Archive | 2012

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9: Mặt trận Việt Minh với Cách mạng tháng Tám

Vào những ngày này, toàn Đảng, toàn dân ta đang bằng những việc làm cụ thể để thiết thực kỷ niệm lần thứ 67 ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nhân ngày lịch sử trọng đại này, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại những trang sử đấu tranh oanh liệt và hào hùng của dân tộc ta dưới ngọn cờ của Mặt trận Việt Minh do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương sáng lập.

Bác Hồ và Bác Tôn gặp gỡ một số đại biểu tại
Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt tháng 3-1951

Ảnh: TL

Như chúng ta đều biết, ngày 1-9-1939, Chiến tranh Thế giới lần thứ hai bùng nổ. Nó phát triển nhanh với mức độ ngày càng ác liệt, làm cho tình hình quốc tế cũng như trong nước có những chuyển biến hết sức mau lẹ.

Ở trong nước, Nhật, Pháp thi nhau đàn áp, vơ vét làm cho nhân dân, kể cả tư sản, địa chủ, trí thức cũng phẫn uất và đẩy họ ngả về phe cách mạng. Thấy rõ sự chuyển hướng của tình hình, đầu năm 1941, sau 30 năm đi tìm con đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về để trực tiếp cùng Trung ương lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Sau một thời gian chuẩn bị, Người thay mặt Quốc tế Cộng sản triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám (khóa I) họp từ ngày 10 đến 19-5-1941 tại Pắc – bó (Cao Bằng). Hội nghị đã xem xét lại toàn bộ chiến lược của Đảng Cộng sản Đông Dương và đề ra những chủ trương, quyết sách mang tính lịch sử.

Phân tích những diễn biến của cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, Hội nghị nhất trí với những đánh giá của các Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (tháng 11-1939) và lần thứ 7 (tháng 11-1946), đồng thời dự báo: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô – một nước xã hội chủ nghĩa – thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”.

Về tình hình trong nước, Hội nghị nhận định: Mặc dù bị kẻ thù đàn áp dã man, song phong trào cách mạng xứ Đông Dương vẫn sôi nổi và phát triển mạnh mẽ. Cách mạng Việt Nam lúc này phải là cách mạng dân tộc giải phóng, chứ không phải là cách mạng tư sản dân quyền. Để cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi, công việc cốt yếu của Đảng lúc này là phải liên minh tất cả các lực lượng của các giai cấp, đảng phái, các nhóm cách mạng cứu nước, các tôn giáo, các dân tộc để kháng Nhật. Trước mắt, tất cả các yêu sách của bộ phận mà có hại đến quyền lợi của dân tộc thì phải gác lại để giải quyết sau. Vì vậy, Hội nghị quyết định tạm gác khẩu hiệu cách mạng thổ địa để lôi kéo địa chủ tiến bộ, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất chống Pháp, Nhật. Hội nghị nhận định:

“Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, không thực hiện được độc lập, tự do cho toàn dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp vạn năm cũng không đòi lại được”.

Để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, theo đề nghị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Khẩu hiệu chính của Việt Minh là: Phản Pháp, kháng Nhật, liên Hoa, độc lập. Không chỉ đề cập đến những vấn đề chủ trương, chính sách Mặt trận, Hội nghị Trung ương 8 còn đề ra một cách toàn diện những vấn đề về nội dung, nhiệm vụ, phương thức tổ chức và hoạt động của Mặt trận Việt Minh và các tổ chức, đoàn thể quần chúng.

Hội nghị nêu rõ: Khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm và quyết định lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ của Mặt trận Việt Minh và sẽ là cờ của Tổ quốc khi giành được chính quyền.

Ngày 25-10-1941 Việt Minh công bố Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ. Chương trình của Việt Minh nêu rõ: Muốn cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi, Việt Minh phải liên hiệp hết thẩy các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, đảng phái, xu hướng chính trị, giai cấp. Tất cả đoàn kết lại để đánh đuổi Pháp – Nhật giành quyền độc lập cho xứ sở, đồng thời phải hết sức giúp đỡ Ai Lao và Cao Miên để cùng thành lập Đông Dương độc lập đồng minh.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, Mặt trận trình bày rõ ràng đường lối, chính sách, phương pháp tiến hành và tổ chức lực lượng đấu tranh để thực hiện mục đích cứu nước của mình.

Nhờ có chính sách đúng đắn, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của các tầng lớp nhân dân mà tổ chức và phong trào Việt Minh phát triển nhanh chóng và lan rộng ra khắp nước.

Ngày 7-5-1944 Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị “Về sửa soạn khởi nghĩa”. Tháng 10-1944 lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc có thư Kính cáo đồng bào, kêu gọi các bậc phú hào yêu nước, công, nông, binh, phụ nữ, công chức, tiểu thương cần nhận rõ trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại để đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi, lửa bỏng. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm.

Ngày 22-12-1944 thay mặt Tổng bộ Việt Minh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ra Chỉ thị thành lập Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Ngày 9-3-1945 Nhật hất cẳng Pháp. Nhân sự kiện này, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã kịp thời ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Thực hiện Chỉ thị trên, cao trào cách mạng xuất hiện ở nhiều nơi; Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập. Lợi dụng thời cơ phát xít Đức đầu hàng Liên Xô và các nước đồng minh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc kêu gọi đồng bào hãy vùng lên dưới ngọn cờ của Việt Minh, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Tổng bộ Việt Minh triệu tập Đại hội Quốc dân tại Tân Trào trong 2 ngày 16 và 17-8-1945. Đại hội đã nhiệt liệt tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa do Đảng Cộng sản Đông Dương kiến nghị, thông qua Lệnh Tổng khởi nghĩa và 10 chính sách lớn của Việt Minh, quyết định Quốc kỳ, Quốc ca. Đại hội đã cử ra Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam – một hình thức của Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam do lãnh tụ Hồ Chí Minh – tức Nguyễn Ái Quốc – làm Chủ tịch.

Chỉ trong vòng hai tuần lễ, cuộc Tổng khởi nghĩa do Việt Minh phát động đã thành công trên phạm vi cả nước, đưa Cách mạng tháng Tám đến thắng lợi, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 25-8-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Theo đề nghị của Người, Ủy ban giải phóng dân tộc được đổi thành Chính phủ lâm thời nhằm thực hiện sự đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các đảng phái yêu nước và các nhân sĩ tiến bộ.

Ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội đã diễn ra cuộc mít tinh chào mừng Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Đại diện Tổng bộ Việt Minh Nguyễn Lương Bằng đọc diễn văn khái quát lại vai trò, sứ mệnh lịch sử vinh quang của Mặt trận Việt Minh trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và đọc Lời hiệu triệu đồng bào cả nước, trong đó nêu rõ: Quyền độc lập của chúng ta còn mong manh. Giành chính quyền là một việc khó, giữ vững chính quyền lại càng khó hơn. Việt Minh suốt mấy năm nay kiên quyết phấn đấu, chịu bao hy sinh, đau đớn mới có được độc lập. Ngày nay chính quyền đã được thành lập, Việt Minh không cho thế là đủ. Việt Minh biết rằng: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm. Bởi vậy, Tổng bộ Việt Minh quyết lãnh đạo đồng bào san phẳng mọi trở lực đặng giữ vững quyền độc lập. Tổng bộ Việt Minh kêu gọi quốc dân đồng bào quyết tâm giữ vững độc lập đã giành được, không trông chờ vào người khác, một lòng ủng hộ Chính phủ, sẵn sàng đập tan kế hoạch xâm lược của thực dân Pháp. Khẩu hiệu của toàn dân ta lúc này là: “Đoàn kết, phấn đấu, củng cố nền độc lập”. Lúc này, ai là người yêu nước đều có bổn phận phụng sự Tổ quốc. Người có tiền giúp tiền; kẻ có sức giúp sức, người có tài trí giúp tài trí. Tất cả phải góp sức để xây dựng lâu đài dân tộc Việt Nam phú cường.

Chuyển sang thời kỳ phát triển mới của cách mạng, chính quyền nhân dân được thành lập từ Trung ương đến địa phương trong cả nước. Mặt trận Việt Minh không còn làm chức năng chính quyền như trước. Hoạt động của Mặt trận lúc này là nhằm củng cố và phát triển tổ chức Mặt trận, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, làm chỗ dựa vững chắc cho chính quyền và động viên nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ đất nước trước những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua nổi do thiên tai, địch họa gây ra như: nạn đói đe dọa sinh mạng hàng triệu đồng bào; âm mưu “tiêu diệt Đảng ta”, “phá tan Việt Minh” của 18 vạn quân Quốc dân Đảng Trung Hoa và bọn phản cách mạng Việt Nam ở phía Bắc; bọn quân Anh ở phía Nam giúp thực dân Pháp nổ súng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam từ ngày 23-9-1945.

Qua những việc làm cụ thể, đặc biệt sau sự kiện Đảng tuyên bố tự giải tán để tránh mũi nhọn tiến công của kẻ thù, vai trò Việt Minh trong đời sống chính trị của đất nước ngày càng được đề cao. Mặt trận Việt Minh – hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc – có thêm nhiều thành viên mới, cả thành viên tổ chức lẫn cá nhân. Đó là các đảng phái chính trị, các nhân sĩ yêu nước, những trí thức tiêu biểu thuộc các tầng lớp trên của xã hội.

Để phân hóa hàng ngũ các đảng phái chính trị phản động bám gót quân Tưởng, Việt Minh ký Tuyên ngôn đoàn kết với Việt Nam Cách mạng đồng minh Hội; ký Thỏa hiệp với Việt Nam Quốc dân Đảng; ký thỏa thuận với Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh đồng minh Hội về việc thành lập Chính phủ liên hiệp v.v… Nhiều đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng trong Chính phủ là cán bộ Việt Minh đã được Quốc dân Đại hội Tân Trào bầu ra đã tự nguyện nhường lại 70 ghế trong Quốc hội cho các tổ chức, đảng phái không chỉ thể hiện đạo đức trong sáng mà còn chứng tỏ chính sách đại đoàn kết trước sau như một của Việt Minh do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã có tác dụng lôi kéo những người do dự, kể cả những người vốn có tư tưởng chống đối, về với nhân dân, với cách mạng. Bằng uy tín cá nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn quy tụ được nhiều nhân vật tiêu biểu của chế độ cũ tham gia Mặt trận dân tộc thống nhất.

Đánh giá vai trò của Mặt trận Việt Minh, Tuyên ngôn của Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt họp tháng 3-1951 nêu rõ: “Việt Minh có công lớn trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, chống quân cướp nước. Công đức ấy tất cả mọi người Việt Nam phải ghi nhớ. Lịch sử của Việt Minh 10 năm đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc cũng là những trang sử vẻ vang vào bậc nhất của dân tộc Việt Nam ta”.

Nguyễn Túc
Ủy viên Đoàn Chủ tịch
UBTƯ MTTQ Việt Nam
daidoanket.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng: Ngày ấy, bây giờ

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đập tan ách áp bức thực dân gần 100 năm và chế độ phong kiến đã tồn tại hàng nghìn năm ở nước ta, một chế độ mới ra đời – chế độ dân chủ nhân dân, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, nhưng chưa thể bắt tay vào lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải lãnh đạo cách mạng nước ta vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” giành thắng lợi trong xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng. Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định giành và giữ vững chính quyền trong và sau Cách mạng Tháng Tám.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thành quả tổng hợp của các phong trào cách mạng do Đảng phát động, lãnh đạo và duy trì trong suốt 15 năm sau ngày thành lập Đảng: Cao trào Xôviết Nghệ – Tĩnh, Cuộc vận động Dân chủ trong những năm 1936-1939 và Phong trào giải phóng dân tộc năm 1939- 1945. Đây là một trong những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong thế kỷ XX. Với thắng lợi đó, “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 năm tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 6, tr. 159).

Sau Cách mạng Tháng Tám, Chính phủ lâm thời chính thức ra mắt quốc dân đồng bào, chính quyền cách mạng từng bước được thiết lập ở tỉnh, huyện, xã. Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, cùng Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể chính trị – xã hội đã tạo nên chỗ dựa vững chắc cho chính quyền cách mạng non trẻ. Nhân dân Việt Nam ngày càng tin tưởng vào Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tích cực tham gia các phong trào cách mạng do Đảng phát động và lãnh đạo. Tuy nhiên, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta lại phải đương đầu với những khó khăn, thách thức chưa từng có. Song, với sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng nước ta vượt qua tình thế hiểm nghèo, giữ vững chính quyền cách mạng, chủ động chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc giành thắng lợi.

Thắng lợi về giành và giữ vững chính quyền trong và sau Cách mạng Tháng Tám là nhờ đường lối đúng đắn của một Đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam) trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin; luôn coi việc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa ấy là nhiệm vụ và trách nhiệm của mình. Một Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc, biết phát huy mạnh mẽ sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và ngoài Mặt trận Việt Minh; một Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo tài tình… Trong lãnh đạo tổ chức thực tiễn Đảng ấy, đã dự báo đúng đắn sự phát triển của tình hình cách mạng; thấy rõ thuận lợi và những khó khăn, thách thức; linh hoạt, sáng tạo, biết lợi dụng mâu thuẫn trong kẻ thù, cô lập kẻ thù, thêm bạn bớt thù, tập trung vào kẻ thù chính; biết nắm bắt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, vượt qua thách thức… Điều này, chủ yếu do Đảng luôn coi trọng xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Mỗi tổ chức đảng là một pháo đài chiến đấu, cán bộ lãnh đạo các cấp thực sự là những tấm gương sáng ngời vì nước, vì dân, đội ngũ đảng viên tuy không nhiều, nhưng mỗi đảng viên thực sự là một chiến sĩ tiên phong không ngại gian khổ, hy sinh kể cả tính mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Đó là những người có tính đảng cao và tình đồng chí sâu sắc; có đạo đức cách mạng trong sáng; có năng lực tư duy sáng tạo; gắn bó mật thiết với nhân dân, hoà vào dân, ăn sâu, bám chắc trong nhân dân; cùng nhân dân vượt qua biết bao khó khăn, gian khổ, hy sinh giành và giữ vững chính quyền trong điều kiện gặp nhiều khó khăn, thách thức quyết liệt và trong tình thế hiểm nghèo. Những cán bộ, đảng viên ấy, đã được dân tin, dân phục, dân yêu. Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định giành và giữ vững chính quyền trong và sau Cách mạng Tháng Tám, là bài học lớn về xây dựng Đảng ta.

Trong điều kiện hiện nay, trước yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bảo vệ toàn vẹn biên giới, biển đảo; sự diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế; sự biến đổi nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới và quan hệ quốc tế; sự phá hoại của các thế lực thù địch; một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cấp cao suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đội ngũ cán bộ cấp Trung ương là cấp chiến lược rất quan trọng nhưng chưa được xây dựng một cách cơ bản; nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức…Tình hình đó, đặt Đảng và công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH trên đất nước ta trước những khó khăn, thách thức quyết liệt mới. Bài học “xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nhân tố hàng đầu quyết định giành và giữ vững chính quyền trong và sau Cách mạng Tháng Tám” vẫn còn nguyên giá trị và có ý nghĩa lớn để Đảng xây dựng bản thân mình vững mạnh, đưa công cuộc đổi mới vượt qua khó khăn thách thức đến thắng lợi.

Đảng đã ra Nghị quyết Trung ương 4, khoá XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay”, nhằm xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Ðể thực hiện thắng lợi Nghị quyết này, Ðảng đã đề ra bốn nhóm giải pháp. Trong đó, Nghị quyết đặt lên hàng đầu nhóm giải pháp tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên. Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp Trung ương đã tiến hành tốt công việc này, đạt kết quả quan trọng, tạo tiền đề, động lực và điều kiện thuận lợi cho cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng thực hiện tự phê bình và phê bình đúng đắn, nghiêm túc, đạt kết quả. Đây là nhân tố đặc biệt quan trọng để xây dựng Đảng ta vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, để Đảng tiếp tục xứng đáng là người lãnh đạo, người tổ chức mọi thắng lợi của công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc, toàn vẹn Tổ quốc trong điều kiện hiện nay.

PGS,TS Đỗ Ngọc Ninh
daidoanket.vn

Bức ảnh “Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số thành viên Chính phủ ”

Tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam số 90, tháng 4 năm 2001 có đăng bức ảnh với chú thích: “Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (ngày 3/11/1946)”. Đến tháng 8 năm 2002, số 121, Tạp chí này đăng lại bức ảnh này với những dòng chú thích dài và cụ thể hơn: “Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ Lâm thời (ngày 2/9/1945) – Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ảnh chụp tại cửa chính Bắc Bộ Phủ. Trong ảnh gồm có các vị (từ trái qua phải) Hàng thứ nhất: Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Hòe, Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Nguyễn Văn Tố; Hàng thứ 2: Nguyễn Mạnh Hà, Hoàng Tích Trí, Vũ Trọng Khánh, Dương Đức Hiền; Hàng thứ 3: Phạm Văn Đồng, Hoàng Minh Giám, Cù Huy Cận.

Chúng tôi xin được bàn thêm về bức ảnh này như sau:

Theo sử sách, chiều 2/9/1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa mà đầy đủ là Chính phủ nhân dân lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra mắt với 15 thành viên. 12 nhân vật có mặt trong bức ảnh được đặt tên là “Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (ngày 3/11/1946)” hay “Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ lâm thời (ngày 2/9/1945) – Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa” có hai vị chưa phải là Bộ trưởng thời điểm bấy giờ: Hoàng Tích Trí (ngày 3/11/1946 mới được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Y tế) và Hoàng Minh Giám (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao từ năm 1947 đến tháng 4 năm 1954); nhưng lại vắng mặt tới 5 Bộ trưởng trong Chính phủ Lâm thời lúc bấy giờ: Đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chu Văn Tấn; Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính Đào Trọng Kim; Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch; Bộ trưởng Bộ Lao động Lê Văn Hiến và Bộ trưởng Không bộ Nguyễn Văn Xuân. Như vậy, nếu chú thích đúng phải là “Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số thành viên Chính phủ…”.

lịch trinhẢnh tư liệu gia đình cố luật gia Vũ Đình Hòe cung cấp.

Cụ Vũ Đình Hòe, cố Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục đầu tiên của Chính phủ nhân dân lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn kể rằng:

“Vào những năm đầu thập niên 1960 của thế kỷ trước, có một người học trò cũ của tôi làm việc ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự ghé thăm tôi ở nhà riêng 27, Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Anh ấy đem cho tôi bức ảnh này và dặn:

– Thầy cất đi! Em thấy cái ảnh này nằm trong trong đống tài liệu. Thấy có thầy, em giữ lại để thầy làm kỷ niệm.

Do anh Vũ Thế Khôi (Trưởng nam của cụ Vũ Đình Hòe – SK&NC) công khai, sau đó ít lâu bức ảnh này được một vài tờ báo và tạp chí trong nước đăng tải với những chú thích khác nhau. Rồi Thông tấn xã Việt Nam có giấy giới thiệu cử người đến gặp tôi xin chụp lại để làm tài liệu lưu trữ. Sau ngày thống nhất nước nhà, bức ảnh cũng đã được đăng ở vài tờ báo khác nữa, mỗi tờ chú thích khác nhau”.

– Thưa cụ, cụ còn nhớ ai chụp bức ảnh này không ạ? – Tôi hỏi.

– Tôi không nhớ ai chụp đâu. Vì tới gần 20 năm sau tôi mới có được bức ảnh quý giá này. Có thể là của anh Nguyễn Bá Khoản.

Cùng ngồi “hầu chuyện” cụ hôm đó còn có người thầy dạy tiếng Nga cho tôi thời sinh viên là Nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi. Thầy Khôi nửa đùa nửa thật hỏi:

– Sao cụ nhanh chân thế! Đứng ngay bên phải Cụ Hồ?

Cụ Hòe nghiêm sắc mặt lại rồi nói tiếp:

– Từng vị trí trong ảnh này là do Bác Hồ sắp xếp. Người đầu tiên là anh Trần Huy Liệu, bên trái. Rồi đến tôi – bên phải. Bác xếp theo kiểu tả tướng quân, hữu tướng quốc.

Tôi hỏi tiếp:

– Thưa cụ, cụ nhớ bức ảnh này được chụp ở đâu không ạ?

Cụ đáp:

– Bức ảnh được chụp ở bậc tam cấp chánh tòa Đông Dương đối diện với nhà Thủy Tạ bên Hồ Gươm. (Tòa này sau đó bị phá đi, thay bằng nhà vệ sinh công cộng và sân tập bóng rổ, đến những năm đầu thập niên 1990, dự án khách sạn Hà Nội Vàng cao 15 tầng không thành và được thay bằng tòa nhà của Bảo Việt hiện nay)

Có nghĩa là những dòng chú thích về bức ảnh “Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ lâm thời (ngày 2/9/1945), Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa” hay “Chính Phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 3/11/1946)” chụp tại Bắc Bộ Phủ đều chưa chính xác.

Cố luật gia, cố Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục đầu tiên sau đó là Bộ trưởng Bộ Tư pháp (1946-1961) của chế độ Dân chủ cộng hòa Vũ Đình Hòe hiện đã qua đời nhưng câu chuyện cụ kể cho chúng tôi về bức ảnh như là một lời nhắc nhở rằng, trong bất kỳ sự kiện nào người chụp ảnh báo chí, biên tập ảnh báo chí cần bảo đảm tính thông tin chính xác về bức ảnh được đăng tải.

Theo NSNA Trần Định/ Báo Quân đội nhân dân
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Kỷ niệm về những ngày Hồ Chủ tịch viết Tuyên ngôn độc lập

Gia đình bà Hoàng Thị Minh Hồ ở 48 Hàng Ngang (Hà Nội) không chỉ là cơ sở bí mật của các cán bộ cao cấp mà còn là nơi che giấu cho Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo Bản Tuyên ngôn độc lập. Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Cách mạng Tháng Tám, bà đã kể lại những kỷ niệm đó.

“Một hôm, cuối Tháng Tám năm 1945, anh Thận (tên gọi thân mật của đồng chí Trường Chinh) đến nói với tôi: “Chị lo một chỗ cho mấy Cụ về”. Thấy vẻ mặt anh Thận khác mọi lần, tôi linh cảm có điều gì quan trọng, nhưng không dám hỏi thêm. Tối hôm đó, có ba người lạ đến, trong đó có một ông Cụ dáng cao, người gầy, nhưng đôi mắt rất sáng và vầng trán rộng. Tôi băn khoăn không hiểu ông Cụ là ai mà mọi người kính trọng yêu thương như tình cha con trong gia đình lễ giáo vậy! Tôi thầm nghĩ, ông Cụ là một người có cương vị tối cao.

Theo kế hoạch của Thường vụ Trung ương Đảng, ngày 23/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội chuẩn bị cho Lễ Tuyên ngôn độc lập và Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào. Trong những ngày đầu cách mạng, Hồ Chủ tịch và các cán bộ trong Thường vụ Trung ương gặp muôn vàn khó khăn nguy hiểm bởi hàng ngày, hàng giờ kẻ thù luôn rình rập ám hại Chủ tịch hòng dập tắt phong trào cách mạng. Trong điều kiện “ngàn cân treo sợi tóc” đó, có những gia đình không quản hy sinh tính mạng và của cải, hết lòng vì cách mạng, cùng với lực lượng Cảnh vệ che giấu, bảo vệ Bác Hồ và Thường vụ Trung ương. Một trong những gia đình đó là gia đình bà Hoàng Thị Minh Hồ.

Gia đình bà Hồ đã ủng hộ cách mạng và hiến cho Nhà nước hàng nghìn cây vàng (chỉ tính riêng quỹ Độc lập, gia đình bà đã ủng hộ số tiền tương đương 500 cây vàng). Gia đình bà còn là cơ sở bí mật của nhiều cán bộ cấp cao như Nguyễn Lương Bằng, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…

Hàng ngày bị cuốn hút bởi bao công việc, tôi vẫn canh cánh lo toan phần việc trên gác 2 nhà mình, cắt cử người nhà cơm nước và làm mọi việc trong nhà, không ai được lên tầng 2. Đêm nào tôi cũng nghe tiếng máy chữ của ông Cụ rất khuya. Chuông đồng hồ điểm 12 tiếng, đèn trên phòng của Cụ mới tắt, nhưng đồng hồ điểm 5 tiếng, đã thấy ông Cụ dậy tập thể dục ngoài ban công.

Tối 1/9/1945, ông Nguyễn Lương Bằng đưa cho tôi một tấm thiếp mời của Ban Tổ chức Chính phủ lâm thời do Cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch ra mắt Quốc dân tại vườn hoa Ba Đình. Gần 10h sáng hôm sau, tôi mới vào được khu vực khách mời dự, sát lễ đài. Hai giờ chiều, buổi lễ bắt đầu, tiếng hô to, kéo dài vang vọng: “Chào cờ…”. Cả biển người im phăng phắc. Đoàn quân nhạc cử Quốc ca. Người tôi sởn gai ốc, nước mắt lăn dài trên hai gò má. Dứt tiếng Quốc thiều, mắt đang nhòa lệ, tôi nhìn lên kỳ đài thấy ông Cụ – người đã từng ở gác 2 nhà tôi. Đó chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh đang dõng dạc hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Lời Người nghe như lời non nước vọng lại làm cả biển người đồng thanh hô vang: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Nước mắt tôi lại trào dâng, cảm giác ngây ngất, nhưng vẫn nghe rõ lời ông Cụ đọc. Tôi lại bâng khuâng liên tưởng đến những đêm với tiếng máy chữ của ông Cụ gõ trong khuya, tạc lên áng văn rửa nỗi nhục mất nước ngót trăm năm và khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Một tuần sau ngày Cụ Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, Cụ cho gọi vợ chồng tôi lên gặp. Chưa hiểu có chuyện gì, trong lòng thấy lo. Tôi nghĩ, hay mình làm việc gì không phải để Cụ không hài lòng. Khi vợ chồng tôi lên, thấy ông Cụ cầm một chiếc ngà voi, trên có khắc một đàn voi, vòi con nọ quấn lấy con kia. Trao món quà cho tôi, Cụ mỉm cười nói rất thân mật:

– Bác và Thường vụ tặng gia đình cô món quà, chúc gia đình và cách mạng đoàn kết như đàn voi này.

Nhận món quà từ tay Cụ Hồ trao, tôi xúc động quá, tự nhiên thấy cay cay nơi sống mũi, rồi nước mắt cứ ứa ra, muốn nói mà ấp úng mãi mới thành lời:

– Thưa Cụ, gia đình cháu xin cảm ơn Cụ, cảm ơn cách mạng, nguyện suốt đời đi theo cách mạng.

Thời gian thấm thoắt trôi đi, nhưng những kỷ niệm về Bác Hồ trong những ngày đầu cách mạng vẫn in sâu trong ký ức tôi. Giờ đây, đến thăm lại nơi Bác làm việc trong những ngày đầu cách mạng ở tầng hai ngôi nhà 48 Hàng Ngang mà gia đình tôi đã hiến cho Nhà nước, tôi như thấy Bác đang ngồi kia vạch đường chỉ lối, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến bến bờ vinh quang, hạnh phúc”.

Theo Quân Đội Nhân Dân
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Lịch trình Bác Hồ về Hà Nội dự Lễ Quốc khánh đầu tiên – Ngày 2/9/1945

Trong những ngày cuối tháng 8 năm 1945, sau Tổng khởi nghĩa –  Cách mạng Tháng Tám thành công, Biên niên sử Hồ Chí Minh (tới năm 1945) ghi các sự kiện lớn như sau:

– Ngày 22 tháng 8: Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Tân Trào về Hà Nội. Người chưa khỏi bệnh, còn mệt nhiều, có lúc phải nằm cáng.

– Ngày 26 tháng 8: Buổi sáng, tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng chuẩn bị ra Tuyên ngôn độc lập.

Lich trinh Bac Ho ve HNChủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 (Ảnh tư liệu)

– Ngày 27 tháng 8: Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập cuộc họp của Ủy ban Dân tộc giải phóng. Người được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

– Ngày 28 và ngày 29 tháng 8: Từ nơi ở là ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh hàng ngày tới làm việc tại ngôi nhà số 12 phố Ngô Quyền – trụ sở của Chính phủ lâm thời. Người dành phần lớn thì giờ soạn thảo Bản Tuyên ngôn độc lập. (Báo cáo viên năm 2005, Ban TT- VH, trang 230).

Ngày 2/9/1945 diễn ra cuộc mít tinh vô cùng trọng thể tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội): Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên đọc Bản Tuyên ngôn độc lập và ra mắt Chính phủ lâm thời…

Ông Nguyễn Thu Cờ, một cán bộ ngành Công an Hà Nội đã chứng kiến và ghi chép thêm những sự kiện lớn về Bác Hồ trong những ngày từ Tân Trào tới Hà Nội với một lịch trình chi tiết như sau:

– Buổi tối ngày 24/8/1945, Bác Hồ đến nghỉ tại nhà ông Công Ngọc Kha (tức Trần Lộc) ở làng Gạ (nay là làng Phú Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm) ngoại thành Hà Nội, là một cơ sở cách mạng tin cậy.

– Sáng ngày 25 tháng 8: Tại làng Ga, Bác Hồ nghe ông Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh báo cáo tình hình khởi nghĩa ở Hà Nội. Đến buổi chiều, Người đi ô tô vào Hà Nội. Ông Trường Chinh đón Bác cùng đi đến số nhà 48 Hàng Ngang (nhà của vợ chồng ông Trịnh Văn Bô là một thương gia đã tham gia phong trào Việt Minh ở Hà Nội).

– Ngày 27 tháng 8: Ngay tại số nhà 48 Hàng Ngang, sau khi soạn thảo văn kiện lịch sử “Tuyên ngôn độc lập” Bác Hồ có tâm sự với ông Vũ Đình Hòe, Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục là Người cảm thấy xúc động và phấn khởi. Trong những giờ phút ấy, Người đã trải qua ốm nặng nhưng hơn bao giờ hết Người thấy sảng khoái, minh mẫn, khỏe mạnh khi Người nghĩ rằng Người sẽ được tuyên bố với đồng bào mình và trên thế giới rằng “sau bao nhiêu năm gian khổ hy sinh, nhân dân Việt Nam cuối cùng cũng đã đạt được mục đích thiêng liêng”.

Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các vị Bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Ủy ban Dân tộc giải phóng để quyết định cải tổ mời thêm một số nhân sĩ tham gia Chính phủ để cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề mà quốc dân giao phó cho. Ngày 28 tháng 8, khi đưa ra Bản Tuyên ngôn độc lập để góp ý, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra hiệu cho ông Hoàng Minh Giám, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao đọc lên Bản Tuyên ngôn đồng thời phát cho mỗi Bộ trưởng một bản sao đánh máy để các vị ghi ý kiến đóng góp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sửa đổi vài ba ý kiến nhỏ, xong mọi người tán thành, rồi ký tên. Sau đó có chụp ảnh lại.

– Chiều ngày 28 tháng 8, Ban Tổ chức Thành bộ Hà Nội mở cuộc họp đưa ra việc cần kíp xây dựng một Lễ đài Độc lập uy nghi xứng đáng một Lễ đài Độc Lập.

– Ngày 29 tháng 8 bản thông báo được đăng trên các báo với nội dung: “Ngày 02/9/1945 Chính phủ lâm thời cách mạng sẽ làm lễ ra mắt quốc dân đồng bào, tuyên bố độc lập tại vườn hoa Ba Đình, đồng bào nào có nhiệt tâm góp sức, góp của vào việc tổ chức ngày lễ hết sức trọng đại này. Vậy đồng bào nào có thể đảm nhiệm được trọng trách này. Ngay sau đó có họa sĩ Lê Văn Đệ xin dựng Lễ đài, tiếp theo sau đó có kiến trúc sư Ngô Đình Quỳnh vẽ bản thiết kế lễ dài, vị trí dựng lễ đài, chiều cao, chiều rộng. Ban tổ chức giao cho hai anh Ngô Đình Quỳnh và Lê Văn Đệ thiết kế, thi công và trang trí.”

– Đúng 5 giờ sáng ngày 02/9/1945, Ban Tổ chức nghiệm thu công trình. Sau 48 giờ, Lễ đài Độc lập hoàn thành tại Quảng trường Ba Đình, đã được ghi vào lịch sử của dân tộc.

– Từ 10 giờ sáng ngày 02/9/1945, các đoàn thể các giới bao gồm công nhân, viên chức ở các công sở, các nhà máy đóng tại Hà Nội, các đoàn thể Thanh niên, Phụ nữ cứu quốc ở các khu phố, nữ tiểu thương ở các chợ, anh chị em nông dân ở ngoại ô tỉnh Hà Nội, học sinh Trường Bưởi, Trường nữ sinh Đồng Khánh, Trường tư thục Gia Long, Trường Thăng Long, các đoàn thể hướng đạo sinh, anh em Cảnh sát cứu quốc. Ngoài ra, còn có hai chi đội quân giải phóng từ chiến khu Việt Bắc trở về phối hợp với anh em Công an cách mạng đầu tiên ở Bắc Bộ và Hà Nội làm nhiệm vụ trật tự và bảo vệ.

– Đúng 14 giờ chiều ngày 02/9/1945, Thành bộ Hà Nội tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại Quảng trường Ba Đình trước hàng chục vạn đồng bào Hà Nội. Trên lễ đài cao và trang nghiêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông nam Châu Á.

Tiếp đó, toàn thể các Bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời làm Lễ Tuyên thệ trước quốc kỳ “cờ đỏ sao vàng” cùng với toàn thể đồng bào đứng nghiêm chỉnh ở Quảng trường Ba Đình giơ tay hô lớn “Xin thề”. Sau Lễ Tuyên thệ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp trình bày về tình hình đánh thắng Pháp ở hai trận Phay Khắt và Nà Ngần ở tỉnh Cao Bằng và phá tan 500 quân Nhật đánh vào Tân Trào, Hồng Thái. Tiếp theo, Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu báo cáo với đồng bào về việc đoàn đại biều của Chính phủ lâm thời đi Huế nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại và chiếc “quốc ấn”, “quốc kiếm”. Như vậy, ách đô hộ của thực dân Pháp bị lật đổ (1858- 1945) và chế độ phong kiến nhà Nguyễn đã cáo chung (1802- 1945).

Cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh bước ra Lễ đài lần nữa, hô hào nhân dân cả nước quyết hy sinh giữ vững nền độc lập mới giành được và ủng hộ Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hoà mới thành lập.

Theo Vương Liêm/Ủy ban MTTQ Thành phố Hồ Chí Minh
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Phong trào cách mạng ở Đông Dương (14-8-1926)

Tình hình kinh tế. Xứ Đông Dương bị Ngân hàng Đông Dương, thành lập nǎm 1875, thống trị về mặt kinh tế. Đến nǎm 1924, vốn của ngân hàng là 64.400.000 phrǎng. Cũng trong thời kỳ này, doanh số lên tới 4.503.000.000 phrǎng và thu được 34.000.000 phrǎng tiền lãi. Chính Ngân hàng Đông Dương đã chỉ huy tín dụng công nghiệp, thương nghiệp ở Đông Dương, Công ty mỏ than Bắc Kỳ (công ty này hằng nǎm xuất cảng 1.400.000 tấn than trị giá 12.000.000 đồng hay 201.000.000 phrǎng) và Công ty hoả xa Vân Nam.

Về thương nghiệp nói chung, ở Đông Dương, doanh số hơn 4 tỷ phrǎng. Bán thuốc phiện thu được 215.000.000 phrǎng và bán rượu thu được khoảng 1 tỷ phrǎng tiền lãi. Trong số 1 tỷ phrǎng này, Chính phủ thu 200.000.000 phrǎng, số còn lại vào túi bọn tư bản độc quyền. Như vậy là chỉ có đầu độc dân bản xứ mà đế quốc Pháp đã thu được 415.000.000 phrǎng!

Ngân sách toàn Đông Dương là 1.327.000.000 phrǎng.

Người ta xuất cảng 1.500.000 tấn gạo trị giá 252.000.000 phrǎng và 80.000 tạ cao su.

Đông Dương thịnh vượng như vậy. Nhưng sự thịnh vượng ấy chỉ làm lợi riêng cho người Pháp mà thiệt hại cho người An Nam. Mỗi ngày, đàn ông chỉ kiếm được 32 xu, đàn bà 28 xu, trẻ con 16 xu. Hơn nữa, họ không được trả lương đều đặn và không phải bao giờ cũng nhận bằng tiền mặt. Công ty mỏ than tổ chức ra những

cửa hàng bán thực phẩm và các vật dụng khác. Thợ bắt buộc phải mua hàng ở đấy, giá đắt hơn thị trường 10%. Thường thì người ta trả lương bằng hàng hoá lấy ở các cửa hàng đó, người thợ chỉ được lĩnh một ít tiền mặt và mãi 15 ngày hay một tháng sau mới được lĩnh; chính bằng cách này mà công ty ngǎn được thợ thuyền bỏ trốn.

Theo lời thú nhận của toàn quyền Đông Dương thì đời sống của thợ mỏ quá khổ cực và công việc của họ quá nặng nề nên trong số 15.907 thợ mỏ thống kê được vào nǎm 1906, không ai sống đến 60 tuổi. Và bọn tư bản thuộc địa cũng lại viện cớ đó để từ chối không tổ chức quỹ hưu bổng cho thợ thuyền bản xứ!

Đời sống nông dân cũng chẳng hơn gì. Đất thì xấu, phương pháp canh tác thì lạc hậu, do đó nǎng suất rất thấp kém. Sản lượng một hécta ở châu Âu là 4.670 kilô thóc, ở Nhật Bản 3.320 kilô, ở Nam Dương 2.150 kilô, còn ở Đông Dương sản lượng chỉ có 1.210 kilô.

Người bản xứ đo ruộng đất bằng “mẫu”, chứ không đo bằng hécta. Một mẫu đất tốt sản xuất khoảng 50 thùng thóc trị giá 24đ75. Trong số tiền này, Chính phủ đã trích thu 2đ10, khoảng 10%. Nhưng cày cấy mỗi mẫu ruộng, người nông dân đã phải chi hết 28đ50 về tát nước, phân bón, giống má, thuê trâu bò, nhân công, v.v.. Như vậy là lỗ vốn mất 3đ75.

Người ta sẽ hỏi: “Thế thì người nông dân sống thế nào được và lấy gì mà đóng thuế?”. Có thể trả lời đơn giản như thế này: sống thế nào cũng được, nhưng người nông dân vẫn phải sống và phải đóng góp. Một câu tục ngữ An Nam có nói: “Không làm cũng chết, mà làm cũng chết”. Tập quán nghìn xưa cũng như sức mạnh của trǎm ngàn mối quan hệ khác đã trói chặt người nông dân với ruộng đất. Nếu biết nơi nào thoát thân được thì họ cũng đã rứt bỏ ra đi. Suốt nǎm, phần lớn những người nông dân phải ǎn rau ǎn khoai. Rất ít khi họ ǎn cơm, chỉ trong những ngày giỗ tết chẳng hạn, thì họ mới dám động tới hạt cơm quý giá ấy.

Ngoài thuế má nặng nề, tǎng lên 550% trong khoảng mười nǎm, người dân bản xứ còn bị khổ sở với trǎm nghìn thứ hạch sách. Tờ báo “Khai hoá” của người bản xứ ở Bắc Kỳ mới đây có viết: “Biết bao người đã bị bắt trái phép. Họ bị giam cầm hàng tháng trời… Lính tráng bắt họ đóng tiền này tiền kia, rồi còn hành hạ họ nữa… Có người bị đánh đập tàn nhẫn đến nỗi phải vào nhà thương. Tóm lại, nếu người nào vô phúc bị bắt mà nghèo đói thì đành cam phận, còn kẻ hơi khá giả thì phải bán vợ đợ con để nộp tiền phạt dù có bị bắt oan cũng vậy”.

Còn có những trường hợp nghiêm trọng hơn nhiều. Như một tên công sứ ở Cao Miên đã bòn rút tiền thuế của những người dân cùng khổ để xây dựng một lâu đài nghỉ mát tốn 57.600.000 phrǎng, tên ấy còn bắt dân đắp thêm một con đường từ nhà ở đến lầu nghỉ mát. Hơn 1.900 người đã thiệt mạng trên con đường này!

Tình hình chính trị. Tháng 11 nǎm ngoái, khi Varen, “nhà xã hội” tới nhận chức toàn quyền, dân bản xứ có đưa “Tập dân nguyện của người An Nam”, đòi tự do báo chí, tự do ngôn luận, quyền lập hội và hội họp, v.v.. Cũng như bọn toàn quyền trước, Varen đã hứa hẹn nhiều để không làm gì cả.

Cũng thời kỳ ấy, bọn mật thám Pháp bắt cụ Phan Bội Châu ở Thượng Hải. Cụ là một nhà lão thành yêu nước xuất dương từ 20 nǎm nay. Người ta đưa cụ về Bắc Kỳ để xử án. Mặc dầu Chính phủ Pháp giữ bí mật vụ bắt bớ này, nhưng người An Nam ai cũng biết tin, một phong trào phản đối sôi nổi khắp nơi.

Khi Varen đến Bắc Kỳ, sinh viên biểu tình đòi thả nhà lão cách mạng bị bắt giữ. Họ mang cờ và biểu ngữ kêu gọi: “Ân xá cho cụ Phan Bội Châu!”, “Đả đảo chế độ thực dân tàn bạo!”.

Đây là lần đầu tiên người ta được thấy một sự kiện như vậy ở Đông Dương. Varen buộc phải ân xá cho cụ Phan Bội Châu, nhưng vẫn bí mật giám sát cụ.

Từ đó phong trào sinh viên tiếp tục phát triển sôi nổi, đến tháng 3 vừa rồi, phong trào mới thật mạnh.

Khi Bùi Quang Chiêu, một người thuộc phái quốc gia, mới ở Pháp về – Chiêu vừa tổ chức ở Pháp một cuộc vận động chống những tên quan cai trị thuộc địa thối nát – hàng nghìn người An Nam do sinh viên hô hào, đã đi đón và đón tiếp rầm rộ 45 . Hôm đó, bọn phát xít Pháp cũng tổ chức phản biểu tình, chúng huy động cả quân lính, mật thám và cảnh sát. Bọn phát xít bắn súng lục chỉ thiên, và đá ông Chiêu. Mặc dầu có sự khiêu khích đê tiện ấy, người bản xứ vẫn giữ một thái độ rất bình tĩnh. Điều đó đã làm thất bại âm mưu của bọn Pháp định gây ra một “ngày đẫm máu” hòng dạy cho người An Nam biết phục tùng chúng!

Cũng đúng vào dịp này, nhà chí sĩ Phan Chu Trinh, một người thuộc phái quốc gia khác, vừa qua đời. 30.000 người An Nam ở khắp xứ Nam Kỳ đã làm lễ an táng theo quốc lễ và khắp nước đã tổ chức lễ truy điệu nhà chí sĩ. Chỉ trong vài ba ngày, một cuộc lạc quyên đã thu được 100.000 đồng. Tất cả học sinh, sinh viên đều để tang cụ.

Trước phong trào yêu nước của toàn dân, bọn thực dân Pháp sợ hãi, bắt đầu phản công lại. Chúng cấm học sinh để tang và tổ chức lạc quyên. Chúng cấm tổ chức các lễ truy điệu, v.v.. Để phản đối lại, học sinh đã bãi khoá. ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Huế, Sài Gòn, Phú Lâm, v.v. đâu đâu học sinh cũng đều bãi khoá. Nữ sinh cũng tham gia phong trào. Một sự việc đầy ý nghĩa sau đây đã chứng tỏ tinh thần yêu nước của học sinh: Tại trường Saxlu Lôba ở Sài Gòn có người đã viết lên bảng mấy chữ: “A.B. L.F.” (A bas les Franỗais – Đả đảo thực dân Pháp). Các giáo sư Pháp bắt học sinh lên xoá bảng. Chẳng một em nào chịu xoá cả.

Tên “xã hội” Varen ra lệnh cho hiệu trưởng các trường “phải thẳng tay trừng trị những hành động vô kỷ luật”. Thế là đã xảy ra nhiều cuộc khám xét, bắt bớ và đuổi hàng loạt học sinh. Riêng ở Sài Gòn, hơn 500 học sinh đã bị đuổi ra khỏi trường.

Các tổ chức chính trị. ở Bắc Kỳ, có một hội bí mật gọi là “Phục Việt” (46) . Mới đây hội này có rải truyền đơn, mà sau đây là vài đoạn trích dẫn:

“Nước Pháp dùng vũ lực để bắt nước ta làm nô lệ … họ đã áp bức dân ta nhiều nǎm nay … Trong cảnh ô nhục và cǎm thù đó, chúng ta, người An Nam không thể đội trời chung với người Pháp. Hỡi hai mươi lǎm triệu đồng bào! Những ai không chịu đem lòng sắt đá ra lật đổ cường quyền, thì thà hãy để cho thịt xương tự tan nát mà đền nợ nước.

“… Cường quyền đã đến ngày mạt vận. Các dân tộc đang hưởng ứng lời kêu gọi của nước Nga cách mạng. ấn Độ và Ai Cập đã vùng dậy đòi lại tự do… Lẽ nào người An Nam chúng ta lại vẫn chìm đắm trong giấc ngủ triền miên?… Hỡi dân tộc An Nam! Nếu chúng ta không đạt được (việc tự giải phóng) bằng phương pháp ôn hoà, thì chúng ta không ngần ngại hành động quyết liệt để trả thù nhà, nợ nước và để chen vai thích cánh với nǎm châu… Hỡi dân tộc An Nam! Hãy mau mau thức tỉnh…”.

ở Nam Kỳ, có một nhóm trí thức Tây học tự xưng là “Đảng lập hiến”, họ là một nhóm ôn hoà chủ trương “Pháp – An Nam đề huề”. Theo chúng tôi biết thì nhóm này không có hệ thống tổ chức, không có điều lệ, không có cán bộ. Đó là một tổ chức tập hợp nhau về mặt tinh thần. Vì họ thường đả kích chế độ cai trị thối nát ở thuộc địa trong khi vẫn tôn trọng “chủ quyền Pháp” nên họ có ảnh hưởng khá lớn trong quần chúng người bản xứ.

Có một nhóm khác là nhóm “Thanh niên An Nam”. Nhóm này tiến bộ và hoạt động hơn. Cơ quan báo chí của nhóm này do một người đã gia nhập quốc tịch Pháp làm chủ nhiệm, thường trích in bài của báo L’Humanité xuất bản ở Pari. Nhóm này cũng xuất bản, dưới hình thức những sách nhỏ, bản Tuyên ngôn Dân quyền và bản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản 47 của Mác.

Tất nhiên là Chính phủ Pháp hết sức tìm cách phá bỏ nhóm này, nhưng không kết quả, vì nhóm đó đưa tổ chức thành đảng. Vì thế Chính phủ Pháp bèn đàn áp các thành viên của nhóm đó.

Tháng 3, nhóm “Thanh niên An Nam” có tổ chức một cuộc mít tinh phản đối việc trục xuất một người Bắc Kỳ. Cuộc mít tinh thông qua kiến nghị như sau:

“Chúng tôi 3.000 người An Nam… sau khi nghe diễn thuyết nói chuyện … nhận thấy rằng việc trục xuất những người An Nam quê ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ ra khỏi địa phận Nam Kỳ là một hành động

độc đoán…, chúng tôi cực lực phản đối sự lạm quyền này… và khẩn thiết đòi Chính phủ Pháp ở Đông Dương phải tôn trọng những quyền tự nhiên và bất khả xâm phạm của con người và của công dân đã được xác nhận trong Hiến pháp của nước Cộng hoà Pháp, nhất là: 1) tự do báo chí viết bằng tiếng bản xứ, 2) bỏ câu thúc thân thể về dân sự và thương sự, 3) tự do học tập, hội họp và tự do đi lại”.

Trước cuộc mít tinh, người ta đã rải truyền đơn, cuối tờ truyền đơn có câu: “Nếu Chính phủ không chịu trả lại cho chúng tôi những quyền tự do cần thiết nói trên (quyền tự do báo chí, v.v.) thì chúng tôi không còn chút tin tưởng nào ở thiện ý của Chính phủ và chúng tôi nguyện cùng nhau tận tâm tận lực hoạt động để giải phóng dân tộc An Nam”.

Cũng vì đã viết những tiếng giải phóng dân tộc An Nam và đã phát hành số đầu tiên và cũng là số cuối cùng của báo An Nam trẻ- Diễn đàn giải phóng quốc gia, trong đó có đǎng lại bài của báo L’Humanité và báo Le Paria, mà hai tác giả, những người đã viết truyền đơn, đã tổ chức mít tinh, vừa là chủ nhiệm vừa là quản lý tờ báo, đã bị kết án hai nǎm tù!

Do hai vụ án này, học sinh lại tiếp tục bãi khoá. Thực dân Pháp lại dùng những biện pháp hành chính để trấn áp trả thù.

Tình hình chính trị ở Đông Dương có thể tóm tắt trong lời than vãn sau đây của một tờ báo tiếng Pháp ở Bắc Kỳ:

“Vụ biến động này… đã làm cho nước ta xưa nay yên ổn biết bao, đã trở thành trung tâm của những cuộc biến động và hỗn loạn”.

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 91, ngày 14-8-1926
cpv.org.vn

46. Hội Phục Việt: Một tổ chức yêu nước được thành lập vào mùa hè nǎm 1925, do sự kết hợp nhóm những chính trị phạm cũ ở Trung Kỳ (thực dân Pháp phải thả ra dưới áp lực của phong trào quần chúng và phong trào đòi tự do dân chủ phát triển mạnh ở Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất) với nhóm sinh viên Trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội. Cơ sở của Hội chủ yếu ở vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh. Trong phong trào đấu tranh sôi nôi của nhân dân ta đòi thực dân Pháp thả nhà ái quốc Phan Bội Châu nǎm 1925, hội viên của Hội này đã rải truyền đơn ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, thị xã Hải Dương và cả ở Nam Kỳ kêu gọi đấu tranh. Cơ sở của Hội bị lộ và Hội phải đổi tên là Hưng Nam. Do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội – tổ chức cách mạng do Nguyễn Ái Quốc sáng lập nǎm 1925 ở Quảng Châu (Trung Quốc), Hưng Nam đã chuyển thành Tân Việt cách mạng đảng (tháng 7-1928), sau đó phân hoá và dẫn tới sự ra đời của Đông Dương Cộng sản liên đoàn (tháng 1-1930) là một trong ba tổ chức cộng sản đã hợp nhất lại thành Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2-1930. Tr.231.

“Vǎn minh” Pháp ở Đông Dương (1927)

Nền “vǎn minh” Pháp tại Đông Dương thể hiện ở những chiều hướng khác nhau. Trước hết, thông qua sự cướp bóc trơ tráo nhân dân bản xứ – những người nông dân nghèo An Nam và Cao Miên bị chiếm đoạt trắng trợn -, nhằm thực hiện một nền kinh tế đồi bại đáng hổ thẹn. Điều đó cũng diễn ra như vậy ở Nam Kỳ. Những người bản xứ tại nơi này đã bị cướp đoạt không dưới 115.000 hécta ruộng đất, và người ta tính rằng, trong ít nǎm nữa, số diện tích này sẽ lên đến 200.000 hécta.

Tất cả các tầng lớp thực dân đại diện cho nền “vǎn minh” đều nhúng tay vào những cuộc cướp đoạt đó. Tất nhiên, đi đầu là những viên chức cao cấp nhất của Pháp tại những thuộc địa này. Tiến sĩ Cônhắc, thống đốc Nam Kỳ, đã bị công khai kết tội trong Uỷ ban thuộc địa là đã xuyên tạc, giả mạo và đánh cắp các biên bản của Uỷ ban. Một viên chức cao cấp khác, viên công sứ Sabachiê, đã áp dụng một chế độ thống trị chuyên quyền ghê gớm nhằm thực hiện các kế hoạch của mình, mà qua đó, các nhà giam chật ních tù nhân; không những thế, chúng đã quyết định và thi hành vô số những bản án tử hình chưa từng biết đến ở nơi đây cho tới lúc bấy giờ.

Trong lần trở về nước của lãnh tụ những người theo chủ nghĩa dân tộc Bùi Quang Chiêu, khi đó đã trở thành một kẻ thỏa hiệp nổi tiếng xấu xa, các tay súng An Nam đã bị tước vũ khí, nhưng vô số súng liên thanh lại được chuẩn bị sẵn sàng để chống lại đám đông khổng lồ đang ồ ạt kéo tới gần để chào mừng ông ta. Tại một vụ xử hai nhà báo An Nam trẻ tuổi, người ta đã huy động cả quân đội, sen đầm, dân binh, cảnh sát thành phố và mật vụ. Dân bản xứ

không được phép đặt chân tới nhiều nơi của thành phố Sài Gòn.

Chúng không còn tin vào binh lính Pháp và tất nhiên, càng ít tin hơn vào binh lính An Nam. Vì thế chúng đưa tới thuộc địa những người Xênêgan, họ bị cấm không được giao tiếp với dân bản xứ. Vì lo sợ binh lính châu Phi được đưa đến sẽ có thể liên hệ với dân châu á, nên chúng chủ trương tuyên truyền sự thù ghét và chia rẽ binh lính da đen và những người bản xứ da vàng.

Khi “đảng viên xã hội” Varen được bổ nhiệm làm toàn quyền từ Pháp đến, súng ống và đạn dược cũng thường được gửi tới. Nhiều chuyến tàu vận tải đưa những công cụ “vǎn minh” của Pháp đã sang Đông Dương.

Sự khủng bố mạnh nhất vẫn tiếp diễn ở tất cả các miền của Đông Dương, ở Nam Kỳ, Cao Miên, Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Ngày nào cũng có những cuộc bắt bớ giam cầm hàng loạt người. Bị theo dõi đặc biệt chặt chẽ là những sinh viên, mà một số họ đang tìm cách tiếp tục học tập ở nước ngoài. Bởi vì từ sau cuộc bãi khoá rộng lớn của sinh viên, trường học của các thuộc địa đã bị đóng cửa đối với họ.

ở một loạt thuộc địa Pháp, như đảo Rêuyniông nằm sát hòn đảo lớn Mađagátxca bên bờ biển phía Đông châu Phi, hay như đảo Tân Calêđôni nằm ở phía Tây châu úc, số dân đã nhanh chóng bị giảm sút vì rượu mạnh và lao dịch. Do đó, bọn thực dân không có đủ lực lượng lao động làm cho các đồn điền của chúng, và bởi thế, chúng yêu cầu chính phủ Nam Kỳ phải bảo đảm cung cấp các lực lượng lao động. Thế là người ta thường đọc được những tin tức về việc tổ chức đưa 2.000 thợ thuyền sang Tân Calêđôni, nơi đã có 62.000 dân vào nǎm 1875, và nay dân số giảm xuống còn 27.000 vì công việc “khai hoá” của Pháp.

Việc di cư của các lực lượng lao động này tất nhiên cũng là “tự nguyện” như khi vận chuyển “những người tình nguyện” từ Đông Dương sang những nơi trận mạc của châu Âu, và mới đây, sang Marốc và Xyri. Người ta hay nghe nói đến những cuộc ra đi, nhưng không bao giờ nghe nói tới ngày trở về của “những người tình nguyện” đã bị cưỡng bức bằng bạo lực mà phải đi. Hiện nay đang có khoảng 6.000 “người tình nguyện” từ Bắc Kỳ trên đảo Tân Calêđôni.

Sau hơn sáu mươi nǎm người Pháp chiếm đóng Đông Dương, nền giáo dục ở Đông Dương vẫn luôn luôn dừng lại ở trình độ vô cùng thấp kém. Các lực lượng lao động không được đào tạo để có trình độ . Thay vào đó, ở Đông Dương, lại có 2.000 nơi buôn bán rượu mạnh và thuốc phiện. Trong nǎm 1924, toàn Đông Dương có 20 triệu dân, song chỉ có 213.977 học sinh và 4.193 giáo viên bản xứ, trong khi ngay tại quần đảo Philippin bị đế quốc Hoa Kỳ áp bức với 10 triệu dân đã có 1.128.977 học sinh và 25.451 giáo viên bản xứ. ở Đông Dương, không chỉ thiếu trường học, mà trường sở hiện có cũng thật kém cỏi.

Người ta còn thấy rõ sự thối nát của thực dân Pháp qua thú nhận của tờ L’Impartial, cơ quan ngôn luận của Pháp ở Đông Dương rằng viên thống đốc Cônhắc đã phạm một loạt hành động tham nhũng. Cả người “đảng viên xã hội” Varen cũng tham gia hǎng hái vào việc tham nhũng vì chỉ một vài tháng sau khi tới Đông Dương, ông ta đã gửi về Pháp 74 hòm tặng phẩm có trọng lượng 4.910 kilô và kích cỡ là 30 mét khối.

Để bảo vệ Hà Nội, dinh luỹ của bọn Pháp bất tài và vô lương tâm, bọn cai trị Bắc Kỳ đã có tội trong việc phá vỡ đê mà không thông báo kịp thời cho dân biết, làm cho 20.000 dân chúng ở nông thôn đã bị chết đuối. Chúng cấm các báo đǎng tin về hành động dã man đó.

A.P

Tập san Inprekorr, tiếng Đức, số 17, nǎm 1927.
cpv.org.vn

Hãy nhớ đến những người bị tù đày vì chính trị của chúng ta (1-2-1927)

Bị đày sang Tân Calêđôni 1 nǎm 1913, được tha nǎm 1924, người đồng bang của chúng ta lại bị khước từ việc trả về quê hương.

Ngày 5-9-1913, sau những quả bom ở Hà Nội và Thái Bình, toà đề hình Hà Nội, trong một phiên toà xử kín, cǎn cứ vào những báo cáo của cảnh sát, quyết định kết án tử hình vắng mặt Phan Bội Châu và hoàng thân Cường Để, đưa lên máy chém khoảng chục người vô tội và đưa đi đày khoảng ba chục người khác.

Lê Ngọc Liên bị nỗi bất hạnh và được vinh dự liệt vào số sau này với lời nhận xét khó hiểu như sau: “Âm mưu chống an ninh quốc gia và đồng loã tụ tập với bọn bất lương” 2 .

Chúng ta thử tìm cách giải đáp trò đố chữ này.

Nǎm 1913, Lê Ngọc Liên với tư cách một người thợ đã “hợp tác” với Khánh Ký, một người anh em của mình. Ông Khánh Ký hiện nay là một trong những nhà nhiếp ảnh lớn nhất ở Sài Gòn và ông ta chưa bao giờ, theo tôi biết, bị tai tiếng hoặc tố cáo là bất lương. Như thế, không phải vì là một người đã hợp tác với Khánh Ký mà Lê Ngọc Liên bị kết án phát vãng.

Vậy thì vì lý do gì? – Như thế này: thời bấy giờ có một hội lớn theo chủ nghĩa dân tộc gọi là “Đông kinh nghĩa thục”. Được thành lập do những nho sĩ có danh vọng nhất ở Bắc Kỳ, trong đó có ông Cử Can, thân sinh Lương Ngọc Quyến, người anh hùng của cuộc khởi nghĩa lớn Thái Nguyên, các ông Phan Tiên Phong và Phan Trọng Kiên, anh em của Phan Vǎn Trường, trạng sư ở toà thượng thẩm Pari, hội “Đông kinh nghĩa thục” dự định truyền bá học vấn trong quảng đại quần chúng nhân dân của chúng ta. Hội mở tại Hà Nội những lớp học công khai và không lấy tiền. Lê Ngọc Liên dự những lớp ấy, kết thân với vài người bạn và mời họ về nhà uống trà, chỉ có thế.

Bỗng những vụ đánh bom xảy ra. Một sự đàn áp khốc liệt đã ập xuống những hội viên của “Đông kinh nghĩa thục”. Nhà cầm quyền bắt giam bừa bãi giáo sư, học sinh và bạn bè của họ. Khi cảnh sát xông vào nhà Lê Ngọc Liên, họ thấy người đồng hương của chúng ta đang ngủ trưa với một trong những người bạn cùng lớp. Thế là đủ lắm rồi: đấy là những người âm mưu chống an ninh quốc gia, đấy những kẻ đồng loã tụ tập với bọn bất lương!

Lê Ngọc Liên đã bị đày sang Tân Calêđôni vào tháng 9-1913 như thế đấy.

Ngày 29-12-1924, anh chính thức biết tin mình được tha. Đến thời điểm này, anh đã trải qua 11 nǎm bị đày ải. Quả thật, cũng đã đến lúc, vì những gì anh sai phạm…, người ta phải để cho anh trở về xứ sở với gia đình của mình.

Các bạn tin như thế à? – Các bạn đã nhầm. Ngay lúc đó, Lê Ngọc Liên được bọn quản lao báo cho biết là họ hoàn toàn không có trách nhiệm gì về việc hồi hương của anh và anh phải tự mình xoay sở mọi phí tổn từ Numêa 1 đến Hải Phòng.

Anh ta, một người bị đày ải, thế họ muốn anh ta trả bằng cái gì

mới được chứ? Thật là ngu xuẩn và đê tiện. Nhưng, chính quyền thực dân là như thế đấy.

Ngày 20-1-1926, Lê Ngọc Liên gửi đơn lên thống đốc Tân Calêđôni. Không được trả lời. Ngày 25-2-1926, gửi đơn lên Bộ trưởng thuộc địa. Không được trả lời. Lê Ngọc Liên nhờ Hội những người lao động Đông Dương ở Mácxây can thiệp, hội này nhờ phân hội Nhân quyền Mácxây và phân hội Mácxây lại nhờ Uỷ ban trung ương của Hội ở Pari (tháng 6-1926). Không được trả lời.

Trước sự lẩn tránh chung ấy, ở phía hữu và phía tả, người đồng hương của chúng ta sẽ buộc phải, theo người ta nói với tôi, nhờ đến Hội chữ thập đỏ quốc tế và cả Đảng Cộng sản. Như thế người ta sẽ có thêm một bằng chứng rằng chính là Chính phủ đẩy những người An Nam đến với chủ nghĩa bônsêvích mà về chủ nghĩa này, Chính phủ lại không ngừng vung vẩy một con ngoáo ộp, cố nhiên là để lừa dối hòng che lấp những việc làm bẩn thỉu của mình. Nhưng ngoại trừ Chính phủ và bọn thống đốc, phải chǎng người ta có thể tin chắc rằng những tổ chức gọi là thuộc phái tả, cụ thể ở đây là Hội nhân quyền, đã hơi quá hững hờ khi phải bảo vệ quyền của những quân khốn khổ người da màu?

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Ame Annamite, ngày 1-2-1927
cpv.org.vn

Thư gửi chi bộ Đảng trường Đại hoc Phương Đông (25-6-1927)

Mátxcơva, ngày 25 tháng 6 nǎm 1927

Gửi chi bộ cộng sản Trường đại học cộng sản của nhân dân lao động phương Đông mang tên đồng chí Xtalin,

Các đồng chí thân mến,

Theo quyết định của Ban phương Đông, Ban bí thư latinh của Quốc tế Cộng sản và đại diện Đảng Cộng sản Pháp ở Ban Chấp hành, một nhóm cộng sản An Nam đã được thành lập với các đồng chí sau đây:

– Phon Shon,

– Le Man,

– Jiao,

– Min Khan,

– Lequy 1 .

Đồng chí cuối cùng được cử làm bí thư nhóm.

Vì các đồng chí đó đều là sinh viên trường các đồng chí và để cho họ có thể học cách làm việc, chúng tôi yêu cầu chi bộ đồng chí chỉ định một hay hai đồng chí chǎm lo việc giáo dục cộng sản cho nhóm đó, để đào tạo các đồng chí đó theo sinh hoạt của Đảng.

Ban bí thư latinh của Quốc tế Cộng sản G. HUMBE Đại biểu An Nam NGUYỄN ÁI QUỐC

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng
cpv.org.vn

Báo cáo gửi ban Phương Đông Quốc tế cộng sản (6-1927)

1) Từ tháng 11-1924, tôi được Ban phương Đông và Đảng Cộng sản Pháp phái đến Quảng Châu để làm việc cho Đông Dương.

Vì trong suốt thời gian ấy (1924-1927), tôi không nhận được quỹ cũng không được lương của Quốc tế Cộng sản, tôi phải làm việc dịch thuật để kiếm sống và để phụ thêm cho công tác mà nó ngốn từ 75 đến 80% tiền lương của tôi, cộng với tiền đóng góp của các đồng chí.

Mặc dù thiếu thời gian và tiền, nhờ sự giúp đỡ của các đồng chí người Nga và An Nam, chúng tôi đã có thể: 1) Đưa 75 thanh niên An Nam đến học ở Trường tuyên truyền do chúng tôi tổ chức ở Quảng Châu, 2) Xuất bản 3 tờ tuần báo nhỏ, 3) Phái những người tuyên truyền vừa mới được đào tạo về Xiêm, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Nam Kỳ, 4) Thành lập một liên đoàn cách mạng do một uỷ ban gồm 5 uỷ viên ở Quảng Châu lãnh đạo, liên đoàn đã bắt rễ khắp nơi trong tất cả các xứ Đông Dương đó.

Tuy nhiên việc đi lại của các sinh viên và tuyên truyền viên, việc tổ chức các lớp học, v.v. tốn kém nhiều tiền (cho mỗi sinh viên từ Đông Dương đến Quảng Châu và trở về, chúng tôi chi hết 200 đôla). Vả lại sự giúp đỡ tài chính của các đồng chí không đều đặn và khó nhận nên tôi không thể tiếp tục làm như vậy được. Vì thế những đồng chí người Nga ở Quảng Châu đã tán thành dự kiến đi Mátxcơva để xin tiền của tôi.

Khi đoàn Đại biểu Quốc tế Công nhân đến Quảng Châu, đồng chí Đôriô (đại diện Đảng Cộng sản Pháp), đồng chí Vôlin (đại diện những đồng chí người Nga ở Quảng Châu) và tôi, chúng tôi đã chuẩn bị và gửi Ban phương Đông một kế hoạch công tác và một dự án tài chính. Cho đến ngày 5 tháng 5, tôi không nhận được câu trả lời về vấn đề đó, cũng không nhận được chỉ thị nào khác.

2) Khi cuộc đảo chính nổ ra 1 , 3 trong 5 uỷ viên của Uỷ ban Đông Dương chúng tôi bị bắt giữ, tôi suýt bị bắt, tướng Lý Tế Thâm có quan hệ mật thiết với bọn đế quốc Pháp ở Đông Dương và ở Hạ Môn, một đồng chí người Nga duy nhất có trách nhiệm lúc đó đang ở Quảng Châu cũng không thể giúp đỡ được chúng tôi, hoặc cho một lời khuyên nào, thậm chí ngừng trả tiền cho tôi với tư cách là người phiên dịch. Không thể làm gì được, trụ sở của chúng tôi bị cảnh sát đến khám xét và giám sát. Khi đó, tôi chỉ còn cách là phải chọn gấp giữa hai con đường hoặc là để bị bắt hay tiếp tục qua Mátxcơva về công tác ở Xiêm.

3) Chính trên tàu từ Thượng Hải đến Vlađivôxtốc, đồng chí Đôriô đã gặp tôi và đề nghị trước khi đi Xiêm, hãy đến Pari đã. Đồng chí nói để đồng chí sẽ hỏi Ban Chấp hành.

ở Vlađivôxtốc, đồng chí Vôitinxki từ Trung Quốc đến sau tôi vài ngày, đã đề nghị tôi quay trở lại Thượng Hải.

Như vậy, vấn đề đặt ra với tôi là: tôi phải theo đề nghị nào chứ không thể nhận cả hai đề nghị cùng một lúc. Tôi phải đi đâu, Xiêm hay Thượng Hải ? Công tác của tôi ở nước nào cần hơn cả ? Phải chǎng chúng tôi sẽ thử tổ chức một số lính An Nam ở Thượng Hải (vả lại theo họ nói với tôi thì họ đã sẵn sàng trở về nước) và bỏ lại tất cả công việc đã được bắt đầu ở Đông Dương ?

Vấn đề đó do các đồng chí quyết định. Tôi chỉ được phép nói quan điểm của tôi như sau:

Dù rằng về bản thân và về mặt vật chất thì đối với tôi, tôi ở Thượng Hải sẽ tốt hơn nhiều, nhưng tôi muốn đi Xiêm hơn. a) Vì công tác trong binh lính An Nam ở Thượng Hải chắc chắn là rất

hay, song công việc hoặc nói cho đúng hơn là sự tiếp tục công việc ở Đông Dương – dù kết quả còn xa xôi và ít nhưng lại quan trọng hơn. b) Vì ở Thượng Hải chứ không phải ở Xiêm, nhiều đồng chí khác có thể thay tôi. c) Vì những tin tức về cuộc phản biến Trung Quốc do đế quốc Pháp truyền lan đang gieo rắc sự nhụt chí trong người An Nam và trong lúc này, nếu chúng ta để công tác không liên tục thì tất cả những gì chúng ta đã làm trong 3 nǎm qua sẽ mất hết và chúng ta sẽ rất khó làm lại từ đầu vì tâm trạng những người An Nam đã nhiều lần thất vọng.

Vì thế, tôi tiếp tục đi Mátxcơva để trình bày yêu cầu của tôi.

4) Yêu cầu của tôi : Ngay bây giờ tôi không thể lập một dự trù ngân sách chi tiết cho công tác của tôi ở Đông Dương (đi qua Xiêm). Vì vậy, tôi chỉ có thể lập dự trù theo cách áng chừng với những con số phù hợp với hoàn cảnh. Biết sự khó khǎn về liên lạc từ Đông Dương đi Mátxcơva, và định thời gian cư trú ở thuộc địa này khoảng chừng 2 nǎm, tôi trình bày với các đồng chí một yêu cầu về ngân sách tính theo Mỹ kim như sau:

Lương tháng 150 đôla trong 2 nǎm
(cho tôi và những người giúp việc) 3.600 $

Quỹ để công tác trong 2 nǎm
(mỗi tháng 200 đôla) 4.800 $

Tiền chi bất thường 1.100 $

Tổng cộng 9.500 $

Tất nhiên, ở đây tiền lương chỉ là tượng trưng vì ngoài phần trợ giúp tối cần thiết cho chúng tôi, phần còn lại sẽ chuyển sang quỹ công tác. Và nếu các đồng chí vui lòng chấp thuận thì ngân sách này chỉ được thực hiện từ ngày tôi đến Bǎng Cốc.

Trong khi chờ đợi quyết định của các đồng chí, xin các đồng chí vui lòng: 1) đưa tôi vào bệnh viện, 2) khi tôi ra bệnh viện cho phép tôi được học vài kinh nghiệm cần thiết cho công tác của tôi 3) và cho tôi lên đường càng sớm càng tốt.

Gửi các đồng chí lời chào cộng sản.

Mátxcơva tháng 6-1927

1) Cấu tạo của một phân ban

2) Việc gửi các sinh viên

3) Chương trình nghiên cứu và tư liệu 1 .

Tài liệu đánh máy, tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Người chụp bức ảnh lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập

Sáng tháng 8 trải nắng vàng, tôi đến thăm ông Nguyễn Dung ở 18 Nam Ngư để hưởng cái thú ngắm lại bức ảnh lịch sử “Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập trên Lễ đài Ba Đình” được phóng thành khổ lớn, lồng khung kính, treo trên tường.

Bac Ho trong nhung ngay thang 8 lịch su

Đây là tấm ảnh kỷ niệm không thể quên của đời ông và bạn bè, những thanh niên Hà Nội trẻ măng trước Tổng khởi nghĩa là đội viên Đội Thanh niên xung phong thành Hoàng Diệu (tên Hà Nội thời ấy) và ngày 19 tháng 8 là lực lượng xung kích cùng làn sóng nhân dân đánh chiếm Phủ Khâm Sai, Trại Bảo an binh, Sở Liêm phóng, nhà tù Hỏa Lò, Nhà Tiền… từ tay phát xít Nhật và chính quyền bù nhìn, sau đó tham gia lực lượng Công an nhân dân.

Ngày Độc lập 2-9-1945, theo lệnh của trên, ông dẫn chừng hai chục trinh sát đi bảo vệ Lễ đài Ba Đình. Già nửa thế kỷ trôi qua, thấm thoắt, ông Dung đã ở tuổi 82, mái tóc bạc trắng, đi lại khó khăn, phải chống batoong. Không ngờ, ba năm sau ông đã vội ra đi.

Nhìn bức ảnh đẹp, rõ đến từng chi tiết của ông bạn thân tặng, tôi càng thấy cái tài của GS, KTS Ngô Huy Quỳnh với thời gian cho phép chỉ có 15 giờ đồng hồ đã nghĩ cách thiết kế và thi công lễ đài bằng gỗ, trang trí bằng vải để tạo dáng kiến trúc và màu sắc cho nhanh. Lễ đài mang hình bệ cột cờ thành Thăng Long xưa, bốn mặt hình thang, phần lớn diện tích từ dưới lên phủ vải đỏ xếp thành từng nếp, giữa có ngôi sao vàng lớn, phần trên phủ vải vàng, nổi lên những đường võng bằng lụa đỏ. Hai bên lễ đài thiết kế hai bệ lớn bằng gỗ phủ vải đỏ, giữa có sao vàng, trên đặt lư hương lớn bằng gỗ hình chữ nhật, trong có đỉnh đồng đốt trầm hương do phụ lão ngoại thành phụ trách. Nhìn toàn cảnh, lễ đài nổi bật lên, giản dị mà trang nghiêm, giữa một vườn hoa rộng mênh mông, đằng sau có hàng cây cổ thụ làm nền.

Trên Lễ đài có cột cờ ở chính giữa, các vị trong Chính phủ lâm thời đứng xung quanh. Ở giữa hàng đầu, dưới nắng thu vàng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ở tuổi 55, đầu trần, mặc lễ phục kaki, đang đọc Tuyên ngôn độc lập trước máy phóng thanh, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Nhớ lại trước đó vài năm, ông Dung còn cho tôi xem bức ảnh thứ hai có thêm một số chi tiết mà bức ảnh trên không có. Bức ảnh đặc tả đội danh dự bảo vệ Lễ đài gồm khoảng một đại đội dàn thành ba lớp theo hai bậc thềm hình tròn, đứng nghiêm trang, nhìn ra phía trước, tay áp vào khẩu súng lục đeo bên người ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đây Nguyễn Dung, đội mũ phớt nâu, sơ mi trắng cộc tay, quần soóc trắng, bít tất trắng dài, giày hai màu là học sinh trường Thăng Long. Đứng đằng sau là Nguyễn Xuân Nho mặc soóc, sơ mi ngắn tay, đội mũ cát, học sinh Trường Bưởi, Lê Văn Thủy mặc quần dài xuất thân làm thợ nhà in. Cả ba đều là người Hà Nội. Đây nữa, Nguyễn Lung, Nguyễn Cao mặc đồ sơ mi cổ cồn, quần dài trắng, tóc chải sáp bóng mượt. Nhiều người khác mặc quân phục lấy ở khu quân nhu của Bảo an binh. Người nào cũng đeo bên sườn một khẩu súng ngắn đều là chiến lợi phẩm.

Ông Dung nhắc lại phút lịch sử. Đoàn xe ô tô chở Bác Hồ và các vị trong Chính phủ lâm thời rời Bắc bộ phủ, có các chiến sỹ bảo vệ mặc soóc, áo cộc tay, đội mũ cát, đi xe đạp hộ tống hai bên. Đoàn xe qua Tràng Tiền, Hàng Khay, Tràng Thi, Cửa Nam, Điện Biên Phủ, lên vườn hoa Ba Đình. Quá 14h, đoàn xe tiến vào phía sau Lễ đài. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời bước theo cầu thang lên Lễ đài, trong tiếng reo mừng như sấm dậy. Cuộc mít tinh bắt đầu. Đội quân nhạc cử hành trọng thể hành khúc “Tiến quân ca” của Văn Cao. Trước máy phóng thanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, cả biển người im lặng nghe giọng đọc thấy sự xúc động của Người. Giữa chừng, Bác ngừng lại hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Cả biển người đồng thanh đáp: “Có…ó…ó”. Sau buổi lễ, đồng bào đi diễu hành ở các đường phố, tắm mình trong không khí độc lập, tự do, từ đây thực sự đổi đời.

Nhìn hai tấm ảnh của ông Dung, tôi nhớ tới phóng viên, nghệ sỹ nhiếp ảnh Nguyễn Bá Khoản, người Thường Tín, Hà Nội, mất cách đây 19 năm ở tuổi 76 (1917-1993). Xưa kia, ông là phóng viên nhiếp ảnh các báo Tin tức, Lao động, Cứu quốc… Ông được đi nhiều, có lần đi du lịch vòng quanh Đông Dương bằng xe đạp. Cuốn nhật ký bằng ảnh đã ghi lại chuyến đi đó. Nhớ năm 1990, tôi đến thăm nhà ông ở Hai Bà Trưng. Tới nhà mới thấy nhà ông nghèo nhưng giàu sản phẩm tinh thần. Trên mặt bàn bừa bộn những ảnh, sổ ghi cảm tưởng ở các triển lãm ảnh, những số báo, những bản chụp bài viết về ông. Mấy thập kỷ nay, người ta viết về ông đã nhiều, sử dụng ảnh của ông cũng không ít. Nguyễn Bá Khoản là nghệ sỹ nhiếp ảnh nổi tiếng.

Hôm ấy, tôi hỏi ông về chụp bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, ông vẫn nhớ như in. Chiều 2/9/1945, nghe Tổng biên tập Báo Cứu quốc là đồng chí Xuân Thủy dặn dò xong, ông xách chiếc máy ảnh cũ lên vườn hoa Ba Đình vào trước giờ khai mạc. Sau Lễ chào cờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập trước một biển người, một rừng cờ đỏ sao vàng. Ông Khoản chọn chỗ đứng, xoay các góc độ, lựa ánh sáng – hồi ấy chưa có ống kính tê-lê và ghi được hình ảnh vị Chủ tịch nước đầu tiên giữa khung cảnh hùng tráng một ngày lịch sử trọng đại của dân tộc. Bình tĩnh, tự tin, ông bấm liền mấy kiểu với những tốc độ khác nhau. Ngoài bức ảnh lịch sử ấy, ông còn bấm được nhiều kiểu khác như đội danh dự bảo vệ lễ đài, các đoàn thể… Chiều hôm ấy, phim được tráng ngay, ảnh được in thành nhiều bức. Bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập là bức đẹp nhất, đánh dấu nửa đời người cầm máy ảnh của ông. Năm sau, đúng ngày 19-8-1946, bức ảnh lịch sử được phóng to và trưng bày lần đầu tại Nhà triển lãm Tràng Tiền, trước sự ngưỡng mộ của đồng bào Thủ đô và cả nước.

Ít ai biết trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông Khoản đã giữ gìn, bảo quản những phim ảnh chụp được từ già nửa thế kỷ trước rất cẩn thận bằng lối thủ công. Trở về Hà Nội sau ngày giải phóng, năm 1990 ông gửi tặng Trung tâm lưu trữ Quốc gia toàn bộ 2.000 tác phẩm, một tài sản quý của một đời phóng viên nhiếp ảnh.

Từ năm 1991, được sự giúp đỡ của Hội Nghệ sỹ nhiếp ảnh Việt Nam và Hà Nội, Thông tấn xã Việt Nam, ông đã ba lần triển lãm ảnh của mình – trong đó có triển lãm ảnh lịch sử – được nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười và đông đảo nhân dân tới xem. Tháng 7 năm 1996, tin vui lớn ập đến. Nguyễn Bá Khoản được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về những bức ảnh chụp Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng, kháng chiến. Tuy đã đi xa nhưng những tác phẩm của ông còn mãi với thời gian.

Theo Thọ Cao/Báo An ninh Thủ đô
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Những kỷ niệm thiêng liêng ngày Độc lập

Lễ đài nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945

(VOV) – 66 năm qua với biết bao “vật đổi sao rời”, nhưng những kỷ niệm sâu sắc về ngày 2/9/1945 mãi mãi ghi đậm trong khối óc và trái tim của những người lính… Thời khắc lịch sử ngày 2/9/1945 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cách nay đã 66 năm. Những người chiến sỹ trẻ nhiệt huyết, hăng hái xung phong, tích cực tham gia vào các hoạt động cách mạng ở Hà Nội năm xưa, nay đã trở thành những người lính già đầu bạc, mắt mờ và đi lại cũng khó khăn. Những người còn lại còn rất ít, có thể đếm trên đầu ngón tay.

Trong câu chuyện với chúng tôi về ngày độc lập đầu tiên ấy, mỗi người lính già đều không giấu nổi niềm tự hào. Có thể thấy ở họ vẫn toát lên tinh thần sục sôi cách mạng, ý chí chiến đấu để thoát khỏi ách áp bức nô lệ mà khi đó, họ đã là những nhân chứng sống, nhân chứng lịch sử của ngày tháng hào hùng không thể nào quên…

Tiếng Bác Hồ rung động mãi trong tim…

Tiếp chúng tôi trong căn phòng rộng hơn 20m2 nằm sâu trong ngõ Vĩnh Tuy, Hà Nội, ông Phạm Thế Cường (tức Phạm Đình Cảnh – tên gọi lúc tham gia hoạt động cách mạng) năm nay đã ngoài 80 tuổi. Tuổi cao khiến việc đi lại của ông Cường trở nên khó khăn, nhưng trí nhớ thì vẫn còn minh mẫn.

Ông bảo, những đồng đội cũ cùng lứa tuổi với ông giờ đã ra đi gần hết, những người còn sống sức khỏe đã yếu, vài người có bệnh tai biến, phải sống cuộc sống thực vật. Rồi cũng có người vừa mới hôm qua còn gọi điện cho ông hẹn hò tham dự buổi hòa nhạc “Còn mãi với thời gian” vào ngày 2/9 tới, giấy mời còn chưa đến tay thì đã ra đi mất rồi…

Đột nhiên ông hạ giọng nói: “Thời gian đối với tôi vô cùng quý giá, nó có thể tính bằng giây, bằng phút. Hôm nay tôi còn có thể nói chuyện được với anh chị, nhưng không biết ngày mai có còn không?”… Ngừng một lát, ông bồi hồi kể lại hồi ức về quãng đời hoạt động của mình cách đây 66 năm…

“Tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, bố mẹ mất sớm phải ở với chị họ. Năm 16 tuổi, tôi tham gia hoạt động trong Đội tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu. Đây là một đơn vị bộ đội địa phương do Xứ ủy và Thành ủy trực tiếp chỉ đạo, mang danh nghĩa như một đoàn thể quần chúng có vũ trang. Thành viên của đội đều là những đoàn viên đã được rèn luyện và thử thách của đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh.

Lúc đầu, đội được sử dụng để bảo vệ các cơ quan lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Mặt trận Việt Minh ở cấp Trung ương, Xứ ủ­­­­­y Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội, bảo vệ Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao khác. Đội tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu được giao cử 2 đơn vị (Đơn vị Tô Hiệu và Trần Quốc Toản) đến Quảng trường Ba Đình dự lễ Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945.

Đơn vị Tô Hiệu của ông Cường có vinh dự đặc biệt là đứng ngay ở hàng đầu sát lễ đài, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, như một hàng rào danh dự, trực tiếp bảo vệ lễ đài. Tất cả anh em đều rất xúc động một phần vị sự tin cậy của Đảng, một phần vì lòng náo nức được tận mắt nhìn thấy Bác Hồ kính yêu, người lãnh tụ tối cao của dân tộc Việt Nam. Mọi người rất phấn khởi. Anh em số đông là thanh niên trẻ, sôi nổi”.

Ông Cường nhớ lại, ngày 2/9 cách đây 66 năm: “Hôm ấy, tham dự mít tinh gồm đủ mọi thành phần, mọi tầng lớp xã hội: công nhân, dân quân, thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, các cụ phụ lão, các nhà sư…

Ánh mắt ông Cường rực sáng lên khi nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam: “Ngày hôm đó trời nắng, oi bức, Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện trong trang phục giản dị, áo ka ki cao cổ, chân đi dép cao su trắng. Cả biển người im phăng phắc lắng nghe Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Lời Người điềm đạm, nhưng cương quyết, từng lời nói đi vào tâm khảm người nghe, tràn đầy tình cảm sâu sắc và ý chí kiên quyết”.

Có lẽ với ông Cường, tiếng hô “Xin thề!” của hàng vạn chiến sỹ đồng bào và câu hỏi chân tình “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” của Bác Hồ trong giờ phút thiêng liêng ấy là điều mãi mãi không thể nào quên. Ông Cường chia sẻ: “Có nhiều người dân vừa khóc vừa hô “Xin thề!” và tôi hiểu rằng, những người như chúng tôi, từ thân phận đói nghèo, nô lệ, nay trở thành người dân của nước Việt Nam độc lập. Đấy là niềm hạnh phúc vô cùng lớn lao mà chỉ những ai đã trải qua mới thấu hiểu”.

“Đó là những ngày tháng gian khổ, hào hùng nhưng cũng hạnh phúc nhất cuộc đời tôi. Những tư tưởng mới trong bản Tuyên ngôn độc lập đã thấm sâu trong tâm trí chúng tôi. Chúng tôi đã thấy giá trị của độc lập, thấy trách nhiệm thiêng liêng phải bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nền độc lập mới giành được…” – Ông Cường nói trong xúc động.

Dòng ký ức hùng tráng làm ông Cường như quên đi thực tại, một hồi lâu ông mới kể tiếp, sau ngày 2/9/1945, ông Cường tiếp tục tham gia tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu. Năm 1986, ông về nghỉ hưu và được phong hàm Đại tá.

Trải qua 41 năm trong quân ngũ, dù có nhiều khó khăn, nhưng niềm tự hào nhất của ông là được chiến đấu cho đến ngày giành độc lập 30/4/1975. Ông Cường có 4 người con, trong đó có người trai đầu đã hy sinh vì Tổ quốc. Và cha ông cũng là liệt sỹ.

Tất cả như vừa mới hôm qua…

Rời nhà ông Cường, chúng tôi tìm gặp bà Lê Thị Thanh, nguyên là Hiệu phó trường Cao đẳng sư phạm mẫu giáo Trung ương. Trong những ngày mùa thu cách mạng năm 1945, bà Thanh tham gia Hội Phụ nữ cứu quốc, rồi trở thành nữ chiến sỹ của Trung đoàn Thủ đô có mặt trong 60 ngày đêm chiến đấu quyết tử bảo vệ Hà Nội.

Cũng giống như ông Cường, bà Thanh hồ hởi khi kể về kỷ niệm của một thời oanh liệt: “Là học sinh yêu nước trường Trung học Nguyễn Huệ – Hà Nội, tôi sớm được giác ngộ cách mạng. Năm 16 tuổi, tôi được phân công làm tình báo, liên lạc viên và đi rải truyền đơn ở nhiều nơi. Có lần, trong khi làm nhiệm vụ, tôi phải đi qua những ngôi mộ của các đồng đội đã hy sinh, tôi sợ lắm! Nhưng, tôi tự trấn an tinh thần bằng cách nghĩ về họ lúc còn sống và khe khẽ cất tiếng hát. Sau đó một thời gian, trong một đợt địch càn quét, tôi đã dũng cảm bắn chết 1 tên giặc Pháp và được tham gia các buổi mít tinh ở Làng Cót, Hà Nội”.

Trong cuộc đời mình, có lẽ giây phút được tham gia và chứng kiến không khí của ngày chiến thắng, ngày độc lập 2/9 cách đây 66 năm là điều hạnh phúc và cảm giác khó tả đối với không chỉ riêng bà Thanh mà với nhiều người. Cảm xúc đó còn lưu lại mãi cho đến tận bây giờ.

Bà Thanh hồi tưởng: “Tôi nhớ ngày 2/9/1945, lúc đó quần chúng đi lại rất đông ở các khu phố của Hà Nội, các cửa hàng cửa hiệu phần lớn là đóng cửa và treo cờ hoa mừng ngày độc lập. Những đoàn người rầm rập kéo về Quảng trường Ba Đình: Phụ nữ nội thành mặc áo dài trắng, phụ nữ ngoại thành áo nâu quần đen, chít khăn mỏ quạ. Thanh niên áo sơ mi cộc tay, quần soóc, công nhân quần áo xanh, các đoàn tu sĩ thiên chúa giáo áo đen, các em thiếu nhi áo trắng, quần soóc xanh”.

“Buổi sáng 2/9, tôi cùng các chị em trong đoàn phụ nữ cứu quốc đến từng gia đình vận động họ tham gia cuộc mít tinh vào buổi chiều cùng ngày. Đến 14h, đoàn phụ nữ cứu quốc tiến về Quảng trường Ba Đình rực rỡ cờ hoa với những tiếng hô vang khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Việt Minh!”, “Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh!”. Đoàn phụ nữ cứu quốc của chúng tôi được đứng vị trí đầu tiên. Khoảng 14h30, bà Dương Thị Thoa (tức Lê Thi) trong đoàn được Ban Tổ chức cử lên kéo cờ độc lập cùng với bà Đàm Thị Loan”.

Cả biển người bỗng im phăng phắc để lắng nghe Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Lần đầu tiên được nhìn thấy Người, tôi đã nhận thấy ở Người sự giản dị và gần gũi” – Bà Thanh hào hứng kể.

Câu chuyện của bà Thanh kể về ngày độc lập như vừa mới đây thôi. 66 năm trôi qua, nay bà Thanh đã bước sang tuổi 81 nhưng tinh thần vẫn vô cùng minh mẫn. Bà phục vụ trong quân ngũ đến khi 53 tuổi mới chuyển sang ngành giáo dục và làm Hiệu phó của trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo Trung ương cho tới khi nghỉ hưu. Giờ đây, cứ mỗi dịp tháng 8 hàng năm, bà và các đồng đội cũ lại gặp nhau, ôn lại kỷ niệm xưa. Thi thoảng, ngày độc lập đầu tiên ấy, bà và đồng đội ôn lại như để tiếp thêm ý chí, nghị lực cho thế hệ con cháu…

Câu chuyện của những người lính đã đi qua ngày tháng hào hùng như ông Phạm Thế Cường, bà Lê Thị Thanh cùng biết bao người chiến sỹ khác về ngày 2/9/1945 sẽ không chỉ là dòng sự kiện trong trang sử vàng vẻ vang của dân tộc. Ký ức Cách mạng mùa thu tháng Tám cùng hình ảnh Bác Hồ trong ngày độc lập đầu tiên ấy, chắc hẳn sẽ còn đọng mãi trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Đó như một bài học truyền thống, soi rọi cho các thế hệ sau tiếp nối truyền thống của cha anh trên con đường cách mạng, sống, chiến đấu, lao động, học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Theo vov.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn