Archive | 2012

Lê Nin và phương đông (21-1-1926)

Quốc tế thứ nhất (38) đã đặt cơ sở cho học thuyết cộng sản, nhưng vì tồn tại trong một thời gian ngắn nên chỉ kịp đề ra những đường lối cơ bản của học thuyết đó mà thôi. Vấn đề các nước thuộc địa chưa được Quốc tế thứ nhất nghiên cứu đầy đủ.

Còn Quốc tế thứ hai với những đại biểu của nó như Mácđônan, Vǎngđécvendơ, Henđécxôn, Blum và nhiều người khác thì lại quá chú ý đến vấn đề này. Trong bất cứ trường hợp thuận lợi nào, những người này cũng nhấn mạnh sự nhất trí của họ với chính sách đế quốc chủ nghĩa mà bọn tư bản thực hiện ở các nước ấy. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa cho sự nghiệp giải phóng của mình, không những không được sự đồng tình của họ mà còn ngược lại. Ví dụ, sau khi lên nắm chính quyền, Mácđônan chẳng kém gì Bônđuin và Sǎmbéclanh đã đàn áp nhân dân ấn Độ, Xuđǎng và các dân tộc khác đã can đảm đấu tranh chống lại bọn người nước ngoài ức hiếp họ.

Với sự tán thành của các ngài đó, người ta đã dội bom xuống các làng mạc bản xứ, và đã đàn áp nhân dân các nước thuộc địa dã man, tàn bạo không sao tả xiết. Mọi người đều biết về chính sách phân biệt công nhân da trắng với công nhân da màu mà bọn thoả hiệp luôn luôn thi hành, về việc các công đoàn chịu ảnh hưởng của bọn xã hội giả hiệu đó không muốn kết nạp các công nhân da màu vào hàng ngũ của mình. Trong chính sách thuộc địa của Quốc tế thứ hai, bất cứ ở đâu cũng lộ rõ bộ mặt thật của tổ chức tiểu tư sản

này. Bởi vậy, cho tới tận Cách mạng Tháng Mười, ở các nước thuộc địa, học thuyết xã hội chủ nghĩa đã bị coi là một thứ học thuyết chỉ dành riêng cho những người da trắng, một thứ thủ đoạn mới để lừa dối và bóc lột người bản xứ.

Lênin là người đầu tiên đã đặt cơ sở cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa.

Lênin là người đầu tiên đã kiên quyết lên án mọi thành kiến đối với nhân dân các nước thuộc địa đã ǎn sâu vào tận xương tuỷ của nhiều công nhân châu Âu và châu Mỹ. Những luận cương của Lênin về vấn đề thuộc địa 39 được Quốc tế Cộng sản tán thành đã gây ra một cuộc cách mạng hoàn chỉnh trong tất cả các nước bị áp bức trên thế giới.

Đồng chí Lênin là người đầu tiên đã nhấn mạnh và nhận thức hết tầm quan trọng to lớn của việc giải quyết một cách đúng đắn vấn đề thuộc địa đối với cách mạng thế giới. Trong tất cả các Đại hội của Quốc tế Cộng sản, của Quốc tế Công đoàn, và của Quốc tế Thanh niên cộng sản, vấn đề thuộc địa luôn luôn được đặt lên hàng đầu.

Lênin là người đầu tiên đã nhận thức và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng. Lênin là người đầu tiên đã nhận thức rằng nếu không có sự tham gia của họ thì không thể có cách mạng xã hội.

Với tất cả sự sáng suốt vốn có của mình, Lênin đã nhận thấy rằng muốn cho công tác trong các nước thuộc địa được thành công tốt đẹp thì cần phải lợi dụng triệt để phong trào giải phóng dân tộc trong các nước đó, rằng giai cấp vô sản trên thế giới, bằng việc ủng hộ phong trào ấy thì sẽ có nhiều bạn đồng minh mới hùng mạnh trong cuộc đấu tranh của mình cho cách mạng xã hội.

Tất cả các đại biểu các nước thuộc địa đã tham dự các Đại hội của Quốc tế Cộng sản sẽ không bao giờ quên được rằng lãnh tụ Lênin, đồng chí Lênin đã quan tâm đến họ dường nào, rằng Người đã biết đi sâu tìm hiểu như thế nào những điều kiện công tác phức tạp và thuần tuý có tính chất địa phương. Từ đó đến nay, mỗi người trong chúng ta đã có đủ thời gian để thấy rõ hàng chục lần rằng những nhận xét của Lênin đúng biết chừng nào, và những lời giáo huấn của Người thật quý giá biết bao.

Chỉ nhờ có thái độ khôn khéo của Lênin đối với vấn đề thuộc địa, mới có thể lay động quần chúng chưa được giác ngộ, và lạc hậu nhất trong các nước thuộc địa. Sách lược của Lênin về vấn đề này được các đảng cộng sản trên toàn thế giới áp dụng đã ngày càng lôi cuốn được những phần tử ưu tú và tích cực ở các nước thuộc địa vào phong trào cộng sản. Việc Lênin giải quyết vấn đề dân tộc phức tạp ở nước Nga Xôviết, việc đảng cộng sản thực hiện trong thực tiễn vấn đề này là một vũ khí tuyên truyền mạnh mẽ nhất trong các nước thuộc địa.

Đối với tất cả các dân tộc bị áp bức và bị nô dịch, Lênin đã thể hiện một bước ngoặt trong lịch sử cuộc đời đau khổ và bị mất quyền của họ, là tượng trưng cho một tương lai mới, xán lạn.

NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————————

38. Quốc tế thứ nhất (Hội liên hiệp lao động quốc tế): Tổ chức quốc tế đầu tiên của giai cấp vô sản, thành lập nǎm 1864 tại Hội nghị công nhân quốc tế ở Luân Đôn (Anh), do C.Mác và Ph. Ǎngghen lãnh đạo. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Quốc tế thứ nhất là Hội đồng trung ương Hội liên hiệp lao động quốc tế mà Mác là uỷ viên thường trực. Bằng cách khắc phục những ảnh hưởng tiểu tư sản và những khuynh hướng bè phái lúc đó đang tồn tại trong phong trào công nhân, Mác đã đoàn kết xung quanh mình những người giác ngộ nhất của Hội đồng trung ương. Quốc tế thứ nhất đã lãnh đạo cuộc đấu tranh kinh tế và chính trị của công nhân ở các nước và củng cố sự đoàn kết quốc tế của họ. Quốc tế thứ nhất đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp truyền bá chủ nghĩa Mác và trong việc kết hợp chủ nghĩa xã hội với phong trào công nhân. Sau khi Công xã Pari thất bại, một nhiệm vụ được đặt ra là thành lập các đảng cộng sản có tính chất quần chúng ở mỗi nước, trên cơ sở những nguyên tắc mà Quốc tế thứ nhất đã đề ra. Nǎm 1876, tại Hội nghị Philađenphia (Mỹ), Quốc tế thứ nhất chính thức giải tán. Tr.218.

Báo Tiếng còi (Liên Xô), tiếng Nga, ngày 21-1-1926.
cpv.org.vn

Cuộc cách mạng mang thông điệp của dân tộc và thời đại

Cách mạng tháng Tám 1945 là sự kiện lịch sử vĩ đại nhất trong thế kỷ XX của nhân dân Việt Nam. Cuộc cách mạng đã làm nên sự khác biệt căn bản về chất của lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX so với tất cả các thế kỷ trước đó của lịch sử dân tộc: Thiết lập một nền dân chủ, khẳng định quyền con người, khẳng định những khát vọng của dân tộc.

Khẳng định những giá trị dân tộc và dân chủ

Trước khi khẳng định một sự thật thiêng liêng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thật sự đã trở thành một nước tự do và độc lập” (1), bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lấy “những lẽ phải không ai chối cãi được” của hai bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776) và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cuộc cách mạng Pháp (1789) để khẳng định những quyền chân chính của dân tộc Việt Nam. Không dừng lại ở nội dung của hai văn kiện lịch sử đó mà Chủ tịch Hồ Chí Minh “suy rộng ra” về quyền dân tộc: “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” (2).

Nhân dân Hà Nội chiếm Bắc bộ phủ (tháng 8/1945).

Với Việt Nam, bản Tuyên ngôn độc lập đánh dấu kỷ nguyên mới của dân tộc: Kỷ nguyên Độc lập – chấm dứt ách nô lệ thực dân và Tự do – chấm dứt chế độ phong kiến. Với nhân loại, bản Tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt Nam là tiếng chuông báo sự khởi đầu tan rã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ gắn liền với xâm lược và nô dịch.

Đó là sự xác lập lần đầu tiên ở Việt Nam một nền dân chủ bằng sự lựa chọn thể chế nhà nước sau cuộc cách mạng – thể chế Dân chủ cộng hòa.

Cuộc cách mạng tháng Tám 1945 là cuộc cách mạng khẳng định quyền con người. Trích “những lẽ phải không ai chối cãi được” trong hai bản Tuyên ngôn bất hủ của cách mạng Hoa kỳ và cách mạng Pháp, bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945 đã khẳng định quyền của con người – cũng chính là nền tảng quyền của dân tộc.

Nhân dân Việt Nam đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đi đầu trong lịch sử đấu tranh của các dân tộc nhược tiểu thuộc địa, bị áp bức. Cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam thắng lợi cũng mở ra một tiền đồ, một tương lai tươi sáng, gây niềm tin và hy vọng, động viên tiếp sức cho các dân tộc còn đang bị áp bức vùng lên đấu tranh giành độc lập cho mình.

Cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 mở ra một cuộc trung hưng mới cho dân tộc Việt Nam. Thành tựu và những thử thách suốt chặng đuờng sáu mươi bảy năm qua đã minh chứng những giá trị của một cuộc cách mạng Dân tộc và Dân chủ.

Thông điệp hòa bình và ý chí độc lập của dân tộc

Đánh giá về một ưu điểm lớn của Cách mạng tháng Tám so với cách mạng ở một số nước khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu nhiều. Có nước phải chặt đầu vua. Có nước đồng bào chia đảng phái chém giết nhau liên tiếp trong bao nhiêu năm. Nước ta vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để mưu hạnh phúc chung là nước đến hoàn toàn độc lập và chống được giặc xâm lăng, đuổi thực dân tham ác ngoài bờ cõi” (3).

Từ đầu tháng 7/1946, khi các cuộc hội đàm chính thức Việt – Pháp đang diễn ra trong lâu đài Fontainebleau, tại Pari cũng diễn ra những hoạt động không mệt mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh để bạn bè thế giới, trước hết là Chính phủ và các tầng lớp nhân dân Pháp, hiểu rõ thiện chí hòa bình và nguyện vọng nóng bỏng của nhân dân Việt Nam là Độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

Trong thời gian hơn ba tháng, với tư cách là thượng khách của nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều cuộc tiếp xúc với các đại biểu của Chính phủ Pháp, nhiều tổ chức đoàn thể và cả các cá nhân. Trong tất cả những cuộc tiếp xúc đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nêu rõ nguyện vọng chân thật của nhân dân Việt Nam là mong muốn giữ mối quan hệ Việt – Pháp “không có tiếng súng”. Khi đến thăm khu di tích lịch sử ở Nooc-man-đi, Người đã lấy bàn tay bịt miệng khẩu đại bác như một biểu tượng của tinh thần: “Giữ gìn hòa bình! Ngăn chặn chiến tranh!”. Đó chính là thông điệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt nhân dân Việt Nam gửi tới nhân dân Pháp và những người cầm quyền Pháp khi đó (4).

Hợp lòng dân và được nhân dân bảo vệ

Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam đã bùng nổ và thành công đúng thời cơ lịch sử. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời nằm ngoài mọi dự tính và dàn xếp của các nước lớn sau Hội nghị Pôts-đam, cũng nằm ngoài mọi tính toán của những kẻ theo chủ nghĩa thực dân Pháp.

Chính quyền cách mạng ra đời “không đồng minh, không tiền, hầu như không vũ khí” – như nhận xét của Pig-non – cố vấn chính trị của Cao ủy Pháp Đác Giăng-li-ơ tại Đông Dương. Ngay từ khi mới ra đời, nạn đói, nạn dốt, nạn tài chính kiệt quệ cùng với nạn ngoại xâm đã đặt vận mệnh của độc lập dân tộc trước nguy cơ “Còn – Mất”.

Nhiệm vụ cách mạng sau khi giành được chính quyền đặt ra đòi hỏi nóng bỏng phải tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân làm hậu thuẫn vững chắc cho Chính quyền cách mạng. Bảo vệ được Chính quyền cách mạng mới có thể thực hiện được những mục tiêu cấp bách cũng như lâu dài: Giữ vững nền độc lập, đem lại đời sống no ấm cho nhân dân.

Bộ máy chính quyền mới đã trực tiếp mang lại những quyền lợi dân sinh, dân chủ, dân quyền mà nhân dân Việt Nam chưa từng được hưởng: bãi bỏ thuế thân (ngày 7/9/1945); bắt buộc học chữ quốc ngữ và không phải trả tiền (ngày 8/9/1945); qui định thể lệ Tổng tuyển cử (ngày 17/10/1945); giảm tô 25% (ngày 20/11/1945); giảm 20% thuế điền (ngày 20/11/1945) v.v…

Sau cuộc tổng tuyển cử tự do và dân chủ đầu tiên trong lịch sử dân tộc, Chính phủ cách mạng lâm thời đã trở thành Chính phủ hợp hiến, do dân bầu, bao gồm nhiều thành phần, đại diện cho các tầng lớp xã hội, đấu tranh cho quyền lợi của cả dân tộc Việt Nam. Chính phủ cách mạng thu hút được sự ủng hộ của toàn dân, được toàn dân bảo vệ vì nó hợp với lòng dân. Ông Ca-put (Bí thư Đảng Xã hội Pháp ở Bắc Kỳ) trong thư gửi Cao ủy Đác Giăng-li-ơ ngày 8/12/1945 đã thừa nhận rằng: Chỉ có Chính phủ Hồ Chí Minh và Việt Minh là có đủ tư cách đại diện cho dân tộc Việt Nam, “họ vẫn là những người có khả năng hơn cả để lôi cuốn được mọi người” (5).

Buổi tối ngày 2/9/1946, tại Pari, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự lễ kỷ niệm Quốc khánh lần đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hội liên hiệp Việt kiều và Hội hữu nghị Pháp – Việt tổ chức. Trong buổi lễ đặc biệt đó, Người xúc động nói: “Chính là sự đoàn kết, đoàn kết hoàn toàn và không gì phá vỡ nổi của toàn thể nhân dân chúng ta đã khai sinh ra nước Cộng hòa của mình” (6).

Trong những năm tháng nước sôi lửa bỏng, vận mệnh dân tộc trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, “Dân tộc trên hết – Tổ quốc trên hết” – đã trở thành khẩu hiệu đoàn kết, tập hợp khối lực lượng quần chúng to lớn ủng hộ Chính phủ cách mạng. Khối đại đoàn kết toàn dân được xây dựng rộng rãi, không bỏ sót một nguồn lực nào đã phát huy sức mạnh to lớn. Kể cả những người không cộng sản, đồng bào Việt Nam ở nước ngoài, những người đã từng làm việc dưới chế độ cũ, những người thuộc giới quan lại, hoàng tộc phong kiến, cả những người tưởng như đã nằm dưới đáy của xã hội xưa v.v… tất cả đều hướng về cuộc đấu tranh của dân tộc và bằng cách này hay cách khác đóng góp cho cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng thành công Chính quyền cách mạng.

Bài học về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tự cường để xây dựng và bảo vệ Chính quyền cách mạng từ những năm tháng hào hùng đó vẫn là những giá trị to lớn.

Ngô Vương Anh
baotintuc.vn

(1) Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 4, tr 4
(2) Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh – Toàn tập – Sđd, tr 1
(3) Hồ Chí Minh Toàn tập – Sđd, tập 4, tr 47 – 48.
(4) Ngọai giao Việt Nam 1945 – 2000 – Nxb CTQG, H, 2002, tr 80; 81
(5) Philippe Devillers – “Pari – Sài Gòn – Hà Nội – Tài liệu lưu trữ của cuộc chiến tranh 1944 – 1947” – NXB Thành phố Hồ Chí Minh – 1993 – tr 162.
(6) Diễn văn tại Lễ kỷ niệm Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2/9/1946) tổ chức tại Pari – Hồ Chí Minh – Toàn tập – Sđd, Tập 4, tr 283

Tinh thần bất diệt của Tuyên ngôn Độc lập

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng dân tộc đã tạo dựng nên dấu mốc lịch sử vĩ đại nhất cho dân tộc. Đó chính là bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ, long trọng tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Khởi thảo Tuyên ngôn từ Hào Khí Thăng Long

Căn nhà lịch sử số 48 phố Hàng Ngang, là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập. Nơi đây là đất phường Diên Hưng, tổng Hữu Túc (sau đổi là tổng Đông Thọ) huyện Thọ Xương phủ Hoài Đức xưa. Nay di tích này thuộc phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Căn nhà là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc sau khi Người rời Tân Trào (Tuyên Quang) về Hà Nội. Cũng chính tại nơi đây, sáng 26/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng bàn về chủ trương đối nội và đối ngoại trong tình hình mới, về việc sớm công bố danh sách thành viên Chính phủ lâm thời. Người còn đề nghị mở rộng hơn nữa thành phần Chính phủ lâm thời, chuẩn bị Tuyên ngôn Độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời Việt Nam trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ảnh: Tư liệu -TTXVN

Thời gian ở số nhà 48, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành phần lớn thời gian soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập. Trong hoàn cảnh lịch sử vô cùng đặc biệt: Thời gian ngắn, yêu cầu gấp rút, địa điểm chật hẹp, thân phận bí mật. Song bằng sức mạnh, tâm lực, trí tuệ và bản lĩnh của một vị lãnh tụ cách mạng kiệt xuất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành bản thảo Tuyên ngôn Độc lập chỉ trong vòng 3 ngày (từ 28 đến 30/8/1945). Trong quá trình viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời một số đồng chí đến để trao đổi, góp ý kiến cho bản dự thảo Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 30/8/1945, Người tiếp tục mời một số đồng chí đến trao đổi, góp ý kiến. Ngày 31/8, Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung, chỉnh sửa một số điểm vào bản thảo Tuyên ngôn Độc lập. Khi viết xong, Người nói: “Trong đời tôi, tôi đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy”.

Viết bản Tuyên ngôn Độc lập, Người đã viện dẫn lời từ chính bản Tuyên ngôn Độc lập (năm 1776) của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp (năm 1791), khi nói về quyền bình đẳng, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc. Vậy mà, thực dân Pháp đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của thực dân Pháp trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Chính vì vậy, nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người viết: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập lên chế độ Dân chủ Cộng hòa”.

Thời gian sống, làm việc và đặc biệt là viết bản Tuyên ngôn Độc lập ở ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Chủ tịch Hồ Chí Minh sống rất giản dị, đạm bạc. Lúc bấy giờ Người gầy và ho nhiều. Người thường mặc bộ quần áo chàm cũ, đi đôi giày vải và đội chiếc mũ cát đã sờn mà Người đã cầm để vẫy chào đồng bào ở Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945. Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại chiếc bàn tròn trong phòng khách nhỏ, nơi Người viết bản Tuyên ngôn Độc lập, và ngay cả ấn kiếm của Bảo Đại sau khi đưa từ Huế về lúc đầu cũng để trên mặt chiếc tủ ở căn phòng này. Trong suốt thời gian làm việc ở đây, ngôi nhà 48 Hàng Ngang vẫn có người ra vào bình thường, vì tầng 1 lúc đó vẫn là cửa hàng bán vải vóc, tơ lụa của gia đình. Điều đó, chứng tỏ Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tin tưởng vào dân, tin tưởng vào lực lượng cách mạng quần chúng. Sống ở 48 Hàng Ngang có lẽ là những giây phút sảng khoái, hạnh phúc nhất của Người, bởi thành quả độc lập, tự do của dân tộc do chính Người gieo trồng đang ngời lên từng chữ, từng câu trong bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Lấp lánh giá trị thời đại

Đúng 14 giờ ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị trong Chính phủ lâm thời làm lễ ra mắt ở Kỳ đài Độc lập, tại vườn hoa Ba Đình, Hà Nội, trước hàng chục vạn nhân dân Thủ đô và các vùng lân cận. Bản nhạc Tiến quân ca hùng tráng vang lên, mọi ánh mắt đều hướng về lá cờ đỏ sao vàng đang từ từ kéo lên. Vị cha già dân tộc xuất hiện giản dị trong bộ quần áo ka ki và đôi dép cao su. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Người đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với toàn thể nhân dân, với thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập, tự do ra đời, hình thành Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, Nhà nước độc lập đầu tiên trong hệ thống thuộc địa thế giới. Đây là văn kiện lịch sử có ý nghĩa vô cùng trọng đại đối với vận mệnh dân tộc, là mốc son chói lọi trong lịch sử vẻ vang của đất nước ta. Tuyên ngôn là văn bản pháp lý quan trọng đầu tiên khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định quyền tự do, độc lập của nhân dân ta trước toàn thế giới. Bản Tuyên ngôn khẳng định ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi của nhân dân Việt Nam quyết giữ vững quyền thiêng liêng: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đồng thời là một tác phẩm “Thiên cổ hùng văn”, tiếp sau bài thơ “Thần” – “Nam quốc sơn hà” và bài “Bình Ngô đại cáo”, kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc ta; là bản anh hùng ca mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên độc lập tự do và góp phần làm phong phú về Quyền tự quyết của các dân tộc trên thế giới – Quyền độc lập tự do. Sau khi Chính phủ lâm thời làm lễ tuyên thệ và nhân dân thề một lòng ủng hộ Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, Người nói: “Độc lập tự do là quý báu, quý giá vô ngần, ta đã khổ sở trong bao nhiêu năm mới giành được, cần phải cố gắng giữ gìn, bảo vệ”.

Cách mạng tháng Tám với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã xóa tan hai tầng xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp (kéo dài hơn 80 năm) và của phát xít Nhật, đồng thời lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại ngót gần 1.000 năm. Nước ta từ một nước thuộc địa, phong kiến đã trở thành một nước độc lập dưới chế độ dân chủ cộng hòa, nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người dân độc lập, tự do, làm chủ nước nhà. Đây là một bước phát triển nhảy vọt của Cách mạng Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới trong sự phát triển của lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa trên thế giới, đặc biệt là nhân dân châu Á và châu Phi.

Có thể khẳng định rằng chính thời điểm lịch sử cực kỳ quan trọng và thử thách ngặt nghèo từ sau cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, việc thành lập chính quyền nhân dân, tuyên bố độc lập, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời… đã bộc lộ đầy đủ và sinh động nhất thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ đây với tư cách là người chủ thực sự của đất nước, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên cường đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc. 30 năm sau ngày “Tuyên ngôn Độc lập”, Đảng và nhân dân đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang: Giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc thắng lợi sự nghiệp cách mạng dân tộc – dân chủ, thống nhất đất nước. Tổ quốc vĩnh viễn được độc lập, nhân dân ta đời đời được tự do, tinh thần bất diệt của Tuyên ngôn Độc lập mãi mãi khắc sâu vào trái tim và khối óc của mỗi người Việt Nam. Với ý nghĩa và tầm vóc lớn lao đó, ngày 2/9/1945 đã trở thành ngày hội lớn của dân tộc, ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Trần Tiến Duẩn
baotintuc.vn

Quảng trường Ba Đình lịch sử và ngày lễ Độc lập 2/9/1945

Vườn hoa Rond Point Puginier nhìn từ phía Đông Nam, sau là Vườn hoa Ba Đình rồi trở thành Quảng trường Ba Đình lịch sử. Ảnh Internet

Quảng trường Ba Đình được xem là quảng trường lớn nhất Việt Nam, nằm trên đường Hùng Vương và trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính nơi đây đã lưu giữ dấu ấn nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc ta. Đặc biệt, cách đây tròn 66 năm, vào ngày 2/9/1945, ngay tại Quảng trường này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Quảng trường Ba Đình xưa là cửa phía Tây của Thành cổ Hà Nội. Khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội đã phá thành vào năm 1894 và tại cổng phía Tây này, Pháp cho xây một vườn hoa nhỏ đặt tên là Rond Point Puginier, còn gọi là Quảng trường tròn (rond point: điểm tròn) hay Vườn hoa Puginier (Puginier là tên một vị cha cố). Xung quanh Vườn hoa Puginier này một số công trình công sở, biệt thự được xây dựng. Một trong những công trình được xây dựng sớm là Phủ Toàn quyền (1902), sau này là Phủ Chủ tịch. Về sau thêm các công trình quan trọng khác là trường Albert Sarraut (1919), nay là Cơ quan Trung ương Đảng và Sở Tài chính (1925), nay là Trụ sở Bộ Ngoại giao.

Cái tên Quảng trường Ba Đình do bác sỹ Trần Văn Lai, người giữ chức Thị trưởng thành phố từ ngày 20/7 đến 19/8/1945 đặt tên. Sở dĩ, Thị trưởng Trần Văn Lai đặt tên là Ba Đình vì ông cảm phục nghĩa quân Đinh Công Tráng đã chống Pháp rất anh dũng ở căn cứ Ba Đình huyện Nga Sơn, Thanh Hoá vào những năm cuối thế kỷ XIX.

Tháng 8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân của quân và dân ta giành được thắng lợi hoàn toàn. Cách mạng tháng Tám thành công đã đập tan xiềng xích nô lệ kéo dài hàng nghìn năm của chế độ phong kiến, xóa bỏ ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, nhân dân ta từ địa vị nô lệ đã vươn lên trở thành những người chủ của đất nước, tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu.

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 22/8/1945, Bác Hồ rời Tân Trào về Thủ đô Hà Nội. Sáng ngày 26/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong số các quyết định của cuộc họp này, Thường vụ nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ Lâm thời ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa vào ngày 2/9; Chủ tịch Hồ Chí Minh phụ trách thảo bản Tuyên ngôn độc lập.

Có nhiều địa điểm được đưa ra lựa chọn để làm nơi diễn ra sự kiện trọng đại: Lễ Độc lập. Lúc đầu khu Quần ngựa hoặc Đông Dương học xá (Đại học Bách Khoa bây giờ) được đưa vào danh sách lựa chọn nhưng song không phù hợp vì thấy quá xa trung tâm Hà Nội lúc đó. Nếu chọn Quảng trường Nhà hát Lớn thành phố thì lại sợ quá chật chội. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, Quảng trường Ba Đình (Vườn hoa Ba Đình lúc đó) đã được chọn là nơi diễn ra lễ Độc lập, cho dù lúc bấy giờ xung quanh địa điểm này còn có những cơ quan như Phủ Toàn quyền, Thành Hà Nội… là những nơi vẫn còn khá nhiều lực lượng thù địch với cách mạng đang chiếm đóng.

Ngày 28/8/1945, Ban Tổ chức ngày lễ Độc lập được thành lập. Đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao nhiệm vụ cho ông Nguyễn Hữu Đang (1913-2007) làm Trưởng ban, chịu trách nhiệm lo liệu công tác tổ chức ngày lễ Độc lập với một mệnh lệnh: “Đây là sự kiện lịch sử lớn kết thúc Cách mạng tháng Tám và khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa” kèm theo một lời khích lệ đầy tin tưởng: “Việc khó mới giao cho chú!”. Công tác chuẩn bị tổ chức ngày lễ Độc lập được tiến hành gấp rút, tất cả những người tham gia thực hiện nhiệm vụ cao cả ấy đều nỗ lực hết mình, làm việc suốt ngày đêm không mệt mỏi với tinh thần trách nhiệm cao.

Công việc dựng lễ đài bắt đầu từ ngày 28/8 và phải hoàn tất trong ngày 1/9. Theo dự tính, lễ đài phải đủ cao, đủ rộng để 2/3 số dân nội và ngoại thành Hà Nội tham dự có thể nhìn thấy. Là người có kinh nghiệm tổ chức nên ngay lập tức, ông Nguyễn Hữu Đang cho mời các kiến trúc sư để thiết kế lễ đài, đồng thời cho gọi thợ mộc thi công. Lễ đài mừng ngày Độc lập, công trình kiến trúc vĩ đại được làm bằng gỗ, ván, đinh và vải. Thời gian thiết kế và thi công vẻn vẹn trong vòng 48 giờ, yêu cầu chặt chẽ không được chậm trễ, nếu chậm 1 giờ là lỡ thời cơ công bố văn kiện “Tuyên ngôn Độc lập”. Và cuối cùng thì công việc cũng đã hoàn thành theo đúng dự kiến.

Và ngày mà toàn Đảng, toàn quân, toàn dân mong đợi đã đến. Ngày 2/9/1945, khắp mọi nẻo đường, con phố trên Thủ đô Hà Nội đều tung bay cờ, hoa và khẩu hiệu chào đón sự kiện trọng đại có một không hai của dân tộc. Những ai có dịp chứng kiến giờ phút thiêng liêng của lịch sử sẽ không thể quên không khí, bối cảnh Quảng trường Ba Đình ngày lễ Độc lập năm ấy. Một biển người đứng chật Quảng trường rạng rỡ, hân hoan, náo nức, hồi hộp chờ đợi giây phút vị lãnh tụ kính yêu đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Họ giương cao cờ, hoa và biểu ngữ, môi nở nụ cười, miệng hát vang bài ca cách mạng. Rừng cờ tung bay phấp phới trước gió mùa thu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ảnh Internet

Đúng 2 giờ chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bộ kaki giản dị bước lên lễ đài với tư cách là Chủ tịch Chính phủ Lâm thời. Bằng giọng nói ấm áp, truyền cảm, Người đã đọc bản Tuyên ngôn lịch sử của dân tộc Việt Nam. Cả biển người im lặng phăng phắc lắng nghe từng câu, từng chữ của Người. Trước toàn thể quốc dân đồng bào và nhân dân thế giới, Hồ Chủ tịch đã trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Sau khi Bác đọc Tuyên ngôn độc lập, toàn thể thành viên trong Chính phủ làm lễ tuyên thệ nhậm chức. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã trình bày tình hình trong nước và chính sách của Chính phủ. Tiếp đến là Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu báo cáo về việc Đoàn đại biểu Chính phủ đi tước ấn kiếm của Bảo Đại. Đại biểu Tổng bộ Việt Minh Nguyễn Lương Bằng nói về cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Minh và hô hào quần chúng nhân dân đoàn kết ủng hộ Chính phủ, thi hành triệt để chương trình kiến quốc của Việt Minh. Cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh lên lễ đài một lần nữa, Người kêu gọi nhân dân kiên quyết hy sinh để giữ vững nền độc lập mới giành được. Lễ mít tinh đã chuyển thành một cuộc tuần hành rầm rộ trong thành phố.

Kể từ đây, một kỷ nguyên mới bắt đầu mở ra cho dân tộc ta: Kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân lao động sau những năm tháng nô lệ đã rũ bùn đứng lên trở thành con người tự do, người chủ của đất nước. Ba ngày sau đó, ngày 5/9/1945, với tư cách là chủ nhà, Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã đón tiếp quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta.

Sau lễ Tuyên bố độc lập, Quảng trường Ba Đình có tên mới là Quảng trường Độc lập. Những năm sau đó, cùng với bao thăng trầm, đổi thay của đất nước, Quảng trường Ba Đình cũng đã mấy lần đổi tên. Sau năm 1954, có ý kiến lấy tên là Quảng trường Độc lập nhưng Bác Hồ đề nghị giữ cái tên Ba Đình. Ngày Bác mất, Quảng trường Ba Đình lịch sử là nơi diễn ra lễ truy điệu Người. Sau này, Đảng và Nhà nước đã quyết định khởi công xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính tại lễ đài, nơi được dựng lên để Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập vào ngày 2/9/1945 ở Quảng trường Ba Đình.

Quảng trường Ba Đình ngày nay. Ảnh Internet

Đã 66 năm trôi qua kể từ lễ Độc lập 2/9/1945, Quảng trường Ba Đình vẫn còn giữ nguyên giá trị lịch sử, văn hóa cho đến tận ngày nay. Nơi đây đã chứng kiến bao sự kiện lớn, đánh dấu những bước trưởng thành của cách mạng nước nhà trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong suốt những năm qua, Quảng trường Ba Đình lịch sử thường xuyên được chọn là nơi để tổ chức các cuộc mít tinh, diễu binh, diễu hành kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện trọng đại hoặc đón tiếp các đoàn khách quốc tế đến thăm Việt Nam. Đây cũng là nơi diễn ra các hoạt động chính trị – văn hóa lớn có ý nghĩa giáo dục truyền thống, đạo đức cho các thế hệ con cháu Lạc Hồng./.

Thu Hiền (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Tuổi trẻ Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân báo công dâng Bác

Trong không khí thi đua chào mừng kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 và 67 năm Ngày Truyền thống lực lượng Công an nhân dân, sáng 23/8/2012, gần 200 đại biểu đoàn viên thanh niên ưu tú cùng các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy đại diện cho hơn 41 nghìn đoàn viên thanh niên Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân về dự Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ VIII đã tổ chức lễ báo công dâng Bác những thành tích đã đạt được trong nhiệm kỳ 2012-2017.

Tong cuc xay dung LLCANDLễ báo công dâng Bác của tuổi trẻ Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân

Nhiệm kỳ vừa qua, tuổi trẻ Tổng cục đã tổ chức được nhiều các phong trào thanh niên tình nguyện như: Tiếp sức mùa thi, tham gia tình nguyện ở các địa bàn trọng điểm về an ninh trật tự… Qua đó, đoàn viên thanh niên đã có cơ hội được học tập, tu dưỡng và rèn đức, luyện tài để phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, giữ gìn an ninh trật tự xã hội trong giai đoạn hiện nay.

Năm năm qua tuổi trẻ Tổng cục luôn thi đua cố gắng phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước, Bộ Công an và Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân giao phó. Tổng cục đã có 1 tập thể được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì, 4 tập thể được tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; 4 tập thể và 30 cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào “Thanh niên Công an học tập 6 điều Bác Hồ dạy” được Bộ Công an tặng Bằng khen; 17 đoàn viên thanh niên được tặng Giải thưởng “Thanh niên Công an tiêu biểu”; Đoàn Thanh niên Tổng cục được Trung ương Đoàn tặng Cờ đơn vị xuất sắc 5 năm, Cờ đơn vị dẫn đầu 3 năm liền phong trào thi đua cho 4 Đoàn trường, 155 lượt tập thể và 748 lượt cá nhân được tặng Bằng khen, 13 giải thưởng “Sao Tháng Giêng”, 3 giải thưởng 26/3, 5 giải thưởng “Trần Văn Ơn”, 4 giải thưởng “Lý Tự Trọng” và 17 Huy hiệu “Tuổi trẻ dũng cảm”…

Trước anh linh của Người, tuổi trẻ Tổng cục xin hứa với Bác sẽ luôn đoàn kết, tuyệt đối trung thành, tận tụy với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân và không ngừng phấn đấu, rèn luyện và học tập để góp phần vào công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Tầm vóc lịch sử và hiệu ứng xã hội của Cách mạng tháng Tám năm 1945

(TCTG) – Thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của cuộc cách mạng làm thay đổi số phận của cả một dân tộc. Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nhân dân ta đã vùng dậy, lật đổ ách thống trị của thực dân đế quốc và phong kiến, lập nên chính quyền cách mạng do nhân dân làm chủ trong cả nước, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập tự do. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi cùng với bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo và tuyên đọc đã khai sinh ra chế độ Dân chủ cộng hòa của Việt Nam. Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, chế độ thực dân phong kiến bị xóa bỏ, từ đây, Tổ quốc được độc lập, dân tộc và nhân dân ta được hưởng quyền tự do, hạnh phúc.

Ngót một thế kỷ với ách thống trị tàn bạo của đế quốc thực dân, nhân dân ta sống trong cảnh bị đọa đầy, đau khổ, bị chìm đắm trong những đêm dài tăm tối… đã chấm dứt. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thực sự là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc vĩ đại làm thay đổi số phận của cả một dân tộc, đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ tới tự do và làm chủ. Giải phóng để phát triển, giải phóng dân tộc để phát triển dân tộc, mở ra những tiền đề và điều kiện để dân tộc ta chẳng những hồi sinh mà còn vững bước đi tới tương lai, trên con đường lớn của lịch sử Độc lập – Tự do và Hạnh phúc.

Là một cuộc cách mạng kiểu mới và điển hình trong một xã hội thuộc địa thực dân nửa phong kiến, Cách mạng tháng Tám, năm 1945 của Việt Nam được cổ vũ và chịu ảnh hưởng sâu sắc của Cách mạng tháng Mười Nga, năm 1917 và thời đại mới do chính cuộc cách mạng đó sinh thành. Cách mạng tháng Tám là cuộc cách mạng chống đế quốc thực dân và phong kiến, đập tan mọi xích xiềng nô lệ, khẳng định những quyền cơ bản thiêng liêng của con người – quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Cách mạng đã thực hiện những quyền đó trên nền tảng của quyền tự quyết dân tộc, độc lập chủ quyền của dân tộc là cơ sở để thực hiện các quyền tự do, dân sinh và dân chủ của con người.

Tuyên ngôn Độc lập trở thành một văn kiện chính trị – pháp lý và thấm nhuần sâu sắc các giá trị nhân văn của thời đại mới đề cao dân chủ và tự do, công bằng và bình đẳng xã hội. Với con người – đó là quyền được tồn tại thực sự xứng đáng với những con người tự do, quyền được phát triển như một chủ thể nhân cách sáng tạo, ở đó, phẩm giá làm người được tôn trọng và những đè nén, áp bức, bất công làm nhục con người, thống trị dân tộc trong tình cảnh nô lệ bị xóa bỏ. Đi vào lịch sử và sống mãi với thời gian, Tuyên ngôn Độc lập gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, với ý chí và khí phách của dân tộc Việt Nam “Thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Bản Tuyên ngôn ấy thực sự là Tuyên ngôn Lập quốc, Tuyên ngôn Dựng nước của dân tộc Việt Nam trong thời hiện đại. Nó kế thừa truyền thống anh hùng, bất khuất của ông cha ta qua mọi triều đại, nó tiếp nối và phát triển sức sống mãnh liệt, giá trị và bản sắc văn hóa cũng như bản lĩnh chính trị của dân tộc ta qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước để làm thăng hoa trí tuệ và tâm hồn Việt Nam, chân lý và đạo lý Việt Nam trong kỷ nguyên độc lập tự do, trong thời đại mới mang tên Thời đại Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Tuyên ngôn Độc lập mang tinh thần cách mạng triệt để, thấm đượm một triết lý phát triển đồng thời là thông điệp phát triển của Việt Nam trong thời đại mới. Đó là một áng thiên cổ hùng văn tiếp nối liền mạch với các áng thiên cổ hùng văn trước đó của ông cha ta với những âm hưởng hào sảng của Lý Thường Kiệt, dũng khí mãnh liệt của Trần Quốc Tuấn, trí tuệ và nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, trù tính định liệu việc lớn để an dân trị quốc của Nguyễn Huệ – Quang Trung.

Cách mạng tháng Tám đã dẫn tới Tuyên ngôn Độc lập và Tuyên ngôn Độc lập đã tổng kết và nâng cao tầm vóc của cuộc Cách mạng vĩ đại này, không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn có vị trí và ý nghĩa xứng đáng trong lịch sử chính trị thế giới hiện đại. Lịch sử càng lùi xa, những tư tưởng, giá trị và những bài học kinh nghiệm của các cuộc cách mạng chân chính do sức mạnh đoàn kết và sáng tạo của nhân dân làm nên càng trở nên sâu sắc và sống động.

Nhớ lại hơn 80 năm về trước, khi Đảng còn chưa ra đời, cách mạng còn đang ấp ủ những mầm mống sinh thành, trong tác phẩm nổi tiếng “Đường Kách mệnh” (1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã viết: Cách mệnh là phá cái cũ lỗi thời, lạc hậu đổi ra cái mới tiến bộ, phát triển. Người còn nói rõ, muốn làm cách mệnh xã hội, trước hết phải cách mệnh chính bản thân mình đã.

Bởi thế, muốn cho cách mệnh thắng lợi và đến nơi (tức là triệt để) thì Đảng cách mệnh, người cách mệnh phải có chủ nghĩa làm cốt, phải giữ chủ nghĩa cho vững và phải ít lòng tham muốn (ham muốn) về vật chất.

Trong hình thức dung dị của ngôn từ, đây thực sự là những quan niệm, những định nghĩa kinh điển về cách mạng và nhân cách của người cách mạng.

Với tư cách là tư tưởng, đây thực sự là những tư tưởng lớn, những dự cảm sâu sắc, ở tầm chiến lược, được vạch ra bởi một thiên tài – kết tinh sâu sắc và tốt đẹp nhất những tinh hoa của dân tộc và thời đại. Thiên tài ấy là Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Thế kỷ XX – một thế kỷ anh hùng và bi tráng, thế kỷ đã sản sinh ra những cuộc cách mạng điển hình, mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, tiếp nối bởi Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Việt Nam, Cách mạng 1949 của Trung Quốc cũng như Cách mạng Cuba những năm 60 và những cuộc cách mạng khác…

Theo GS.TS Hoàng Chí Bảo
Hội đồng Lý luận Trung ương
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Gửi đoàn chủ tịch Quốc tế nông dân (8-3-1926)

Các đồng chí thân mến,

Tôi muốn biết tại sao tất cả những thư mà tôi đã gửi đến các đồng chí đều không được trả lời, và nhất là những yêu cầu của tôi về báo cáo và tài liệu khác dùng cho tuyên truyền.

Tất cả những thư mà các đồng chí giao cho tôi để gửi đi Giava, Manila, ấn Độ và những nơi khác đã được gửi đi. Chỉ có một thư quay trả lại tôi, vì không có người nhận, đó là thư gửi Ban biên tập Petir, Langiơ, átgét – Xumatơra 1 .

Tôi gửi đến các đồng chí những bài cắt ở báo có liên quan đến phong trào nông dân (tháng 2 và tháng 3), và một số báo nông dân của Quốc dân đảng.

Tôi vẫn hy vọng các đồng chí vui lòng gửi cho tôi tài liệu để tuyên truyền. Xin gửi các đồng chí lời chào anh em.

Quảng Châu, ngày 8-3-1926. NILỐPXKI (N.A.Q)

——————–

Thư đánh máy bằng tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Báo cáo gửi Quốc tế cộng sản (1928)

(Báo cáo của Đông Dương)

Đồng chí thân mến,

A. Sau đây là những việc tôi đã làm cho Đông Dương từ khi đến đây:

1. Tổ chức một tổ bí mật.

2. Tổ chức một Hội liên hiệp nông dân (những người An Nam sống ở Xiêm).

3. Tổ chức một tổ thiếu nhi (7) lựa chọn trong con em nông dân và công nhân. Các em đang ở Quảng Châu và được nuôi dạy bằng tiền của chúng tôi.

4. Tổ chức một tổ phụ nữ cách mạng (bắt đầu từ tháng 4 gồm khoảng 12 hội viên).

5. Tổ chức một trường tuyên truyền 40 . Các học viên được bí mật đưa đến Quảng Châu. Sau một tháng rưỡi học tập họ trở về nước. Khoá thứ nhất được 10 học viên. Khoá thứ hai sẽ mở vào tháng 7 tới, sẽ có khoảng 30 người.

Vì đi đường thì lâu ngày (khoảng 2 tuần lễ), nguy hiểm và tốn kém nhiều và khả nǎng tài chính của chúng tôi thì eo hẹp (với tiền lương của tôi, tiền lương của một trong số các đồng chí của tôi và một ít trợ cấp của các đồng chí Nga), nên công việc không được nhanh chóng như chúng tôi mong muốn.

B. Về tình hình chính trị Đông Dương thì đồng chí hãy đọc bài của tôi gửi cho Inprekorrkèm theo đây.

C. ở Pari có một tổ chức của thuộc địa – Hội liên hiệp các thuộc địa 41 – trong đó có nhiều người An Nam. Những người An Nam này có 2 tờ báo: tờ Le Paria 42 bằng tiếng Pháp và tờ L’Ame Annamite 1 bằng tiếng quốc ngữ. Trong số người An Nam đó có một người, Nguyễn Thế Truyền, mà các đồng chí chúng ta ở Ban nghiên cứu thuộc địa biết rõ. Tôi nhờ đồng chí giúp tôi liên lạc với Nguyễn Thế Truyền do Ban nghiên cứu thuộc địa làm trung gian và nói với Nguyễn Thế Truyền gửi các tờ báo đó cho tôi. Tất cả thư từ gửi cho tôi phải qua Mátxcơva, vì không thể liên lạc trực tiếp được.

D. ở đây, chúng tôi đã xuất bản tờ báo hằng tuần “Thanh niên” 43 .

3. Từ 20 tháng 4, tôi có gửi cho hiệu sách của Đảng 550 phrǎng và nhờ gửi cho tôi báo L’ Humanité, báo La Vie Ouvrière và tạp chí Inprekorr bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, mà các đồng chí Trung Quốc đã yêu cầu tôi cung cấp. Hôm nay là ngày 3 tháng 6 mà tôi vẫn chưa nhận được gì cả. Nhờ đồng chí hỏi giùm hiệu sách vì sao?

Cảm ơn và gửi đồng chí lời chào cộng sản thân thiết.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Địa chỉ: Nilốpxki

Nhờ ông lãnh sự Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết tại Quảng Châu chuyển.

————————-

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

Gửi uỷ ban trung ương thiếu nhi (22 – 7- 1926)

Các đồng chí thân mến,

Chúng tôi có tại đây (Quảng Châu, Trung Quốc) một nhóm thiếu nhi An Nam 44 . Các em đều từ 12 đến 15 tuổi. Đó là những thiếu nhi cộng sản đầu tiên của nước An Nam, bị chủ nghĩa đế quốc Pháp áp bức, và ở đó mọi việc giáo dục đều bị cấm. Các em còn nhỏ nhưng các em đã đau khổ nhiều. Các em đã để cha mẹ ở nhà cách hàng nghìn kilômét để bí mật đến Trung Quốc. Nhiều em có cha mẹ bị người Pháp bắt giam vì các em đã bỏ gia đình đi ra nước ngoài, như những người cách mạng!

Khi chúng tôi nói với các em về Cách mạng Nga, về Lênin và về các bạn, – những chiến sĩ lêninnít Nga nhỏ tuổi – thì các em rất sung sướng và đòi sang với các bạn, để thǎm các bạn, ở với các bạn, học tập với các bạn, và để trở thành như các bạn – những chiến sĩ lêninnít chân chính nhỏ tuổi.

Chúng tôi đã hứa với các em là sẽ viết thư cho các bạn về vấn đề đó. Và giờ đây tôi đã làm việc ấy. Chúng tôi hy vọng rằng các bạn sẽ không từ chối tiếp nhận 3 hay 4 bạn nhỏ An Nam của các bạn, có phải không? Nếu các bạn đồng ý cho các em đến thì các bạn sẽ làm những việc sau đây:

1. Uỷ nhiệm cho đồng chí Bôrôđin, đại diện của Liên Xô tại Quảng Châu, làm mọi điều cần thiết cho hành trình của các em (gửi thư của các bạn cho Quốc tế Cộng sản hay cho Bộ Dân uỷ ngoại giao) .

2. Nói rõ các bạn có thể tiếp nhận bao nhiêu thiếu nhi An Nam.

3. Đến tháng nào thì ở Mátxcơva bắt đầu rét? (Vì các em thiếu nhi đó đến từ một nước rất nóng, phải chọn thời gian cho các em đi).

4. Tới Mátxcơva thì các em sẽ đến địa chỉ nào?

Tôi đợi các bạn trả lời và gửi đến các bạn lời chào cộng sản.

Ngày 22 tháng 7 nǎm 1926
NGUYỄN ÁI QUỐC

Địa chỉ của tôi: Nilốpxki,
Hãng thông tấn Rôxta,
Quảng Châu, Trung Quốc.

————————-

Tài liệu tiếng Pháp (1) , lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng
cpv.org.vn

Gửi đại diện đoàn thanh niên cộng sản Pháp tại Quốc tế thanh niên cộng sản (22 – 7 – 1926)

Đồng chí thân mến,

Chúng tôi đã đưa đến Quảng Châu một số trẻ em An Nam. Chúng tôi đã lập một nhóm thiếu nhi. Chúng tôi muốn gửi 3 hay 4 em qua Nga để các em được tiếp thụ một nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa tốt đẹp. Tôi đã viết thư cho Uỷ ban trung ương thiếu nhi Mátxcơva. Tôi đề nghị đồng chí ủng hộ yêu cầu của tôi và tiến hành mọi hoạt động cần thiết để người ta trả lời tôi được mau chóng và thuận lợi hơn.

Tôi chờ thư trả lời của đồng chí và gửi đến đồng chí lời chào cộng sản anh em.

Địa chỉ:

Ô. Lu, Thông tấn xã Rôxta, Quảng Châu, Trung Quốc.

(Đồng chí hãy đưa thư của đồng chí cho người liên lạc của Quốc tế Cộng sản và đừng gửi qua bưu điện, vì ở đây tôi hoạt động bất hợp pháp).

Quảng Châu, ngày 22 tháng 7 nǎm 1926
NGUYỄN ÁI QUỐC

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

Sức mạnh của lòng dân

Cách đây tròn 67 năm, dân tộc Việt Nam bắt đầu bước vào kỷ nguyên tự do, độc lập. Chính quyền non trẻ và nền độc lập của dân tộc Việt Nam được xác lập bởi sức mạnh vô song của lòng dân muôn người như một. “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết hợp thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn; nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”.

Sự đúc kết bất hủ ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phản ánh những điển hình lịch sử trọng đại của đất nước như Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mà vẫn luôn mang ý nghĩa thời sự nóng hổi theo dòng chảy thời gian với biết bao thách thức thời cuộc trước khát vọng đưa quốc gia dân tộc tiến lên với thời đại.

Qua hàng ngàn năm lịch sử, nền độc lập và chủ quyền đất nước Việt Nam đã được gìn giữ bởi tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc. Ở những thời điểm ngặt nghèo của lịch sử, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam luôn là mạch nguồn năng lượng to lớn hợp thành sức mạnh đưa dân tộc ta vượt qua bao thác ghềnh làm nên những trang sử vẻ vang. Thời điểm bước vào năm 1945, xét về mặt quân sự, lực lượng ngoại bang ở Việt Nam có đến con số hàng vạn quân cùng sự hậu thuẫn bộ máy cai trị của thực dân, phong kiến, trong khi chỉ có khỏang 5.000 đảng viên Cộng sản mà một số khá đông vẫn đang bị giam cầm trong tù ngục. Thế nhưng, lòng yêu nước đã quy tụ mọi tầng lớp trong xã hội dưới ngọn cờ độc lập dân tộc, trở thành sức mạnh chính trị to lớn, đập tan ách thống trị thực dân, phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân. Bước ngoặt vĩ đại trong trang sử hào hùng của dân tộc được khắc ghi vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trịnh trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trang sử mới của dân tộc ta được minh thị bằng một Nhà nước hoàn toàn mới, được thiết lập, hòan thiện cơ chế vận hành cùng mục đích vận hành gắn liền với nguyên tắc của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Đất nước Việt Nam hôm nay xứng đáng trở nên cường thịnh khi nguồn lực của hơn 86 triệu công dân được khơi dậy thỏa đáng để quốc gia vượt qua thách thức vươn lên kịp thời đại. Khát vọng ấy của dân tộc chỉ có thể hiện thực hóa khi nó gắn kết với lòng người hướng về một mối. Ấy là cơ sở hàng đầu kết nối năng lượng cả dân tộc thành một khối, trong một xã hội mà mỗi một người dân đều góp phần mình bằng những công việc thích hợp, hành động cụ thể vào công cuộc xây dựng quốc gia hưng thịnh. Sự đồng lòng của hơn 86 triệu người dân trong nước cùng hàng triệu kiều bào ta ở hải ngoại sẽ là nền tảng tạo nên sức mạnh để đất nước giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tận dụng thời cơ phát triển kinh tế, đồng thời là bức tường thành vững chắc nhất bảo đảm việc gìn giữ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc trên cơ sở những bằng chứng lịch sử, pháp lý, phù hợp với luật pháp quốc tế. Sự đồng lòng của cả dân tộc trước hết cần phải kiến tạo bởi những niềm tin xác đáng qua sự trải nghiệm thấu đáo bởi tiến trình phát triển của đất nước theo con đường do nhân dân lựa chọn ở thời đại mới. Cũng như sức mạnh của lòng dân trong tháng ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám vẫn đang tích cực hậu thuẫn quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc ngăn chặn mặt trái của cơ chế thị trường cùng những thách thức cam go của quá trình hội nhập. Bên cạnh những thành tựu của sự nghiệp đổi mới trong mấy mươi năm qua, tuy đất nước đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp, nhưng tiềm ẩn sự phát triển thiếu bền vững dần bộc lộ vẫn đang tác động tiêu cực đến đời sống xã hội và tương lai của đất nước. Trong những năm qua, bên cạnh sự giàu có một cách hợp pháp của nhiều người do quy luật thị trường mang lại, không ít kẻ giàu lên nhờ những hành vi tham nhũng, chụp giật do lợi dụng sơ hở của cơ chế, khiến nhiều giá trị xã hội bị đảo lộn, tạo trở lực đối với yêu cầu của sự phát triển của quốc gia dân tộc. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang mới đây đã chỉ ra không ít thách thức đối với hiện tình đất nước: “Ai cũng đồng tình từ bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, cào bằng, bình quân chủ nghĩa làm triệt tiêu mọi động lực phát triển, duy trì nghèo đói, nhưng chuyển sang cơ chế thị trường thì những mặt trái của nó đã giáng vào đời sống xã hội những “đòn” không kém phần khốc liệt. Có những việc tưởng như đơn giản, tưởng như dễ giải quyết, không phải là khó khăn, nhưng khi thực hiện thì đụng đâu cũng vướng vì nó không phải là một bài toán trên lý thuyết đơn thuần mà là xã hội với đủ sắc màu, với những cách nghĩ, những quyền lợi, những ứng xử khác nhau, chằng chịt, cái này níu bám và kìm giữ cái kia; cái “chăn ấm” vô tình kéo sang bên này thì bên kia bị “lạnh”… Xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để “chọc gậy bánh xe”, thậm chí để “cõng rắn cắn gà nhà”. Sự thẳng thắn của người đứng đầu Nhà nước đã và đang đồng cảm với nhiều tầng lớp nhân dân trong nỗi ưu tư trăn trở về một nền quản trị quốc gia hữu hiệu nhằm bảo vệ hiệu quả lợi ích của xã hội, bảo đảm lợi ích tối thượng của dân tộc phù hợp với xu thế của thời đại.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cùng thắng lợi vang dội của các cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc ta là những dấu ấn trọng đại của lịch sử, minh chứng về sức mạnh cộng hưởng lòng yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân vì mục tiêu độc lập dân tộc. Sức mạnh của lòng dân là chân lý chắc chắn sẽ tiếp tục được soi sáng bằng năng lượng tinh hoa của thời đại để cả dân tộc viết tiếp những trang sử hào hùng mới trên con đường cách mạng đưa đất nước tiến về phía trước. Để hôm nay và mai sau, nền độc lập dân tộc tiếp tục bừng nở những ý nghĩa nhân văn mà tất cả người dân đất Việt đều xứng đáng được thụ hưởng thành quả của các giá trị tốt đẹp “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Chu Ninh
daidoanket.vn

Tín tâm và quyết tâm

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của Đảng ta luôn nhấn mạnh vai trò của việc quán triệt và thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng. Người coi tự phê bình và phê bình là “vũ khí sắc bén”, là “thang thuốc đặc trị” những căn bệnh nguy hiểm mà một số cán bộ, đảng viên mắc phải như tham ô, lãng phí, quan liêu …

Và để thang thuốc này thực sự có tác dụng, bên cạnh thái độ nghiêm túc, trung thực, Người còn đòi hỏi ở mọi người mà trước hết là ở từng cán bộ, đảng viên phải có tín tâm và quyết tâm trong thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Bác chỉ rõ: “Trong Đảng, nơi có một vũ khí mạnh nhất để khắc phục khó khăn là phê bình và tự phê bình. Nó là vũ khí sắc bén, dùng nó thì phải đau khổ. Mà đau khổ thì sẽ đi đến thành công. Mà muốn thành công thì phải tín tâm và quyết tâm”.

Tín tâm không gì khác chính là lòng tin. Lòng tin ở trong mỗi cán bộ, đảng viên. Đây là vấn đề rất quan trọng, đặc biệt là trong quán triệt, thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Bởi suy đến cùng tự phê bình và phê bình là quá trình tự đấu tranh không khoan nhượng diễn ra trong nội tại mỗi cán bộ, đảng viên; trong nội tại từng tổ chức, đơn vị: Đó là đấu tranh giữa cái tích cực với cái tiêu cực, giữa cái tốt với cái xấu, giữa cái tiến bộ với cái lạc hậu, giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể … Cuộc đấu tranh này diễn ra liên tục, gay go và quyết liệt vì nó trực tiếp liên quan tới lợi ích, tới thể diện và lòng tự trọng của mỗi người. Do đó, từng cán bộ, đảng viên chỉ có thể thực hiện tự phê bình và phê bình một cách có hiệu quả khi và chỉ khi họ có tín tâm, có lòng tin: Tin vào ý chí cố gắng, nghị lực phấn đấu của bản thân; tin vào tinh thần đấu tranh, tính chiến đấu của đảng viên và tổ chức đảng … Lòng tin là cơ sở thôi thúc họ vươn lên khắc phục khó khăn trong công tác, là động lực giúp họ tự đấu tranh và đánh bật những cái tiêu cực, lạc hậu ra khỏi bản thân mình, tổ chức mình

Song nếu chỉ dừng lại ở tín tâm, dừng lại ở lòng tin thì chưa đủ. Muốn thực hiện tự phê bình và phê bình một cách hiệu quả, cùng với tín tâm mỗi người còn cần phải có quyết tâm. Tín tâm là cơ sở của quyết tâm, nếu không có tín tâm thì không thể có quyết tâm được. Mục đích cuối cùng của tự phê bình và phê bình là gì? Đó chính là giúp cho từng cán bộ, đảng viên cũng như các cơ quan, tổ chức nhận rõ và khắc phục được những khuyết điểm, hạn chế mà mình đã mắc phải, để mọi người cùng nhau tiến bộ hơn, công tác tốt hơn. Để thực hiện được mục đích này hoàn toàn không đơn giản. Nó đòi hỏi mỗi người nhất là cán bộ, đảng viên phải có ý chí quyết tâm rất cao. Quyết tâm để tự chiến thắng chính mình, đấu tranh và loại bỏ những cái xấu, cái tiêu cực ở ngay trong chính con người mình; trong cơ quan, đơn vị mình.

Tín tâm và quyết tâm luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau, đóng vai trò là những nhân tố quan trọng không thể thiếu để tiến hành tự phê bình và phê bình có hiệu quả. Tình trạng cán bộ, đảng viên ở một số cơ quan, tổ chức còn tự phê và phê bình một cách chung chung, hình thức chính là do họ chưa có đủ tín tâm và quyết tâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Có quyết tâm, tín tâm thì tiến bộ. Người kém tranh đấu thì thoái bộ”.

Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 Khoá XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, chúng ta đang đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng trên cơ sở nâng cao chất lượng thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Thiết nghĩ từng cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp trước hết cần làm tốt công tác giáo dục tư tưởng, xây dựng niềm tin, ý chí quyết tâm, xây dựng tín tâm và quyết tâm trong thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình ở mỗi cán bộ, đảng viên. Đây là cơ sở quan trọng, trực tiếp quyết định đến hiệu quả thực hiện tự phê bình và phê bình ở mỗi cơ quan, đơn vị, mỗi tổ chức đảng và trong toàn Đảng hiện nay.

Tạ Quang Đạo
daidoanket.vn