Sức mạnh của Quân đội ta gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng

Quân đội ta do Đảng, Bác Hồ sáng lập và rèn luyện. Sức mạnh của Quân đội ta trong suốt chiều dài lịch sử gần 70 năm qua gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng. Điều đó đã làm cho Quân đội ta bách chiến bách thắng, góp phần cùng với dân tộc làm nên những thắng lợi huy hoàng vẻ vang nhất trong lịch sử”, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn – Cục trưởng Cục Tuyên huấn – Bộ Quốc phòng nhấn mạnh.

– PV: Qua nghiên cứu bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, Trung tướng cảm tâm đắc nhất là những vấn đề gì?

– Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn: Điều tôi tâm đắc nhất là Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã bám sát Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và các văn kiện khác của Đại hội lần thứ XI của Đảng và kết quả tổng kết 20 năm đổi mới. Chính Hiến pháp đã thể chế hóa đường lối lãnh đạo của Đảng bằng pháp luật của Nhà nước, bằng ý chí của nhân dân.

Đặc biệt Hiến pháp lần này chủ yếu đi sâu, làm rõ quyền dân chủ của nhân dân. Dự thảo đã cố gắng đưa vào những vấn đề về thể chế hóa và thực hiện toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân. Thực hiện Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Vấn đề này không phải phủ nhận những Hiến pháp trước đó như Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 1980… mà lần này Dự thảo đã cố gắng cụ thể hóa hơn, sát hơn phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Thứ hai điều tôi tâm đắc Dự thảo quy định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước với vai trò thống lĩnh các lực lượng vũ trang nói chung cũng như Quân đội nói riêng.

– PV: Vai trò, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lực lượng vũ trang đã được cụ thể trong Dự thảo, Trung tướng có suy nghĩ như thế nào về nội dung này?

– Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn: Quân đội ta do Đảng, Bác Hồ sáng lập và rèn luyện. Sức mạnh của Quân đội ta trong suốt chiều dài lịch sử gần 70 năm qua gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng.

Điều đó đã làm cho Quân đội ta bách chiến bách thắng, góp phần cùng với dân tộc làm nên những thắng lợi huy hoàng vẻ vang nhất trong lịch sử. Quân đội và nhân dân ta đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, tiếp tục là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước vừa qua và hiện nay. Việc Đảng lãnh đạo Quân đội đã trở thành truyền thống, lịch sử. Đó cũng là một trong những nguyên nhân có ý nghĩa quyết định làm nên sức mạnh của quân đội.

Vừa qua có một số người cho rằng phi chính trị hóa quân đội. Điều này không mới. Vì ngay từ khi đất nước ta giành được hòa bình thống nhất cho đến nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách tuyên truyền phát động tư tưởng phi chính trị hóa quân đội, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Và hôm nay những người đó chỉ nhắc lại cái mà các thế lực thù địch đã nói.

Về mặt lý luận chẳng có quân đội nào phi chính trị bởi vì quân đội là công cụ của một nhà nước mà nhà nước bao giờ cũng đại diện cho một giai cấp thống trị. Chẳng có nhà nước nào phi giai cấp.

Chỉ khác là giai cấp vô sản, giai cấp công nhân đã công khai quyền lãnh đạo, còn giai cấp tư sản, phong kiến che giấu việc này. Lý do đơn giản là họ đại diện cho một thiểu số trong cộng đồng quốc gia, dân tộc. Nếu công khai việc này vô hình trung họ thừa nhận nhà nước đó không đại diện quyền lợi và lợi ích của cả dân tộc bởi vậy họ che giấu. Còn giai cấp vô sản đại diện cho lợi ích của cả dân tộc vì họ là tuyệt đại đa số cho nên đảng của giai cấp vô sản công khai tuyên bố là đảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước và quân đội.

Rất đơn giản thôi nếu quân đội Mỹ phi chính trị thì cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam hay những cuộc chiến tranh sau này như cuộc chiến tại Iraq, Afghanistan, Libya… có sự tham gia quân đội Mỹ đều vì mục đích chính trị của nhà nước cầm quyền của giai cấp tư sản, chế độ tư bản. Cho nên mọi luận điệu tuyên truyền phi chính trị hóa quân đội đều nhằm mục đích tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm suy yếu chế độ xã hội chủ nghĩa và cơ hội để thay đổi chế độ.

Như tôi đã nói ở trên, Hiến pháp lần này là cụ thể hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở đất nước ta, do đó sự lãnh đạo của Đảng và nguyên tắc Hiến định sự trung thành của lực lượng vũ trang đối với Đảng phải được cụ thể trong Hiến pháp.

– PV: Từ góc độ một nhà nghiên cứu quân sự, theo Trung tướng Hiến pháp cần phải bổ sung và làm rõ thêm những vấn đề đối với chế định bảo vệ Tổ quốc?

– Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn: Theo tôi Hiến pháp lần này cần khẳng định rõ hơn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đi liền với bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa chứ không bảo vệ Tổ quốc chung chung.

Thứ hai cần làm rõ vai trò vị trí của lực lượng vũ trang nói chung, của Quân đội nói riêng. Đây là lực lượng đang làm nhiệm vụ thiêng liêng cao quý nhất bởi vì bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng cao quý của mỗi công dân.

Thứ ba là Hiến pháp cần làm rõ Quân đội nói riêng và lực lượng vũ trang nói chung sinh ra để bảo vệ Tổ quốc.

Quan điểm quốc phòng là tự vệ, bảo vệ sự nghiệp lao động hòa bình của nhân dân, bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Nêu những vấn đề này để từ đó nhà nước cần có những chế độ chính sách phù hợp nhằm thu hút nhân tài trực tiếp tham gia nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Có chính sách đầu tư thỏa đáng, tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc.

Ngoài ra, tôi cũng muốn nêu thêm một vấn đề là cần khẳng định trong Hiến pháp đất đai là sở hữu toàn dân và cụ thể hóa quyền làm chủ của nhân dân đối với đất đai. Bởi vì khi nói đất đai là của toàn dân thì quyền quyết định sử dụng đất đai phải được toàn dân tham gia thông qua dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Khắc phục tình trạng tùy tiện ở một số nơi, một số lúc, ở cấp này, cấp khác thay đổi mục đích, quyền sử dụng đất không tính đến vai trò sở hữu toàn dân đối với đất đai.

Đặc biệt là đất sử dụng cho mục đích nông nghiệp, cụ thể là trồng lúa. Chúng ta biết rằng đất trồng lúa là đất bờ xôi ruộng mật được bồi trúc qua hàng nghìn năm gắn bó với người nông dân qua hàng nghìn đời nhưng chúng ta chuyển đổi mục đích sử dụng có nơi còn lãng phí, đưa tài sản quý giá này sang mục đích khác là phải tính đến hiệu quả phải được cao hơn song thực tiễn có nhiều địa phương đã để xảy ra lãng phí rất lớn.

Chính vì vậy Hiến pháp lần này cần phải chế định rõ ràng vấn đề đó.

– PV: Xin trân trọng cảm ơn đồng chí Trung tướng!

Xuân Luận (thực hiện)
cand.com.vn

Cần làm rõ hành vi gây nhiễu chính sách Nhà nước về bất động sản

Chúng tôi cho rằng, việc sử dụng khái niệm “cứu bất động sản” là sai lệch chủ trương của Chính phủ. Gói hỗ trợ 30 nghìn tỉ đồng nhằm vào đối tượng nào, cần phải xác định rõ. Chính phủ không sử dụng gói 30 nghìn tỉ để hỗ trợ bất động sản, hay cứu bất động sản như nhiều thông tin đưa.

Liên tục trong thời gian từ cuối năm 2012 tới nay, trên nhiều diễn đàn, cụm từ “giải cứu bất động sản” xuất hiện nhan nhản và nó trở thành điệp khúc được nhiều chuyên gia bất động sản (BĐS) vin vào để biện luận về chính sách của Chính phủ trước tình trạng BĐS hiện hành. Tuy nhiên, khi chúng tôi rà soát lại các văn bản liên quan, không hề văn bản nào của Nhà nước có từ “giải cứu bất động sản”… Điều này cũng nhiều lần được lãnh đạo bộ chức năng lưu ý, việc tùy tiện nói Chính phủ dùng nguồn vốn giải cứu bất động sản là sai sự thật, gây tâm lý không tốt và ảnh hưởng nhiều mặt.

Đầu năm 2013, khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP, ngày 7/1/2013, nhiều diễn đàn đồng loạt đưa tin, Chính phủ đã quyết định dùng Nghị quyết 02 để cứu bất động sản, cứu thị trường tài chính, nhà đất vốn đang rất ảm đạm. Việc đưa ra các ý trên làm nhiễu loạn thông tin về chính sách của Nhà nước đối với thị trường bất động sản, gây ra những hiệu ứng không tốt trong đời sống xã hội.

Thực tế, Nghị quyết 02/NQ-CP, ngày 7/1/2013 của Chính phủ không có nội dung nào đề cập chuyện “giải cứu” thị trường bất động sản, không có gói kích cầu, rót vốn “cứu” bất động sản. Nghị quyết 02 của Chính phủ quy định một số chính sách mới với 3 nhóm: tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ thị trường; giải quyết nợ xấu. Có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân tham gia phát triển nhà ở xã hội và nghiên cứu, ban hành chính sách tín dụng ưu đãi để người thu nhập thấp, cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, công nhân, người lao động có thể mua, thuê và thuê mua nhà để ở phù hợp với thu nhập chính đáng.

Thị trường bất động sản đang xuất hiện nhiều thông tin gây nhiễu loạn.

Mới đây, Ngân hàng Nhà nước đưa ra dự thảo Thông tư quy định về cho vay hỗ trợ nhà ở xã hội theo Nghị quyết 02 của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khẳng định mức lãi suất ưu tiên 6%/năm trong 3 năm là phù hợp và sẽ không tăng thêm hạn mức cho gói tín dụng hỗ trợ thị trường bất động sản, hiện nay là 30.000 tỷ đồng. Theo đó, NHNN khẳng định chỉ có người thu nhập thấp, cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang thuê, thuê mua nhà ở xã hội và thuê, mua nhà ở thương mại có diện tích nhỏ hơn 70m2, giá bán dưới 15 triệu đồng/m2 mới nằm trong diện được vay ưu tiên. Đối tượng mua nhà ở xã hội chưa nằm trong lần xem xét này.

Mặc dù quy định của Chính phủ và dự thảo Thông tư của NHNN như vậy nhưng trên nhiều diễn đàn bất động sản, hàng loạt ý kiến cho rằng, Chính phủ tung gói kích cầu trị giá 30 nghìn tỉ đồng để cứu bất động sản, nhằm giúp thị trường này “phá băng”. Từ suy luận đó, nhiều bài phản biện nói rằng, rót 30 nghìn đồng cứu bất động sản tức là “cứu nhà giàu”, “cứu doanh nghiệp”, từ đó đặt ra nghi ngờ về tính hiệu quả của nguồn vốn mà Chính phủ bỏ ra.

Chúng tôi cho rằng, việc sử dụng khái niệm “cứu bất động sản” là sai lệch chủ trương của Chính phủ. Gói hỗ trợ 30 nghìn tỉ đồng nhằm vào đối tượng nào, cần phải xác định rõ. Chính phủ không sử dụng gói 30 nghìn tỉ để hỗ trợ bất động sản, hay cứu bất động sản như nhiều thông tin đưa. Ở đây có sự nhầm lẫn lớn về đối tượng được hỗ trợ. Nếu nói 30 nghìn tỉ hỗ trợ, cứu bất động sản, tức đối tượng nhằm vào thị trường bất động sản, vào doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh bất động sản.

Trong khi đó, thực chất của chủ trương Chính phủ là nhằm hỗ trợ người nghèo, người chưa có nhà ở có điều kiện thuê, mua nhà bằng gói hỗ trợ 30 nghìn tỉ. Tạo điều kiện cho người nghèo, người thu nhập thấp có nhà ở là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta và được đưa ra từ nhiều nhiệm kỳ nhưng chưa có điều kiện thực hiện đồng bộ do giá bất động sản quá đắt đỏ. Khi thị trường này trầm lắng, giá bất động sản hạ xuống, giao dịch ít, thì đây là điều kiện tốt nhất để người nghèo, người thu nhập thấp có điều kiện tiếp cận nhà ở.

Hướng dẫn mới nhất của NHNN cho rằng, dự thảo Thông tư quy định rõ, việc cho vay có bảo đảm hay không có bảo đảm do ngân hàng xem xét, quyết định. Ngoài ra, các quy định về giao dịch bảo đảm đã đầy đủ quy định về các tài sản và hình thức bảo đảm, vì vậy nếu chỉ quy định bảo đảm bằng chính căn nhà mua hoặc dự án đang xây dựng vào Thông tư là không đầy đủ và có thể hạn chế việc tiếp cận vốn của khách hàng.

Đối với một số ý kiến đề nghị mở rộng thêm nội dung đã được quy định trong Nghị quyết 02 như đề nghị cho vay ưu đãi với những căn hộ dưới 80m2, thay vì tối đa 70m2; thời hạn cho vay hỗ trợ là 20 năm, thay vì 10 năm; mua đất nền, mua nhà riêng lẻ trong khu dân cư cũng nằm trong đối tượng được vay hỗ trợ…, NHNN chuyển cho Bộ Xây dựng và các bộ, ngành liên quan nghiên cứu và tham mưu cho Chính phủ theo chức năng. Ngoài ra, một số ý kiến lo ngại việc không quy định tỷ lệ cho vay giữa doanh nghiệp và cá nhân, hộ gia đình sẽ dẫn đến việc doanh nghiệp vay nhiều hơn. Tuy nhiên, theo NHNN, việc quy định cụ thể tỷ lệ, ví dụ 65% cho doanh nghiệp và 35% cho cá nhân, hộ gia đình trong Thông tư là không khả thi.

Thực tế, để gói 30 nghìn tỉ của Nhà nước đến đúng đối tượng cần vay mua nhà còn là quá trình không đơn giản. Rất nhiều lo ngại việc thủ tục hành chính lòng vòng, phát sinh nhũng nhiễu, tiêu cực khi người nghèo tiếp cận được nguồn vốn. Thêm nữa, dù lãi suất chỉ 6%/năm, nhưng một căn hộ ở Hà Nội ít nhất cũng 1-2 tỉ đồng, đồng nghĩa lãi suất 60-120 triệu/năm. Người thu nhập thấp, thu nhập trung bình để trả được số tiền lãi 60-120 triệu đồng mỗi năm là bài toán quá khó, chưa kể để họ tiếp cận được nguồn vốn đó, còn phải “đi vòng” như thế nào

Đăng Trường
cand.com.vn

Trung thành với Đảng, với chế độ cũng có nghĩa là trung thành với Tổ quốc, với nhân dân

Góp ý kiến vào “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”

Ngọc Thư
Trong tính hiện thực của nó, Tổ quốc luôn luôn gắn liền với một chế độ chính trị, với một lực lượng cầm quyền. Nói cách khác Tổ quốc luôn luôn mang tính lịch sử cụ thể. Nói về Tổ quốc mà không nói đến chế độ xã hội, không nói đến lực lượng cầm quyền chẳng khác nào nói về sở hữu mà không nói đến chủ thể sở hữu là ai.

Thời Lý, Tổ quốc là nơi Vua Nam ở – “Nam đế cư” (Thơ Thần – Lý Thường Kiệt); Thời Trần, Tổ quốc trước hết là “thái ấp”, là “xã tắc tổ tông” nhà Trần (Hịch tướng sỹ của Trần Hưng Đạo). Khi Pháp cướp được nước ta có nghĩa những ông chủ thực sự của Tổ quốc ta lúc đó là thực dân Pháp. Bởi vậy có thể nói ngày nay Quân đội ta “trung với Đảng”, “bảo vệ Tổ quốc” cũng có nghĩa là trung thành với Tổ quốc, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân.

Đối với dân tộc ta, Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng những là người khai sinh mà còn là người rèn luyện, giáo dục Quân đội, Công an là người đề ra đường lối quân sự cách mạng, thống lĩnh các lực lượng vũ trang. Trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là người lãnh đạo, chỉ đạo phối hợp các mặt trận đấu tranh, quân sự, chính trị, ngoại giao mà còn là người chỉ đạo chiến lược, trực tiếp chỉ đạo quân đội ta trong những cuộc tiến công, những chiến dịch, chiến lược lớn như chiến dịch Điện Biên Phủ, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Trong các xã hội hiện đại, không có quân đội nào không gắn với đảng chính trị cầm quyền. Ở một số quốc gia, quân đội còn tuyên thệ trung thành với người đứng đầu nhà nước (đương nhiên cũng là người đứng đầu đảng chính trị cầm quyền).

“Form”, mẫu kịch bản đảo lộn chính trị hoặc cách mạng xã hội ở nhiều quốc gia, khu vực khởi đầu thường là những cuộc binh biến. Nếu đi sâu nghiên cứu thì ở đó đằng sau quân đội là những tổ chức chính trị, những đảng chính trị đang hoạt động… Tiếp đó là sự can thiệp dưới những hình thức khác nhau của những lực lượng chính trị từ bên ngoài, vì lý do “dân chủ”, “nhân quyền” (chẳng hạn), nhằm chuyển chế độ xã hội hoặc chí ít là lực lượng cầm quyền hiện hữu sang lực lượng chính trị mới mà người ta mong đợi.

Trong thời đại ngày nay, các quốc gia – dân tộc không chỉ đối diện với nguy cơ an ninh truyền thống mà còn đối diện với nguy cơ an ninh phi truyền thống, không chỉ đối diện với những cuộc chiến tranh xâm lược bằng lực lượng vũ trang chớp nhoáng từ bên ngoài mà còn phải đối diện với những cuộc chiến tranh “không khói súng”, “diễn biến hòa hình”, bạo loạn lật đổ, gắn với các hình thức “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và chiến tranh kinh tế – giành giật “biên giới mềm”. Trong đó không loại trừ có tình huống “đối tác” có thể trở thành “đối tượng” đấu tranh. Đó là những cuộc chiến tranh không còn theo nghĩa đen mà là thay đổi chế độ xã hội hoặc thay đổi ê-kíp lãnh đạo, cầm quyền. Chính vì vậy mà ngày nay chiến lược bảo vệ Tổ quốc không chỉ là xây dựng quân đội tinh nhuệ, bảo đảm trang thiết bị hiện đại mà còn phải có Bộ tham mưu kiên định về chính trị, tuyệt đối trung thành với dân tộc, với chế độ xã hội, có khả năng đánh giá đúng tình hình, phân tích tình huống, không sa vào cạm bẫy, các thủ đoạn chính trị, quân sự xảo quyệt của đối phương. Điều này càng nói lên rằng để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân ngày nay, quân đội càng không thể nằm ngoài chính trị, không thể thoát ly sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng lãnh đạo, cầm quyền.

Với tầm tư duy chính trị sâu rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Quân đội ta đã nói: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng chiến thắng” (Hồ Chí Minh tuyển tập, T II, NXB ST, HN, 1980. Tr 345).

Đặt trong bối cảnh chính trị quốc tế và trong nước hiện nay, Điều 70 của Dự thảo Hiến pháp 1992 sửa đổi dựa trên nội dung chủ yếu câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện trên: “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế” chẳng những là phù hợp, hơn nữa còn là cần thiết.

Tất nhiên nội dung trung thành với Đảng ngày nay có nội dung cụ thể. Trung thành với Đảng lúc này là trung thành với Cương lĩnh, đường lối của Đảng được Đại hội XI thông qua. Trung thành với Đảng là kiên định mục tiêu và con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH hướng đến xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, đồng thời thực hiện đường lối đối ngoại: “Độc lập tự chủ… giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển”. Trung thành với Đảng trong lúc này còn có nghĩa Quân đội ta là lực lượng ủng hộ tích cực và kiên quyết cuộc đấu tranh chống tham nhũng, chống lợi ích nhóm.

Không phủ nhận rằng xã hội ta còn rất nhiều vấn đề mà cán bộ đảng viên, nhân dân không hài lòng, thậm chí là bức xúc như tình trạng phân hóa giàu nghèo, tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống của một số cán bộ đảng viên như Hội nghị TW 4 (khóa XI) của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra. Song chỉ vì vậy mà phủ nhận những vấn đề có tính quy luật trong chính trị, cho rằng: “Lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào” hoặc “Quân đội là để bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc;… không phải bảo vệ bất cứ một đảng phái nào” là sai lầm về nhận thức… Về khách quan, điều đó, việc làm đó chỉ làm phương hại đến an ninh quốc gia, đến sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân của Quân đội.

Nói Tổ quốc, nhân dân trừu tượng, chung chung thoát ly khỏi hoàn cảnh lịch sử lúc này nếu không phải là một sự ngây thơ thì cũng là một sự ngụy biện, là sai lầm về khoa học và nguy hại về chính trị. Chưa bao giờ quân đội trung lập về chính trị được thực tiễn xác nhận. Sự khác nhau chỉ là ở chỗ người ta có nói và viết ra điều đó công khai hay không mà thôi. Còn làm thế nào để có được một chế độ xã hội, một đảng cầm quyền, một nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân như mọi người mong muốn lại là một vấn đề khác

N.T.
cand.com.vn

Đảng phải được xây dựng mạnh về mọi mặt

Góp ý kiến vào “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”:

Phạm Văn Thạch
Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trong Điều 4 đã khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam, đó là niềm tin, ý chí và nguyện vọng của mỗi người dân Việt Nam ta.

Gần đây, bên cạnh đại đa số những ý kiến phát biểu nhất trí đồng tình với dự thảo Hiến pháp 1992 sửa đổi thì cũng có những ý kiến chính danh, mạo danh và của các thế lực thù địch đòi bỏ Điều 4 trong dự thảo Hiến pháp, nghĩa là đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Tuy chỉ là một số ít nhưng những ý kiến này được các thế lực thù địch thổi phồng làm nóng lên trong một bộ phận xã hội. Nhiều bài viết đã phân tích, phê phán và vạch rõ những mưu toan hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Thực ra không phải chỉ dịp này mà đã từ mấy chục năm nay, cứ mỗi khi trên đất nước ta diễn ra những sự kiện chính trị lớn, mỗi khi đất nước đứng trước khó khăn thách thức thì các thế lực thù địch thường tung ra các “bài ca lạc điệu” này. Có thời điểm đáng chú ý như sau khi Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ, chúng hô hào xóa ngay những nước XHCN còn lại, tung ra các luận điệu “giật gân” như chế độ XHCN ở các nước này được chúng tính bằng ngày.

Trớ trêu thay, thực tế đã hoàn toàn ngược lại với những ảo tưởng của chúng. Do vậy, đối với những quan điểm đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng lần này cũng chỉ là những quan điểm cũ rích, xa lạ đối với nhân dân ta, với đất nước ta – một đất nước mà đã có trên 80 năm Đảng và nhân dân gắn bó máu thịt với nhau để làm nên những kỳ tích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

So với Hiến pháp năm 1992, dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này đã cụ thể hơn về nội dung yêu cầu Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Bên cạnh khẳng định bản chất ưu việt, sứ mệnh lịch sử, dự thảo còn nêu rõ trách nhiệm của Đảng là phải gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.

Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Những nội dung ấy chính là đã phản ánh đúng nguyện vọng của nhân dân, thể hiện rõ hơn bản chất cầm quyền của Đảng ta là Đảng được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tuy vậy theo tôi cần phải bổ sung thêm một nội dung nữa trong điều 4 của dự thảo Hiến pháp sửa đổi. Nội dung đó là: ĐẢNG PHẢI ĐƯỢC XÂY DỰNG VỮNG MẠNH VỀ MỌI MẶT ĐỂ LÀM TRÒN TRÁCH NHIÊåM LÃNH ĐẠO NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI.

Điều này đặt ra rất cần thiết không chỉ xuất phát từ yêu cầu trước mắt mà còn là một đòi hỏi lâu dài. Yêu cầu trước mắt: như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI (Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng) đã nêu, khắc phục những biểu hiện suy thoái hiện nay trong Đảng đang là một vấn đề lớn của Đảng vì nó chứa đựng những nguy cơ tiềm ẩn liên quan đến sinh mệnh của Đảng. Nhưng yêu cầu về lâu dài mới là quan trọng.

Lãnh đạo một đất nước với gần trăm triệu dân, một đất nước có truyền thống Anh hùng để đứng lên ngang hàng với những cường quốc trên thế giới là một việc hết sức khó khăn. Trong tình hình bối cảnh quốc tế có những thuận lợi và những khó khăn thách thức xen kẽ, những vấn đề về an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, những xung đột, nguy cơ bất ổn và diện mạo những cuộc chiến tranh hiện đại không cho phép chúng ta chủ quan.

Trước tình hình đó, yêu cầu Đảng ta phải có trí tuệ, bản lĩnh, tài năng, nhanh nhạy, phải có một đội ngũ đảng viên thật sự gương mẫu, tiên phong, thật sự phải có đạo đức thì mới có khả năng lãnh đạo đất nước vừa ổn định vừa phát triển đi lên nhanh chóng và bền vững.

Việc xây dựng Đảng vững mạnh về mọi mặt không phải chỉ làm trong một giai đoạn mà là thường xuyên liên tục và ráo riết. Trách nhiệm đó trước hết là của Đảng. Đảng phải chăm lo rèn luyện, không ngừng trau dồi về mọi mặt, trong đó tính gương mẫu và phẩm chất đạo đức là những nhân tố mang tính quyết định. Mặt khác đó cũng là trách nhiệm của nhân dân đối với Đảng.

Đảng ta đã hơn 80 năm gắn bó máu thịt với nhân dân thì những kỳ vọng và tâm huyết của nhân dân để xây dựng Đảng là một tiềm năng rất lớn, một khả năng hiện thực rất cao. Vấn đề ở chỗ là Đảng phải tổ chức tốt sự tiếp thu đó và thể hiện nó bằng hiệu quả lãnh đạo của mình

P.V.T.
cand.com.vn

EP nhận định sai lệch tình hình nhân quyền tại Việt Nam

(ĐVO) – Nghị quyết ngày 18/4/2013 của Nghị viện Châu Âu (EP) về tình hình nhân quyền ở Việt Nam đã đưa ra những thông tin và nhận định hoàn toàn sai lệch về tình hình thực tế ở Việt Nam.

Ông Lương Thanh Nghị - Người phát ngôn bộ Ngoại giao Việt NamÔng Lương Thanh Nghị – Người phát ngôn bộ Ngoại giao Việt Nam

“Nghị quyết ngày 18/4/2013 của Nghị viện Châu Âu về tình hình nhân quyền ở Việt Nam đã đưa ra những thông tin và nhận định hoàn toàn sai lệch về tình hình thực tế ở Việt Nam. Việc làm này đi ngược lại xu thế đối thoại thẳng thắn, cởi mở trong lĩnh vực quyền con người đã được xây dựng và tiến hành thường xuyên giữa Việt Nam và các cơ chế của EU, ảnh hưởng không tốt đến đà phát triển và mối quan hệ đang ngày càng tốt đẹp giữa Việt Nam và EU”.

Theo chinhphu
baodatviet.vn

Nghĩa tình từ bức tượng Bác Hồ ở Thông tấn xã Việt Nam

Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi trên bộ ghế mây, chăm chú sửa văn bản trong bức ảnh của nhà nhiếp ảnh Đinh Đăng Định, đã trở thành một biểu tượng về sự vĩ đại nhưng rất đỗi bình dị của người Cha già dân tộc. Và biểu tượng ấy một lần nữa lại được thế giới tôn vinh: Nhà điêu khắc người Mêhicô đã sáng tác 4 bức tượng “Bác Hồ ngồi làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch” bằng đồng để trưng bày tại Mêhicô và làm quà tặng cho Chính phủ và nhân dân Việt Nam. Trong đó, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) đã vinh dự được sở hữu một phiên bản, hiện được an vị tại Trung tâm Thông tấn Quốc gia ở số 5 Lý Thường Kiệt (Hà Nội).

Người ngồi đó…

Bức tượng Bác Hồ bằng đồng của nhà điêu khắc Pedro Ramirez Ponzanell, mang tên “Bác Hồ ngồi làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch” do Đảng Lao động Mêhicô (PT) trao tặng. Đây là phiên bản thứ ba tại Việt Nam, và là phiên bản cuối cùng trong tổng số 4 phiên bản tượng Bác Hồ của cùng một khuôn đúc mà Pedro Ramirez Ponzanell thực hiện, do Đảng PT đặt làm, nhằm thể hiện sự tôn vinh với vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam và thế giới.

Nghĩa tình từ bức tượng Bác Hồ ở TTXVN1Nhà điêu khắc Pedro Ramirez Ponzanell

 Khác với 3 phiên bản trước, phiên bản tượng Bác Hồ đặt tại nhà số 5 Lý Thường Kiệt được thể hiện đúng như bức ảnh mà nhà nhiếp ảnh Đinh Đăng Định chụp Bác Hồ đang ngồi làm việc ở Phủ Chủ tịch, bức ảnh mà Pedro Ramirez Ponzanell đã chọn để làm mẫu cho tác phẩm điêu khắc của mình. Có nghĩa là không có thêm một chiếc ghế kê đối diện phía Bác ngồi, như một nơi để mọi người có thể ngồi lại, ngắm tượng Bác, và “đàm đạo” cùng Người như bức tượng đặt tại Tượng đài Hồ Chí Minh ở Thủ đô Mêhicô.

Nghĩa tình từ bức tượng Bác Hồ ở TTXVN2Bức tượng Bác Hồ an vị tại tầng 2
tòa nhà Trung tâm Thông tấn Quốc gia, số 5 Lý Thường Kiệt, Hà Nội. Ảnh: Lê Phú

Phó Tổng Giám đốc TTXVN Ngô Hà Thái kể, năm 2011, khi ông sang Mêhicô công tác, như tất cả người Việt Nam đã có dịp tới Mêhicô, và cũng như rất nhiều những người nước ngoài yêu quý và tôn kính Hồ Chủ tịch, ông đã tới thăm tượng đài Hồ Chủ tịch tại Trung tâm lịch sử của Thành phố Mêhicô. Bức tượng đài được dựng năm 2009, đúc bằng đồng, theo kích thước người thật với hình ảnh Bác Hồ ngồi trong bộ bàn ghế mây, đang xử lý các văn bản… Xúc động trước bức tượng đài đầy ý nghĩa này, Phó Tổng Giám đốc đã tìm hiểu và được ông Hồ Quang Minh – điều phối viên của Đảng PT – cho biết, đã có 2 phiên bản của tượng đài được Đảng PT tặng Việt Nam. Một bức tượng đã được đặt ở Phủ Chủ tịch, đúng nơi bức ảnh của tác giả Đinh Đăng Định chụp, và bức thứ hai tặng cho thành phố Hà Nội. Theo ông Hồ Quang Minh, khuôn đúc tượng chỉ còn được 1 phiên bản nữa là sẽ không thể đúc thêm, vì thế dự kiến sẽ đúc phiên bản cuối cùng để tặng cho một địa điểm nào đó có ý nghĩa của Việt Nam.

Phó Tổng giám đốc Ngô Hà Thái đã bàn bạc với điều phối viên Hồ Quang Minh, và cả hai đều nhất trí rằng địa điểm cuối cùng này nên là TTXVN, bởi như nhiều người cho biết, bức ảnh này nhà báo Đinh Đăng Định đã chụp khi Bác đang sửa bản tin của TTXVN, và trên bàn của Người lúc ấy cũng có cuốn Báo Ảnh của TTXVN. Không thể ý nghĩa hơn khi phiên bản cuối cùng được tặng cho TTXVN. Chính bởi vậy, phía Đảng PT cũng nhất trí ngay với đề nghị này. Và phiên bản cuối cùng đã được gấp rút đúc, để trao tặng cho TTXVN đúng vào dịp kỷ niệm ngày thành lập TTXVN năm nay (15/9/2012).

Ở Việt Nam, như đã nói, còn 2 phiên bản nữa của bức tượng. Và hai phiên bản này thì giống hoàn toàn với bức tượng tại Mêhicô. Phiên bản thứ nhất được Đảng PT trao tặng thành phố Hà Nội nhân dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long- Hà Nội (năm 2010). Đồng chí Pedro Vaquez Gonzalez, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nhóm Nghị sĩ Đảng PT tại Hạ viện, Trưởng nhóm Nghị sĩ Quốc hội Mêhicô với Việt Nam, đã trao tặng bức tượng này cho lãnh đạo thành phố Hà Nội như một món quà vô giá, thể hiện tình đoàn kết cao cả, hữu nghị giữa hai Đảng và nhân dân hai nước.

Tiếp sau đó, vào tháng 6/2011, phiên bản thứ hai đã là món quà của Đảng PT trao tặng nhân dân Việt Nam nhân kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 100 năm Ngày Người ra đi tìm đường cứu nước. Bức tượng đã được khánh thành ngày 15/6 và được đặt tại Phủ Chủ tịch. Đích thân Tổng Bí thư Đảng PT Alberto Anaya Gutierrez đã sang Việt Nam dự lễ khánh thành. Tổng Bí thư Alberto Anaya tâm sự, với những đảng viên Đảng PT, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là biểu tượng của người anh hùng giải phóng dân tộc, người chiến sĩ quốc tế có những đóng góp to lớn cho phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Bức tượng “Bác Hồ ngồi làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch” – món quà nhỏ nhưng đó là cả tấm lòng của những người lao động Mêhicô với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam.

Tác giả của 4 phiên bản tượng Bác Hồ

Một địa điểm tại thủ đô Mêhicô mà mỗi người con Việt Nam phương xa mỗi khi có dịp đến đây đều dành thời gian ghé thăm, chính là công viên “Tự do cho các dân tộc”, nơi đặt tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Với hình ảnh bụi tre, khóm trúc thân thuộc nằm ngay trên đại lộ mua sắm sầm uất “20 tháng 11” thuộc khu Trung tâm lịch sử thủ đô Mêhicô, công viên mang đậm nét Á Đông này từ lâu nay đã trở thành một không gian xanh được yêu thích của người dân Mêhicô.

Nghĩa tình từ bức tượng Bác Hồ ở TTXVN3Người Việt sinh sống và làm việc tại Mêhicô bên tượng Bác
trong công viên “Tự do cho các dân tộc”. Ảnh: Hoàng Quỳnh

Nhìn từ xa, dòng chữ mạ vàng bằng tiếng Tây Ban Nha “Không có gì quý hơn độc lập tự do” – câu nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh – nổi bật trên bức tường đá hoa cương trắng hình bán nguyệt cao gần 4 mét. Dưới chân bức tường là hình ảnh Bác Hồ ngồi làm việc trong bộ bàn ghế mây mộc mạc, dáng vẻ uy nghiêm mà gần gũi. Trong khoảng không gian tĩnh lặng của buổi sáng mùa hạ, Bác ngồi đó, vầng trán cao, đôi mắt tinh anh chăm chú đọc tập tài liệu trên bàn, tay phải cầm bút viết, chân đi đôi dép cao su, trông thật giản dị và đáng kính… Bức tượng tạc chân dung Bác đúc bằng đồng theo kích thước người thật, sống động có hồn, khiến bất cứ ai ngay lần đầu tiên nhìn thấy cũng đều xúc động và vinh dự như đang được gặp Bác.

Để hiểu hơn về hành trình bức tượng Bác Hồ, chúng tôi đến gặp nhà điêu khắc Pedro Ramirez Ponzanelli. Ông sinh năm 1973 tại thành phố Mêhicô, trong một gia đình có dòng dõi nghệ thuật gốc Italia, từng tham gia thực hiện các công trình điêu khắc lớn như nhà thờ Carrara tại Italia, Cung Mỹ thuật và Đài độc lập ở Mêhicô. Pedro Ramirez đặc biệt quan tâm đến việc gìn giữ lịch sử và tham gia không mệt mỏi vào các dự án tôn vinh các nhân vật kiệt xuất và gìn giữ các nền văn hóa bản địa. Đây có lẽ cũng là cái duyên đưa ông đến với Bác Hồ. Trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, ông cho biết khi nhận dự án đúc tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên vào năm 2009, ông đã đi tìm hiểu rất nhiều tranh ảnh, đọc sách báo và nghiên cứu tư liệu về Người. Một lần đến Đại sứ quán Việt Nam tại Mêhicô, trong số nhiều hình ảnh đưa ra lựa chọn, tấm ảnh “Bác Hồ ngồi làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch” của nhà nhiếp ảnh Đinh Đăng Định đã để lại trong ông một ấn tượng sâu sắc về một con người vừa đáng tôn kính, vừa gần gũi. Ông nói: “Đó là một người xứng đáng được vinh danh. Hình ảnh Hồ Chủ tịch đang ngồi làm việc, xử lý văn bản, tượng trưng cho cách ông tập hợp toàn dân tộc Việt Nam”. Và thế là ông quyết định chọn bức ảnh làm mẫu cho bức tượng được đặt tại công viên “Tự do cho các dân tộc” tọa lạc ở trung tâm thủ đô Mêhicô.

Một điểm khác so với nguyên bản trong bức ảnh Bác Hồ ngồi ghế mây là nghệ nhân Pedro Ramirez đã đề xuất làm thêm một chiếc ghế đặt bên cạnh bàn làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông nói chiếc ghế này sẽ tạo cho mọi người cảm giác gần gũi hơn với Hồ Chủ tịch, dù là người dân Việt Nam hay người dân Mêhicô đều có thể ngồi bên cạnh Người.

Pedro Ramirez cho biết, để chế tạo khuôn, trước tiên người nghệ nhân dùng sáp để tạo tượng mẫu, tiếp đó dùng vữa thạch cao đắp vào mẫu sáp vừa tạo để đổ khuôn, rồi sau đó đem nung. Khuôn được nung ở nhiệt độ 3.000 độ C khiến lớp sáp tan chảy, tạo khuôn tượng với hình dáng và đường nét theo bản mẫu điêu khắc. Khuôn phải được nung nóng đều, đủ nhiệt độ cho đồng chảy đều trong khuôn. Tiếp theo là công đoạn đúc, gồm 2 bước là nấu đồng và rót đồng vào khuôn. Đồng được nấu ở nhiệt độ 1.200 độ C, sau đó được đưa ra và rót vào khuôn. Quá trình đổ rót phải tuân theo một công thức nghiêm ngặt để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh không rạn nứt, tỳ vết. Sau khi khuôn nguội, dỡ khuôn lấy sản phẩm ra mài, dũa, đục, tách, đánh bóng và làm màu theo mẫu. Toàn bộ quá trình diễn ra trong vòng 20 ngày.

Theo nghệ nhân Pedro Ramirez, phần khó nhất chính là thể hiện được thần thái của khuôn mặt sao cho toát lên phẩm chất cao quý và giản dị của Hồ Chủ tịch, và đôi mắt, phải có hồn, có chiều sâu…

Đúng là bức tượng Bác Hồ đã đạt được những mong muốn của nhà điêu khắc và của Đảng PT giàu tình nghĩa với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam. Ngắm Bác, những người làm Thông tấn lại nhớ đến lời dạy của Bác khi Người đến thăm TTXVN năm 1955: “Phát tin nhanh, kịp thời, tin tốt, tin nhiều và bảo đảm sự thật”./.

Hoàng Quỳnh – Tuyết Anh
Theo http://baotintuc.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với việc giáo dục thanh niên

Cả cuộc đời phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí minh không quên chăm lo đời sống của mọi tầng lớp nhân dân, Người luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho thanh niên bởi đó là những chủ nhân tương lai của đất nước. Theo quan điểm của Người thì thanh niên là:

Người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai – tức là các cháu nhi đồng.

Người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế và văn hoá, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ, đang hăng hái giữ gìn trật tự, trị an, bảo vệ Tổ quốc.

Người luôn đi đầu trong mọi công việc với khẩu hiệu “Đâu cần thanh niên có. Việc gì khó thanh niên làm”.

1. a1. Bh  Giáo dục TN
Bác Hồ và thanh niên trong ngày bầu cử Quốc hội Khóa II (5/5/1960)

Từ khi còn là một thanh niên yêu nước, trải qua những năm tháng bôn ba xứ người, Người luôn canh cánh con đường giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, lầm than và đào tạo thế hệ kế cận gánh vác trọng trách “giúp nước, cứu nhà”. Người đã dành rất nhiều tâm huyết cho việc tổ chức, dẫn dắt các thế hệ thanh niên đến với cách mạng, tham gia vào quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ Châu Âu, Châu Mỹ xa xôi đến khi về Quảng Châu – Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã xây dựng được một đội ngũ những nhà yêu nước trẻ tuổi, trung thành tuyệt đối với con đường cứu nước. Những thanh niên cách mạng ưu tú đó đồng thời đã là những hạt nhân để tiến tới việc thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt nam sau này. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến việc học tập, vấn đề cốt lõi để các thế hệ thanh niên trang bị cho mình sự hiểu biết, vốn kiến thức, một trong những điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho các thế hệ thanh niên có thể tham gia hoạt động cách mạng, phấn đấu cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Song song với việc học tập không ngừng, Bác Hồ cũng dành nhiều sự quan tâm giáo dục thanh niên phải thường xuyên rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính; chí công, vô tư. Bác khuyên thanh niên không được ngại khó khăn, gian khổ, không nề nguy hiểm trong công tác, học tập, chiến đấu. Trong cuộc sống, Bác căn dặn thanh niên biết yêu thương gia đình, kính trọng ông bà, cha mẹ, người cao tuổi, nâng đỡ, dìu dắt thiếu nhi, quý trọng và hiếu thảo với nhân dân. Thanh niên phải ra sức rèn luyện đạo đức cách mạng để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Dù ở thời đại nào, thanh niên cũng phải không ngừng vươn lên, phấn đấu, rèn luyện để thật sự là đội quân chủ lực của cách mạng. Bởi một lẽ như Bác Hồ kính yêu đã nói: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời người khởi đầu từ tuổi trẻ, tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Đến năm 1947, trong thư gửi thanh niên, một lần nữa Bác Hồ lại khẳng định: “… Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc chuẩn bị cái tương lai đó…”. Trong Di chúc, Người không quên căn dặn Đảng ta quan tâm, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thanh niên trở thành những người có tài, có tâm, có lập trường tư tưởng vững chắc, trung thành với mục đích của Đảng, lợi ích của nhân dân, đủ sức gánh vác những trọng trách mới mà Tổ quốc và nhân dân giao phó. Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng Chủ nghĩa xã hội vừa “Hồng” vừa “Chuyên”. Thanh niên “có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức thì là người vô dụng”(Chủ tịch Hồ Chí Minh). Vì vậy, việc bồi dưỡng cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết.

Bên cạnh đó, Người còn yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên cần phải chống tâm lý tự ti, tự lợi, chỉ lo vun vén cho lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình, chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc, chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay… đó là những thói xấu kìm hãm chí tiến thủ của đoàn viên, thanh niên.

1. a2. BH  giaoducTn
Thanh niên tình nguyện Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh ở Gia Lai
cưa cây dựng nhà cho đồng bào trong một chiến dịch Mùa hè xanh

 Thanh niên dù ở thời đại nào, dù trong chiến tranh hay thời bình đều cần phải rèn luyện qua thử thách, qua môi trường sống với tinh thần “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên” để tôi luyện nên ý chí của tuổi trẻ, khi đứng trước bất cứ khó khăn nào cũng vững gan, bền chí vượt qua. Tuổi trẻ cả nước hôm nay luôn nêu cao tinh thần yêu nước quật cường của cha anh đi trước, phát huy truyền thống của dân tộc, hăng hái, sôi nổi hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào xung kích, tình nguyện: “Tuổi trẻ Thủ đô tình nguyện nơi đỉnh trời – Hà Giang”, chương trình “Mùa hè xanh”, đồng hành… (Đồng hành cùng thanh niên lập thân, lập nghiệp), tích cực tham gia các diễn đàn: “Tuổi trẻ Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”, “Tiếp lửa truyền thống – Mãi mãi tuổi hai mươi”,…

1. a3. BH giaoducTN
Mùa hè xanh 2009

Trong công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế, Đảng ta vẫn thấm nhuần những lời dạy của Người về công tác thanh niên, đưa việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trở thành sinh hoạt chính trị thường xuyên đối với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Các thế hệ thanh thiếu niên ngày nay ý thức được trách nhiệm, quyền lợi của mình cần phải ra sức rèn luyện, học tập nâng cao mọi mặt trình độ, kiến thức, làm chủ khoa học công nghệ, đặc biệt là trau dồi, tu dưỡng đạo đức cách mạng, trở thành những người “vừa hồng vừa chuyên” như lời Bác dạy, để xứng đáng là những chủ nhân của đất nước trong thời kỳ mới.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Mạch nguồn thơ văn Nguyễn Trãi trong tác phẩm của Hồ Chí Minh

Việt Nam - Hồ Chí MinhHồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu đậm từ Nguyễn Trãi, trước hết là tư tưởng vì dân, trọng dân, yêu dân.

Nguyễn Trãi viết: “Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc… Dám mong Bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăm nuôi muôn dân, khiến cho thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu, đó tức là giữ được cái gốc của nhạc vậy”. Mở đầu Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã tuyên bố đường lối: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Tiếp thu tinh thần ấy, Hồ Chí Minh đã hơn một lần nói: “Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại bị đau khổ, bị áp bức”. Ngay trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh nêu một nguyên lý: “Nước lấy dân làm gốc” để nhắc nhở cán bộ phải luôn biết dựa vào dân và phục vụ vì dân. Kế thừa, phát triển tư tưởng lấy dân làm gốc của Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh khẳng định sự tất thắng của sức mạnh nhân dân:

Quân tốt dân tốt,

Muôn sự đều nên.

Gốc có vững cây mới bền,

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân.

Nguyễn Trãi yêu cầu “phàm người có chức vụ… đối dân tận hòa, bỏ thói tham ô, trừ tệ lười biếng; bè đảng riêng tây phải bỏ, thái độ cố phạm phải chừa, coi công việc của quốc gia làm công việc của mình, lấy điều lo của sinh dân làm điều lo của mình”.

Ngay từ những ngày đầu giải phóng, Bác Hồ đã đề ra nhiệm vụ “Chính phủ và Đảng chỉ mưu giải phóng cho nhân dân, vì thế, bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Người nghiêm khắc phê phán những kẻ cơ hội: “Có người làm quan cách mạng, chợ đỏ chợ đen, khinh dân, mưu vinh thân phì gia”. Người dạy cán bộ phải biết kính trọng dân: “Có người cho là “dân ngu khu đen”. Thế là tầm bậy. Dân rất thông minh. Quần chúng kinh nghiệm sáng kiến rất nhiều”. Để xứng đáng là “người đầy tớ trung thành của nhân dân”, Bác Hồ yêu cầu cán bộ phải “cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”. Người từng lên tiếng báo động: “Đề phòng hủ hóa… có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán…” và đề ra một tiêu chuẩn của người cách mạng là “Lo, thì trước thiên hạ; hưởng, thì sau thiên hạ”; “ không lợi dụng danh nghĩa Ủy ban để gây bè tìm cánh, đưa người “trong nhà trong họ” vào làm việc với mình”.

Trong Chiếu về việc làm bài Hậu tự huấn để răn bảo thái tử, Nguyễn Trãi yêu cầu nhà vua phải “hòa thuận tông thân, nhớ giữ một lòng hữu ái, thương yêu dân chúng, nghĩ làm những việc khoan nhân”. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi thể hiện thật sâu sắc ở phương châm giản chính, khoan hình: “… có khi dùng đến uy pháp, nhưng không nên lâu la phải chóng trở về với nhân nghĩa”, nếu phải dùng quyền mưu thì “chỉ dùng để trị gian tà. Cốt nhân nghĩa gìn giữ thì thế nước mới yên ổn”. Hồ Chí Minh học tập tinh thần ấy của Nguyễn Trãi, Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”.Tư tưởng vì con người của Bác Hồ rất gần với Nguyễn Trãi, dĩ nhiên được mở rộng, cụ thể hơn: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người. Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ”.

Nhìn dưới góc độ văn chương cũng cho thấy Hồ Chí Minh học tập từ Nguyễn Trãi. Cụ Ức Trai có câu thơ: “Hà thời kết ốc vân phong hạ/ Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên”(Bao giờ làm được nhà dưới núi dưới mây/ Múc nước suối nấu chè, gối hòn đá ngủ – Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác), Hồ Chí Minh cũng từng có mong muốn: “… Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa,…”. Câu thơ “Cháo bẹ rau măng vẫn sẫn sàng” của Hồ Chí Minh có hình bóng câu thơ Ức Trai: “Cơm ăn chẳng quản dưa muối/ Áo mặc nài chi gấm thêu” (Thuật hứng). Âm hưởng tiếng suối trong thơ Nguyễn Trãi: “Côn Sơn có suối/ Tiếng nước chảy rì rầm/ Ta coi làm đàn cầm…”, hơn năm trăm năm sau vọng vào thơ Hồ Chí Minh: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”. Trong câu thơ của Hồ Chí Minh: “Giang tâm như kính tịnh vô trần” (Lòng sông gương sáng bụi không mờ), thì cái nhìn mặt nước trong suốt lung linh ấy cũng có từ Nguyễn Trãi: “Nhất bàn lam bích trừng minh kính” (Một mặt phẳng sắc lam sắc biếc như tấm gương trong suốt – Vân Đồn). Có khi là ảnh hưởng tứ thơ. Nguyễn Trãi viết về tuổi già nhưng chí trẻ: “Tuổi cao, tóc bạc, cái râu bạc/ Nhà ngặt, đèn xanh, con mắt xanh”. Bác Hồ cũng có tứ thơ ấy: “Chưa năm mươi tuổi đã kêu già/ Sáu ba mình nghĩ vẫn là đương trai…”…

Có thể thấy trước tác của hai nhà tư tưởng lớn này có điểm giống nhau là rất giản dị, dễ hiểu, gần với đời sống nhân dân, biểu đạt một cách nhuần nhị lời ăn tiếng nói của nhân dân, bởi ở họ có một điểm chung là rất có ý thức kế thừa ngôn ngữ quần chúng lao động. Thơ Nguyễn Trãi là một trong những mạch nguồn tư tưởng và mạch nguồn ngôn ngữ nghệ thuật ở tác phẩm của Hồ Chí Minh.

Nguyễn Thanh Tú
Theo Báo Quân đội nhân dân
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

“Chỉ sợ lòng mình không rộng”

Đã đến ngày mồng 2-9. Tôi được Trung ương triệu tập lên dự Hội nghị Bí thư và Chủ tịch các tỉnh miền Bắc từ hôm trước. Chiều hôm sau cùng các đại biểu đi dự mít tinh ở Quảng trường Ba Đình để nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập và giới thiệu danh sách Chính phủ lâm thời. Sau đấy lại cùng về Bắc Bộ Phủ, nay là Nhà khách Chính phủ ở phố Ngô Quyền, để họp với đồng chí Trường Chinh. Đang họp thì Bác vào (từ lúc ở Ba Đình về Bác vẫn ngồi nghỉ trên chiếc ghế bành mây ở hành lang phía sau nhà, nhìn ra Hồ Gươm). Tôi nhìn Bác không chớp mắt. Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương, đã có lần ở Báo “Tin tức” của Đảng, khi biên tập hồi ký “Ba năm ở Nga Xô-viết” của đồng chí Trần Đình Long để đăng từng kỳ trên Báo, trong đoạn nói về việc gặp Bác ở Đức, tôi có hư cấu thêm một câu để tả chân dung Bác: “Dưới vầng trán cao ánh lên một cặp mắt sáng quắc và nhân từ”. Lúc này ngồi ngắm Bác tôi lại nhớ đến câu ấy, ngạc nhiên thấy mình tưởng tượng rất đúng. Chỉ có cách ăn mặc và cách nói giản dị của Bác thì không tưởng tượng được. Tôi liếc sang cuốn sổ tay nhỏ để trước mặt Bác thấy hai chữ “Phân công” ghi bằng chữ Hán. Tôi nghĩ bụng chắc Bác giỏi chữ Hán lắm… Bác ghi thêm mấy chữ nữa, rồi không cần mào đầu Bác nói ngay:

– Bây giờ cách mạng đã thành công, nhưng khó khăn còn nhiều. Đừng có đồng chí nào nghĩ rằng đã đến lúc cần được nghỉ ngơi, hưởng thụ. Các đồng chí đều đã hoạt động bí mật, đã kinh qua nhiều gian khổ, bây giờ ra ánh sáng nếu không cẩn thận thì sẽ bị lóa mắt về những vật chất. Ở một vài nơi nhân dân đã kêu: Các ông ủy ban đi đâu một bước là ô tô. Ông chủ tịch đi ô tô, ông ủy viên đi ô tô, rồi cả bà ủy viên, cô cậu ủy viên cũng đi ô tô. Làm cách mạng là để phục vụ nhân dân chứ không phải để thăng quan phát tài, chỉ có người cách mạng, chứ không có quan cách mạng. Nếu không giữ mình liêm chính thì sẽ tham ô, thụt két, rồi bị kỷ luật…

Chi so long minhLực lượng vũ trang cách mạng trong Ngày Quốc khánh 2-9-1945.
( Ảnh tư liệu)

Bác chỉ nói ngắn gọn có thế thôi, nhưng mọi người đều cảm thấy như Bác đã nhìn thấu ruột gan mình. Cái gì chứ cái dùng ô tô bừa bãi thì hầu như không nơi nào không có. Không ngờ Bác bận trăm công ngàn việc trong buổi đầu dựng nước, mà Bác vẫn không bỏ sót một việc nhỏ nào. Một điều nữa làm tôi ngạc nhiên là đã mấy chục năm bôn ba ở nước ngoài, mà lời nói và cách nói của Bác không hề bị pha tạp một tý gì của nước ngoài, vẫn hoàn toàn Việt Nam.

*

*      *

Một hôm, vào gần giữa tháng chín, tôi nhận được điện của Bộ Nội vụ ra lệnh tha cho một viên quan lại mà chúng tôi bắt giam về tội chống Cộng. Viên quan này là Nguyễn Văn Ích, quê ở Hưng Yên, làm Tuần phủ Tuyên Quang. Khi còn là một tên Thống phán tòa sứ, ông ta cũng có viết văn. Cuốn tiểu thuyết “Kim Anh lệ sử” của ông ta đã gây được tiếng vang rộng rãi trong giới trí thức và quan lại hồi ấy, vì nó đề cập đến một vấn đề thời sự: Một viên Tri huyện hiến vợ lẽ của mình là Kim Anh cho tên Công sứ Tây để được thăng quan tiến chức. Nhưng đến năm 1931, khi phong trào cộng sản lên cao thì ông lại dịch cuốn “Mặt nạ cộng sản” để nói xấu cộng sản và xuyên tạc Liên Xô. Cuốn sách đã được bọn Thống trị Pháp cho phát không về các làng và ông ta thì được thăng Tri châu, rồi Tuần phủ. Cách mạng lên, ông “từ quan” về ngôi biệt thự lộng lẫy bên hồ Bán nguyệt.

Việc bắt viên Tuần phủ Ích cả tỉnh đều biết, bây giờ phải tha cho ông ta thì biết ăn nói thế nào với bà con Hưng Yên? Sau khi trao đổi với các đồng chí trong Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh, tôi phóng xe lên Bắc Bộ Phủ xin gặp anh Võ Nguyên Giáp lúc ấy là Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Anh Giáp cho anh Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) xuống tiếp. Nghe tôi trình bày sự việc xong, anh Bôi nói:

– Việc này nằm trong chính sách chung của Đảng với những người có sai lầm cũ, không thể thay đổi được. Đến cả Vi Văn Định mà “ông cụ” cũng sắp cho mời về làm việc kia.

Tôi đề nghị anh Bôi báo cáo với Hồ Chủ tịch xét lại việc này cho, chứ tha viên Tuần phủ ấy bây giờ thì chúng tôi sẽ mất hết uy tín với nhân dân trong tỉnh. Anh Bôi lắc đầu:

– Không được đâu! “Ông cụ” rigide (cứng rắn) về nguyên tắc lắm.

Tôi vẫn nằn nì. Cuối cùng anh Bôi bảo tôi hãy chờ một lát, anh phải lên làm việc với Bác, để anh thử xin ý kiến Bác xem (anh vẫn gọi Bác là “Ông cụ”). Một lúc sau anh xuống gọi tôi lên gặp Bác. Bác chỉ ghế cho tôi ngồi rồi hỏi ngay:

– Đồng chí bắt người ta có lợi gì không?

Lần đầu tiên được gặp riêng Bác, tôi rất lúng túng trong việc xưng hô. Tôi ấp úng:

– Thưa… Thưa Chủ tịch, vì nó đã viết sách chửi cộng sản.

– Biết rồi. Nhưng việc đã lâu ngày, bắt người ta bây giờ có lợi gì không?

– Thưa Chủ tịch, để nó phải sợ…

Tôi biết lỡ lời, định chữa lại, thì Bác đã nói tiếp:

– Thế đồng chí có biết làm cho người ta sợ hơn, hay làm cho người ta yêu hơn? Đồng chí có học chữ nho không?

– Thưa, có học ít thôi ạ.

– Thế đồng chí có nhớ câu các cụ thường nói “xử nhân úy bất như xử nhân ái” không? Đồng chí nên nhớ rằng không sợ người không theo mình, mà chỉ sợ lòng mình không rộng. Thôi, đồng chí về bàn với anh em giải thích cho người ta hiểu chính sách khoan hồng của Chính phủ, rồi tha cho người ta…

*

*     *

Không sợ người không theo mình, mà chỉ sợ lòng mình không rộng. Đã hơn 60 năm rồi mà đến nay tôi vẫn còn nhớ như in lời dạy của Bác. Tôi cũng không bao giờ quên được những lời khuyên răn của Bác hôm được gặp Bác ở Bắc Bộ Phủ, nhất là câu: “Chỉ có người cách mạng, chứ không có quan cách mạng”.

Nhà văn Học Phi

Theo http://www.qdnd.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh qua đánh giá của Unesco

Văn Hoá, Đạo Đức Trong Tư Tưởng Hồ Chí MinhNăm 1987, tổ chức khoa học, giáo dục, văn hóa của Liên hiệp quốc, UNESCO trong cuộc họp Đại hội đồng lần thứ 24 (tại Paris từ 20/10 đến 20/11) đã ra Nghị quyết phong tặng Hồ Chí Minh danh hiệu kép: “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn”. Bài viết này khái quát những đánh giá của UNSECO về Hồ Chí Minh thể hiện trong Nghị quyết, qua đó khẳng định tầm vóc văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xem đây như là những tiêu chí mà UNESCO đã căn cứ để phong tặng Người là nhà văn hóa lớn.

Không phải bất cứ ai hoạt động và sáng tạo trong lĩnh vực văn hoá đều là nhà văn hoá, mà chỉ được thừa nhận là nhà văn hoá nếu chủ thể hoạt động và sáng tạo đó vươn tới tầm cao của tri thức văn hoá, khoa học…ở thời đại, để từ đó sáng tạo ra những giá trị văn hoá đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của nền văn hoá dân tộc và văn hoá nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh vượt lên trên những tiêu chí đó để xứng đáng là nhà văn hóa lớn của thế giới.

Trong Nghị quyết Đại hội đồng UNESCO lần thứ 24, khi phong tặng Hồ Chí Minh danh hiệu kép “ Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn” (Vietnamese hero of national liberation anh great man of culture – nguyên văn bản dịch tiếng Anh), UNESCO đã đánh giá: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất của sự khẳng định dân tộc, đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, sự đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam với lịch sử hàng nghìn năm, và những lý tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc văn hóa và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.

Hồ Chí Minh được thừa nhận là nhà văn hoá lớn vì trước hết Người đã khởi xướng phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, giải phóng các dân tộc thuộc địa, giành lại độc lập tự do cho các dân tộc bị bóc lột, phấn đấu vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho muôn người. Đó không phải chỉ là một sự nghiệp chính trị phi thường mà còn là một sự nghiệp văn hoá cao cả.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đưa chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam, lấy đó làm cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho việc xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam. Người là kiến trúc sư vĩ đại của công cuộc cải cách và xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam, tạo ra một cách nhìn mới, một thế giới quan mới, tạo lập một ý thức chính trị, ý thức đạo đức, ý thức pháp luật, ý thức nghệ thuật mới…chưa từng có trong lịch sử văn hoá Việt Nam.

Trên cơ sở chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ Chí Minh đã đánh thức các tiềm năng tinh thần truyền thống Việt Nam, định hướng cho sự ra đời một nền văn hoá mới, một xã hội nhân cách mới. Người là kết tinh truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Người đã đưa nền văn hóa Việt Nam lên một tầm cao mới và khẳng định bản sắc văn hóa của dân tộc mình trước thế giới cũng như góp phần đưa văn hóa Việt Nam giao lưu, hòa nhập với văn hóa thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc, cốt cách văn hóa của dân tộc mình đã hình thành từ những năm 20 của thể kỷ XX. Năm 1924, khi đến thăm Triển lãm nghệ thuật tổ chức tại Matxcơva, Người đã nhấn mạnh: “Mỗi dân tộc phải chăm lo đặc tính dân tộc của mình trong văn hóa nghệ thuật”.[1] Hồ Chí Minh còn có những đóng góp quan trọng trong việc “thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”giữa các dân tộc mà trước hết là hiểu biết về văn hóa. Đây chính là những chủ trương về văn hóa của các dân tộc cũng như của UNESCO trong xu thế giao lưu, hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay.

Hồ Chí Minh là biểu tượng của sự kết hợp hài hoà tinh hoa văn hoá dân tộc và văn hoá nhân loại, thể hiện một cách tiêu biểu và nổi bật sự kết hợp giữa những giá trị nhân văn của dân tộc, những đạo lý của con người Việt Nam với chủ nghĩa Mác – Lênin, chân lý của thời đại và tinh hoa văn hoá nhân loại bao gồm cổ, kim, Đông, Tây. Tư tưởng của Người về văn hóa thể hiện ở ý thức rõ ràng của Người về bản sắc và giá trị của văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, Người xác định càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, càng phải coi trọng truyền thống tốt đẹp của cha ông[2]. Người giáo dục nhân dân: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” [3].

Với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa, Hồ Chí Minh là nhà thơ lớn, nhà văn, nhà báo cách mạng vĩ đại.

Sinh thời, Hồ Chí Minh vẫn thẳng thắn khước từ mọi danh hiệu làm văn hóa – nghệ thuật mà mọi người thường gắn cho mình. Đúng là người không chú tâm làm nghệ thuật nhưng sự nghiệp cầm bút vì cách mạng của Người đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp văn hóa “vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”, vô cùng cao thượng và phong phú” như chính cuộc đời của Người.

Thơ Hồ Chí Minh phần lớn là những bài thơ “đuổi giặc”, bài nào cũng có thể tìm thấy ở đó một ý nghĩa chính trị nhất định, song không bài nào vắng bóng con người. Khát vọng tự do công lý, ấm no, hạnh phúc, hòa bình…, sự cổ vũ cho cái đẹp và mối quan hệ nhân văn giữa người với người, đó là một nội dung chủ đạo trong thơ Hồ Chí Minh. Vì vậy, những bài thơ của Người, trong đó có một số bài đã trở thành “thơ của muôn đời”, đã làm “xáo trộn cả tâm hồn nhân loại” bởi giá trị nhân văn cao quý, tỏa sáng từ một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn. Về mặt nghệ thuật, một số bài thơ chữ Hán của Người đã đạt đến trình độ kiệt tác, có thể đem so sánh với thơ Đường, thơ Tống, bởi vì ngoài cái gốc là tính trữ tình, nó đã vượt ra khỏi cái đỉnh cao nhất của kỹ xảo điêu luyện, đã trở thành một nghệ thuật hầu như tự nhiên”.

Hồ Chí Minh cũng đồng thời là nhà văn lớn, là người mở đầu và đặt nền móng cho nền văn xuôi cách mạng Việt Nam. Người đã tìm tòi, thử bút trên nhiều thể loại: Tiểu thuyết, du ký, truyện viễn tưởng, truyện ngắn, truyện ký, kịch, tiểu thuyết, văn chính luận… và ở lĩnh vực nào Người cũng đạt được những thành tựu đặc sắc. Người đã đem lại cho văn chương cách mạng nước ta những yếu tố rất mới, rất hiện đại, không chỉ so với các nhà nho, các chiến sĩ cách mạng cùng thời mà cả với văn nghệ sĩ hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là bậc thầy của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Ngòi bút của Người trên mặt trận báo chí đã thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, lên án chủ nghĩa thực dân, chỉ đạo phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa. Chính Người đã sáng lập và linh hồn của nhiều tờ báo vô sản đầu tiên trong lịch sử báo chí nước ta và trên thế giới, trước hết là tờ Báo Người cùng khổ ở Pháp, Báo Thanh niên, Công nông, Lính cách mệnh, Việt Nam độc lập ở Trung Quốc và Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hoá kiệt xuất bởi Người còn là mẫu mực của tinh thần khoan dung văn hoá. Người nhắc nhở phải giữ gìn, phát huy truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc, nhưng không tự bó mình trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, thiển cận mà kêu gọi phải ra sức nghiên cứu học tập tinh hoa văn hoá của thế giới xưa và nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hoá kiệt xuất vì Người còn là hiện thân của văn hoá hoà bình, của đường lối ngoại giao hoà bình, luôn luôn chủ trương giải quyết mọi xung đột bằng thương lượng, đối thoại với thái độ hiểu biết và nhân nhượng lẫn nhau. Ngay từ năm 1947, Người đã khẳng định phương hướng đối ngoại của nước ta là: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”[4].

Là nhà văn hoá lớn, Hồ Chí Minh đã nêu lên trước nhân loại tấm gương của một con người luôn luôn vươn tới đỉnh cao của văn hoá. Tiêu biểu cho những giá trị đỉnh cao của Người khi trở thành nhà văn hoá lớn phát triển về nhiều mặt:

Về mặt trí tuệ, Người là nhà văn hoá uyên bác cả Đông, Tây, kim, cổ, thể hiện tài năng trên mọi lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hoá…

Về mặt tình cảm, Người mang một “trái tim mênh mông”, “ôm cả non sông vạn kiếp người”. Người thương yêu nhân dân mình và thương yêu cả nhân dân thế giới, lo lắng đến vận mệnh cả nhân loại và quan tâm đến số phận của từng con người.

Về mặt hành động, Người là anh hùng kết hợp cả Nhân, Trí, Dũng, nổi lên ở một nghị lực phi thường và một đầu óc vô cùng nhạy bén và sáng tạo.

Về tư tưởng triết học, ở phương Tây, Người tiếp thu truyền thống nhân văn từ cổ Hy- La đến Mác- Lênin, đem lại cho truyền thống nhân văn tính hiện thực và tính chiến đấu. Ở phương Đông, Người gạn đục khơi trong, tiếp thu mọi nhân tố tích cực của cả Nho giáo, Lão giáo, Phật giáo.

Trong đời sống riêng tư, Người vừa theo đuổi những hoài bão lớn nhất của nhân loại, vừa sống một cuộc sống giản dị và bình thường về nhu cầu vật chất nhưng lại vô cùng phong phú về tinh thần. Người là chiến sỹ đồng thời là nghệ sỹ, là anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá. Trong những ngày căng thẳng nhất về công việc kháng chiến và kiến quốc, Người vẫn ung dung làm thơ và câu cá, thể hiện một sự hài hoà hiếm có: Gần gũi với thiên nhiên, gắn bó với xã hội và tu dưỡng bản thân.

Có thể khẳng định nhà văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hoá mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, cũng là những giá trị đóng góp vào sự phát triển của văn hoá thế giới. Nhiều chủ trương văn hoá được Người đề ra rất sớm – từ giữa những năm 40 và 50 của thế kỷ XX như: Xoá mù chữ, trồng cây phủ xanh đồi trọc, cải tạo môi trường sinh thái…đến đầu những năm 90 đã được Liên hợp quốc đề lên thành những cuộc vận động lớn trên toàn thế giới.

Nhà văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh cho thấy rõ vị trí và ý nghĩa của văn hoá ứng xử. Người đã từng nói một cách vắn tắt: “Chúng ta sống trong thời vẻ vang thì phải sống cho xứng đáng”. Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên Hồ Chí Minh lại được UNESCO tôn vinh danh hiệu anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn. Nhà văn Xôviết Ôxips Manđenxtam, từ năm 1923 đã nhận xét: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai” [5]. Đó là nền văn hóa thống nhất giữa văn hóa với cách mạng. Bởi vì, bản thân cách mạng cũng là một sự nghiệp văn hóa, nó biểu hiện trọn vẹn một thiên hướng và khả năng sáng tạo, chứng minh và đòi hỏi chúng ta một niềm tin sâu sắc ở tương lại, như nhà văn hóa lớn Côlômbia là Máckét, người được giải thưởng Nobel, tại cuộc gặp lần thứ hai các nhà trí thức Mỹ Latinh, đầu tháng 12 năm 1985, đã phát biểu. Nền văn hóa đó kết hợp truyền thống và hiện đại, dân tộc và nhân loại, phương Đông và phương Tây, thể hiện lý tưởng chung của loài người là độc lập, tự do, hạnh phúc. Nhân loại đã thấy ở Hồ Chí Minh biểu tượng của nhà văn hoá tương lai. Nhân loại đã thấy ở Hồ Chí Minh không chỉ là nhà tư tưởng lớn, nhà lý luận mà còn thấy ở Người một mẫu mực của con người phát triển toàn diện, con người nói văn hoá và thực hành văn hoá. Sự nghiệp và phong cách văn hóa Hồ Chí Minh như là một trong những dòng chủ lưu đã và đang hòa mình vào dòng chảy của văn hóa thời đại.

Tài liệu tham khảo

1. Hồ Chí Minh: Tòan tập, tập 3Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002

3. GS.PTS. Đõ Huy, Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997.

4. PGS. TS Đinh Xuân Lý-PGS.TS Phạm Ngọc Anh, Một số chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị. Hà Nội, 2008

5. Bác Hồ với văn nghệ sĩ, Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội,1985

ThS. Trần Nguyên Hào
Diễn đàn Sinh viên Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 26 tháng 8: “Số phận châu Á sẽ thay đổi và thay đổi nhiều”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ tư, 26/08/2009, 01:34 (GMT+7)

Cách đây 98 năm, ngày 26-8-1911, Nguyễn Tất Thành với cái tên Văn Ba đang làm thủy thủ trên tàu “Đô đốc Latouche Tréville”, cặp bến Dunkerque, một hải cảng của Pháp nằm trên bờ biển Manche.

Tháng 8-1914, từ London, thủ đô nước Anh, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Phan Chu Trinh đang sống ở Pháp. Thư viết: “Kính gửi Nghi Bá đại nhơn, Tiếng súng đang vang rền và thây người đang phủ trên đất. Năm cường quốc đã vào vòng chiến và chín nước đang đánh nhau. Cháu chợt nhớ đến thư cách đây mấy tháng đã viết về cơn giông bão này. Định mệnh sẽ dành cho chúng ta nhiều bất ngờ và không thể nói trước được ai sẽ là người thắng… Cháu nghĩ, trong vòng ba, bốn tháng nữa, số phận châu Á sẽ thay đổi và thay đổi nhiều”. Có thể coi đây là văn kiện đầu tiên chúng ta ghi nhận được những bình luận thời cuộc mang tính chính trị đầu tiên của người sau này trở thành nhà cách mạng nổi tiếng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Ngày 26-8-1945, tại ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang, giữa lòng Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng để bàn thảo những vấn đề trọng đại trong chính sách đối nội và đối ngoại của nhà nước Việt Nam độc lập, trong đó có chủ trương mở rộng thành phần chính phủ lâm thời, soạn thảo “Tuyên ngôn Độc lập” và khẩn trương chuẩn bị ngày Tuyên bố độc lập.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp người đứng đầu cơ quan Tình báo chiến lược OSS của Mỹ từ Côn Minh vừa tới Hà Nội. Trong hồi ký, A. Patty thuật lại buổi gặp gỡ diễn ra tại số nhà 48 Hàng Ngang: “Tôi rất vui gặp lại ông ta, nhưng sửng sốt khi nhận ra: thân hình xương xẩu trái ngược với cái trán khá rộng, với nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt. Trang phục của ông, một tấm áo nâu sẫm và quần rộng…”.

Còn trong câu chuyện, “Ông tỏ ra rất khó chịu về việc người Việt Nam phải đón quân đội Trung Quốc và cho rằng việc một số lượng lớn người Trung Quốc tràn vào Việt Nam cộng với số quân Nhật ở đây sẽ làm cho tài nguyên đất nước khánh kiệt một cách ghê gớm. Một cách tinh vi, ông đã liên tưởng đến những sự rối loạn mà quân đội chiếm đóng Tưởng có thể gây ra nếu họ cướp bóc lan tràn và lộng hành đối với dân chúng. Ông yêu cầu tôi báo trước cho Đồng Minh về những khả năng này và tôi hứa sẽ làm đầy đủ… Với nụ cười quen thuộc, ông báo cho tôi biết rằng đúng vào lúc đó, một phái đoàn Chính phủ đã lên đường đi Huế để tiếp nhận sự thoái vị của Bảo Đại… Điều quan trọng đối với ông Hồ là Mỹ tiếp tục chính sách chống thực dân của Mỹ đối với Đông Dương… Ông tự nhận là một người “Quốc gia – Xã hội – Tiến bộ” có một sự mong muốn mãnh liệt muốn giải thoát đất nước khỏi ách đô hộ của nước ngoài. Ông nói một cách lưu loát, không điệu bộ, nhưng với một vẻ thành thật, quyết tâm và lạc quan…”.

Ngày 26-8-1965, Bác đi thăm Tiểu đoàn 61, Trung đoàn 23 Bộ đội tên lửa, Đoàn Sông Đà đang tham gia chiến đấu bảo vệ Thủ đô, đặt bản doanh tại Phùng, ngoại vi Hà Nội.

Ngày 26-8-1969, sức khỏe Chủ tịch Hồ Chí Minh đang diễn biến phức tạp. Bác điều trị tại Viện Quân y 108 của quân đội. Một lần, Bác tỉnh dậy và tỏ ý muốn nghe một khúc dân ca. Cô y tá chăm sóc sức khỏe đã hát một bài dân ca quan họ và được Bác tặng một bông hồng.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 25 tháng 8: “Giáo dục nhi đồng là một khoa học”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ ba, 25/08/2009, 05:02 (GMT+7)

Cách đây 78 năm, ngày 25-8-1931, liên quan đến “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công”, phiên tòa thứ 6 được đưa ra xét xử, luật sư bảo vệ cho bị cáo Tống Văn Sơ tiếp tục tranh biện buộc tòa phải nhận những sai sót trong quá trình tố tụng nhằm ngăn chặn âm mưu trục xuất để mật thám Pháp bắt.

Ngày 25-8-1942, với bí danh mới là Hồ Chí Minh, Bác đến Ba Mông thuộc tỉnh Tĩnh Tây (Trung Quốc) trú chân và ăn Tết Trung nguyên (14-7 Âm lịch) rồi lên đường đến Trùng Khánh. Chính trên hành trình này, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã bị các thế lực quân phiệt địa phương bắt giam.

Ngày 25-8-1945, tại làng Gạ (Từ Liêm, Hà Nội), Bác nghe đồng chí Võ Nguyên Giáp và Trần Đăng Ninh báo cáo tình hình thủ đô. Tiếp đó, Tổng Bí thư Trường Chinh đón Bác vào nội thành và trú tại ngôi nhà 48 phố Hàng Ngang của gia đình thương gia yêu nước Trịnh Văn Bô.

Ngày 25-8-1950, Bác Hồ viết “Thư gửi Hội nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc”, nhấn mạnh: “Cách dạy trẻ cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Đồng thời phải giữ trọn tính vui vẻ hoạt bát, tự động trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hóa ra già cả. Nhiều thư của các cháu gửi cho Bác Hồ viết như người lớn viết, đó là một triệu chứng già sớm cần nên tránh. Trong lúc học cũng cần làm cho chúng vui. Trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học… Ngày nay chúng là nhi đồng. Ít năm nữa, chúng sẽ là công dân… Giáo dục nhi đồng là một khoa học. Các bạn hãy cố gắng học tập, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm, để tiến bộ mãi, nhất là phải làm kiểu mẫu trong mọi việc cho các em bắt chước”.

Trong bài nói chuyện ngày 25-8-1953 với Lớp chỉnh huấn cho cán bộ, công nhân viên chức các cơ quan Khu I, Bác khẳng định: “Vậy bất cứ việc gì, cố mà thi đua, giúp anh em thi đua đều là anh hùng của dân tộc, không nên nghĩ chỗ này thì tiến bộ, chỗ khác không tiến bộ. Bất kỳ làm việc gì cũng phải cố gắng, kiên quyết an tâm công tác, sẽ vẻ vang và có thể thành anh hùng được”.

Ngày 25-8-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư trả lời Tổng thống Mỹ Richard Nixon đưa ra thông điệp: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập, tự do thực sự. Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hy sinh gian khổ để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình. Trong thư ngài bày tỏ lòng mong muốn hành động cho một nền hòa bình công bằng. Muốn vậy, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và dân tộc Việt Nam, không có sự can thiệp của nước ngoài. Đó là cách đúng đắn nhất để giải quyết vấn đề Việt Nam phù hợp với quyền dân tộc của nhân dân Việt Nam, với lợi ích của nước Mỹ và nguyện vọng hòa bình của nhân dân thế giới. Đó là con đường để Mỹ rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự. Với thiện chí của phía ngài và phía chúng tôi, chúng ta có thể đi tới những cố gắng chung để tìm một giải pháp đúng đắn cho vấn đề Việt Nam”. Đây cũng là văn kiện cuối cùng của Bác viết chỉ một tuần lễ trước khi qua đời!

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn