Mười điều nên

Mỗi một hội viên Việt Minh:

1. Nên giữ bí mật cho Hội.
2. Nên hết sức trung thành với Hội.
3. Nên tuyên truyền mục đích của Hội.
4. Nên ra sức tìm hội viên mới.
5. Nên ra sức làm việc cho Hội.
6. Nên nộp hội phí cho đúng kỳ.
7. Nên giúp đỡ lẫn nhau.
8. Nên gắng sức học hành.
9. Nên đọc sách báo của Hội.
10. Nên ủng hộ báo của Hội.

—————————–

Báo Việt Nam độc lập, số 116, ngày 21-1-1942.
cpv.org.vn

Ca đội tự vệ

I

Gươm dao ta
Đem mài đi
Mài cho bén
Mài cho sắc
Nhật ta đâm
Tây ta chặt.

II

Sắp hàng ra
Xung phong lên!
Người ta đông.
Chí ta bền
Việc giải phóng
Nhất định nên.

Cách hát:

– Chia người làm 2 tổ, 4 câu trên, tổ A hát trước, hát giọng cao (nếu có phụ nữ thì phụ nữ là tổ A); tổ B hát giọng thấp theo sau. Những chữ bén, sắc, đông, bền phải hát dài như be – én, sa – ắc, đ – ông, bê – ền.

– Hai câu sau cùng thì cả tổ đều hát với nhau. Chữ chặt và nên phải hát rất mạnh.

Ví dụ: Tổ A hát: Gươm dao ta.

Tổ B hát: Gươm dào tà.

————————-

Báo Việt Nam độc lập, số 117, ngày 1-2-1942
cpv.org.vn

Nên học sử ta

Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.

1. Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước tiếng để muôn đời.

2. Trước khi vua Gia Long bán nước ta cho Tây, nước ta vẫn là nước độc lập. Đời nào cũng có người anh hùng mưu cao võ giỏi đứng ra đoàn kết nhân dân đuổi giặc cứu nước.

Đời Trần, quân Nguyên đánh đâu được đấy, chiếm nước Tàu và nửa châu Âu, thế mà ba lần bị ông Trần Hưng Đạo đánh tan. Bình dân như ông Lê Lợi và ông Nguyễn Huệ đã đánh đuổi quân Tàu làm cho nước ta độc lập.

Người già như ông Lý Thường Kiệt quá 70 tuổi mà vẫn đánh đông dẹp bắc, bao nhiêu lần đuổi giặc cứu dân.

Thiếu niên như Đổng Thiên Vương chưa đến 10 tuổi mà đã ra tay cứu nước, cứu nòi. Trần Quốc Toản mới 15, 16 tuổi đã giúp ông Trần Hưng Đạo đánh phá giặc Nguyên.

Phụ nữ thì có bà Trưng, bà Triệu ra tay khôi phục giang san.

Những vị anh hùng ấy vì nước, vì dân mà làm nên sự nghiệp kinh thiên động địa. Nhờ những vị dân tộc anh hùng ấy mà nước ta được tự do, độc lập, lừng lẫy ở á Đông.

Vì muốn giành làm vua mà Gia Long đem nước ta bán cho Tây. Thế là giang san gấm vóc tan tác tiêu điều; con Lạc cháu Hồng hoá làm trâu ngựa.

Từ đó đến nay, biết bao nhiêu người oanh liệt đứng lên khởi nghĩa đánh Tây như ông Phan Đình Phùng, ông Hoàng Hoa Thám, vân vân.

3. Sử ta dạy cho ta bài học này:

Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do.

Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn.

Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi dưới ngọn cờ Việt Minh để đánh đuổi Tây – Nhật, khôi phục lại độc lập, tự do (1).

—————————

Báo Việt Nam độc lập số 117, ngày 1-2-1942
cpv.org.vn

Lịch sử nước ta

LỊCH SỬ NƯỚC TA

Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể nǎm hơn bốn ngàn nǎm,
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà.
Hồng Bàng là tổ nước ta.
Nước ta lúc ấy gọi là Vǎn Lang.
Thiếu niên ta rất vẻ vang,
Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.
Tuổi tuy chưa đến chín mười,
Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương.
An Dương Vương thế Hùng Vương,
Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.
Nước Tàu cậy thế đông người,
Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam,
Quân Tàu nhiều kẻ tham lam.
Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?
Hai Bà Trưng có đại tài,
Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian,
Ra tay khôi phục giang san,
Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta.
Tỉnh Thanh Hoá có một bà,
Tên là Triệu ẩu tuổi vừa đôi mươi,
Tài nǎng dũng cảm hơn người,
Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương.
Phụ nữ ta chẳng tầm thường,
Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời,
Kể gần sáu trǎm nǎm giời,
Ta không đoàn kết bị người tính thôn 1 .
Anh hùng thay ông Lý Bôn,
Tài kiêm vǎn võ, sức hơn muôn người,
Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài.
Lập nên Triều Lý sáu mươi nǎm liền.
Vì Lý Phật Tử ngu hèn,
Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta.
Thương dân cực khổ xót xa,
Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu,
Vì dân đoàn kết chưa sâu,
Cho nên thất bại trước sau mấy lần.
Ngô Quyền quê ở Đường Lâm,
Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn nǎm.
Đến hồi Thập nhị sứ quân 2
Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn.
Động Hoa Lư có Tiên Hoàng,
Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.
Ra tài kiến thiết kinh dinh,
Đến vua Phế Đế chỉ kinh hai đời.
Lê Đại Hành nối lên ngôi.
Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành.
Vì con bạo ngược hoành hành,
Ra đời thì đã tan tành nghiệp vương.
Công Uẩn là kẻ phi thường,
Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta.
Mở mang vǎn hoá nước nhà,
Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.
Lý Thường Kiệt là hiền thần,
Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.
Tuổi già phỉ chí công danh,
Mà lòng yêu nước trung thành không phai.
Họ Lý truyền được chín đời,
Hai trǎm mười sáu nǎm giời thì tan.
Nhà Trần thống trị giang san,
Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài,
Quân Nguyên binh giỏi tướng tài:
Đánh đâu được đấy, dông dài á, Âu,
Tung hoành chiếm nửa Âu châu,
Chiếm Cao Ly, lấy nước Tàu bao la,
Lǎm le muốn chiếm nước ta,
Nǎm mươi vạn lính vượt qua biên thuỳ,
Hải quân theo bể kéo đi,
Hai đường vây kín Bắc Kỳ như nen 1
Dân ta nào có chịu hèn,
Đồng tâm, hợp lực mấy phen đuổi Tàu.
Ông Trần Hưng Đạo cầm đầu,
Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang,
Mênh mông một giải Bạch Đằng,
Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh,
Hai lần đại phá Nguyên binh,
Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời.
Quốc Toản là trẻ có tài,
Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền,
Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,
Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung.
Thật là một đấng anh hùng,
Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.
Đời Trần vǎn giỏi võ nhiều,
Ngoài dân thịnh vượng, trong triều hiền minh.
Mười hai đời được hiển vinh,
Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi.
Cha con nhà Hồ Quý Ly,
Giết vua tiếm vị một kỳ bảy niên.
Tình hình trong nước không yên,
Tàu qua xâm chiếm giữ quyền mấy lâu,
Bao nhiêu của cải trân châu,
Chúng vơ vét chở về Tàu sạch trơn.
Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn,
Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn.
Mấy phen sông Nhị núi Lam,
Thanh gươm yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng.
Kìa Tuý Động nọ Chi Lǎng,
Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành.
Mười nǎm sự nghiệp hoàn thành,
Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan.
Vì dân hǎng hái kết đoàn,
Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.
Vua hiền có Lê Thánh Tôn,
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành.
Trǎm nǎm truyền đến cung hoàng,
Mạc Đǎng Dung đã hoành hành chiếm ngôi
Bấy giờ trong nước lôi thôi,
Lê Nam, Mạc Bắc rạch đôi san hà,
Bảy mươi nǎm nạn can qua 1
Cuối đời mười sáu 2 Mạc đà suy vi.
Từ đời mười sáu 2 trở đi,
Vua Lê, Chúa Trịnh chia vì khá lâu 3
Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau,
Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng.
Dân gian có kẻ anh hùng,
Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn,
Đóng đô ở đất Quy Nhơn,
Đánh tan Trịnh, Nguyễn, cứu dân đảo huyền 4
Nhà Lê cũng bị mất quyền,
Ba trǎm sáu chục nǎm truyền vị vương.
Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,
Ông đà chí cả mưu cao,
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.
Cho nên Tàu dẫu làm hung,
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.
Tướng Tây Sơn có một bà,
Bùi là nguyên họ, tên là Thị Xuân,
Tay bà thống đốc ba quân,
Đánh hơn mấy trận, địch nhân liệt là.
Gia Long lại dấy can qua,
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.
Tự mình đã chẳng có tài,
Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây.
Nay ta mất nước thế này,
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,
Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi dầy mả, thiệt là ngu si.
Từ nǎm Tân Hợi trở đi,
Tây đà gây chuyện thị phi 1 với mình.
Vậy mà vua chúa triều đình,
Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan.
Nay ta nước mất nhà tan
Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn.
Nǎm Tự Đức thập nhất niên 1 ,
Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây.
Hǎm lǎm nǎm sau trận này,
Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan,
Ngàn nǎm gấm vóc giang san,
Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!
Tội kia càng đắp càng đầy,
Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Nước ta nhiều kẻ tôi trung,
Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương.
Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương,
Cùng thành còn mất làm gương để đời.
Nước ta bị Pháp cướp rồi,
Ngọn cờ khởi nghĩa nhiều nơi lẫy lừng;
Trung Kỳ đảng Phan Đình Phùng
Ra tay đánh Pháp, vẫy vùng một phương.
Mấy nǎm ra sức Cần Vương 1 ,
Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên,
Giang san độc lập một miền,
Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành.
Anh em khố đỏ, khố xanh,
Mưu khởi nghĩa tại Hà thành nǎm xưa,
Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa,
Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn.
Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An
Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu.
Nam Kỳ im lặng đã lâu,
Nǎm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây.
Bắc Sơn đó, Đô Lương đây!
Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn.
Xét trong lịch sử Việt Nam,
Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng.
Nhiều phen đánh bắc dẹp đông,
Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên.
Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,
Vì ta chỉ biết lo yên một mình.
Để người đè nén, xem khinh,
Để người bóc lột ra tình tôi ngươi!
Bây giờ Pháp mất nước rồi,
Không đủ sức, không đủ người trị ta.
Giặc Nhật Bản thì mới qua,
Cái nền thống trị chưa ra mối mành.
Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh,
Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà.
ấy là nhịp tốt cho ta,
Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông.
Người chúng ít, người mình đông
Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên.
Hỡi ai con cháu Rồng Tiên!
Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau.
Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu,
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn.
Người giúp sức, kẻ giúp tiền,
Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
ấy là sự nghiệp, ấy là công danh.
Chúng ta có hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh
Mai sau sự nghiệp hoàn thành
Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng
Dân ta xin nhớ chữ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!

———————————–

NHỮNG NĂM QUAN TRỌNG

Trước Tây lịch

Nǎm

2879 Hồng Bàng
111 Tàu lấy nước ra lần đầu

Sau Tây lịch

40 Hai Bà Trưng đánh Tàu
248 Bà Triệu ẩu khởi nghĩa
544 Vua Lý đánh Tàu
603 Tàu lấy nước ta.
939 Vua Ngô khởi nghĩa
968 Đời vua Đinh (12 nǎm)
981 Đời vua Tiền Lê (29 nǎm)
1010 Đời vua Hậu Lý (215 nǎm)
1073 Lý Thường Kiệt đánh Tàu
1225 Đời vua Trần (175 nǎm)
1283 Trần Hưng Đạo đánh Tàu
1407 Tàu lấy nước ta
1427 Vua Lê khởi nghĩa
1543 Đời vua Hậu Lê (360 nǎm)
1545 Vua Lê Chúa Trịnh
1771 Đời vua Tây Sơn (24 nǎm)
1789 Vua Nguyễn Huệ đánh Tàu
1794 Gia Long thông với Tây
1847 Tây bắt đầu đánh nước ta
1862 Vua nhà Nguyễn bắt đầu hàng Tây
1889 Ông Đề Thám khởi nghĩa
1893 Ông Phan Đình Phùng khởi nghĩa
1916 Trung Kỳ khởi nghĩa
1917 Thái Nguyên, Sầm Nưa khởi nghĩa
1930 Yên Bái, Nghệ An khởi nghĩa
1940 Bắc Sơn và Đô Lương khởi nghĩa
1941 Nam Kỳ khởi nghĩa
1945 Việt Nam độc lập1)

—————————-

Theo bản in của Việt Minh tuyên truyền Bộ xuất bản, tháng 2-1942.
Tài liệu gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Ca sợi chỉ

Mẹ tôi là một đoá hoa,
Thân tôi trong sạch, tôi là cái bông.
Xưa tôi yếu ớt vô cùng,
Ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời.
Khi tôi đã thành chỉ rồi,
Cũng còn yếu lắm, ǎn ngồi không ngon,
Mạnh gì sợi chỉ con con,
Khôn thiêng biết có vuông tròn cho chǎng!
Càng dài lại càng mỏng manh,
Thế gian ai sợ chi anh chỉ xoàng!
Nhờ tôi có nhiều đồng bang,
Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.
Dệt nên tấm vải mỹ miều,
Đã bền hơn lụa, lại điều 1 hơn da
Đố ai bứt xé cho ra,
Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.

*

*      *

Hỡi ai con cháu Hồng Bàng,
Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau.
Yêu nhau xin nhớ lời nhau,
Việt Minh hội ấy mau mau phải vào.

—————————–

Báo Việt Nam độc lập, số 122, ngày 1-4-1942
cpv.org.vn

Cách mạng Tháng Tám 1945 và những bài học còn nguyên giá trị

67 năm trôi qua, thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 vẫn là một sự kiện diệu kỳ trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc… Diễn ra và giành thắng lợi trong một thời gian ngắn, nhưng Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã để lại nhiều bài học quý báu cho Đảng và nhân dân ta trong hành trình hướng đến tương lai, kiên định mục tiêu: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Chuẩn bị chớp thời cơ, tạo thế và lực

Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ (3-9-1939), tình hình quốc tế và trong nước biến chuyển biến hết sức mau lẹ và từ tháng 11-1939, Đảng ta đã kịp thời điều chỉnh đường lối chiến lược và sách lược cho phù hợp với tình hình. Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trở về nước, kịp thời chuẩn bị, tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (họp từ ngày 10 đến 19-5-1941). Hội nghị đã dự báo một cách chính xác về cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 cùng hệ lụy của nó: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó cách mạng nhiều nước thành công”[1]. Trên cơ sở phân tích tình hình quốc tế và trong nước, Hội nghị quyết định hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chiến lược cách mạng và khẳng định: “Cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”, vì vậy “trong lúc này quyền lợi của bộ phận của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc”.

Để phát huy tối đa sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của tinh thần dân tộc, thì một trong những quyết định quan trọng nhất, trực tiếp liên quan đến việc củng cố khối đoàn kết dân tộc, chuẩn bị lực lượng cho cuộc vùng lên tự giải phóng, chính là quyết định thành lập mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng Minh (Việt Minh). Tuyên ngôn của Việt Minh tuyên bố: “Việt Minh chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”[2]. Sự ra đời, phát triển của mặt trận Việt Minh không chỉ trở thành hạt nhân quy tụ sức mạnh đoàn kết dân tộc, mà còn đánh dấu một bước ngoặt trong đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng, nhằm mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, quy tụ và phát huy cao độ nguồn sức mạnh nội lực của toàn dân tộc cho một cuộc vùng lên vĩ đại.

Không chỉ biến khối sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc trong Mặt trận Việt Minh thành một tổ chức có sức chiến đấu cao, Đảng ta, với sự phân tích chính xác, khoa học mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, đã dự báo sớm xảy ra cuộc đảo chính của Nhật ở Đông Dương. Trên cơ sở đó, kịp thời vạch ra kế hoạch hành động khi dự báo về cuộc đảo chính của Nhật ở Đông Dương: “Bóc trần mưu gian của đế quốc Nhật! Thống nhất hành động đánh đổ thù chung!” (bài viết của Tổng Bí thư Trường Chinh, đăng trên Báo Cờ Giải phóng, số 3, ngày 15-2-1944). Vì thế, ngay trong đêm Nhật – Pháp bắn nhau (9-3-1945), Hội nghị Thường vụ mở rộng, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trường Chinh, đã họp và ra ngay Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vào ngày 12-3-1945. Bản Chỉ thị được cấp tốc in hàng nghìn bản và theo những đường dây bí mật chuyển đi các nơi. Trong Bản Chỉ thị đó, Ban Chấp hành Trung ương, ngoài việc xác định kẻ thù mới và đề ra khẩu hiệu đấu tranh mới, còn dự báo khả năng để nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền trên cả nước: Một là khi quân Đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật và hai là khi Nhật đầu hàng Đồng minh.

Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, giành chính quyền

Từ năm 1945, quân đội Xô Viết ngày càng giành được nhiều thắng lợi, giải phóng hàng loạt nước ở Châu Âu và tiến thẳng vào sào huyệt của phát xít Đức ở Béc-lin…và ngày 8-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, đẩy quân đội Nhật vào tình thế thất bại. Ngày 13-8-1945, Nhật Hoàng đã chấp nhận đầu hàng Đồng Minh. Tin đó đến với lãnh tụ Hồ Chí Minh qua bản tin đài BBC mà Người nghe được ở lán Nà Lừa, Tân Trào (Tuyên Quang). Lúc này, thời cơ có một không hai đã đến, vì vậy, dù đang ốm rất nặng, Người vẫn nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp rằng: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do độc lập!”. Không chậm trễ, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp đã quyết định thông qua kế hoạch Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, ra Quân lệnh số 1 và khẳng định: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam cùng giành lấy quyền độc lập của nước nhà… Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!… Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”.

Theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, ngày 16-8, Quốc dân Đại hội chính thức khai mạc, tượng trưng cho ý chí, nguyện vọng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã nhất trí thông qua đề nghị Tổng khởi nghĩa của Mặt trận Việt Minh, và thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc. Sáng ngày 17-8, các thành viên trong Uỷ ban giải phóng dân tộc vừa được Đại hội bầu đã ra mắt quốc dân và làm lễ tuyên thệ trước sân đình Tân Trào. Thay mặt Uỷ ban, hướng lên Quốc kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng đọc lời tuyên thệ.

Trong khi đó, ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều tỉnh khác, cán bộ Đảng và Việt Minh chưa thể nhận được mệnh lệnh khởi nghĩa, nhưng căn cứ vào các chỉ thị trước đó của Đảng, trên cơ sở phân tích cụ thể tình hình địa phương, tuyệt đại đa số cán bộ Đảng và Việt Minh cơ sở đã mau chóng tự quyết định khởi nghĩa giành chính quyền, không bỏ lỡ thời cơ.

Cũng trong ngày 17-8, cả Hà Nội tưng bừng khí thế sục sôi khởi nghĩa. Sáng ngày 19-8, theo lời hiệu triệu của Việt Minh, với rừng cờ đỏ sao vàng, nhân dân Hà Nội xuống đường, tiến thẳng về trung tâm Nhà hát thành phố để dự mít tinh. Sau loạt súng chào cờ và bài Tiến quân ca, đại biểu Ủy ban quân sự cách mạng đọc lời hiệu triệu của Việt Minh, biến cuộc mít tinh trở thành cuộc biểu tình vũ trang tiến vào chiếm Phủ khâm sứ, trại lính bảo an và các cơ sở của chính phủ bù nhìn….Ngày 19-8 trở thành mốc son lịch sử thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám ở Thủ đô Hà Nội.

Từ Hà Nội, làn sóng cách mạng tiếp tục toả đi khắp nơi, nhân dân cả nước đã nhất tề vùng dậy đấu tranh giành chính quyền. Cùng ngày, ở các tỉnh lỵ Yên Bái, Phúc Yên, Thái Bình, Thanh Hóa, Khánh Hòa đã liên tiếp khởi nghĩa thành công. Từ ngày 20/8 – 28/8, trên khắp các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi (Huế đã khởi nghĩa ngày 23-8, Sài Gòn khởi nghĩa ngày 25-8). Ngày 30-8, Hoàng đế Bảo Đại – vua cuối cùng nhà Nguyễn đã tuyên bố thoái vị, trao lại ấn kiếm cho cách mạng, kết thúc sự trị vì của triều đại phong kiến này.

Tổng khởi nghĩa đã thành công. Chuẩn bị tốt và chớp đúng thời cơ, dưới sự lãnh đạo của Đảng do Hồ Chí Minh đứng đầu, trong vòng khoảng hai tuần lễ, làn sóng biểu tình chính trị mạnh mẽ của hàng triệu quần chúng, có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang cách mạng đã nhanh chóng lật đổ chính quyền tay sai thân Nhật, lập ra chính quyền cách mạng.

Ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”. Một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của nước Việt Nam mới bắt đầu! Ba ngày sau đó, ngày 5-9-1945, với tư cách là chủ nhà, Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đón tiếp quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta.

Những bài học còn nguyên giá trị

66 năm trôi qua, thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 vẫn là một sự kiện diệu kỳ trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc. Khát vọng độc lập, tự do, cùng với một đường lối chính trị đúng đắn và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh đã tạo ra xung lực hồi sinh mạnh mẽ, góp phần làm nên thành công của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, kiến lập ra một Nhà nước Việt Nam mới. Diễn ra và giành thắng lợi trong một thời gian ngắn, nhưng Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã để lại nhiều bài học quý báu cho Đảng và nhân dân ta trong hành trình hướng đến tương lai, kiên định mục tiêu: Độc lập dân tộc gắn với CNXH, vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Cùng với thời gian, những bài học đó vẫn còn nguyên giá trị thời sự:

Bài học về nắm bắt thời cơ

Trên cơ sở đường lối đúng đắn, luôn theo dõi, bám sát những biến đổi của tình hình thế giới, trong nước, chủ động, kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, chuẩn bị đón thời cơ, lãnh đạo và chỉ đạo quần chúng nhân dân tận dụng thời cơ thuận lợi của tình hình trong nước và quốc tế để giành thắng lợi là bài học nổi bật nhất về sự lãnh đạo của Đảng ta trong Cách mạng tháng Tám. Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, Đảng không những phải phát huy những kinh nghiệm và bài học quý báu đó, mà còn phải luôn xây dựng và chỉnh đốn, luôn trong sạch, vững mạnh, đổi mới và sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, để xứng đáng với vai trò tiền phong – lãnh đạo – quyết định – không thể thay thế của Đảng trong sự phát triển đi lên của dân tộc.
Bài học về xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân

Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 là một minh chứng hùng hồn trong thực tiễn, khẳng định vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân trong cách mạng, của khối đại đoàn kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”, với các hình thức vận động, tập hợp và quy tụ quần chúng phù hợp, hoạt động hiệu quả. Đặc biệt, các hình thức Mặt trận, trong đó Mặt trận Việt Minh “coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật, Pháp để dựng lên một nước Việt Nam tự do độc lập”[3], với các tổ chức quần chúng nhưPhụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Nông dân cứu quốc,v.v.. đã không chỉ quy tụ, mà còn là nơi các tầng lớp nhân dân tham gia tham đóng góp sức mình vào công việc của nước nhà. Với ý nghĩa đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay phải tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phải đổi mới phương thức hoạt động, đa dạng hóa các hình thức tổ chức, để phát huy vai trò, nhất là giám sát và phản biện xã hội, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bài học về phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Trong mọi hoàn cảnh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, trên tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, nắm vững thời và thế, phát huy sức mạnh tổng lực của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại đã được Đảng vận dụng linh hoạt để đưa đất nước tiến lên, đổi mới và hội nhập. Đó chính là nắm bắt xu thế phát triển của thời đại, kịp thời quyết định đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới mạnh mẽ về kinh tế trên cơ sở đổi mới từng bước về chính trị; vừa tranh thủ và phát huy sức mạnh nội lực, vừa tranh thủ, tận dụng những cơ hội của thế giới, của thời đại mang lại, để không chỉ đưa đất nước chuyển mình theo hướng tích cực, dần vượt thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, kinh tế phát triển nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt,v.v..mà còn góp phần nâng cao vị thế của đất nước trong khu vực và trên trường quốc tế./.

__________________

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, T.7, tr.100
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, T.7, tr.461
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, T.7, tr.461
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.4, tr.56-57

Theo tuyengiao.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hòn đá

Hòn đá to,
Hòn đá nặng,
Chỉ một người,
Nhắc không đặng.
Hòn đá nặng,
Hòn đá bền,
Chỉ ít người,
Nhắc không lên.
Hòn đá to,
Hòn đá nặng,
Nhiều người nhắc,
Nhắc lên đặng.
Biết đồng sức,
Biết đồng lòng,
Việc gì khó,
Làm cũng xong.
Đánh Nhật, Pháp,
Giành tự do,
Là việc khó,
Là việc to.
Nếu chúng ta
Biết đồng lòng
Thì việc đó
Quyết thành công.

————————

Báo Việt Nam độc lập, số 123, ngày 21-4-1942.
cpv.org.vn

Thướng sơn – lên núi

THƯỚNG SƠN

Lục nguyệt nhị thập tứ,
Thướng đáo thử sơn lai.
Cử đầu hồng nhật cận,
Đối ngạn nhất chi mai.

Lũng Dẻ, 1942

Dịch nghĩa

LÊN NÚI

Ngày hai mươi bốn tháng sáu,
Lên đến núi này.
Ngẩng đầu thấy mặt trời đỏ gần lại,
Bờ bên kia có một nhành mai.

Lũng Dẻ, 1942

Dịch thơ 1

LÊN NÚI

Hai mươi tư tháng sáu,
Lên ngọn núi này chơi.
Ngẩng đầu: mặt trời đỏ,
Bên suối một nhành mai.

In trong: Thơ chữ Hán
Hồ Chí Minh, Nxb Vǎn học,
Hà Nội, 1990, tr14.
cpv.org.vn

Con cáo và tổ ong

Tổ ong lủng lẳng trên cành,
Trong đầy mật nhộng, ngon lành lắm thay!
Cáo già nhè nhẹ lên cây,
Định rằng lấy được ǎn ngay cho dòn.
Ong thấy cáo muốn cướp con,
Kéo nhau xúm lại vây tròn cáo ta.
Châm đầu, châm mắt cáo già,
Cáo già đau quá phải sa xuống rồi.

*

Ong kia yêu giống, yêu nòi,
Đồng tâm, hợp lực đuổi loài cáo đi.
Bây giờ ta thử so bì,
Ong còn đoàn kết, huống chi là người!
Nhật, Tây áp bức giống nòi,
Ta nên đoàn kết để đòi tự do.

————————

Báo Việt Nam độc lập, số 130, ngày 1-7-1942.
cpv.org.vn

Tặng Thống chế Pêtanh

Vận mệnh Lang Sa lúc chẳng lành,
Pêtanh lão tướng hoá hôi tanh,
Cúi đầu, quỳ gối, hàng quân Đức,
Trợn mắt, nhǎn mày, chửi nước Anh.
Bán nước lại còn khoe cứu nước,
Ô danh mà muốn được thơm danh.
Già mà như chú, già thêm dại,
Tiếng xấu muôn đời nhuốc sử xanh.

——————–

Báo Việt Nam độc lập, số 131, ngày 11-7-1942.
cpv.org.vn

Nhóm lửa

Lúc leo lét bắt đầu nhóm lửa,
Biết bao nhiêu là sự khó khǎn?
Chỉ đìu hiu một mảy gió xuân,
Cũng lo sợ lửa khi tắt mất.
Nghi ngút khói, mặc dầu thổi quạt,
Che một bên lại tạt một bên,
Khi lửa đà chắc chắn bén lên,
Thì mưa gió, chi chi cũng cháy.
Mưa lún phún, lửa càng nóng nảy,
Gió càng cao, ngọn lửa càng cao.
Núi rừng đều bén, cháy ào ào,
Lửa nung đỏ, cả giời sáng toé.
Việc cách mạng cũng là như thế,
Bước ban đầu là bước gian nan.
Nào đế quốc, mật thám, bọn quan,
Đều là lũ ra tay phá hoại.
Hở một chút, tức là thất bại,
Sai một ly là hại cho dân.
Song khi cách mạng đã vững chân,
Sẽ ồ ạt lan tràn khắp xứ,
Sẽ vùn vụt như toà núi lửa,
Sẽ rầm rầm như ngọn thuỷ trào,
Sẽ kéo theo tất cả đồng bào,
Sẽ đè bẹp cả loài lang sói.
Lửa cách mạng sáng choang bờ cõi,
Chiếu lá cờ độc lập, tự do!

————————-

Báo Việt Nam độc lập, số 133, ngày 1-8-1942
cpv.org.vn

Sự vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và bài học lớn về nhân dân

(DVT.vn) – Cách mạng Tháng Tám là cuộc Cách mạng nhân dân, minh chứng hùng hồn về vai trò vĩ đại của nhân dân trong mọi thời kỳ lịch sử.

Nguyễn Sĩ Đại

Mít tinh trước Nhà Hát Lớn Hà Nội 19/8/1945. (Ảnh tư liệu)

Ngày nay, chúng ta thường hay nói về chính quyền “của dân, do dân, vì dân”. Là vì, chính quyền hiện nay là kết quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do nhân dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng đem lại.

Cụm từ ấy không chỉ nói lên bản chất mà còn nói lên yêu cầu đối với chính quyền; vì thật ra, có lúc, có nơi cái biểu đạt chưa phù hợp với cái được biểu đạt.

Kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám năm nay, năm vừa tiến hành xong Đại hội Đảng lần thứ XI, bầu cử thành công Quốc hội khóa XIII, với chủ trương hội nhập một cách toàn diện, tích cực;­ mọi điều đều mới mẻ hơn, sáng rõ hơn. Trong không khí tự tin, phấn khởi ấy, một lần nữa cần nhìn nhận rõ hơn vai trò và sức mạnh vĩ đại của nhân dân – người sáng tạo lịch sử; phải quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của nhân dân.

Cuộc Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc cho đến thời điểm ấy: không bằng quân đội, chủ yếu bằng sức mạnh của quần chúng nhân dân mà một lúc làm cho “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”. Tức là vừa đánh đổ ách ngoại xâm của thực dân Pháp, của đế quốc Nhật, đánh đổ ách áp bức nghìn đời của chế độ phong kiến.

Cách mạng Tháng Tám vĩ đại ở chỗ là cuộc cách mạng nhân văn nhất trong lịch sử nhân loại cho nhân loại cho đến thời điểm ấy: giải phóng dân tộc, đồng thời giải phóng giai cấp; tạo điều kiện cho tất cả mọi người dân được làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Lật đổ chính quyền cũ, xây dựng chính quyền mới trên cơ sở nhân văn và tiến bộ, không xảy ra những cuộc hành quyết hoàng tộc và tắm máu như ở các cuộc cách mạng châu Âu.

Không những thế, cựu hoàng làm cố vấn, các cựu thần trực tiếp tham gia Quốc hội và Chính phủ. Nó khẳng định chân lý “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” và tinh thần đại đoàn kết truyền thống quý của dân tộc ta.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, Việt Nam trở thành nước khởi xướng cho phong trào giải phóng thuộc địa và giành độc lập dân tộc; được cả thế giới tôn vinh.

Càng tự hào với lịch sử vẻ vang ấy, mỗi người Việt Nam hôm nay càng cần phải tự đặt cho mình những câu hỏi:

– Vì sao nước độc lập đã 66 năm (từ 1945), giải phóng và thống nhất đã 36 năm (1975) mà đất nước vẫn tiến chậm hơn một số nước trong khu vực và trên thế giới có cùng xuất phát điểm?

– Vì sao một đất nước dân chủ mà tồn đọng khiếu kiện còn quá lớn; vì sao người dân giao thiệp với chính quyền đều phải viết Đơn xin … chứ không phải Đơn đề nghị; người dân đến cấp chính quyền thấp nhất là xã, phường mà vẫn khó khăn, cách bức?

– Vì sao nhiều nơi, nhiều lúc chính quyền còn tỏ ra e ngại, lo lắng, chưa đặt hết lòng tin ở nhân dân – một nhân dân anh hùng và đầy sáng tạo?

– Vì sao “nước là của dân” mà có những quyết sách lớn, dân không được tham gia bàn bạc và quyết định một cách đầy đủ…

Trong Tuyên ngôn Độc lập của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên đọc ngày 2/9/1945 có dẫnTuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”;

Và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791:

“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Nhân dân quyết định sự phát triển của lịch sử. Đó là quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê – nin. Từ thời cổ đại, các nhà Khổng Nho, được coi là bảo thủ, cũng nhìn thấy vai trò to lớn, số một, gốc rễ của nhân dân: Dân vi bản, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân là gốc, đất nước thứ hai, vua xem nhẹ)”.

Lịch sử cho thấy, chừng nào biết dựa vào dân, đất nước sẽ băng lướt qua mọi gian nan thách thức, lập nên những chiến công phi thường. Đó là đạp Tống, bình Nguyên, phá Thanh; là Điện Biên lừng lẫy… Chừng nào không biết dựa vào dân, không quan tâm đến đời sống nhân dân, chừng ấy đất nước rơi vào tối tăm, loạn lạc. Đúng như Nguyễn Trãi nói, việc nhân nghĩa cốt ở yên dân; thái bình là gốc của nhạc…

Phải chăng ngày nay đất nước chậm phát triển là do nhân dân ta ngày nay yếu hèn?

Không! Nhân dân luôn tiềm ẩn sức mạnh đẩy thuyền!

Nhân dân được giác ngộ và phát động, đã làm nên thắng lợi kỳ diệu của Cách mạng Tháng Tám.

Toàn dân một ý chí, đã làm nên thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Nhân dân được phát động và có cơ chế thông thoáng của Khoán 100, Khoán 10, đã làm nên cuộc đổi thay kỳ diệu trên mặt trận nông nghiệp.

Cái khó ngày nay không thể so sánh với cái khó của thời đại nô lệ, của ngày đánh Pháp, đánh Mỹ.

Nếu bảo đảm được tốt nhất quyền tự do, bình đẳng về quyền lợi, những quyền hiển nhiên của con người; nhất là người dân của một nước độc lập, xã hội chủ nghĩa; nếu xây dựng được một khát vọng chung và đồng thuận một cách mạnh mẽ; nếu có cơ chế, chính sách đúng và phát động được sức mạnh của nhân dân; nhất định nước ta sẽ lập nên kỳ tích mới trong kỷ nguyên hội nhập, toàn cầu hóa.

Năm 1945 “ Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập”; thì ngày nay, toàn thể dân tộc Việt Nam cũng quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để phát huy quyền tự do, độc lập ấy.

dvt.vn