Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Vị bác sĩ già và 120 ngày đêm trực chiến bên thi hài Bác Hồ

Vi bac si gia

Bác sĩ Mai Khắc Thái (thứ 4 từ trái sang) và các cán bộ Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chuẩn bị cho lễ viếng Bác Hồ sáng 5/9/1969 tại Hội trường Ba Đình. (Ảnh tư liệu)

KTĐT – Một phòng khám nhỏ khá yên tĩnh trên phố Lương Khánh Thiện, ở đó vị bác sĩ già vẫn ngày đêm miệt mài với công việc của mình, khám bệnh miễn phí cho mọi người.

Ông là Đại tá, bác sĩ Mai Khắc Thái, người đã từng vinh dự được ứng trực trông nom thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những ngày đêm trực chiến bên thi hài Bác

Tôi tìm đến ông vào một ngày Hà Nội nắng như đổ lửa, nhưng phòng khám của ông vẫn tấp nập người đến, đi. Vị cựu Đại tá quân y 86 tuổi ấy tay thoăn thoắt với những cây kim, dò từng huyệt đạo châm cứu cho bệnh nhân. Trong lúc chờ ông xong việc, tôi ngắm nhìn xung quanh, mọi thứ ngăn nắp, gọn gàng cho thấy một tác phong quân đội vẫn hiện hữu. Phòng khám thêm trang trọng, linh thiêng nhờ những bức ảnh Bác Hồ. Và bên này là ảnh ông chụp cùng Tổ y tế tham gia bảo vệ thi hài Bác, bên kia chụp cùng lãnh đạo Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chuẩn bị lễ viếng Bác Hồ sáng 5/9/1969. Nghỉ tay, ông bắt đầu câu chuyện đầy hào hứng. Những kỷ niệm, cảm xúc năm xưa như ùa về trong trái lim người lính già.

Sinh ra trong một gia đình dòng dõi “trâm anh”, ngay thuở nhỏ, ông đã được rèn luyện, giáo dục những đức tính cần cù, chăm chỉ, ham học hỏi. Ông nội của ông chính là cụ Mai Khắc Đôn, nguyên là Thượng thư Bộ Lễ, kiêm giáo đạo và là thầy dạy chữ Hán cho vua Duy Tân. Tuy làm quan trong thời Pháp thuộc nhưng cụ vô cùng yêu dân, thanh liêm, chính trực. Cảm mến đạo đức và tấm lòng yêu nước, thương dân của nhà vua trẻ Duy Tân, cụ đã gả con gái của mình, là tiểu thư Mai Thị Vàng cho nhà vua. Để tưởng nhớ và biết ơn vị quan thanh liêm này, mới đây UBND thành phố Huế đã quyết định lấy tên cụ để đặt cho một con đường mới mở trên địa bàn phường Kim Long… Ông kể say sưa, rồi chuyển sang câu chuyện của bản thân mình.

Câu chuyện của ông đưa chúng tôi về những năm tháng theo cách mạng của một thanh niên xứ Huế. Năm 1946, nghe theo lời kêu gọi của Bác Hồ, thanh niên xếp bút nghiên lên đường chiến đấu, ông tham gia Vệ quốc quân ở chiến trường Nam bộ. Khi đoàn của ông đi đến Khánh Hòa thì địa phương này bị địch chiếm nên phải ngược lên Tây Nguyên. Là một trong số ít người có trình độ văn hóa lúc bấy giờ nên ông được cử đi học lớp y tá (năm 1947), rồi về phụ trách công tác y tế tại Tiểu đoàn 1, mang tên Nguyễn Nhạc, thuộc Trung đoàn 67 (Trung đoàn này gồm 3 Tiểu đoàn, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ). Sau đó, ông được đề bạt lên Viện phó Viện 1 Quảng Ngãi, rồi Viện phó Viện 5 Phú Yên. Cuối năm 1952, cấp trên cử ông cùng 11 y tá của Nam và Trung trung bộ xuyên rừng Trường Sơn ra Việt Bắc học y sĩ. Khi ta mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, lớp học kết thúc để học sinh đi làm nhiệm vụ, ông phụ trách trại tù Âu Phi ở Quảng Xương – Thanh Hoá. Trao trả tù binh dưới Sầm Sơn xong, ông về Hà Nội làm việc tại một đơn vị nghiên cứu ở sân bay Gia Lâm. Sau khi tốt nghiệp Trường Sĩ quan Quân y, năm 1965 ông lại được cử đi Liên Xô học y học và tâm lý hàng không.

“Vinh hạnh nhất suốt cuộc đời quân ngũ của tôi, đó là những ngày trực chiến bên thi hài Bác Hồ”, giọng ông chùng xuống, xúc động. Ông kể tiếp: “Năm 1969, Bác ốm nặng, Trung ương biết Người khó qua khỏi nên cử đoàn bác sĩ Việt Nam sang Liên Xô học kỹ thuật bảo quản thi hài trong 6 tháng (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh làm Trưởng đoàn). Năm ấy tôi vẫn đang là sinh viên, làm Bí thư Liên chi, phụ trách khối Chi đoàn quân đội của Học viện Quân y Leningrad; hồi đó không có người phiên dịch chuyên ngành y nên tôi được giao nhiệm vụ phiên dịch”.

Khi Bác mất, một nhóm chuyên gia của nước bạn được mời sang để hướng dẫn ta thực hiện ướp thi hài. Bác sĩ Thái tháp tùng đoàn chuyên gia về nước chở khí tài, bình thủy tinh, dung dịch… qua Việt Nam để thực hiện việc ướp thi hài Bác. “Hình ảnh cảm động nhất là hàng triệu người dân, bạn bè quốc tế đổ về Quảng trường Ba Đình viếng Bác, ai ai cũng nước mắt tuôn rơi… Bác nằm đó, như trong giấc ngủ ngon, gần gũi, thân thương biết nhường nào, Bác đã ra đi, nhưng hình ảnh Bác vẫn mãi mãi trong tâm trí mỗi người con đất Việt”, giọng đứt quãng, ông Thái kể lại câu chuyện cảm động về Bác Hồ. Với ông, 120 ngày làm nhiệm vụ bảo vệ thi hài Bác Hồ là niềm vinh dự, là những kỷ niệm không thể quên.

Vi bac si gia 2Bác sĩ Mai Khắc Thái. Ảnh: Thanh Hải

Một kỷ niệm nữa cũng khó quên với Đại tá, bác sĩ Thái. Đó là khi ông nhận nhiệm vụ làm Viện phó Viện Phòng không Không quân, kiêm Chủ tịch Hội đồng Giám định Không quân, ông đã khám, tuyển dụng và nghiên cứu diễn biến sức khỏe của Anh hùng vũ trụ Phạm Tuân, từ năm 1980 – 1986. “Lúc bây giờ tuyển phi công vũ trụ ngặt nghèo lắm, trong số hàng trăm người, tuyển được 30, 40 người, khi gửi lên Viện Phòng không Không quân, chỉ còn 5 người “lọt”. 5 người này được gửi sang Liên Xô tiếp tục khám tuyển, nhưng được 2 người là Phạm Tuân và Bùi Thanh Liêm đủ tiêu chuẩn. Sau khi test các vòng, Phạm Tuân được chọn là nhà du hành vũ trụ đầu tiên của Việt Nam. Sau 6 năm nghiên cứu sức khỏe của Anh hùng vũ trụ, ngày 23/4/1987 bác sĩ Mai Khắc Thái được Uỷ ban Nghiên cứu vũ trụ Việt Nam trao giải thưởng khoa học vì đã hoàn thành xuất sắc công trình khoa học: “Đánh giá sức khoẻ phi công nghiên cứu vũ trụ Phạm Tuân trước, trong, sau chuyến bay vũ trụ Xô – Việt”.

Phải lấy đức làm trọng

Sau khi về hưu, 20 năm nay, bác sĩ Thái mở phòng khám để tiếp tục chữa bệnh cứu người. Ở phòng khách và phòng khám của bác sĩ Thái đều treo trang trọng các bức thư pháp chữ “Đức”. Thấy tôi ngắm nhìn những bức thư pháp này, ông giải thích: Thầy thuốc phải lấy đức làm trọng, nếu không thì không nên làm nghề. Bác Hồ đã dạy “Thầy thuốc như mẹ hiền”, muốn được như mẹ hiền phải có tấm lòng. Chữa bệnh thì thân hay sơ, giàu hay nghèo đều như nhau, không vì đồng tiền mà làm sai lệch thiên chức của mình”. Rồi ông nhắc lại quy tắc của Hải Thượng Lãn Ông: “Đạo làm thuốc là một “nhân thuật” chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình không nên cầu lợi kể công”. Quan niệm như vậy, nên cách ông ứng xử với bệnh nhân cũng hết sức thân thiện, gần gũi. Và bệnh nhân từ khắp các tỉnh, thành trên cả nước đến với phòng khám của ông ngày một nhiều hơn. “Tôi ít thấy một vị bác sĩ nào dù tuổi cao mà lại minh mẫn, nhanh nhẹn đến vậy. Hơn thế, ở ông có một tấm lòng, ông coi chúng tôi như người thân. Chữa bệnh ở đây một thời gian khá dài, nhưng chưa bao giờ tôi thấy ông có một cử chỉ, hay một lời nói nặng với bệnh nhân”, một bệnh nhân đến từ Lạng Sơn bày tỏ. Trước đó, khi tôi hỏi thăm tìm đến phòng khám, một người dân gần đấy bảo: “Chị tìm bác sĩ Thái chứ gì, đúng là tiếng lành đồn xa. Tôi cũng chữa bệnh ở đấy, hàng xóm láng giềng bác không lấy tiền”.

Phương pháp chữa bệnh của ông là Đông, Tây y kết hợp, châm cứu nhưng đi theo đường giải phẫu Tây y và sử dụng tân dược để điều trị. Đây là một phương pháp chữa bệnh mới nhưng rất hiệu quả. Nhiều bệnh nhân đau lưng, đau thần kinh, rối loạn tiền đình, liệt, méo mặt, méo miệng đều tìm đến ông và cải thiện bệnh lý trên 80 – 90%. Hàng ngày, phòng khám của ông khám, tư vấn và kê đơn thuốc miễn phí cho mọi đối tượng, miễn phí điều trị cho hàng xóm, thương binh nặng; người nghèo, người tàn tật được giảm phí điều trị trên 20%. Phòng khám của ông thu hút ngày càng nhiều bệnh nhân, phần do những ưu đãi đặc biệt, nhưng điều quan trọng hơn, ở đó luôn có tiếng cười, lời động viên, an ủi ân cần của vị bác sĩ già. “Tôi mở phòng khám, có chút thu nhập để động viên, nhưng mục đích chính là chữa bệnh cứu người. Trong khi bệnh nhân đang cần đến, mà mình ngồi không, dưỡng già thì không đành, lao động là vinh quang”, vị bác sĩ già phấn chấn nói.

Gần 12 giờ trưa, chúng tôi rời phòng khám của ông, trời nắng chói chang, vẫn có thêm những bệnh nhân đội nắng đến khám bệnh. Và ông lại mất giấc ngủ trưa, nhưng tôi hiểu, niềm vui cứu người lại được nhen lên trong trái tim vị Đại tá, bác sĩ đã trọn đời cống hiến cho Tổ quốc, cho nhân dân./.

Theo Hải Lý/ Báo Kinh tế & Đô thị
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Mỹ đã phá sản ở châu á (29-8-1951)

Đuglát là một viên quan toà Tối cao pháp viện Mỹ, là một người chống cộng kịch liệt. Ba nǎm nay y đã 3 lần sang xem xét các nước châu á. Vừa rồi, y viết một bài trong tạp chí Mỹ, có mấy đoạn như sau:

“Châu á đang cách mạng. Một lực lượng sôi nổi từ dưới dấy lên, không có sức gì trong thế giới ngǎn trở được nó. Bao nhiêu bom nguyên tử, bao nhiêu súng đạn và quân đội cũng không ngǎn được làn sóng cách mạng ấy… Tinh thần độc lập lan tràn khắp châu á. Các nước ấy có một mục đích chung là: chống ngoại quốc xâm lǎng, chống phong kiến bóc lột … Trong con mắt nông dân châu á, Mỹ là bầu bạn của những thế lực hủ bại và phản động ấy … Dù Mỹ đưa ra bao nhiêu súng đạn và đôla cũng không thể chống lại phong trào cách mạng ở các nước châu á… Mỹ cần mở một mặt trận chính trị ở châu á để chống cộng sản. Chính sách Mỹ đã phá sản rồi, không phải vì lực lượng võ trang của Nga, nhưng vì Mỹ đã bị hy sinh cho tư tưởng của bọn quân nhân, cho nên Mỹ trở nên yếu hèn bất lực”.

– Cách mạng ở châu á sôi nổi lan tràn.

– Súng, đạn, tiền bạc của Mỹ cũng vô dụng.

– Chính sách phản động của Mỹ thất bại hoàn toàn.

Đó là lời một lãnh tụ phản động Mỹ, chứ không phải lời của một người cộng sản nào.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1894, ngày 29-8-1951.
cpv.org.vn

Tiền xương máu (1-9-1951)

Chiến tranh xâm lược ở Việt Nam làm nhân dân Pháp và Việt chết người hại của, cho lũ tư bản thực dân “ngồi mát ǎn bát vàng”. Theo báo Dân chúng (Pháp, 27-2-1951), thì bọn này vừa được những món phụ cấp to như sau:

– Hãng cao su Đất Đỏ, 610 vạn đồng.

– Hãng cao su Cao Miên, 220 vạn đồng.

– Hãng canh tác vùng nhiệt đới (Culture tropicale), 180 vạn đồng.

– Hãng cao su Đông Dương, 950 vạn đồng.

– Địa ốc ngân hàng Đông Dương, 500 vạn đồng.

– Hãng Misơlanh, 510 triệu phrǎng.

– Mỏ than Đông Triều, 800 triệu phrǎng.

– Mỏ ở Lào, 70 triệu phrǎng.

– Hãng rượu Đông Dương, 1.700 triệu phrǎng.

– Hãng cao su và cà phê Rốtxi (Rossi), 41 triệu phrǎng.

– Nhà tu hành các bà phước Xanh Pôn đờ Sáctơxơ (Saint Paul de Chartres), 85 triệu phrǎng.

Đây cũng là một tài liệu tốt cho anh em vận động lính Pháp và nguỵ binh. Vì lính Pháp và nguỵ binh sẽ thấy rõ: họ hy sinh xương máu cho ai ?

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1896, ngày 1-9-1951.
cpv.org.vn

Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh (2-9-1951)

Ai cũng biết bệnh quan liêu mệnh lệnh là nguy hiểm. Nhưng trong công tác thực tế, như trong việc tạm vay thóc chiêm vừa rồi, nhiều cán bộ ta còn mắc bệnh ấy. Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ.

Bệnh quan liêu mệnh lệnh tự đâu mà ra ?

Nguyên nhân bệnh ấy là:

Xa nhân dân : do đó, không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân.

Khinh nhân dân: cho là “dân ngu khu đen”, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình.

Sợ nhân dân: khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.

Không tin cậy nhân dân: họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy, làm cũng được.

Không hiểu biết nhân dân: họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông.

Không yêu thương nhân dân: do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân. Thí dụ: họ yêu cầu nhân dân đóng góp, nhưng không biết giúp đỡ nhân dân tǎng gia sản xuất, cải thiện sinh hoạt, để bồi dưỡng sức của, sức người của nhân dân.

Có nơi, bệnh quan liêu mệnh lệnh trầm trọng đến nỗi cán bộ lừa phỉnh dân, doạ nạt dân!

Bệnh quan liêu mệnh lệnh chỉ đưa đến một kết quả là: hỏng việc. Vì vậy, chúng ta phải mau mau chữa bệnh nguy hiểm ấy.

Cách chữa bệnh ấy gồm có một nguyên tắc là: Theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều là:

Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;

Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;

Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;

Sẵn sàng học hỏi nhân dân;

Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo.

Cán bộ Đảng và chính quyền ta đều sẵn lòng cầu tiến bộ, sẵn chí phụng sự nhân dân. Mong rằng anh chị em đều cố gắng thi đua dùng đơn thuốc này, (thuốc đắng dã tật), chữa hết bệnh quan liêu mệnh lệnh, để trở nên người cán bộ tốt, và làm cho công việc thu thuế nông nghiệp sắp tới đạt được kết quả mỹ mãn.

C.B.

Báo Nhân dân, số 23, ngày 2-9-1951.
cpv.org.vn

Phương Tây và phương Đông (2-9-1951)

Viên quan ba Mỹ Vang Bang sắp phải sang Triều Tiên. Chị vợ can hắn chớ đi. Can không được, chị ta bèn lấy dao đâm chồng bị thương nặng (Báo Mỹ 30-7-1951).

Sau khi nghe tin quân ta thắng trận, tên trưởng đồn Q.L. nhận được lệnh Pháp bắt phải ra trận. Vợ hắn can chớ đi. Can không được, chị vợ bế con nhảy xuống sông tự tử. (Tin tức Nam Định 1-8-1951).

Hai tin trên chứng tỏ:

Phương Tây cũng như phương Đông, mọi người đều oán ghét chiến tranh xâm lược, mọi người đều mong muốn hoà bình.

Nội bộ của địch, thậm chí giữa vợ và chồng, rất mâu thuẫn. Đó là một nhược điểm rất to của địch.

Hai chị kia muốn chống chiến tranh xâm lược, nhưng không biết cách chống. Cách hay nhất để chống chiến tranh xâm lược là:

1) Nhân dân các nước bị xâm lược, như Việt Nam, Triều Tiên, thì phải đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết kháng chiến, tiêu diệt đế quốc xâm lược.

2) Nhân dân các nước khác, thì đoàn kết chặt chẽ, phản đối chiến tranh, ủng hộ hoà bình.

C.B.

Báo Nhân dân, số 23, ngày 2-9-1951.
cpv.org.vn

Thư gửi lớp cán bộ cung cấp (2-9-1951)

Thân gửi:

Các đồng chí giáo viên,

Các đồng chí cán bộ phụ trách và cán bộ học trò,

Ban huấn luyện cung cấp.

Các đồng chí giáo viên đã có nhiều kinh nghiệm hiểu rõ tình hình, biết thấu những ưu điểm và khuyết điểm của học trò, sẵn lòng chịu khó dạy dỗ. Cho nên tôi chắc rằng ban huấn luyện sẽ có kết quả tốt đẹp.

Công việc cung cấp cũng quan trọng như việc trực tiếp đánh giặc trước mặt trận: Cung cấp đủ súng đạn, đủ cơm áo cho bộ đội thì bộ đội mới đánh thắng trận, điều đó rất rõ ràng dễ hiểu. Nhưng để làm cho đúng, thì phải có một chính sách rõ rệt, một tư tưởng thấu suốt.

Vì vậy, tôi tóm tắt nêu vài điểm sau đây để giúp các đồng chí nghiên cứu.

– Anh em đều đã có ít nhiều kinh nghiệm, nay lại hǎng hái học hỏi. Khi trở về làm việc, cần phải áp dụng những điều đã học cộng với kinh nghiệm của mình vào công việc thực tế một cách khôn khéo, mềm dẻo, hợp với hoàn cảnh chứ không nên máy móc.

– Có người cho rằng cung cấp là một công việc tầm thường không được nêu danh nổi tiếng như ra trận đánh giặc, vì vậy không vui lòng làm. Nghĩ như thế là sai, sai to. Nếu mọi người đều ra mặt trận, thì bộ đội lấy gì mà ǎn, lấy gì mà đánh?

Cách mạng cũng như một bộ máy, phải có phân công, người làm việc này, người làm việc khác, nhưng việc nào cũng cần thiết, cũng quan trọng. Thí dụ trong một cái đồng hồ, những cái kim thì chạy suốt ngày đêm, những chữ số thì suốt đời đứng một chỗ. Nếu những chữ số cũng muốn chạy như cái kim, hay là cái kim cũng muốn đứng lại như chữ số thì không thành cái đồng hồ nữa.

– Có người nói: Cán bộ cung cấp thường mang tiếng hủ hoá, mình không muốn mang tiếng, nên muốn đổi công tác. Nói như vậy là lầm, lầm to. Những kẻ hủ hoá là vì thiếu đạo đức cách mạng, đồng thời vì các cơ quan thiếu kiểm tra, thiếu phê bình và tự phê bình. Thiếu những điều đó thì bất kỳ làm công tác gì cũng dễ hủ hoá.

Vì vậy, cán bộ cung cấp càng phải làm kiểu mẫu cần, kiệm, liêm, chính. Các cơ quan cung cấp cần phải thực hành kiểm tra, phê bình và tự phê bình, để cải chính dư luận bảo rằng: cán bộ cung cấp thường hủ hoá.

– Có người lại e rằng: lề lối làm việc mới của cán bộ cung cấp có thể không ǎn khớp với cách làm việc cũ của cán bộ chỉ huy.

Cán bộ cung cấp tiến bộ thì cán bộ chỉ huy ắt cũng tiến bộ. Những chính sách và đường lối Chính phủ đã định, thì cán bộ ngành nào cũng phải phục tùng.

– Nhiệm vụ chính của cán bộ cung cấp là phụng sự đại đa số bộ đội tức là người binh nhì, phải thương yêu sǎn sóc người binh nhì.

Cán bộ cung cấp như là người mẹ, người chị của người binh nhì.

Gần đây sẽ có tiêu chuẩn cung cấp mới. Nó sẽ giúp cho cán bộ cung cấp dễ làm việc hơn. Điều kiện cần thiết là cán bộ cung cấp phải biết rõ ràng số người mình phụ trách cung cấp.

Phải có kế hoạch đầy đủ, sổ sách rành mạch.

Phải thấy trước, lo trước.

Phải có sáng kiến và phải tháo vát.

Phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính.

Phải khéo áp dụng những điều đã học và những kinh nghiệm đã có và sẽ có.

Như vậy, thì chắc anh em sẽ làm tròn nhiệm vụ, sẽ không phụ sự ân cần dạy bảo của các đồng chí giáo viên, để xứng đáng với sự tin cậy của Chính phủ, đoàn thể và bộ đội.

Chúc các đồng chí mạnh khoẻ và cố gắng.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Báo Quân đội nhân dân, số 31, ngày 2-9-1951.
cpv.org.vn

“Bác Hồ làm chủ hôn cho đám cưới của chúng tôi”

Bac Ho lam chu hon cho dam cuoi chung toi anh
Gia đình bà Trần Thị Thái.

(DVT.vn) – Bà Trần Thị Thái , nguyên cán bộ Cục Cảnh vệ, kể về mối lương duyên với ông Lý, do Bác Hồ tác thành vào ngày đầu xuân năm 1946.

Vào năm 1946, khi nước nhà vừa giành được độc lập, dù bận trăm công, ngàn việc nhưng Bác Hồ vẫn dành thời gian tổ chức hôn lễ cho một nữ cán bộ cảnh vệ. Sự kiện này khiến những người trong cuộc rưng rưng nước mắt nhớ mãi…

Bà Trần Thị Thái, nguyên cán bộ Cục Cảnh vệ cho biết, bà có rất nhiều kỉ niệm trong 15 năm được làm công tác bảo vệ, phục vụ Bác Hồ.

Sau ngày Cách mạng  Tháng Tám thành công, bà Thái được phân công về Nhà in Lao Động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, ở 51 Hàng Bồ, Hà Nội. Công tác ở đây được ít ngày thì cuối năm 1945, ông Trần Danh Tuyền, công tác tại Ban Bảo vệ Thành ủy Hà Nội gọi bà Thái lên trao đổi ý kiến về công việc. Sau khi hỏi thăm về gia đình, nguyện vọng, ông Tuyên đi thẳng vào vấn đề: “Tổ chức đã thống nhất và phân công đồng chí sang nhận công tác mới. Đó là bộ phận bảo vệ và phục vụ Bác Hồ”.

Khi nghe ông giao nhiệm vụ, bà Thái không tin vào tai mình, trong lòng cứ xốn xang. Là một thanh niên tham gia hoạt động cách mạng, chưa bao giờ bà nghĩ mình lại có vinh dự được bảo vệ Bác Hồ – lãnh tụ vừa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đêm ấy bà nằm thao thức, không sao ngủ được.

Đến bây giờ, nhắc lại kỉ niệm này bà Thái vẫn còn xúc động. Bà kể: “Địa điểm mà hôm sau tôi được dẫn đến là ngôi nhà cách dốc Cống Vị (Hà Nội) chừng 300 m, bên bờ sông Tô Lịch, ngược về phía chợ Bưởi. Ở đây tôi được anh Cả (tên thân mật của đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Thường vụ Trung ương Đảng) hướng dẫn công việc cụ thể. Để giữ bí mật, tôi đóng vai là người con gái trong gia đình.

Công tác được mấy ngày thì một hôm, anh Cả gọi tôi lên họp. Đang chuẩn bị vào nội dung cuộc họp thì tôi thấy một ông cụ mặc bộ quần áo ka-ki bước vào. Tôi sững người khi thấy đó chính là Bác. Bác vui vẻ cười, hỏi thăm mọi người. Vì ở đây chỉ có duy nhất tôi là nữ nên Bác hỏi chuyện tôi nhiều hơn. Bác không hài lòng vì thấy cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của tôi còn quá thiếu thốn và nói với anh Vũ Long Chuẩn (ông Vũ Kỳ, Thư ký của Bác), anh Nguyễn Văn Lý (đồng chí Hoàng Hữu Kháng, cận vệ của Bác, sau này là Cục trưởng Cục Cảnh vệ) thu xếp chỗ ăn ở cho tôi kẻo ảnh hưởng đến sức khỏe. Tôi xúc động quá, nghĩ mình chưa làm được gì cho Bác, mà ngược lại, Bác lại chăm lo cho tôi rất chu đáo.

Thời gian ở đây, ngoài công tác, chúng tôi được Bác cho học thêm về chính trị và một số vấn đề  khác. Bác giao cho anh Chuẩn chuẩn bị chương trình. Chúng tôi rất đoàn kết và yêu thương nhau như anh em trong một gia đình. Đặc biệt, tôi biết anh Lý đã thầm yêu mình. Tôi ngượng mà chẳng dám tâm sự với ai.

Một buổi chiều, xe đưa Bác về, anh Lý và anh Chuẩn đi cùng Bác. Lát sau, Bác cho gọi tôi lên. Tôi lo quá không hiểu có chuyện gì để Bác bận lòng. Khi lên thấy Bác tươi cười, tôi đoán ra chuyện Bác hỏi. Bác chỉ cho tôi chiếc ghế và nói: “Cô ngồi xuống đây, tự nhiên. Bữa nay Bác nói chuyện lâu đấy”.

Tôi ngần ngại, phần thì lo lắng, phần thì ngượng. Bác hỏi tôi về chuyện gia đình, công tác và học tập. Rồi Bác nhìn tôi, nhìn anh Lý cười và hỏi: “Cô Thái có người thương chưa?”. Tôi xấu hổ, lung túng, ấp a ấp úng mãi mới trả lời Bác: “Dạ, thưa Bác! Con… con… con còn ít tuổi, chưa nghĩ đến ạ”.

Nói như vậy là chưa thật đúng với lòng mình, nhưng tôi nghĩ đất nước mới giành được độc lập, điều kiện còn khó khăn, bộn bề công việc, làm sao mình có thể lập gia đình được. Lúc trong đầu tôi đang ngổn ngang suy nghĩ thì Bác hỏi tiếp: “Cô năm nay bao nhiêu tuổi?”. “Dạ, thưa Bác! Năm nay con 20 tuổi ạ”, tôi đáp. Bác cười đôn hậu: “Hai mươi tuổi mà còn ít à. Bác làm mối cho được không?”.

Tôi đỏ bừng mặt, tay cứ vân vê tà áo, trong lòng vui mà không dám nói ra. Lát sau tôi  mới dám ngẩng lên nhìn  Bác và liếc sang anh Lý. Thấy tôi như vậy Bác cười và không nói về chuyện này nữa.

Ít hôm sau, anh Cả nói với tôi: “Bác hỏi thật đấy. Bác giới thiệu cô với chú Lý, ý cô thế nào?”. Đến lúc này tôi mới thưa thật: “Được Bác và các anh tác thành cho thì còn hạnh phúc nào bằng”.

Đám cưới của chúng tôi đã được Bác cho tổ chức đúng vào ngày Tết Dương lịch năm 1946. Khách mời có anh Cả, anh Văn (tên gọi thân mật của đồng chí Võ Nguyên Giáp), anh Tô (tên gọi thân mật của đồng chí Phạm Văn Đồng), chị Thanh và một số người khác. Anh Cả còn đưa đến một chiếc bánh ga-tô và một bó hoa hồng rất đẹp mà Bác đã dặn đặt cho lễ cưới. Trước buổi liên hoan, chị Thanh nói: “Thưa Bác! Hôm nay là ngày vui của chị Thái, anh Lý và cũng là ngày vui của cả nhà ta. Xin Bác làm chủ hôn cho ạ”.

Bác Hồ nâng cốc, đọc hai câu thơ rồi nói với chúng tôi: “Lễ cưới đơn giản nhưng vui vẻ, cốt là ở tấm lòng. Sau này đất nước ta giàu mạnh, đám cưới con các chú sẽ tổ chức đàng hoàng và vui hơn”.

Chúng tôi thấy như không còn khoảng cách giữa một vị Chủ tịch nước với chiến sỹ của mình, mà như người Cha đang lo công việc cho con cháu trong nhà. Vợ chồng tôi vô cùng xúc động, tự hào về ngày vui của mình. Mùa Xuân năm 1946 ấy là mùa Xuân đầu tiên đất nước ta giành được độc lập và cũng là mùa xuân đầu tiên của vợ chồng tôi”./.

TheoNguyễnĐứcQuý
(Ghi theo lời kể của bà Trần Thị Thái)
Báo Doanh nhân Việt Nam Toàn cầu
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Da đen nhưng lòng đỏ (7-9-1951)

Tờ báo to nhất của người da đen ở Mỹ là báo Tin tức tỉnh Pítbớc (Pitsburg News), hôm 14-7 đǎng một bức thư của 54 người lính da đen từ Triều Tiên gửi về. Họ viết: “Vì sao chúng tôi phải đi lính? Vì sao Mỹ đánh Triều Tiên? Nhiều người trong quân đội Mỹ và bố mẹ, vợ con, anh em mỗi người lính đều đặt câu hỏi ấy.

“Chúng tôi lính da đen ở đây cũng bị khinh rẻ như lúc ở nhà. Mẹ chúng tôi, con chúng tôi ở trong nước vẫn lưu ly cực khổ. Chúng tôi không có chút tự do nào. Thế thì chúng tôi hy sinh cho ai? … ở trong nước, chúng ta không được tự do, mà Chính phủ Mỹ muốn đưa tự do cho dân tộc khác chǎng? Thật vô lý… Họ bắt lính da đen đi hy sinh ở châu á, ở châu Âu mà trong nước chính chúng ta không được tự do, chúng ta phải lên tiếng. Nếu chúng ta đoàn kết thành một khối, thì chúng ta chắc chắn tranh được hoà bình và tự do, vì đoàn kết là sức mạnh…!”.

Đế quốc Mỹ thường khoe khoang “tự do, dân chủ”, song đối với 15 triệu người da đen ở Mỹ thì chế độ nô lệ vẫn còn. Nay đế quốc Mỹ lại mưu mở rộng chế độ nô lệ ấy đến toàn thế giới. Lời lẽ mộc mạc của những người lính da đen rất đúng.

6 nǎm trước đây, phát xít Đức cũng có tham vọng như Mỹ, chúng đã thất bại. Nay đế quốc Mỹ cũng có tham vọng như phát xít Đức, thì lực lượng dân chủ hoà bình thế giới sẽ làm cho chúng “đi đời nhà ma”.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1900, ngày 7-9-1951.
cpv.org.vn

Thư Trung thu gửi các cháu nhi đồng (12-9-1951)

Các cháu yêu quý,

Trung thu trǎng sáng như gương,
Bác Hồ ngắm cảnh, nhớ thương nhi đồng.
Sau đây Bác viết mấy dòng,
Gửi cho các cháu, tỏ lòng nhớ nhung.

Trước hết, Bác nói cho các cháu biết rằng: Bác thường nhận được thư nhi đồng ở vùng tạm bị chiếm, mách với Bác, thực dân và bù nhìn hung ác thế nào, các cháu ấy khổ sở thế nào và đấu tranh oanh liệt thế nào.

Những thư ấy làm cho Bác đau đớn, vì các cháu ấy bị đày đoạ. Làm cho Bác vui lòng, vì các cháu ấy dũng cảm. Làm cho Bác và tất cả đồng bào càng cǎm ghét bọn thực dân và bù nhìn.

Bác cũng thường nhận được thư nhi đồng các nơi báo cáo thành tích thi đua.

Những thư ấy làm cho Bác rất vui vẻ.

Mồng 1-6 vừa rồi, cũng là ngày Tết của các cháu. Đó là một ngày Tết mới, chắc các cháu chưa hiểu nguyên do. Bác giải thích cho các cháu nghe nhé:

Ba nǎm trước (1949), Hội liên hiệp phụ nữ quốc tế định mỗi nǎm lấy ngày 1-6 làm ngày Tết cho nhi đồng thế giới. Muốn cho nhi đồng sung sướng, thì phải chống đế quốc chiến tranh. Vì vậy, Hội ấy đã đưa ra khẩu hiệu: “Đấu tranh để giữ gìn hoà bình thế giới, để bảo vệ hạnh phúc cho nhi đồng”.

Như thế thì ai thương con, cháu đều phải chống chiến tranh đế quốc, phải giữ gìn hoà bình.

Tháng 2 nǎm nay (1951), Hội ấy lại quyết định đẩy mạnh phong trào bảo vệ nhi đồng.

Hiện nay, Hội liên hiệp phụ nữ và Đoàn thanh niên nước ta đương lo tổ chức ủy ban bảo vệ nhi đồng Việt Nam.

Thế là các chú, các anh trong bộ đội thì thi đua giết giặc, để bảo vệ các cháu.

Các chú, các anh, các chị ở hậu phương, thì thi đua tǎng gia sản xuất để các cháu được ấm no.

Các cô, các thím, các anh ở Liên Xô, Trung Hoa, các nước bạn và các nước khác cũng lo nghĩ đến các cháu.

Vậy các cháu nên thế nào?

Các cháu phải ghét, ghét cay ghét đắng bọn thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ, bọn Việt gian, bọn bù nhìn. Vì chúng nó mà ta khổ.

Các cháu phải yêu, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động.

Các cháu phải gắng, gắng giúp đỡ thương binh và gia đình chiến sĩ, gắng giữ gìn vệ sinh và giữ gìn kỷ luật, gắng học hành.

Các cháu phải đoàn kết, đoàn kết giữa nhi đồng Việt Nam với nhau, đoàn kết giữa nhi đồng Việt Nam cùng nhi đồng Trung Quốc, Liên Xô, các nước bạn và nhi đồng thế giới.

Ngày nay, các cháu là nhi đồng. Ngày sau, các cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới. Các cháu đoàn kết thì thế giới hoà bình và dân chủ, sẽ không có chiến tranh.

Các cháu phải thi đua, tuỳ theo sức của các cháu làm được việc gì có ích cho kháng chiến thì thi đua làm việc ấy.

Các cháu biết ghét, biết yêu, biết gắng, các cháu đoàn kết và thi đua như thế thì kháng chiến sẽ chóng thắng lợi, kháng chiến thắng lợi thì trung thu sẽ vui vẻ hơn.

Thư Trung thu này, Bác nói chữ nhiều, và nói dài quá rồi. Cháu nào không hiểu thì hỏi các anh, các chị cắt nghĩa cho mà nghe.

Bác chúc các cháu vui khoẻ và cố gắng.

Bác gửi các cháu nhiều cái hôn.

BÁC HỒ

Báo Cứu quốc, số 1904, ngày 12-9-1951.
cpv.org.vn

Để thực hiện mười điều ghi nhớ của hội viên Liên – Việt (13-9-1951)

Mười điều ghi nhớ của hội viên Liên Việt là những điều chúng ta hoặc đã làm, hoặc đang làm.

Mười điều ấy xây dựng trên một nền tảng: tư tưởng yêu nước, và được thực hiện trong hai công việc: kháng chiến và kiến quốc. Cho đến ngày nay, về hai công việc đó, chúng ta đã đạt được kết quả khá. Nhưng chúng ta làm có bề rộng mà thiếu bề sâu, hình thức nhiều mà nội dung ít. Vì vậy, Mặt trận nhắc nhủ để chúng ta làm thiết thực hơn nữa.

Làm thế nào? Trước hết, phải nâng cao lòng nồng nàn yêu nước, ghét địch của mọi người dân. Lòng yêu nước, ghét địch đó, dân ta sẵn có, nhưng cần lấy những việc thời sự chính trị hằng ngày để bồi đắp và phát triển thêm, để nâng cao giác ngộ chính trị của nhân dân. Làm thế nào cho mỗi người dân luôn luôn tự hỏi: Tôi phải làm gì để thực hiện lòng yêu nước, ghét địch ? Lúc đó mới là lúc tư tưởng yêu nước thấm nhuần cả mọi người, và mọi người muốn hành động một cách thực tế.

Yêu nước thì phải thi đua. Tư tưởng yêu nước phải tỏ ra trong công việc thực tế, trong Thi đua ái quốc. Từ nay, chúng ta phải sửa đổi ít nhiều trong công việc thi đua, làm cho phong trào thi đua sâu hơn và thiết thực hơn nữa.

Nên lấy những đơn vị nhỏ làm đơn vị thi đua. Mỗi người, mỗi nhà, mỗi lớp học, mỗi tiểu đội, mỗi bộ phận nhà máy, v.v. sẽ do tình hình thực tế và khả nǎng cố gắng của mình mà đặt kế hoạch thi đua. Đã có kế hoạch, thì phải ra sức làm cho kỳ được, và đúng kỳ hạn.

Kế hoạch thi đua cần bao gồm 3 điểm: thí dụ kế hoạch của một đồng bào nông dân, về chính trị thì giữ bí mật, phòng gian, nộp thuế nông nghiệp; về công tác thì ra sức bón phân, làm cỏ, để hoàn thành vụ mùa thắng lợi; về học tập thì lo học hỏi thêm, giúp thủ tiêu nạn mù chữ trong làng. Ba việc đó chẳng những không ngǎn trở nhau mà còn phải gắn liền với nhau.

Kế hoạch từng gia đình, từng nhóm phải đem ra bàn bạc kỹ, phải dân chủ, nghĩa là làm cho mọi người đều hiểu, mọi người đều vui lòng nhận và quyết tâm làm kỳ được. Có như thế, kết quả mới đầy đủ, tốt đẹp.

Kế hoạch thi đua phải thiết thực, rõ ràng, đúng mực, giản đơn.

Những điều nên tránh là: Không nên đặt nhiều việc quá, mức cao quá, rồi làm không được thì sẽ nản lòng. Không nên chép của nhau, kế hoạch của người nào hoặc nhóm nào phải do người ấy, nhóm ấy tự động, tự giác, tự nguyện làm lấy. Không nên bao biện như cán bộ tự mình đặt kế hoạch rồi đem đọc qua trước hội nghị để mọi người giơ tay “tán thành”. Thế là cách làm quan liêu, hình thức, sẽ không có kết quả.

Những điều cần làm là: khi đặt kế hoạch, nên bàn bạc kỹ. Khi đã nhận kế hoạch, nên công bố đường hoàng, chép và dán lên tường để luôn luôn trông thấy, ghi nhớ và luôn luôn cố gắng.

Cán bộ cần luôn luôn khuyến khích, giúp đỡ, kiểm tra, sửa chữa hoặc bổ sung kịp thời. Tuỳ công việc mà định kỳ hạn tổng kết kinh nghiệm, khen thưởng hoặc phê bình.

*

*      *

Mười điều ghi nhớ của hội viên Liên Việt không phải là những khẩu hiệu chỉ để hô cho kêu, dán cho đẹp. Có thể nói: đó là tóm tắt chính cương kháng chiến kiến quốc của Mặt trận. Mọi người, mọi nhóm, mọi ngành cần dựa theo mười điều ấy, tuỳ hoàn cảnh và công việc thực tế của mình mà đặt kế hoạch riêng để thực hiện.

Mặt trận Liên – Việt cũng như quân đội. Quân đội đó gồm hơn mười triệu công, nông, thương, học, binh, phụ nữ, thanh niên, nhi đồng. Đó là một lực lượng to lớn.

Nói quân đội phải nói đến kỷ luật. Mặt trận Liên Việt có kỷ luật tự giác, kỷ luật yêu nước, mà mọi người tình nguyện tuân theo. Với kỷ luật ấy, Mặt trận đòi hỏi mọi người làm trọn nhiệm vụ của mình bằng cách thực hiện Mười điều ghi nhớ.

Mỗi chiến sĩ trong đội quân to lớn của Mặt trận làm trọn nhiệm vụ của mình, thì thực dân Pháp và can thiệp Mỹ nhất định bị lực lượng vô cùng vô tận của dân ta đánh bẹp. Mà muốn cho mọi người làm trọn nhiệm vụ, cán bộ Đảng và chính quyền cần biết lãnh đạo thiết thực và xung phong làm gương mẫu.

C.B.

Báo Nhân dân, số 25, ngày 13-9-1951.
cpv.org.vn

Thư gửi các nguỵ binh (28-9-1951)

Tôi đã nhận được thư 300 nguỵ binh công giáo bị bắt trước mặt trận, xin tha.

Tôi cũng đã nhận được thư của những nhóm nguỵ binh khác, hứa hẹn.

Tôi trả lời như sau:

– Một mặt, vì các người chưa hiểu rằng: giặc Pháp đương mưu mô cướp nước ta, bù nhìn Bảo Đại đang mưu bán nước ta. Kháng chiến là cốt làm cho nước ta được độc lập thực sự, cho nhân dân được tự do, đồng thời cho đồng bào công giáo được tự do thờ Chúa.

– Một mặt khác, các người hoặc bị giặc Pháp và bù nhìn ép buộc, hoặc bị chúng lừa phỉnh mà đi lính cho chúng, chống lại Tổ quốc. Nhưng các người cũng là máu đỏ da vàng, khi đã hiểu thì chắc không ai nỡ lòng làm nanh vuốt cho giặc, chống lại Tổ quốc, để mang tiếng xấu muôn đời.

Tuy các người đã phạm tội nặng là cầm súng chống lại Tổ quốc, song Chính phủ kháng chiến độ lượng khoan hồng, thương hại các người như những đứa con lầm đường, cho nên nặng về giáo dục nhẹ tay xử phạt, để dìu dắt các người bỏ đường tà, theo đường chính.

Vì lẽ đó, đối với những nguỵ binh đã bị bắt và đã biết tội, thì Chính phủ sẽ dần dần tha thứ cho về với cha mẹ, vợ con.

Đối với những nhóm nguỵ binh có thư hứa hẹn, thì tôi có lời khuyên rǎn và dặn dò: anh em phải cẩn thận, sẽ có cán bộ kháng chiến liên lạc và hướng dẫn anh em.

Đối với tất cả nguỵ binh, thì Chính phủ sẽ khoan hồng những người sớm quay về với Tổ quốc, sẽ trọng thưởng những người và những nhóm đái tội lập công lớn (1) .

Nguỵ binh cũng là con dân nước Việt, nhưng vì dại mà đi lầm đường, cho nên tôi và Chính phủ sẵn sàng tha thứ những người sớm biết lỗi và quay về với đại gia đình kháng chiến.

HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1915,
ngày 28-9-1951.
cpv.org.vn

————————-

(1) Cách mạng Tháng Tám: Tháng 8-1945, Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc. Thực hiện chủ trương Tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng và Lệnh Tổng khởi nghĩa của Tổng bộ Việt Minh, hưởng ứng Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước từ Nam đến Bắc nhất tề đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.

Từ ngày 14-8 đến ngày 18-8, nhiều xã, huyện ở hầu hết các tỉnh miền Bắc và Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Mỹ Tho, Sa Đéc đã nổi dậy giành chính quyền. Ngày 18-8 các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam giành chính quyền ở tỉnh lỵ.

Ngày 19-8 cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành được thắng lợi ở Thủ đô Hà Nội. Đến ngày 28-8 Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong cả nước.

Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân điển hình ở một nước thuộc địa nửa phong kiến do giai cấp công nhân lãnh đạo. Thắng lợi ấy đã đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Đó là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, dân chủ của giai cấp công nhân, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. Đó là thắng lợi của đường lối đoàn kết toàn dân, sử dụng bạo lực cách mạng để lật đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến. Đó là sự tài tình, sáng tạo của Đảng trong việc tạo thời cơ, nắm vững thời cơ, khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam đã tạo thời cơ cho nhân dân Lào làm Cách mạng Tháng Tám ở Lào thắng lợi, nhân dân Campuchia có thêm điều kiện thuận lợi để phát triển phong trào cách mạng. Đó cũng là thắng lợi của các lực lượng cách mạng, dân chủ và tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Tr.7.

Muốn no, phải lo làm ruộng (1-10-1951)

Nước ta có thi đua ái quốc. Trung Quốc cũng có thi đua ái quốc. Xin kể vài kinh nghiệm thi đua ở nông thôn Trung Quốc, để đồng bào ta nghe.

Thi đua lấy tinh thần yêu nước làm gốc. Thi đua rộng và sâu. Thi đua nhà này với nhà khác, tổ này với tổ khác, làng này với làng khác. Trong một mùa, chia làm mấy đợt thi đua nhỏ, như cày bừa, chọn giống, bón phân, làm cỏ, gặt hái, nộp thóc thuế, v.v..

Trong chương trình thi đua, có kế hoạch chống lụt, hạn, sâu bọ. Nhờ vậy, tỉnh Hà Bắc tuy bị hạn, mà vẫn được mùa.

So với nǎm ngoái, nǎm nay, số ruộng tǎng thêm từ 1 đến 4 lần, cày sâu thêm một tấc. Kết quả là thu hoạch nhiều hơn mức đã định.

Mùa gần xong, thì kiểm tra, so sánh, tổng kết kinh nghiệm, và chuẩn bị thi đua mùa sau.

Thi đua không những thêm mức thu hoạch của nhân dân, mà còn nâng cao trình độ kỹ thuật, tổ chức và chính trị của nhân dân nữa. Thí dụ: Huyện Đại Danh (Hà Nam) ngoài 14.500 tổ đổi công, còn có 180.000 nông dân tham gia thi đua. Trong công cuộc chống Mỹ, giúp Triều, nông dân rất hǎng hái.

Lãnh đạo thi đua là nông hội, còn Uỷ ban và các đoàn thể địa phương thì ra sức giúp.

Việc anh em Trung Quốc làm được, thì ta nhất định cũng làm được.

C.B.

Báo Nhân dân, số 27, ngày 1-10-1951.
cpv.org.vn