và Lữ đoàn xe tăng 203 của Quân đoàn 2 đã có mặt trước chúng tôi ít phút, các anh đã kịp ghi lại nhiều hình ảnh về những phút giây lịch sử, trong đó có bức ảnh “xe tăng Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập 30/4/1975” Trần Mai Hưởng chụp, được sử dụng rộng rãi như một trong những biểu tượng của ngày chiến thắng. Tôi tìm hiểu ngay các dữ kiện không thể thiếu của bài tường thuật: Mấy giờ chiếc xe tăng đầu tiên húc tung cánh cửa chính Dinh Độc Lập? Mấy giờ cờ chiến thắng được cắm trên nóc Dinh Độc Lập? Chiến sĩ cắm cờ tên là gì? Tổng thống Ngụy quyền Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng như thế nào, ta tuyên bố chiến thắng như thế nào?… rồi lao lên ngay tầng 2. Toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn vừa tuyên bố đầu hàng còn ngồi ở đó. Tôi lập tức hỏi và ghi lại cuộc đối thoại lịch sử giữa Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh và cán bộ chỉ huy Quân Giải phóng đánh chiếm Dinh Độc Lập (sau này tôi được biết đó là đại úy Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn 66 của Quân đoàn 2 cùng với Lữ đoàn xe tăng 203 của quân đoàn được lệnh đột kích, thọc sâu đánh chiếm Dinh Độc Lập)… Sau khi viết xong bài tường thuật, tôi loay hoay không biết chuyển về Hà Nội bằng cách nào, cứ loanh quanh ở Viết tấn xã nóng chờ xe chở điện đài và các điện báo viên của Thông tấn xã Giải phóng. Mãi chiều tối các anh mới tới. Sau khi các điện báo viên tìm chỗ đặt  máy, căng ăng-ten bắt được liên lạc, tôi liền đưa bài tường thuật để các đồng chí điện về, không phải điện về Hà Nội mà là điện về trụ sở Thông tấn xã Giải phóng trên rừng Tây Ninh.

Sau này tôi được biết, tối đó anh Phạm Vỵ, cán Phòng thư ký Bộ biên tập cùng đi trong đoàn đã trực canh điện đài, xé từng đoạn bài tường thuật của tôi đang được điện về để anh Đào Tùng duyệt lại trước khi điện báo viên dung điện đài công suất lớn điện tiếp về Hà Nội. Vì điện báo viên phải đánh móoc từng chữ, chữ “a”, chữ “b”, chữ “c”… nên rất mất thì giờ. Bài tường thuật được đăng trên bản tin Đấu tranh thống nhất của Việt Nam Thông tấn xã phát báo ngay trong đêm 30/4 cũng với đầu đề “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng”, nhưng do quá khuya nên Báo Nhân dân ra sáng 1/5 không đăng kịp. Báo Nhân dân ngày 2/5/1975 đã đăng toàn văn bài tường thuật này nhưng đặt lại đầu đề là “Tiến vào Phủ Tổng thống ngụy”.

Ông ký tên thế nào dưới bài tường thuật?

Như những tin, bài viết cho Việt Nam Thông tấn xã, theo quy định, tôi chỉ ghi hai chữ: “Mai Hạnh” ở cuối bài. Nhưng khi trực tiếp duyệt lại, trước khi điện chuyển tiếp về Hà Nội, Tổng Giám đốc Đào Tùng đã ghi rõ ngay dưới tít bài báo: Bài của Trần Mai Hạnh, phóng viên Việt Nam Thông tấn xã tại Sài Gòn. Vì vậy, bài đọc trên Đài TNVN cũng như đăng trên Báo Nhân dân đều ghi tên tác giả đầy đủ như vậy.

Sau khi điện báo viên chuyển bài tường thuật, ông làm gì?

Tối 30/4/1975, sau khi điện được bài tường thuật về Hà Nội, trên chiếc com-măng-ca cắm cờ giải phóng tôi đi khắp Sài Gòn. Tôi cứ trên ô tô đi hết đường này tới khu khác, say sưa ngắm Sài Gòn trong đêm đầu tiên nguyên vẹn trở về. Khi về tới trụ sở Việt tấn xã thì đã quá nửa đêm. Sáng sớm 1/5, việc đầu tiên tôi làm và kết quả thật nhanh chóng. Đó là “Giấy công tác đặc biệt” của Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn – Gia Định cấp, cho phép tôi với tư cách phóng viên được phép hoạt động nghiệp vụ trên toàn thành phố và yêu cầu các đơn vị và chính quyền các cấp giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ. “Giấy công tác đặc biệt” ghi cả số khẩu sung ngắn K54 mà tôi được cấp từ Hà Nội. Đó có lẽ là chiếc “thẻ nhà báo” đầu tiên được chính quyền cách mạng (Ủy ban Quân Quản thành phố Sài Gòn – Gia Định) cấp tại Sài Gòn trong buổi bình minh của lịch sử thành phố.

Trong lúc tôi xin “Giấy công tác đặc biệt”, thì theo chỉ thị của anh Đào Tùng, anh Văn Bảo đã kiếm được địa điểm làm trụ sở cho Phân viện Việt Nam Thông tấn xã tại Sài Gòn. Anh cắm cờ Mặt trận vào cổng ngôi nhà đó và kiếm miếng bìa treo lên với dòng chữ viết tay của anh: “Cơ quan Việt Nam Thông tấn xã tại Sài Gòn”. Nhờ biết lái ô tô, anh Văn Bảo đánh mấy chiếc ô tô cực xịn vứt bỏ quanh khu vực Dinh Độc Lập, trong đó có chiếc xe Zep mới tinh, màu trắng chuyên làm nhiệm vụ hộ tống “Tổng thống” ngụy về ngôi biệt thự mà anh vừa kiếm được và nhanh chóng “tuyên bố chủ quyền”. Cũng tại đây, ngày 1/5, tôi đã gửi một bức điện về căn cứ Thông tấn xã Giải phóng trên rừng Tây Ninh báo cáo công việc với anh Đào Tùng.

Mới 32 tuổi ông đã chứng kiến và viết bài tường thuật đầu tiên về giờ phút lịch sử trưa 30/4/1975 ở Dinh Độc Lập, ngay sáng hôm sau đã nghĩ tới việc xin “Giấy công tác đặc biệt” của Ủy ban Quân quản, rồi kiếm trụ sở và ngay chiều 1/5/1975 đã điện đi từ Sài Gòn bức điện cũng rất đặc biệt. Ông có còn lưu và có thể cho biết nội dung bức điện đó?

Bức điện này, anh Phạm Vỵ, cán bộ Phòng thư ký Bộ biên tập Việt Nam Thông tấn xã cùng đi trong đoàn được “Điện anh Hai Đào Tùng. Báo cáo anh đã tìm được trụ sở ở 126 Phan Đình Phùng và xin được 3 xe ôtô. Đề nghị anh cho anh Phạm Vỵ (thư ký) và các anh Vĩnh, Sửu (lái xe) xuống ngay, sớm giờ nào hay giờ ấy. Cánh Lâm Hồng Long, Hứa Kiểm… về ở cả đây nên sinh hoạt, kinh phí có nhiều khó khăn. Đề nghị anh cho chỉ thị gấp. Nếu anh không xuống được trong 1,2 ngày tới thì xin anh có thư trao đổi với anh Năm Xuân. Sài Gòn 1/5/1975. Mai Hạnh”.

Ông biết bài tường thuật của mình được báo, đài sử dụng thời điểm nào, và trong bối cảnh nào?

Trưa 1/5/1975, tôi và Văn Bảo với chiếc đài bán dẫn mang theo, đang trên ô tô giữa đường phố Sài Gòn sôi động, nườm nượp dòng người của ngày hội lớn thì nghe được buổi thời sự đặc biệt của Đài TNVN. Sau bản tin đặc biệt của Thông tấn xã Giải phóng: “từ sáng 1/5/1975, toàn bộ miền Nam nước ta đã hoàn toàn giải phóng”, Đài đã đọc trang trọng bài tường thuật “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng” của tôi. Âm thanh radio được mở hết cỡ, bài tường thuật vang lên giữa biển người và cờ hoa chào đón của Sài Gòn giữa trưa nắng đẹp chan hòa của ngày Quốc tế Lao động 1/5 đầu tiên đất nước thống nhất.

Sau giải phóng, ông ở lại Sài Gòn bao lâu?

Chỉ hơn một tháng, ngày 6/6/1975, tôi đã tạm biệt Sài Gòn về Hà Nội.

Thời điểm ấy mọi người háo hức tìm cách vào Sài Gòn, chuyển hẳn gia đình vào đó sinh sống, sao ông lại vội vã ra Hà Nội?

Phân xã Việt Nam Thông tấn xã tại Sài Gòn được thành lập ngay sau ngày giải phóng. Anh Phạm Vỵ cùng đi trong đoàn anh Đào Tùng với tôi được cử làm Trưởng phân xã. Tôi và Trần Mai Hưởng, em ruột, cùng là phóng viên Việt Nam Thông tấn xã, cùng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, cùng có mặt tại Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975 nên Bộ biên tập quyết định Mai Hưởng khi đó mới 24 tuổi, chưa lập gia đình, ở lại làm phóng viên Phân xã Việt Nam Thông tấn xã tại Sài Gòn, còn tôi ra nhận nhiệm vụ mới ở Tổng xã Hà Nội.

Ông trở ra Hà Nội bằng đường không hay đường bộ? Chuyến đi có gì đáng nhớ?

Không, tôi trở ra bằng đường biển, trên tàu Đồng Nai, và đó là chuyến tàu biển đầu tiên chạy từ cảng Sài Gòn ra cảng Hải Phòng. Sở dĩ ra đường biển vì khi đó anh Đào Tùng muốn chở chiếc xe Zeep màu trắng, mới tinh của phủ “Tổng thống” ngụy mà anh Văn Bảo thu được về Hà Nội vừa để phục vụ cơ quan vừa lưu lại một kỷ vật đáng nhớ của chiến dịch lịch sử này. Mọi thủ tục an ninh và hải quan tại Thương cảng Sài Gòn đã hoàn tất, nhưng trong văn bản cuối cùng xác nhận những thiết bị, phương tiện tôi được phép mang theo do Phó Chánh Văn phòng Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn – Gia Định Phạm Kim Thảo ký ngày 30/5/1975, chiếc xe Zeep bị gạch khỏi danh mục. Những giấy tờ liên quan ngày ấy, hiện tôi vẫn lưu giữ. Trong bản kê khai hải quan đồ dùng cá nhân của tôi ngày ấy ghi rõ và chi tiết đến mức: “1 đài bán dẫn HITACHI, 1 máy ghi âm SONY, 1 máy chữ xách tay ROYAL, 2 áo trẻ con, 4 quần lót phụ nữ…”. Hồ sơ, tài liệu thu thập được trong chiến dịch, trong đó có cả nghìn lá thư để đầy một ba lô.

Ông có thể nói thêm về chiếc máy chữ và tài liệu thu thập được trong chiến dịch?

Đó là chiếc máy chữ xách tay xinh xắn còn mới nguyên, hiệu ROYAL của Mỹ tại Văn phòng Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn tôi đã dùng để đánh tin, bài những ngày ấy, kể cả việc giúp Tổng Giám đốc Đào Tùng khởi thảo Diễn văn khai mạc và bế mạc của Thượng tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban Quân quán thành phố Sài Gòn – Gia Định đọc tại Lễ mít tinh và diễu binh lịch sử mừng chiến thắng ngày 15/5/1975 tại Sài Gòn. Ngày ấy, máy chữ xách tay cực hiếm và là mơ ước của những người làm báo, viết văn. Giấy chứng nhận của Bộ biên tập Việt Nam Thông tấn xã cho phép tôi mang ra Hà Nội và sử dụng chiếc máy ROYAL, số máy NC 8053843 tôi còn giữ, nhưng chiếc máy chữ hiện không còn. Nguyên do năm 1981, do hàng xóm bất cẩn làm can xăng hơn 20 lít bốc cháy, hỏa hoạn thiêu rụi nhà tôi, đồ đạc cháy sạch, trong đó có cả bản thảo tôi viết tay bài tường thuật đầu tiên hoàn thành lúc 14 giờ chiều 30/4/1975 và hơn 1000 lá thư của binh lính Sài Gòn và nhiều gia đình trong các thành thị miền Nam viết ngay trong những ngày đó mà suốt chặng đường chiến dịch bám sát các binh đoàn chủ lực từ Huế vào tận Sài Gòn tôi đã sục sạo, thu thập được. Họa vô đơn chí, đúng lúc ấy vợ chồng tôi mất cắp cả hai chiếc xe đạp, tôi đành bán chiếc máy chữ ROYAl kỷ vật của mình mà chỉ đủ tiền mua chiếc xe đạp Thống Nhất.

Tài liệu thu thập, chỉ riêng những bức thư tên thật, người thật phản ảnh cả nghìn số phận, tâm trạng thật của con người trước một biến cố trọng đại của lịch sử, nếu không bị thiêu cháy thì tập hợp, chọn lọc và biên tập đã được một cuốn tiểu thuyết giá trị. Một số tác phẩm văn học của tôi đã xuất bản: “Tình yêu và án tử hình” (NXB Thanh niên), “Sụp đổ và tự thú”, “Ngày tận thế” (NXB QĐND). Cuốn tiểu thuyết tư liệu lịch sử “Những ngày cuối cùng của Việt Nam cộng hòa” tôi đã cơ bản hoàn thành, năm 2000, được báo Văn nghệ đăng nhiều kỳ và Đài TNVN đọc dài kỳ trên chương trình đọc truyện đêm khuya. Lẽ ra cuốn sách được xuất bản từ năm 2002, nhưng không may ở thời điểm đó, tôi bị vướng vào vòng lao lý, chương cuối cùng chưa xong, chưa kịp nộp nhà xuất bản theo hợp đồng, đành gác lại.

Hai anh em ruột cùng là phóng viên Việt Nam Thông tấn xã tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông từng đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng Giám đốc Đài TNVN, Trần Mai Hưởng em ruột ông trước khi nghỉ hưu là Tổng Giám đốc TTXVN – hãng thông tấn chiến lược của Nhà nước. Nghề báo mang lại cho ông và gia đình nhiều vinh quang?

Nhiều vinh quang nhưng cũng không ít cay đắng. Sau “tai họa” năm 2002, trong những cuộc gặp mặt, giao lưu với các phóng viên từng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, ngoài lời kể của anh Văn Bảo về chuyến đi của hai anh em tôi, không ai nhắc đến số phận của bài tường thuật đầu tiên về những giờ phút trọng đại vào trưa 30/4/1975 ở Dinh Độc Lập nữa. Nhân tình, thế thái và xã hội đã nhiều đổi thay. Có những thời điểm, con người không chỉ cần phải im lặng mà còn cần phải biết cách im lặng thế nào, và có những điều phải im lặng đến suốt đời.

Gần đây, trong bài viết của mình, một Tổng Biên tập công khai bày tỏ sự trân trọng và ngưỡng mộ về tài năng viết báo cũng như làm báo của ông và nói từ lâu nung nấu ý định viết về ông. Nhưng chưa thấy bài báo đó?

Tôi rất cảm động cảm ơn đồng chí Tổng Biên tập đó, nhưng nghĩ rằng cần phải biết chờ đợi thêm nữa.

Như vậy, đây là lần đầu tiên ông trả lời phỏng vấn báo chí?

Đúng vậy, mười năm qua tôi lặng lẽ sống, làm việc với chức phận và tâm thế của một cán bộ hưu trí.

Ông vẫn viết báo, viết văn?

Sau tai họa 2002, tôi viết báo với bút danh Trần Nhật Thi. Nhiều bài được dư luận quan tâm: “Day dứt chuyện Nông trường Sông Hậu” (Lao Động); “Nụ cười, nước mắt nông dân”, “Cảm động một dòng chảy thong tin”, “Hãy xử sự vì lợi ích xã hội” và nhiều bài khác trên Báo Tiếng nói Việt Nam, nay là Báo VOV… Tên “Trần Mai Hạnh” ký dưới các bài báo và sáng tác văn học được tôi dùng lại từ 2010.

Trải nhiều sóng gió thăm trầm, điều ông chiêm nghiệm là gì?

Cái còn lại mãi mãi là sự tử tế và tình người. Giữa những ngày Tháng Tư, lại ngồi trò chuyện với anh về thời khắc huy hoàng 38 năm trước, tôi không khỏi bùi ngùi. Anh Đào Tùng, thủ trưởng kính mến của tôi, anh Văn Bảo, anh Lâm Hồng Phong, anh Lam Thanh và nhiều phóng viên Việt Nam Thông tấn xã từng cùng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 nay không còn nữa. Con gái đầu lòng mới 2 tuổi khi tiễn tôi đi chiến dịch ngày ấy, giờ đã là một nữ nhà báo trưởng thành được Chủ tịch nước gửi Thư khen và được vinh danh “Công dân Thủ đô ưu tú” nhân Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Vợ tôi khi ấy là một nữ sinh văn khoa Hà Nội mới ra trường, nay đã là cô giáo về hưu, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Thời gian trôi chảy, tàn phai, không ai níu kéo mãi được. Những sự kiện lịch sử chỉ diễn ra một lần, cũng như đời mỗi con người chỉ sống có một lần. Nhưng để hiểu hết chân giá trị của lịch sử, để hiểu đúng một con người lại cần có thời gian, nhiều khi không thể chỉ đánh giá một lần. Lịch sử và cuộc sống luôn là một dòng chảy liên tục, bất tận. Trong cuộc sống hiện tại ngày hôm nay có nền tảng và những giá trị tinh thần vô giá của quá khứ, đồng thời nó cũng chứa đựng mầm mống và sức sống mãnh liệt của tương lai…

Ông có thể nói đôi lời về “tai họa” đã qua, cũng như về Báo Tiếng nói Việt Nam năm nay tròn 15 tuổi mà ông là người sáng lập?

Xin anh vui lòng để câu chuyện này tới một dịp thích hợp khác.

TTXVN gắn bó với đời làm báo của ông. Kỷ niệm nào sâu nặng nhất, thưa ông?

30 năm gắn bó, kể từ ngày rời mái trường Đại học Tổng hợp văn, TTXVN với tôi có quá nhiều kỷ niệm. Trong Lời cuối cuốn tiểu thuyết lịch sử “Những ngày cuối cùng của Việt Nam cộng hòa” đã hoàn thành đăng Báo Nhà báo & Công luận tháng 4/2011, tôi đã bày tỏ tới cố Tổng Giám đốc TTXVN Đào Tùng và nguyên Tổng Giám đốc TTXVN Đỗ Phượng – thủ trưởng kính mến trực tiếp, vừa là người anh vừa là người thầy trong nghề báo của tôi, lòng biết ơn sâu sắc nhất. Tháng 7/2011, khi tìm lại được Giấy giới thiệu sinh hoạt Đảng và Giấy giới thiệu công tác của tôi do đích thân đồng chí Hồ Hữu Phước, Bí thư Đặc khu ủy Quảng Nam – Đà Nẵng ký ngày 7/12/1969 gửi Bộ Biên tập Việt Nam Thông tấn xã được lưu giữ và bảo quản vĩnh viễn tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia III, tôi đã chạy thẳng tới báo cáo ông Đỗ Phượng và ông Đinh Trọng Quyền, Bí thư Chi bộ Đảng Tổ phóng viên Việt Nam Thông tấn xã tại chiến trường Quảng Đà thời ấy. Ông Quyền là người giới thiệu và đọc quyết định kết nạp tôi vào Đảng. Ông Đỗ Phượng, ông Đinh Trọng Quyền đã ôm tôi rất chặt, những giọt nước mắt tôi tưởng mình không bao giờ khóc được nữa đã lặng lẽ rơi.

Ông có thể nói kỹ hơn về câu chuyện đáng quan tâm này?

Trong bài “Máu và nước mắt còn đây” đăng trên Báo Văn nghệ tháng 9/2012, được Đài TNVN phát lại và Báo Nhà báo & Công luận giới thiệu trong mục “Bài báo được dư luận quan tâm”, tôi đã viết về câu chuyện này. Tôi nghĩ, nói như vậy là đủ.

Ông là sinh viên Đại học Tổng hợp văn, với gần 50 năm làm báo nhiều sóng gió thăng trầm, đọc nhiều, trải nghiệm nhiều, xin hỏi ông: Danh ngôn nào của các nhà tư tưởng – văn hóa ông tâm đắc nhất?

Tôi nghĩ, sự thật là tài sản quý giá nhất. José Hérnandez, nhà thơ lớn của Achentina nói rằng: “Ngay cả một sợi tóc gầy guộc cũng để lại bóng dâm của mình trên mặt đất”. Điều đó hàm ý sâu xa rằng, sự thật dù có bé nhỏ, mảnh mai như một sợi tóc, cũng không dễ xóa bỏ.

Xin cảm ơn ông đã mở lòng trọng cuộc trò chuyện thân tình này./.

Đoàn Quang/Báo TNVN
vov.vn