Archive | 2012

Viết về lịch sử: Cẩn trọng không thừa

Chúng ta đang sống trong những ngày lễ trọng đại: Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9. Nhân dịp này, tôi tìm đọc một số tư liệu về những ngày mùa thu lập quốc trên trang điện tử của một số báo. Có những bài viết do nhà báo ghi lại và cả những bài do nhà nghiên cứu viết, tôi thấy có nhiều chi tiết chưa được chính xác, cần trao đổi lại…

Có những sự kiện, có những nhân vật chưa được nhắc đến, nhà báo viết về họ mang tính khai phá. Nhưng sự kiện và nhân vật ấy đều thuộc về lịch sử. Vì vậy, đôi lúc người viết đừng ngần ngại kiểm tra lại các thông tin ở sách vở. Thêm một thao tác để tránh những sai sót không đáng có không bao giờ là việc thừa.

Hai bài viết “Những giây phút không thể nào quên” trên trang điện tử của Đài Tiếng nói Việt Nam (19/8/2009) của tác giả Việt Đức và bài viết “Ký ức ngày tổng khởi nghĩa ở Thủ đô” trên trang điện tử Vnexpress (19/8/2011) của tác giả Hoàng Thùy, tuy cách nhau hai năm, đề tên hai tác giả khác nhau, song có cùng chung một nội dung hỏi chuyện ông Lê Đức Vân – thành viên của Ban liên lạc Việt Minh cứu quốc Hoàng Diệu. Nội dung bài viết cùng có đoạn: “Buổi chiều 17/8/1945, tại Nhà hát lớn, Chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mít tinh với sự tham gia của hàng chục nghìn người. Khi chúng mới chỉ kịp tuyên bố khai mạc thì người của Việt Minh xông lên cướp micro”.

Trong một tài liệu mang tên “Trước giờ Tổng khởi nghĩa” của Trần Quảng Vận, tức nhà báo Trần Lâm – nguyên Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, được in năm 1946, có đoạn viết: “Mọi người đang chăm chú nghe tuyên bố khai mạc. Ba giờ đúng” (trang 23, “Vẫn chưa hết bài diễn văn. Ba giờ hai mươi nhăm, Lâm nhìn đồng hồ bắt đầu sốt ruột” (trang 25), “Lời diễn giả báo cho chàng biết giờ khởi sự sắp đến. Chàng lùi lại, đưa mắt nhìn hai tự vệ. Nhanh như cắt hai bạn đứng thế thủ. Lâm biến vào phòng sau, rồi lại ra, cầm theo gói cờ không bọc giấy. Diễn giả vẫn chưa dứt. Lâm lại phải giấu tạm vào một góc tường, phía trong. Rồi tiếng vỗ tay hoan hô vang dậy. Diễn giả vừa ngừng” (trang 26).

Bạn đọc có thể thấy, ngoài lời tuyên bố khai mạc, Chính phủ Trần Trọng Kim còn có một bài diễn văn dài đến nửa giờ đồng hồ, chứ không phải mới chỉ kịp tuyên bố khai mạc thì người của Việt Minh xông lên cướp micro.

Không riêng các nhà báo trẻ, không riêng các nhân chứng cao tuổi, ngay nhà nghiên cứu có khi cũng lẫn lộn. Trên Báo điện tử Chính phủ (18/8/2010) kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám có bài viết “Chớp thời cơ, đem sức ta mà giải phóng cho ta” của nhà nghiên cứu lịch sử Trần Thái Bình có một số nhầm lẫn.

Bộ “Tổng tập hồi ký” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chứa đựng những tư liệu chân xác, rất đáng để các nhà nghiên cứu và bạn viết trẻ tham khảo khi tìm hiểu về nhiều sự kiện lịch sử.

Về những ngày khởi nghĩa Tháng Tám 1945, nhà nghiên cứu Trần Thái Bình viết: “Đêm 19/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc do Tổng Bộ Việt Minh thành lập đã hạ lệnh Tổng khởi nghĩa. Thay mặt Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, đồng chí Võ Nguyên Giáp, với bí danh Văn, đã ký Quân lệnh số 1 gửi cho toàn quốc, rồi ngay sau đó trực tiếp chỉ huy một đơn vị giải phóng quân Nam tiến, đánh quân Nhật đang chiếm đóng Thái Nguyên, để mở đường tiến về Hà Nội”.

Trong vòng nửa tháng, chỉ với 5.000 đảng viên, mà làm nên Cách mạng Tháng Tám với khí thế thần tốc, chớp thời cơ quân Nhật đầu hàng Đồng Minh. Ngay từ ngày 13/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã được triệu tập tại Tân Trào. Ngay sau đó, Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào từ ngày 14 đến 16/8/1945, nhiều đại biểu lên đến chiến khu không kịp dự đại hội đã phải về ngay địa phương để chỉ đạo khởi nghĩa. Vậy mà đêm 19/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc do Tổng Bộ Việt Minh thành lập mới hạ lệnh Tổng khởi nghĩa thì thời cơ nghìn năm có một đâu còn?

Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết rất rõ về sự kiện này như sau: “Ngày 11, 12, tin vô tuyến điện cho biết có hiện tượng nguy ngập tan rã trong quân đội Nhật. Ngày 13 tháng 8, có tin Nhật đầu hàng Đồng minh, quân đội Nhật ở các nơi đã ngừng chiến đấu. 11 giờ đêm ngày 13, Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng hạ mệnh lệnh khởi nghĩa cho nhân dân và bộ đội”.

Về Quân lệnh số 1 gửi cho toàn quốc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại như sau:

“Chiều 16 tháng 8, một đơn vị Giải phóng quân tập hợp dưới cờ làm lễ xuất phát tiến về phía Nam. Các đại biểu về dự Quốc dân đại hội đều có mặt dưới cây đa cổ thụ, cạnh ngôi nhà Hội đồng cứu quốc xã Tân Trào để tiễn đưa bộ đội lên đường chiến đấu (…). Những chiến sĩ Giải phóng quân, quần áo đủ kiểu, mang trên người dấu vết của những cuộc vật lộn ác liệt với quân thù trên các nẻo đường rừng, trên các triền núi đá Việt Bắc, tề tựu nghiêm trang dưới cờ nghe đọc bản Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp chú thích cẩn thận: “Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa do anh Trần Huy Liệu khởi thảo”.

Cả hai đoạn tư liệu được dẫn ở trên, tôi đều sử dụng trong hồi ký “Từ nhân dân mà ra” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, do nhà văn Hữu Mai thể hiện, được in lại trong bộ “Võ Nguyên Giáp – Tổng tập hồi ký” (NXB Quân đội Nhân dân, 2006)

Mai Kiều
vnca.cand.com.vn

Chỉ có một nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa của Bác Hồ

QĐND Online-  Hiệp định Paris về “chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết, nhân dân Việt Nam đã “đánh cho Mỹ cút” giành thắng lợi quyết định. Bước tiếp theo là “đánh cho ngụy nhào” giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, đó là quá trình đấu tranh quyết liệt và phức tạp trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Trong đấu tranh ngoại giao và các hoạt động quốc tế để buộc Nguyễn Văn Thiệu phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris của các lực lượng, diễn ra mạnh mẽ, phong phú và đa dạng. Tiêu biểu là Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp đã có các hoạt động vận động các nước công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh thống nhất đất nước. Quá trình đó, có một câu chuyện thú vị tại Pháp đã nói lên một chân lý sáng ngời.

Quảng Trường Ba Đình, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập

Từ năm 1973 đến đầu năm 1975, Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã tổ chức nhiều cuộc vận động một số nước ở châu Phi có quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đại sứ ta tại Pháp có nhiều cuộc gỡ với đại sứ các nước ở Paris và đi đến các nước để chuẩn bị cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các nước đó. Quá trình đó, Đại sứ ta luôn tranh thủ vận động họ công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Những hoạt động đó đã đạt kết quả tốt đối với một số nước như Bê Nanh, Công Gô, Angola,… ở châu Phi và Bồ Đào Nha ở Tây Âu. Đối với một số nước khác mặc dù chưa có kết quả ngay do điều kiện của họ, nhưng hầu hết đều đã bày tỏ tình cảm với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với nước Mađagatca có câu chuyện khá thú vị như sau: Nhân dịp ông Ratsiraca Ngoại trưởng nước Mađagatca (sau này trở thành Tổng thống Mađagatca) có chuyến công tác qua Paris, đồng chí Võ Văn Sung, Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp xin gặp và đặt vấn đề Mađagatca công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với cách nói thân thiết của một người bạn, ông cho biết không bao giờ công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đồng chí Võ Văn Sung hỏi lý do vì sao? Ông Ratsiraca trả lời “vì Mađagatca đã có quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và không có quan hệ với chính quyền Sài Gòn”1. Ông Ngoại trưởng còn khẳng định: “Đối với chúng tôi thì nước Việt Nam là một, chỉ có nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của “Bác Hồ”2. Vì vậy, “nếu công nhận bất kỳ một chính phủ nào khác là trái với nguyên tắc mà chúng tôi tôn trọng: nước Việt Nam là một! Chúng tôi đã từ chối việc công nhận bọn bù nhìn ở Sài Gòn”3. Đồng chí Võ Văn Sung giải thích lại tình hình miền Nam và chính sách của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; vai trò của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam; những điều khoản của Hiệp định Paris và những vấn đề thuộc về quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ miền Nam Việt Nam, ở đó có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát,… Thấy ông Ratsiraca còn phân vân, đồng chí Võ Văn Sung đã phải nói rằng: “Chính phủ Cách mạng lâm thời cũng là anh em chúng tôi cả” và “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Chính phủ Cách mạng lâm thời tuy hai cũng như một, nhưng tuy một mà cho đến khi Việt Nam tái thống nhất thì vẫn phải là hai”4. Khi hiểu ra vấn đề, ông Ratsiraca hứa sẽ báo cáo về Chính phủ. Hơn một tuần sau đó, Đại sứ quán Mađagatca ở Paris báo cho Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Pháp biết là Mađagatca đồng ý công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam.

TS Nguyễn Văn Bạo
qdnd.vn

——————————

1,2. Võ Văn Sung (2005), Chiến dịch Hồ Chí Minh giữa lòng Paris, Nxb QĐND, tr.88.
3, 4. SĐD, tr.88-89.

Người tung cờ đỏ sao vàng ở Nhà hát Lớn

QĐND Online – Ngưỡng mộ tên tuổi ông đã lâu, nhưng chỉ đến khi ông nghỉ hưu ở Đài Tiếng nói Việt Nam, về lập ra tờ tạp chí Việt Nam Hương Sắc, tôi mới có vinh hạnh được gặp Nhà báo Trần Lâm; nhất là khi ông bàn giao hẳn công việc cùng chức danh Tổng biên tập cho người khác, thời gian gần gũi ông càng nhiều hơn. Mỗi khi có một thông tin mới, một bài viết hay, tôi đều chạy ngay tới ông, thong thả đọc từng câu viết và lắng nghe ông chỉnh cho từng chữ:

– Lại văn rồi. Chỉ đọc đến chữ ấy thôi. Viết báo cần ngắn gọn, xúc tích, dễ đọc, dễ hiểu, chứ dài dòng làm gì.

– Thế hả bác? Tôi lần nào cũng vậy.

Nhà báo Trần Lâm chậc lưỡi, kéo dài chữ ở cuối câu:

– Ấy thế, chứ còn gì nữa …

Cuộc gặp gỡ trao đổi chỉ có vậy. Nhưng, tùy theo tính chất bài viết của tôi có tác dụng tới đâu trong dư luận mà Nhà báo Trần Lâm đã cử phóng viên khác, làm những công việc tương tự như tôi, bảo vệ tôi, bảo vệ tiếng nói của chính nghĩa. Mãi sau này, khi mọi việc đã êm, ông chỉ cho tôi có bài báo đăng ở báo nọ, báo kia. Tôi mới chợt hiểu và reo lên:

– A! Bác làm như vậy là để bảo vệ cháu. Đúng không bác?

Nhà báo Trần Lâm gật đầu. Tôi xúc động. Trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực, chống tham nhũng này, hoạt động đơn phương độc mã của người viết báo thường gặp nguy hiểm, nếu không có những tấm lòng hiệp nghĩa như của Nhà báo Trần Lâm. Từ ngày bị thương cổ xương đùi, ông ít đi lại, chỉ ngồi nghe và viết. Ông ghi nhận xét hàng ngày cho Đài truyền hình Trung ương, viết báo, làm cố vấn cho một số tờ báo. Ông thường bảo: – Cái đầu con người ta phải như cái dao của ông thợ cạo, càng mài bao nhiêu càng sắc, không đọc, không viết tự nó cùn đi…

Mít tinh tổng khởi nghĩa ở Quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội 8-1945. Ảnh tư liệu.

Chưa đến chương trình thời sự, ông hay kể cho tôi về thời kỳ hoạt động sôi nổi. Mái tóc dài trắng như cước của bác gái vừa búi gọn ghẽ sau gáy, bác mỉm cười nhắc bác trai đến giờ uống thuốc. Nét đẹp trời phú, dịu dàng của người con gái Hàng Đào với nước da trắng, mắt bồ câu long lanh, sống mũi dọc dừa trên gương mặt tròn ấy, đã hút hồn chàng sinh viên trường Luật Đông Dương năm nào.

– Tôi là con nhà nghèo, có mỗi đôi guốc mộc đi vẹt cả gót. May “trồng cây si” bảy năm, được ông cụ thương học trò nghèo, có chí, gả con gái cho! Tôi có được bà ấy như có cô tiên trong nhà. – Nhà báo Trần Lâm nhìn bác gái cười khà khà.

– Ở Đài, có phát thanh viên Vân Yến là ai, bác nhỉ? – Tôi hỏi.

– Tên bà ấy đấy. Khi đọc phát thanh, bà ấy lấy tên Vân Yến. – Ông nói.

– Dạo ấy, ở Đài ít người, chỉ có chị Dương Thị Ngân và bác đọc phát thanh. Ít lâu, chị Ngân chuyển sang biên tập tin bài, giỏi lắm. Bác đọc nhiều quá, đến năm 1961 bị chùng thanh đới, không nói được mới thôi, phải điều trị mất hai năm ở bệnh viện Việt Xô cơ mà. Tính chưa đủ hai mươi năm nên không được phong nghệ sĩ ưu tú. – Bác gái quay sang tôi, tiếng nói vẫn trong trẻo. – Sau bác làm ở văn phòng. Bác đánh máy tiếng Anh, tiếng Pháp nhanh lắm …

Tôi rót nước dâng trà hai bác:

– Bác ơi, bác kể chuyện hồi còn sinh viên trường Luật tung cờ ở Nhà hát Lớn đi bác.

Mái tóc muối tiêu cắt ngắn của ông nghiêng hẳn sang phía tôi, đôi mắt to sáng lên hào khí cả một thời sôi nổi:

– Năm 1944, tôi học ở trường Luật, dạy thêm ở trường Gia Long và tích cực tham gia phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ do cụ Nguyễn Văn Tố (Viện trưởng Viện Khảo cổ học) làm Chủ tịch. Nhờ sớm tiếp cận với Việt Minh, nên cuối năm bốn tư, tôi gia nhập Đội Tuyên truyền xung phong nội thành Hà Nội, một tổ chức của Đảng Dân chủ Việt Nam (ông Dương Đức Hiền làm Bí thư). Tôi vừa học hết chương trình của đại học Luật thì nổ ra sự kiện “Nhật đảo chính Pháp” (9/3/1945). Người Nhật gọi sinh viên trường Luật chúng tôi, tập trung học khẩn trương hai tháng, đào tạo thành quan tri huyện mới của Nhật, thay thế cho lớp tri huyện cũ của Pháp. Tất cả anh chị em sinh viên trường Luật khóa tôi đều tẩy chay hết. Đội tuyên truyền xung phong của tôi hoạt động ngày càng mạnh và có hiệu quả trên địa bàn Hà Nội. Chúng tôi bí mật nghe đài nước ngoài, chọn lọc tin tức, viết thành tài liệu, viết khẩu hiệu, biểu ngữ, rải truyền đơn khắp Hà Nội, ủng hộ Việt Minh. Tôi khoái nhất là đột nhập nhà hát, rạp xinê cắt cầu dao điện, lên diễn thuyết vài ba phút, căng khẩu hiệu rồi nhanh chóng rút ra cửa sau.

Ngày 17/8/1945, tổ tuyên truyền xung phong của chúng tôi được phân công hai việc: Một là, treo lá cờ đỏ sao vàng cực lớn (6m x 8m = 48 mét vuông, do chị Lê Thị Tý là vợ anh Nguyễn Dực may) từ thành cửa sổ khoang giữa tầng hai trải phủ xuống khoang giữa cửa ra vào Nhà hát Lớn, ngay trên đầu ban tổ chức mít tinh của Tổng hội viên chức chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim. Hai là: chiếm diễn đàn đọc lời hiệu triệu của Việt Minh.

Việc thứ nhất, do tôi và anh Nam thực hiện. Cuộc mít tinh bắt đầu, tôi giấu lá cờ, giả làm thợ điện đi lên tầng hai. Khi tới ban công, tôi tung lá cờ đỏ sao vàng lên. Anh Nam giúp tôi một tay buộc vào lan can. Lá cờ đỏ sao vàng to rộng, sáng chói nổi bật trên cao, làm đảo lộn tình thế.

Việc thứ hai, do chị Nguyễn Khoa Diệu Hồng và anh Ngô Quang Châu thực hiện. Cả hai việc, chúng tôi đều hoàn thành xuất sắc. Sau chị Diệu Hồng còn có một đại biểu của Phụ nữ Cứu quốc Hà Nội nhảy lên diễn đàn hô hào nhân dân ủng hộ Việt Minh! Đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim! Cuộc mít tinh ủng hộ Việt Minh, chuyển thành cuộc diễu hành của hàng vạn người từ Quảng trường Nhà hát Lớn qua Tràng Tiền, Bờ Hồ, Hàng Đào, Hàng Ngang, Phan Đình Phùng (lúc ấy có tên là Carnot), qua dinh Toàn quyền (lúc ấy là Tổng hành dinh quân Nhật), vòng về Cửa Nam rồi chia ra nhiều ngả …

Đỉnh cao của lòng dân khát khao độc lập tự do là ngày 19/8/1945! Tổng khởi nghĩa thành công ở Hà Nội. Giành được chính quyền về tay nhân dân. Đây là những ngày sôi động nhất của cuộc đời tôi. Những ngày tràn đầy sự kiện ấy, khi tổ chức giao việc là làm ngay, làm hối hả, làm đến nơi đến chốn. Một lời nói của người chỉ huy, một bàn tay ấm nóng vỗ vai với nụ cười tin cậy là mệnh lệnh, là quyết định hành động.

Hà Nội, 8/2011

Trần Minh Thu – (Để tưởng nhớ anh linh Nhà báo Trần Lâm)
qdnd.vn

Thư từ Ấn Độ (17-3-1928)

Trước khi Uỷ ban Ximông (1) tới, Chính phủ ấn Độ đã cho ban hành điều 144 của Hình luật, cấm những cuộc biểu tình hay rước xách, phân phát truyền đơn, dán áp phích nhằm tổ chức lễ Háctan (tổng bãi công và quốc tang) và tẩy chay Uỷ ban.

Về phần mình, các ông hiệu trưởng đã báo rằng, mọi sinh viên vắng mặt tại trường trong thời gian lễ Háctan đều bị nghiêm trị.

Tất cả các lực lượng quân sự và cảnh sát đều được huy động; có những kẻ chuyên khiêu khích đã được cử đi khắp nơi để ca ngợi Uỷ ban và phỉ báng Háctan.

Để đáp lại những hành động khiêu khích đó, “Đại hội toàn ấn” 2 kêu gọi các sinh viên và công chức hãy bỏ trường và bàn giấy, các thợ thuyền hãy đình công, các khách sạn, quán cơm, nhà hát, rạp chiếu bóng hãy đóng cửa, tất cả các công dân hãy đến dự lễ Háctan với lá cờ đen và treo quốc kỳ ở khắp mọi nhà.

Không những các tổ chức tiến bộ mà cả những tổ chức của tư sản như các hội bảo hiểm, các phường thương nhân, các phòng thương mại, v.v. đều đáp lại lời kêu gọi này.

Phụ nữ Mađrat hội họp ở Gokhale và ra một lời kêu gọi, kết thúc bằng câu: “… Ta phải tỏ cho thế giới biết rằng cả nước một lòng, chỉ có một nền độc lập hoàn toàn mới thoả mãn được dân tộc”.

Ngày 3 tháng 2, khi các thành viên của Uỷ ban lên bờ, họ được đông đảo dân chúng mang cờ đen đón tiếp và những bǎng vải đỏ với các dòng chữ “Hoan nghênh khách đến”, “Ximông cút đi”, “Đả đảo đế quốc Anh!”, v.v..

Trong thành phố, giao thông bị đình trệ hoàn toàn, thợ thuyền bỏ nhà máy biểu tình trên các đường phố. Họ tập trung tại đại lộ Phôrát thành một cuộc mít tinh khổng lồ, đốt hình nộm của Bandin, Ximông và Mắcđônan 1 .

Dù các ông hiệu trưởng có đe dọa đi nữa thì l0.000 sinh viên cũng vẫn tham gia biểu tình. Cảnh sát bắt tay vào hoạt động. Hơn 80 người bị thương, trong đó nhiều người bị thương nặng, và độ một trǎm người biểu tình bị bắt.

ở Bombay, Mađrat, Amêđabat, v.v., tất cả các công sở đều đóng cửa, mọi việc đều bị dừng lại. Tại những trung tâm lớn có những cuộc mít tinh đông đến 50.000 người. Nhiều tốp lính và cảnh sát vũ trang canh gác những địa điểm chiến lược trong các thành phố, ô tô bọc thép tuần tiễu trên đường phố. ở Mađrat, cảnh sát nổ súng vào những người biểu tình, hai người chết và bị thương độ 20 người.

Các quan toà tại Toà án Mađrat buộc phải đình các phiên xử. Ông cố vấn của Chính phủ đang đi chơi bằng ô tô bị giữ lại, xe của ông ta bị lật và đốt cháy.

Chưa bao giờ – ngay cả trong thời kỳ mà phong trào bất hợp tác theo chủ trương của Gǎngđi lên tới tột đỉnh – tinh thần của đất nước sôi động đến mức đó. Nữ tiến sĩ Bidan, một cụ bà bảy mươi tuổi người Anh, trở thành một người dân tộc chủ nghĩa ấn Độ đầy

nhiệt tình, rất tích cực trong phong trào dân tộc và được nhân dân ấn Độ rất yêu mến, đã đưa ra lời kêu gọi vang dội: “Hỡi những người con của ấn Độ! Hãy đứng lên và đoàn kết lại! Tổ quốc cần đến tất cả các người!”.

Phong trào sôi động đó đã buộc Ximông và những đồng sự của y trong Công Đảng phải lùi bước. Ngay khi tới, Chủ tịch Uỷ ban đã công bố là đồng ý cho phép có một “Joint Free Conference” (Hội nghị tự do của đông đảo quần chúng). Nhưng các lãnh tụ ấn Độ cương quyết đáp lại: “Chúng tôi chẳng liên quan gì với Uỷ ban Ximông, dù ở thời kỳ nào và dưới hình thức nào”. Mặt khác, ông Kale, thành viên của Hội đồng Lập pháp Bombay, đã đưa một kiến nghị nhắn ông Thống đốc báo với Chính phủ Anh rằng: “Hội đồng chẳng có một chút tín nhiệm nào đối với Uỷ ban Ximông… và cũng chẳng muốn liên quan gì với Uỷ ban…”.

Trong một cuộc mít tinh lớn, ông tổng thư ký Uỷ ban tỉnh Bombay của Đại hội toàn ấn đề nghị một chương trình hoạt động:

a) Tẩy chay hàng hoá;

b) Tổ chức thanh niên trong nước;

c) Từ chối trả thêm thuế đất;

d) Tổ chức quân đội của nhân dân và các binh đoàn tình nguyện;

e) Nếu có chiến tranh, không cho nước Anh một người, một xu!

WANG

———————————

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 28, ngày 17-3-1928
cpv.org.vn

Thư gửi một đồng chí trong Quốc tế cộng sản (12-4-1928)

Đồng chí thân mến,

Tôi gửi cho đồng chí một bản sao bức thư tôi gửi cho Ban phương Đông để đồng chí được biết. Đồng thời tôi rất cảm ơn về việc đồng chí quan tâm đến vấn đề của tôi và nhanh chóng trả lời tôi. Đồng chí có thể hình dung nổi tôi đang sống trong một tình trạng tinh thần và vật chất như thế nào không: biết là có nhiều công việc nhưng không thể làm gì được, ǎn không ngồi rồi, không có tiền, sống ngày nào hay ngày ấy mà không được phép hoạt động, v.v..

Ngay cả khi những sự vận động của đồng chí không có kết quả, đồng chí cũng viết cho tôi một chữ gửi Uỷ ban Trung ương KPD (1) để tôi liệu quyết định. Hôm nay là ngày 12-4, tôi hy vọng nhận được tin tức của đồng chí vào ngày 24 tới. Tôi tin cậy ở đồng chí và gửi đến đồng chí lời chào cộng sản anh em.

NGUYỄN ÁI QUỐC
12-4-1928

———————

Thư đánh máy bằng tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Thư gửi ban Phương đông Quốc tế cộng sản (12-4-1928)

Các đồng chí thân mến,

Đây là tóm tắt tình hình của tôi:

Tháng 5-1927… rời Quảng Châu

Tháng 6… tới Mátxcơva

Tháng 7 – tháng 8 ở bệnh viện

Tháng 11 được phái đi Pháp

Tháng 12 rời Pháp (không

thể công tác được do cảnh

sát) đến hội nghị Bruyxen.

Tháng 1 – tháng 4-1928 Chờ chỉ thị của các đồng chí

ở Béclin và sống bằng sự

giúp đỡ của MOPRE 1 .

*

Vì không thể công tác ở Pháp, ở Đức thì vô ích, nhưng cần thiết ở Đông Dương, nên tôi đã xin lại lên đường về xứ sở này. Trong những thư gửi cho các đồng chí, tôi đã lập một ngân sách công tác và một ngân sách đi đường.

Khi đồng chí Đôriô qua Béclin, đồng chí đã hứa sẽ quan tâm đến vấn đề của tôi. Tôi đã nói với đồng chí ấy là nếu không được kinh phí công tác, miễn là đồng chí cho tôi tiền đi đường, thì dù thế nào tôi cũng sẽ đi, bởi vì đã một nǎm tôi lang thang từ nước này sang nước khác trong khi có nhiều việc phải làm ở Đông Dương.

Nhưng cho tới nay tôi chưa nhận được chỉ thị của các đồng chí, cả câu trả lời của đồng chí Đôriô.

Hiện nay, tôi ở trong hoàn cảnh khó khǎn không chịu nổi:

l) Chờ đợi vô thời hạn (tôi chờ chỉ thị đã 4 tháng).

2) Không có gì để sống vì rằng MOPRE không thể giúp tôi một cách vô hạn, ngay cả cho 18 đồng mác mỗi tuần (số tiền đối với tôi không đủ sống nhưng quá nặng cho tổ chức).

Vậy tôi xin các đồng chí cho tôi càng sớm càng tốt những chỉ thị chính xác về điều mà tôi phải làm và bao giờ thì tôi có thể lên đường.

Xin gửi lời chào cộng sản.

NGUYỄN ÁI QUỐC
Béclin ngày 12-4-1928.

——————————–

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Phong trào công nhân ở ấn Độ (14-4-1928)

Theo những bản thống kê nǎm 1921, tại ấn Độ, có 105.510.858 công nhân nam, nữ làm trong nông nghiệp, 346.349 người trong các mỏ, 16.728.373 trong công nghiệp, 5.819.375 trong thương mại. Theo Factory inspection report nǎm 1923, trong thời kỳ này, có 1.418.000 công nhân nữ, nam làm việc trong các nhà máy thực sự là nhà máy so với 1.270.000 người nǎm 1921.

Phần đông những người vô sản nông nghiệp làm việc trong các đồn điền trồng cây công nghiệp (đồn điền cà phê, cao su và cây chàm: 382.300 công nhân; đồn điền chè: 695.100; đồn điền trồng bông: 2.875.122; những đồn điền khác trồng cây có sợi: 15.672.372).

Lương rất thấp. Một công nhân có trình độ tay nghề trong ngành dệt lĩnh 29 rupi (bằng 250 phrǎng) mỗi tháng. Một nữ công nhân cũng làm việc như thế chỉ lĩnh một nửa số tiền này. Ngày làm việc rất dài. Những người thợ mỏ làm hơn 12 giờ mỗi ngày.

Những điều kiện vệ sinh trong nhà máy cũng như trong nhà ở của công nhân thật tồi tệ. Người ta thường thấy sáu gia đình với tổng số 30 người sống chen chúc trong một nhà dành cho công nhân dài 5 mét và rộng 4 mét.

Trong 130 triệu lao động có độ 3.500.000 người được tổ chức. Phần lớn các nghiệp đoàn 1 đều chịu ảnh hưởng chủ nghĩa cải lương của Công Đảng Anh. Đây là một số chứng cớ mới về ảnh hưởng tai hại đó: ở phiên họp hằng nǎm của Đại hội Nghiệp đoàn toàn ấn Độ, họp tại Capua, tháng 12-1927, vấn đề Đại hội này gia nhập Liên đoàn phản đế được ghi vào chương trình nghị sự. Thế mà một số lãnh tụ Công Đảng Anh, tham dự Đại hội này đã thành công trong việc để vấn đề đó “đến một ngày sau”. Ông Iôsai, Chủ tịch Nghiệp đoàn Bombay từ chối giúp đỡ cuộc bãi công mới đây của thợ dệt, viện cớ là những công nhân này không thuộc vào nghiệp đoàn của ông ta và họ đã phát động cuộc bãi công mà không hỏi trước ý kiến của ông.

Mặc dù có tình trạng vô tổ chức của thợ thuyền và thái độ hèn nhát của những người theo chủ nghĩa cải lương, sự nghèo khổ làm cho vô sản ấn Độ cấp tiến hơn. Nǎm 1926 có 130 cuộc bãi công với 131.655 người tham gia. Nǎm 1927, có 128 cuộc bãi công với 186.811 người tham gia. Thế là nǎm 1927 có kém nǎm 1926 hai cuộc tham gia, nhưng số người bãi công cao hơn nhiều (hơn 55.156 người) và số ngày bỏ việc nǎm 1927 tǎng gấp đôi nǎm 1926.

Nǎm 1928 bắt đầu bằng dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ của phong trào công nhân. Không kể những cuộc bãi công chính trị chống Uỷ ban Ximông, số cuộc đấu tranh mang tính chất thuần tuý kinh tế diễn ra trong sáu tuần lễ đầu của nǎm đó như sau: ngày l0 tháng 1, bãi công của 22.000 thợ dệt ở Bombay. Ngày 22 tháng 1, bãi công của 400 thợ thuyền đường xe hoả tại Nắcpua; 21 tháng 1, thợ luyện kim ở Chalima bãi công đòi tǎng lương; 31 tháng l, 700 công nhân xe lửa Cancutta cũng bãi công đòi tǎng lương. Ngày 2 tháng 2, bãi công của lái xe tắc xi tại Rangun chống một thứ thuế mới do thống đốc Anh đặt ra; 11 tháng 2, bãi công của 2.500 công nhân khuân vác ở Rangun; 16 tháng 2, bãi công của 8.000 thợ nhà máy, Kôhinpua ở Bombay; 17 tháng 2, bãi công của 1.700 công nhân nhà máy Đarivan.

Dưới đây là mấy đặc điểm rất thú vị về bãi công của thợ thuyền ngành dệt ở Bombay: Phòng thuế chủ trương rằng cải thiện đời sống của công nhân là điều kiện nhất thiết phải có để tǎng cường sản xuất. Chủ trương đó không phải vì một mục đích nhân đạo mà vì Phòng thuế muốn bằng cách này làm tê liệt sức cạnh tranh của những nhà kỹ nghệ Bombay, đem lợi lại cho các nhà kỹ nghệ Mansettơ. Về phía họ, các nghiệp chủ muốn làm cho công

nhân tưởng rằng vì lòng ái quốc mà họ muốn tǎng sức sản xuất trong nước để có thể đánh bại được hàng hoá của Anh và, do đó, các công nhân cũng phải tỏ ra rằng mình yêu nước và đáng lẽ hưởng 58 rupi mỗi tháng như họ yêu sách thì chỉ nhận 42 rupi.

Cũng như các đảng viên Công đảng Anh, những đảng viên Công đảng ấn Độ phản bội những người bãi công và rao giảng về “hoà bình công nghiệp”. Nhưng công nhân bất cần cái “lòng ái quốc” vụ lợi của chủ cũng như họ bất cần cái “nền hoà bình” do những người cải lương nêu lên. Họ từ chối không ép mình dưới sự lý trí hoá, vì nó sẽ ném 15.000 người trong giới họ ra vỉa hè. Chỉ có Đảng công nông cương quyết ủng hộ những người bãi công và trong công cuộc tuyên truyền tổng bãi công, Đảng đó càng ngày càng được lòng công nhân, những người trông thấy ở Đảng phương tiện duy nhất thắng giới chủ.

WANG

—————————–

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 37, ngày 14-4-1928
cpv.org.vn

Cách mạng Tháng 8-1945 ở Sài Gòn: Bạo lực chính trị là chỗ dựa cơ bản, tuyên truyền vận động là đòn chiến lược chủ yếu.

Trong cuốn “Nhìn lại cuộc đời” của chú Huỳnh Văn Tiểng, là một trong số các nhà lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đêm 24 ngày 25 tháng 8 năm 1945 có đoạn viết: Ủy ban khởi nghĩa đóng ở dinh một tướng Pháp đã bị Nhật bắt giam, số 6 đường Colombert (nay là đường Alexandre de Rhodes).

Chủ trương của Ủy ban khởi nghĩa là lấy bạo lực chính trị là chỗ dựa cơ bản, tuyên truyền vận động là đòn chiến lược chủ yếu. Lực lượng Thanh niên Tiền phong đã xâm nhập vào hầu hết các cơ quan của ngụy quyền (chính trị, quân sự, kinh tế) vừa làm nhiệm vụ tuyên truyền vận động vừa chuẩn bị cho kế hoạch đánh chiếm các cơ sở của địch. Kế hoạch của lực lượng Thanh niên Tiền phong là bắt giữ ngay những phần tử phản động chống đối Cách mạng; thu giữ tài liệu quan trọng của địch; bố trí lực lượng canh gác nhằm đối phó với những kẻ phá hoại; có đảng viên trong các cơ sở quan trọng như dinh Thống đốc Nam kỳ (nay là Bảo tàng Cách mạng), nhà máy nước, nhà máy điện, kho lương thực, kho vũ khí … giao cho lực lượng cảnh sát đã được giác ngộ theo cách mạng gìn giữ an ninh trật tự Thành phố; giao cho lực lượng lính khố xanh, lính khố đỏ và lực lượng Hay – Hô (lính Nhật) đã được giác ngộ theo cách mạng canh giữ khu nhà ở của Pháp kiều và các đầu cầu trong yếu.

Ban tuyên truyền do các ông Huỳnh Tấn PhátTrần Bửu Kiếm, Đặng Ngọc Tốt, Nguyễn Việt Nam, Trương Cao Phước… đã đào hầm ngay trong biệt thự của cụ Trương Văn Huyên (thân phụ ông Trương Cao Phước), là tư sản dân tộc và tín đồ đạo Cao Đài, số 90 Richaud (nay là Nguyễn Đình Chiểu) để in tài liệu tuyên truyền của Việt Minh. Kêu gọi mọi người tìm vũ khí chống giặc, trong đó đội Thanh niên Tiền phong ở kho đạn thành Tuy Hạ, Thị Nghè bí mật đào hầm chuyển được mấy chục hòm súng tiểu liên, trung liên và mìn cho Ủy ban Khởi nghĩa, chị Nguyễn Thị Vui (cháu ông Huỳnh Tấn Phát) đã mua được một số lụu đạn và đạn của Nhật; những người làm việc cho Nhật vận động lính Nhật quăng súng xuống sông rồi tìm cách vớt lên…

Đêm 22, sáng 23 tháng 8 năm 1945, cuộc khởi nghĩa điểm ở Tân An đã giành thắng lợi như kế hoạch đã định. Sáng 24 tháng 8 năm 1945, Hội nghị mở rộng kỳ bộ Việt Minh với đại diện các tầng lớp Công, Nông, Thanh, Phụ, đại biểu các tôn giáo đã bầu ra Ban chấp hành Việt Minh Nam Bộ và thông qua kế hoạch Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ.

19 giờ ngày 24 tháng 8 năm 1945, Ủy ban Tổng khởi nghĩa Nam bộ và Sài Gòn họp ở tổng hành dinh, số 6 đường Colombert (nay là đường Alexandre de Rhodes) quyết định phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

Đội Thanh niên Tiền phong do ông Ung Ngọc Ky phụ trách đã bắt giam Khâm sai đại thần Nguyễn Văn Sâm và hạ cờ quẻ Ly ở dinh Thống đốc Nam Kỳ để treo cờ đỏ sao vàng của cách mạng.

Sáng 25 tháng 8 năm 1945, hàng trăm ngàn người từ các huyện ngoại thành và các tỉnh Thành phố Chợ Lớn , Tân An, Mỹ Tho, Tây Ninh, Biên Hòa, Thủ Dầu Một kéo về Sài Gòn tham gia cuộc diễu hành biểu dương lực lượng Cách mạng và ra mắt Ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ. Đoàn diễu hành đi từ quảng trường nhà thờ Đức Bà qua đường Catina (đường Đồng Khởi ngày nay) sang đường Quai Belgique (đường Tôn Đức Thắng ngày nay), đường Kichener (đường Nguyễn Thái Học ngày nay), đường Bonard ( đường Lê Lợi ngày nay) rồi quay về tập trung trước dinh Đốc Lý (hiện là trụ sở Ủy ban nhân dân Thành phố).

Sau khi đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn thay mặt kỳ bộ Việt Minh Nam bộ giới thiệu các ông Trần Văn GiàuUng Văn KhiêmNguyễn Văn Tạo, Ngô Tấn Nhơn, Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Văn Tiểng và ông Dương Bạch Mai vào Ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ là hàng vạn cánh tay giơ lên và tiếng hò reo vang dội của đoàn người diễu hành biểu thị sự đồng tình ủng hộ kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ và thống nhất giao nhiệm vụ quản lý điều hành chính quyền cho các thành viên Ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ.

Bùi Hiển
ubmttq.hochiminhcity.gov.vn

 

 

 

Nông dân Ấn Độ (18-4-1928)

Trên 230 triệu người ấn Độ, tức là 75% dân số, thuộc giai cấp nông dân, sống trong 685.000 làng ở ấn Độ. 70% đất đai canh tác thuộc quyền sở hữu của các đại, trung địa chủ, số này chỉ bằng một phần ba số nông dân, trong khi đó 90 triệu nông dân tuyệt đối không có một chút ruộng đất gì.

Những địa chủ lớn nhất là Maharátgia phong kiến. Sau đó là các Talúcđa (công chức cao cấp cha truyền con nối), các Sácđa (chỉ huy quân sự) và các Giaminđa (điền chủ lớn). Để có thể bóc lột và áp bức hơn nữa quần chúng nông dân, họ câu kết với chủ nghĩa đế quốc Anh và được nhường cho những quyền lợi kinh tế rộng rãi nhất.

Vô cùng giàu có và cực kỳ phản động, những địa chủ đó hợp thành một khối dưới quyền lãnh đạo của các Maharátgia. Chủ nghĩa đế quốc tìm thấy ở họ một đồng minh trung thành và một chỗ dựa vững chắc. Vừa qua, một trong những người lãnh đạo của địa chủ tung ra một lời kêu gọi khuyên nhủ các địa chủ hãy đoàn kết chặt chẽ hơn nữa để nắm lấy toàn bộ chính quyền trong nước mà vẫn ở dưới “sự bảo hộ” của nước Anh. Hội nghị địa chủ các bang Bengan, Atsam và Oritxa (ngày 2-1-1928) quyết định ủng hộ Uỷ ban Ximông, yêu cầu thành lập hai viện lập pháp chứ không phải một như hiện nay, và thượng viện chỉ gồm những địa chủ. Trong bài diễn vǎn, chủ tịch hội nghị phàn nàn rằng quyền chính trị dành cho người ấn Độ còn quá rộng rãi và còn “cho phép những phần tử không có của cải đưa vào luật pháp những xu hướng xã hội và cộng sản”.

Bà Anna Bisan viết nǎm 1919: “Một nửa dân số nhà nông ở ấn Độ chỉ có một bữa ǎn trong mỗi ngày, mà, hơn nữa, một bữa cũng

không đủ ǎn”. Tình trạng này từ ngày ấy đến nay vẫn không thay đổi vì tình hình kinh tế của người ấn Độ đáng lẽ được cải thiện thì lại mỗi ngày một trầm trọng thêm. Tháng 5 nǎm 1927, Bác sĩ Hađica nêu một bảng so sánh thu nhập theo đầu người: Hoa Kỳ 1.115 rupi; Anh 696; Pháp 546; Đức 468; ấn Độ 15.

Nguyên nhân cái nghèo khổ cùng cực này là do đất thiếu, thuế má quá nặng, chiếm đến 75% hoa lợi của nông dân, diện tích trồng cây công nghiệp quá lớn khiến diện tích trồng ngũ cốc hụt đi. Nǎm 1925 chỉ có 32.968.000 hécta trồng lúa so với 10.645.000 hécta trồng bông, 287.000 hécta trồng chè và l.025.000 hécta trồng mía. Như vậy là một phần ba đất đai được dành riêng cho việc trồng trọt phục vụ công nghiệp và thương nghiệp của Anh.

Bên cạnh sự bóc lột của địa chủ Anh và địa chủ bản xứ, người nông dân ấn Độ còn bị bóc lột một cách kinh khủng bởi những tên Sahuka hay những chủ nợ, chúng cho vay 30 rupi trước mùa gặt và đòi lại 146 rupi.

Đói kém là thường xuyên. Từ 1854 đến 1901 trên 28.825.000 nông dân chết đói! Chỉ riêng trong ba tháng cuối nǎm 1918, trên 7 triệu người ấn Độ chết vì cúm. Những người không chết đói đi vào các thành phố, hợp thành một đội quân “vô sản mặc giẻ rách”, sống vất vưởng bằng ngửa tay ǎn xin. Nǎm 1927, người ta thấy trên 250 người ǎn mày chết đói trong các phố Bombay. Cũng nǎm đó, ông Humantro, một nhà từ thiện ấn Độ cung cấp cho chúng ta những số liệu sau đây về các làng mà ông đến thǎm: trong 79 gia đình ở Sagam chỉ còn 3 người ở lại làng. Trong 811 người làng Mađrát chỉ còn 413. ở Chankamanđimi trong số 60 người chỉ còn 3; tại Kengan trong số 200 người còn lại 40; ở Katagu trong số 500 người còn lại 125; ở Iurátgi, trong số 450 chỉ còn lại 200 và ở Khagian trong số 50 người chỉ còn 3.

Những người khốn khổ này bỏ làng không những vì đói mà còn để tránh bọn Sahuka, bọn địa chủ và bọn thu thuế.

Tuy không có tổ chức hoặc tổ chức còn lỏng lẻo, người nông dân- do nghèo khổ thúc bách – thường nổi dậy chống kẻ bóc lột. Từ 1792 đến 1921, chỉ trong bang Malaba, 36 cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra. Các cuộc nổi dậy vào những nǎm 1841, 1844, 1849, 1896 và 1921 đều có tiếng vang lớn.

Những người nông dân ở Promơ (Miến Điện) tự tổ chức thành các Unthanu Rakita hay các Hội nông dân mà mục đích công khai là đấu tranh chống rượu, cờ bạc và tội ác. Sau phong trào chống thuế nǎm 1924, các Unthanu bị cấm. Tuy vậy, các tổ chức này vẫn tồn tại bí mật và cuối nǎm 1927, các Unthanu huyện Padinbin đã không chịu đóng thuế. Chính phủ cử lực lượng quân đội đến chống lại những người kháng cự. Hai nông dân bị giết và nhiều người bị thương.

Sau các sự kiện ở Padinbin, Chính phủ giải tán 11 tổ chức hoặc hội nông dân khác. Tuy có đàn áp nhưng cuộc vận động chống thuế vẫn tiếp tục ở Miến Điện và rải rác ở chính trên đất ấn Độ, nông dân ở Alibay (huyện Maharátgia) thẳng thắn tuyên bố chống thuế. Ngày 10 tháng 1, 500 đại biểu tại Hội nghị tá điền Iubơnpua bỏ phiếu tán thành nghị quyết chống Uỷ ban Ximông và chống việc tǎng thuế mới. Ngày 4 tháng 2, hội nghị các tiểu chủ ở Sunrat cũng đã thông qua nghị quyết ấy.

Báo Mađratta, tuần báo có thế lực lớn xuất bản ở Puna, khuyên nên chống đối ở khắp nơi. Trong số ra ngày 12 tháng 2, báo đó viết: “Nếu tất cả những người nông dân bị bóc lột tại tất cả các địa phương nhất trí trong một mặt trận thống nhất chống Chính phủ thì có thể làm cho Chính phủ biết điều hơn trong chính sách nông nghiệp của mình”.

Ta nên nói thêm rằng Đảng công nông đã ghi vào chương trình ruộng đất của mình những yêu sách sau đây: quyền hoa lợi của đất trồng thuộc về nông dân và quốc hữu hoá đất đai!

WANG

——————————

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 38, ngày 18-4-1928
cpv.org.vn

Phong trào công nhân và nông dân mới đây tại Ấn Độ (5-1928)

Tại ấn Độ cũng như ở các thuộc địa khác, chủ nghĩa đế quốc Anh đang tìm cách chia rẽ giai cấp vô sản bằng cách thường xuyên khơi sâu những thành kiến về chủng tộc. Vì thế tất cả các chỗ làm được trả lương cao đều dành cho người Anh và những người lai Anh- ấn. Trong những nhà máy điện, những người này lĩnh mỗi ngày 15 rupi; họ có nhà ở sang trọng không phải trả tiền, trong khi thợ thuyền ấn Độ chỉ được từ 4 anna 1 đến 1,5 rupi mỗi ngày và nhà ở phải trả tiền. Trong ngành xe hoả, một người Anh hoặc người lai lĩnh tới 7 rupi mỗi ngày; trái lại, một thợ không chuyên ấn Độ chỉ được 8 anna và một công nhân được 13 anna mỗi ngày. Những viên chức người Anh và người lai, ngoài lương cao, còn có các trường học, vườn trẻ và hợp tác xã tiêu thụ mà Chính phủ hoặc các công ty dành riêng cho, cấm không cho người ấn Độ đến, trong khi ấy các viên chức bàn giấy người ấn chỉ lĩnh hằng tháng từ l0 đến 20 rupi.

Để đáp lại những đặc quyền đó, những viên chức người Anh và người lai hợp tác với giới chủ chống công nhân bản xứ. Các sự kiện đẫm máu ngày 28 tháng 3 vừa qua minh hoạ một cách rõ ràng thái độ bài vô sản của thứ thợ thuyền quý tộc này: những viên chức người Anh và người lai trên đường sắt Lilôa đã hợp tác tích cực với cảnh sát có vũ trang trong việc ám sát nǎm người bãi công có nhiệm vụ kiểm tra lệnh đình công.

Nhưng thợ thuyền ấn Độ đấu tranh không mệt mỏi chống các mưu mô của đế quốc và các thành kiến chủng tộc. Vì thế nên mặt trận chiến đấu của họ được củng cố hằng ngày, như nhiều cuộc đấu tranh vừa qua đã cho thấy.

Ngày 21 tháng 2, 400 thợ điện các lò cao tại Iamsétpua bãi công để đòi tǎng lương. Họ đòi 5 rupi mỗi ngày chứ không phải 14-15 anna như hiện đang lĩnh.

Ngày 5 tháng 3, sau khi sáu công nhân bị đuổi vì hoạt động nghiệp đoàn, 14.000 công nhân hoả xa ở Lilôa lãn công và, ngày 8, từ lãn công chuyển thành bãi công thực sự. Những người bãi công đòi cho các đồng chí bị đuổi được trở lại làm việc, đòi tǎng 25% lương và đòi tự do nghiệp đoàn. Xin nhắc lại rằng Liên đoàn Công nhân hoả xa tồn tại đã được mười nǎm mà vẫn chưa được Chính phủ và công ty công nhận.

Ngày 7 tháng 3, 10.000 thợ làm việc cho thành phố bãi công đòi 30 rupi mỗi tháng chứ không phải 14 như hiện nay họ lĩnh.

Ngày 9 tháng 3 có cuộc bãi công của 2.500 thợ nhà máy bông ở Lútlốc vì một người thợ bị tên đốc công đánh.

Ngày 15 tháng 3, 900 thợ nhà máy Paren (Bombay) đấu tranh để đòi tǎng lương.

Ngày 10 tháng 3 có một hội nghị của nhân viên bưu điện Mađrát.

Hiện nay họ chỉ lĩnh từ 10 đến 20 rupi mỗi tháng. Nhà ở của họ tiều tuỵ đến mức đáng sợ, trong khi những viên chức có đặc lợi, người Anh và người lai, lĩnh đồng lương đế vương và có nhà đầy đủ tiện nghi. Nhân viên bưu điện Mađrát đòi nâng lương từ 30 lên 40 rupi mỗi tháng. Ta hãy nhớ rằng một người đưa thư ở nông thôn, phụ trách đến 60 làng và đi bộ mỗi ngày 30 kilômét mà chỉ lĩnh có 16 rupi mỗi tháng.

Ngày 19 tháng 3, công nhân xe điện Mađrát họp hội nghị đặc biệt đòi tǎng lương và phản kháng công ty đuổi thợ mà không hoàn lại số tiền ký quỹ họ đã phải nộp khi được nhận vào làm.

Ngày 22 tháng 3, Đại hội Liên hiệp nghiệp đoàn tỉnh Bombay, thay mặt cho 30.000 công nhân có tổ chức họp tại Đamôda. Nhiều nghị quyết đã được thông qua. Những nghị quyết đó đòi: ngày làm tám giờ, định lương tối thiểu, lương phải trả hằng tuần, có tiền bảo hiểm xã hội cho những trường hợp thất nghiệp, ốm đau, sinh đẻ, già yếu cải thiện điều kiện nhà ở cho công nhân, bãi bỏ chế độ phạt tiền và chế độ khấu lương để đền bù dụng cụ và vật liệu hỏng, trả lại tự do cho những công nhân vì hoạt động nghiệp đoàn mà bị bắt. Đại hội có dự kiến thay thế các nghiệp đoàn nghề bằng các nghiệp đoàn công nghiệp. Về phương diện chính trị, Đại hội tuyên bố chống chiến tranh và chống các luật đàn áp. Đại hội cũng đã dự kiến tổ chức một Đảng Lao động để bảo vệ các quyền chính trị của người lao động.

Những cuộc đấu tranh này của công nhân chỉ là rất thường tình nếu ta xét đến hoàn cảnh vô cùng khổ cực của vô sản ấn Độ. Đây là một bảng so sánh minh hoạ số thu nhập theo đầu người, trong nhiều nước, do bác sĩ Hácđica lập ra vào tháng 5 nǎm 1927: Hoa Kỳ 1.116 rupi; Anh 696; Pháp 546; Đức 468, ấn Độ 15. Ta cũng nên nói qua rằng vấn đề nhà ở là một trong những cái ung đau nặng nhất của vô sản ấn Độ. Theo báo cáo của ông chủ tịch Liên hiệp thợ thuyền thành phố Mađrát, hơn 10.000 người lao động của thành phố này ngủ đêm ở các chuồng bò hoặc nhà xe, và điều này cũng đúng với những thành phố khác. Sự khổ cực kinh tế này làm cho tuổi thọ của người ấn Độ rất thấp. Dưới đây là so sánh tuổi thọ tǎng bình: Anh 51,5; Hoa Kỳ 50; Pháp 48,5; Đức 47,4; ấn Độ 24,7. Tỷ lệ tử vong ở ấn Độ cũng cao hơn ở bất kỳ nơi nào khác: Hoa Kỳ 12,9 phần nghìn; Anh 14,6; Đức 16,2 và ấn Độ 30!

Nông thôn cũng nổi dậy, ngày càng có phản ứng mạnh đối với tình trạng như vậy. Ngày 15 tháng 2, tại Viện dân biểu Miến Điện, Chính phủ thuộc địa đề nghị cử “những đại biểu đặc biệt” đến các huyện đang đặc biệt tích cực chống thuế. Đề nghị đó bị bác với 24 phiếu chống trên 18 phiếu thuận. Thất bại đó của Chính phủ đã gây chấn động trong nước; lại càng chấn động khi Chính phủ buộc phải thú nhận rằng biện pháp cử “những đại biểu đặc biệt” là cần thiết vì từ mấy tuần nay đã có đến 22 người thu thuế bị nông dân làm cho khốn đốn.

Để trả thù, ông thống đốc đã cấm 25 tổ chức nông dân và tôn giáo hoạt động và tǎng cường cảnh sát ở 44 huyện.

Ngày 19 tháng 3, khi một người của họ bị ngược đãi, các culi ở đồn điền trồng chè lớn tại Đíchgubác đã nổi dậy và đẩy những tên đốc công vào tình trạng khốn đốn. Biến cố nhỏ này có một ý nghĩa lớn: những công nhân nông nghiệp vốn rất dễ bảo và thụ động giờ đây đã thức tỉnh và biết tự vệ. Một dấu hiệu của thời đại! Phong trào chống thuế ở Bácđôlê tiếp tục. Họ tổ chức những nhóm người tình nguyện để bảo vệ những nông dân bị doạ tịch biên. Chính cảnh sát huyện cũng có cảm tình với nông dân và tuyên bố rằng họ sẽ không thực thi những lệnh đàn áp của Chính phủ.

WANG

———————–

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 43, tháng 5-1928
cpv.org.vn

Chủ nghĩa đế quốc, kẻ tiêu diệt người bản xứ (5-1928)

Từ sau chiến tranh, để khôi phục lại những đổ nát, chủ nghĩa đế quốc tǎng cường bóc lột thuộc địa. Ngay cả nước Bỉ nhỏ bé cũng thành công khi noi gương “vinh quang” của các láng giềng lớn là Anh, Pháp và những nước khác. Báo “Essor Colonial et Maritime Belge” (“Sự phồn vinh của Bỉ trong thuộc địa và trên biển) (14-7-27) thành thực viết: “Nếu không có Cônggô… nước Bỉ sẽ ra sao… không một chân trời chính trị, không một hy vọng về kinh tế nào cả!”. Thực vậy, nước Bỉ chỉ có Cônggô là thuộc địa. Nhưng nước Bỉ đã biết từ đó rút ra những món lợi đáng kể bằng cách phát triển kinh tế, kỹ nghệ và thương mại: Nǎm 1924, thương mại Bỉ ở Cônggô đạt 551 triệu phrǎng. Nǎm 1925, lên tới 981 triệu phrǎng.

Vì mạnh hơn nên đế quốc Pháp làm được nhiều hơn đế quốc Bỉ. Thương mại Pháp ở các thuộc địa nǎm 1927 – theo ông Phrǎngxoa Mácsan – lên tới một con số lớn gấp bốn lần nǎm 1913! Nói đến con số đó chẳng phải là nói ngoa, vì công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp mở rộng nhanh chóng từ nǎm này qua nǎm khác, như các con số sau đây cho thấy:

Thương mại riêng ở Tây Phi thuộc Pháp

(tính bằng triệu phrǎng):

1921 … 556

1922 … 599

1923 … 917

1924 … 1.347

1925 … 1.912

Thương mại riêng với các thuộc địa khác (trong 10 tháng đầu nǎm)

1925 1926

Angiêri 3.153 triệu 4.804 triệu

Tuynidi 701 – 1.244 –

Marốc 825 – 1.270 –

Mađagátxca 471 – 372 –

Đông Dương 1.162 – 1.934 –

Các thuộc địa khác 1.152 – 1.300 –

Anh, Italia và các nước thực dân khác cũng hành động như thế với các thuộc địa của mình.

Ngoài cái phồn vinh ấy, có được là nhờ vào người bản xứ, những người này còn bị đè nặng bởi vô số thuế má, lao động khổ sai và các phương tiện bóc lột khác (chiếm đoạt ruộng đất, bắt phải tiêu thụ rượu và thuốc phiện), những phương tiện khiến dân số của nhiều thuộc địa bị giảm đi nhiều.

Điều mà ai cũng biết là lao động khổ sai được thi hành ở tất cả các thuộc địa Pháp, Bỉ, Anh và những nước khác. Người Pháp gọi là “tạp dịch”, người Bỉ gọi là “lao động cưỡng bức”, người Anh gọi là “lao dịch”, v.v..

Tờ báo Bỉ nói trên thú nhận rằng “trong tất cả các thuộc địa, lao động cưỡng bức còn được coi và được sử dụng như một trong những đòi hỏi tất yếu của chế độ thuộc địa. Tuyên bố ngược lại chỉ có thể là ngu xuẩn, giả dối hoặc nguỵ trang… muốn chọn từ nào thì tuỳ ý”.

ở Hạ nghị viện Anh, ông Omxbai Gorơ, thứ trưởng Bộ thuộc địa, tuyên bố rằng “lao động của người bản xứ ở Kênya, được sung công, tối đa là 60 ngày mỗi nǎm, và ở Tây Phi thuộc Anh, mọi người phải lao động cưỡng bức để xây dựng đường xe hoả”.

Ông Lêông Periê, Bộ trưởng thuộc địa Pháp, ban bố những sắc lệnh để “cho người bản xứ quen với lao động đều đặn… bằng cách dạy dỗ họ, khuyến khích họ và cả bằng những biện pháp trừng phạt kỷ luật”.

Chưa hết. Đại tá Ônxen và tướng Huyghe, hai vầng hào quang

quân sự Bỉ đề xuất việc tập trung nghiêm ngặt 10.000 người lao động Cônggô, do các ông sếp người da trắng chỉ huy theo lối quân sự.

Hội quốc liên – ta hãy nhắc lại vì vinh dự của nó – cũng hoan nghênh việc thi hành lao động khổ sai. Đây là bản thông cáo báo chí của Vǎn phòng Quốc tế về Lao động (tháng 5-1927): “Một uỷ ban gồm những chuyên gia về lao động của người bản xứ hiện đang họp tại Vǎn phòng Quốc tế về Lao động để xem xét vấn đề lao động cưỡng bức của người bản xứ. Uỷ ban xem xét những nguyên tắc nêu lên trong bản tường trình của Vǎn phòng Quốc tế về Lao động để quy chế hoá lao động cưỡng bức trong trường hợp không thể bãi bỏ được nó…”.

Những người bản xứ bị cưỡng bức lao động được đối xử như thế nào?

Ta hãy nghe chính những người châu Âu thú nhận: Trong một bức thư gửi đến Hội các quyền lợi thuộc địa (10-28) 1 ông Bộ trưởng thuộc địa Bỉ viết: “… Các ngài biết rằng còn phải làm nhiều cho việc xử lý những người da đen được các tư nhân thuê làm; nhiều hãng tư nhân chưa làm được cái cần thiết để bảo đảm đời sống vật chất tối thiểu cho họ: đồng lương khốn khổ không đủ sống, thức ǎn, nhà ở, vệ sinh, v.v. thường không tốt…”.

Trong một lá thư gửi cho báo Manchester Guardian (Người bảo vệ Manséttơ), mục sư Oven tuyên bố rằng chế độ nô lệ độc đoán đã được áp đặt tại Kênya, rằng những người bản xứ phải đi bộ hàng trǎm dặm để đến nơi làm tạp dịch. Ông nêu lên những sự việc và những con số; ông ta viết: Tháng 10-1922, tôi gặp 471 người bản xứ trong đó có 421 phụ nữ (một số lớn có mang), thiếu niên nam và nữ. Họ phải đi bộ mỗi ngày 30 dặm để mang cỏ về cho chính quyền. Họ lĩnh mỗi ngày từ 1/2 penny đến 2 pence 2 . Tháng 8 nǎm 1924, ông gặp những người bản xứ khác bị bắt làm lao động tạp dịch như thế, nhưng lần này họ không được lĩnh một xu nhỏ.

Lao động khổ sai và những hậu quả của nó làm cho số người chết lên đến mức kinh khủng trong các thuộc địa. Trong các thuộc địa Pháp, như Xanh – Pie và Micơlông, Tân Êbrít thuộc Pháp, v.v. người thổ dân đang trên đà bị diệt vong.

Báo Times thú nhận rằng từ nǎm 1874, khi Phigi bị đặt dưới quyền đô hộ của Anh, dân số người bản xứ giảm một cách rõ rệt. Cũng tờ báo đó (17-12-1927) viết: dân bản xứ miền Bắc Ôxtrâylia bị đe doạ diệt vong nhanh chóng và có những bộ lạc trước kia rất đông đúc nay đã hoàn toàn biến mất vì thuốc phiện.

Hoàng tử Bỉ Lêôpôn cũng thú nhận rằng nòi giống Cônggô bị đe doạ tiêu diệt. Và, có lẽ dù chẳng muốn, ông cũng lên án chế độ thực dân Bỉ. Ông viết cho Đại hội thuộc địa:

“Trước khi chúng ta đến, có thể nói rằng người da đen không hề di chuyển. Những bệnh, như bệnh buồn ngủ, trước kia chỉ giới hạn ở một nơi, và chỉ hoành hành trong những vùng nhỏ hẹp.

“Do nhu cầu, ta đã lôi kéo người bản xứ phải di chuyển… Các bệnh truyền nhiễm, trước kia bị khoanh lại, nay đã lan dần trong cả thuộc địa, gây ra những tai hại lớn; nó càng lớn hơn khi không có được một biện pháp miễn dịch… Đối với những bệnh này, người da đen, do nuôi dưỡng tồi, chỉ có thể chống đỡ bằng một sức đề kháng yếu ớt, toàn bộ nòi giống họ phải chịu đựng tình trạng đó. Hơn nữa, công việc làm chung đòi hỏi họ phải tập trung trong những điều kiện vệ sinh mà… những kẻ thuê người làm không phải bao giờ cũng làm tốt được…”.

Hoàng tử kết thúc lá thư của mình bằng lời khuyên sau đây: “Ta chớ quên: lịch sử của nhiều chế độ thực dân đã cho thấy rằng nhiều dân tộc bản xứ bị tiêu diệt hoàn toàn khi tiếp xúc với nền vǎn minh của người da trắng”.

Ta có thể kết luận rằng mọi chế độ thực dân đế quốc đều tiêu diệt hết các nòi giống bản xứ, và muốn cứu vãn những nòi giống này, ta phải lật đổ chủ nghĩa đế quốc!

Wang

————————–

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 47, tháng 5-1928
cpv.org.vn

Thư gửi Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản (21-5-1928)

Béclin, ngày 21 tháng 5 nǎm 1928

Các đồng chí thân mến,

1. Tôi đã nhận đủ cái cần thiết để lên đường. Xin cảm ơn. Tôi sẽ ra đi vào khoảng tuần thứ ba tháng 5 này.

2. Do lúc này không thể trực tiếp liên lạc với các đồng chí, mọi sự liên lạc của tôi đều qua đồng chí Satô ở Liên đoàn chống đế quốc tại Béclin.

3. Trước khi lên đường, tôi xin phép trình bày mấy nhận xét về Ban thuộc địa thuộc Đảng Cộng sản Pháp.

Tôi đã thông báo với các đồng chí rằng Ban thuộc địa đó đã có nhiều tiến bộ (Trước kia chẳng có gì. Nay đã có những vǎn phòng và đồng chí thường trực). Tuy nhiên, mới làm được rất ít việc trong số những người bản xứ ở Pháp, ít ra trong những người Đông Dương. Báo chí. Đại hội. Tổ chức. Tất cả những thứ đó mới chỉ còn trên giấy. Tôi nghĩ rằng Ban thuộc địa thiếu sự linh hoạt trong công tác. Tôi xin kể trường hợp riêng của tôi. Trong một tháng rưỡi tôi ở Pari, vì đồng chí Đôriô đang ở tù, cho nên tôi không có dịp nào nói chuyện nghiêm túc với các đồng chí khác. Nhiều lần, tôi xin những địa chỉ chắc chắn để có thể liên lạc với họ khi tôi sẽ ở phương Đông, thì đồng chí có trách nhiệm đã từ chối không đưa cho tôi. Các đồng chí nói rằng Ban thuộc địa có một ngân quỹ dành cho công tác thuộc địa. Nhưng theo tôi biết quỹ hoàn toàn rỗng, thậm chí chẳng có gì để lo ǎn cho các đồng chí đi công tác qua.

Tôi kiến nghị:

a) Tài chính của Ban thuộc địa cần được các đồng chí kiểm soát.

b) Ban thuộc địa thường xuyên gửi đến các đồng chí những báo cáo về công tác đã làm và kế hoạch công tác sắp tới.

c) Ban thuộc địa phải tổ chức những phương tiện giao thông liên lạc đường Pháp – Đông Dương (qua Boócđô, Mácxây, Lơ Havơrơ), chuyển tên các đồng chí và tên các tàu đến chỗ Liên đoàn (đồng chí Satô) báo cho tôi biết, để tôi có thể bắt liên lạc với họ.

d) Sẽ là rất có ích nếu vài đồng chí của Đảng hay của Đoàn thanh niên Nga chịu trách nhiệm sǎn sóc các sinh viên Đông Dương ở Mátxcơva, giúp họ tìm hiểu đời sống công nhân và thực hành công tác tổ chức (tất cả họ không thuộc thành phần vô sản và, theo như tôi có thể nhận xét, họ biết rất ít các phương pháp tổ chức).

Xin gửi lời chào cộng sản.
NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————–

Thư đánh máy bằng tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn