Thu dạ – Đêm thu

THU DẠ

Môn tiền vệ sĩ chấp thương lập,

Thiên thượng tàn vân bạng nguyệt phi;

Mộc sắt tung hoành như thản khắc ,

Mân trùng tụ tán tự phi ky (cơ);

Tâm hoài cố quốc thiên đường lộ ,

Mộng nhiễu tân sầu, vạn lũ ti;

Vô tội nhi tù dĩ nhất tải,

Lão phu hoà lệ tả tù thi.

ĐÊM THU

Trước cửa lính gác bồng súng đứng,

Trên trời đám mây tàn bay bên vầng trǎng;

Lũ rệp bò ngổn ngang như xe tǎng,

Đàn muỗi lúc tụ lúc tán như máy bay;

Lòng nhớ cố quốc cách xa nghìn trùng,

Giấc mộng vấn vương mối sầu mới như vạn mối tơ;

Vô tội mà ở tù đã một nǎm nay,

Già này hoà nước mắt viết thơ tù.

Trước cửa lính canh bồng súng đứng,

Trên trời trǎng lướt giữa làn mây;

Rệp bò ngang dọc như xe cóc,

Muỗi lượn hung hǎng tựa máy bay;

Nghìn dặm bâng khuâng hồn nước cũ,

Muôn tơ vương vấn mộng sầu nay;

ở tù nǎm trọn thân vô tội,

Hoà lệ thành thơ tả nỗi này.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Khán “Thiên gia thi” hữu cảm – Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”

Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ,

Sơn thuỷ yên hoa tuyết nguyệt phong;

Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,

Thi gia dã yếu hội xung phong.

Cảm tưởng đọc “THIÊN GIA THI”)

Thơ xưa nghiêng về yêu cảnh đẹp thiên nhiên,

Núi, sông, khói, hoa, tuyết, trǎng, gió;

Trong thơ thời nay nên có thép,

Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp,

Mây, gió, trǎng, hoa, tuyết, núi, sông;

Nay ở trong thơ nên có thép,

Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Tức cảnh – Tức cảnh

Thụ sao xảo hoạ Trương Phi tượng,

Xích nhật trường minh Quan Vũ tâm;

Tổ quốc chung niên vô tín tức,

Cố hương mỗi nhật vọng hồi âm.

Tức Cảnh

Ngọn cây khéo vẽ hình Trương Phi ,

Mặt trời hồng sáng mãi lòng Quan Vũ 2 ;

Tổ quốc suốt nǎm không tin tức,

Mong thư trả lời của quê nhà hàng ngày.

Cành lá khéo in hình Dực Đức,

Vầng hồng sáng mãi dạ Quan Công;

Nǎm tròn cố quốc tǎm hơi vắng,

Tin tức bên nhà bữa bữa trông.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Kết luận – Kết luận

Hạnh ngộ anh minh Hầu Chủ nhiệm,

Nhi kim hựu thị tự do nhân;

Ngục trung nhật ký tòng kim chỉ,

Thâm tạ Hầu công tái tạo ân.

Hoàn
29-8-1942
10-9-1943

Kết luận

May mắn gặp được Chủ nhiệm họ Hầu sáng suốt,

Mà nay ta lại là người tự do;

Nhật ký trong tù chấm dứt từ đây,

Cảm tạ khôn xiết công ơn tái tạo của ông Hầu.

Hết
29-8-1942
10-9-1943

Sáng suốt, nhờ ơn Hầu chủ nhiệm,

Tự do trở lại với mình rồi;

Ngục trung nhật ký từ đây dứt,

Tái tạo ơn sâu, cảm tạ người.

Hết
29-8-1942
10-9-1943

Khương Hữu Dụng dịch
cpv.org.vn

Mục đọc sách – Những hiểu biết cơ bản về quân sự.Bài giảng của Uỷ viên trưởng

1- Tổ chức: Biên chế và đội hình.

Quân đoàn, sư đoàn đến trung đội, tiểu đội là hình thể của tổ chức.

Mệnh lệnh, điều lệnh, các nhiệm vụ là nhiệm vụ của tổ chức.

Tổ chức cần phải chặt chẽ, thống nhất.

2- Kỷ luật cần nghiêm minh. Tổ chức là cơ thể của quân sự.

Kỷ luật là sinh mệnh của quân sự.

3- Kế hoạch cần rất tỉ mỉ, đầy đủ. Điều kiện: 1- Đối tượng; 2- Hoàn cảnh, địa hình, giao thông, vệ sinh, quân đội bạn, lực lượng ta, lực lượng kẻ thù; 3- Nhiệm vụ và mục đích của ta; 4- Công việc chuẩn bị: lương thực, súng đạn, giao thông, vệ sinh.

4- Mệnh lệnh cần đơn giản, rõ ràng, thiết thực, chu đáo. Chú ý thời gian, địa điểm, tình hình địch, hoàn cảnh, nhiệm vụ và mục đích bản thân công việc chuẩn bị.

5- Động tác như đứng nghiêm, v.v., cần nhanh chóng, xác thực. Đứng nghiêm: thân, tâm, khí, thế đều ổn định.

6- Hành động cần phải đều rǎm rắp, cùng nhất trí, nhanh chóng xác thực. Bí quyết nhanh chóng: đơn giản, tiết kiệm không gian, thời gian và tài lực, vật lực.

7- Sinh hoạt cần chỉnh tề, sạch sẽ, đơn giản, chất phác. Thời chiến bình tĩnh như thời bình. Thời bình khẩn trương, chịu đựng khắc khổ như thời chiến.

8- Quản lý người, việc, địa điểm, vật dụng, thời gian.

9- Tính chất trong sạch, đáng kính; cơ động, bí mật, diện: lường đến những việc có thể xảy ra, tích cực.

10- Hiệu quả và mục đích 1 : thân ái đoàn kết, muôn người một lòng.

11- Điều kiện thành công 2 : cẩn thận, sẵn sàng, kiểm thảo.

HUẤN LUYỆN

Tính chất huấn luyện dựa trên cǎn bản phải xem xét và giao trách nhiệm cho những người có tài nǎng để huấn luyện. Nghĩa là nói rồi thì phải đi làm, đã nói thì phải làm được. Xem xét tình hình, phẩm cách, kinh nghiệm, ưu điểm và khuyết điểm. Tổ chức nhân tài. Dạy làm người, làm việc. Thân ái đoàn kết. Không cẩu thả, không dối trá. Cán bộ. Nghiên cứu, phê bình, thảo luận, thi đua, hỗ trợ. Tự giác, tự động. Sáng tạo, phụ trách. Đầu óc, miệng, mắt, tay, chân đều đạt. Giữ kỷ luật, tiếc thời gian.

Phân biệt sự vật, có cái nặng, cái nhẹ, cái gấp, cái không gấp.

Trao đổi kinh nghiệm. Giao công tác thực tế. Giải đáp thắc mắc.

Phân công việc không tiến thì lùi. Một chỗ buông lơi, trǎm chỗ lười biếng.

Tinh thần càng dùng càng nhạy bén, trí tuệ càng dùng càng minh mẫn.

Cái cần lúc đầu là dũng khí.

Mới, không ngừng tiến thủ, cần có bản lĩnh độc lập. Tự mình làm lấy, tự giác, tự động, tự chủ. Lao động, sáng tạo, quyết đoán. Mỗi ngày một mới. Cần theo dõi, kiểm tra, khảo sát, chỉ đạo, hội báo.

Quyết tâm trở thành người tốt là phải không sợ khổ, không sợ khó, nhất định làm đến cùng những điều chúng ta thấy đáng làm, cho dù chưa chắc thành công vẫn ra sức làm dù gặp phải gian nan nguy hiểm gì, cùng cực càng phấn đấu, không lùi bước, phải làm thực sự, làm nhanh, làm một cách kiên quyết.

Liên hợp với các quốc gia dân tộc đồng tình với ta để cùng đấu tranh cho hoà bình và chính nghĩa của thế giới…

Từ nay về sau, chúng ta hy vọng: tất cả các dân tộc nhỏ yếu trên thế giới nên lấy nhiệt tình đòi độc lập tự do của dân tộc mình giúp đỡ cuộc kháng chiến chống Nhật của Trung Quốc. Các quốc gia, dân tộc bị chủ nghĩa bạo lực, bị đế quốc Nhật thôn tính… từ nay về sau đều phải liên hợp lại (tháng 6-1927).

Thái độ: lễ, quy, củ. Kỷ luật: nghiêm, chính. Hành vi: nghĩa, chính, đương. Hy sinh: khảng khái. Phân biệt: liêm, thanh, sở. Tiết kiệm: thực, tại. Giác ngộ: sĩ, thiết, thực. Phấn đấu: dũng, liệt.

Một vật dùng như hai vật. Một người làm việc của hai người. Một ngày làm công của hai ngày. Nói ít, bắt đầu bằng hành động. Tiến bộ.

Qua ba nǎm kháng chiến, mất Bắc Bình, Thiên Tân: 4-8-1937; Trương Gia Khẩu: 25-8-1937; Thạch Gia Trang: 10-10-1937; Thái Nguyên: 9-11-1937; Tuy Viễn: 13-11-1937; Thượng Hải: 13-8 đến 9-11-1937; Nam Kinh: 13-11-1937; Tế Nam: 27-12-1937; Từ Châu: 19-5-1938; Hàng Châu: 25-11-1938; Vũ Hán: 12-6 đến 25-10-1938; Quảng Châu: 21-10-1938; Hải Nam: 10-2-1939; Nam Ninh: 24-2-1939; Nam Xương: 27-2-1939.

Sư đoàn thứ tám Trung Điều Sơn tấn công từ tháng 5 đến tháng 7-1939. Địch khoảng 35 sư đoàn. Hà Bắc, Cáp Nhĩ Tân, Tuy Viễn, Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Nam, Giang Tô, Triết Giang, An Huy, Giang Tây, Hà Bắc, Quảng Đông, Hồ Nam, Phúc Kiến, Quảng Tây, cộng tất cả 16 thành phố, 1.170 huyện, địch chiếm 15 thành phố, 533 huyện. Đến hết tháng 3-1940, có tất cả 179.000 quân nguỵ và quân chính quy. Lấy lại Nam Ninh ngày 30-10-1940.

Địch vào Việt Nam tháng 9-1940.

ý nghĩa của vǎn hoá: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, vǎn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ǎn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là vǎn hoá. Vǎn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.

Nǎm điểm lớn xây dựng nền vǎn hoá dân tộc.

1- Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường.

2- Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng.

3- Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội.

4- Xây dựng chính trị: dân quyền.

5- Xây dựng kinh tế.

Tài liệu chữ Hán,
viết trong bản thảo
Nhật ký trong tù.
cpv.org.vn

Tân xuất ngục học đǎng sơn – Mới ra tù, tập leo núi (1)

Ân ủng trùng sơn, sơn ủng vân,
Giang tâm như kính tịnh vô trần;
Bồi hồi độc bộ Tây phong lĩnh,
Dao vọng Nam thiên ức cố nhân.
Mới ra tù, tập leo núi
Mây ôm dẫy núi, núi ôm mây,
Lòng sông như gương, không chút bụi;
Một mình bồi hồi dạo bước trên đỉnh núi Tây Phong
Trông về phía trời Nam xa xǎm nhớ bạn cũ.
Núi ấp ôm mây, mây ấp núi,
Lòng sông gương sáng, bụi không mờ;
Bồi hồi dạo bước Tây Phong lĩnh,
Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa.

NAM TRÂN dịch

Bản dịch khác:

Mây ôm núi núi ôm mây,
Lòng sông sạch chẳng mảy may bụi hồng;
Bùi ngùi dạo đỉnh Tây Phong,
Trông về cố quốc chạnh lòng nhớ ai.

T.LAN dịch (1)

cpv.org.vn

————————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Tặng cụ Đinh Chương Dương

Quan san muôn dặm gặp nhau đây,
Mục đích chung là đuổi Nhật, Tây.
Dân bị hai tròng vào một cổ,
Ta liều trǎm đắng với ngàn cay.
Già dù yếu sức mang mang nhẹ,
Trẻ cố ra công gánh gánh đầy.
Non nước của ta ta lấy lại,
Nghìn thu sự nghiệp nổi từ đây.

Liễu Châu, nǎm 1943

In trong sách: Hồ Chí Minh, Thơ, Nxb. Vǎn học,
Hà Nội, 1970, tr.46. Theo bài in trong sách Hồ Chí Minh, Thơ
cpv.org.vn

Tầm nhìn ngoại giao toàn diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh

tam nhìn và ngoai giao
Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh chung với các đại diện Anh, Pháp, Mỹ, Trung Quốc sau khi ký Hiệp định sơ bộ 6/3/1946.

Dưới sự lãnh đạo tài tình của Bác Hồ, Cách mạng Tháng Tám 1945 – một sự kiện vĩ đại trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam. Thành công của Cách mạng Tháng Tám đã để lại nhiều bài học quý báu cho dân tộc Việt Nam. Một trong những bài học đó là bài học về đoàn kết sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thể hiện tầm nhìn chiến lược về ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tuy chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng thành công của Cách mạng Tháng Tám là kết quả của quá trình chuẩn bị lâu dài, gian khổ của nhân dân, là sự sáng suốt của Hồ Chí Minh trong sách lược đối ngoại. Đặc biệt, việc dự báo đúng tình thế, nhận định đúng thời cơ, kết hợp nội lực và ngoại lực đã thể hiện một tầm nhìn ngoại giao thiên tài của Hồ Chí Minh.

Với nhãn quan chính trị sắc bén, ngay từ năm 1941, Hồ Chí Minh đã đề nghị trong lúc này chúng ta phải chuẩn bị lực lượng, tranh thủ tối đa mọi sự ủng hộ từ các lực lượng bên ngoài tạo nên một lực lượng thống nhất để giành chính quyền khi có thời cơ đến. Bằng uy tín và kinh nghiệm, thông qua con đường ngoại giao, Người đã tranh thủ tối đa mọi sự ủng hộ của Đồng minh và các lực lượng tiến bộ khác, kết hợp với sức mạnh của quần chúng tạo nên sức mạnh tổng hợp để sẵn sàng Tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến.

Trước bối cảnh cuộc Chiến tranh thế giới thứ II có nhiều chuyển biến mau lẹ, phe Đồng minh đang từng bước giành được thế chủ động trên chiến trường, Người nhận định: “Tình thế cách mạng thế giới đã chuyển biến có nhiều thuận lợi cho cách mạng”. Hồ Chí Minh đã phát hiện ra mâu thuẫn giữa các nước Mỹ, Anh, Pháp về vấn đề thuộc địa, trong đó có Đông Dương. Từ những phát hiện này, Người chủ trương tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ và quyết định gặp đại diện Mỹ ở Côn Minh (Trung Quốc). Trong cuộc đàm phán này Người nêu rõ Việt Minh đã lớn mạnh và muốn hợp tác với Mỹ, cùng chống Nhật và mong có sự công nhận chính thức của Mỹ đối với Việt Minh như là một lực lượng chính thống, thuộc khối Đồng minh chống phát xít.

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính pháp ở Đông Dương. Trước tình hình đó Bộ Chỉ huy của Mỹ ở Côn Minh đã nhiều lần cử đại diện đến gặp Hồ Chí Minh để bàn phương thức hợp tác “Việt Minh – Mỹ”. Như vậy, bằng nghệ thuật ngoại giao sắc sảo, Hồ Chí Minh đã làm cho Mỹ thấy được sự lớn mạnh và ảnh hưởng của Việt Minh trong nhiệm vụ chống phát xít. Từ đó Hồ Chủ tịch đã tranh thủ được sự ủng hộ của Mỹ và Đồng minh cho mục tiêu giành độc lập.

Cuối tháng 5 năm 1945, Người về Tân Trào chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa, đồng thời triển khai kế hoạch nhận tiếp viện từ phía Mỹ. Tính đến ngày 10 tháng 8 năm 1945, Việt Minh đã nhận được 22 chuyến hàng thả dù tiếp viện từ phía Mỹ, bao gồm súng, đạn, quân trang, quân dụng, điện đài và một nhóm quân tình nguyện Mỹ (11 người) trực tiếp hướng dẫn cán bộ Việt Minh sử dụng vũ khí mới và trang thiết bị phục vụ cho khởi nghĩa vũ trang. Như vậy trong thời điểm nhạy cảm, Hồ Chí Minh đã lôi kéo được Quốc dân đảng – Trung Hoa và Mỹ. Từ đó Người khai thác và tranh thủ tối đa sự ủng hộ từ bên ngoài tạo thêm thế và lực, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa.

Tháng 8 năm 1945, phát xít Đức đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, quân Nhật ở Đông Dương hoảng loạn, thời cơ “Ngàn năm có một” của cách mạng đã đến. Ngày 15 tháng 8, Người gửi bức điện tới đại diện Mỹ yêu cầu Liên Hợp quốc tạo điều kiện cho Đông Dương và khẳng định ý chí của nhân dân Đông dương sẵn sàng đứng lên giành độc lập. Ngày 16 tháng 8, Người chủ trì Đại hội Đại biểu Quốc dân và thông qua mười chính sách lớn của Việt Minh. Khi Đại hội bế mạc, Người lập tức gửi thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa tới đồng bào cả nước hãy đứng dậy, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trước toàn thể dân tộc và quốc tế trước khi quân Đồng minh vào với danh nghĩa giải giáp quân Nhật. Trong “Tuyên ngôn độc lập” Hồ Chí Minh đã trích dẫn bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp và “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ, đây là sự thể hiện sự mẫn cảm chính trị và tầm nhìn xa trông rộng của Hồ Chí Minh cho những mục tiêu lâu dài của cách mạng Việt Nam.

Như vậy, có thể khẳng định, thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám gắn liền với quyết định táo bạo và kịp thời của Hồ Chí Minh; thể hiện tầm nhìn ngoại giao sắc sảo của Người trong việc tranh thủ các lực lượng tiến bộ bên ngoài, phát huy nội lực bên trong tạo nên sức mạnh tổng hợp để làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám lịch sử. Đó chính là hiện thân của sự mẫn cảm chính trị, tầm nhìn ngoại giao thiên tài của Người.

Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang đẩy mạnh toàn diện công cuộc Đổi Mới. Trên mặt trận đối ngoại, lấy Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bắt nguồn từ cuộc Cách mạng Tháng Tám làm kim chỉ nam đã được kiểm chứng và đã mang lại những thành quả quan trọng. Đặc biệt, trong bối cảnh khu vực và thế giới có nhiều biến động, thì việc vận dụng linh hoạt bài học ngoại giao Hồ Chí Minh như “hòa để tiến”, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, tranh thủ ngoại lực, phát huy nội lực để tạo nên sức mạnh đại đoàn kết dân tộc càng trở nên sâu sắc và có ý nghĩa hơn bao giờ hết.

Theo Thế giới & Việt Nam
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ với các mốc son lịch sử những ngày đầu cách mạng

Thực hiện Nghị quyết Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Quốc dân Đại hội và Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước triệu người như một nhất tề nổi dậy với ý chí dù có hy sinh đến đâu, cũng phải giành cho được chính quyền trong toàn quốc.

Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám đã nhanh chóng giành được thắng lợi. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội (19/8/1945), Huế (23/8/1945), Sài Gòn (25/8/1945). Chính quyền cả nước đã thuộc về nhân dân.

Ngày 25/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội, theo đề nghị của Người, Uỷ ban Dân tộc giải phóng được mở rộng thành Chính phủ lâm thời. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, quận Hoàn Kiếm, Bác đã dồn tâm trí viết một áng hùng văn có tầm lịch sử vô giá: Bản Tuyên ngôn độc lập – khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.

Ngày 30/8/1945, tại Huế, đồng chí Trần Huy Liệu, đồng chí Nguyễn Lương Bằng, đồng chí Cù Huy Cận thay mặt Chính phủ lâm thời đã tuyên bố chấp nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại và nhận ấn kiếm của nhà vua giao nộp cho Chính phủ, trước sự chứng kiến của hàng vạn đồng bào Thừa Thiên – Huế. Vua Bảo Đại đã xin thoái vị để “được làm dân tự do của một nước độc lập”1.

Ngày 2/9/1945, trước cuộc mít tinh của hơn nửa triệu người tại Quảng trường Ba Đình, Hồ Chủ tịch đọc Bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử. Bản Tuyên ngôn mở đầu bằng một chân lý không ai chối cãi được: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do…”, Người cũng tuyên bố trước thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập… Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Bản Tuyên ngôn đã được phổ biến rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân, nhanh chóng đi vào lòng người, nâng cao tinh thần tự hào dân tộc và quyết tâm sắt đá bảo vệ quyền tự do, độc lập mới giành được.

Ngay sau khi đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng nêu ra 6 nhiệm vụ cấp bách: Chống đói; chống dốt; tổng tuyển cử; xây dựng nếp sống mới; xóa bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò; tín ngưỡng tự do. Sau đó, Người đã bổ sung và khái quát thành 3 nhiệm vụ lớn: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.

Ngày 26/9/1945, Hồ Chủ tịch gửi thư cho đồng bào Nam bộ, nêu rõ cuộc kháng chiến ở Nam bộ được cả nước ủng hộ, biểu dương gương chiến đấu dũng cảm của quân và dân Nam bộ, nêu rõ quyết tâm của toàn dân ta “thà chết tự do, còn hơn sống nô lệ”.

Tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ tặng đồng bào Nam bộ danh hiệu vẻ vang “Thành đồng Tổ quốc”, cổ vũ mạnh mẽ cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam.

Ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi các Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, huyện và làng chỉ rõ tính chất và nhiệm vụ của chính quyền cách mạng: “Các cơ quan của Chính phủ, từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, đều là đầy tớ của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ thống trị của đế quốc Pháp, Nhật. Nếu nước được độc lập mà dân không được hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”2. Người cũng vạch ra những lầm lỗi cần phải sửa chữa của một số cán bộ: Cậy thế, làm trái phép, hủ hóa, tư túi, chia rẽ, kiêu ngạo. Bức thư này bước đầu đã xây dựng cơ sở lý luận cho chính quyền kiểu mới ở nước ta.

Cùng với việc chống giặc ngoại xâm, chống nạn đói, Người rất quan tâm đến việc diệt dốt. Vì vậy, việc chống nạn mù chữ cũng được tuyên truyền rộng rãi ở các địa phương. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Những người biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ… Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết. Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo”3. Hình thức tuyên truyền chống mù chữ rất phong phú, như: “Tiền tuyến diệt xâm lăng, hậu phương trừ giặc dốt”; “Thêm một người đi học là thêm một viên gạch xây nền độc lập của nước nhà”. Có nhiều thơ ca, hò vè gây ấn tượng rất sâu sắc: “Lấy chồng biết chữ là tiên, lấy chồng không chữ là duyên lỡ làng”. Sau một năm đã có hơn hai triệu người thoát nạn mù chữ.

Tháng 9 năm 1945, nhân ngày khai trường năm học đầu tiên sau khi cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho học sinh cả nước khuyến khích các cháu học tập tốt để sau này đem tài năng phục vụ đất nước: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”4.

Ngày 20/10/1945, Bác đến dự khai mạc Ngày Sinh viên cứu quốc, Bác xúc động khuyên nhủ: “Các cháu còn bé chưa vác nổi súng, đi đánh giặc làm sao được. Các cháu có thể đánh giặc bằng cách khác. Học cho siêng, giữ gìn tính nết cho ngoan và luyện thân thể cho khỏe cũng là đánh giặc. Rồi khi cần đến các cháu sẽ làm trinh sát, liên lạc trong quân đội, phục vụ chiến đấu…”5.

Để củng cố chính quyền cách mạng, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, Chính phủ quyết định tổ chức Tổng tuyển cử vào ngày 6/1/1946 để bầu Quốc hội, xây dựng Hiến pháp và lập Chính phủ chính thức.

Trải qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, lời thề độc lập và những việc làm của Bác trong những ngày ấy đã chắp cánh để chúng ta hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc và tiếp tục xây dựng non nước ta đàng hoàng và to đẹp hơn./.

_________________

1. Trong khi đó, tại Hà Nội, chiều ngày 30-8-1945, Bác Hồ đã tiếp ông Pat-ti và những người Mỹ đầu tiên trên đất Việt Nam độc lập. Rất thân tình và cởi mở, Bác Hồ đọc cho các vị khách nghe câu mở đầu của Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam. Thoạt tiên, những người Mỹ tưởng mình nghe nhầm. Các vị khách vô cùng ngạc nhiên vì đó là câu mở đầu của Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1778 của nước Mỹ! Bác Hồ vẫn bình thản diễn tả đúng văn phong và lập luận của mình. Từ ngạc nhiên đến xúc động, những người khách Mỹ như phát hiện một điều kỳ lạ ở đất nước xa xôi này. Điều kỳ lạ đó được một cụ già mảnh khảnh, mặc chiếc áo nâu, thể hiện bằng một phong thái lịch lãm và một thứ ngôn ngữ uyển chuyển đến mức không thể tưởng tượng nổi… Cuối buổi tiếp, Bác Hồ vui vẻ báo tin: Chủ nhật 2-9 tới, Chính phủ Việt Nam tổ chức ngày Lễ Độc lập và mời những đại biểu của nước Mỹ tới dự.

2, 3, 4, 5. Tư liệu sưu tầm.

Theo Lê Quang Cảnh
Nguyên Tổng Biên tập Báo Đại đoàn kết.
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Libǎng 12-1943 (1)

Libǎng là gì? Chắc là nhiều độc giả chưa từng nghe nói đến tên xứ này. ấy là một nước nhỏ ở Cận Đông, gần đây đã làm cho thế giới phải chú ý.

Libǎng ở cạnh xứ Xyri, đất rộng 38 vạn dặm vuông (dặm Anh), dân số 70 vạn người, kinh đô là Bâyrút, ngày trước thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, đến nǎm 1861 thì thoát ly nước Thổ mà độc lập, song lại bị đế quốc Pháp bao biện.

Sau Thế giới đại chiến lần thứ nhất, Libǎng đòi hoàn toàn độc lập, nhưng không được. Tháng 7-1922, Hội Quốc liên uỷ nhiệm xứ ấy cho nước Pháp. Trong lời uỷ nhiệm có định rằng: “trong hạn 3 nǎm, Pháp phải lập nên Hiến pháp cho Libǎng và Xyri, và phải làm cho hai nước ấy thành nước độc lập”.

Hiến pháp thì có Hiến pháp Libǎng được Pháp quẳng cho tấm áo Cộng hoà có Tổng thống, có Nội các, có Nghị viện.

Nhưng Hiến pháp lại do người Pháp định ra và chung quy chỉ lợi cho nước Pháp, dân tộc Libǎng chỉ có tiếng mà không có miếng. Bởi vậy, dân Libǎng lấy làm cǎm giận, nên đến nǎm 1925 nổi cách mệnh chống với Pháp. Đế quốc Pháp đối phó với cách mệnh Libǎng cũng như chúng đã từng đối phó với cách mệnh Việt Nam và cách mệnh ở các thuộc địa khác của chúng. Nghĩa là chúng dùng uy lực tàn sát mà đàn áp và đốt phá mấy thành thị để thị uy. Trong cuộc tranh đấu ấy, dưới sự tàn bạo của giặc Pháp, 6000 cách mệnh chiến sĩ Libǎng chìm thây trong bể máu. Song cuộc đại khủng bố của giặc Pháp chẳng những không làm cho dân Libǎng kinh sợ, mà trái lại bể máu đào ấy chẳng bao lâu lại nổi lên một trận sóng to gió lớn khác khiến cho đế quốc Pháp phải hoảng sợ, ấy là: nǎm 1931, dân Lêbanôn lại vùng dậy gây thành phong trào bãi khoá, bãi thị, bãi công, chống thuế, v.v.. Công cuộc vận động tiến hành tràn lan khắp nơi.

Nǎm 1936, công cuộc cách mệnh đại vận động lại dấy nổi làm cho đế quốc Pháp phải nhượng bộ và theo lời hứa của Pháp: sau 3 nǎm sẽ để cho Libǎng được độc lập hẳn. Nhưng vì cuộc Thế giới đại chiến lần thứ hai bùng nổ, nên cuộc độc lập của Libǎng chưa được thực hiện. Cho tới nǎm 1940, Pháp bị mất nước. Cách đó ít lâu, Anh mang quân đánh Xyri, Pháp bị thua. Nhưng Anh lại giao Xyri và Libǎng cho bọn Đờ Gôn giữ.

Nǎm 1941, Anh Pháp dân tộc giải phóng uỷ viên hội (bọn Đờ Gôn) lại hứa cho Libǎng độc lập. Nhưng trong thời kỳ chiến tranh, bọn Đờ Gôn vẫn được quyền đại lý Libǎng.

Đầu tháng 11-1943, nghị viện Lêbanôn sửa chữa lại Hiến pháp. Uỷ viên của phái Đờ Gôn ở Libǎng bảo rằng Hiến pháp mới không lợi cho đế quốc Pháp, nên bắt giam Tổng thống, Tổng lý và 49 nghị viên Libǎng. Dân chúng tiếp tin ấy, rất mực công phẫn, lập tức nổi lên can thiệp. Người Pháp phái cảnh sát ra dẹp, nhưng cảnh sát cũng đồng tình với dân chúng cự tuyệt không chịu tuân theo mệnh lệnh, nên người Pháp lại phái lính Xênêgan (lính châu Phi) đàn áp. Việc ấy phát sinh từ ngày 10-11-1943, đến nay cũng chưa giải quyết xong. Xem việc ấy thì chúng ta đủ biết nhận thấy:

1) Bất kỳ bọn Pêtanh hay bọn Đờ Gôn cũng vẫn mang tâm lang sói, khư khư trong cái khuôn khổ đế quốc chủ nghĩa, đều là kẻ thù chung của những dân tộc các xứ thuộc địa hay bảo hộ mà trước đây, tại những nơi đó mà chúng đã hoành hành bao thủ đoạn tàn bạo bóc lột, dẫu rằng hiện tại chính thân thể chúng cũng đương bị quằn quại ở chỗ trong cảnh nước mất nhà tan. Và trước đây ít lâu, bọn Đờ Gôn há chẳng từng phải đem những câu “Dân tộc giải phóng” trưng bày với thế giới để cầu mong các cường quốc giúp đỡ, thế mà đối với các dân tộc khác vận động sự giải phóng độc lập thì chúng lại giở tay đàn áp đến cùng. Đấy là một lẽ mà chúng ta cần phải nhận biết.

2) Libǎng tuy là một nước rất nhỏ, dân số Việt Nam ta 20 phần thì đem so với dân số của họ thật không bằng một phần của ta. Thế mà dân tộc Libǎng, trong khoảng 18 nǎm trời (1925-1943) gây nên biết bao cuộc đấu tranh oanh liệt, sự thất bại trong nhất thời đã không làm nản lòng chiến sĩ, thì sự tiếp tục phi thường đáng kính ấy là một lẽ tất nhiên phải có, dân tộc đó anh dũng lại thêm tinh thần đoàn kết cả nước một lòng thì ai là chẳng kính phục? mà loài lang sói vì thế cũng phải trùng gan ngại bước.

Việt Nam hiện đang chuẩn bị đánh Nhật, đuổi Pháp để giành lấy sự độc lập tự do, vậy nên vô luận gần hay xa và bất cứ dân tộc nào nổi lên chống với đế quốc xâm lược đều là bạn thân của dân tộc Việt Nam ta vậy. Cho nên chúng ta rất đồng tình và mong cho công cuộc cách mạng của dân tộc Libǎng được thắng lợi. Tuy xa cách nhau mấy nghìn dặm, chúng ta đồng thanh cùng với anh, với chị em Libǎng hô to khẩu hiệu:

Đánh đổ bọn đế quốc xâm lược!
Libǎng cách mạng thành công muôn nǎm!
Các dân tộc bị áp bức được hoàn toàn giải phóng!

Hồ Chí Minh

Báo Đồng Minh,
số 18, tháng 12-1943.
cpv.org.vn

———————————-

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Chào xuân

Nǎm cũ lịch cũ vừa qua,
Nǎm mới lịch mới lại tới!

Sau mùa đông lạnh lẽo, muôn vật tiêu điều. Và tạo hoá lại cho mùa Xuân mang đến cho thế gian những vẻ tốt tươi ấm áp, muôn hoa tươi thắm, ngàn lá đua xanh. Loài động vật cũng nhờ Xuân mà khôi phục lại sinh khí. Vậy nên gọi là Xuân sinh.

Loài người lợi dụng cái luật tự nhiên của tạo hoá, chẳng những hưởng thụ cái hạnh phúc khoái lạc của mùa Xuân, và lại nhận cái không khí phồn vinh của ngày Xuân để sắp đặt cái kế hoạch hoạt động và sống còn cho cả nǎm, nên tục ngữ có câu “Nhất niên chi kế thuỷ ư Xuân”.

Cũng vì thế cho nên nǎm mới thì người ta có những cuộc vui vẻ, sung sướng cho xứng đáng với Xuân và để mừng Xuân. Chẳng những là kẻ giàu sang tiếp Xuân với sự hồ hởi, mà người nghèo khó thấy Xuân cũng vui mừng.

“Mồng một đốt toang ba chiếc pháo
Ba mươi kéo tuốt một con nêu”

Chỉ có ba chiếc pháo mà vẫn inh ỏi cười Xuân như ai! Xuân chẳng những là ôn hoà tươi đẹp, mà lại chí công vô tư. Đã không riêng cho một hạng người nào, cũng không riêng cho một nơi nào. Cho nên có câu ca dao:

“Xuân ơi, Xuân hỡi, hỡi Xuân,
Từ xa tới gần, Xuân khắp mọi nơi”.

*

*      *

Song luật xã hội không theo vòng tròn của luật tự nhiên. Từ xưa đến nay, nơi nào cũng có Xuân. Từ xưa đến nay cây nào cũng tươi tốt. Nhưng cách thức loài người đón rước Xuân này và đón rước mùa Xuân trước, khác nhau nhiều lắm.

Ngày nay, những tiếng pháo lốp đốp chào Xuân đã bị những tiếng đùng đùng của ngư lôi ngoài bể và đại bác trên bờ át mất. Cái sắc đỏ của hoa đào, màu điều của câu đối Xuân, tựa hồ đã nhuộm bằng giọt máu hồng của những chiến sĩ ở các sa trường khắp thế giới! Khi ai hưởng bánh chưng, rượu ngọt, củ kiệu, thịt đông, sao cho khỏi nhớ đến chiến sĩ ǎn tuyết, uống sương trên mặt trận!

Trong tự nhiên thì Xuân này không khác gì các Xuân trước. Nhưng trong xã hội thì Xuân này là một chiếc tranh Xuân, một Xuân trọng yếu, chẳng những nó giúp giùm sinh kế của loài người trong một nǎm mà nó sẽ quyết định mệnh vận của loài người trong bao nhiêu thời đại.

Vậy muốn biết Xuân này sẽ có ảnh hưởng thế nào, thì chúng ta phải kiểm thảo lại những cuộc chuyển biến trong thế giới từ Xuân trước.

*

*      *

Đến Xuân này:

Trung Nhật chiến tranh đã 6 nǎm rưỡi
Thế giới đại chiến 4 nǎm
Nga Đức chiến tranh đã 2 nǎm rưỡi
Thái Bình Dương chiến tranh 2 nǎm

Muốn biết từ Xuân này, chiến tranh sẽ thế nào thì chúng ta phải xét lại từ Xuân nǎm ngoái đến giờ, chiến tranh đã đến bước nào rồi.

Từ Xuân nǎm ngoái, quân các nước Đồng minh đã đứng vào chủ động. Quân các nước Trục – Tâm đứng về bị động. Minh quân bước qua thế công. Trục quân lui lại thế thủ. Chiến lược chớp nhoáng của Trục hoàn toàn thất bại. Chiến lược (trì cửu) của Đồng minh hoàn toàn thắng lợi.

Mặt trận Đức – Nga

Xuân trước, trong độ này, 38 vạn tinh binh của Đức đánh vào thành Xtalingrát. Nhưng kết quả bị một trận thất bại rất to. Trong lúc quân Nga giải vây thành Xtalingrát bắt được nǎm ngàn tướng lãnh và hơn 9 vạn lính Đức. Trận ấy là trận thắng lợi to nhất và đầu tiên của quân Đồng minh. Từ đó trở đi, quân Trục cứ thất bại mãi, mà quân Đồng minh, nhất là quân Nga thì lại thắng lợi luôn và lấy lại được nhiều thành trì trọng yếu như:

Tháng 2 lấy lại Gorsk, Rostof, Kharkof
Tháng 3 lấy lại Yoff, Virsma
Tháng 7 lấy lại Orel
Tháng 8 lấy lại Belarus
Tháng 9 lấy lại Staline, Chianof Smolensk
Tháng 10 lấy lại Maiopol và các thành khác
Tháng 11 lấy lại Kieb 1
Tháng 12 lấy lại biên thuỳ Balan – Nga

Trong lời diễn thuyết kỷ niệm Cách mệnh Nga, ngày 6-11 dương lịch, Đại nguyên soái Xtalin nói rằng: “Kết quả trong 7 tháng vừa qua, quân đội ta tiến được nơi thì 500 cây số, nơi thì 1500 cây số. Đã giải phóng hơn một triệu cây số vuông đất nước của ta, tức là hai phần ba đất đai tạm thời bị Đức chiếm cứ… Trong một nǎm nay, trên mặt trận Nga, quân phát xít Đức đã tổn thất hơn 4 triệu người, trong số đó, một triệu tư người chết tại mặt trận. Phát xít Đức mất trên 14.000 chiếc tàu bay, hơn 35.000 chiếc xe tǎng, hơn 40.000 khẩu đại pháo…”.

Trong lúc viết bài chào Xuân này, quân Nga đuổi quân Đức chẳng những ra khỏi đất Nga, mà lại vào sâu gần 60 cây số trong nước Ba Lan.

*

*      *

ở Địa Trung Hải, từ Xuân trước đến Xuân này, Minh quân cũng thắng lợi luôn, mà bên Trục cũng thất bại mãi.

Ngày 3-1-1943, đệ 8 quân (1) Anh khởi phản công từ Ai Cập, đệ 19 quân (2) Anh và viễn chinh quân Mỹ đổ bộ tại Marốc và Angiêri. Quân Trục phải bỏ Libi (thuộc địa của ý) mà rút cả ở Tuynidi. Đến trung tuần tháng 5 thì quân Đức và ý hoàn toàn bị đánh tan.

Trong trận đó, bao nhiêu thuộc địa của ý đều mất sạch. Quân Trục tổn thất hơn 95 vạn người. Trong số đó, 37 vạn lính ý, 15 vạn lính Đức, 17 đại tướng và 2 nguyên soái bị cầm tù.

Về khí giới thì quân Trục mất:

Tàu bay, hơn 8000 chiếc
Đại pháo 8100 khẩu
Xe tǎng 2250 cái
Tàu thuỷ 210 vạn tấn

Qua tháng 6, quân Anh, Mỹ đánh vào đảo Xixin của ý. Ngày 17-3 thì đảo ấy đầu hàng.

Trong một thời gian không đầy hai tháng, mà quân Đức và quân ý mất hơn 17 vạn người chết, bị thương và bị cầm tù.

Chiếm được cǎn cứ địa ấy rồi, qua ngày 3-9, Minh quân đổ bộ tại phía nam ý. Cách 5 ngày sau thì nước ý xin hàng. Trừ một bộ phận nhỏ bị Đức ép bắt theo nó, bộ phận lớn quân đội ý với hết thảy hải quân của ý, hơn 100 chiếc tàu binh lớn, bé đều theo Minh quân cả.

Thế là về mặt trận này, Minh quân cũng đại thắng. Mútxôlini phải chạy trốn.

*

*      *

Tại Thái Bình Dương. Tuy Minh quân không có những cuộc đại thắng lợi như các mặt trận kia, nhưng cũng giành được địa vị chủ động, bước qua thế công và khá tiến bộ.

Tại Bắc Thái Bình Dương, từ hôm 12-2-1943, Mỹ bắt đầu phản công, đến cuối tháng 5-1943 lấy lại đảo Marian.

Tại Nam Thái Bình Dương, từ tháng 7 đến tháng 10, Minh quân lấy lại được 6 nơi cǎn cứ tại bán đảo và một nơi cǎn cứ địa tại quần đảo Sokman.

Trong 2 nǎm, tại mặt trận Nam, Nhật mất 1300 tàu bay và 1500 chiếc tàu thuỷ lớn và bé.

Tại Trung Quốc, mùa Xuân trước đến mùa Xuân này, không có đại chiến tranh. Trong tháng 11, 12, tại miền Bắc tỉnh Hồ Nam, nhất là tại Thường Đức đã làm cho giặc Nhật một mẻ mất hồn.

*

*      *

Đoán trước để xét sau, xem sự chuyển biến nói trên, thì chúng ta có thể nói rằng: Xuân này sẽ là một Xuân thắng lợi cho mặt trận phản xâm lược.

Xuân là Xuân chung, vậy chúng ta phải gắng sức công tác thế nào cho Đồng minh hội chúng ta cũng có phần thắng lợi chung của Đồng minh lớn kia.

Vậy xin kết luận vài lời nôm na rằng:

Rót cốc rượu Xuân, mừng cách mạng.
Viết bài chào Tết, chúc thành công!

Hồ Chí Minh

Báo Đồng Minh,
số Xuân Giáp Thân.
cpv.org.vn

———————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Trả lời cho bọn De Gaulle (1)

Gần đây, Pháp quốc giải phóng ủy hội ở Alger, tuyên bố rằng sau cuộc chiến tranh này, nước Pháp sẽ sẵn lòng ban cho dân Việt Nam vài sự cải thiện.

Thưa Ngài, Tổ quốc của Ngài là đại Pháp, đã đầu hàng Hitler một cách rất vẻ vang, hơn 500 tướng và hai triệu lính của quý quốc đương bị Đức cầm tù một cách rất oanh liệt, ba phần tư non sông quý quốc đương bị người chiếm lĩnh. Bốn mươi triệu đồng bào của Ngài đương trong kiếp ngựa, trâu, nhân dân quý quốc hiện nay bánh không có ǎn, áo không đủ mặc, phải quyên áo cũ của nhân dân Việt Nam, một triệu thanh niên nam nữ nước Ngài phải qua làm cu ly bên Đức. Xin Ngài lo cứu nước và dân tộc của Ngài đã, rồi sẽ nói đến việc khác; còn Việt Nam chúng tôi, 40 nǎm nay nhờ “công đức” quý quốc đã nhiều rồi. Lần này, chúng tôi quyết dùng súng, đạn, gươm, dao để đạp đổ ơn huệ ấy và giành lại độc lập tự do cho Việt Nam. Chúng tôi xin Ngài chớ lo! Và chúc Ngài hai chữ Thất Bại!.

Hồ Chí Minh

Báo Đồng Minh,
số Xuân Giáp Thân.
cpv.org.vn

—————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.