Kỷ niệm 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968
QĐND – Đã 45 năm trôi qua, nhưng với Trung tướng Nguyễn Ân, những kỷ niệm khi trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 chỉ huy đơn vị lần đầu tiên vào chiến trường miền Nam chiến đấu tại Mặt trận Đường 9 thời điểm Tết Mậu Thân năm 1968 vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí về một thời trận mạc… Ông bồi hồi nhớ lại:
Cuối năm 1967, sau hai mùa khô đọ sức quyết liệt với quân viễn chinh Mỹ, ta đã tích lũy nhiều kinh nghiệm, thế trận chiến tranh nhân dân được xây dựng vững chắc. Trên các địa bàn quân và dân ta đã đánh bại một bước cuộc chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ, dồn chúng vào thế “tiến thoái lưỡng nan” và bắt đầu tụt hạng ở chiến trường. Về thế trận, cho phép ta chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới. Trên cơ sở đó, tháng 12-1967, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết lãnh đạo sáng tạo và kiên quyết, xác định: “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng lên một bước phát triển mới, bằng phương pháp tổng công kích-tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định”.
Trung tướng Nguyễn Ân (bên phải) và đồng đội cũ chụp ảnh lưu niệm.
Để thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, tại mặt trận Đường 9, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã quyết định tăng cường cho Bộ tư lệnh B5, cử Thiếu tướng Trần Quý Hai, Phó tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy và đưa thêm các Sư đoàn 320, 304, cùng một số binh chủng vào chiến đấu. Trung đoàn 66 do tôi làm Trung đoàn trưởng, trong đội hình Sư đoàn 304 được lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam và được giao nhiệm vụ tác chiến trên chiến trường chiến lược Đường 9 – Bắc Quảng Trị, tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của Mỹ-ngụy, chủ yếu là quân Mỹ; thu hút giam chân địch; hiệp đồng chặt chẽ với chiến trường toàn miền Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho Trị Thiên-Huế nổi dậy…
Đảng ủy Mặt trận B5 chủ trương tổ chức, sử dụng lực lượng làm hai hướng: Hướng phía Tây, mục tiêu chủ yếu là Khe Sanh, cụm phòng ngự liên hoàn kiên cố nhất của Mỹ-ngụy ở Tây Đường 9 được xác định là hướng chủ yếu, do Sư đoàn 304 và Sư đoàn 325 đảm nhiệm. Hướng phía Đông gồm hệ thống căn cứ hành quân, hỏa lực, hậu cần của địch từ Cửa Việt, Đông Hà đến tận Cù Tu là hướng quan trọng do Sư đoàn 320 và Sư đoàn 324 đảm nhiệm. Lực lượng pháo binh có Trung đoàn 675 và Trung đoàn 45 pháo binh dự bị chiến lược của Bộ tham gia. Về thiết giáp có Tiểu đoàn 198 xe tăng được tăng cường cho hướng trọng điểm Khe Sanh. Đây là lần đầu tiên xe tăng của ta có mặt ở chiến trường miền Nam. Thời gian mở đợt tấn công trên mặt trận Đường 9 xác định vào khoảng cuối tháng 2-1968. Trong thời điểm đối phương tăng cường lực lượng lớn, có lúc lên tới 50 vạn quân Mỹ và chư hầu, chưa kể lực lượng ngụy quân. Việc mở chiến dịch lớn tại Tây Nam giới tuyến quân sự tạm thời, trên địa bàn rộng buộc địch phải điều động lực lượng, trang bị lớn để đánh trả là đòn tấn công chiến lược, tạo điều kiện cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta.
Sau khi nhận nhiệm vụ ở mặt trận đêm 14-1-1968. Lúc này ta dự định nổ súng mở màn chiến dịch vào ngày 20-1-1968, sớm hơn so với kế hoạch một tháng. Công tác chuẩn bị chiến đấu hết sức khẩn trương do thời gian chuẩn bị chỉ có 4 đến 5 ngày là rất gấp. Sư đoàn 304 được tăng cường Tiểu đoàn Xe tăng 198, một trung đoàn cao xạ, có nhiệm vụ mở màn chiến dịch giải phóng đoạn từ Khe Sanh đến Lao Bảo. Quyết tâm của Sư đoàn sử dụng Trung đoàn 24 và một số xe tăng đánh chiếm Huội San, sau đó phát triển về tấn công Làng Vây; Trung đoàn 9 sẵn sàng đánh viện; Trung đoàn 66 của chúng tôi có nhiệm vụ đánh chiếm quận lỵ Hướng Hóa. Đây là một thử thách khắc nghiệt ngay từ trận đầu đối với sư đoàn vì trong một thời điểm phải triển khai hai trận đánh công sự vững chắc, với yêu cầu phải bảo đảm thắng lợi để mở màn cuộc tấn công lịch sử.
Nhiệm vụ Trung đoàn 66 là nhanh chóng đưa bộ đội vào tiến công mở màn, trước hết tiêu diệt chi khu quân sự và quận lỵ Hướng Hóa, sau đó chốt giữ không cho địch chiếm lại. Trước khi nổ súng phải có lực lượng chiếm giữ Ku Bốc và Cao điểm 471, sử dụng một tiểu đoàn bám đường 9 chuẩn bị đánh viện. Triển khai nhiệm vụ, 14 giờ ngày 18-1-1968, Đảng ủy, chỉ huy trung đoàn hạ quyết tâm: Sử dụng Tiểu đoàn 7 được tăng cường Đại đội ĐKZ 82, cùng một trung đội vận tải, một trung đội đặc công có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở quận lỵ Hướng Hóa. Tiểu đoàn 9 đưa một đại đội chốt ở đồi Ku Bốc, lực lượng còn lại chuẩn bị đánh địch ở Đông Nam đồi Ku Bốc. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66, lần đầu vào chiến trường miền Nam đánh Mỹ, vào ngay khu vực gần giới tuyến giữa miền Nam và miền Bắc, là cửa ngõ đường tiếp tế của quân ta từ Bắc vào Nam; khu vực Khe Sanh – Đường 9, Mỹ-ngụy tăng cường lực lượng phòng thủ chặt chẽ, xa căn cứ thì chúng dùng máy bay B-52 hoặc máy bay chiến thuật rải bom, hoặc dùng pháo tầm gần, tầm xa bắn phá. Ngay ngày đầu đơn vị vào vị trí tập kết đã bị B-52 rải thảm và pháo của chúng kết hợp với nhau bắn phá kéo dài 15-20 phút. Khi bị B-52 rải thảm, lúc đầu chúng tôi còn tranh luận nhau là B-52 rải thảm hay là pháo chúng bắn, vì sau B-52 rải thảm, là pháo của chúng bắn trùm lên…
Mọi công tác chuẩn bị cho trận mở màn, từ khâu nắm địch tới việc điều động lực lượng, kế hoạch chi tiết của từng bộ phận đảm bảo bí mật. Đúng 14 giờ, ngày 20-1-1968, đơn vị vừa nhô ra khỏi công sự thì bị B-52 rải thảm, may không có ai hy sinh, vài người bị thương nhẹ. Do chưa có kinh nghiệm chuẩn bị đường xuất kích, chỉ chuẩn một đường nên khi B-52 rải thảm và pháo bắn, cây cối đổ ngổn ngang lấp hết đường đi, bộ đội mang vác nặng không sao đi nhanh được, trong khi máy bay OV10 bay liệng và pháo sáng liên tục. Nhưng đúng 5 giờ ngày 21-1-1968 theo hiệp đồng đơn vị đã tiếp cận được mục tiêu. Trời vừa sáng, địch đã phát hiện ra ta tiếp cận vị trí của chúng. Tình thế hết sức khẩn trương, tâm trạng chúng tôi lúc này rất căng thẳng, thì bất ngờ pháo binh của ta đồng loạt thực hiện một trận bão lửa mãnh liệt vào sân bay, sở chỉ huy, các trận địa pháo của địch ở Tà Cơn, Hướng Hóa, các điểm cao 832, 471….
Đúng 5 giờ 10 phút, tôi ra lệnh nổ súng, các loại hỏa lực dồn dập chế áp hỏa điểm địch, yểm trợ cho bộc phá viên lên mở cửa. Trung đội bộc phá mở được 4 hàng rào, còn một hàng rào sát lô cốt có một khẩu đại liên bắn ra rất mãnh liệt. Đồng chí Tiểu đoàn trưởng và bộc phá viên bị hy sinh ngay sát hàng rào. Lúc 5 giờ 40 phút, tôi lên quan sát và lệnh cho ĐKZ cơ động vào cửa mở diệt hỏa điểm của địch. Bất ngờ một loạt đạn của địch từ trong bắn ra, một viên trúng vào chiếc mũ sắt của tôi đang đội trên đầu, khiến cho chiếc mũ xoay 180 độ về sau. Tôi choáng váng ngồi xuống và chợt nhớ ra hôm trước khi trinh sát chúng tôi phát hiện có một cửa ngách bên khu gia binh thông vào đồn, không có người canh gác. Tôi quyết định để một bộ phận kiềm chế địch, còn phần lớn lực lượng chuyển hướng sang khu gia binh để đột nhập vào qua cửa ngách, ở đó địch mỏng yếu. Quân ta nhanh chóng tiến công vào bên trong, phát triển chiến đấu rất nhanh, chiếm lĩnh các vị trí khiến cho địch không kịp đối phó.
Cũng thời gian này, đúng như ta đã dự kiến, khi ta tiến công Hướng Hóa, địch điều ngay Đại đội 258 địa phương đổ bộ đường không xuống Ku Bốc. Đại đội 11, Tiểu đoàn 9 của trung đoàn tôi bố trí phục sẵn ở đó, giữ được bí mật, khi máy bay địch lượn khắp cũng không phát hiện ra, nên khi đổ quân xuống liền bị ta tiêu diệt gọn, sau gần 50 phút chiến đấu. Phân đội súng máy 12,7mm của ta còn bắn rơi tại chỗ 3 chiếc trực thăng. Khi bắt được tù binh chúng khai: “Chúng tôi thấy thấp thoáng có lính đội mũ sắt nhưng cho rằng, Việt cộng làm gì có mũ sắt, thế là chúng tôi cứ đổ quân xuống…”. Thật là bất ngờ thú vị, vì lần đầu tiên bộ đội chủ lực miền Bắc được Liên Xô trang bị mũ sắt và nhờ đó ta đã giữ được bí mật tại đây.
Bước vào chiến dịch, chỉ trong 18 ngày, Trung đoàn 66 cùng với các đơn vị trong Sư đoàn 304 đã đánh 3 trận diệt địch trong công sự vững chắc, diệt 3 cứ điểm quan trọng của địch ở Huội San, Hướng Hóa và Làng Vây. Cụm cứ điểm Tà Cơn do quân Mỹ chiếm đóng bị cô lập ở giữa lòng chảo Khe Sanh. Sư đoàn 304 và Sư đoàn 325 được Bộ tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ chuyển sang bao vây đánh lấn Tà Cơn. Đến ngày 10-2-1968, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 cùng Trung đoàn 95C và Trung đoàn 101Đ của Sư đoàn 325 và bộ đội địa phương Hướng Hóa đã tổ chức được 13 trận vây lấn xung quanh Tà Cơn. Từ hướng Bắc, Tây và Tây Bắc, Trung đoàn 95C và Trung đoàn 101Đ cũng tiến vào vây lấn Tà Cơn. Những trận đánh liên tiếp của các trung đoàn của ta đã trở thành những mũi tiến công sắc nhọn ngày càng cắm sâu vào căn cứ địch. Mỹ đã dùng máy bay chiến lược B-52 thả gần 60.000 tấn bom, bắn hàng chục vạn quả đạn pháo, nhưng các trận địa vây lấn của ta vẫn đứng vững. Báo chí phương Tây và dư luận đã phải nói đến hình ảnh một Điện Biên Phủ mới. Tổng thống Giôn-xơn khi đó yêu cầu tham mưu liên quân “ký bản cam kết rằng Khe Sanh sẽ được giữ vững”.
Những ngày cuối tháng 3-1968, các trận vây lấn của ta khép chặt vòng vây. Trong 50 ngày đêm, các đơn vị tiêu diệt 3000 tên địch, bắt sống 217 tên, bắn rơi và bắn cháy tại sân bay 279 máy bay các loại, phá hủy rất nhiều vũ khí, kho tàng của địch. Tình hình Khe Sanh làm cho bọn hiếu chiến ở Nhà trắng và Lầu Năm Góc đau đầu. Tại Quốc hội Mỹ đã nổ ra cuộc tranh luận rất gay gắt về việc giữ hay không giữ Khe Sanh. Ngày 26-6-1968, địch buộc phải tuyên bố rút khỏi Khe Sanh. Ngày 9-7-1968, cờ giải phóng đã cắm trên cột cờ sân bay Tà Cơn….
45 năm nhìn lại tôi càng thấy rõ hơn tầm chiến lược của Đảng. Thắng lợi trên các chiến trường cùng với thắng lợi của cuộc Tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã làm cho địch “xuống thang”, tạo bước phát triển mới của cuộc chiến tranh, là tiền đề, động lực để quân và dân ta giành những thắng lợi to lớn hơn, tiến tới ngày toàn thắng…
Trung tướng NGUYỄN ÂN (kể) – Xuân Dân (ghi)
qdnd.vn