Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

19. Mặt trận dân tộc thống nhất (Liên – Việt)

Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ, bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc đều là động lực của cách mạng.

Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng, bốn giai cấp đoàn kết và tổ chức thành mặt trận thống nhất to lớn mạnh mẽ. Vì trong công cuộc cách mạng chống đế quốc, chống phong kiến, trong sự nghiệp kiến quốc, phát triển kinh tế, bốn giai cấp ấy đều có lợi, cho nên bốn giai cấp ấy cần phải đoàn kết, cần phải hợp tác, cùng nhau xây dựng nhân dân dân chủ chuyên chính, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công.

Vì sao cần phải lấy công nông liên minh làm nền tảng?

Vì giai cấp công nông là đông nhất, hơn 9 phần 10 trong nhân dân. Vì trong cuộc đấu tranh cách mạng, hai giai cấp ấy là kiên quyết nhất. Liên minh của hai giai cấp ấy là nền tảng rộng rãi và chắc chắn nhất của dân chủ chuyên chính. Trong cuộc kháng chiến cứu nước, hai giai cấp ấy cũng đóng góp nhiều nhất, hy sinh to nhất, thành tích lớn nhất. Giai cấp công nông là lực lượng chủ chốt để giữ gìn Tổ quốc, xây dựng nước nhà. Vì vậy công nông liên minh là nền tảng tự nhiên của mặt trận dân tộc thống nhất.

cpv.org.vn

20. Dân chủ tập trung

Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ. Nhân dân bầu ra các Hội đồng nhân dân, Uỷ ban kháng chiến hành chính địa phương, và Quốc hội cùng Chính phủ Trung ương.

Trong các cuộc bầu cử, công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, tôn giáo, mức tài sản, trình độ vǎn hoá, không phân biệt nòi giống đều có quyền tham gia. Đó là một cách rất hợp lý, để nhân dân lao động thực hành quyền thống trị của mình.

Chế độ xô viết ở Liên Xô và chế độ nhân dân đại biểu đại hội ở các nước dân chủ mới đại khái cũng như vậy. ở Liên Xô không có giai cấp tư sản nữa. Xô viết tức là đại biểu cho toàn thể nhân dân: công nhân, nông dân trong các nông trường tập thể và tầng lớp trí thức.

ở Trung Quốc và ở nước ta, thì ngoài liên minh công nông, còn có giai cấp tiểu tư sản và tư sản dân tộc tham gia.

Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ.

Các cơ quan chính quyền là thống nhất, tập trung.

Từ Hội đồng nhân dân và Uỷ ban kháng chiến hành chính xã đến Quốc hội và Chính phủ Trung ương, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng trung ương. Thế là vừa dân chủ vừa tập trung.

Chế độ dân chủ tập trung khiến cho toàn thể nhân dân (công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc) đều trở nên chủ nhân chân chính của nước nhà, đều đoàn kết để kháng chiến kiến quốc.

cpv.org.vn

21. Quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân

Dưới sự thống trị của đế quốc và phong kiến, nhân dân chỉ có nghĩa vụ, như nộp sưu đóng thuế, đi lính đi phu mà không có quyền lợi. Câu tục ngữ dân ngu khu đen, đập đi hò đứng, đã nói rõ tình trạng ấy.

Dưới chế độ dân chủ cộng hoà, thì khác hẳn. Nhân dân có nghĩa vụ, đồng thời có quyền lợi. Nhân dân có quyền tự do tư tưởng, tự do tổ chức, tự do tín ngưỡng, v.v. có quyền ứng cử và bầu cử. Đàn bà có mọi quyền lợi như đàn ông. Các dân tộc trong nước đều có quyền lợi như nhau.

Nhân dân được hưởng những quyền lợi ấy, cho nên mọi người cần phải hǎng hái làm tròn nghĩa vụ của mình trong mọi công việc kháng chiến, cứu nước, xây dựng nước nhà.

Nhân dân và quốc dân khác nhau.

Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử khác yêu nước. Đó là nền tảng của quốc dân.

Những bọn phản động chưa đến nỗi bị xử tử, vẫn là quốc dân. Nhưng chúng không được ở trong địa vị nhân dân, không được hưởng quyền lợi như nhân dân. Chúng không có quyền tuyển cử, ứng cử; không có quyền tổ chức tuyên truyền, v.v.. Song chúng cần phải làm tròn nghĩa vụ, như phục tùng trật tự, tuân theo pháp luật của nhân dân.

Đối với nhân dân, thì công cụ của nhà nước dân chủ mới – (Chính phủ, pháp luật, công an, quân đội, vân vân) – là để giữ gìn quyền lợi của nhân dân.

Đối với bọn phản động, thì những tổ chức ấy là để bắt buộc chúng phải làm tròn mọi nghĩa vụ.

cpv.org.vn

22. Nhiệm vụ của nhà nước dân chủ mới

Mục đích của cách mạng là xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, tự do, giàu mạnh. Làm cho nhân dân được hưởng hạnh phúc và xây dựng một xã hội sung sướng, vẻ vang.

Muốn đạt mục đích ấy, thì phải ra sức kháng chiến, đánh tan bọn đế quốc xâm lược và tiêu diệt bọn phong kiến phản quốc.

Để kháng chiến thắng lợi, nước nhà phải xây dựng nhiều mặt:

– Xây dựng quân đội – một quân đội nhân dân thật mạnh, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng. Quân đội ta phải được trang bị đầy đủ, phải học tập nhiều để tiến bộ mãi về mặt kỹ thuật. Phải luôn tǎng cường công tác chính trị để bảo đảm là quân đội cách mạng, quân đội quyết chiến quyết thắng.

– Xây dựng chính quyền – Phải cải tiến công tác trong các cơ quan chính quyền, tẩy sạch bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Phải giáo dục nhân dân biết sử dụng quyền lợi của mình và hǎng hái làm tròn nghĩa vụ của mình. Phải đàn áp nghiêm ngặt bọn phản động, ngǎn ngừa và trừng trị mọi hoạt động phá hoại.

– Xây dựng kinh tế – Phát triển nông nghiệp, công nghệ, thủ công nghệ, thương nghiệp, giao thông vận tải, để cải tiến kinh tế và tài chính của Nhà nước, cải thiện đời sống của nhân dân.

– Xây dựng vǎn hoá – Phải xây dựng một nền vǎn hoá dân tộc, khoa học, đại chúng. Phải nâng cao trình độ vǎn hoá của nhân dân. Phải đề xướng đạo đức công dân tức là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, bảo vệ của công… Phải chống vǎn hoá nô lệ của đế quốc và phong kiến. Phải tǎng cường công việc vệ sinh, phải phát triển báo chí…

Những công việc xây dựng đó quan hệ mật thiết với nhau, lại quan hệ mật thiết với cuộc phát động quần chúng triệt để thi hành chính sách ruộng đất.

cpv.org.vn

Hồ Chí Minh: sự “vượt thoát” đế đi tìm giá trị mới

Xuất thân trong một gia đình Nho học giàu truyền thống yêu nước, từ lúc thiếu thời đến tuổi trưởng thành, Hồ Chí Minh đã nhận được sự giáo dục theo đạo Thánh hiền và được nuôi dưỡng bằng truyền thống nhân ái của dân tộc. Quá trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh là một quá trình vận động biện chứng từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản chân chính.

“Cốt cách phong kiến” không thể đánh đuổi thực dân

Lớn lên trong thời kỳ đất nước bị chìm đắm trong vòng nô lệ, Người đã được chứng kiến nhiều cuộc khởi nghĩa, nhiều phong trào yêu nước của các nhà chí sĩ bị thực dân Pháp dập tắt như cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng hay các phong trào Đông Du, Duy Tân của Phan Bội Châu, Phan Chu Chinh. Sự đàn áp của thực dân Pháp khiến cách mạng nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng, thiếu hẳn một con đường cách mạng phù hợp với tình hình mới. Một đòi hỏi tất yếu là phải tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc. Hồ Chí Minh khâm phục tinh thần yêu nước của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,… nhưng không tán thành con đường cứu nước của họ.

Xuất phát từ thực tiễn đất nước trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, Hồ Chí Minh đã vượt thoát khỏi tín điều Nho giáo, phê phán các phong trào yêu nước mang nặng cốt cách phong kiến. Người cho rằng, các cuộc khởi nghĩa mang “cốt cách phong kiến” lỗi thời không thể có được sức mạnh thực hiện nhiệm vụ đánh đuổi thực dân, giành lại độc lập cho dân tộc trong điều kiện, hoàn cảnh mới. Bên cạnh đó, mặc dù sớm tiếp xúc với Tân văn, Tân thư của các nhà cách mạng Trung Quốc, chứng kiến các phong trào yêu nước trên lập trường dân chủ tư sản và cũng đồng thời chứng kiến sự thất bại của các phong trào này, Hồ Chí Minh nhận ra một điều rằng lập trường dân chủ tư sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam chưa đủ sức tập hợp được lực lượng để chống lại chủ nghĩa thực dân, chưa đủ sức chống lại được sự đàn áp của thực dân Pháp.

Đi để “xem xét họ làm ăn ra sao”

Chính vì vậy, để tìm ra con đường cứu nước, không còn con đường nào khác là phải ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác như thế nào, để trở về giúp đồng bào mình. Do đó, Người đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước. Năm 1923 Người đã trả lời một nhà báo Nga rằng: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp Tự do, Bình đẳng, Bác ái… Tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”[1]. Một lần khác trả lời một nhà văn Mỹ, Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”[2].

dTrên chiếc tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin  này, năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước. (Ảnh tư liệu).

Đi nhiều nơi, đến nhiều nước trên thế giới, Hồ Chí Minh đã học hỏi được rất nhiều điều mà trong nước không thể có. Những khái niệm, những giá trị mới, tiến bộ như: tự do, bình đẳng, bác ái, nhân quyền, dân quyền, pháp quyền, dân chủ, xã hội chủ nghĩa… đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng Hồ Chí Minh. Những giá trị mới như Độc lập, Tự do… là những giá trị, theo Người, không thể tìm thấy trong các chế độ phong kiến chuyên chế, ở các nước thuộc địa.

Có thể nói, mặc dù được nuôi dưỡng bằng truyền thống yêu nước nhưng Hồ Chí Minh, bằng bản lĩnh của mình, đã vượt lên trên truyền thống mà nhiều nội dung không còn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể để tìm con đường cứu nước mới.

Ngày 5-6-1911, trên con tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin, từ bến cảng Sài Gòn, thành phố Sài Gòn, Hồ Chí Minh rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Tìm hiểu những cuộc cách mạng nổi tiếng thế giới là cách mạng Mỹ (năm 1776), cách mạng tư sản Pháp (năm 1789), đặc biệt là phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa chống chủ nghĩa thực dân, Người rất khâm phục tinh thần cách mạng ở những nước này, nhưng không thể đi theo con đường đó được. Bởi vì, như Người đã nói: “Kách mệnh Mỹ cũng như kách mệnh Pháp là kách mệnh tư bản, kách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”[3].

Không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển mạnh mẽ. Đầu năm 1919, V.I.Lênin và những người theo chủ nghĩa Mác ủng hộ lập trường của Lênin họp đại hội ở Mátxcơva, thành lập Quốc tế III – tức Quốc tế Cộng sản. Quốc tế Cộng sản đã kiên quyết ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông. Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin được Đại hội lần thứ hai Quốc tế Cộng sản họp năm 1920 thông qua, đã vạch ra đường lối cơ bản cho phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.

dNguyễn Ái Quốc tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp tháng 12/1920.

Báo Nhân đạo, ngày 16 và 17-7-1920 đã đăng Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin. Tên đầu bài có liên quan đến vấn đề thuộc địa lập tức thu hút sự chú ý của Người. Trong văn kiện này, V.I.Lênin phê phán luận điểm sai lầm của những người đứng đầu Quốc tế II về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, lên án mạnh mẽ tư tưởng sô vanh, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ của các đảng cộng sản là phải giúp đỡ thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa và phụ thuộc, về sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước tư bản với quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung. Đặc biệt, trong bản Luận cương, V.I.Lênin đã đề cập đến quyền bình đẳng giữa các dân tộc dựa trên lợi ích thiết thực về kinh tế, chính trị…

Trong tác phẩm Đường kách mệnh, Hồ Chí Minh khẳng định: trong thế giới bây giờ chỉ có kách mệnh Nga là thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng hạnh phúc, tự do bình đẳng thật sự. Kách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ, rồi lại ra sức cho công nông các nước và các dân tộc bị áp bức, các thuộc địa làm kách mệnh để lật đổ tất cả đế quốc và tư bản chủ nghĩa trên thế giới. Áp dụng cho cách mạng Việt Nam, Người vạch ra chân lý muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.

Trên hành trình tìm đường cứu nước, qua những trải nghiệm lao động, học tập, đấu tranh của bản thân và thực tiễn cách mạng thế giới, với tâm và tầm của một nhà cách mạng kiệt xuất, Hồ Chí Minh đã đến với của chủ nghĩa Mác – Lênin – tìm thấy con đường duy nhất có thể thực hiện được mục tiêu cứu dân cứu nước của mình.

Động lực mạnh mẽ nhất: lòng yêu nước, thương dân

Trong suốt hành trình tìm đường cứu nước, động lực mạnh mẽ thôi thúc Hồ Chí Minh chính là lòng yêu nước, vì dân. Khi đến với Luận cương của V.I.Lênin, đến với Quốc tế III, Người thấy rằng đó chính là con đường duy nhất có thể giúp dân tộc mình có được độc lập, dân mình có được tự do. Người viết: “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”[4]. Theo Người, chủ nghĩa dân tộc gắn với tôn quân (quân quyền) phải được thay thế bởi chủ nghĩa dân tộc gắn với dân quyền. Người xác định cần phải phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ. Người nói: “…người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”[5].

Con đường cứu nước của Hồ Chí Minh thể hiện sự phát triển tư tưởng từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản. Người đã tổng kết quá trình tìm đường cứu nước của mình như sau: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”[6]. Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đã đến với con đường cách mạng vô sản, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và cách mạng tháng Mười. Có thể nói, sự vượt thoát truyền thống để đến với những giá trị mới của thời đại trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước đã giúp Hồ Chí Minh tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, đó là con đường kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp tinh thần yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản.

Ngày nay, để thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần phải quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực hành động dựa trên chủ nghĩa yêu nước, thực hiện mong ước của Người: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp Cách mạng Thế giới”.

(Thiếu tá, ThS Nguyễn Giáo (Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự) – BĐT ĐCSVN)
* Tên bài và tít phụ do Bee.net.vn đặt

bee.net.vn

——————

[1] Báo Ogoniok, số 39, ngày 23-12-1923.
[2] Báo Nhân dân, ngày 18-5-1965.
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, tr.268.
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, tập 1, tr.466.
[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, tập 1, tr.467.
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, Tập 10, tr. 128.

Nhà sư cưu mang Hồ Chủ tịch trên đất Thái

– Năm 1929, Bác Hồ bị sự truy lùng ráo riết của chính quyền thực dân Pháp. Thời điểm này, Bác sang Thái Lan. Để có thể tiếp tục sự nghiệp cách mạng, Bác ẩn mình trong một ngôi chùa trên đất bạn. Những thông tin liên quan đến thời gian này của Bác vẫn là một khoảng trống trong các tư liệu được công bố về Bác.

Ngôi chùa trên đất Thái 

Vào tháng 7/1928, Bác Hồ từ Đức sang Thái Lan. Thời điểm đó, Pháp biết tin Người đang ở Xiêm nên đã phối hợp với cảnh sát Xiêm lúc ấy để truy bắt để giao nộp cho Pháp. Gặp lúc hiểm nguy, Bác Hồ đã lánh nạn vào một ngôi chùa Việt trên đất Thái vào tháng 7/1929. Hồi ký bà Đặng Quỳnh Anh (một Việt Kiều Thái Lan) cũng đã viết, lúc ấy, Bác từ U đon đi bộ 70km đến huyện Sa Vàng (tỉnh Sa Côn) mất 1 ngày.

su-3.jpgNhà sư Bình Lương chụp ảnh với bà con Việt Kiều Thái Lan trước khi về nước năm 1964.

Sau đó, Bác từ Sa Côn lên Băng Kok (cách đó hơn 600km) và vào chùa Từ Tế vào thời gian trên. Ngôi chùa này có tên Việt là Từ Tế Tự và tên Thái Lan là Vắt Lô Ca Nu Kho ở xã Chặc Ca Văn, huyện Xẳm Phăn Tha Vông – Băng Kok. Để tránh sự theo dõi và truy lùng gắt gao của cảnh sát Thái Lan và mật thám Pháp, Bác Hồ phải cạo đầu, mặc áo cà sa giả làm sư và ẩn dật trong ngôi chùa này. Sau thời gian trên, Bác hồ mới rời Thái Lan sang Thượng Hải, rồi sang Hồng Kông.

Việc Bác có mặt tại ngôi chùa đã được tác giả Trần Dân Tiên đề cập tới ở cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” do Nhà xuất bản Sự Thật in năm 1975. Trang 71 cuốn sách này có ghi:

“…Gặp nguy hiểm quá, bị theo dõi riết, ông Nguyễn đã lãnh nạn vào một ngôi chùa, tạm cắt tóc đi tu để tiếp tục hoạt động. Sự việc cũng được khẳng định trong cuốn “President Ho Chi Minh” của tác giả Vi Nay Khun U Đôm của Thái Lan. Trang 53 của cuốn này viết: “ để che mắt cảnh sát và mật thám Pháp, ông Hồ Chí Minh đã dùng áo cà sa làm vật che thân, bằng cách đi tu ở trong một ngôi chùa của người Việt ở thủ đô Băng Cốc”.

Sự việc trên cũng được minh chứng bởi hình ảnh Bác mặc áo cà sa vàng. Bức ảnh này từng được Hội Việt kiều Thái Lan tại Uông Bí tặng cho Hội Việt kiều Hà Nội. Tại khu lưu niệm về Hồ Chí Minh tại U đon Tha Ni của Thái Lan cũng có treo một bức ảnh Bác Hồ trong trang phục áo cà sa tương tự.

Nhà sư Bình Lương là người đã từng cưu mang Bác Hồ

Theo ông Ngô Vĩnh Bao – người đã có hơn 40 năm tìm hiểu các thông tin về Bác Hồ khi ở Thái Lan , thì thời gian Bác Hồ ở chùa Từ Tế, nhà sư Bình Lương đang làm trụ trì và nhà sư chính là người đã cưu mang Bác trong suốt thời gian từ tháng 7 đến tháng 11/1929. Trong một số tài liệu viết về Hồ Chí Minh của Thái Lan, có khá nhiều đoạn nhắc đến vị sư này.

Các bác sĩ bệnh viện Việt Xô sang tận nơi đón nhà sư Bình Lương về nước. Các bác sĩ bệnh viện Việt Xô sang tận nơi đón nhà sư Bình Lương về nước.

Nhà sư Bình Lương còn được cộng đồng người Việt ở Thái gọi là cụ sư Ba. Ông sinh năm 1882 tại xã Sơn Bằng, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Tên thật của nhà sư là Phan Ngọc Đạt.

Tháng 3/1964, nhà sư Bình Lương bị bệnh nặng. Thể theo nguyện vọng của nhà sư được về nước để sống những ngày cuối cùng và gặp lại chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ nguyện vọng này, phía ta đã có sự thoả thuận với Hội đồng thập tự Thái Lan và phía Việt Nam đã tổ chức một chuyến bay đặc biệt đưa nhà sư từ Băng Kok qua Viên Chăn và về Hà Nội. Bệnh viện Việt Xô lúc ấy cũng đã cử 2 bác sỹ sang tận nơi đón vị hoà thượng này về nước.

Và cũng từ đó, Bác Hồ nhiều lần vào thăm hoà thượng Bình Lương trong bệnh viện Việt Xô. Hiện Bảo tàng Hồ Chí Minh vẫn còn lưu giữ bức thư mà hoà thượng Bình Lương gửi cho Bác Hồ lúc hoà thượng đang nằm viện. Trong bức thư này, hoà thượng Bình Lương đã tường thuật lại câu chuyện Bác và thăm ông. Một lần, Bác vào thăm nhà sư nhưng nhà sư đang hôn mê. Bác hỏi: “Ông còn nhớ tôi không?”

Khi đó, nhà sư đang sốt và hôn mê nên ông lắc đầu. Khi tỉnh dậy, nhà sư được các bác sỹ kể lại. Ông lấy làm tiếc và đã viết thư cho Bác Hồ bày tỏ điều đó.

Chuyện người có công sưu tầm 

Phần thông tin về Bác tại Thái Lan trong các tư liệu hiện nay còn khá mờ nhạt. Ông Ngô Vĩnh Bao – một cán bộ ngoại giao nay đã về hưu đã dành hơn 40 năm qua để sưu tầm và nghiên cứu các tư liệu về Bác trong hành trình ở Thái Lan. Việc Bác từng ở chùa mới chỉ được đề cập qua loa trong một số tài liệu. Chính ông Bao là người trực tiếp tìm tòi những thông tin liên quan đến sự việc này một cách kỹ lưỡng.

Ông cho biết, ông đã dành rất nhiều thời gian để đi tìm lại nơi an táng cụ sư Bình Lương. Thời cụ mất (1966) đang chiến tranh loạn lạc nên những thông tin về cụ hoàn toàn không được chú ý. Ngay từ năm 1969, khi bắt đầu để tâm nghiên cứu các tư liệu về Bác, ông Bao đã mong tìm thấy mộ cụ sư Bình Lương nhưng ông không thể thực hiện được mong ước này vì các thông tin về cụ không có ai biết.

Mãi đến năm 2008, trong một lần vô tình đến chùa Long Ân (Quảng Bá, Tây Hồ, Hà Nội), ông Bao mới được biết nhà sư Bình Lương đang an bài tại đây. Cốt của nhà sư Bình Lương được đặt trong tháp cùng phần cốt của hoà thượng Thích Chí Độ.

Trong chùa Long Ân cũng có một bảng ghi công của hoà thượng Bình Lương. Bản ghi công này đã ghi rõ quá trình hoà thượng định cư tại chùa Từ Tế – ngôi chùa có công che giấu nhiều thế hệ làm cách mạng. Bảng ghi công này cũng cho biết lúc hoà thượng viên tịch Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thay mặt Hồ chủ tịch đến đặt vòng hoa viếng.

Ngân Giang
bee.net.vn

Từ những điều giản dị…

Tu nhung dieu gian diHồ Chí Minh, Danh nhân văn hóa  kiệt xuất, mang phong cách phương Đông rất rõ nét. Người chẳng những “lớn” trong việc “lớn” mà còn “lớn” cả trong nhiều việc “nhỏ” hàng ngày. Thiết nghĩ, hôm nay trong việc học tập và làm theo Bác hãy bắt đầu từ những điều bình dị, bé nhỏ trong cuộc sống hàng ngày. Đó là điều thiết thực mà mỗi chúng ta đều có thể học và làm theo Bác

Trong mẩu chuyện “Hình ảnh Bác Hồ ở vùng núi Thu-rin-gen”, Giáo sư – Tiến sĩ  Nguyễn Lai kể lại câu chuyện giữa ông và vợ chồng người phụ trách nhà nghỉ ở vùng núi Thu-rin-gen nước Đức khi giáo sư được họ mời về nhà dự bữa ăn thân mật. Người phụ nữ Đức đã tâm sự: “Chúng tôi ở xa Béc-lin, trước đây chúng tôi không may mắn để được thấy Hồ Chí Minh như người Béc-lin. Nhưng qua sách báo, chúng tôi hiểu khá nhiều điều về Hồ Chí Minh …”. Chị tiếp: “Tôi rất thích đọc tiểu sử Hồ Chí Minh … và điều chúng tôi thích nhất ở Hồ Chí Minh là điều gì, anh có biết không ?…Giản dị!”. Rồi chị hướng câu chuyện đó vào thực tại: “Anh biết không, Bác Hồ không lãng phí. Trong bữa ăn, Người không bao giờ để thừa suất ăn của mình. Người Đức chúng tôi cũng thế. Hôm nay, trong bữa ăn này, tất cả chúng ta phải giữ đúng phong cách Hồ Chí Minh… anh bạn đồng ý không?” Qua trò chuyện, ông Nguyễn Lai nhận ra: Người dân Đức có sự am hiểu khá rõ về những đức độ và sinh hoạt đời thường của Bác Hồ.

Mẩu chuyện đó cũng lý giải băn khoăn của vị giáo sư chuyên ngành Việt Nam học người Đức khi Chủ tịch Hồ Chí Minh được UNESCO tặng danh hiệu Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc – Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Vị giáo sư đó tâm sự: Hồ Chí Minh, nhà văn hoá lớn, mang phong cách phương Đông rất rõ nét. Người chẳng những “lớn” trong việc “lớn” mà còn “lớn” cả trong nhiều việc “nhỏ” hàng ngày. Tôi suy nghĩ nhiều về điều ấy, nhưng tiếc rằng trong báo cáo của mình, tôi chưa có điều kiện để nhấn mạnh đặc điểm ấy ở Danh nhân văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh …”.

Bác Hồ chúng ta “lớn” cả trong những việc “nhỏ” hằng ngày đó phải chăng là nếp sống, sinh hoạt hết sức bình dị của Người. Khi là Chủ tịch nước, “quyền cao chức trọng”, nhưng Người không sống cách biệt mức sống của đa số nhân dân. Bác từng sống ở ngôi nhà sàn đơn sơ chỉ 6mtrong những năm tháng ở chiến khu Việt Bắc. Mùa đông giá lạnh, các đồng chí Trung ương mua cho Bác chiếc chăn bông. Bác từ chối: “Nhân dân Việt Bắc còn đắp vỏ sui, Bác dùng chăn bông sao được. Dân dùng gì thì Bác dùng cái đó. Không nên tạo sự cách biệt. Vả lại, đấy cũng là cách thử thách với sức khỏe, buộc mình phải tập thích nghi với hoàn cảnh …”. Khi về Hà Nội, Người ở trong ngôi nhà chật hẹp của người thợ điện cũ trong khu Phủ Chủ tịch. Sau đó, nhà sàn của Người cũng có diện tích khiêm tốn và những đồ vật rất thông thường. Cái ăn, cái mặc của Người hết sức giản dị. Bữa ăn thường chỉ ba bốn món: tương, cà, dưa muối, cá kho lá gừng. Từ họp hành cho đến tiếp khách, đi cơ sở… đều được Người bố trí thích hợp sao cho tốn ít thời gian mà có hiệu quả.

Năm 1956, Hà Đông tổ chức Hội nghị chống hạn, Bác Hồ đến dự sớm hơn 15 phút. Bác bảo: “Thời gian là vàng ngọc. Mình đi chậm 5 phút, Hội nghị có 150 người thì mình đã lấy đi 750 phút của mọi người. Không nên như vậy”. Năm 1957, Bác đến tỉnh Hưng Yên tham gia chống hạn với nhân dân. Khi đi Bác đã cho người chuẩn bị một chiếc cặp lồng cơm độn sắn nấu dẻo. Trưa đó, Bác được UBND tỉnh mời cơm. Bác đứng rất lâu trước mâm cơm thịnh soạn và khước từ bữa cơm. Nhưng nhận thấy mọi người đều biết lỗi và rất buồn nên Bác quyết định ăn một bát cơm độn và một bát cơm trắng cùng mọi người. Khi biết, bữa ăn đó hết 400 đồng, Bác buồn và bảo: “Mình Bác đi, chỉ một bữa cơm mà chi hết 400 đồng – số tiền quá lớn, Bác không ăn hết”. Từ đó trở đi, mỗi khi đi công tác xa, Bác đều cho người chuẩn bị bữa ăn (trong chiếc cặp lồng). Đến bữa, Bác cùng chiến sĩ bảo vệ lấy ra ăn.

Trong sinh hoạt hàng ngày, không lúc nào Bác làm phiền người khác. Người tự chuẩn bị chăn màn khi đi ngủ, xếp gọn ghẽ khi thức dậy. Trời mưa, Người vẫn xắn quần đến chỗ ăn cơm, không muốn các đồng chí phục vụ phải vất vả. Người thường cùng mọi người tham gia lao động sản xuất để cải thiện đời sống. Khi ốm đau, Người chịu đựng, động viên những người xung quanh, không muốn để mọi người lo lắng quá nhiều. Có mùa hè nóng bức, lo cho sức khoẻ của Bác, mọi người đã lắp trong phòng ở của Người chiếc máy điều hoà nhiệt độ. Bác không đồng ý và bảo mọi người tháo ra đem tặng cho các đồng chí thương binh đang điều trị tại bệnh viện.

Sinh thời, Bác thường dùng chiếc xe con thương hiệu “Thắng lợi” do Chính phủ Liên Xô tặng. Lâu ngày, xe xuống cấp, các cán bộ giúp việc có ý định thay xe mới. Biết thế, Bác hỏi: “Xe hiện nay đã hỏng chưa?” và Bác kiên quyết “thuỷ chung” với chiếc xe đó cho đến cuối đời. Bác cũng đã từng phê bình những người giúp việc về việc may mới quần áo cho Bác. Bác nói: “Ai bảo các chú may quần áo mới cho Bác? Bác có hai bộ là đủ dùng rồi. Hiện nay, đồng bào đang còn nhiều người thiếu quần áo, Bác có như vậy là tốt lắm rồi”. Ngay cả chuyện mọi người đề nghị Bác thay đôi dép cao su đế đã mòn, mua đôi dép mới chỉ có 2,5 đồng nhưng Bác nói: “Vấn đề không phải là ở chỗ 2,5 đồng mà là xem đôi dép đã hỏng chưa, đã cần thay chưa. Hiện nay đôi dép này còn dùng được chưa cần thay. Lúc nào cần thay, Bác sẽ đồng ý”.

Cảm động nhất là chuyện Bác dùng tiền nhuận bút của mình (tất cả là 25.000 đồng) gửi đến Bộ Tổng Tham mưu để mua nước uống cho các chiến sĩ hay chuyện Bác chấp hành Luật Giao thông. Theo lời kể của ông Phạm Lê Ninh, nguyên Cục phó Cục Cảnh vệ kể lại, Bác nói: “Luật Giao thông của Nhà nước ai cũng phải chấp hành. Chú định xin cho xe Bác được ưu tiên, như thế là không được, vừa phạm luật, vừa không bình thường. Bác là Chủ tịch nước, ký ban hành Luật cũng phải chấp hành luật chứ ?”. Sau đó Bác lại nhắc là không nên để mọi người hiểu lầm mình cậy quyền, cậy thế…

Những câu chuyện sinh động trên cho chúng ta thêm hiểu về nếp sống bình dị của Bác, để thêm tự hào về Người. Thiết nghĩ, hôm nay trong việc học tập và làm theo Bác hãy bắt đầu từ những điều bình dị, bé nhỏ trong cuộc sống hàng ngày. Đó là điều thiết thực mà mỗi chúng ta đều có thể học và làm theo Bác.

Theo Nguyễn Thị Thọ

Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (
st)
bqllang.gov.vn

23. Thành phần kinh tế ở nước ta (vùng tự do)

Hiện nay, kinh tế nước ta có những thành phần như sau:

– Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô.

– Kinh tế quốc doanh, có tính chất chủ nghĩa xã hội. Vì tài sản các xí nghiệp ấy là của chung của nhân dân, của Nhà nước, chứ không phải của riêng. Trong các xí nghiệp quốc doanh thì xưởng trưởng, công trình sư, và công nhân đều có quyền tham gia quản lý, đều là chủ nhân. Việc sản xuất thì do sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ nhân dân.

– Các hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp, có tính chất nửa chủ nghĩa xã hội. Nhân dân góp nhau để mua những thứ mình cần dùng, hoặc để bán những thứ mình sản xuất không phải kinh qua các người con buôn, không bị họ bóc lột.

Các hội đổi công ở nông thôn, cũng là một loại hợp tác xã.

– Kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ, họ thường tự túc ít có gì bán, và cũng ít khi mua gì. Đó là một thứ kinh tế lạc hậu.

– Kinh tế tư bản của tư nhân. Họ bóc lột công nhân, nhưng đồng thời họ cũng góp phần vào xây dựng kinh tế.

– Kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh, và do Nhà nước lãnh đạo. Trong loại này, tư bản của tư nhân là chủ nghĩa tư bản. Tư bản của Nhà nước là chủ nghĩa xã hội.

cpv.org.vn

24. Chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ

Gồm có mấy điều:

1- Công tư đều lợi. Kinh tế quốc doanh là công. Nó là nền tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới. Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó và nhân dân ta phải ủng hộ nó. Đối với những người phá hoại nó, trộm cắp của công, khai gian lậu thuế, thì phải trừng trị.

Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ. Đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế nước nhà. Cho nên Chính phủ cần giúp họ phát triển. Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân.

2- Chủ thợ đều lợi. Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột. Nhưng Chính phủ ngǎn cấm họ bóc lột công nhân quá tay. Chính phủ phải bảo vệ lợi quyền của công nhân. Đồng thời, vì lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ được số lợi hợp lý, không yêu cầu quá mức.

Chủ và thợ đều tự giác tự động, tǎng gia sản xuất lợi cả đôi bên.

3- Công nông giúp nhau. Công nhân ra sức sản xuất nông cụ và các thứ cần dùng khác, để cung cấp cho nông dân. Nông dân thì ra sức tǎng gia sản xuất, để cung cấp lương thực và các thứ nguyên liệu cho công nhân. Do đó mà càng thắt chặt liên minh giữa công nông.

4- Lưu thông trong ngoài. Ta ra sức khai lâm thổ sản để bán cho các nước bạn và để mua những thứ ta cần dùng. Các nước bạn mua những thứ ta đưa ra và bán cho ta những hàng hoá ta chưa chế tạo được. Đó là chính sách mậu dịch, giúp đỡ lẫn nhau rất có lợi cho kinh tế ta.

Bốn chính sách ấy là mấu chốt để phát triển kinh tế của nước ta.

cpv.org.vn

25. Ôn cũ và biết mới

Chúng ta đã nghiên cứu những mục:

1) Giai cấp là gì?

2) Phong kiến là gì?

3) Chủ nghĩa tư bản là gì?

4) Chủ nghĩa đế quốc là gì?

5) Đế quốc Pháp xâm lược nước ta.

6) Tư sản mại bản là gì?

7) Kinh tế lạc hậu là thế nào?

8) Vì sao nhân dân Việt Nam cực khổ?

9) Con đường giải phóng.

10) “Canh giả hữu kỳ điền”.

11) Động lực cách mạng.

12) Vì sao công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng?

13) Giai cấp nông dân.

14) Giai cấp tiểu tư sản.

15) Giai cấp tư sản dân tộc.

16) Cách mạng và kháng chiến.

17) Chế độ Nhà nước dân chủ cộng hoà.

18) Nhân dân dân chủ chuyên chính.

19) Mặt trận dân tộc thống nhất (Liên – Việt).

20) Dân chủ tập trung.

21) Quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân.

22) Nhiệm vụ của Nhà nước dân chủ mới.

23) Thành phần kinh tế ở nước ta (vùng tự do).

24) Chính sách kinh tế của Đảng và của Chính phủ.

Học thì phải ôn cái cũ và biết thêm cái mới. Nếu không ôn lại thì những cái đã học được, sẽ quên mất.

Vậy Đ.X. xin đề nghị:

a) Các đồng chí ôn lại những bài ấy, và liên hệ những bài ấy với công tác của mình. Có chỗ nào không hiểu rõ, hoặc không đồng ý xin các đồng chí gửi thư cho Báo.

b) Xin những cơ quan, bộ đội, xưởng máy, trường học và cá nhân nào đã nghiên cứu những bài ấy, viết thư cho Báo, để Báo biết rõ những bài ấy đã giúp ích được chừng mực nào. Rồi chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu thêm những mục khác.

cpv.org.vn

26. Thời đại mới

Thời đại của chúng ta là thời đại mới, thời đại cách mạng thắng lợi.

Trước kia, tư bản đánh đổ phong kiến, phát triển công nghệ; lúc đó tư bản có tính tiến bộ. Nhưng ngày nay tư bản đã thành đế quốc chủ nghĩa, tức là tư bản chủ nghĩa đã mục nát và gần chết.

Vì sao mà mục nát? Vì đế quốc chủ nghĩa tức là tư bản độc quyền. Mấy nhóm đại tư bản choán hết thị trường; không ra sức cải tiến kỹ thuật, tǎng gia sản xuất nữa. Vì đại đa số nhà tư bản đã biến thành bọn đầu cơ và nhờ vào bóc lột các thuộc địa mà sống.

Vì sao mà gần chết? Vì cách sản xuất đã xã hội hoá đến mức rất cao (một nhà máy có hàng vạn công nhân), nó tạo điều kiện cho việc đánh đổ chủ nghĩa tư bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì mâu thuẫn giữa các đế quốc rất sâu sắc nó tạo điều kiện cho việc đánh đổ chủ nghĩa tư bản. Có ba mâu thuẫn chính là:

1) Mâu thuẫn giữa giai cấp tư bản và giai cấp vô sản. Vô sản ngày càng cùng khổ, mà giác ngộ ngày càng cao, càng kiên quyết làm cách mạng để đánh đổ chủ nghĩa tư bản.

2) Mâu thuẫn giữa đế quốc và các dân tộc thuộc địa. Đế quốc bóc lột ngày càng tàn tệ. Nhân dân các thuộc địa ngày càng đau khổ, càng giác ngộ và càng kiên quyết làm cách mạng đánh đổ đế quốc chủ nghĩa. Vô sản các nước cùng với dân tộc các thuộc địa kết thành bạn đồng minh để đánh đổ kẻ thù chung là đế quốc chủ nghĩa.

3) Mâu thuẫn giữa các nhóm tư bản độc quyền và giữa các nước đế quốc. Vì chúng tranh nhau thị trường, tranh nhau thuộc địa, rồi đi đến đánh nhau.

Kết quả ba mâu thuẫn ấy làm cho cách mạng vô sản và cách mạng dân tộc nổ bùng, và thắng lợi.

cpv.org.vn

27. Xã hội mới

Nǎm 1914, Thế giới chiến tranh lần thứ nhất nổ bùng.

Nǎm 1917, cách mạng vô sản thắng lợi ở Nga, một nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên đã thành lập – tức là Liên Xô. Từ đó thế giới chia làm hai phe.

Trước kia, toàn thế giới đều bị tư bản thống trị. Nay, tư bản đã bị đánh đổ ở một nước rất to và vô sản trở nên giai cấp thống trị.

Trước kia, nhiều dân tộc bị đế quốc Nga áp bức. Nay những dân tộc ấy hoàn toàn được giải phóng.

Vì vậy, cách mạng Nga đã khuyến khích giai cấp vô sản và các dân tộc thuộc địa cả thế giới nổi lên cách mạng.

Sau Cách mạng Tháng Mười, đế quốc Pháp, Anh, Mỹ cùng 11 nước khác tiến công Liên Xô. Dưới sự lãnh đạo của Lênin và Xtalin, quân và dân Liên Xô đã đánh thắng bọn đế quốc và bè lũ phản động trong nước. Nǎm 1928, Liên Xô bắt đầu kế hoạch 5 nǎm thứ nhất, trong lúc các nước tư bản đang lâm vào kinh tế khủng khoảng. Hiện nay, Liên Xô đang thực hiện kế hoạch 5 nǎm thứ 5, tiến mạnh đến chủ nghĩa cộng sản.

Nǎm 1940, Thế giới chiến tranh thứ hai bùng nổ. Kết quả là:

– Đế quốc Đức, Nhật, ý sụp đổ. Đế quốc Pháp và Anh suy yếu. Đế quốc Mỹ cô độc. Vậy là thế lực đế quốc càng thu hẹp.

– Các nước Tiệp, Hung, Bảo, Lỗ, Đông Đức, Ba Lan, Anbani, Bắc Triều Tiên đã được quân đội Liên Xô giải phóng, và thành những nước dân chủ mới. Nhờ Liên Xô thắng Nhật, mà Cách mạng Tháng Tám ta thành công, Việt Nam ta cũng thành một nước dân chủ mới. Nǎm 1949, cách mạng Trung Quốc thành công, 500 triệu nhân dân Trung Quốc đang thực hiện dân chủ mới.

Thế là phe dân chủ và chủ nghĩa xã hội, do Liên Xô lãnh đạo ngày càng mạnh mẽ vẻ vang.

cpv.org.vn