Một lá thơ bằng tiếng Pháp của Bác Hồ

la-thu-tieng-phap-bTiễn Bác Hồ đi Pháp, hè 1946

Cuộc chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ, sau khi Chính phủ Hồ Chí Minh đã làm tất cả những gì có thể làm nhằm cứu vãn hòa bình. Nhưng người Pháp không muốn dễ dàng từ bỏ Đông Dương.

-*-

Ta gặp lại tướng Raul Salan, Tổng Chỉ huy các lực lượng viễn chinh Pháp tại Việt Nam – người đã nói chuyện rất nhiều lần với Chủ tịch Hồ Chí Minh, từng tháp tùng Bác Hồ đi Pháp năm 1946. Cuộc chiến Việt – Pháp bùng nổ và số mệnh buộc họ lại là đối thủ của nhau.

Một bức thư bằng tiếng Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đề ngày 10.6.1947 viết cho tướng Salan:

“Tướng quân thân mến!

Tôi vừa nhận được tin ông trở lại đất nước tôi. Năm ngoái (đối với tôi, tưởng chừng như mới chỉ hôm qua mà cũng như là đã nhiều thế kỷ), chúng ta đã cùng đi với nhau trên chặng đường dài. Chúng ta đã nói chuyện nhiều với nhau. Về rất nhiều vấn đề, về các nhân vật, các sự kiện, chúng ta đều thống nhất ý kiến. Nói tóm lại một câu, chúng ta là những người bạn rất thân.

Những tình huống ngoài sự mong muốn của chúng ta đã làm chúng ta trở thành những địch thủ của nhau. Thật rất đáng tiếc!

Tôi biết ông khá rõ để tin rằng, nếu ông đã có mặt ở đây và có những quyền hành cần thiết, những sự việc đau lòng đã có thể tránh được.

Tôi biết ông khá rõ để tin rằng, trong thâm tâm ông không đồng tình với cuộc chiến tranh huynh đệ này, chẳng giải quyết được cái gì cả mà chỉ tổn hại đến tình thân thiện và chậm lại sự hợp tác có tính chất xây dựng giữa hai nước chúng ta.

Nhưng thôi! Đối với tôi, bổn phận thiêng liêng của người yêu nước ra lệnh cho tôi phải chiến đấu vì Tổ quốc và vì đồng bào của mình. Đối với ông, chức trách quân nhân ra lệnh cho ông làm điều mà trái tim ông phản đối.

Vì chúng ta đã bắt buộc phải đánh nhau, vậy thì hãy là những hiệp sỹ cao thượng và những địch thủ đứng đắn, trong khi chờ đợi lại trở thành bạn của nhau. Chúng ta đã từng là bạn. Về mặt cá nhân, chúng ta vẫn còn là bạn. Ông có muốn thế không?

Nhân danh tình yêu nhân loại và nhân danh tình bạn giữa cá nhân chúng ta, tôi đề nghị ông hãy nghiêm cấm quân đội Pháp, không được giết hại thường dân, cưỡng hiếp phụ nữ, thiêu cháy những xóm làng không có gì tự vệ, hủy diệt các nhà thờ, đền chùa như đã làm cho mãi tới nay.

Tôi đảm bảo với ông, các quân nhân và dân sự người Pháp trong tay chúng tôi đều được đối xử rất tử tế. Tôi mong, người của chúng tôi cũng được các ông đối xử tương tự.

Ông Đại úy Các-chi-ê tốt bụng còn đi theo ông không?

Nhờ ông chuyển lời chào của tôi tới bà Xa- lăng và những cái hôn âu yếm của tôi tới hai cháu trai lớn và cháu bé mới sinh của ông bà.

Mong tướng quân hãy tin vào những tình cảm đặc biệt nhất của tôi”.

Một bức thư “địch vận” cực kỳ khéo léo, được viết bằng lời văn Pháp rất uyên bác, thể hiện phong cách và tình cảm của Hồ Chí Minh. Tướng Xa-lăng cho biết: “Sau khi đọc xong, một hoài niệm tràn ngập trong tôi”…

Theo trươngtansang.net
Kim Yến (st)

Bác Hồ một tình yêu bao la (Tiếp theo và hết)

Bài 2: Người sống mãi cùng đất nước

Sau khi Bác mất (2-9-1969), thể theo nguyện vọng của đồng bào và chiến sĩ cả nước, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng ta đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch để cho ngày thống nhất đồng bào và chiến sĩ miền Nam, cùng các thế hệ con cháu của cả nước mai sau được nhìn thấy Bác. Mấy chục năm qua, lớp lớp cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nỗ lực vượt qua muôn vàn khó khăn, phức tạp nhưng hết sức thiêng liêng, cao cả để đêm ngày gìn giữ và bảo vệ thi hài Bác, nhất là ở những thời điểm mà tình hình quốc tế có nhiều nhạy cảm.

Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một đơn vị đặc biệt, làm một nhiệm vụ chính trị đặc biệt, chịu trách nhiệm chính trị lớn lao trước Đảng, Nhà nước, quân đội và đồng bào, chiến sĩ cả nước, người Việt Nam ở nước ngoài cùng bầu bạn quốc tế, giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bên cạnh những cố gắng và sự hy sinh thầm lặng của cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ làm nhiệm vụ “đặc biệt” ấy, là sự quan tâm thường xuyên của Bộ Chính trị, Nhà nước, Chính phủ và Quân ủy Trung ương – Bộ Quốc phòng. Việc giữ gìn thi hài Bác hơn 40 năm qua cũng như việc góp phần xây dựng Công trình Lăng Bác, chúng ta không thể không nhắc tới và biết ơn sự giúp đỡ trực tiếp, to lớn và quý báu của Đảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô trước đây cũng như Chính phủ Liên bang Nga ngày nay. Các giáo sư, tiến sĩ, viện sĩ, chuyên gia của bạn đã đồng hành với chúng ta ngay từ những giờ phút đầu tiên, sau khi trái tim Bác vừa ngừng đập đến những năm tháng đất nước còn chiến tranh và cho đến hôm nay. Các chuyên gia Nga coi đó vừa là tình cảm, trách nhiệm nhưng cũng là sự tôn kính, quý mến của họ đối với vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người bạn lớn của nhân dân Xô-viết trước đây và ngày nay là Liên bang Nga.

Bac Ho 1 tinh yeu bao la 2.1Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương,Trưởng ban Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đang kiểm tra đội danh dự  – Ảnh: Minh Trường.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Việc giữ gìn và bảo vệ thi hài Bác chúng ta làm rất tốt. Đến nay, thi hài của Người vẫn giữ được những nét đặc trưng như lúc sinh thời”. Trước năm 1992, công việc giữ gìn thi hài Bác do chuyên gia của bạn đảm nhiệm nhiều phần việc. Từ năm 1992, do những thay đổi ở nước Nga, chúng ta đã hợp tác trực tiếp với Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va, mời bạn sang giảng dạy và hướng dẫn kinh nghiệm về chuyên ngành bảo quản thi hài; phía Việt Nam yêu cầu hợp tác vấn đề gì, bạn đều đáp ứng công việc ấy. Sau nhiều năm được sự giúp đỡ của bạn, cán bộ, nhân viên Viện 69 đã nỗ lực học hỏi, sáng tạo, nhanh chóng nắm bắt được công nghệ, vừa làm chuyên môn, vừa nghiên cứu khoa học phục vụ giữ gìn thi hài. Đến nay, Viện 69 đã tự đảm nhiệm hoàn toàn các công việc, từ làm thuốc thường xuyên đến làm thuốc lớn trong tu bổ định kỳ. Ngoài ra, Viện 69 đã hoàn toàn làm chủ được công nghệ pha chế dung dịch. Từ năm 1992 đến năm 2003, chúng ta mua dung dịch của bạn và vận chuyển từ Mát-xcơ-va về Việt Nam. Sau năm 2003, khi Viện 69 đã hoàn toàn nắm được quy trình pha chế, phía bạn đã đồng ý chuyển giao quy trình công nghệ cho Việt Nam đảm nhiệm, mở ra những thuận lợi mới cho công tác bảo quản, gìn giữ. Nhiều năm qua, Viện 69 đã dày công bồi dưỡng đào tạo một đội ngũ cán bộ chuyên ngành khá dồi dào, 5 tiến sĩ và 5 thạc sĩ chuyên ngành được đào tạo ở Nga và đào tạo cơ bản trong nước. Viện có 2 Thầy thuốc Nhân dân, 4 Thầy thuốc Ưu tú, còn lại đa số là bác sĩ, kỹ sư, cử nhân ở độ tuổi dưới 30 nhưng có chuyên môn khá vững. Đội ngũ kỹ thuật Viên của viện nhiều người là kỹ thuật viên cao cấp có tay nghề cao. Hằng năm, Viện thực hiện nhiều đề tài khoa học cấp Bộ và cấp Nhà nước về giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Chúng tôi đã gặp một trong những cán bộ khoa học còn khá trẻ của viện, đó là Trung tá Phạm Văn Vương, Đội trưởng Đội y tế đặc biệt – Đơn vị trực tiếp làm thuốc giữ gìn thi hài Bác. Năm 1989, chàng trai quê Lý Nhân (Hà Nam) nhập ngũ vào Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và là chiến sĩ của Viện 69. Trong 3 năm làm nghĩa vụ quân sự, Vương đã không ngừng phấn đấu rèn luyện, được lãnh đạo viện cử đi học Trung cấp quân y. Khi ra trường Vương được trở về “mái nhà xưa” của mình và chàng trai xứ đồng chiêm trũng đã không phụ lòng của mọi người trong Viện. Anh phấn đấu vươn lên, tự học tiếng Nga, tiếng Anh và học tại chức Trường Đại học Bách khoa. Năm năm liền anh là Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, năm 2007 là Chiến sĩ thi đua cấp toàn quân, năm 2010 anh được tặng danh hiệu Thầy thuốc Ưu tú. Giờ đây, người Đội trưởng ấy đang phụ trách những phần việc kỹ thuật phức tạp của đơn vị . Vương tâm sự: “Tôi luôn tự hào là người chiến sĩ của Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Viện 69. Niềm tự hào này không chỉ của cá nhân tôi mà là cả của gia đình và quê hương nữa! Được sống gần Bác, tôi thấy mình quá nhỏ bé nên càng phải ra sức phấn đấu, học tập, rèn luyện theo lời Người dạy”. Trong công việc, Vương luôn có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, phục vụ trực tiếp cho nghiên cứu đề tài cấp Nhà nước năm 2003 của Viện 69.

Bac Ho 1 tinh yeu bao la 2.2Chiến sĩ tiêu binh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Trọng Hải.

Nhằm đáp ứng tốt nhất cho việc đồng bào và chiến sĩ cả nước, người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế về viếng Bác, chúng tôi được biết, sau khi Nhà Quốc hội hoàn thành, Quảng trường Ba Đình sẽ được mở rộng về phía Nam để không gian Quảng trường trước Lăng được rộng rãi hơn và sẽ được chỉnh trang lại. Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phối hợp với thành phố Hà Nội tổ chức một số tuyến phố đi bộ xung quanh Lăng (giai đoạn 1). Trên các tuyến phố đi bộ sẽ tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật đường phố, phục vụ đồng bào, khách quốc tế về Lăng viếng Bác hoặc tham quan Cụm Di tích lịch sử-văn hóa Ba Đình. Nhất là về mùa hè, những đêm trăng trong gió mát, người dân Thủ đô thường về đây để ngắm Lăng, tận hưởng bầu không khí trong lành, yên tĩnh trên Quảng trường và xem những ca đổi gác của các chiến sĩ tiêu binh. Thành phố Hà Nội cũng sẽ hỗ trợ kinh phí để lát hè, lắp dựng hàng rào an ninh tuyến phố đi bộ. Trên Khu Di tích Đá Chông, Ba Vì (còn gọi là K9), Ban Quản lý Lăng cũng dự kiến mở cửa tự do cho nhân dân và khách quốc tế vào thăm quan trong dịp kỷ niệm 124 năm Ngày sinh của Người (19-5-2014). Hiện nay, một số công trình đang tích cực thi công nhằm phục vụ tốt nhất cho đồng bào, chiến sĩ cả nước và bè bạn quốc tế khi về nơi đây. Sắp tới, một hệ thống “Mái che đường viếng” di động vừa hiện đại, vừa đẹp đẽ sẽ được thay thế các mái che hiện nay. Đây là món quà mà Đảng bộ và nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh dâng tặng. “Mái che đường viếng” sẽ được kéo dài từ khu tập kết vào viếng Người đến cửa Lăng và từ sau khi ra khỏi Lăng về nhà sàn của Bác.

Gần 40 năm kể từ ngày Lăng Bác mở cửa đón đồng bào và chiến sĩ, người Việt Nam ở nước ngoài và bè bạn quốc tế vào viếng Bác, là từng ấy năm cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ, các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ lòng tôn kính và đời đời nhớ ơn Người – Vị Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân ta. Cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ trong đơn vị hết sức tự hào được Đảng, Nhà nước, quân đội và đồng bào cả nước tin cậy giao cho nhiệm vụ thiêng liêng cao cả ấy. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, những người lính ở đây cũng luôn thể hiện lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc và nhân dân; giữ gìn tuyệt đối an toàn lâu dài thi hài Bác và Công trình Lăng của Người. Lòng trung thành và tình yêu kính trọng Bác luôn là động lực giúp cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ, các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh khắc phục mọi khó khăn, vươn lên làm chủ khoa học công nghệ để phục vụ việc bảo vệ và giữ gìn thi hài Bác.

Năm tháng sẽ trôi qua, Quảng trường Ba Đình vẫn luôn lộng gió và đầy ắp nắng vàng, những dòng người từ mọi miền Tổ quốc cũng như nhiều bạn bè từ khắp năm châu liên tục về viếng Người. Mỗi lần về với Bác, mỗi người đều nhận thấy gương mặt Bác vẫn hồng hào, Người như đang nằm nghỉ thanh thản sau mỗi ngày làm việc. Các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau luôn cảm nhận trong trái tim mình: Người vẫn sống mãi cùng non sông đất nước.

Hà Nội, tháng 5 năm 2013

———–

Theo LÊ QUÝ HOÀNG
Báo Quân đội nhân dân
Huyền Trang (st)

Bác Hồ, một tình yêu bao la (Bài 1)

Bài 1: Dòng người đi trong thương nhớ

Nhìn dòng người nối dài tưởng như vô tận lặng lẽ nhích dần từng bước để vào Lăng viếng Bác, bất giác trong tôi nhớ tới bài thơ “Viếng Lăng Bác” của Viễn Phương: “… Ngày ngày mặt trời đi qua trên Lăng/ Thấy một mặt trời trong Lăng rất đỏ/ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ/ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…”.

Nơi cả nước hướng về

Một ngày, tôi hòa cùng dòng người vào Lăng viếng Bác. Dẫu đã bao lần vào viếng Người nhưng lần nào tôi cũng thấy trong lòng bồi hồi, xúc động. Nghe tiếng xào xạc của những khóm tre bên Lăng, tiếng rì rào nhè nhẹ của những chùm hoa dâm bụt đung đưa bên lối vào nhà sàn, tôi thấy như đâu đây dáng hình của làng quê Việt Nam với tiếng ru hời luôn ở bên cạnh Người. Trong dòng người về viếng Bác, tôi bắt gặp những cụ già, em bé, các cựu chiến binh, thương binh, bệnh binh và người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là bè bạn quốc tế từ các châu lục đến rất đông. Trong số họ, có những người đã vào Lăng viếng Bác một đôi lần, thậm chí rất nhiều lần, nhưng cũng có những người chỉ mới đến lần đầu. Song, tất cả đều có một điểm chung là ai cũng thành kính và xúc động. Nhiều người khi nhẹ bước qua nơi Bác nằm nghỉ, cứ muốn dừng chân lại ngắm thật lâu, mắt ai cũng đỏ hoe. Với người Việt Nam thì muốn ngắm thật kỹ vị lãnh tụ của dân tộc. Người nằm đó, gương mặt hồng hào như vừa trải qua một ngày làm việc, giờ đang yên giấc ngủ. Người vẫn mặc bộ ka-ki quen thuộc. Với bè bạn quốc tế, ai cũng muốn được ngắm nhìn kỹ vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa lớn của Việt Nam và cao hơn cả, đó là người bạn gần gũi của tất cả các dân tộc đang đấu tranh vì độc lập tự do, hòa bình cho nhân loại mà tên tuổi của Người đã lan tỏa khắp năm châu.

Trong những cuốn sổ ghi cảm tưởng ở Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được lưu giữ, nhiều cuốn đã ngả màu theo năm tháng, có những cuốn còn thơm mùi mực vừa mới ghi. Những người phục vụ ở đây kể rằng, có những người từ miền Nam lần đầu ra viếng Bác, khi viết những dòng cảm tưởng, vừa viết, mắt vừa rưng rưng lệ, họ sụt sùi mãi mới viết xong. Có những cựu chiến binh cứ cắn bút ngồi mãi, tay run run chỉ viết được đôi dòng rồi nức nở khóc không viết được nữa vì sự xúc động trào dâng; có bà má ở Nam Bộ không biết chữ, nhờ con cháu viết giùm, má bảo, được ra thấy Người là má toại nguyện về với tổ tiên rồi…

Bac Ho 1 tinh yeu bao la 1.1Khách quốc tế và các cựu chiến binh vào Lăng viếng Bác. Ảnh: Minh Trường.

Ông Võ Minh Bình, một cựu tù của Hội tù yêu nước thành phố Đà Nẵng viết: “Chúng con xin thắp nén hương lòng thành kính dâng lên Bác kính yêu. Chúng con nguyện sống xứng đáng và làm theo lời Người dạy, ra sức cống hiến sức mình góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh để thỏa lòng Người trước lúc đi xa…”.

Từ thành phố Hồ Chí Minh, anh Lê Thanh Xuân ở huyện Củ Chi, tâm sự: “Được về viếng Bác, chúng con thật là sung sướng. Bác ơi! Những đứa con từ ngục tù, từ chiến trận trở về đây, nhiều người ngã xuống nhưng chưa từng gặp Bác, thậm chí có người chưa được ngắm nhìn ảnh của Bác. Chúng con xin hứa với Bác nguyện suốt đời làm theo lời Người dạy, tiếp tục đem công sức, trí tuệ của mình phục vụ đất nước, đi theo con đường mà Bác đã vạch ra cho dân tộc…”. Ông Võ Như Hùng, một Việt kiều ở Pháp về viếng Bác, cho biết: “Phong cách hòa đồng, giản dị; những câu chuyện Bác đi thăm bà con trong thời gian Người ở Pháp… vẫn được bà con kiều bào thường xuyên kể lại với nhau trong các cuộc gặp mặt, đến nỗi bọn trẻ chúng tôi ngày đó, đứa nào cũng thuộc lòng nội dung câu chuyện”.

Gần bốn mươi năm trôi qua, kể từ ngày Lăng Bác chính thức mở cửa cho đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế vào viếng Người, đến tháng 4-2013 đã đón tiếp hơn 40 triệu lượt người, trong đó có hơn 5 triệu lượt khách quốc tế; phục vụ chu đáo hơn 400 buổi Lễ viếng cấp Nhà nước và các Đoàn Nguyên thủ quốc gia; gần 1000 buổi sinh hoạt chính trị – văn hóa trước Lăng Bác; phục vụ hơn 38 nghìn đoàn đặt vòng hoa; 3,9 nghìn lượt xe đẩy; nhận chuyển trả hơn 1,2 triệu lượt máy các loại. Nhiều đơn vị bộ đội trước ngày lên đường làm nhiệm vụ, nhiều buổi lễ tuyên thệ của những đoàn viên, thanh niên; nhiều doanh nghiệp, đơn vị, cơ quan, trường học, địa phương trong cả nước đã hội tụ về đây, báo cáo với Bác về những việc đã làm được và nhận thiếu sót với Người những việc còn chưa thấu đáo của mình. Nhiều đôi trai gái trước ngày tổ chức lễ kết hôn, đã đến trước Lăng Người bày tỏ lòng biết ơn và xin hứa sẽ làm tốt trách nhiệm, bổn phận của họ đối với gia đình và xã hội. Hàng trăm đoàn quốc tế đến thăm Việt Nam, trước khi làm việc với Đảng và Nhà nước ta đã bồi hồi, xúc động và thành kính đến đặt vòng hoa trước Lăng viếng Người.

Giữ yên giấc ngủ của Người

Hai mươi giờ ngày 18-7-1975, thi hài Bác từ K9 được đón về Lăng của Người tại Thủ đô Hà Nội sau 6 năm kể từ ngày Bác đi xa. Đồng bào, chiến sĩ Thủ đô nói riêng và cả nước nói chung nhớ mãi ngày 29-8-1975, lễ khánh thành Lăng Bác đã được tổ chức trọng thể tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội. Hôm ấy, hai chiến sĩ tiêu binh là Nông Văn Thành và Nguyễn Văn Ri được vinh dự đảm nhiệm ca đứng gác đầu tiên trước Lăng Bác.

Đại tá Nguyễn Hoàng Diệu, Chính ủy Đoàn 275 cho biết: “Hiện nay, anh em đứng trực trong thời gian viếng Bác là 30 phút, ngoài giờ viếng là 60 phút. Nói thì vậy, để đứng được 60 phút thì họ phải luyện tập đứng gấp 3 lần số thời gian ấy. Lúc đầu là tập đứng 30 phút, sau nâng dần lên 60 phút, rồi 90 phút, 120 phút và cuối cùng là 180 phút”. Chiến sĩ Nguyễn Văn Chính, quê ở Nghi Lộc, Nghệ An “khoe” với chúng tôi: “Hằng ngày, chúng tôi luyện tập đứng giữa nắng hè oi bức, cái nóng trên trời không bằng cái nóng hừng hực bốc lên từ sân bê tông, mồ hôi cứ túa ra thấm đẫm cả áo quần, những giọt mồ hôi nhỏ xuống đầy mặt, nhưng chúng tôi vẫn đứng nghiêm trang và không hề cử động”.

Chúng tôi được “thực mục sở thị” các chiến sĩ cảnh vệ Đoàn 275 đang luyện tập, ở đây họ được uốn nắn từng chi tiết nhỏ nhất không cho phép sai sót. Binh nhì Nguyễn Vĩnh Nghĩ, quê ở Đà Sơn (Đô Lương, Nghệ An) trải lòng: “Được làm người chiến sĩ gác cho Bác yên nghỉ, chúng tôi thấy thật vinh dự và tự hào. Vì vậy, chúng tôi cần phải gắng tập luyện để xứng với vinh dự đó”. Còn chiến sĩ Đinh Trung Hải, quê xã Ngọc Lập (Yên Lập, Phú Thọ) thổ lộ: “Nghe tin tôi nhập ngũ về Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, bố mẹ tôi vui lắm, cả thôn xóm cũng tự hào. Mọi người luôn động viên tôi phải hoàn thành thật tốt nhiệm vụ. Tôi ước ao có một ngày nào đó, tôi sẽ đón bố mẹ về Thủ đô và trực tiếp đưa bố mẹ vào Lăng viếng Bác”.

Bac Ho 1 tinh yeu bao la 1.2Một ca đổi gác của các chiến sĩ tiêu binh Đoàn 275. Ảnh: Minh Trường.

Bên cạnh nhiệm vụ canh gác, những người lính cảnh vệ còn nêu gương sáng về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, đó là Hạ sĩ Phạm Công Hoan trong lúc đang làm nhiệm vụ ở khu vực phía Nam đường Hùng Vương, thấy một phụ nữ bị tên cướp giật chiếc túi. Tên cướp chạy về phía đường Hùng Vương, Hoan liền đuổi theo quật ngã, lấy lại chiếc túi trả về người đã mất và bàn giao tên cướp cho công an khu vực xử lý. Còn Hạ sĩ Lê Chí Công, vào dịp cả nước kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội, anh đã nhặt được túi xách của một du khách người Ô-xtrây-li-a, trong đó có hơn 3.500USD cùng nhiều giấy tờ quan trọng, Công liền báo cáo đơn vị và số tài sản trên đã được trả lại cho người đánh mất trong sự khâm phục của du khách. Khi Công vừa hết nghĩa vụ quân sự, một ngân hàng ở Hà Nội biết tin đã tuyển dụng Công vào làm việc.

Ngày ngày, hàng vạn người đổ về Lăng viếng Bác, ngày bình thường ít nhất cũng phải hơn một vạn, ngày nghỉ hoặc ngày lễ lên tới gần 2 vạn. Có ngày, lượng người về viếng Bác nối dài từ cửa vườn Bách Thảo (đường Hoàng Hoa Thám) sang phố Ngọc Hà đến cửa khu nhà đón tiếp. Đặc biệt như ngày 2-9-2012, số người về viếng Bác lên tới 33.957 lượt người. Trong dịp 30-4 và 1-5 vừa qua, đã có hơn 74.000 lượt người vào viếng Bác, trong đó có 10.705 lượt khách nước ngoài. Đặc biệt, riêng ngày 30-4 đã có 23.893 lượt người vào Lăng viếng Bác, thăm nơi ở và làm việc của Người. Những ngày này, cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ, các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc khá căng thẳng, nhưng mọi người đều hoàn thành xuất sắc công việc, không mảy may sơ suất.

Bên cạnh việc phục vụ cho nghi lễ chào cờ và bảo vệ, giữ gìn thi hài Bác, còn có Đoàn 195 – Đơn vị chuyên bảo đảm vận hành hệ thống thiết bị kỹ thuật Công trình Lăng, bảo đảm các thông số môi trường trực tiếp phục vụ nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác và lễ viếng Người. Đại tá Dương Hoàng Toán, Chính ủy Đoàn 195 cho biết: “Cán bộ, chiến sĩ trong đoàn luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường làm chủ công nghệ tiên tiến, điều khiển và vận hành tốt thiết bị, phục vụ cho công việc bảo quản, giữ gìn lâu dài thi hài Bác”.

Kể từ ngày 19-5-2001, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức Lễ chào cờ quốc gia trước cửa Lăng Bác. Mùa hè từ 6 giờ và mùa đông là 6 giờ 30 phút; lễ hạ cờ vào lúc 21 giờ hằng ngày. Ngày nào cũng vậy, bất kể thời tiết thế nào, các chiến sĩ cảnh vệ vẫn quân phục trang nghiêm làm lễ chào cờ. Nhân dân đến tham gia rất đông, anh Lý Xuân Hựu ở quận Ba Đình tâm sự: Nhà tôi cách đây khá xa, nhưng sáng nào tôi cũng ra Quảng trường dự lễ chào cờ và tập thể dục. Thú thật, không riêng gì tôi mà mọi người đều có tâm trạng chung, ai cũng thấy lòng mình lâng lâng, rạo rực khi nhìn lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió với lời hát Quốc ca hùng tráng.

Hơn 40 năm giữ gìn thi hài Bác và gần 40 năm bảo vệ, quản lý vận hành Công trình Lăng của Người, cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ, các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tự hào được làm nhiệm vụ chính trị đặc biệt mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

———–

Theo LÊ QUÝ HOÀNG
Báo Quân đội nhân dân
Huyền Trang (st)

Bàn về phẩm chất tuyệt đối trung thành với Đảng, kính trọng, lễ phép với nhân dân – đối với việc xây dựng “Tư cách người Công an cách mệnh”

PGS.TS. Đỗ Ngọc Ninh (Học Viện Xây Dựng Đảng)
Trong lịch sử đấu tranh giành độc lập và tự do của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân tinh hoa của văn hoá dân tộc và nhân loại. Người đã để lại cho Đảng và dân tộc ta tài sản tinh thần to lớn – Tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong quá trình giáo dục, rèn luyện Đảng ta và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là từ khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, mỗi lời nói, mỗi việc làm của Người đều tác động mạnh mẽ đến cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đó là sự thể hiện những phẩm chất đạo đức cơ bản của đạo đức cách mạng: tuyệt đối trung thành với Đảng; tận tụy, kính trọng và lễ phép với nhân dân, yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng.

CAND là một công cụ chuyên chính trọng yếu của Đảng và Nhà nước ta. Trong điều kiện hiện nay, để xứng đáng với vai trò đó, lực lượng CAND phải được xây dựng trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại.

Việc chăm lo giáo dục, rèn luyện cho CBCS về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trước hết là trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và kính trọng, lễ phép với nhân dân là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Để phẩm chất này, thực sự là một nội dung cốt yếu của tư cách CBCS Công an trong điều kiện hiện nay, xin trao đổi một số ý kiến về giải pháp thực hiện như sau:

Thứ nhất, nhận thức sâu sắc, có quyết tâm chính trị cao trong rèn luyện phẩm chất tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước Việt Nam XHCN.

“Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành” là một trong 6 điều Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy CAND, được nêu lên trong thời điểm Đảng ta tạm thời không công khai hoạt động. Vì vậy, tuyệt đối trung thành với Chính phủ đã bao hàm sự tuyệt đối trung thành với Đảng. Đây là biểu hiện phẩm chất hàng đầu của người cộng sản, người cách mạng, đi theo lý tưởng của Đảng.

Bác Hồ đến thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sỹ Cảnh vệ (Xuân Quý Mão 1963).

Trong điều kiện đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mỗi người dân là một chiến sĩ với khẩu hiệu hành động “Tất cả để chiến thắng” với phẩm chất tuyệt đối trung thành với Đảng, hành động chiến đấu, công tác là hành động “vì nước quên thân”, “vì nhân dân phục vụ”, không sợ hy sinh, gian khổ.

Để phẩm chất trung thành với Đảng được thể hiện bằng hành động cách mạng thực tiễn trong điều kiện hiện nay, CBCS Công an cần học tập một cách nghiêm túc, nhận thức sâu sắc nội dung tấm gương phẩm chất đạo đức “Suốt đời phấn đấu quên mình vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân” trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.

Từ đó, có nhận thức đúng đắn, sâu sắc phẩm chất vì nước quên thân trong điều kiện hiện nay: Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có sự nhất trí cao, niềm tin sắt đá vào đường lối, nghị quyết và sự lãnh đạo của Đảng…

Thứ hai, thường xuyên rèn luyện tinh thần gương mẫu, sự cần cù, bền bỉ trong công tác, chiến đấu, gắn bó mật thiết với nhân dân.

Tinh thần gương mẫu, sự cần cù, bền bỉ trong công tác, chiến đấu là một trong những nội dung cơ bản của phẩm chất đạo đức người Công an cách mạng. Điều này chỉ có thể được hình thành, củng cố và phát triển qua học tập, rèn luyện bền bỉ, lâu dài trong thực tiễn học tập, công tác và gắn bó mật thiết với nhân dân.

Qua đó, mỗi CBCS gần dân, hiểu dân và thương yêu nhân dân hơn, học tập được nhiều điều bổ ích từ nhân dân, được nhân dân rèn giũa phẩm chất, đạo đức cách mạng, việc kính trọng, lễ phép với nhân dân ngày càng phát triển và củng cố.

Để rèn luyện tinh thần gương mẫu, sự cần cù, bền bỉ trong công tác, chiến đấu, kính trọng, lễ phép với nhân dân, mỗi CBCS cần xác định động cơ, thái độ đúng đắn trong học tập, công tác và trong tiếp xúc, quan hệ với nhân dân; chấp hành nghiêm chỉnh sự phân công của tổ chức; chủ động, sáng tạo vượt qua khó khăn thách thức, nhất là những tác động của mặt trái kinh tế thị trường, những cám dỗ của vật chất; đặc biệt cảnh giác với những luận điệu phản động và những “viên đạn bọc đường” của các thế lực thù địch, tuyên truyền, giáo dục nhân dân cảnh giác với những âm mưu, thủ đoạn ấy.

Đồng thời, cần hành động cụ thể tỏ rõ sự gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa vào dân để tiến hành công việc, vì nhân dân phục vụ, nguyện làm “người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Sinh viên Học viện ANND nỗ lực học tập, rèn luyện để trở thành những sỹ quan giỏi chuyên môn, tận tụy và trung thành. (Ảnh: Duy Hiển).

Thứ ba, nâng cao nhiệt tình cách mạng đi liền với ra sức học tập nâng cao trình độ trí tuệ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao là thước đo quan trọng hàng đầu phẩm chất tuyệt đối trung thành với Đảng, kính trọng, lễ phép với nhân dân

Trách nhiệm, ý chí quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao là sự thể hiện phẩm chất, đạo đức tuyệt đối trung thành với Đảng, kính trọng, lễ phép với nhân dân của CBCS Công an.

Trách nhiệm, ý chí quyết tâm ấy phải được biến thành nhiệt tình cách mạng trong giai đoạn hiện nay. Nhiệt tình cách mạng sẽ thôi thúc, cổ vũ CBCS dồn trí tuệ, sức lực vượt qua khó khăn gian khổ, thách thức quyết liệt, thắng không kiêu, bại không nản.

Trước diễn biến phức tạp của tình hình chính trị thế giới và sự chống phá quyết liệt, điên cuồng của các thế lực thù địch, những biến đổi phức tạp và khó khăn tạm thời của đất nước hiện nay, mỗi CBCS Công an cần có niềm tin sắt đá vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của công cuộc đổi mới, sự tất thắng của CNXH, từ đó có suy nghĩ và hành động đúng đắn theo quan điểm, đường lối của Đảng, cùng toàn Đảng, toàn dân vượt qua khó khăn thách thức đưa công cuộc đổi mới tiếp tục phát triển.

Để phẩm chất tuyệt đối trung thành với Đảng, kính trọng, lễ phép với nhân dân được củng cố và phát triển trong điều kiện hiện nay, mỗi CBCS còn phải có trình độ trí tuệ và phải biết đưa trình độ trí tuệ đó vào hoạt động hằng ngày, thể hiện bằng các hoạt động đạt kết quả cao về thực hiện nhiệm vụ được giao. Đó là, tri thức về khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; khoa học xã hội – nhân văn, khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên ngành, kinh tế thị trường, luật lệ quốc tế…

Nhiệt tình cách mạng kết hợp với trình độ trí tuệ của mỗi CBCS Công an phải được thể hiện bằng hành động thực tế hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao cho, là thước do quan trọng hàng đầu phẩm chất tuyệt đối trung thành với Đảng, kính trọng, lễ phép với nhân dân của mỗi CBCS.

Thứ tư, xây dựng các tổ chức đảng và đơn vị cơ sở trong CAND trong sạch vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, đủ sức định hướng suy nghĩ và hành động cho CBCS.

Để phẩm chất tuyệt đối trung thành với Đảng, kính trọng, lễ phép với nhân dân được thể hiện bằng hành động cách mạng thực tiễn phụ thuộc rất lớn và được quyết định chủ yếu bởi mỗi cán bộ, đảng viên được chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết, song các tổ chức đảng và đơn vị cơ sở cũng có vai trò và trách nhiệm không nhỏ.

Hoạt động của CBCS gắn liền với hoạt động của cơ quan, tổ chức đảng ở nơi đảng viên học tập, công tác và một phần gắn với tổ chức đảng nơi cư trú. Các tổ chức đảng, nhất là trong CAND trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao sẽ định hướng đúng đắn sự suy nghĩ và hành động của mỗi CBCS, phân công công việc đúng sở trường, năng lực, thế mạnh của mỗi người; lãnh đạo các tổ chức, đoàn thể ở đơn vị hoạt động có hiệu quả; tổ chức và duy trì các phong trào cách mạng của quần chúng; tạo điều kiện thuận lợi và động viên CBCS tự tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng…

Đây là môi trường thuận lợi để CBCS rèn luyện phẩm chất đạo đức tuyệt đối trung thành với Đảng, kính trọng và lễ phép với nhân dân.

Với trách nhiệm cao cả trước vận mệnh của đất nước và dân tộc, tình cảm thiêng liêng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi CBCS CAND các cấp đã xác định quyết tâm chính trị cao thực hiện nghiêm túc 6 điều dạy của Người đối với CAND.

Điều này, có ý nghĩa rất quan trọng đối với lực lượng CAND trong việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và thực hiện Nghị quyết số 12 – NQ/TW (Hội nghị Trung ương 4, Khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” trở thành nền nếp, có hiệu quả, thể hiện phẩm chất tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, tận tụy, kính trọng và lễ phép với nhân dân; góp phần tích cực cùng toàn dân tộc phấn đấu xây dựng thành công CNXH, đưa đất nước Việt Nam từng bước tiến đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Đ.N.N.
cand.com.vn

Khánh thành bia kỷ niệm 100 năm Bác Hồ tới Anh

Khanh thanh bia ky niem 100 nam Bac Ho toi AnhBạn bè Anh, cán bộ cơ quan đại diện Việt Nam và du học sinh bên tấm bia kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ đến Anh. (Ảnh: Lê Phương)

Tấm bia đá kỷ niệm 100 năm Ngày người thanh niên Nguyễn Tất Thành đặt chân tới Anh được đặt ở vị trí trang trọng nhất ngay cửa sông Ouse đổ ra Eo biển Anh.

Ngày 19/5, tại thị trấn Newhaven thuộc quận Lewes, vùng Sussex, miền Nam nước Anh, Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Anh và Bắc Ireland phối hợp với chính quyền thị trấn đã tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa nhân kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-2013), 100 năm Ngày Nguyễn Tất Thành tới nước Anh (1913-2013) trong hành trình tìm đường cứu nước.

Newhaven là nơi mà người thanh niên Nguyễn Tất Thành từng đến khi Người làm việc trên tuyến phà quốc tế nối giữa thị trấn này với Dieppe (Pháp) qua Eo biển Anh vào khoảng thời gian sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Vì vậy, điểm nhấn của chương trình cũng chính là lễ khánh thành tấm bia đá kỷ niệm 100 năm Ngày người thanh niên Nguyễn Tất Thành tới Anh và sự kiện Người từng đặt chân đến Newhaven trong hành trình tìm đường cứu nước.

Nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ chân thành từ phía chính quyền Newhaven cũng như chủ sở hữu đất, chỉ trong một thời gian rất ngắn, tấm bia đã được hoàn thành ở vị trí trang trọng nhất ngay cửa sông Ouse đổ ra Eo biển Anh.

Ngay trước đó, chính quyền Newhaven cũng đã long trọng khai trương tấm banner vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các danh nhân khác từng có thời gian đến và sống ở thị trấn này.

Hội đồng thị trấn Newhaven hy vọng rằng những tấm banner vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh và các danh nhân khác sẽ giúp quảng bá hình ảnh của thị trấn nhằm thu hút thêm khách du lịch.

Giáo sư Martin Evans – Trường Lịch sử thuộc Đại học Sussex, cho biết 25 năm trước đây, một đảng viên Đảng Cộng sản Pháp ở thị trấn Dieppe (Pháp) đã nói với ông rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh từng làm việc trên tuyến phà Dieppe-Newhaven.

Đối với một nhà sử học dành nhiều tâm huyết nghiên cứu về cuộc đời Hồ Chí Minh, thông tin này khiến ông phải chú ý. Ông nói: “Lúc đó, có thể Người làm đầu bếp trên tuyến phà này. Đó cũng là điều khá rõ ràng bởi Hồ Chí Minh từng đến nhiều nơi trên thế giới bằng tàu thuyền.”

Người bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước tới Pháp, Mỹ…, đó là những quãng thời gian rất có ý nghĩa đối với vốn kiến thức về cách mạng của Hồ Chí Minh.

Khi kết nối những địa điểm như Paris, Dieppe, London, thì Newhaven góp phần làm giàu hơn tư liệu về hành trình cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhân dịp này, thông qua Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Anh và Bắc Ireland, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi tặng bức tượng đồng Bác Hồ ngồi đọc báo cho Bảo tàng Newhaven, cùng hai bức ảnh Bác Hồ tiếp gia đình Luật sư Loseby.

Phát biểu tại đây, Đại sứ Việt Nam tại Vương quốc Anh và Bắc Ireland Vũ Quang Minh khẳng định rằng việc trao tặng tượng Bác Hồ không chỉ góp phần làm giàu kho sưu tập của Bảo tàng mà còn tăng cường mối quan hệ giữa Việt Nam với thị trấn cảng Newhaven.

Đón nhận món quà đầy ý nghĩa từ phía Việt Nam, đại diện Ban Quản lý Bảo tàng Newhaven đã gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời nhấn mạnh rằng đây là một sự kiện trọng đại đối với thị trấn Newhaven đúng vào dịp kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 100 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh tới nước Anh trong hành trình tìm đường cứu nước.

Cả hội trường lặng đi khi nghe ông Len Aldis – Chủ tịch Hội Hữu nghị Anh Việt kể về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ, đặc biệt là quãng thời gian 30 năm Người đi tìm đường cứu nước.

Người đã không quản ngại bất cứ công việc nặng nhọc, khó khăn nào, từ quét tuyết, nấu bếp đến làm bánh… Vừa lao động kiếm sống, vừa học hỏi, Người đã gặp nhân dân lao động tại các nước mà Người dừng chân để tìm hiểu về cuộc sống của họ từ đó tìm ra con đường giải phóng dân tộc mình khỏi ách đô hộ của thực dân – phong kiến.

Còn đối với Charlotte Crookston – Thị trưởng trẻ của Newhaven (The Young Mayor of Newhaven – vị trí danh dự nhiệm kỳ 1 năm dành cho những người trẻ tuổi có cơ hội tham gia công việc chung của chính quyền), thế hệ trẻ như cô cần phải biết về lịch sử, và việc Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đến Newhaven là sự kiện rất có ý nghĩa.

Theo Giáo sư Martin Evans, sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại không chỉ trong lịch sử Việt Nam mà cả thế giới, từng đến Newhaven luôn khiến mọi người xúc động.

Phát biểu tại lễ mít tinh kỷ niệm với sự tham dự đông đảo của bà con kiều bào, du học sinh Việt Nam và bạn bè Anh, ông Norman Baker – Hạ nghị sỹ, Quốc vụ khanh Bộ Giao thông Anh, khẳng định rằng các sự kiện diễn ra đúng sinh nhật lần thứ 123 của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mở chương mới trong quan hệ giữa Việt Nam và Vương quốc Anh nói chung và với thị trấn Newhaven nói riêng.

Theo bà Julie Carr – Thị trưởng Newhaven, sự kiện Bác Hồ từng đến Newhaven là một phần lịch sử của thị trấn này và có ý nghĩa giáo dục rất lớn đối với thế hệ trẻ. Trong tương lai, bà cho rằng hai bên sẽ nỗ lực tăng cường mối quan hệ hợp tác cùng có lợi, vì sự phồn vinh và phát triển của cả Việt Nam và Vương quốc Anh, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch, thương mại và đầu tư.

Đề cập đến vấn đề này, Đại sứ Vũ Quang Minh khẳng định rằng mối quan hệ hữu nghĩ giữa Việt Nam và Vương quốc Anh đã có lịch sử lâu đời. Trên cơ sở những di sản quý báu đó, hai nước nói chung và với thị trấn Newhaven nói riêng sẽ tiếp tục phát huy để thúc đẩy mối quan hệ hợp tác và tình hữu nghị. Những sự kiện diễn ra đúng dịp sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 2013 sẽ là bước đi cụ thể đầu tiên để tăng cường mối quan hệ này./.

 Theo http://www.vietnamplus.vn
Huyền Trang (st)

Không thể phủ nhận những giá trị dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam

(ĐCSVN)- Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân; mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Đảng ta sinh ra, trưởng thành và phát triển trong lòng dân tộc, được nhân dân nuôi dưỡng, đùm bọc, chở che.

Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định Đảng ta không chỉ là Đảng của giai cấp công nhân mà còn là Đảng của dân tộc Việt Nam. Trong diễn văn đọc tại Lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Đảng (3-2-1990), đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã nhắc lại tư tưởng nêu trên của Bác Hồ. Đảng chỉ khẳng định: Đảng ta đó là Đảng “của dân, do dân, dựa vào dân và vì dân”.

Xác định Đảng và Nhà nước ta đều là của dân, do dân, vì dân, cho nên vấn đề dân chủ, nhân quyền, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” luôn được Đảng và Nhà nước ta coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu.

Như thế, về mặt quan điểm là rõ ràng và nhất quán. Song, vấn đề quan trọng là ở chỗ phải xem xét một cách thật khách quan trong tiến trình lãnh đạo cách mạng suốt 75 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đạt được những giá trị đích thực gì về dân chủ, nhân quyền. Trước hết, cần khẳng định mặc dù còn nhiều thiếu sót, tồn tại, thậm chí có cả sai lầm, song Đảng và Nhà nước ta đã mang lại cho dân những giá trị dân chủ, nhân quyền đích thực như:

– Nhân dân ta, dân tộc ta thoát khỏi vòng nô lệ, kìm kẹp của chế độ phong kiến, thực dân, trở thành một dân tộc độc lập, tự do. Đó chính là giá trị dân chủ, nhân quyền vĩ đại nhất mà Đảng và Nhà nước ta đã giành lại được cho nhân dân, cho dân tộc.

– Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, nhân dân ta đã có quyền làm chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền…). Đảng và Nhà nước đã có những quy định rất cụ thể về việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Tinh thần cơ bản của những quy định đó là “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Hội nghị Trung ương 7 (khóa IX) đã ra Nghị quyết rất quan trọng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Những nội dung cơ bản của Nghị quyết này là: đánh giá tình hình khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xác định rõ mục tiêu, quan điểm, những chủ trương và giải pháp chủ yếu để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời cũng nêu ra các bước và cách thức tiến hành tổ chức thực hiện sao cho Nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống. Có thể nói đó là những bước tiến rất lớn cả về lượng và chất trên con đường xây dựng những giá trị dân chủ và nhân quyền đích thực. Chỉ tính riêng từ Đại hội VI đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành khá nhiều nghị quyết, chỉ thị về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, về đại đoàn kết toàn dân, về tôn giáo, dân tộc, về Mặt trận và các đoàn thể nhân dân… Thông qua việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị đó, quyền làm chủ của nhân dân trong tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, xã hội đã từng bước được phát huy, góp phần tích cực vào việc động viên nhân dân phấn khởi đẩy mạnh sản xuất, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, đưa công cuộc đổi mới lên một tầm cao mới và chiều sâu mới. Đó là thực tế hiển nhiên không thể phủ nhận được.

Mặc dù vậy, các thế lực thù địch vẫn ra sức phá hoại khối đại đoàn kết của nhân dân ta. Bọn chúng luôn tìm mọi cách kích động những vấn đề rất nhạy cảm về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để ly gián, chia rẽ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Những luận điệu, thủ đoạn của các thế lực thù địch không có gì mới mẻ. Nhưng nó nguy hiểm là ở chỗ bọn chúng rất kiên trì theo phương châm: “Mưa dầm thấm lâu”, “Nói dối mãi rồi người ta sẽ tin”. Có thể tóm tắt bài bản của chúng trong ba vấn đề sau đây:

+ Một là, bọn chúng cho rằng Đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo với việc thực thi dân chủ, nhân quyền là hai đại lượng tỷ lệ nghịch . Nghĩa là Đảng độc quyền thì dân mất quyền. Muốn cho dân có quyền thì Đảng phải từ bỏ vai trò lãnh đạo của mình; chí ít cũng phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã bác bỏ luận điệu sai trái đó. Bởi vì, hơn bảy thập kỷ qua, Đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo cách mạng là một tất yếu khách quan. Đó không phải là sự áp đặt ý muốn chủ quan của Đảng đối với nhân dân, với dân tộc, với lịch sử, mà là sự giao phó của nhân dân, của dân tộc, của lịch sử cho Đảng Cộng sản thông qua quá trình sàng lọc hết sức nghiêm khắc. Nhân dân ta bằng sự thể nghiệm xương máu của mình đã có dịp đối chiếu, so sánh cương lĩnh và hoạt động của các đảng phái khác nhau để rồi cuối cùng “chọn mặt gửi vàng”, thừa nhận Đảng Cộng sản là người lãnh đạo duy nhất của dân tộc Việt Nam. Thực tiễn cách mạng Việt Nam khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình. Từ đó, có thể khẳng định rằng: yếu tố quyết định dân chủ, nhân quyền không phải do một đảng hay nhiều đảng lãnh đạo. Nhìn nhận vấn đề dân chủ, nhân quyền ở một nước là phải xem đảng cầm quyền ở đó thực thi dân chủ, nhân quyền như thế nào chứ không thể căn cứ vào việc họ nói như thế nào về dân chủ, nhân quyền. Chính phủ Mỹ nói rất hay về dân chủ, nhân quyền, có những khẩu hiệu rất kêu về dân chủ, nhân quyền, nhưng trên thực tế họ lại vi phạm dân chủ, nhân quyền nhiều nhất. Thí dụ, họ ngang nhiên đem máy bay ném bom, đánh phá các nước có độc lập, chủ quyền, bất chấp sự phản đối của cộng đồng quốc tế và phớt lờ cả Liên hợp quốc. Ở Mỹ có 20% dân số là những người giàu. Số này chiếm 85% tài sản của nước Mỹ. Số dân còn lại (80%) chia nhau 15% tài sản quốc gia. Trong 80% số người không thuộc diện giàu có của nước Mỹ, rất nhiều người bị chết đói, chết rét, chết bệnh vì thiếu cái ăn, cái mặc, không có nhà ở, không có thuốc chữa bệnh và không có bảo hiểm y tế. Thử hỏi cái “quyền được sống” của con người mà chính quyền Mỹ rêu rao có thật không, hay chỉ là bánh vẽ. Lại nữa, trong lịch sử nước Mỹ chưa có người nghèo nào thắng cử trong các cuộc bầu cử. Các nghị sĩ, dân biểu đều là những người giàu. Vậy ai sẽ bênh vực người nghèo ? Như thế có thể gọi là một xã hội dân chủ được không ?

+ Hai là, các thế lực thù địch cho rằng Việt Nam thực hiện kinh tế thị trường nhưng lại đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và theo định hướng xã hội chủ nghĩa như thế thì chẳng khác nào “đầu Ngô mình Sở” hoặc “treo đầu dê, bán thịt chó”, bởi vì cái kinh tế thị trường kiểu ấy thực chất là bóp nghẹt dân chủ về kinh tế. Phải khẳng định ngay rằng: kinh tế thị trường không phải là cái “riêng có” của chủ nghĩa tư bản. Đó là thành tựu chung của văn minh nhân loại. Có kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa thì cũng có kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Chúng ta luôn chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích các thành phần kinh tế cùng phát triể, hợp tác với nhau lâu dài và cạnh tranh lành mạnh. Thực tế cho thấy, chỉ có dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế nước ta mới phát triển nhanh chóng, lành mạnh và đạt hiệu quả cao.

+ Ba là, các thế lực thù địch cho rằng Việt Nam một mặt nói thực thi dân chủ nhưng mặt khác lại đề cao chuyên chính. Theo họ, chuyên chính thì không có dân chủ, cũng chẳng có nhân quyền. Từ đó họ yêu cầu phải “tự do tuyệt đối”, “dân chủ vô bờ bến”, “dân chủ không giới hạn”. Song thực tế cho thấy, khi nào buông lỏng chuyên chính để cho kẻ xấu lộng hành thì quyền dân chủ của nhân dân lập tức bị xâm phạm, thậm chí bị tước đoạt. Vì thế, dân chủ phải đi liền với chuyên chính. Không có chuyên chính sẽ không có dân chủ và không bảo đảm được nhân quyền.

Tiến Hải
dangcongsan.vn

Về nơi Bác Hồ ra lời thi đua ái quốc

Mỗi lần trở lại An toàn khu Định Hóa (Thái Nguyên) – “Thủ đô gió ngàn” của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954) là mỗi lần chúng tôi có dịp ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc, được nghe kể về vị Cha già kính yêu trong những năm Người sống và làm việc giữa chiến khu Việt Bắc.

Tại nơi đây, Người cùng Trung ương Đảng đã đưa ra nhiều quyết sách quan trọng đến vận mệnh dân tộc, quyết định đánh trận Điện Biên Phủ làm nên một chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Từ ATK Định Hóa, đúng dịp kỷ niệm 1000 ngày toàn quốc kháng chiến, ngày 11 tháng 6 năm 1948, từ Nà Lọm, xã Phú Đình – trung tâm của An toàn khu (ATK) Định Hóa, Người đã ra lời kêu gọi thi đua ái quốc, trong đó nêu rõ: “Mục đích thi đua ái quốc là: Diệt giặc đói, Diệt giặc dốt, Diệt giặc ngoại xâm; Cách làm là: dựa vào Lực lượng của dân, Tinh thần của dân, để gây Hạnh phúc cho dân. Vì vậy, bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau: Làm cho mau, Làm cho tốt, Làm cho nhiều. Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa… Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi…”

An toàn khu Định Hóa, Thái Nguyên. Ảnh: baothainguyen

Lời kêu gọi của Người một lần nữa được nhất mạnh tại phát động thi đua ái quốc sau đó (ngày 19/6/1948) cùng với lời kêu gọi Các tướng sĩ yêu mến tiến lên. Đáp lại lời kêu gọi thi đua ái quốc của Người, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã thi đua lao động sản xuất, đánh giặc thực dân, giành nhiều thắng lợi trên mọi mặt trận. Sau 3 năm phát động phong trào “Thi đua yêu nước”, năm 1952, Thái Nguyên tiếp tục được chọn là nơi tổ chức Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất ở xã Hợp Thành, huyện Phú Lương. Tại đây, 7 anh hùng đầu tiên tiêu biểu cho phong trào thi đua yêu nước của cả nước đã được bầu chọn, gồm 3 Anh hùng Lao động là Ngô Gia Khảm, Trần Đại Nghĩa, Hoàng Hanh và 4 Anh hùng Quân đội là Cù Chính Lan, Nguyễn thị Chiên, Nguyễn Quốc Trị, La Văn Cầu. Những tấm gương anh hùng được tuyên dương tại Đại hội đã trở thành hình mẫu của các thế hệ người Việt Nam yêu nước từ Bắc vào Nam trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và lao động sản xuất, xây dựng CNXH, chi việc cho chiến trường miền Nam.

Từ lời kêu gọi thi đua ái quốc ở ATK Định Hoá, suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp rồi chống đế quốc Mỹ sau này đã có trên 30 phong trào thi đua của toàn dân và của riêng các lực lượng, các ngành, các giới gắn với lời kêu gọi ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những phong trào tiêu biểu như: Vững tay cày, chắc tay súng (1961), Thi đua cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất (1961), Thi đua sản xuất: Nhanh, nhiều, tốt, rẻ (từ năm 1957); Thi đua hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật (từ năm 1961), Tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng HTX (từ năm 1961), Phong trào phụ nữ 5 năm tốt (từ năm 1964); Phong trào Ba đảm đang (từ năm 1965). Trong Quân đội có phong trào cờ 3 nhất: Đạt thành tích nhiều nhất, đều nhất, giỏi nhất; Thanh niên có Ba sẵn sàng. Thiếu niên nhi đồng có phong trào thi đua Nghìn việc tốt (1963).

Trong kháng chiến chống Mỹ, còn có phong trào thi đua chung cho toàn miền Bắc: Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt (1964).. Thi đua yêu nước trở thành động lực trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng hậu phương miền Bắc, góp phần quan trọng vào chiến thắng lịch sử năm 1975, thống nhất đất nước… Cho đến này hôm nay, lời kêu gọi thi đua ái quốc của Người vẫn còn nguyên giá trị lịch sử. Điểm di tích Nà Lọm cùng các di tích quan trọng khác tại ATK Định Hoá được Ban quản lý di tích lịch sử và sinh thái ATK Định Hoá đầu tư, tôn tạo trở thành nơi giáo dục truyền thống cách mạng lý tưởng cho thế hệ trẻ.

Tự hào là vùng đất chiến khu cách mạng, nơi ra đời lời kêu gọi thi đua ái quốc, trong công cuộc đổi mới ngày nay, đồng bào các dân tộc của huyện Định Hoá đang ra sức thi đua xây dựng quê hương cách mạng ngày càng giàu đẹp hơn. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, tổng nguồn đầu tư phát triển kinh tế – xã hội trong toàn huyện đã lên tới hơn 1.200 tỷ đồng; trong đó, riêng vốn ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư cho vùng ATK hơn 120 tỷ đồng, vốn do các bộ, ngành tài trợ trên 70 tỷ đồng, phần vốn còn lại được đầu tư thông qua các Chương trình 135, 134, các Chương trình mục tiêu quốc gia, vốn ODA, vốn ngân sách tỉnh và huyện… Với sự đầu tư thiết thực, hiệu quả đó, những năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình của huyện đạt 11%/năm, bình quân lương thực đạt trên 500kg/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm trung bình 4%/năm.

Khu du lịch ATK Phú Đình của huyện đã từng bước được đầu tư và hình thành, hàng năm đã thu hút từ 40 – 50 vạn lượt khách đến du lịch và thăm quan, góp phần quan trọng vào sự phát triển ngành du lịch của tỉnh Thái Nguyên… Đặc biệt, bằng các nguồn vốn khác nhau, tỉnh Thái nguyên và huyện đã tổ chức tôn tạo phục dựng trên 30 điểm di tích, lập hồ sơ trình công nhận cho 19/128 điểm di tích lịch sử ATK Định Hoá, khôi phục nhiều loại hình văn hóa phi vật thể phục vụ cho công tác nghiên cứu, phổ biến, phát huy giá trị di tích, làm cơ sở phát triển du lịch bền vững…

Đúng dịp kỷ niệm kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ ra lời thi đua ái quốc, đồng bào các dân tộc trên quê hương cách mạng Định Hoá tiếp tục chung sức thực hiện phong trào thi đua mới với mục tiêu từ nay đến năm 2015 duy trì tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm từ 12% trở lên, thu nhập bình quân đạt 17 triệu đồng/người/năm, hàng năm trồng mới và trồng thay thế 1000 ha rừng, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10%, xây dựng 4 xã đạt chuẩn “nông thôn mới”, 100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế… đưa ATK Định Hoá xứng tầm với di tích lịch sử quốc gia đặc biệt.

Hoàng Thảo Nguyên
baotintuc.vn

Những thành tựu lý luận và việc thực hiện quyền con người của Việt Nam

14:25 | 09/12/2008

(ĐCSVN) – Cách đây 60 năm, thể hiện khát vọng cao cả của loài người, Liên hợp quốc đã thông qua bản Tuyên ngôn nhân quyền toàn thế giới. Tuy đã hàm chứa nhiều giá trị về quyền con người nhưng cả 30 điều luật quốc tế trong bản tuyên ngôn này lại chưa phản ánh được một vấn đề rất hệ trọng là quyền con người trong một trạng thái môi trường thích hợp và trong một hình thức thích hợp. 

Thế nhưng cách đây vừa tròn 63 năm, nghĩa là trước khi có Tuyên ngôn nhân quyền toàn thế giới 3 năm, tiếp thu và vận dụng sáng tạo tư tưởng nhân quyền trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ và tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp 1791 và nhất là tư tưởng cách mạng và khoa học trong học thuyết Mác-Lênin, Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã long trọng tuyên bố một khát vọng lớn của mọi quốc gia dân tộc: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Đây thực sự là một cống hiến vô giá của dân tộc Việt Nam trong việc phát triển tư tưởng nhân quyền: khi khẳng định những quyền cơ bản của con người phải gắn chặt với quyền được sống trong độc lập, trong hoà bình, trong môi trường sinh thái trong lành.

Từ lịch sử cuộc đấu tranh giành độc lập ở Mỹ 1776, cuộc cách mạng lật đổ chế độ phong kiến ở Pháp năm 1789 và lịch sử cuộc đấu tranh cách mạng giành độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam, Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam đã rút ra một kết luận lịch sử: quyền con người cho dù được gọi là quyền tự nhiên không phải tự nhiên mà có, không từ trên trời rơi xuống, càng không phải do các lực lượng thống trị ban phát mà phải do mỗi con người và mỗi dân tộc ý thức được và đấu tranh giành và giữ vững các quyền đó. Chân lý này đã được thể hiện trong đoạn kết của Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập, và sự thật đã trở thành nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”.

Chúng ta đã chứng kiến một sự thật lịch sử là: Những quyền cá nhân mà các cuộc cách mạng tư sản đem lại là bước tiến quan trọng về dân chủ và nhân quyền của nhân loại nhưng các dân tộc thuộc địa lại không được hưởng các quyền này. Muốn giành được tự do, hạnh phúc, các dân tộc thuộc địa phải tự mình đứng lên đánh đổ bọn đế quốc, thực dân giành lại độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. Độc lập dân tộc tuy không trực tiếp đem lại quyền lợi cho cá nhân nhưng nó là tiền đề, điều kiện cơ bản, là trạng thái, môi trường thích hợp, quan trọng nhất để đảm bảo cho các quyền và tự do của mỗi cá nhân.

Cách mạng tháng 8/1945, thắng lợi của hai cuộc kháng chiến đánh thắng 2 tên hung nô của thế kỷ 20 là thắng lợi của tư tưởng nhân quyền cao cả mà dân tộc Việt Nam là chiến sỹ tiên phong, là thắng lợi của ý chí hoà bình, độc lập và phẩm giá con người, là thắng lợi của lương tri nhân loại. Việt Nam có quyền tự hào là chiến sỹ tiên phong trong cuộc đấu tranh giành và bảo vệ quyền con người được sống trong độc lập, hoà bình và nhân phẩm.
Đi vào sự nghiệp xây dựng đất nước từ thực tiễn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển, cụ thể hoá một bước tư tưởng nhân quyền khi Người chỉ rõ: Nước độc lập rồi mà nhân dân còn nghèo khổ thì độc lập không có ý nghĩa gì. Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, trên 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN, với những thành tựu có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế xã hội, văn hoá, an ninh, quốc phòng, đối ngoại chúng ta đã hiện thực hoá một bước rất quan trọng các quyền con người và quyền công dân trên cả bình diện pháp lý và hiện thực.

Trong lĩnh vực chính trị chúng ta đã đổi mới và hoàn thiện một hệ thống chính trị của dân, do dân, vì dân: Xây dựng hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo về mặt nhà nước các quyền con người và quyền công dân.

Một ví dụ nhỏ nhưng chứng minh sinh động cho thành tựu này, năm 2006 Quốc hội nước ta đã thông qua Luật phòng chống HIV/AIDS, trong luật có điều quy định về quyền và nghĩa vụ của những người nhiễm HIV/AIDS. Với luật này càng làm nổi bật bước phát triển lớn và sâu rộng việc hiện thực hoá về mặt pháp lý và thực tế bảo vệ quyền con người.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng và thực hiện ngày một tốt hơn thiết chế dân chủ để cụ thể hoá một bước quan trọng quyền làm chủ đại diện, làm chủ trực tiếp và làm chủ tự quản của nhân dân.

Trên lĩnh vực kinh tế, bằng đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, nền kinh tế nước ta đã tăng trưởng liên tục với tốc độ khá cao. Tiềm lực kinh tế của đất nước tăng đáng kể, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, từ vấn đề ăn, mặc, ở, đi lại, chữa bệnh đến việc học tập của nhân dân. Chiến lược xóa đói giảm nghèo đã phát huy được sức mạnh của cả nhà nước, của các đoàn thể, của từng địa phương và của cả quốc tế nên chúng ta đẩy lùi diện đói nghèo từ 60% trước đổi mới nay chỉ còn 12%.

Chặng đường qua, nhà nước ta, nhân dân ta không chỉ phấn đấu hiện thực hóa ngày một tốt hơn các quyền con người và quyền công dân trên đất nước ta mà còn chủ động tích cực tham gia và thực hiện nghiêm chỉnh các công ước về nhân quyền của liên hợp quốc như:

– Ngăn ngừa, trừng trị tội ác diệt chủng (6-1981)
– Loại trừ và trừng phát Apácthai (6-1991)
– Loại trừ mọi hình thái phân biệt chủng tộc (6-1981)
– Loại trừ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (2-1982)
– Về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (9-1982)
– Về các quyền chính trị và dân sự (9-1982)
– Quyền về trẻ em (9-1982)

Bên cạnh những thành tựu, những bước phát triển quan trọng về mặt nhận thức, lý luận và việc thực hiện quyền con người trên cả phương diện pháp lý và thực tiễn, chúng ta cũng còn không ít hạn chế, bất cập và khuyết điểm trên lĩnh vực này. Chúng ta cần tổng kết nghiêm túc vấn đề này để phát triển lý luận, hoàn thiện thể chế, tổ chức thực tiễn ngày một tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực.

Hiện nay đâu đó có một số tổ chức cá nhân phê phán chúng ta vi phạm dân chủ nhân quyền. Về cơ bản và tổng thể các loại ý kiến đó là xuyên tạc, vu cáo, với ý đồ can thiệp vào nội bộ của ta, phá hoại sự ổn định công tác của nước ta. Về vấn đề này chúng ta cần kiên định quan điểm: quyền con người là giá trị chung của nhân loại. Quyền con người trong thời đại ngày nay phải gắn với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia. Bảo đảm quyền con người cho dân tộc ta phải dựa trên bản chất của chế độ xã hội, đặc thù về cộng sản và văn hóa của dân tộc. Chúng ta không chấp nhận sự áp đặt mô hình dân chủ nhân quyền của nước ngoài cho Việt Nam.

Những khác biệt nào đó về quyền con người giữa các quốc gia dân tộc chỉ có thể được giải quyết trên nguyên tắc đối thoại, bình đẳng, tôn trọng chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Chúng ta đã tổ chức đối thoại nhân quyền với EU, Mỹ, Australia… Đối với chúng ta quyền con người, cũng như quyền công dân, quyền phải đi đôi với nghĩa vụ. Không thể hiểu nhân quyền chỉ có quyền tự do mà không có trách nhiệm và nghĩa vụ.

Trong Luật nhân quyền quốc tế, cũng như luật quốc gia, trách nhiệm của tất cả mọi người là phải tuân thủ pháp luật, phải chấp nhận sự hạn chế nào đó vì lợi ích của xã hội và của người khác. Nhiệm vụ của công tác tư tưởng đối với việc thực hiện luật nhân quyền là phải tăng cường tổng kết thực tiễn phát triển lý luận về quyền con người, bổ xung, hoàn thiện đường lối, chính sách về quyền con người, hướng dẫn và động viên thực hiện có hiệu quả thực hiện trên thực tế quyền con người, quyền công dân và đấu tranh bác bỏ kịp thời mọi luận điệu xuyên tạc vu cáo chúng ta về vấn đề dân chủ nhân quyền.

PGS.TS Đào Duy Quát
Chuyên gia cao cấp Ban Tuyên giáo TW
Tổng Biên tập Báo điện tử ĐCS Việt Nam
dangcongsan.vn

Bác không đồng ý với Nghị quyết của Bộ Chính trị về tổ chức kỷ niệm Ngày sinh của Người

Câu chuyện sau đây do đồng chí Nguyễn Văn Lương, nguyên uỷ viên Bộ Chính trị, BCH TƯ Đảng kể lại.

Năm 1969, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về việc tổ chức bốn ngày kỷ niệm lớn: Kỷ niệm lần thứ 40 Ngày thành lập Đảng ta, kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Lênin, mừng thọ Hồ Chủ tịch 80 tuổi và kỷ niệm lần thứ 25 Ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hồi đó, sức Bác đã yếu. Để giữ gìn sức khỏe của Bác, Bộ Chính trị đề nghị: Khi bàn những việc quan trọng của Đảng và Nhà nước thì mời Bác chủ trì, còn khi bàn những việc thứ yếu thì cứ bàn rồi báo cáo lại. Bác cũng đồng ý như vậy. Khi Bộ Chính trị bàn việc tổ chức kỷ niệm bốn ngày lễ lớn thì Bác không dự. Nghị quyết đó ra từ tháng 4. Đến ngày 8-7 thì đăng trên báo Nhân Dân. Mọi việc lớn hay nhỏ, khi Bộ Chính trị đã bàn xong đều báo cáo lại. Riêng việc này, các đồng chí cũng ngại rằng nếu Bác biết thì thể nào cũng không để tổ chức kỷ niệm ngày sinh của mình.

Hôm đó, đọc báo xong, Bác gọi các đồng chí trong Bộ Chính trị vào, Bác chỉ vào tờ báo Nhân Dân để trên bàn và hỏi: Nghị quyết này các chú bàn bao giờ mà tại sao không cho Bác biết? Bác nói đại ý: Tất cả các Nghị quyết của Đảng đều do Bộ Chính trị quyết định tập thể. Gần đây, Bác mệt, có một số cuộc họp không dự được. Đó là khuyết điểm của Bác. Khi đọc Nghị quyết đăng trên báo, Bác tán thành nhiều điểm. Chỉ có việc riêng của Bác, Bác không đồng ý. Ai cũng biết Bác là Chủ tịch Đảng ta. Đọc Nghị quyết này, người ta sẽ nghĩ rằng Bác chủ trì phiên họp Bộ Chính trị để bàn việc tổ chức lễ kỷ niệm ngày sinh của mình cho linh đình. Thế là không đúng. Bác ngừng một lúc, giở tờ báo, chỉ tay vào một đoạn trong nghị quyết và nói: Lênin là bậc thầy của cách mạng thế giới. Bác chỉ là học trò của Lênin? Sao các chú lại đặt việc riêng của Bác ngang với những việc lớn của Đảng và Nhà nước? Bác lại chỉ tay vào một đoạn nữa trong Nghị quyết và hỏi các đồng chí trong Bộ Chính trị: Sao các chú cho in sách của Bác nhiều thế? Bây giờ nước nhà còn thiếu thốn, sách học, giấy học cho các cháu còn thiếu, thế mà sách báo của ta, kể cả sách của Bác, thì in lu bù. Nên bớt đi, cái gì cần lắm hãy in, để giấy cho các cháu học. Nói xong, Bác lại lấy ngón tay dò dò trên tờ báo. Thì ra vẫn chưa hết! Chỉ tay vào một chỗ trong Nghị quyết, ghi việc xây dựng và tu bổ những nhà bảo tàng, nhà lưu niệm của những địa phương cơ sở cách mạng Bác nói: việc này cũng cần thiết, nhưng Bác nghỉ nước ta đang có chiến tranh, nhà cửa của nhân dân bị tàn phá nặng nề, chúng ta nên để dành vật liệu trước hết xây dựng nhà ở cho nhân dân, trường học cho các cháu và nhà giữ trẻ. Khi đời sống nhân dân sung túc, lúc đó ta hãy xây dựng bảo tàng này, bảo tàng nọ.

Từ một Nghị quyết của Bộ Chính trị, Bác chỉ ra nhiều bài học rất thấm thía. Bác rất khiêm tốn, không muốn đề cao cá nhân mình, lúc nào Người cũng chỉ nhận mình là học trò của Lênin vĩ đại. Mỗi việc làm của Bác đều vì dân vì nước. Ngay cả đến khi sắp từ biệt thế giới này, Bác vẫn còn căn dặn: “Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”.

Nhờ Bác, chúng ta nhớ những lời Bác dạy. Mọi chính sách, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước đều xuất phát từ điều kiện thực tế của đất nước, và luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết.

Trích từ sách: Bác Hồ sống mãi với chúng ta, t.2.
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.

Theo http://phuly.edu.vn
Thu Hiền (st)

Cựu Phó Đô đốc Hải quân Ấn Độ với kỷ niệm về Bác

Được sự giới thiệu của ông Tống Đức Huấn, Tham tán Chính trị Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ, chiều 30/4, chúng tôi tới thăm cựu Phó Đô đốc Hải quân Ấn Độ Sukhmal Jain, người đã từng được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1958.

Khi nghe giới thiệu các nhà báo Thông tấn xã Việt Nam tới thăm và muốn tìm hiểu những kỷ vật, kỷ niệm của ông với Bác Hồ và trong những chuyến thăm Việt Nam, ông Jain bắt tay chúng tôi thật chặt như những người bạn thân thiết lâu ngày gặp lại và niềm nở mời chúng tôi vào nhà.

cuu pho do docÔng Sukhmal Jain (giữa) nâng bức ảnh Đoàn Hải quân Ấn Độ chụp chung với Bác Hồ tại Hà Nội năm 1958. (Ảnh: Minh Lý-Tiến Hiến/Vietnam+)

Tòa nhà của ông Jain tọa lạc tại khu Ananand Lok, ngay mặt đường August Kvanti, ở trung tâm Thủ đô New Delhi. Ngôi nhà được bày biện đơn sơ nhưng sang trọng và ấm cúng. Trong phòng khách, bên cạnh những đồ nội thất, đồ trang trí của Ấn Độ, ông kê hai bộ salông và một chiếc tủ khảm trai mua từ Việt Nam cách đây hai năm.

Ông Jain sống một mình, vì vợ ông qua đời cách đây 3 năm và hai người con gái đều đã yên bề gia thất, ra ở riêng. Dù đã ở tuổi 82, ông Jain vẫn rất nhanh nhẹn và minh mẫn. Ông dẫn chúng tôi tham quan ngôi nhà, giới thiệu những kỷ vật mà ông được tặng trong những chuyến thăm Việt Nam.

Qua câu chuyện chân tình, ông Jain cho biết, năm 1958, ông là thành phần trong Phái đoàn Hải quân Ấn Độ tới thăm Việt Nam, vinh dự được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hà Nội. Ông thật sự xúc động và khâm phục trước hình ảnh giản dị, rất gần gũi của Bác Hồ. Ông còn nhớ như in đôi dép cao su Bác đi và bộ quần áo kaki màu bàng bạc mà Bác mặc hôm tiếp Đoàn Hải quân Ấn Độ.

Ông Jain cùng các sỹ quan trong đoàn đại biểu Ấn Độ được lên thăm nhà sàn, chụp ảnh cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và được Bác tặng hoa. Cho đến nay, đã hơn 50 năm trôi qua, bức ảnh đen trắng mà đoàn hải quân Ấn Độ chụp cùng Bác Hồ vẫn được ông đóng khung cất giữ như một báu vật.

Tháng 5/1982, ông Sukhmal Jain trở lại Việt Nam lần thứ hai với cương vị Phó Đô đốc Hải quân, Chỉ huy trưởng con tàu Dunagiri của Hải quân Ấn Độ tới thăm chính thức Việt Nam. Ông đã thăm Bến Nhà Rồng, được ông Mai Chí Thọ, lúc đó là Phó Bí thư thứ nhất Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tiếp và tặng bức tranh sơn mài phong cảnh Việt Nam mà cho đến nay ông vẫn treo trên tường nhà.

Cũng trong chuyến thăm này, ông vinh dự được Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Quốc phòng Văn Tiến Dũng tiếp và được gặp gỡ nhiều tướng lĩnh quân đội Việt Nam. Ông Jain cho chúng tôi xem một kỷ vật đặc biệt mà ông được tặng trong chuyến thăm, là một vỏ đạn pháo, trên có khắc dòng chữ “Một trong những viên đạn đầu tiên bắn vào Bộ Tổng Tham mưu Mỹ-Ngụy trong Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.”

Thận trọng lật từng trang quyển album lưu giữ những tấm ảnh kỷ niệm trong chuyến thăm Việt Nam năm 1982, ông Jain giới thiệu với chúng tôi về từng cuộc gặp và ông vẫn còn nhớ tên các nhân vật trong ảnh, trong đó có ảnh chụp với Thứ trưởng Quốc phòng Trần Văn Quang ngày 6/5/1982 và Thiếu tướng Nguyễn Minh Châu, Tư lệnh Quân khu VII ngày 7/5/1982.

Ông Jian cho biết lần gần đây nhất ông tới thăm Việt Nam là năm 2011. Sau gần 30 năm quay trở lại, Việt Nam đã thay đổi nhiều, song ông vẫn cảm thấy rất đỗi thân quen và gần gũi.

Nói về quan hệ Ấn-Việt, cựu Phó Đô đốc Sukhmal Jain cho rằng hai nước cần đẩy mạnh hơn nữa sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực, trong đó có kinh tế, thương mại, giáo dục, khoa học-công nghệ và quốc phòng.

Tiễn chúng tôi, cựu Đô đốc Jian nói ông rất cảm mến Việt Nam; kỷ niệm về những cuộc gặp trong các chuyến thăm, đặc biệt là cuộc gặp với Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn khắc sâu trong tâm trí ông. Trước khi chia tay chúng tôi, ông Jain nói ông muốn học một câu tiếng Việt “Chào tạm biệt” và “Hẹn gặp lại”./

Theo http://www.vietnamplus.vn/
Huyền Trang (st)

“May mắn lớn nhất cuộc đời tôi là 5 lần được gặp Bác Hồ”

“Nếu ai hỏi may mắn lớn nhất cuộc đời tôi là gì, tôi sẽ trả lời ngay đó là 5 lần được gặp Bác Hồ. Nhờ có Bác Hồ kính yêu, tôi mới có cuộc sống hôm nay” – Đại úy Từ Thị Công Lễ, diễn viên Đoàn Văn công Quân khu 5, chia sẻ.

Là diễn viên của Đoàn Văn công quân khu 5, vợ chồng Trung tá Lê Tôn Sùng và Đại úy Từ Thị Công Lễ có cơ hội gặp Bác Hồ nhiều lần và đã từng vinh dự được biểu diễn phục vụ Bác. Mỗi năm vào dịp sinh nhật Bác, những ký ức về Bác lại hiện về trong tâm trí đôi vợ chồng nghệ sĩ – chiến sĩ.

Bà Lễ sinh năm 1940, quê ở Quảng Ngãi, người dân tộc Hrê; ông Sùng sinh năm 1937, quê ở Bình Định. Cả hai đều là diễn viên múa của Đoàn Văn công quân khu 5, quen nhau từ những lần đi diễn chung rồi nên nghĩa vợ chồng.

may man  3
Bà Lễ vinh dự 5 lần được gặp Bác Hồ

Bà Lễ từng được 5 gặp Bác Hồ còn ông Sùng từng 3 lần được gặp Bác Hồ. Với bà Lễ, trong 5 lần gặp Bác Hồ thì lần đầu tiên và lần cuối cùng để lại trong bà nhiều ấn tượng và kỷ niệm sâu sắc nhất. Bà Lễ bồi hồi nhớ lại lần đầu tiên được gặp Bác: “Đó là năm 1956, khi ấy tôi mới 14 tuổi, là học sinh của miền Nam tập kết ra Bắc để học tập. Tết Trung thu năm đó, với thành tích học tập xuất sắc, tôi vinh dự có mặt trong đoàn học sinh đến Phủ Chủ tịch gặp Bác. Khi Bác xuất hiện, tất cả học sinh chúng tôi đều đứng vây quanh Bác. Tôi cố len giữa đám đông để được đứng gần Bác hơn. Tôi nói với Bác: “Bác ơi! Người dân quê cháu dặn cháu rằng nếu có điều kiện gặp Bác Hồ thì phải cố gắng nhìn cho thật kỹ, xem Bác có giống như những người bình thường không mà sao Bác giỏi thế. Bác cho cháu được nắm tay Bác, vuốt chòm râu nữa Bác nhé”. Nghe xong Bác cười và gật đầu, đôi mắt nhìn tôi âu yếm. Suốt cả buổi hôm đó tôi chỉ chăm chú nhìn Bác mà không biết hôm đó Phủ Chủ tịch chiếu phim gì cho chúng tôi xem. Trước đó, Bác đã phát cho chúng tôi mỗi đứa một cái kẹo nhưng không ai dám ăn mà để dành như một vật quý báu”.

may man  1
Ông Sùng 3 lần được gặp Bác Hồ

“Lần cuối cùng tôi được gặp Bác là năm 1967. Đây là lần Đoàn Văn công của quân khu 5 ra Phủ Chủ tịch biểu diễn phục vụ Bác. Đội múa của chúng tôi biểu diễn tác phẩm “Tổng ngốc sa lầy” đả kích Tổng thống Níc-xơn bị sa lầy trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tại phòng chúng tôi biểu diễn, tường được lắp bằng kính nên chúng tôi vừa múa vừa nhìn Bác. Bác Hồ vừa xem vừa cười rất sảng khoái, nên chúng tôi cũng vui lây. Sau buổi biểu diễn, Bác nói: “Các cháu diễn hay lắm. Các cháu có đói không? Các cháu ăn phở nhé!”. Rồi Bác quay sang nhà thơ Tố Hữu đứng cạnh, dặn: “Chú Hữu nhớ cho các cháu ăn thật no, thật ngon vào”. Trước khi ra về, cả Đoàn được chụp ảnh cùng Bác. Lúc này sức khỏe của Người đã xuống, chúng tôi phải đỡ Bác đứng dậy”, bà Lễ xúc động nhớ lại.

Những lần khác, bà Lễ được gặp Bác khi Bác về thăm Đoàn Văn công quân khu 5. Có lần bà vinh dự được mang hoa ra sân bay đón Bác (lúc đó Đoàn văn công quân khu 5 đóng trên đất Vinh – Nghệ An).

Cũng giống như vợ mình, ông Sùng được gặp Bác trong những lần Bác thăm Đoàn Văn công quân khu 5 và vào Phủ Chủ tịch biểu diễn phục vụ Bác.

Ngoài ra, ông Sùng còn có dịp được biểu diễn cho Bác xem khi Bác đến thăm Đoàn Văn công Mai Dịch. Và cũng chính Bác Hồ đã đồng ý cho Đoàn Văn công của ông Sùng đi Trung Quốc biểu diễn. Sau khi qua Trung Quốc được mấy ngày thì Bác gửi thư động viên mọi người trong Đoàn. Hiện ông Sùng còn giữ bức thư đó như một báu vật.

Năm 1968, bà Lễ về làm giáo viên dạy múa Trường Nghệ thuật quân đội. Còn ông Sùng vào chiến trường Quân khu 5 tiếp tục phục vụ các chiến sĩ.

Ngày Bác Hồ mất, bà Lễ đang mang thai đứa con đầu lòng tháng thứ 8. Bà khóc nhiều lắm.

may man  2
Hai vợ chồng đã từng biểu diễn phục vụ Bác

“Hồi bố mẹ tôi mất tôi đi xa nên không biết mà khóc. Còn lúc Bác mất tôi khóc nhiều lắm. Chồng tôi phải thường xuyên động viên để tôi vơi đi nỗi buồn”, bà Lễ cho biết.

Sau giải phóng bà Lễ về công tác tại Đoàn Văn công Quân khu 5, làm Đội trưởng Đội múa; nghỉ hưu năm 1982 với quân hàm Đại úy. Còn ông Sùng nghỉ hưu năm 1990 với quân hàm Trung tá, là Phó Trưởng đoàn Văn công Quân khu 5.

15 năm nay hai vợ chồng bà Lễ tham gia công tác xã hội đều đặn, là diễn viên, biên đạo múa của đội văn nghệ Câu lạc bộ Thái Phiên Đà Nẵng. Hiện hai vợ chồng ông Sùng, bà Lễ đang sống trong căn nhà trên đường Trường Chinh, TP Đà Nẵng. Những lúc dàn dựng hay biểu diễn các tiết mục hát múa về Bác Hồ, vợ chồng bà lại nhớ về Bác trong niềm xúc động sâu sắc.

“Nếu ai hỏi may mắn lớn nhất trong đời tôi là gì, tôi sẽ trả lời ngay đó là 5 lần được gặp Bác Hồ. Nhờ có Bác Hồ kính yêu, tôi mới có cuộc sống hôm nay”, Bà Lễ xúc động chia sẻ.

Khánh Hồng
Theo tinmoi.vn
Kim Yến (st)

68 năm trước, Bác đã nói về “xe công”

Tháng 10-1945, nhà thơ Tố Hữu nhận được điện của Trung ương gọi ra Hà Nội và được gặp Bác Hồ. Cuộc gặp đầu tiên này đã được Tố Hữu ghi lại chi tiết trong hồi ký Nhớ lại một thời (NXB Văn Hóa Thông Tin tái bản 2002, trang 116-120).

Xin trích đoạn: … “Anh Vũ Đình Huỳnh nói nhỏ nhẹ: “Thưa cụ, anh Tố Hữu đến đấy ạ!”. Cụ nhìn thấy tôi, vẫy tay gọi đến gần và hỏi: “Chú ra đấy à?”. Tôi: “Dạ!”.

– Chú ra bằng gì? – Cụ hỏi.

xe-cong-aChủ tịch Hồ Chí Minh thăm Xưởng may 10. Người góp ý kiến về cách cắt may sao cho nhanh, tiết kiệm, đảm bảo chất lượng (8-1-1959) – Ảnh tư liệu

Tôi thưa:

– Dạ, bằng ôtô.

– Ôtô của ai?

– Dạ thưa, ôtô của mình…

Cụ nhìn tôi, có vẻ ngạc nhiên, nói lại:

– Của mình, là của ai?

– Dạ, của cơ quan ạ.

Cụ cười:

– Nhớ nhé, ôtô của cơ quan chứ không phải của các quan đâu đấy!

Mới nghe lần đầu đã thấy cụ thật sắc sảo. Cụ vừa dạy bảo rất nghiêm khắc, vừa “chơi chữ” như đùa vui: “của cơ quan, chứ không phải của các quan”… Thế là đã được một bài học. Cụ nói tiếp:

– Bây giờ Đảng cầm quyền có nhà cao cửa rộng, có ôtô sang trọng, dễ lên mặt “quan” lắm. Xe của cơ quan là để đi làm việc công, không phải để các chú đi chơi mang cả quan ông, quan bà, quan cô, quan cậu, thế là hỏng đấy.

Tôi thưa nhỏ:

– Dạ, bọn tôi đâu dám làm bậy”.

Ngày 17-10-1945, báo Cứu Quốc đăng thư Hồ Chủ tịch gửi các Ủy ban nhân dân các bộ, tỉnh, huyện và làng. Trong thư này một lần nữa câu chuyện xe công đã được nói đến khi nêu ra những lỗi lầm rất nặng nề mà nhiều người phạm. Đó là những lỗi lầm: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo.

Chuyện xe công được nêu ra trong đoạn viết về lỗi lầm hủ hóa: “Ăn uống cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, tự hỏi tiền bạc ở đâu mà ra? Thậm chí lấy của công làm việc tư, quên cả thanh liêm đạo đức. Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên cho đến các cô các cậu ủy viên cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai chịu?” (Hồ Chí Minh tuyển tập, tập 1, NXB Sự Thật Hà Nội, 1980, trang 370-371).

Bác Hồ coi việc tùy tiện sử dụng xe công là thuộc về “hủ hóa”. Hủ hóa, theo Từ điển Hán – Việt, là “trở thành hư hỏng, thối nát, tồi tệ” (trang 177). Mới đây chuyện xe công, nhà công lại rộ lên trong dư luận và công luận, bao gồm cả ý kiến phát biểu của một số cựu và tân bộ trưởng. Xem ra thì lại vẫn còn phải “chờ xem” về cả hai mặt tự nguyện và sửa đổi các qui định để việc sử dụng xe công không làm cho “hủ hóa” cán bộ, công chức, tức là không bị hư hỏng, tồi tệ, thối nát.

Theo Tuổi Trẻ Online
Thúy Hằng (st)