Ngoại giao nhân dân chủ động vận động, đấu tranh về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo

15:11 | 19/07/2011

Triển khai Nghị quyết Đại hội XI của Đảng vào cuộc sống, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam đã đề ra chương trình hành động cụ thể. Một trong những nội dung của chương trình hành động đó là tích cực, chủ động tham gia vận động, đấu tranh dư luận trên các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo.

Dân chủ và nhân quyền là những giá trị tiến bộ mà nhân loại luôn vươn tới trong suốt quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người. Sự phát triển về kinh tế-xã hội, văn hóa và cuộc đấu tranh giai cấp trong nhiều thập niên qua đã đem đến những thành quả nhất định về dân chủ và nhân quyền ở nhiều nước trên thế giới. Tăng cường dân chủ và cải thiện nhân quyền đang trở thành nguyện vọng đông đảo của nhân dân các nước và xu hướng khách quan của thời đại. Vấn đề nhân quyền ngày càng được dư luận quốc tế quan tâm rộng rãi.

Trong những năm gần đây, lợi dụng xu thế nêu trên và so sánh lực lượng trong tình hình quốc tế hiện nay, Mỹ và một số nước phương Tây đã chọn vấn đề nhân quyền là một trong những trụ cột của chính sách đối ngoại của họ để can thiệp vào các quốc gia, các khu vực trên thế giới nhằm áp đặt một số quyền chính trị, dân sự, áp đặt thứ tự ưu tiên và cách diễn giải của các quyền, khẳng định tính phổ biến của các quyền này, đề ra học thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, áp dụng “tiêu chuẩn kép” về nhân quyền trong quan hệ đối với các quốc gia, sử dụng nhiều tổ chức phi chính phủ và phương tiện thông tin đại chúng để tạo dư luận và nguy hiểm nhất là sử dụng các biện pháp trừng phạt đơn phương hoặc đa phương đối với các nước liên quan, kích động và hỗ trợ các nhóm chống đối hoạt động chống lại và lật đổ chính phủ các nước. Các nước XHCN nói chung và Việt Nam nói riêng là mục tiêu hàng đầu trong cuộc chiến tiến công về nhân quyền của họ.

Trong bối cảnh đó, cuộc đấu tranh về nhân quyền có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với an ninh quốc gia, có ảnh hưởng quan trọng đến việc đảm bảo ổn định và phát triển đất nước. Thực tế đấu tranh về nhân quyền là một mặt trận có sự tham gia rộng rãi của nhiều lực lượng ở cả trong nước và nước ngoài, trong quan hệ song phương, đa phương, khu vực và quan hệ với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (TCPCPNN). Trong tổng thể hoạt động đối ngoại của nước ta, bao gồm ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Đảng, đối ngoại nhân dân đóng vai trò quan trọng trên mặt trận này. Đặc biệt, công tác vận động bạn bè quốc tế luôn chiếm vị trí then chốt và công tác thông tin đối ngoại phục vụ cho công tác vận động, tập hợp bạn bè thường xuyên được quan tâm cải tiến, nâng cao chất lượng và hiệu quả.

Đối ngoại nhân dân có thể nói là mặt trận ngoại giao rộng rãi nhất, có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với nhiều tầng lớp nhân dân, chính giới, phi chính giới, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng phi chính phủ tại Việt Nam. Phương pháp tiếp cận với những đối tượng trên của ngoại giao nhân dân rất đa dạng, uyển chuyển, phù hợp với từng bối cảnh nhất định. Đối tượng của ngoại giao nhân dân nói chung có thể được chia thành 3 nhóm chính: Nhóm đối tượng rất có thiện chí đối với Việt Nam, có hiểu biết, trong đó có một số lực lượng nòng cốt luôn ủng hộ Việt Nam trong mọi hoàn cảnh; nhóm đối tượng có định kiến và thiếu thiện chí với Việt Nam; nhóm đối tượng trung gian và là nhóm đối tượng đông đảo, rộng rãi nhất.

Căn cứ vào những nhóm đối tượng cụ thể như vậy, ngoại giao nhân dân có những phương thức vận động và đấu tranh rất khác nhau phù hợp với từng loại đối tượng.

Đối với nhóm đối tượng có thiện chí với Việt Nam, ngoại giao nhân dân thực hiện các biện pháp nhằm củng cố và xây dựng lực lượng nòng cốt, tạo điều kiện để họ có vũ khí trực tiếp giúp ta phản bác những luận điệu phản động, chống phá Việt Nam trên mọi phương diện; không ngừng cung cấp thông tin, tạo điều kiện cho các bạn bè, đối tác thân Việt Nam có cơ hội tiếp cận với tình hình thực tế về nhân quyền ở Việt Nam; thông qua các tài liệu chính thức, các cuộc tiếp xúc với lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta khi cần thiết, thăm các địa phương là những địa bàn điển hình về các thành tựu xóa đói, giảm nghèo, các chính sách hỗ trợ nạn nhân chiến tranh, nạn nhân chất độc da cam; tổ chức các buổi nói chuyện, các buổi tọa đàm chuyên đề để trực tiếp cung cấp cho họ những thông tin thực tế về tình hình phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam nói chung và tình hình nhân quyền nói riêng.

Đối với nhóm đối tượng thù địch, biện pháp đấu tranh là kiên quyết bác bỏ những lập luận thù địch của họ, đưa ra những dẫn chứng thuyết phục về những thành tựu kinh tế-xã hội, những tiến bộ về tự do tôn giáo và nhân quyền mà thế lực thù địch không có cơ sở để xuyên tạc. Việc tuyên truyền về những thành tựu này của chúng ta được thực hiện trên nhiều phương diện, trong các cuộc tiếp xúc trực tiếp của ta với các nhóm đối tượng, trên các phương tiện truyền thông và thông qua kênh đối thoại không chính thức với các đối tác như Viện Can dự Toàn cầu (IGE), một số tổ chức và bạn bè khác…

Với nhóm đối tượng trung gian, vốn dễ bị tác động bởi những tuyên truyền phản động, thù địch thì ngoại giao nhân dân tạo ra những tác động gián tiếp nhằm giới thiệu cho họ những vấn đề liên quan đến hậu quả chiến tranh, ảnh hưởng của bom mìn còn lại sau chiến tranh đến cuộc sống của người dân Việt Nam trong thời bình, các chương trình rà phá bom mìn… Đó là những sự thật có thể làm lay động lương tâm của bạn bè, giúp họ hiểu đúng hơn về Việt Nam. Qua đó họ sẽ thấy những nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong việc giải quyết những vấn đề tồn đọng sau cuộc chiến và họ sẽ thấy thực tế rằng, trong khi Việt Nam đang nỗ lực hàn gắn những vết thương, khắc phục những hậu quả của chiến tranh, đầu tư xây dựng và phát triển đất nước thì những thế lực phản động, thù địch lại vừa xuyên tạc, chống phá và bôi nhọ, đồng thời cố tình lảng tránh những vấn đề như chất độc da cam hay hậu quả chiến tranh mỗi khi những vấn đề này được nêu lên.

Ngoại giao nhân dân chủ yếu thực hiện bốn nhóm hoạt động chủ công: Đối thoại không chính thức, phát huy lợi thế của mặt trận nhân dân, tác động trực tiếp vào chính giới phương Tây; cung cấp thông tin cho các đối tác trung gian được thể hiện cụ thể thông qua các hoạt động như tổ chức việc trao đổi đoàn, tham gia các diễn đàn và hoạt động nhân dân ở khu vực và quốc tế; chủ động, tích cực đối thoại và đấu tranh dư luận về các vấn đề nhạy cảm, tổ chức các đợt hoạt động đối ngoại nhân dân lớn; các đợt tuyên truyền lớn, cung cấp và trao đổi thông tin với các đối tác qua kênh điện tử…

Công tác đấu tranh bảo vệ nhân quyền được thực hiện thông qua kênh ngoại giao nhân dân bước đầu đã có những bước chuyển biến tích cực và đạt được những thành tựu nhất định, bước đầu đã ngăn chặn nhiều âm mưu chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch trên vấn đề nhân quyền; tập hợp được mạng lưới bạn bè ngày càng đông đảo, là cơ sở để khẳng định rằng ngoại giao nhân dân của ta, trong đó có hoạt động song phương, đa phương, khu vực và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài của Liên hiệp hoàn toàn có thể đóng góp tích cực hơn nữa trong bối cảnh hội nhập, tiếp xúc ngày càng rộng rãi như hiện nay.

Diễn biến mới của tình hình đòi hỏi phải tiếp tục tăng cường, mở rộng, đổi mới nhằm phát huy tính chủ động và nâng cao hơn nữa hiệu quả của lĩnh vực công tác này, xác định kênh đối thoại trên những lĩnh vực nhạy cảm, về những vấn đề nhạy cảm và vào những thời điểm nhạy cảm hơn. Qua quá trình hoạt động, công tác ngoại giao nhân dân nói chung đã tích lũy được những kinh nghiệm quý báu về phương hướng, nội dung, phương pháp và đối tượng vận động và đấu tranh. Thông qua các hoạt động thực tiễn, chúng ta phát huy những thành tựu, kinh nghiệm vào hoàn cảnh mới, bước đầu huy động mạng lưới bạn bè rộng rãi và lực lượng quần chúng trên mặt trận nhân dân tham gia cuộc đấu tranh bảo vệ nhân quyền tiến tới có cơ sở đẩy mạnh hơn nữa các mặt hoạt động ngoại giao nhân dân kể trên.

Tuy nhiên, cuộc đấu tranh bảo vệ nhân quyền là một cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp và nhạy cảm trong khi các lực lượng chống đối sử dụng những thủ đoạn phá hoại ngày càng tinh vi và xảo quyệt hơn, như lợi dụng các vấn đề khiếu kiện để đưa ra vấn đề dân chủ, nhân quyền, móc nối với các thế lực ở trong và ngoài nước chống phá ta trên mọi mặt. Liên hiệp xác định nhiệm vụ bao trùm là: Phát huy kết quả bước đầu, phối hợp chặt chẽ hơn với công tác thông tin đối ngoại của cả nước, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo và linh hoạt của các tổ chức thành viên, khai thác lợi thế của đối ngoại nhân dân, tiến bộ về thông tin điện tử của nước ta và công nghệ thông tin hiện đại, tiếp tục cải tiến phương pháp, nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin đối ngoại trong vận động, tập hợp bạn bè quốc tế. Các mặt hoạt động vừa qua tuy đạt được những kết quả nhất định, nhưng chúng ta cần rút kinh nghiệm để có phương pháp đấu tranh nhằm đạt hiệu quả tốt hơn trong các hoạt động, tiếp tục mở rộng quan hệ đối thoại không chính thức với một số đối tượng khác. Tiếp tục tăng cường tuyên truyền, giáo dục, phổ biến rộng rãi cho nhân dân, trang bị cho họ những thông tin về các vấn đề của đất nước trong đó có những vấn đề liên quan đến tôn giáo, dân tộc, dân chủ và nhân quyền để chính nhân dân ta trở thành những “sứ giả” khi tiếp xúc với bạn bè nước ngoài vì tiếng nói nhân dân là tiếng nói thuyết phục nhất.

Những năm tới đây, ngoại giao nhân dân sẽ phát huy tối đa sức mạnh và nội lực của mình trong công cuộc đấu tranh chung bảo vệ nhân quyền, phối hợp với các lực lượng khác để cuộc đấu tranh này đạt được nhiều thành tựu hơn.

(Theo Báo QĐND)

TP. Hồ Chí Minh kỷ niệm 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc

(ĐCSVN) – Ngày 9/6, Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam TP. Hồ Chí Minh đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 – 11/6/2013) và 5 năm Ngày truyền thống Thi đua yêu nước (11/6/2008 – 11/6/2013).

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương; nguyên Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa; Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải; đại diện lãnh đạo các Bộ ban ngành Trung ương, thành phố Hồ Chí Minh; các vị lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động cùng đại diện các tầng lớp nhân dân lao động, lực lượng vũ trang, đoàn viên thanh niên Thành phố tham dự buổi lễ.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trao Cờ thi đua của Chính phủ cho Đảng bộ,
chính quyền và nhân dân TP Hồ Chí Minh với thành tích dẫn đầu phong trào
thi đua Cụm 5 thành phố trực thuộc Trung ương năm 2012 (Ảnh: VL)

Tại lễ kỷ niệm, đồng chí Lê Hoàng Quân, Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh đã ôn lại Lời phát động thi đua ái quốc, các phong trào thi đua do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động và những kết quả, thành tựu của phong trào thi đua yêu nước mà quân dân cả nước cũng như quân dân của Thành phố đã đạt được trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước cũng như trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước hiện nay.

Đồng chí Lê Hoàng Quân nêu rõ: Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Người, Đảng bộ và nhân dân Thành phố trải qua các thời kỳ cách mạng luôn rèn luyện và nêu cao khí phách bất khuất, tinh thần sẵn sàng xả thân vì nước; giữ vững tấm lòng kiên trung, son sắt một lòng theo Đảng; phát huy truyền thống đoàn kết, năng động, sáng tạo, dũng cảm, kiên trì đấu tranh cách mạng cùng nhân dân cả nước, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội theo con đường Bác đã chọn.

Thực hiện lời dạy của Bác, hơn 38 năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thành phố đã ra sức thi đua, tạo động lực to lớn trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển Thành phố, tạo nên nhiều biến đổi tích cực, toàn diện, trở thành một đô thị đặc biệt, có vai trò trung tâm về nhiều mặt của cả nước. Trong thời kỳ đổi mới, TP.Hồ Chí Minh tiếp tục là điểm sáng của cả nước trong các phong trào “Xóa đói giảm nghèo”, “Xây dựng nhà tình nghĩa, tình thương”, “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, “Mỗi cá nhân một sáng kiến – Mỗi tập thể một công trình”, “Văn minh đô thị”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Toàn dân tham gia bảo vệ An ninh Tổ quốc”, Xây dựng nông thôn mới”…

Kỷ niệm 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, để phong trào thi đua yêu nước tiếp tục phát huy trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng bộ và nhân dân Thành phố quán triệt sâu sắc tư tưởng thi đua ái quốc của Người, tiếp tục phát huy tính năng động sáng tạo, tổ chức các phong trào thi đua thiết thực, hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ IX đã đề ra.

Chủ tịch Lê Hoàng Quân đã chỉ ra 5 nhiệm vụ quan trọng nhất của TP.Hồ Chí Minh trong giai đoạn tới, gồm: Đẩy mạnh thực hiện hiện hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; thực hiện có hiệu quả chủ đề “Đồng thuận cao, thi đua giỏi, về đích sớm” và khẩu hiệu hành quân “Đồng tâm – hiệp lực – vượt khó – thành công”; phát huy truyền thống yêu nước, năng động, sáng tạo trong các tầng lớp nhân dân trong các phong trào thi đua yêu nước; tiếp tục kiện toàn tổ chức thi đua, đổi mới về nội dung, phương thức phong trào thi đua, hoạt động cụm, khối thi đua; nâng cao hơn nữa chất lượng công tác khen thưởng, đảm bảo khen thưởng đúng qui định, chính xác.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trao Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp thi đua,
khen thưởng” tặng các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và
lãnh đạo TP Hồ Chí Minh (Ảnh: VL)

Tại buổi Lễ, Chủ tịch Liên đoàn lao động TP.Hồ Chí Minh Trần Thanh Hải đã báo cáo kết quả thi đua yêu nước trong đội ngũ công nhân, viên chức, lao động Thành phố. Thay mặt những tấm gương thi đua yêu nước tiêu biểu của Thành phố, Anh hùng Lực lượng vũ trang, Đại tá Đoàn Thị Ánh Tuyết cùng Bí thư Thành đoàn TP.Hồ Chí Minh Lê Quốc Phong đã phát biểu, bày tỏ niềm vinh dự, tự hào và xúc động được báo công với Bác; đồng thời hứa quyết tâm sẽ tiếp tục thể hiện bản lĩnh của công dân Thành phố mang tên Bác trong lao động, học tập, hăng hái thực hiện mọi nhiệm vụ, làm cho phong trào thi đua ái quốc ở cơ sở mang lại hiệu quả thiết thực.

Nhân dịp này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trao tặng Cờ thi đua dẫn đầu Cụm thi đua 5 thành phố trực thuộc Trung ương năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; trao tặng kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp thi đua, khen thưởng” cho 10 đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh.

Thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP.Hồ Chí Minh đã trao Huân chương Lao động hạng Nhất cho tập thể Sở Nội vụ và tập thể Ban Thi đua khen thưởng Thành phố.

Dịp này, Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương cũng đã trao tặng kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp thi đua, khen thưởng” cho 8 cá nhân thuộc Ban Thường vụ Thành ủy, UBND, Đoàn Đại biểu Quốc hội, HĐND và Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Thành phố./.

VL
dangcongsan.vn

Hồ Chủ tịch với vấn đề đọc sách và tự học

Trong bài nói chuyện tại hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế họp tại Việt Nam ngày 1 tháng 9 năm 1961, Hồ Chủ tịch đã tâm sự : “Về văn hoá tôi chỉ học hết tiểu học. Về hiểu biết phổ thông : 17 tuổi tôi mới nhìn thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 20 tuổi mới nghe rađio lần đầu.”  Vậy mà Người đã có một trí tuệ phi thường, một sự hiểu biết đáng khâm phục, đúng như nhà nghiên cứu Vasiliep đã nhận xét : “Hiếm có chính khách nào của thế kỷ XX có thể sánh được với Hồ Chí Minh về trình độ học vấn, tầm hiểu biết rộng lớn và sự thông minh trong cuộc đời”. (1)

doc-sach-tu-hoc-aBác Hồ với bạn bè quốc tế

Đạt được tầm hiểu biết ấy là nhờ Hồ Chủ tịch đã không ngừng học tập,  nói đúng hơn là không ngừng tự học. Khi nói chuyện với các đảng viên hoạt động lâu năm ( Vào ngày 9 tháng 12 năm 1961), Hồ Chủ tịch đã tâm sự : Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học… Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”. Và với Bác, nguyên lý và phương thức học được tóm gọn trong mấy câu sau : “Học ở trường, học trong sách vở, học lẫn nhau và học dân”.(2) Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ cố gắng đi vào tìm hiểu về phương pháp đọc sách báo của Bác Hồ và qua đó chúng tôi cũng cố gắng phân tích và nêu lên được vai trò của sách báo đối với việc tự học của Bác Hồ.

Kế thừa truyền thống ham đọc sách của dân tộc và gia đình, Hồ Chủ tịch đã luôn coi trọng sách báo. Nhưng với Người, đọc sách không chỉ đơn thuần là để giải trí hay để giải quyết các công việc sự vụ, nâng cao các hiểu biết thông thường. Người đọc chủ yêú là để phục vụ cách mạng với niềm khao khát tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Niềm ham muốn khao khát ấy đã đi theo Bác suốt cuộc đời, chi phối mọi hoạt động của Người.

Sinh ra trong cảnh nước mất, lớn lên chứng kiến nỗi bế tắc của bao tầng lớp sĩ phu yêu nước và nỗi thống khổ của nhân dân. Chính Phan Bội Châu cũng phải than rằng :

“ Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế

Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si

(Nghĩa là : Non sông mất rồi sống càng thêm nhục. Sách thánh hiền tẻ ngắt càng đọc càng thêm mụ mẫm ).

Mặc dầu vậy, Bác Hồ vẫn miệt mài đọc sách. Và không chỉ đọc sách  bằng chữ quốc ngữ, sách Hán mà Người còn đọc cả sách Pháp. Với Người, sách chính là “thuốc chữa tội ngu” và là một trong nguồn quan trọng có thể đưa ra lời giải đáp cho câu hỏi tự do, bình đẳng, bác ái là gì ? Từ những thắc mắc đầu tiên ấy về sau cũng chính nhờ sách báo Bác đã tìm ra con đường cứu nước cứu dân và hình ảnh “Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin” đã đi vào lịch sử.

Khi tìm hiểu về phương pháp đọc của Bác Hồ, bài học đầu tiên mà chúng ta cần phải chú ý đến là : Muốn trở thành người hiểu biết phải đọc cho rộng và khi đọc phải có ghi chép và phân loại ngay các thông tin trong sách báo. Là một người ham hiểu biết Người đã say mê đọc sách ngay từ ngày còn là một cậu trò nhỏ. Và cũng ngay từ khi tuổi trẻ Người đã có một phương pháp đọc rất đáng chú ý : Người thường khuyên và đánh dấu vào những chỗ đọc thấy cần thiết. Trong “Búp sen xanh” Sơn Tùng đã ghi lại lời tâm sự của cậu ấm Phạm Gia Cần, một người bạn của Hồ Chủ tịch thưở thiếu thời : “ở gần Thành, mình học hỏi được nhiều thứ, nhất là cách đọc sách.”(3)

Do ý thức không muốn mất thời gian đọc đi đọc lại để nhặt thông tin, nên khi đọc nghiên cứu tài liệu Hồ Chủ tịch luôn chú trọng đến việc ghi chép, đánh dấu, gạch chân, đóng khung và thậm chí cắt gián. Với cường độ đọc cao, một ngày khoảng trên hai chục tờ báo trong và ngoài nước nếu không có những biện pháp đọc khoa học thì khó có thể nhớ và tổng hợp hết được các vấn đề và thông tin đã đọc. Theo tài liệu của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng trung ương, Bác đã từng căn dặn : “Những cái gì đã nghe, đã thấy, đã hỏi được, đã đọc được thì chép lấy để dùng để viết”. Không có ghi chép cẩn thận thì những khi cần sẽ phải mất nhiều thời gian để tìm kiếm lại.

Lênin có tác phẩm “Bút ký triết học” nổi tiếng. Trong đó ghi lại những  nhận xét và đánh giá của ông về các trào lưu tư tưởng triết học của các tác gia trên thế giới. Hồ Chủ tịch của chúng ta có “Bút ký đọc sách” trong đó ghi lại những ý chính của các cuốn sách Bác đã đọc cùng với những nhận xét đánh giá của mình.Với Hồ Chủ tịch, đọc sách không chỉ cho riêng bản thân mình mà Người luôn quan tâm đến đối tượng thích hợp liên quan đến các bài viết hoặc thông tin  được đăng trong sách báo. Trong “Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch”, Người đã viết: “Mỗi ngày, Cụ xem chừng 25 tờ báo. Báo sáng, báo chiều, báo hàng tuần, báo ngoại quốc. Báo có gì hay, Cụ lấy bút chì đỏ làm dấu vào, rồi bảo anh em xem”.

Theo Người, bất luận làm công việc gì cũng cần phải đọc sách. Người mới học chữ cần đọc để không mù lại, người làm công an cần đọc để nắm tình hình. Những người làm công việc chuyên môn cần phải đọc để nâng cao trình độ. Người làm quản lý lãnh đạo cần phải đọc để quản lý, lãnh đạo tốt hơn. Làm nhà báo, nhà văn lại càng phải đọc. Không chỉ đơn thuần “Cần phải xem báo Đảng”(4), Người khuyên chúng ta : “Muốn có nhiều tài liệu phải xem cho rộng…Xem được nhiều thứ báo chừng nào thì lấy được nhiều tài liệu chừng ấy”(5). Và Người còn nói thêm : “Tìm tài liệu cũng giống như công tác khác, phải chịu khó. Có khi xem tờ báo này có vấn đề này, xem tờ báo khác có vấn đề khác, rồi ghép hai ba vấn đề, hai ba con số làm thành tài liệu mà viết”.(6)

Không chỉ dừng lại việc đọc rộng và biết cách ghi chép, đánh dấu, bài học thứ hai có thể rút ra trong phương pháp đọc sách báo của Hồ Chủ tịch là đọc luôn phải có suy nghĩ kĩ càng không nhất thời hồ đồ tin ngay theo sách. Người đã từng nhấn mạnh : “Phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Đọc tài liệu thì phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu trong sách. Có vấn đề thông suốt thì mạnh dạn đề ra cho vỡ lẽ, đối với bất cứ vấn đề gì đều phải đặt ra câu hỏi :  vì sao” đều phải suy nghĩ kỹ càng, xem nó có hợp với thực tế hay không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo một cách xuôi chiều. Phải suy nghĩ cho chín chắn.”(7)

doc-sach-tu-hoc-bBác Hồ nói chuyện với đồng bào Hưng Yên

Với những sách báo quan trọng, có những từ hoặc vấn đề không hiểu Người có thể đọc đi đọc lại nhiều lần cho đến khi hiểu cặn kẽ mới thôi. Ví dụ điển hình nhất cho nguyên lý này là việc Bác Hồ đọc tác phẩm “Tư bản luận” của Mác và “Luận cương” của Lênin. Chính nhờ việc đọc sâu hiểu kỹ Người đã có thể đem những điều đã đọc vào áp dụng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đọc sách báo là một công việc nhiều người có thể làm được, nhưng đọc để hiểu được cái thần của sách, đánh giá được những ưu điểm và hạn chế của sách báo thì không phải ai cũng làm được. Muốn làm được điều đó đòi hỏi người đọc phải có sự hiểu biết rộng và khả năng phân tích tổng hợp tốt. Vì lẽ đó chúng ta không ngạc nhiên khi nghe ông Giăng Pho, một người bạn Pháp của Bác Hồ nhận xét : “Chữ Pháp thì tôi biết nhiều hơn anh Nguyễn, điều đó không có gì là lạ vì tôi là người Pháp. Nhưng xem sách lý luận bằng chữ Pháp, nhiều khi tôi phải nhờ anh Nguyễn cắt nghĩa dùm”.

Sinh thời Người rất không tán thành lối đọc để mà đọc, không hiểu biết thực sự những điều đã đọc và theo Người đó là dạng đọc phù phiếm. Trong cuốn “Về vấn đề học tập” trang 58 đã nêu một ý kiến rất xác đáng của Bác : “Có đồng chí thuộc lòng một số sách vở về chủ nghĩa Mác – Lênin. Họ tự cho mình là người hiểu biết chủ nghĩa Mác – Lênin hơn ai hết. Song khi gặp việc thực tế, thì họ hoặc máy móc, hoặc là lúng túng. Lời nói và việc làm của họ không nhất trí. Họ học sách vở Mác – Lênin. Học để trang sức chứ không phải để vận dụng vào công việc cách mạng”.

Bài học thứ ba và cũng là bài học quan trọng nhất trong phương pháp đọc của Hồ Chủ tịch là vấn đề áp dụng những điều đã đọc được vào thực tiễn cách mạng, thực tiễn cuộc sống. Tiếp thu quan điểm của Nguyễn Trãi : “Sửa mình lấy thiện làm vui. Lập thân đâu phải cứ ngồi đọc suông” và tán thành quan niệm của Lê Quí Đôn: “Đọc sách không cần nhiều, đọc được một chữ đêm áp dụng được một chữ, thế là được”, Hồ Chủ tịch luôn rất chú trọng đem ứng dụng các điều đã thu lượm được qua sách báo. Người đã từng nói : “Siêng xem sách và xem được nhiều sách là quí” nhưng Người đã nhấn mạnh : “Dù xem được hàng ngàn quyển lý luận nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào cái hòm đựng sách.”. Nếu như trong học tập Hồ Chủ tịch luôn nhấn mạnh đến chữ hành thì trong đọc sách Người luôn quan tâm đến vấn đề áp dụng. Và phải biết áp dụng dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh của thực tiễn. Người rất ghét lối đọc chỉ để mà đọc, với Người đó là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Và sự vân dụng tài tình những điều đã học và đã đọc chính một trong những điểm mấu chốt trong vấn đề đọc sách của Bác Hồ. Trong cuốn con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Mác – Lênin trang 110, Người đã viết : “Chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của  Lênin nhưng vận dụng một cách có sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng ta đã chiến đấu và giành được thắng lợi như các đồng chí đã biết”.

Khi bàn về “Bản sắc văn hoá Việt Nam” ông Phan Ngọc đã nêu ra một nhận định rất xác đáng “ truyền thống văn hoá Việt Nam là truyền thống vượt gộp” .“Vượt gộp có nghĩa là tiếp thu cái mới nhưng đổi mới được nó trên cơ sở  cái cũ cũng đã được đổi mới cho thích hợp với hoàn cảnh mới”(8). Và cũng theo Phan Ngọc, bên cạnh Nguyễn Trãi, Hồ Chủ tịch là người đã thực hiện thành công nhất nguyên lý đó.Từ những tinh hoa văn hoá văn minh của nhân loại tiếp thu qua sách báo, từ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và đặc điểm thực tiễn cách mạng của Việt Nam, Hồ Chủ tịch đã biết “vượt gộp” để đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than, ngẩng mặt lên kiêu hãnh làm người.

Xã hội loài người phát triển được một phần lớn là nhờ con người có khả năng học tập lẫn nhau cộng hưởng các sức mạnh cá nhân tạo nên sức mạnh to lớn của cộng đồng. Sách báo sẽ là một nguồn tài nguyên vô giá giúp cho con người học tập và không ngừng vươn lên để tự hoàn thiện mình. Bài học tự học qua sách báo của Hồ Chủ tịch sẽ mãi là tấm gương sáng cho mỗi người chúng ta học tập và noi theo. Và một lần nữa chúng ta  lại có thêm một minh chứng của việc “Đọc sách, mắt như đèn muôn dặm” (như lời Cao Bá Quát xưa từng nói ). Ánh sáng từ đôi mắt ấy mãi mãi sẽ là ngọn đèn soi rọi trên con đường  dân tộc chúng ta đi.

Tài liệu trích dẫn

1. Về cách mạng Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. -H.: Uỷ ban khoa học xã hội, 1990

2. Hồ Chí Minh. Phát huy tinh thần cầu học cầu tiến bộ.- H.: Sự thật, 1960.- Tr 14

3. Sơn Tùng. Búp sen xanh. H.: Kim Đồng, 2000.- Tr 176

4. Tên một bài báo Hồ Chủ tịch viết năm 1954

5. Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch. Tập 6.- Tr 72

 6. Chúng ta có Bác Hồ .- H.: Lao động, 1990. -Tr 46

7. Hồ Chí Minh. Về vấn đề học tập. H.- Sự thật, 1971.- Tr 53

8. Phan Ngọc. Bản sắc văn hoá Việt Nam.- H.: Văn hoá thông tin, 1998.- Tr 28.

Vũ Dương Thúy Ngà – http://huc.edu.vn
Thúy Hằng (st)

Bà giáo già và bộ sưu tập tư liệu về Bác Hồ

Mấy lần gọi điện thoại đến nhà riêng, người nhà đều bảo “bà đi ra ngoài chưa về”.

1. Mấy lần gọi điện thoại đến nhà riêng, người nhà đều bảo “bà đi ra ngoài chưa về”. Tôi lấy làm lạ. Năm nay đã tròn 80 tuổi, về hưu cũng đã lâu rồi. Vậy bà còn bận bịu với công việc gì, mà chưa chịu nghỉ ngơi ở nhà? Đến khi gặp bà, tôi mới hiểu: bà vẫn đang là Phó Chủ tịch Hội Khuyến học của Phường, nên công việc cũng lu bu. Bà bảo: “Cũng đều là những việc không tên cả. Không tốn nhiều sức lực, nhưng rất cần có tâm và lòng nhiệt tình. Đến năm 2014 mới hết nhiệm kỳ, cũng ráng làm cho trọn với lương tâm, trách nhiệm của mình…”.

Bà là Nguyễn Thị Ngọc Bích, người gốc Hà Nội, một cựu chiến binh, nhà giáo lão thành. Nhưng nhắc đến bà, mọi người không chỉ biết đến một nhà giáo mẫu mực, một cán bộ quản lý giáo dục mẫn cán, tận tụy với nghề suốt mấy chục năm, mà còn rất kính nể bà – một người cần mẫn sưu tầm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong hơn 30 năm qua. Bộ sưu tập này đã trở thành những kỷ vật quý giá của bà giáo và cho cả thế hệ trẻ mai sau.

Bà hẹn tiếp tôi tại nhà riêng ở gần sân bay Tân Sơn Nhất (quận Tân Bình, TP. HCM). Trong căn phòng nhỏ, với tủ tài liệu về Bác Hồ được xếp ngay ngắn, bà kể cho tôi nghe về một thời gian khó, nhưng cũng rất tự hào, về cuộc đời và sự nghiệp của mình.

suu-tap-bac-ho-aBà Ngọc Bích tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (Chi nhánh TP.HCM)

2. Nhớ lại tuổi thơ của mình, bà không thể quên ngày 2/9/1945, khi đó bà mới 12 tuổi, được ba đưa đi dự Lễ Quốc khánh và nghe Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình. Bà bảo lúc ấy còn nhỏ, chưa hiểu rõ nội dung và ý nghĩa của bản Tuyên ngôn Độc lập, nhưng không bao giờ quên được hình ảnh uy nghiêm của Bác Hồ cùng các vị đại diện Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên lễ đài, và giọng nói ấm áp của Người: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Hình ảnh và lời nói hào sảng của Bác đã là nguồn cổ vũ rất lớn để bà đi theo cách mạng.

Cô gái Hà Nội Ngọc Bích đi bộ đội khi vừa tròn 16 tuổi, được làm giao liên tại Đại đoàn 320 nổi tiếng thời kháng chiến chống Pháp. Sau 3 năm tham gia kháng chiến, cô bị thương, nằm trong hang đá suốt 3 tháng trời. Khi đơn vị phát hiện, vết thương ở chân đã quá nặng, phải đoạn chi để cứu mạng. Thủ trưởng đơn vị lúc ấy là Tướng Văn Tiến Dũng, thấy Bích còn trẻ, tương lai và hạnh phúc còn ở phía trước nên đề nghị quân y tìm mọi cách giữ lấy đôi chân cho cô. Thật may mắn, vết thương không bị nhiễm trùng nặng, sau một thời gian thì lành lặn và cô được xuất ngũ.

Trở về Hà Nội, mới 19 tuổi, cô xin đi học Sơ cấp sư phạm. Ra trường, 21 tuổi, cô tình nguyện đi dạy học ở vùng khó khăn, hăng hái tham gia phong trào xóa nạn mù chữ, là một trong số những Chiến sĩ tiêu biểu trong phong trào “Diệt giặc dốt” của thanh niên ngành Giáo dục Hà Nội, theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1958, tại Lễ tổng kết phong trào này, cô giáo trẻ Ngọc Bích đã vinh dự được nhận thư tuyên dương và Huy hiệu của Bác Hồ gửi tặng. Đây là phần thưởng cao quý, là nguồn động viên lớn lao đối với cô giáo Ngọc Bích, trong suốt chặng đường dài cống hiến tâm sức cho sự nghiệp trồng người.

Sau này, khi đã có gia đình, cô Bích lại tiếp tục xin đi học nâng cao trình độ ở trường Cao đẳng Sư phạm, rồi Đại học Sư phạm (hệ tại chức) và lần lượt được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường phổ thông cấp 2 ở Hà Tây, Hưng Yên… trong suốt những năm máy bay Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc. Năm 1975, đất nước thống nhất, cô lại xung phong vào Quảng Ngãi quê chồng dạy học, rồi lại lần lượt làm Hiệu phó các Trường phổ thông cấp 3 Trần Hưng Đạo, Trần Phú, Nghĩa Lộ I, Nghĩa Lộ II, Lê Hồng Phong – tỉnh Nghĩa Bình (sau này tách ra thành Quảng Ngãi và Bình Định).

Có một điều mà những người làm giáo dục ở Nghĩa Bình hồi ấy đều biết và cảm phục cô Ngọc Bích. Đó là cô luôn chấp nhận được giao về làm quản lý ở các trường yếu kém. Sau khi xây dựng nhà trường khá lên, cô lại được điều động về gây dựng một trường yếu kém khác. Cứ như vậy, cô lần lượt về làm hiệu phó chuyên môn ở 5 trường, chỉ trong vòng gần 5 năm.

Năm 1979, bà Ngọc Bích cùng gia đình chuyển công tác vào TP. HCM, được phân công về làm Hiệu phó Trường Bổ túc văn hóa Quận Tân Bình, với những học trò lớn tuổi, phần lớn là cán bộ nòng cốt của quận, trước đây do tham gia kháng chiến chống Mỹ nên chưa có điều kiện học hết chương trình phổ thông. Trường Bổ túc văn hóa sau này đổi tên thành Trung tâm Giáo dục thường xuyên, bà tiếp tục làm Phó Giám đốc cho tới ngày nghỉ hưu (1986). Và bây giờ, bà lại tham gia Hội Khuyến học của phường, của quận… cho đến nay.

Bà luôn tự hào về dòng họ đã có 5 đời làm nghề giáo của mình. Cuộc sống của nhà giáo tuy nghèo, nhưng thanh bạch và luôn giữ được nền nếp gia phong, luôn là tấm gương mẫu mực để con cháu noi theo. Bà bảo, tài sản quý nhất của bà bây giờ là 4 người con (2 gái, 2 trai) đều được ăn học đến nơi đến chốn và đều thành đạt, cùng những đứa cháu nội ngoại học giỏi, chăm ngoan. Thế là hạnh phúc lắm!

suu-tap-bac-ho-bBà Ngọc Bích trước tủ tư liệu quý về Bác Hồ. Ảnh: Đ.Q.T

3. Hành trình sưu tầm tư liệu về Bác Hồ của bà bắt đầu từ năm 1980, sau khi bà được bạn bè gửi tặng những tấm ảnh quý, chụp Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến đi Pháp dự Hội nghị ký kết Hiệp định sơ bộ Pháp – Việt năm 1946. Đây là bộ ảnh gốc rất quý, vì thời điểm đó ở trong nước ít ai có được. Sau này, bà đã tặng bộ ảnh gốc này cho Bảo tàng Hồ Chí Minh (Chi nhánh TP. HCM), chỉ giữ lại bản photocoppy.

Kể từ đó, sau những giờ dạy học, bà lại kể cho học sinh nghe những câu chuyện về Bác Hồ. Nghe rồi, học sinh lại đòi bà kể tiếp khi gặp cô. Để những câu chuyện về Bác thêm sinh động và sâu sắc, bà đã dày công sưu tầm những tư liệu về Bác, để minh họa. Những tấm ảnh chụp Bác được bạn bè gửi tặng, những cuốn sách cũ viết về hành trình tìm đường cứu nước, cũng như cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ, những bài báo viết về Bác, từ trước đến nay, ở trong và ngoài nước v.v… đều được bà trân trọng lưu giữ.

Bằng tấm lòng tôn kính Bác Hồ, với tính cẩn thận, khoa học của một nhà giáo, bà đã tập hợp tất cả hình ảnh, tư liệu về Bác thành từng tập, theo từng chủ đề, như: Thời niên thiếu của Bác; Bác rời Bến cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước; Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945); Đảng và Bác lãnh đạo cuộc kháng chiến vĩ đại; Toàn Đảng, toàn dân đời đời nguyện theo chân Bác…

Lặng lẽ, miệt mài sưu tầm, đến nay, bộ sưu tập về Bác Hồ của bà đã có hàng chục tập tư liệu, với gần 2.000 bức ảnh, bài báo viết về Bác. Những người quen, ai cần tài liệu về Bác Hồ, hoặc những sinh viên làm luận văn tốt nghiệp về đề tài Hồ Chí Minh, đến mượn tư liệu, hình ảnh về Bác, bà đều sẵn lòng giúp đỡ vô điều kiện.

Bà bảo, mỗi khi đến kỳ nhận lương hưu, bà đều nhờ con cháu đưa tới những tiệm sách cũ, tìm mua những tài liệu về Bác, vì “mua sách cũ giá rẻ hơn và nhiều tư liệu cũ có giá trị, mà bây giờ, sách mới chưa chắc đã có!”.

Tôi hỏi bà, động lực nào mà suốt hơn 30 năm qua, bà đã lặng lẽ, miệt mài, cần mẫn sưu tầm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh như vậy? Bà bảo: “Có lẽ, một giáo viên dạy văn như tôi, mỗi khi giảng những vần thơ, bài văn cho học sinh nghe, là một lần có cơ hội được tìm hiểu về Bác và thấy được gần Bác hơn. Khi tìm hiểu về Bác, tôi càng tìm ra những tầng nhân cách cao đẹp trong một con người bình dị, càng thấy được những bài học quý giá cho bản thân mình”.

Ngoài việc sưu tầm tư liệu về Bác, những năm qua, bà luôn tích cực tham gia các cuộc thi kể chuyện, thi viết, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Bà cũng thường xuyên đến các trường học kể chuyện về Bác Hồ cho nhiều thế hệ học trò. Trong tâm khảm của mình, bà luôn trăn trở, làm sao những hình ảnh, tư tưởng của Bác, tiếp tục được lưu giữ và truyền lại trọn vẹn cho những thế hệ mai sau.

Đào Quốc Toàn
Theo http://thegioimoi.vn
Thu Hiền (st)

Đạo đức người ăn cơm

Một chiến sĩ bảo vệ Bác – sau này được phong quân hàm cấp tướng – có lần nói rằng: “Bác thường dạy quân dân ta “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” Bác dạy phải làm gương trước. Bác dạy phải nêu cao đạo đức cách mạng.

Có cán bộ nghĩ rằng “đạo đức” cách mạng là để áp dụng trong công tác thôi. Bản thân tôi, được gần Bác thấy ngay trong khi ăn cơm, Bác cũng đã dạy cho chúng tôi thế nào là “đạo đức”.

Thứ nhất, Bác không bao giờ đòi hỏi là Chủ tịch nước phải được ăn thứ này, thứ kia. Kháng chiến gian khổ đã đành là Bác sống như một người bình thường, khi hòa bình lập lại có điều kiện Bác cũng không muốn coi mình là “vua” có gì ngon, lạ là “cống, tiến”.

Thứ hai, món ăn của Bác rất giản dị, toàn các món dân tộc, tương cà, cá kho… thường là chỉ 3 món trong đó có bát canh, khá hơn là 4,5 món thôi…

Thứ ba, Bác thường bảo chúng tôi, ăn món gì cho hết món ấy, không đụng đũa vào các món khác. Gắp thức ăn phải cho có ý.

Nhớ lần đi khu 4, đồng chí Bí thư và Chủ tịch Quảng Bình ăn cơm với Bác, trong mâm có một bát mắm Nghệ nhưng rót hơi nhiều. Bác dùng bữa xong trước, ngồi bên mâm cơm. Hai cán bộ tỉnh ăn tiếp rồi buông đũa. Bác nhìn bát mắm nói:

– Hai chú xẻ bát mắm ra, cho cơm thêm vào ăn cho hết.

Hai “quan đầu tỉnh” đành phải ăn tiếp vừa no, vừa mặn… Chiều hôm đó, hai đồng chí đưa Bác đi thăm bờ biển, trời nắng, ăn mặn nên khát nước quá.

Lần khác, một cán bộ ngoại giao cao cấp người Hà Tĩnh được ăn cơm với Bác, đã gắp mấy cọng rau muống cuối cùng vào bát tương ăn hết. Tưởng là đã “hoàn thành nhiệm vụ” nào ngờ Bác lại nói:

– Tương Nghệ đồng bào cho Bác, ngon lắm. Cháu cho thêm ít cơm vào bát “quẹt” cho hết….

Thứ tư, có món gì ngon không bao giờ Bác ăn một mình, Bác xẻ cho người này, người kia rồi sau cùng mới đến phần mình, thường là phần ít nhất. Ăn xong thu xếp bát đũa gọn gàng, để đỡ vất vả cho người phục vụ.

Thứ năm, tôi có cảm giác là đôi khi ăn cơm có những giây phút Bác cầm đôi đũa, nâng bát cơm. Bác như tư lự về điều gì đó. Tưởng như Bác nghĩ đến đồng bào, cụ già, em bé đói rách ở đâu đâu.

Tưởng như Bác nhớ lại những ngày lao động ở xứ người kiếm từng mẩu bánh để ăn, để uống, để làm cách mạng… Hay là Bác lại nghĩ đến những lần tù đày không có gì ăn.

Thật khó hiểu mà càng khó hiểu, tôi lại càng thương Bác quá, thương quá. Bây giờ vào những bữa tiệc cao lương, mỹ vị, rượu bia thức ăn bày la liệt, quái lạ tôi lại nhớ đến Bác rồi… có ăn cũng chẳng thấy ngon như khi xưa ngồi vào mâm cơm đạm bạc với Bác”.

Theo Tiền Phong Online
Thúy Hằng (st)

“Tiền Cụ Hồ”- đồng tiền tiếp nối truyền thống thời lập quốc

Hình ảnh Cụ Hồ là biểu tượng xuyên suốt, tiếp nối các giá trị, truyền thống trong lịch sử từ trước đến nay.

Ngày 31/11/1946, sau hơn 1 năm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, lần đầu tiên tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được chính thức phát hành, khẳng định vai trò lưu thông của một đồng tiền tự chủ.

Qua thời gian, các hệ thống đồng tiền có hình Cụ Hồ còn có một giá trị đặc biệt, gắn bó chặt chẽ với hoàn cảnh cách mạng Việt Nam trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), hơn 20 năm chống đế quốc Mỹ (1954-1975) và 38 năm xây dựng, phát triển đất nước (1975-2013).

1. “Tiền Cụ Hồ”

Lúc đầu, “Tiền Cụ Hồ” là tên gọi bắt nguồn từ tình cảm của người dân dành cho vị Chủ tịch nước đầu tiên của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Cụ Hồ Chí Minh. Các loại  tiền giấy Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đầu tiên có mệnh giá 100 đồng, 20 đồng, 5 đồng và 1 đồng; trên tờ tiền có chữ ký của Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng và Giám đốc Ngân khố Trung ương Phạm Khoa.

tien CU HO
Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh do nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Năng An chụp vào khoảng năm 1945 – 1946 được các họa sĩ dùng vẽ trên hệ thống tiền đầu tiên của nước                      Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ông Nguyễn Ngọc Oánh, nguyên Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kể: Thời kỳ đó sau khi Pháp đánh chiếm Hà Nội, toàn quốc đứng lên kháng chiến nhưng nhiều người vẫn tìm mọi cách để có được đồng tiền Việt Nam có hình Bác Hồ. Nhiều khi không có tiền lẻ, người ta sẵn sàng xé đôi tờ tiền để tính giá trị một nửa, để được chia nhau niềm hạnh phúc được sở hữu đồng tiền kháng chiến. Đồng tiền dù rách nát đến mấy nhưng cứ “tiền Cụ Hồ” là nhân dân yêu chuộng, nhiều người giữ lại không tiêu dùng mà mang đặt lên bàn thờ tổ tiên rất trân trọng vì trên tờ giấy bạc có chân dung Bác Hồ…

Tại Chiến khu Việt Bắc, việc tiêu dùng tiền Cụ Hồ là hiện tượng bình thường. Tuy nhiên, tại vùng Pháp tạm chiếm, nhất là Hà Nội và các vùng phụ cận, việc tiêu tiền bị hạn chế do chính quyền Thực dân cấm đoán, thu giữ… Mặc dù vậy, người dân vẫn cất giấu, lưu truyền để “vừa tiêu, vừa thờ”.

Tại Nam Bộ, do tình tình khó khăn trong liên lạc và vận chuyển, tháng 11/1947, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh cho phép Ủy ban Kháng chiến Hành chính (UB KCHC) Nam Bộ in và lưu hành tiền giấy riêng.

Theo tài liệu ghi chép của Viện Bảo tàng Long An, xưởng in tiền nằm bên dòng kênh Dương Văn Dương ở vùng Đồng Tháp Mười (nay thuộc huyện Tân Thạnh). Thời kỳ này tại Nam Bộ các loại giấy bạc Việt Nam mệnh giá 1 đồng, 5 đồng, 50 đồng và 100 đồng, cùng với một số tín phiếu đã được phát hành, có in chân dung Bác Hồ do ông Phạm Văn Bạch – Chủ tịch UB KCHC Nam Bộ ký.

Trong những năm chiến tranh, đặc biệt là kháng chiến chống Mỹ, cả miền Nam chìm trong khó khăn, nhưng vẫn hướng về cách mạng và miền Bắc thân yêu. Nhiều người dân Nam Bộ đã cất giấu những tờ giấy bạc Cụ Hồ bằng nhiều hình thức khác nhau như: Bỏ vào ống sữa bò chôn xuống đất, bỏ vào ống tre trên mái nhà, trong ống cuốn vải, sau giải phóng 1975 đem ra như là bằng chứng về lòng quả cảm, trung thành với cách mạng, nhiều người trong số họ còn đem hiến tặng cho ngành bảo tồn, bảo tàng tại địa phương nơi sinh sống. Sau một số đợt công tác khảo sát, ngành ngân hàng ghi nhận nhiều địa phương như: Cà Mau, Long An, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh còn lưu giữ được được rất nhiều hiện vật như vậy.

2. Những câu chuyện vẽ “tiền Cụ Hồ” từ các họa sỹ

Nhân kỷ niệm 62 năm thành lập (6/5/1951- 6/5/2013), ngành Ngân hàng đang xúc tiến cho việc xây dựng, nâng cấp một phòng truyền thống, trong đó có phần trưng bày các hệ thống tiền Việt Nam. Để tương xứng với chủ đề “Tiền Cụ Hồ” đây là đòi hỏi rất lớn về công sức, trí tuệ của người làm công tác chuyên môn. Trước hết, cần ghi nhận các địa điểm tại Hà Nội như số 6 Lê Lai, 65 Nguyễn Thái Học, nơi làm việc và sinh sống của các họa sỹ liên quan đến “Tiền Cụ Hồ”.

Theo chúng tôi được biết, tất cả các họa sỹ vẽ ra hệ thống tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đầu tiên đều đã qua đời, nhiều người thân trong gia đình của các cố họa sỹ đều có chung một mong muốn khi tôn vinh “Tiền Cụ Hồ” hãy luôn ghi nhớ công sức đóng góp của các họa sỹ thực hiện vẽ từng tờ tiền đó. Đó là: Họa sỹ Mai Văn Hiến vẽ tờ 5 đồng, họa sỹ Nguyễn Đỗ Cung vẽ tờ 1 đồng, họa sỹ Nguyễn Văn Khanh vẽ tờ 20 đồng và họa sỹ Nguyễn Huyến vẽ tờ 100 đồng.

Một số giai thoại mà báo chí còn lưu truyền có thể là cơ sở tư liệu góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về thân thế và công việc của họ tại thời điểm tham gia vẽ tiền cho chính quyền cách mạng.

Ví như năm 2009, nhà văn Đỗ Chu đã viết trên báo Người cao tuổi bài “Một người vẽ tiền” nói về họa sỹ Mai Văn Hiến. Nội dung có đoạn rất đáng lưu ý: “…Một đêm, tại căn nhà số 6 phố Lê Lai, ông đang ngồi hí hoáy vẽ tiền cách mạng thì nghe sát vách bên kia có tiếng nói quen lắm. Tò mò, ghé mắt nhìn qua một khung cửa tràn ngập ánh sáng, trước mắt ông hiện ra một cảnh tượng rất ít người may mắn được thấy. Trên chiếc bàn lim lớn đặt giữa nhà là một đống vàng. Ngồi ở một bên bàn là ông Phạm Văn Đồng. Người đối diện là ông Trịnh Văn Bính, khi đó là Thứ trưởng Tài chính…”.

Hay như bài “Người họa sỹ vẽ tiền cho cách mạng” của Minh Huệ trên báo Quân đội nhân dân năm 2008 có đoạn: “Số nhà 65 Nguyễn Thái Học vốn của cụ Cự Lĩnh, một chủ thầu khoán lớn của Hà Nội thời Pháp thuộc. Nhà 3 tầng, mỗi tầng có 4 phòng riêng biệt, xây theo kiến trúc Pháp. Sau giải phóng Thủ đô, biệt thự trở thành nơi ở và làm việc của một nhóm họa sĩ và nhà điêu khắc…

Bà Mai Thị Kim Oanh, con gái của họa sĩ Mai Văn Hiến kể: Cuối tháng 11/ 1945, bốn họa sỹ xuất thân từ Trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương được gặp bác Phạm Văn Đồng để nhận nhiệm vụ tối mật – vẽ mẫu những tờ bạc đầu tiên của nhà nước cách mạng Việt Nam non trẻ. Bác Phạm Văn Đồng nói với bố tôi và các bác rằng, Chính phủ cần có đồng bạc riêng, cần vẽ 4 tờ giấy bạc có mệnh giá 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng và 100 đồng. Trên 4 loại tiền này phải có hình ảnh đại diện cho các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp và văn hóa…

Để duy trì được tình cảm nồng ấm cho những đồng tiền Cụ Hồ như những ngày đầu, bên cạnh việc kế thừa truyền thống của các thế hệ họa sỹ đi trước, đội ngũ vẽ tiền ngày nay đã được đào tạo một cách bài bản và tổ chức thành một phòng chuyên nghiên nghiên cứu và vẽ mẫu tiền một cách chuyên nghiệp. Đối với họ, việc vẽ và tiếp tục hoàn thiện “chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh” vẫn luôn là nguồn cảm hứng bất tận./.

Theo http://vov.vn
Huyền Trang (st)

Để việc học tập và làm theo gương Bác trở thành thường xuyên, tự giác

(ĐCSVN) – Chỉ thị 03-CT/TW có nội dung rất quan trọng là làm sao đưa việc học tập làm theo gương Bác thành việc làm thường xuyên lan tỏa trong đời sống xã hội, trong toàn bộ hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân. Trao đổi với phóng viên, đồng chí Nguyễn Thế Kỷ – Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng, để làm được điều đó, mỗi cấp ủy, địa phương, đơn vị cần lựa chọn những nội dung càng cụ thể, thiết thực thì càng dễ làm.

Phóng viên (PV): Thưa đồng chí, là người trực tiếp theo dõi và đi kiểm tra các địa phương cơ sở thực hiện Chỉ thị 03, đồng chí có đánh giá gì về những kết quả đạt được sau 2 năm thực hiện Chỉ thị ?

Đồng chí Nguyễn Thế Kỷ: Kết quả sau 2 năm thực hiện Chỉ thị 03 – CT/TW, ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được thể hiện rõ trong báo cáo tại Hội nghị sơ kết, tôi chỉ nhấn mạnh thêm một số vấn đề chính. Đó là việc gắn thực hiện Chỉ thị 03 với việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) ”Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, Quy định về công tác kiểm tra đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức và việc thực hiện nghị quyết đại hội đảng các cấp, đã góp phần tạo nên những kết quả quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, bảo đảm quốc phòng – an ninh, trật tự, an toàn xã hội, làm tốt công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế…

Đồng chí Nguyễn Thế Kỷ – Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
trả lời phỏng vấn báo chí – Ảnh: HH

Có thể khẳng định rằng, qua 2 năm thực hiện Chỉ thị 03, ở nhiều địa phương, đơn vị đã có chuyển biến tích cực. Chẳng hạn, việc một số địa phương cán bộ không sử dụng xe công trong đưa đón, không dùng bia, rượu trong tiếp khách…, điều này đã nhận được sự đồng thuận của toàn xã hội.

Các địa phương, đơn vị cũng đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo bàn về việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nhiều nơi đã cụ thể hóa kế hoạch thực hiện Chỉ thị 03 – CT/TW, nâng cao quyết tâm của cấp ủy, của ban lãnh đạo trong việc giải quyết các vấn đề tiêu cực, bức xúc, hoặc nổi lên cần tập trung khắc phục triệt để; từ đó, mang lại những kết quả cụ thể trong thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Trong quá trình thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW, nhiều phong trào được phát động và mang lại hiệu quả thiết thực, như: cuộc vận động “Yên Bái làm theo lời Bác”; phong trào “Người đảng viên sống đẹp”, mỗi cán bộ, đảng viên đăng ký một việc làm tốt cho cộng đồng dân cư tại phường Thuận Phước, quận Hải Châu, Đà Nẵng; phong trào “Đồng hành cùng người nghèo”, mỗi cấp ủy đảng, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nhận giúp đỡ xóa hộ nghèo tại xã Trà Tân, Bắc Trà My, Quảng Nam; chương trình “Đối thoại chiều thứ sáu” giữa lãnh đạo với bệnh nhân của Bệnh viện Đa khoa thành phố Quảng Ngãi; phong trào “Khâu khó, việc mới” của Tỉnh Đoàn Quảng Trị; chương trình “5 và 7 cho mỗi tháng” trong sinh hoạt chi bộ hàng tháng, ôn lại 5 mẩu chuyện đạo đức, phong cách của Bác và 7 nội dung phấn đấu rèn luyện của cán bộ Chi bộ tổ dân phố Hiệp Lợi, thành phố Nha Trang…

PV: Chỉ thị 03 – CT/TW gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng có ý nghĩa như thế nào, thưa đồng chí ?

Đồng chí Nguyễn Thế Kỷ: Tại Hội nghị Trung ương 7 vừa qua cũng đã sơ kết 1 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), trong đó, yêu cầu đặt ra là phải gắn Nghị quyết Trung ương 4 với việc thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị. Bởi các Nghị quyết này vừa có chủ đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, đặc biệt là phải quan tâm việc đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Hai điều này gắn kết với nhau chặt chẽ, đan xen nhau trong mỗi việc làm của tổ chức đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên. Bởi, chúng ta học tập làm theo tư tưởng, phong cách của Bác tốt, chắc chắn sẽ đẩy lùi được quan liêu, yếu kém, những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

PV: Sau 2 năm thực hiện Chỉ thị đã đạt được nhiều kết quả rõ nét, nhưng cũng còn một số hạn chế. Theo đồng chí, đâu là những trở ngại khiến việc thực hiện Chỉ thị vẫn còn tồn tại những hạn chế, yếu kém ?

Đồng chí Nguyễn Thế Kỷ: Trở ngại lớn nhất theo tôi có lẽ là nhận thức của cấp ủy, nhất là người đứng đầu cấp ủy. Có thể nói, một số người đứng đầu chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc, hay cách tổ chức thực hiện chưa sâu sát, chưa có những tiêu chí cụ thể, cách đánh giá, cách kiểm tra cụ thể sẽ khó đạt được kết quả cao. Vì vậy, yêu cầu trong thời gian tới là mọi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy phải nêu gương bằng những việc làm hết sức cụ thể. Cán bộ càng nêu gương càng làm tăng niềm tin trong toàn chi bộ, nhân dân. Sự nêu gương đó từ việc nhỏ đến việc lớn, nhưng những việc hàng ngày biểu hiện trong ứng xử với cán bộ, đảng viên, giao tiếp nhân dân, chăm lo đời sống nhân dân, phát triển kinh tế – xã hội là dễ nhận thấy nhất.

PV: Có ý kiến cho rằng, việc học tập và làm theo gương Bác mới dừng lại ở phía người dân bởi những tấm gương là cán bộ, nhất là cán bộ cấp cao rất ít xuất hiện, quan điểm của đồng chí về ý kiến này ?

Đồng chí Nguyễn Thế Kỷ: Việc có ít tấm gương là cán bộ cấp cao chỉ thể hiện trong danh sách khen thưởng chứ trong thực tế có rất nhiều gương cán bộ cấp cao học tập và làm theo Bác. Chỉ có điều, các đồng chí lãnh đạo không muốn nói về thành tích của mình. Họ cho rằng, việc mình phải làm tốt, làm gương là đương nhiên, không có gì phải để mọi người phải khen và biểu dương. Họ rất muốn việc làm của họ không phải qua lời họ nói, hay qua tuyên truyền của báo chí, mà họ muốn nó lan tỏa một cách rất tự nhiên, bình thường trong đời sống để tạo được hiệu ứng tích cực trong xã hội. Lần tuyên dương này cũng thế, số lượng đồng chí lãnh đạo không nhiều là bởi những lý do trên. Hơn nữa cũng có lý do, nhiều đồng chí muốn tấm gương được tuyên dương là từ cơ sở, ở những vùng khó khăn…

PV: Học theo gương Bác, quan trọng là ở chỗ biến thành việc làm tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên chứ không phải dừng lại phong trào. Theo đồng chí, chúng ta cần làm gì để làm được điều đó?

Đồng chí Nguyễn Thế Kỷ: Chúng ta thường nói, học tập tư tưởng, đạo đức của Bác như là công việc hàng ngày, như thức dậy rồi hít thở không khí trong lành, nghĩ về những điều tốt đẹp và quyết tâm làm được điều đó. Tôi nghĩ chắc chắn các đồng chí có trách nhiệm cao trong việc thực hiện Chỉ thị 03 càng phải quán triệt điều này một cách sâu sắc. Khi các đồng chí đó trong công việc hàng ngày, trong lãnh đạo, chỉ đạo biết chọn vấn đề gì đó ở địa phương cần làm ngay, có nghĩa là đã biến việc học tập thành hành động cụ thể rồi.

Để đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành công việc thường xuyên, nhiều cấp ủy đã chỉ đạo kết hợp một cách linh hoạt và sáng tạo một số nội dung của Chỉ thị 03 – CT/TW, như: Xây dựng chuẩn mực đạo đức cụ thể, thiết thực, đưa học tập và làm theo đạo đức Bác Hồ vào sinh hoạt chi bộ thường kỳ, lựa chọn một số vấn đề bức xúc, nổi cộm trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức để chi bộ, đảng bộ bàn biện pháp phấn đấu, khắc phục, tiến tới giải quyết dứt điểm trong một thời hạn nhất định. Từ đó, mang lại những kết quả cụ thể trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và niềm tin trong nhân dân.

Trong các hướng dẫn cũng đã nêu, nhưng theo tôi, học theo gương Bác, mỗi cấp ủy, địa phương, đơn vị cần lựa chọn những nội dung càng cụ thể, thiết thực thì càng dễ làm. Và khi đã dễ làm thì ai cũng làm được và dần dần, nó sẽ trở thành hành động tự thân của mỗi tập thể, cá nhân. Việc của mình là viết thì hãy viết tốt; việc của mình là chăm sóc bệnh nhân thì hãy chăm sóc bằng cả tấm lòng; việc của mình là dạy học thì cũng hãy dạy cho tốt; mình là nhiệm vụ bảo vệ thì hãy bảo vệ cho tốt…. Mỗi người làm tốt công việc được giao cũng chính là học và làm theo gương Bác Hồ kính yêu.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!

Hiền Hòa (thực hiện)
dangcongsan.vn

Chuyện về bộ quần áo kaki của Bác Hồ

Chuyện kể về NgườiTrong quá trình tiến hành nghiên cứu xác minh nội dung lịch sử để xây dựng hồ sơ khoa học bộ quần áo kaki Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng từ năm 1959 đến năm 1969, chúng tôi đã được nghe câu chuyện về việc may áo cho Bác Hồ. Những người thợ may ở Xí nghiệp may 10 Hà Nội mãi mãi ghi sâu kỷ niệm về Bác Hồ kính yêu. Những đồng chí công nhân lớn tuổi ở đây thường kể lại cho lớp thợ trẻ nghe câu chuyện xúc động khi Bác Hồ về thăm Xí nghiệp.

Đó là mùa Xuân năm 1959, cách đây hơn 50 năm, ngày 8-1-1959, khi Xưởng may 10 (lúc đó thuộc Cục Quân nhu – Tổng cục Hậu cần) vinh dự được đón Bác Hồ về thăm. Năm đó Bác đã 69 tuổi nhưng đi lại vẫn nhanh nhẹn. Bác lần lượt đi thăm từng phân xưởng may, thăm các cháu ở nhà trẻ và thăm nhà ăn của công nhân. Bác đi thăm các phân xưởng sản xuất trước. Đi dọc ba phân xưởng may, Bác thấy trên các bàn máy có cắm cờ đỏ, cờ xanh trên các cọc chỉ liền hỏi, thì anh chị em công nhân trả lời: “Thưa Bác, trong ngày làm việc, ai có năng suất cao thì được tặng cờ đỏ, năng suất thấp thì nhận cờ xanh”. Bác dừng lại bên bàn máy của một nữ công nhân trẻ có cờ xanh ân cần hỏi kỹ về phong trào thi đua này. Bác tỏ ý vui mừng và căn dặn: “Các cô, các chú phải phấn đấu giành nhiều cờ đỏ, bỏ cờ xanh. Các cô, các chú có làm được không?” Tất cả mọi người có mặt đồng thanh đáp: “Thưa Bác có ạ”. Sau khi đi thăm xong các phân xưởng, Bác quay về hội trường nói chuyện với cán bộ, công nhân nhà máy. Bác nhắc nhở nhiệm vụ của xí nghiệp, của cán bộ và công nhân viên và căn dặn mọi người phải tiết kiệm trong quá trình sản xuất, phải chú ý đến việc cải tiến kỹ thuật. Cuối buổi nói chuyện, Bác trực tiếp phát động phong trào thi đua sản xuất trong toàn nhà máy, đồng thời Người hứa: “Nếu cuối năm đạt thành tích cao báo cáo lên Bác, Bác sẽ thưởng”.

Cán bộ, công nhân Xưởng may 10 rất xúc động khi thấy chiếc áo kaki màu đã bạc, sờn tay mà Bác vẫn mặc từ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Không ai bảo ai, mọi người có mặt trong buổi đón Bác đều mong muốn được may biếu vị lãnh tụ kính yêu bộ quần áo. Một đồng chí cán bộ lãnh đạo Xưởng may 10 đem ngay ý tưởng đó ra trao đổi với đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác. Suy nghĩ giây lát, đồng chí Vũ Kỳ nói: “Bác sắp đi thăm Inđônêxia nhưng quần áo của Bác đã cũ hết cả rồi. Các cậu có thể may biếu Bác một bộ. Ngày mai tôi sẽ đưa bộ quần áo của Bác xuống làm mẫu”. Hôm sau, nhận được bộ quần áo mẫu (bộ quần áo kaki cũ của Bác) do các đồng chí phục vụ Bác chuyển đến, anh chị em Xưởng may 10 lập tức bắt tay vào việc. Xưởng cử người sang X20 (Cửa hàng may đo lúc đó ở phố Cửa Đông) lấy vải kaki Trung Quốc có màu sắc tương tự như màu áo của Bác. Các ông Trần Văn Quảng, Nguyễn Công Thái và Phạm Huy Tăng là những người thợ lành nghề được giao nhiệm vụ may bộ quần áo này. Điều khó là khi đo cắt vải mới nhưng lại không được tháo rời bộ quần áo mẫu. Những người thợ bèn cắt theo phương pháp quy vuông: Trải vải mới chồng lên bộ cũ. Bộ quần áo kaki dùng làm mẫu là bộ được may từ năm 1945, là bộ Người đã mặc trong buổi lễ đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội.

Đặc điểm bộ quần áo này là đường may bị lệch và thân quần một bên to một bên bé, khi cắt phải cố gắng thật khéo léo để khắc phục nhược điểm trên. Sau khi cắt nhiều mẫu, cuối cùng các anh chọn lấy hai mẫu giống nhất để may. Sau hơn một tháng, bộ quần áo đã may xong, xưởng gửi ngay cho đồng chí Vũ Kỳ hai bộ kèm theo một bức thư nói lên tấm lòng của cán bộ, công nhân xưởng may 10 đối với Bác Hồ. Bức thư có nội dung như sau:

Hà Nội ngày 23 tháng 2 năm 1959

Kính thưa Bác!

Ngày 8-1-1959 Bác về thăm chúng cháu. Chúng cháu coi ngày đó là một ngày lịch sử của xưởng chúng cháu. Chúng cháu vô cùng cảm động. Nhiều người đã khóc trước sự chăm sóc ân cần của Đảng, của Chính phủ và của Bác. Chúng cháu tự thấy rằng mình còn nhiều khuyết điểm, thành tích đã đạt được chưa xứng đáng với tấm lòng ân cần đó.

Chúng cháu làm việc ngày đêm, không kể giờ giấc để nâng cao sản xuất, kèm cặp, giúp đỡ anh chị em thợ mới vào nghề, năng suất của cả thợ mới, thợ cũ đều tăng. Do đó kế hoạch tháng 1 năm 1959 chúng cháu đã thực hiện được 109%. Về chất lượng chúng cháu đã đạt được 95,12%. Trong tháng 2 năm 1959 kế hoạch khá nặng nhưng chúng cháu quyết tâm để hoàn thành vượt mức.

Kính thưa Bác!

Hôm Bác đến chúng cháu chú ý nhìn kỹ thấy quần áo của Bác mặc đã cũ, chúng cháu vô cùng cảm động. Vì vậy chúng cháu không hẹn mà nên, mỗi người một ý bàn với nhau may biếu Bác hai bộ quần áo. Tuy quần áo chúng cháu may chưa được đẹp, nhưng đó là cả tấm lòng thành của chúng cháu đối với Bác, mong Bác vui lòng nhận cho chúng cháu. Chúng cháu coi đó là một vinh dự của chúng cháu.

Cuối cùng chúng cháu xin kính chúc Bác sống lâu muôn tuổi.

   Toàn thể công nhân, quân nhân, nhân viên

Xưởng may 10 Cục Quân nhu, Tổng cục Hậu cần”.

Nhớ lại sự kiện này, đồng chí Cù Văn Chước – cán bộ Văn phòng Phủ Chủ tịch, sau này là Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh kể lại: Nhận được thư và quà của Xí nghiệp may 10 gửi biếu Bác, tôi đã chọn một bộ cùng với bức thư để báo cáo với Bác. Sau khi Bác đi ăn cơm trưa về, tôi thưa với Bác: “Thưa Bác, anh chị em công nhân Xưởng may 10 tiết kiệm được vải, may biếu Bác bộ quần áo với tất cả tấm lòng thành, mong Bác vui lòng nhận cho”.

Bác Hồ cầm lên xem và khen may đẹp. Sau đó, Bác đánh máy bức thư gửi cán bộ, nhân viên Xưởng may 10, Cục Quân nhu, Tổng cục Hậu cần:

Thân ái gửi: Công nhân, chiến sĩ, nhân viên và cán bộ Xưởng may 10, Cục Quân nhu, Tổng cục Hậu cần.

Bác rất vui lòng các cô, các chú có tiến bộ khá về:

                       Đoàn kết thân ái

                       Liên tục thi đua

                       Cải tiến kỹ thuật

                      Tăng gia sản xuất

                      Thực hành tiết kiệm

                      Quản lý xí nghiệp.

Chắc các cô, các chú đã tự thấy rằng: Tư tưởng thông thì công việc tốt. Những kinh nghiệm ấy nên phổ biến cho các nhà máy khác.

Nhưng các cô, các chú chớ thấy có tiến bộ mà tự mãn, tự kiêu. Trái lại cần phải cố gắng nữa để tiến bộ mãi.

Cảm ơn các cô, các chú đã biếu Bác bộ quần áo. Bác nhận rồi. Nay Bác gửi bộ quần áo ấy làm giải thưởng cho một đợt thi đua. Khi nào đợt thi đua kết thúc, do các cô, các chú bình nghị, ai khá nhất thì được giải thưởng ấy.

Chúc các cô, các chú vui vẻ, mạnh khoẻ, đoàn kết, tiến bộ.

                                                                      Ngày 24 tháng 2 năm 1959.

                                                                                        Bác Hồ”.

Nhận được thư Bác, một phong trào thi đua mới sôi nổi trong toàn xưởng may. Anh chị em nào cũng quyết tâm lập thêm nhiều thành tích để đền đáp lại tình cảm của Bác. Ngày nghỉ nhiều công nhân vẫn đứng máy, thực hiện khẩu hiệu: “Ngày không giờ, tuần không thứ”, toàn xí nghiệp dấy lên phong trào quyết tâm “Giành cờ đỏ, bỏ cờ xanh”. Nhiều công nhân tăng năng xuất tới 200%, hầu hết các đầu máy không còn cờ xanh nữa. Nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật quan trọng đã nâng cao được chất lượng và năng suất lao động. Những lời dạy bảo ân cần của Bác trở thành nguồn động viên cán bộ, công nhân, viên chức của xí nghiệp, ra sức thi đua lao động sản xuất, xây dựng xí nghiệp. Đầu năm 1960, Bác đã tặng cho cán bộ công nhân Xí nghiệp may 10 lá cờ thêu dòng chữ: “Đơn vị thi đua khá nhất” dưới là tên Bác: Hồ Chí Minh.

Trong phong trào thi đua đó, nhiều công nhân đạt thành tích cao trong lao động trong đó có ông Hoàng Nguyên đạt thành tích cao nhất và giành danh hiệu chiến sĩ thi đua. Ban Giám đốc, Đảng uỷ, Công đoàn Xưởng may 10 đã tặng cho đồng chí Hoàng Nguyên bộ quần áo kaki mà Bác gửi lại cho xí nghiệp. Đồng chí Nguyễn Văn Lợi có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động (năm 1962).

Bộ quần áo ông Hoàng Nguyên được tặng sau đó ông gửi lại Xí nghiệp để trưng bày ở phòng truyền thống. Để góp phần xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh, ngày 3-5-1977, Xưởng may 10 đã gửi tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh bộ quần áo này. Hiện nay, bộ quần áo đang được lưu giữ ở Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Còn bộ quần áo kaki các đồng chí phục vụ giữ lại, nhiều lần các đồng chí đề nghị Bác dùng bộ quần áo mới nhưng Bác đều từ chối. Cho đến dịp Bác chính thức đi thăm nước Cộng hoà Inđônêxia ngày 27-2-1959, khi lên máy bay Bác vẫn mặc bộ quần áo dạ lễ phục, sang đến Inđônêxia, áo của Bác bị đứt cúc. Lúc đó đồng chí Vũ Kỳ mới đưa bộ quần áo mới của Xí nghiệp may 10 biếu Bác đã chuẩn bị sẵn trong vali, đề nghị Bác mặc với lý do đồng chí không mang theo kim chỉ nên không đính lại cúc áo được. Bác cười và bảo: “Thế là chú cố ép Bác mặc áo mới nhưng chú nên nhớ rằng mình làm sao có thể thi sang với người ta được, mình phải biết tiết kiệm, dân mình đang còn nghèo lắm”.

Theo các đồng chí phục vụ Bác Hồ kể lại: Khi Bác tiếp khách thân mật tại Phủ Chủ tịch, Bác thường mặc bộ quần áo bà ba màu nâu giản dị như khi làm việc. Hôm nào trời hơi lạnh, Bác khoác thêm áo kaki, lạnh nhiều Bác khoác áo bông. Bộ quần áo kaki do Xí nghiệp may 10 may Bác thường mặc mỗi khi đi thăm các địa phương trong nước, đi thăm các nước anh em, đi dự hội nghị và các cuộc họp của Chính phủ, tiếp khách quốc tế.

Ông Tăng không ngờ 10 năm sau, ngày 2-9-1969, ông lại là người được may bộ quần áo cuối cùng cho Bác. Ngày đó những hiệu may nổi tiếng nhất Hà Nội cũng được nhận sứ mạng lịch sử này. Song tất cả các sản phẩm đều không được phê duyệt do dùng vải quá sang, không hợp với đức tính giản dị của Bác. Sau khi cân nhắc, nhiệm vụ này được giao cho Xí nghiệp may 10. Ông Tăng và ông Quảng lại được chọn thực hiện việc may áo để Bác mặc trong ngày tang lễ. Họ đã thức trắng đêm, vừa làm vừa khóc vì thương nhớ Bác và sau hai ngày thì công việc hoàn thành. Ông Tăng nhớ lại: “Lúc đó chúng tôi đâu biết rằng chuyên gia Liên Xô và các cán bộ khoa học kỹ thuật chịu trách nhiệm giữ gìn thi hài Bác đã kiểm tra hết sức cẩn thận từng đường kim mũi chỉ, từng sợi vải bằng nhiều loại máy móc hiện đại”. Nhưng mọi thông số kỹ thuật đều đạt yêu cầu. Sản phẩm đã được Bộ Chính trị phê duyệt.

Sau ngày miền Nam giải phóng, thể theo nguyện vọng của Bảo tàng các tỉnh ở trong Nam, Xí nghiệp may 10 đã tặng cho mỗi tỉnh một bộ quần áo may theo mẫu bộ quần áo của Bác và đều do ông Tăng may. Bộ quần áo đang trưng bày tại Di tích nhà 54 trong Khu Phủ Chủ tịch là bộ quần áo do Xí nghiệp may 10 may trong dịp này. Bộ quần áo được đánh số kiểm kê BTHCM 361/ĐD-4 (chiếc áo) và BTHCM/ĐD-5(chiếc quần). Có một kỷ vật mà suốt mấy chục năm qua ông Phạm Huy Tăng luôn nâng niu gìn giữ đó là tấm huy hiệu Bác Hồ ông được cơ quan Văn phòng Phủ Chủ tịch tặng khi may xong bộ quần áo của Bác. Ông nói: “Tôi đã học được rất nhiều từ đức tính giản dị, khiêm tốn của Bác Hồ”. Hình ảnh Bác Hồ, tấm áo của Bác, một phần thưởng thi đua cao quý được trưng bày trong phòng truyền thống, bên cạnh lá cờ thi đua lấp lánh cùng tấm Huy chương của Quốc hội và Chính Phủ tặng đã ghi đậm thành tích 50 năm Xí nghiệp làm theo lời Bác.

Theo http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Huyền Trang (
st)

Nữ biệt động “thép” 8 lần gặp Bác Hồ

Những ngày nắng nóng gay gắt, các vết thương cũ tái phát khiến nữ thương binh nặng 1/4 Trần Thị Kim Cúc cảm thấy đau nhức khắp người. Vậy mà, nhắc đến những lần được gặp Bác Hồ, giọng bà trào dâng niềm xúc động sâu sắc.

Trần Thị Kim Cúc sinh năm 1936, tại vùng quê nghèo xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang (Đà Nẵng). Bà làm giao liên cho huyện ủy Hòa Vang từ năm 14 tuổi. Năm 1961, bà được tổ chức phân công làm đội trưởng đội công tác đặc biệt, có nhiệm vụ thăm dò tình hình địch, đưa thông tin liên lạc cho cách mạng. 4 năm sau, bà vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Dũng cảm, mưu trí, gan dạ, bà đã tham gia nhiều trận đánh “tìm Mỹ mà diệt” làm nức lòng đồng bào và chiến sĩ. Nhiều lần bị địch bắt, tra tấn cực kỳ tàn độc nhưng bà vẫn kiên cường giữ vững khí tiết của người cộng sản. Ra tù, được tổ chức bí mật đưa ra Bắc chữa bệnh, bà vinh dự 8 lần được gặp Bác Hồ.

nu-biet-dong-aBà Trần Thị Kim Cúc thời trẻ

Bà Cúc bồi hồi nhớ lại: “Một buổi chiều giữa năm 1966, tôi và chị Mười quê ở Mỹ Tho, Tiền Giang nằm điều trị chung một phòng ở Bệnh viện Việt – Xô, được thông báo sắp có người trong Phủ Chủ tịch đến thăm. Tối đó, một chiếc ô tô con đỗ trước hiên Khoa A1. Một ông già dáng dong dỏng, râu tóc bạc, nét mặt đôn hậu, mặc bộ bà ba màu nâu sẫm, chân đi dép cao su và một người trẻ tuổi hơn (về sau tôi mới biết là chú Vũ Kỳ, thư ký của Bác), nhanh nhẹn đi về phía buồng bệnh. Tôi hồi hộp nói với chị Mười: “Đúng là Bác rồi, chị ơi!”. Chúng tôi định chạy ra, thấy thế Bác liền vẫy tay, bảo: “Hai cháu đừng chạy, ngã đấy!” rồi đưa hai tay đỡ chúng tôi. Tôi ôm lấy Bác mà nước mắt cứ trào ra. Ước mơ cháy bỏng ấp ủ bấy lâu, bây giờ đã thành hiện thực!

Chú Trịnh Kim Ảnh, Giám đốc Bệnh viện thưa với Bác: “Cô Cúc ngoài các vết thương trong người còn có 2 vết thương rất nặng: Vết thương ở đầu do bọn địch đóng đinh vào gây chấn thương não, để lại di chứng động kinh kéo dài. Vết thương thứ 2 ở cửa mình vẫn ra máu do mảnh vụn đèn neon địch tra tấn”. Nghe vậy, mắt Bác ngấn lệ. Người đưa tay sờ lên vết thương trên đầu tôi, lo lắng hỏi: “Đau thế, đêm cháu ngủ có được không? Cháu ăn có biết ngon miệng không?” Tôi liền thưa: “Dạ thưa Bác! con ăn và ngủ cũng được ít”. Bác đưa tay vẫy anh Bình, Chủ nhiệm khoa A1 lại gần, căn dặn: “Chú phải theo dõi cả việc ăn uống của các cháu, nhắc nhà bếp phải thường xuyên đổi món và chế biến thức ăn cho hợp khẩu vị. Ở miền trong thường thích món cá nấu chua lắm!”.

nu-biet-dong-bThủ tướng Phạm Văn Đồng chụp ảnh với gia đình bà Cúc

Sau lần đó, tôi và chị Mười còn nhiều lần được đón vào Phủ Chủ tịch cùng ăn cơm với Bác và chú Tô (tức Thủ tướng Phạm Văn Đồng). Tình cảm của Bác dành cho chúng tôi sâu nặng, ấp áp như tình thương của người cha vậy. Biết bệnh của chúng tôi không thuyên giảm, Bác quyết định đưa sang Trung Quốc chữa trị và động viên 2 chị em cố gắng học tiếng nước bạn, để nếu có nhà báo đến thì kể cho họ nghe về tội ác của đế quốc Mỹ và ý chí chiến đấu kiên cường của đồng bào ta. Khắc ghi lời Bác, tôi vừa chiến đấu với bệnh tật vừa nỗ lực học hỏi, luyện cách giao tiếp bằng tiếng Trung. Sau gần 2 năm, các vết thương được chữa lành, trở về Hà Nội, tôi được Bác cho xe đón vào Phủ Chủ tịch. Đó là buổi chiều 30 tết Mậu Thân 1968, tiết trời se lạnh, Bác bảo chú Vũ Kỳ đưa ra một cái khăn và chiếc mũ ấm bảo tôi mang vào kẻo lạnh (Chiếc khăn này tôi đã tặng lại Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Quân khu 5). Rồi Bác ân cần hỏi thăm sức khỏe, và bất ngờ hỏi bằng tiếng Trung: “Cháu đã học được tiếng nước bạn đến đâu rồi? Bác hỏi một câu, cháu trả lời Bác nghe thử”. Tôi lúng túng thưa với Bác cũng bằng tiếng Trung, Bác khen và dặn: “Có chí, ở hoàn cảnh nào học cũng được, cháu ạ!”. Tôi trình bày nguyện vọng muốn được trở về miền Nam đánh giặc, mắt Bác rưng rưng. Bác bảo hãy cố gắng giữ gìn sức khỏe, vì người còn yếu thế chưa về được đâu”.

Sau đó, Trần Thị Kim Cúc học văn hoá tại Trường phổ thông lao động Trung ương, đầu năm 1969, được Đài Tiếng nói Việt Nam nêu gương về thành tích học tập. Bà kể: “Nhận được tin ấy, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đến trường đón tôi. Bác ôm chầm lấy tôi như một người cha đón đứa con sau bao ngày xa cách. Tình cảm của Bác vẫn nồng ấm, nhưng cử chỉ và giọng nói đã yếu đi nhiều. Bác dặn chú Tô bằng giọng khàn khàn: “Sau này, tôi có mệnh hệ gì, không chăm lo được cho cháu Trần Thị Cúc và cháu Trần Thị Lý (Anh hùng LLVTND, quê Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam) thì nhờ chú thay tôi chăm lo cho hai cháu đến nơi đến chốn”.

Đến chiều, chú Vũ Kỳ đưa tôi trở lại trường, Bác lấy tay xoa nhẹ lên đầu tôi và bảo: “Cháu về trường, nhớ giữ gìn sức khỏe, Bác gửi lời thăm thầy cô, bạn bè của cháu!”. Nghe thế, tôi cắn môi lại cố không để bật ra tiếng khóc, lòng thầm ao ước: “Cầu mong Bác mạnh khỏe, bình an”. Nào ngờ đó cũng là lần cuối cùng tôi được gặp Bác. Ngày 2-9 năm ấy Bác đã đi xa mãi mãi”.

Sau này, bà Cúc thi đỗ vào Khoa Hóa Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, học đến năm thứ tư thì vết thương tái phát, đôi mắt không nhìn được, phải sang chữa trị tại Cộng hoà Dân chủ Đức. Mãi đến sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, bà mới được trở về quê hương. Hiện nay, bà đang sinh sống trong căn nhà nhỏ số 149 đường Thanh Long, phường Thanh Bình, quận Hải Châu, Đà Nẵng. Các con của bà đều đã trưởng thành, trong đó 2 người con trai đang công tác trong quân đội (Đại úy Huỳnh Thanh Hà Nam, Trợ lý Ban Chính trị – Cục Chính trị Quân khu 5 và Thượng úy Huỳnh Trần Thanh Hải, Trợ lý Thanh niên Bộ CHQS thành phố Đà Nẵng). Bà bảo: “Tôi thường kể cho các con nghe kỷ niệm về những lần được gặp Bác Hồ. Đó chính là hành trang để các cháu trọn đời vững bước đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn”.

Theo ĐỖ THỊ NGỌC DIỆP – Quân đội nhân dân
Thanh Huyền (st)
bqllang.gov.vn

Nguyên Thuyền trưởng Tàu không số và ký ức giải phóng Trường Sa

9 giờ sáng ngày 29-4-1975 mãi là thời khắc không bao giờ quên đối với Thiếu tá Nguyễn Xuân Thơm, nguyên Thuyền trưởng Tàu không số (nay là Lữ đoàn 125, Quân chủng Hải quân).Ngày ấy, con tàu 673 do ông làm thuyền trưởng đã cùng biên đội Tàu không số, hoàn thành nhiệm vụ thần tốc giải phóng Trường Sa trước ngày giải phóng Sài Gòn 30-4-1975.

tau-khong-so-aQuân dân đảo Song Tử Tây mít tinh kỷ niệm 38 năm giải phóng quần đảo Trường Sa (29-4-1975/29-4-2013).

Một trưa Tháng Tư, ghé căn nhà đầy ắp hình ảnh, kỷ vật của Đoàn Tàu không số nằm trên đường Đoàn Như Hài, quận 4, TP Hồ Chí Minh, chúng tôi được Thiếu tá Nguyễn Xuân Thơm – hiện là Trưởng ban Liên lạc truyền thống (Tàu không số) Đường Hồ Chí Minh trên biển tại Thành phố Hồ Chí Minh, bồi hồi kể lại chiến tích lẫy lừng ngày ấy. Tháng 4-1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân ngày càng khốc liệt và giành được nhiều thắng lợi to lớn. Lúc bấy giờ, Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị thành lập một biên đội, chuẩn bị lực lượng, vũ khí, khí tài… để thực hiện nhiệm vụ giải phóng Trường Sa. Biên đội gồm có 3 tàu thô sơ mang bí số 673, 674 (tàu chở Ban chỉ huy), 675 được ngụy trang như tàu đánh cá. Ông Nguyễn Xuân Thơm là Thuyền trưởng tàu 673, Nguyễn Đức, Thuyền trưởng tàu 674 và Phạm Duy Tam Thuyền trưởng tàu 675.

Vị Thiếu tá già kể lại: “Ngày 9-4, chúng tôi nhận lệnh, cấp tốc hành quân từ Hải Phòng vào Đà Nẵng. Ngày hôm sau, biên đội đã cập cảng Tiên Sa, lấy phương tiện, vũ khí, dầu, nước, lương thực…đưa Đại đội đặc công Đoàn 126 và Tiểu đoàn 471 đặc công Khu 5 xuống tàu. 4 giờ sáng ngày 11-4, từ Đà Nẵng, biên đội hành quân ra đảo Song Tử Tây. Nhiệm vụ lần này là phải nhanh chóng đánh chiếm đảo Song Tử Tây kịp ngày 14-4 và phải giải phóng hoàn toàn Trường Sa cùng thời điểm với giải phóng hoàn toàn miền Nam. Thế nhưng đi được nửa đường thì xảy ra sự cố: Tàu dẫn đầu 674 bị hỏng máy, không hoạt động. Trước tình hình đó, tàu 675 phải buộc dây cáp để kéo tàu 674”.

Đối với Thuyền trưởng Thơm, do trước đó đã hai lần đi trinh sát quần đảo Trường Sa và một lần lái Tàu không số chở vũ khí tiếp tế miền Nam vào Trường Sa để tránh sự lùng sục của hải quân Mỹ nên ông là người có kinh nghiệm, thành thạo hải đồ Trường Sa. Vì vậy, tàu 673 trở thành tàu xung kích dẫn đầu. Nhưng do tàu này kéo tàu kia nên đoàn đi rất chậm. Trước tình thế cấp bách, nguy cơ đoàn không thể hoàn thành nhiệm vụ đúng kế hoạch, Thuyền trưởng Nguyễn Xuân Thơm đã xin Ban chỉ huy cho tàu mình tách đoàn, đi một mình để kịp tiếp cận đảo.

Tờ mờ sáng ngày 13-4, tàu 673 tiếp cận đảo Song Tử Tây. Thuyền trưởng Thơm tiến hành trinh sát đảo và lực lượng bố trí của địch. Ông trở lại báo cáo Ban chỉ huy đang chờ ngoài biển để xin ý kiến và bàn bạc kế hoạch tác chiến. Một giờ đêm, tàu 673 xung kích, hai tàu còn lại yểm trợ. Lực lượng đặc công đổ bộ vào đảo bằng 3 chiếc xuồng cao su, áp sát các lô cốt hướng Bắc, Đông, Đông Nam. Thấy rằng địch có thể lấy xuồng cao su của ta để trốn thoát nên thuyền trưởng Thơm đã nêu sáng kiến cho anh em xì hết xuồng cao su, gói lại chôn dưới cát. Để tránh đánh nhầm địch với quân ta, Ban chỉ huy quyết định không đánh vào lúc trời còn tối mà đánh vào lúc 5 giờ sáng bằng khẩu ĐKZ mở màn.

tau-khong-so-b
Thiếu tá Nguyễn Xuân Thơm – nguyên Thuyền trường tàu 673

Một loạt đạn vang lên. Không phải khẩu ĐKZ của ta mà là loạt súng PRC 25 của địch. 3 giờ 40 sáng. Ta đã bị lộ? Các chiến sĩ dồn mắt về phía đảo. Im ắng. Hóa ra lúc tên lính của địch đổi gác, tiếng động của một con vật làm hắn giật mình, xả loạt đạn về phía có tiếng động.

5 giờ, quả ĐKZ đầu tiên bắn vào chòi canh của địch. Nhưng do tầm ngắm quá cao, quả đạn trật mục tiêu rớt ngay xuống biển. Rút kinh nghiệm, quả thứ hai trúng ngay mục tiêu. Chỉ trong vòng 30 phút, đặc công của ta đã tóm gọn lực lượng của địch, làm chủ đảo: 33 tên bị bắt sống, 7 tên bị thương. Bỗng một tên bất ngờ chạy ra bãi cát, lấy xuồng máy chạy trốn sang đảo Song Tử Đông. Giữa đường, chẳng may hắn gặp ngay tàu của Thuyền trưởng Thơm đang neo ở đó nên hoảng hốt quay lại và bị tóm gọn.

Đặc công bố trí lực lượng giữ đảo. Các tù binh bị dẫn về tàu 673. 11 giờ đêm, các tàu còn lại mới cập đảo, đưa quân yểm trợ. Lá cờ giải phóng bay phấp phới trên đảo Song Tử Tây. Tàu 675 kéo tàu 674 và chở tù binh về Đà Nẵng rồi tiếp tục chở quân ra yểm trợ. Tàu 641 được điều động cùng tàu 673 chở lực lượng đặc công tiếp tục giải phóng các đảo còn lại. Bị mất đảo trọng yếu Song Tử Tây, địch hoang mang. Cùng lúc đó, thông tin chiến thắng của quân giải phóng ở chiến trường miền Nam từ đất liền đổ về dồn dập khiến chúng càng hoang mang, hoảng loạn. Do đó, quân ta nhanh chóng giải phóng các đảo Sơn Ca, Nam Yết, Trường Sa, Sinh Tồn, An Bang.

9 giờ sáng ngày 29-4, cờ giải phóng kiêu hãnh tung bay trên quần đảo Trường Sa. Non sông, biển đảo thu về một mối.

Theo QUỲNH NGA Quân đội nhân dân
Thanh Huyền (st)
bqllang.gov.vn

Quý trọng dân, tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chuyện kể rằng: Ngày 2 tháng 9 năm 1945, sau khi Bác Hồ đọc xong bản Tuyên ngôn Độc lập, ra về trên 1 chiếc xe màu đen, cửa kính hơi thấp. Một phóng viên đón đường, ghé máy ảnh sát vào cửa kính định chụp ảnh Bác. Bác Hồ xua tay không cho chụp và nói: “Chú quay máy ra ngoài kia mà chụp nhân dân!”.

quy-trong-danẢnh Chủ tịch Hồ Chí Minh (in lụa) được Đoàn chiếu bóng tỉnh Ninh Bình tặng cho nhân dân  Châu Thới để thờ tại Đền thờ Bác Hồ tháng 10/1972 (hiện nay, ảnh được lưu giữ trong phòng trưng bày hiện vật và hình ảnh của Bác tại Khu Di tích lịch sử – văn hóa Đền thờ Bác Hồ ở xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu)

Thế mới biết Bác Hồ quý trọng nhân dân biết nhường nào. Theo Bác Hồ, sức mạnh của Đảng nằm ngay trong mối quan hệ giữa Đảng với dân và dân với Đảng. Bác khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Khi sức dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì thành vô địch”. “Làm việc gì cũng phải có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được… Việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt”. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng được thể hiện rất cụ thể ở đạo đức, thái độ, tác phong trong quan hệ với dân ở từng cán bộ đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Cán bộ đảng viên phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải kính yêu nhân dân. Phải tôn trọng thật sự quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng”, ra lệnh, ra oai… phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo”.

Khi chọn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải lựa chọn “Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ là người lãnh đạo của họ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căm ghét và lên án gay gắt chủ nghĩa cá nhân: “Hiện nay chủ nghĩa cá nhân đang ám ảnh một số đồng chí. Họ tự cho mình là cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng, mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền giáo dục quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”.

Nhân dân là nguồn bổ sung lực lượng vô tận cho Đảng và luôn luôn tràn trề sức xuân.Trọng dân là thương dân, vì nhân dân mà phục vụ và biết coi trọng sức mạnh vĩ đại của nhân dân. Biết bao người con ưu tú trong giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động khác, đã trở thành đảng viên của Đảng. Quần chúng còn tham gia góp ý, phê bình sự lãnh đạo của Đảng với mong muốn Đảng luôn luôn trong sạch và vững mạnh để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đến đích cuối cùng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căm ghét thói cậy quyền, cậy thế, chia rẽ, kiêu ngạo, lãng phí, quan liêu, tham nhũng… vì nó là “Kẻ thù của nhân dân, của dân tộc, của Chính phủ. Nó là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, nó nằm trong tổ chức của ta, nó là giặc nội xâm để làm hỏng công việc của ta…”.

Bác còn dạy: “Cơm của chúng ta ăn, áo của chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền ơn xứng đáng cho nhân dân. Chớ vác mặt làm quan cách mạng để dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ…”. Tấm lòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng về nhân dân. Bác thương yêu và quý trọng nhân dân, trước hết là người lao động, nhân dân mình và nhân dân các nước. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, lòng thương yêu nhân dân, thương yêu nhân loại là vô hạn, và không bao giờ thay đổi.

Bác Hồ đã từng nói: “Chúng ta có trọng dân, yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. Tôn trọng và tin tưởng nhân dân là tôn trọng và tin tưởng những người làm ra lịch sử, những người sáng tạo ra của cải, vật chất, những người được sánh với Trời, Đất…”. Bác Hồ khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân, đó là tư tưởng được Bác Hồ vận dụng và phát triển trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc cũng như xây dựng đất nước. Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản của tư tưởng quý trọng dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được Đảng ta quán triệt vận dụng và phát triển. Bởi nhân dân là động lực, là trung tâm trong “chiến lược phát triển toàn diện”, trong công cuộc xây dựng xã hội mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, xã hội công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Võ Hoàng Nam
Nguồn: Liên hiệp Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bạc Liêu
Thu Hiền (st)/ Theo http://www.baclieu.gov.vn

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về lối sống và môi trường văn hóa

Lối sống văn hóa như Bác nói là được thể hiện trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt hàng ngày.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trong Diễn văn khai mạc Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, tổ chức tại Hà Nội ngày 21/11/1946, Bác Hồ đã nêu rõ: “Nền văn hóa mới của Việt Nam phải lấy hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc làm cơ sở; phải học lấy những điều tốt đẹp của văn hóa nước ngoài tạo ra nền văn hóa Việt Nam, sao cho văn hóa mới phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, phải làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập”(1).

Muốn làm được điều đó, nhiệm vụ đầu tiên và rất quan trọng là phải thường xuyên quan tâm xây dựng lối sống văn hóa và môi trường văn hóa.

Lối sống văn hóa như Bác nói là được thể hiện trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt hàng ngày như cách ăn mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc… Cốt lõi của lối sống văn hóa là nhân sinh quan, thế giới quan cách mạng, tiến bộ. Lối sống văn hóa mà Đảng ta, nhân dân ta xây dựng biểu hiện tập trung các giá trị của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đó là lối sống nhằm phát huy cao độ những giá trị tốt đẹp, bền vững của ông cha ta để lại như lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết cộng đồng, đức tính cần cù, giản dị, coi trọng đạo lý, nghĩa tình… Đó là lối sống lấy độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nội dung, mục tiêu hoạt động của cộng đồng và mỗi cá nhân.

Còn môi trường văn hóa là điều kiện để hình thành nhân cách con người văn hóa và lối sống văn hóa. Trong môi trường văn hóa có môi trường văn hóa xã hội, môi trường văn hóa cộng đồng, môi trường văn hóa gia đình… Môi trường văn hóa của nước ta xây dựng hiện nay bảo đảm cho con người được giao tiếp với thiên nhiên, sống trong một môi trường trong lành, hài hòa, bền vững. Đồng thời, ở đó con người với con người được sống bình đẳng, tự do, hạnh phúc, được phát huy mọi năng lực, sở trường, được thụ hưởng những giá trị chân – thiện – mỹ. Ở đó, cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái tiến bộ được tôn trọng và bảo vệ. Cái xấu, cái ác, cái phản văn hóa phải bị phê phán, loại trừ.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, những nội dung và các giải pháp về xây dựng lối sống văn hóa, môi trường văn hóa đã được Bác nêu một cách đầy đủ, cụ thể, giản dị mà sâu sắc. Người nói: “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ. Thí dụ ta phải bỏ hết tính lười biếng, tham lam. Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Thí dụ đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi.

Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm. Thí dụ: Ta phải tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân hơn khi trước.

Cái mới mà hay thì ta phải làm. Thí dụ: Ăn ở cho hợp vệ sinh, làm việc cho nó ngăn nắp(2).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về lối sống văn hóa còn có cả xây dựng lối sống văn minh, phù hợp với yêu cầu của thời đại. Muốn thực hiện điều này, theo Bác là phải thường xuyên quan tâm nâng cao dân trí, nhận thức đầy đủ vai trò của văn hóa, giáo dục con người “biết ham đọc”, bởi có học mới tiến bộ. Đồng thời, xây dựng lối sống văn hóa phải được nhận thức và thể hiện từ mỗi con người, trong từng gia đình, từng làng xóm, phố phường ra toàn dân mới có hiệu quả bền vững và phát huy tác dụng tích cực, rộng lớn, lâu dài.

Xây dựng môi trường văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh là luôn coi trọng và đề cao mối quan hệ hài hòa, sự kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng môi trường xã hội và môi trường tự nhiên. Trong môi trường xã hội phải coi trọng và luôn chăm lo giáo dục bồi dưỡng nhân cách phẩm chất con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bác Hồ nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con người xã hội chủ nghĩa”(3).

Trong môi trường xã hội đó con người phải được tự do, bình đẳng, được sống ấm no, hạnh phúc, nhân phẩm, quyền lợi chính đáng được bảo vệ, chủ nghĩa cá nhân phải bị phê phán, loại bỏ, tham ô, tham nhũng, lãng phí phải được ngăn chặn, con người luôn coi trọng giá trị đạo đức và biết tôn trọng pháp luật…

Cùng với việc quan tâm xây dựng môi trường xã hội, Bác Hồ sớm nhận thức và luôn coi trọng, chú ý tới bảo vệ môi trường tự nhiên.

Cách đây hơn nửa thế kỷ, Bác Hồ đã phát động “Tết trồng cây” và kêu gọi: “Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người”. Điều này cho thấy, Người đặt lợi ích của “trồng cây” và “trồng người” quan trọng như nhau và trong mối quan hệ gắn bó không thể tách rời của đời sống con người, của dân tộc. Người khẳng định: “Do Tết trồng cây mà nước ta ngày càng xanh tươi, nhân dân ta càng thêm giàu có”.

Ngày nay, môi trường sống đã trở thành vấn đề toàn cầu. Thế giới lấy ngày 5/6 hàng năm làm Ngày Môi trường thế giới, khuyến cáo mọi người, mỗi quốc gia hãy quan tâm và có trách nhiệm, hành động thiết thực nhằm bảo vệ môi trướng sống trên khắp hành tinh. Có thể nói, thông qua “Tết trồng cây” do Bác Hồ phát động đã cho thấy, Người chính là nguyên thủ quốc gia đầu tiên dự báo và đưa ra chiến lược bảo vệ môi trường.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng lối sống văn hóa và môi trường văn hóa, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp về phát triển văn hóa qua các thời kỳ, từ đó làm cho lối sống văn hóa, môi trường văn hóa nước nhà đã phát huy được những giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam, tính ưu việt của văn hóa xã hội chủ nghĩa được thể hiện, trở thành “cái nôi” nuôi dưỡng những phẩm chất và nhân tố tích cực trong cộng đồng xã hội, góp phần vào những thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ Quốc và hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn chỉ ra rằng, hiện nay lối sống văn hóa và môi trường văn hóa nước ta còn nhiều vấn đề đáng quan tâm, lo ngại, tồn tại ở nhiều nơi, cả ở nông thôn và thành thị. Chẳng hạn như hiện tượng tàn phá thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, hủy hoại môi sinh một cách nghiêm trọng diễn ra khá phổ biến, kéo dài không được ngăn chặn. Sự lãng quên vô thức của con người làm cho các di sản văn hóa nhiều nơi bị biến dạng, xuống cấp nghiêm trọng… Một số người, ở nhiều nơi kể cả trong trí thức, văn nghệ sĩ, thanh thiếu niên sống thiếu văn hóa, ăn mặc lố lăng, đầu tóc nhuộm vàng nhuộm đỏ, nói năng văng tục, đua đòi lãng phí, vứt rác bừa bãi, vi phạm pháp luật, thiếu tôn trọng kỷ cương, không tự giác chấp hành luật lệ giao thông… Môi trường gia đình, xã hội bị xuống cấp, có nơi, có lĩnh vực đáng lo ngại. Điều đó đang đặt ra cho chúng ta từ các tổ chức Đảng, đến cả hệ thống chính trị ở trung ương đến các cơ sở phải nhận thức đầy đủ tầm quan trọng, tính cấp bách của nhiệm vụ xây dựng lối sống văn hóa, môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay.

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng vừa qua đã giành mục VI nói về “Chăm lo phát triển văn hóa”, trong đó nhiệm vụ “củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng” được đưa lên đầu tiên với những nội dung cơ bản, cụ thể:

Một là: Đưa phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng văn hóa đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả. Nâng cao chất lượng phong trào xây dựng xã, phường, khu phố, thôn bản đoàn kết, dân chủ, văn minh, lành mạnh.

Hai là: Xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống, tạo sức đề kháng đối với các sản phẩm độc hại. Đấu tranh chống các biểu hiện phi văn hóa, suy thoái đạo đức, lối sống.

Ba là: Tiếp tục đẩy mạnh việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức, lối sống văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; ngăn chặn và đẩy lùi các hủ tục, bạo lực, gây rối trật tự công cộng, mại dâm, ma túy, cờ bạc…

Bốn là: Sớm có chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam, góp phần gìn giữ và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam, quan tâm bồi dưỡng, giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống, nếp sống mới đối với thế hệ trẻ.

Năm là: Đúc kết và xây dựng hệ thống giá trị chung của con người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân.

Sáu là: Tiếp tục phát triển nền văn hóa, nghệ thuật nước nhà tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, khẳng định cái đúng, cái đẹp, đồng thời lên án cái xấu, cái ác, bồi dưỡng lý tưởng, thị hiếu thẩm mỹ cho công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ… Đồng thời tập trung xây dựng môi trường, lối sống và đời sống văn hóa của mọi người dân, phát huy năng lực làm chủ của nhân dân…

Bước sang năm 2013, với quyết tâm và khí thế mới, chúng ta tin tưởng đất nước ta sẽ đạt được những thành tựu mới về các mặt, trong đó có thành tựu “củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng” theo tư tưởng Hồ Chí Minh mà Nghị quyết Đại hội XI đã chỉ ra, góp phần làm cho văn hóa nước nhà xứng đáng với vai trò “soi đường cho quốc dân đi” như lời Bác căn dặn, trong thời kỳ đất nước đổi mới và hội nhập./.

(1): Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử. NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 1993, tập 3, tr. 342
(2): Hồ Chí Minh: Toàn tập. NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2000, tập 5, tr. 94
(3): Hồ Chí Minh: Về đạo đức cách mạng. NXB Sự thật Hà Nội, 1976, tr. 97

TS. Nguyễn Xuân Thông
Nguyên Vụ trưởng Vụ Thư ký Tạp chí Cộng sản

Theo vov.vn
Huyền Trang
(st)
bqllang.gov.vn