Archive | 2012

Chương XII: Nô lệ thức tỉnh (III- Ở XYRI ’17’)

Dân Xyri lấy làm hài lòng, rất hài lòng về chính sách cai trị của tướng Gurô, các nhà đương cục đều nói như thế. Nhưng các sự việc sau đây đã chứng minh trái ngược lại:

Tháng 3 nǎm 1922, ông Muyxtapha Kêman đến Métxin. Để đón tiếp ông, người Hồi giáo Xyri dựng một khải hoàn môn có cắm cờ đen mang các khẩu hiệu: “Thổ và Arập là anh em!”, “Xin chớ quên những người anh em Xyri”, “Hãy giải phóng cho chúng tôi”, v.v..

Việc ông Muyxtapha Kêman đến thǎm Ađana đã gây nên những cuộc biểu tình sôi nổi. Trong hai ngày liền, những người trong phong trào phục quốc ở Ǎngchiôsơ và Alếchxǎngđrét 18 đã giương cờ đen kéo qua các phố và hô lớn những khẩu hiệu chống chế độ uỷ trị Pháp.

Đáp lời kêu gọi của phái đoàn phục quốc Xyri, nghe đâu ông Muyxtapha Kêman đã nói: “Một trung tâm vǎn minh đã tồn tại 1 từ bao thế kỷ như Xyri không thể nằm trong tay người ngoại quốc được”.

Chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi cái châm ngôn “chia để trị” của nó. Chính vì thế mà nước An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói, đã bị chia nǎm sẻ bảy. Lợi dụng một cách xảo trá sự chia cắt ấy, người ta hy vọng làm nguội được tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trong lòng người An Nam và tạo ra những mối xung khắc giữa anh em ruột thịt với nhau. Sau khi đẩy họ chống lại nhau, người ta lại ghép một cách giả tạo các thành phần ấy lại, lập nên một “Liên bang” gọi là Liên bang Đông Dương.

Trong các thuộc địa mới, người ta cũng lại thấy cái sách lược ấy. Sau khi chia cắt đất nước Xyri thành “một số quốc gia”, cao uỷ Pháp ở Bâyrút lại lập một “Liên bang” Xyri, gồm các “nước” Alép, Đamát, và Alauit 2 . Một lá quốc kỳ đã được bày đặt ra nhằm mục đích đó. Cũng như đối với lá cờ An Nam, người ta không quên vá vào lá cờ liên bang đó một miếng “cờ bảo hộ”, ở góc trên gần cán. Ngày 11 tháng 12 nǎm 1922 là ngày lễ “long trọng”, lân đầu tiên lá cờ ấy được kéo lên nóc phủ liên bang ở Alép.

Trong dịp ấy, nhiều nhà cầm quyền đã đọc diễn từ. Ông Xubi Baraca Bây, chủ tịch liên bang, đã nói nào là “nước bảo hộ rộng lượng”, nào là “người hướng đạo chân thành”, nào là “những vị tướng lĩnh chiến thắng”, và hàng tràng những điều khác nữa. Ông Bôbe đơ Ke, quyền cao uỷ, cũng đọc đítcua rất dài. Ngoài những điều khác ra, vị quan cao cấp ấy đã nhắc lại rằng, “nước Xyri độc lập không phải là dân tộc đầu tiên được nước Pháp sǎn sóc từ trong nôi”, v.v.. Nhưng, tất cả những lời lẽ huênh hoang rỗng tuếch ấy chẳng đánh lừa được ai. Phái đoàn Xyri – Palextin lãnh nhiệm vụ đấu tranh cho độc lập và thống nhất – chân chính – của nước Xyri ở Hội nghị Lôdannơ 19 đã gửi một bức thư phản kháng. Bức thư này đã được đǎng trên tờ La Tribune d’Orient, và chúng tôi rất sung sướng được sao lại dưới đây:

“Thưa ngài,

“Giữa lúc người ta đương cố hàn gắn những lỗ hổng mà Hiệp ước Xevơrơ đã khoét ra trong vấn đề Cận Đông và giữa lúc dân tộc Arập đang phải chịu đựng, so với mức hy sinh tự nguyện của mình, những điều tai hại trực tiếp nhất do hiệp ước đó gây ra, thì ở hội nghị của các ngài, hội nghị tổ chức ra với mục đích thiết lập một nền hoà bình vững chắc và lâu dài, tiếng nói của các đại biểu dân tộc Arập ở các khu vực khác nhau vẫn chưa được lắng nghe.

“Thế mà chính lúc này lại là lúc các nhà cầm quyền Pháp chọn để khánh thành một cách long trọng công cuộc thực dân hoá mà họ đã tiến hành từ bốn nǎm nay bằng cách gắn cái tượng trưng cho chế độ nô lệ vĩnh viễn là những miếng cờ tam tài lên lá cờ mà người ta vừa mới gán cho cái gọi là “Liên bang Xyri”. Thế là một lần nữa, người ta lại phủ nhận những lời tuyên bố của Đồng minh, những điều mà nước Anh đã nhân danh Đồng minh cam kết với các dân tộc Arập, và ngay cả những lời của các chính khách Pháp hứa bảo đảm nền độc lập cho xứ Xyri bất hạnh. Nước Xyri hiển nhiên có đủ tư cách để được độc lập nhanh chóng, hoàn toàn, và xứng đáng với nền độc lập ấy không kém bất cứ một nước nào khác ở phương Đông hay ở phương Tây. Thế mà Xyri lại không được phép có một quốc kỳ riêng của mình. Người ta đã buộc Xyri phải đính vào quốc kỳ của mình cái mảnh tam tài làm dấu hiệu cho chế độ uỷ trị, là một sự thôn tính trá hình.

“Thưa ông chủ tịch, từ trước tới nay chúng tôi luôn luôn phản đối chế độ uỷ trị, không bao giờ chúng tôi công nhận chế độ ấy cả, ngày nay chúng tôi lại cực lực phản đối việc gắn cái dấu hiệu tượng trưng của chế độ ấy vào lá cờ của chúng tôi.

“Hầu hết các cường quốc, kể cả những nước lớn mạnh không kém gì nước Pháp, đều không bao giờ dùng phương pháp làm nhục ấy đối với những thuộc địa lạc hậu nhất của họ.

“Hiến chương Hội quốc liên 20 quy định rõ tính chất tạm thời của chế độ uỷ trị (điều 22, đoạn 4). Vậy thì nhà chức trách Pháp dựa trên cơ sở nào để gán ghép màu cờ của họ cho một nước mà họ đòi dìu dắt đến độc lập, một nền độc lập đã được Hiến chương Hội quốc liên công nhận?

“Thưa ngài, chúng tôi trân trọng yêu cầu ngài xét lời phản kháng của chúng tôi về vấn đề ấy, và một lần nữa, chúng tôi nhắc lại nguyện vọng tha thiết nhất của chúng tôi là những yêu sách chính đáng của chúng tôi sẽ được bênh vực tại hội nghị.

“Kính mong, v.v..

“Thay mặt trưởng đoàn đại biểu
Xyri – Palextin
Tổng thư ký
EMIA SEKIP ACXLAN”

Ngoài ra, những người ở Hama, phần nhiều là công chức, luật sư, giáo sư, nhà báo, nhà buôn, đã gửi cho thủ tướng Pháp một bức thư mà sau đây là những đoạn chính:

“Thưa ngài Thủ tướng, chúng tôi được hân hạnh trình bày với ngài các yêu sách của chúng tôi, đồng thời chúng tôi phản đối sự phản ứng của cái hội đồng đó, sự phản ứng mà chúng tôi cho là đã đi ngược lại lợi ích của chúng tôi và lợi ích của cả nước Xyri nói chung.

“1. Cái hội đồng liên bang ấy không phải là do quốc dân bầu ra. Vì thế, các uỷ viên của hội đồng đó hoàn toàn không có tư cách là đại biểu của quốc dân, cũng không thể phản ánh ý chí của quốc dân.

“2. Hội đồng ấy không có quyền hành gì cả; nó bị bắt buộc chỉ được thảo luận những vấn đề nào mà người ta muốn đưa ra trước nó, nên ngay cả những vấn đề sống còn của đất nước, nó cũng không thể đề cập đến được. Sau hết, các nghị quyết của hội đồng lại hoàn toàn phụ thuộc vào quyền hành của cao uỷ, cao uỷ có thể tuỳ tiện thi hành hay bác bỏ.

“3. Chính ngay cơ sở của hội đồng ấy cũng không vững, bởi vì mỗi bang chỉ có một đại biểu, mặc dầu dân số các bang không bằng nhau. Lại còn điều kỳ quặc phi lý này nữa là hội đồng không theo nguyên tắc đa số, có một ý kiến bất đồng là cuộc biểu quyết coi như không có giá trị và vấn đề phải đưa lên cao uỷ quyết định.

“4. Người ta giới thiệu hội đồng này như là một bước tiến trên con đường đi đến thống nhất, thật ra nó là sự phủ nhận thống nhất, phủ nhận ngay đến cả tư cách của đất nước nữa, vì đã là một hội đồng chỉ định ra thì nó hoàn toàn không phản ánh được ý chí của quốc dân; thậm chí nó còn có thể đi ngược lại ý chí đó, trong khi trước con mắt của toàn thế giới, nó lại có thể được coi như là cơ quan đề đạt nguyện vọng của nhân dân Xyri, và do đó sẽ cung cấp cho người ta những lý do để khước từ những yêu sách chính đáng của quốc dân chúng tôi.

….

“Còn về nguyện vọng của chúng tôi, thì có thể nêu lên như sau:

“a) Công nhận nền độc lập thật sự và sự thống nhất của Xyri.

“b) Sau khi làm xong cuộc điều tra dân số đang tiến hành thì sẽ tổ chức phổ thông đầu phiếu để bầu ra quốc hội. Quốc hội sẽ ban hành hiến pháp và quyết định chính thể. Quốc hội có thể được triệu tập vào cuối nǎm 1922, tức là lúc hội đồng liên bang sẽ được triệu tập.

“c) Thành lập một chính phủ chịu trách nhiệm trước quốc hội, và quốc hội, trong những quyền hạn của nó, phải có toàn quyền lập pháp.

“Đó mới là những nguyện vọng thật sự của nhân dân Hama, mà cũng là nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân Xyri”.

*

*     *

Từ khi tập sách nhỏ này viết xong, thì nhiều biến cố nghiêm trọng đã xảy ra ở nhiều thuộc địa. Đó là quả bom ở Quảng Châu 21 do một người An Nam ném, là những quả bom ở Ǎngtiơ, những vụ bãi công đẫm máu ở Guyađơlúp, những cuộc biểu tình không kém đổ máu ở Đamát, những vụ bãi công ở Bidéctơ 1 , ở Hammǎnglíp 2 và tình hình sôi sục ở Tuynidi.

———————————

17. Một nước ở phía Tây châu á, nằm giữa vùng Trung Đông trông ra Địa Trung Hải, thủ đô là Đamat. Vì Xyri có vị trí chiến lược nối liền ba châu, có tài nguyên phong phú nên từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu những nǎm 40 thế kỷ này bị nhiều nước đế quốc như Anh, Pháp, Thổ xâm chiếm. Pháp còn đặt ra chế độ uỷ trị và chia cắt Xyri thành nhiều nước rồi lại lập ra liên bang Xyri để dễ bề cai trị. Trước tình hình đó, phong trào đấu tranh của nhân dân Xyri đòi quyền độc lập và thống nhất đất nước ngày càng mạnh mẽ. Vào những nǎm 20 của thế kỷ này, đã có hai đợt sóng đấu tranh mãnh liệt: 1919-1923 và 1925-1926, nhằm thực hiện nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân Xyri là Công nhận nền độc lập thật sự và thống nhất của nhân dân Xyri. Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, tác giả đã vạch trần chính sách cai trị và âm mưu chia để trị của thực dân Pháp ở Xyri cũng như ở Việt Nam và các nước thuộc địa khác; ca ngợi phong trào đấu tranh của nhân dân Xyri giành độc lập và thống nhất đất nước trong những nǎm 20 của thế kỷ này. Tr.115.

cpv.org.vn

Chương XII: Nô lệ thức tỉnh (IV- CÁCH MẠNG NGA VỚI CÁC DÂN TỘC THUỘC ĐỊA)

Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra.

Cách mạng Nga hiểu rất rõ điều đó. Cho nên nó không dừng lại ở việc đọc những bài diễn vǎn lý tưởng đẹp đẽ và thông qua những kiến nghị nhân đạo để ủng hộ các dân tộc bị áp bức, mà cách mạng Nga dạy cho họ đấu tranh. Cách mạng Nga giúp đỡ họ về tinh thần và vật chất như Lênin đã viết trong luận cương của Người về vấn đề thuộc địa. Cách mạng Nga đã triệu tập họ đến Đại hội Bacu 22 : hai mươi mốt dân tộc phương Đông đã phái đại biểu tới dự. Những đại biểu của các đảng công nhân phương Tây cũng tham gia Đại hội. Đó là lần đầu tiên trong lịch sử, giai cấp vô sản ở các nước xâm lược và giai cấp vô sản ở các nước bị xâm lược đã nắm tay nhau trong tình anh em và cùng nhau tìm cách đấu tranh cho có hiệu quả chống chủ nghĩa tư bản là kẻ thù chung của họ.

Sau cuộc Đại hội lịch sử ấy, mặc dù đang phải đương đầu với những khó khǎn dồn dập trong nước và ngoài nước, nước Nga cách mạng vẫn không hề một phút do dự trong việc giúp đỡ các dân tộc ấy, những dân tộc mà nó đã thức tỉnh bằng tấm gương cách mạng anh dũng và thắng lợi của nó. Việc làm đầu tiên của nó là thành lập Trường đại học phương Đông.

Hiện nay, Trường đại học phương Đông có l.025 sinh viên mà 151 là nữ sinh. Trong số sinh viên đó, có 895 người là đảng viên cộng sản. Thành phần xã hội của sinh viên như sau: 547 nông dân, 265 công nhân, 210 trí thức. Ngoài ra còn có 75 học sinh thiếu niên từ l0 đến 16 tuổi.

Có 150 giáo sư phụ trách giảng dạy về khoa học xã hội, về toán học, về chủ nghĩa duy vật lịch sử, về lịch sử phong trào công nhân, về khoa học tự nhiên, về lịch sử các cuộc cách mạng, về khoa kinh tế – chính trị, v.v., v.v.. Trong lớp học, thanh niên của sáu mươi hai dân tộc sát cánh nhau như anh em ruột thịt.

Trường có 10 ngôi nhà lớn dành cho sinh viên. Lại có một rạp chiếu bóng, thứ nǎm và chủ nhật chiếu cho sinh viên xem không lấy tiền, các ngày khác thì cho một người thầu thuê. Có hai thư viện với 47.000 quyển sách giúp cho các nhà cách mạng trẻ tuổi bồi dưỡng tư tưởng và đi sâu vào việc nghiên cứu. Mỗi dân tộc hoặc “nhóm” lại có một tủ sách riêng gồm sách báo bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Phòng đọc sách được sinh viên trang trí rất có mỹ thuật, và có đầy đủ các báo hằng ngày và tạp chí.

Sinh viên tự mình cũng ra một tờ báo có “một bản duy nhất” dán vào một cái bảng to đặt trước cửa phòng đọc sách. Những người đau ốm được điều trị trong bệnh viện của nhà trường. Một trại điều dưỡng ở Crimê được dành riêng cho những sinh viên mới ốm dậy. Chính phủ Xôviết tặng nhà trường hai trại nghỉ gồm có chín ngôi nhà. Mỗi trại có một nhà chǎn nuôi để nghiên cứu việc chǎn nuôi. Đồng chí bí thư nông nghiệp của trường không giấu nổi niềm tự hào khi nói với tôi: “Chúng tôi đã có 30 con bò cái và 50 con lợn”. Trại còn có 100 hécta đất để cho sinh viên trồng trọt. Trong các kỳ nghỉ, sau giờ làm việc và tập luyện, sinh viên đi giúp đỡ nông dân.

Nhân đây cũng nói thêm rằng, một trong hai trại nghỉ ấy trước kia là tài sản của một đại công tước Nga 1 . Thật là ngộ nghĩnh khi trông thấy lá cờ đỏ kiêu hãnh phấp phới trên đỉnh ngọn tháp được trang điểm bằng chiếc mũ miện đại công tước và thấy những người nông dân trẻ tuổi Triều Tiên hay ácmêni chuyện trò và vui đùa không chút kiêng nể trong phòng lễ của “hoàng tử điện hạ”.

Sinh viên ǎn, mặc, ở đều không mất tiền. Mỗi tháng, mỗi người còn được lĩnh nǎm rúp vàng để tiêu vặt.

Để sinh viên có những kiến thức cơ bản về khoa nuôi trẻ, nhà trường nhận đỡ đầu một nhà nuôi trẻ và một nhà gửi trẻ kiểu mẫu gồm 60 em nhỏ xinh xắn.

Mỗi nǎm Trường đại học phương Đông chi tiêu đến 516.000 rúp vàng.

Các đại biểu của 62 dân tộc trong Trường đại học lập thành một “công xã”. Chủ tịch và các cán sự của công xã đều do đầu phiếu phổ thông bầu ra, ba tháng một lần. Một đại biểu sinh viên tham gia việc quản lý kinh tế và hành chính. Tất cả các sinh viên đều lần lượt thay phiên nhau làm bếp, làm công tác thư viện, câu lạc bộ, v.v.. Tất cả những vụ tranh chấp và “phạm pháp” đều do một toà án được bầu ra xét xử trước mặt toàn thể các đồng chí. Mỗi tuần, công xã họp một lần để thảo luận tình hình chính trị và kinh tế thế giới. Thỉnh thoảng lại tổ chức những cuộc mít tinh và những buổi tối giải trí, trong đó có những nghệ sĩ tài tử đột xuất làm cho anh em được thưởng thức nghệ thuật và vǎn học muôn màu muôn vẻ của những đất nước xa xôi.

Một điểm đặc biệt làm nổi bật sự “dã man” của những người bônsêvích là không những họ coi những người dân thuộc địa “thấp kém” ấy như anh em, mà còn mời họ tham gia đời sống chính trị của nước Nga nữa. Những sinh viên khi ở quê hương mình chỉ là những “dân thuộc địa”, “dân bị bảo hộ”, nghĩa là những người không có quyền gì khác ngoài quyền nộp thuế, những người không được góp ý kiến vào công việc của nước mình, không được phép bàn bạc chính trị, thì nay được tham gia tổng tuyển cử của nhân dân để bầu những đại biểu của mình vào các Xôviết. Mong rằng những anh em của tôi ở các thuộc địa đang hoài công tốn của cầu cạnh xin xỏ thay đổi quốc tịch mãi mà không được, hãy thử so sánh nền dân chủ tư sản với nền dân chủ vô sản xem! 1 .

Tất cả những sinh viên ấy đều đã từng chịu đau khổ và trông thấy cảnh đau khổ. Tất cả đều đã sống dưới “nền vǎn minh cao đẳng” và dưới sự áp bức bóc lột của chủ nghĩa tư bản nước ngoài. Cho nên, tất cả đều phấn khởi và thiết tha học hỏi. Họ rất hǎng hái và nghiêm túc. Họ hoàn toàn không có vẻ công tử ǎn chơi nhàn nhã 2 như những thanh niên phương Đông du học ở Pari, Ôxpho, hoặc Béclin. Người ta có thể nói không ngoa rằng Trường đại học phương Đông ấp ủ dưới mái của mình tương lai của các dân tộc thuộc địa.

Miền Cận Đông và Viễn Đông, kể từ Xyri đến Triều Tiên – chỉ tính những nước thuộc địa và nửa thuộc địa thôi – có một diện tích rộng hơn 15 triệu kilômét vuông, với số dân hơn l.200 triệu người. Tất cả những nước rộng lớn ấy hiện đang ở dưới ách của chủ nghĩa đế quốc tư bản. Và mặc dầu dân số của họ đáng lẽ phải làm cho họ có sức mạnh, các dân tộc bị áp bức đó vẫn chưa bao giờ ra sức tìm tòi thật đến nơi đến chốn con đường tự giải phóng, cho nên họ chưa hiểu được giá trị của sự đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Họ chưa có những mối liên hệ giữa các lục địa như các dân tộc châu Âu và châu Mỹ. Họ có sẵn trong bản thân một sức mạnh vô cùng to lớn mà họ chưa biết! Việc thành lập Trường đại học phương Đông đánh dấu một kỷ nguyên mới; trong khi tập hợp những người trẻ trung, hoạt bát, thông minh của các nước thuộc địa lại, nhà trường đang tiến hành một sự nghiệp vĩ đại là:

a) Giáo dục cho các chiến sĩ tương lai ấy nắm được nguyên lý đấu tranh giai cấp là nguyên lý mà một mặt, những cuộc đấu tranh chủng tộc, mặt khác, những tập tục gia trưởng đã làm cho mơ hồ, lẫn lộn trong đầu óc họ.

b) Làm cho đội tiên phong của lao động thuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương Tây để dọn đường cho một sự hợp tác thật sự sau này; chỉ có sự hợp tác này mới bảo đảm cho giai cấp công nhân quốc tế giành được thắng lợi cuối cùng.

c) Làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong nhưng cái cánh của cách mạng vô sản.

d) Nêu lên cho giai cấp vô sản ở những nước mà giai cấp tư sản có thuộc địa, một tấm gương về những điều họ có thể làm và phải làm cho những người anh em của họ đang bị nô dịch.

cpv.org.vn

Chương XII: Nô lệ thức tỉnh (V. HỠI ANH EM VÔ SẢN VÀ NÔNG DÂN CÁC THUỘC ĐỊA!)

Cuộc chém giết đẫm máu thế giới đã mở mắt cho hàng triệu vô sản và nông dân các thuộc địa thấy rõ hoàn cảnh sinh sống không sao chịu nổi của mình. Một loạt những cuộc bùng nổ cách mạng mãnh liệt, nhưng chưa được tổ chức, đã đánh dấu sự kết thúc của cuộc chiến tranh thế giới. Lực lượng tự phát không gì ngǎn nổi và khát khao chiến đấu cho một tương lai tốt đẹp hơn ấy, là do giai cấp tư sản dân tộc bản xứ tổ chức và lãnh đạo. Lớn mạnh lên trong thời kỳ chiến tranh, giai cấp tư sản dân tộc đó không muốn nằm mãi trong nanh vuốt của chủ nghĩa đế quốc và để cho chúng nắm phần to lớn nhất trong việc bóc lột “công nhân và nông dân của mình” nữa. Khẩu hiệu đấu tranh giải phóng dân tộc của giai cấp tư sản trẻ tuổi ở thuộc địa đề ra, được quần chúng lao động ở ấn Độ, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, v.v. hoan nghênh nhiệt liệt và ủng hộ mạnh mẽ.

Quốc tế Cộng sản đấu tranh không ngừng chống bọn cá mập tư sản ở tất cả các nước trên thế giới. Có thể nào nó lại giả vờ quay lưng lại với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa được không ?

Không! Quốc tế Cộng sản đã công khai tuyên bố ủng hộ và giúp đỡ cuộc đấu tranh ấy, và trung thành với mục tiêu của mình, Quốc tế Cộng sản vẫn tiếp tục ủng hộcuộc đấu tranh ấy.

(Trích Tuyên ngôn của
Ban Chấp hành Quốc tế thứ ba)

cpv.org.vn

Chương XII: Nô lệ thức tỉnh (VI- MỘT BẢN HIỆU TRIỆU CỦA QUỐC TẾ NONG DÂN GỬI NÔNG DÂN LAO ĐỘNG CÁC THUỘC ĐỊA)

Quốc tế Nông dân mới đây họp Đại hội lần đầu tiên ở Mátxcơva đã ra lời kêu gọi dưới đây để tỏ rõ sự quan tâm của mình đối với nông dân lao động các thuộc địa:

Hỡi anh chị em nông dân lao động các thuộc địa!

Hỡi anh chị em nông dân thuộc địa, anh chị em là những người nô lệ hiện đại: hàng triệu anh chị em ở ngoài đồng ruộng, trên thảo nguyên và trong núi rừng của hai lục địa, đang rên xiết dưới hai tầng áp bức của chủ nghĩa tư bản nước ngoài và bọn chủ bản xứ.

Họp lần đầu tiên ở Mátxcơva để thành lập một tổ chức đấu tranh mà cho đến nay nông dân chưa có, Đại hội Quốc tế Nông dân kêu gọi ý thức giai cấp của anh chị em và yêu cầu anh chị em hãy gia nhập hàng ngũ tổ chức đó.

Anh chị em còn khốn khổ hơn các bạn nông dân ở chính quốc, vì ngày công quá dài, vì đói khổ, vì ngày mai bấp bênh.

Anh chị em thường bị cưỡng bách lao động như khổ sai, bị bắt đi khuân vác đến chết người và đi lao dịch không thời hạn.

Anh chị em bị đè bẹp dưới thuế khoá.

Chủ nghĩa tư bản bóc lột dìm anh chị em trong cảnh tối tǎm ngu dốt, áp bức anh chị em về mặt tư tưởng và tiêu diệt nòi giống của anh chị em bằng rượu và thuốc phiện.

Chế độ bản xứ bỉ ổi do bọn đế quốc tư bản đặt ra, tước mất của anh chị em mọi quyền tự do cá nhân, mọi quyền lợi chính trị và xã hội, do đó, đã hạ anh chị em xuống thân phận trâu ngựa.

Đẩy anh chị em vào cảnh cùng khổ và phá sản như vậy chưa đủ, chủ nghĩa tư bản còn bắt anh chị em lìa bỏ gia đình, đồng ruộng, đưa anh chị em ra làm bia đỡ đạn, ném anh chị em vào những cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn đánh lại nhân dân bản xứ khác hoặc chống lại nông dân, công nhân ở chính quốc.

Hỡi anh chị em cùng khổ ở các thuộc địa!

Hãy đoàn kết lại!

Hãy tổ chức lại!

Hãy phối hợp hành động của anh chị em với hành động của chúng tôi, chúng ta cùng nhau đấu tranh cho công cuộc giải phóng chung!

Công cuộc giải phóng nhân dân thuộc địa thành công muôn nǎm!

Quốc tế lao động muôn nǎm!

Quốc tế Nông dân muôn nǎm!

cpv.org.vn

Chương XII: Nô lệ thức tỉnh (VII- TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN Ở THUỘC ĐỊA)

Trích biên bản phiên họp ngày 27 tháng 6 nǎm 1923, kỳ họp thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Quốc tế Công hội đỏ.

Đấu tranh công đoàn ở thuộc địa

Chủ nghĩa đế quốc hiện đại đặt nền móng trên sự bóc lột hàng triệu người lao động ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa. Bởi thế, nó chỉ tan rã hoàn toàn và vĩnh viễn khi nào chúng ta phá bỏ được nền móng đó của lâu đài đế quốc chủ nghĩa. Theo quan điểm đó, việc tổ chức công đoàn ở các nước thuộc địa có một tầm quan trọng đặc biệt. Thế mà đoàn viên của Quốc tế Công hội đỏ hầu như chưa hề làm được gì ở Ai Cập, ở Tuynidi và ở tất cả các nước đương nằm dưới gót sắt của chủ nghĩa đế quốc Pháp. Mối liên hệ hiện có giữa các nhóm công nhân ở các thuộc địa Pháp và các công đoàn Pháp chỉ là do ngẫu nhiên. Không có một hoạt động có hệ thống nào cả, mà rõ ràng là nếu chưa tranh thủ được quần chúng ở thuộc địa thì chúng ta không đủ sức phá huỷ bộ máy đế quốc chủ nghĩa. Việc cần thiết hiện nay là phải phát động một cuộc tuyên truyền rộng lớn để thành lập các tổ chức công đoàn ở các nước thuộc địa và phát triển các công đoàn hiện có dưới hình thức phôi thai. Ngoài ra, chúng ta cần phải tỏ rõ tình hữu ái giai cấp thực sự giữa những người lao động thuộc mọi dân tộc, mọi chủng tộc để khắc phục sự nghi kỵ của những người lao động thuộc địa đối với những đại diện của những chủng tộc thống trị. Mối liên hệ hữu cơ giữa công đoàn thuộc địa và công đoàn chính quốc chỉ có thể là kết quả của một quá trình công tác rất lâu dài trong các thuộc địa.

Không được quên những người lao động thuộc địa, phải giúp đỡ các tổ chức của họ, đấu tranh bền bỉ chống những chính phủ của chính quốc đang áp bức các thuộc địa, đó là một trong những nhiệm vụ cấp thiết nhất của tất cả các công đoàn cách mạng, nhất là ở các nước có giai cấp tư sản đi nô dịch và bóc lột các nước thuộc địa và nửa thuộc địa.

cpv.org.vn

Chương XII: Nô lệ thức tỉnh (TUYÊN NGÔN CỦA “HỘI LIÊN HIỆP THUỘC ĐỊA” (23) , TỔ CHỨC CỦA NHỮNG NGƯỜI DÂN BẢN XỨ Ở TẤT CẢ CÁC THUỘC ĐỊA)

“Hỡi anh em ở các thuộc địa!Nǎm 1914, vì phải đương đầu với một tai hoạ ghê gớm, những người cầm quyền nhà nước đã quay về phía anh em và yêu cầu anh em đồng tình góp phần hy sinh của mình để cứu vãn một tổ quốc mà người ta nói là của anh em, nhưng thật ra cho đến khi đó, anh em chỉ biết có cái đầu óc thống trị của nó mà thôi.

“Để làm cho anh em không ngần ngại, họ không quên làm loé lên trước mắt anh em những quyền lợi mà sự hợp tác với họ sẽ đưa lại cho anh em. Nhưng qua cơn bão táp rồi, thì đâu lại hoàn đó, anh em vẫn phải sống trong chế độ bản xứ, với những toà án đặc biệt, thiếu hẳn các quyền lợi gắn liền với phẩm giá con người như quyền tự do lập hội, tự do hội họp, tự do báo chí, tự do đi lại ngay cả trên đất nước của anh em. Đó là về mặt chính trị.

“Về mặt kinh tế, anh em vẫn phải chịu nạn sưu dịch nặng nề mà nhân dân oán ghét, vẫn phải đóng thuế muối, vẫn bị đầu độc và cưỡng bách tiêu thụ rượu và thuốc phiện như ở Đông Dương, vẫn bị đi gác đêm để canh giữ tài sản cho bọn cá mập thực dân, như ở Angiêri.

“Lao động như nhau, nhưng công sức của anh em lại bị trả tiền ít hơn các bạn người Âu của anh em.

“Cuối cùng, người ta hứa hẹn với anh em đủ mọi thứ trên trời dưới biển, nhưng giờ đây anh em thấy toàn là những lời lừa dối cả.

“Anh em phải làm thế nào để được giải phóng?

“Vận dụng công thức của Các Mác 1 , chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em.

“Hội Liên hiệp thuộc địa thành lập chính là để giúp đỡ anh em trong công cuộc ấy.

“Với sự giúp đỡ của các đồng chí ở chính quốc đồng tình với sự nghiệp của chúng ta, Hội tập hợp tất cả những người quê ở thuộc địa hiện sống trên đất Pháp.

“Biện pháp hoạt động:Để thực hiện sự nghiệp chính nghĩa ấy, Hội quyết định đưa vấn đề ra trước dư luận bằng báo chí và ngôn luận (tổ chức nói chuyện, mít tinh, thông qua các bạn dân biểu mà đặt vấn đề ra trên diễn đàn các nghị viện) và bằng tất cả mọi biện pháp mà chúng ta có thể làm.

“Hỡi các bạn bị ápbức ở chính quốc! Giai cấp tư sản trong nước các bạn đã lừa dối các bạn, dùng các bạn làm công cụ đi xâm lược đất nước chúng tôi. Ngày nay, vẫn dùng cái chính sách quỷ quyệt ấy giai cấp tư sản nước các bạn lại định dùng chúng tôi để đàn áp mọi cố gắng tự giải phóng của các bạn.

“Đứng trước chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, quyền lợi của chúng ta là thống nhất, các bạn hãy nhớ lời kêu gọi của Các Mác:

“Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!”.

“Hội Liên hiệp thuộc địa”

——————————–

23. Hội Liên hiệp thuộc địa là một tổ chức cách mạng của những người thuộc địa, do Nguyễn Ái Quốc cùng một số người yêu nước của các nước thuộc địa Pháp sáng lập tháng 7-1921 tại nhà số 9 phố Valét, Pari. Cuộc họp đầu tiên của Hội vào ngày 9-l0-1921. Lúc đầu Hội có 200 hội viên và hai tổ chức người thuộc địa xin gia nhập là Hội những người Việt Nam yêu nước và Hội đấu tranh cho quyền công dân của người Mađagátxca. Ban thường vụ của Hội gồm 7 người, đứng đầu là Nguyễn Ái Quốc. Cơ quan tuyên truyền của Hội là tờ báo Le Paria. Ngoài ra, Hội những người Việt Nam yêu nước còn ra riêng tờ báo Việt Nam hồn. Đến nǎm 1926, Hội ngừng hoạt động. Tuyên ngôn của Hội do Nguyễn Ái Quốc thảo ra đã nêu rõ mục đích của Hội là tập hợp mọi người dân thuộc địa cư trú trên đất Pháp nhằm tố cáo trước dư luận những tội ác của chủ nghĩa thực dân, tuyên truyền giác ngộ nhân dân các thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Hội đoàn kết nhân dân các nước thuộc địa trong mặt trận chung chống chủ nghĩa đế quốc và xây dựng quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân các nước thuộc địa với giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp. Sự ra đời của Hội Liên hiệp thuộc địa với Tuyên ngôn của nó là một sự kiện chính trị rất quan trọng đối với các dân tộc bị áp bức. Tr.127.

cpv.org.vn

 

 

 

Cách mạng Tháng Tám và Quốc Khánh 2/9/1945 dưới góc nhìn văn hóa

Cách đây 67 năm về trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam triệu người như một, nhất tề vùng lên tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thắng lợi, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

CMT8 duoi goc nhin van hoaChủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ Lâm
thời sau phiên họp Chính phủ đầu tiên (3/9/1945)

 Thời gian càng lùi xa, chúng ta càng nhìn rõ hơn tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám 1945. Về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo Cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường, sẵn sàng chiến đấu hy sinh, là sức mạnh đại đoàn kết của toàn thể dân tộc Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, là sự thể hiện tuyệt vời của tinh thần quật khởi và trí tuệ Việt Nam, của truyền thống văn hóa Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám là điển hình của sự nhạy bén nắm bắt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, thể hiện trình độ khoa học và nghệ thuật lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhìn tổng thể, Cách mạng Tháng Tám 1945 không chỉ là một cuộc cách mạng chính trị, một cuộc đảo lộn chính trị, một thắng lợi chính trị, mà còn là một cuộc đảo lộn văn hóa, một thắng lợi văn hóa.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, chế độ Cộng hòa dân chủ ra đời; người dân từ thân phận nô lệ trở thành người chủ đất nước, chủ xã hội, làm chủ vận mệnh của mình. Nói theo tinh thần của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Sự nghiệp văn hóa lớn lao nhất, quan trọng nhất của Hồ Chí Minh và Đảng ta là đã huy động sức mạnh hàng ngàn năm văn hiến của dân tộc kết hợp với tinh hoa văn hóa của thời đại, lãnh đạo thành công sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành lại cho nhân dân ta quyền làm người, quyền được sống một cuộc sống xứng đáng với con người. Sự nghiệp đó trả lại địa vị xứng đáng cho nền văn hóa Việt Nam cũng là một sự nghiệp văn hóa to lớn đối với nền văn hóa thế giới, góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa, xóa đi một vết nhơ trong lịch sử và nền văn hóa của loài người”.

Kế thừa những thắng lợi của ông cha ta trước đây, trong thế kỷ XX, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta còn giành được nhiều thắng lợi khác. Nếu chỉ xét về mặt văn hóa, việc đem lại quyền làm chủ, quyền làm người thật sự cho nhân dân lao động, thật sự đem lại độc lập tự do cho nước nhà thì Cách mạng Tháng Tám có một giá trị đặc biệt to lớn và sâu sắc. Có thể khẳng định rằng không có thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thì cũng không thể có thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Chính thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã tạo ra một giá trị to lớn, trở thành khâu đột phá cho các thắng lợi tiếp theo.

Các nhà sử học đã từng nhấn mạnh thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của sức mạnh tổng hợp từ ba cuộc diễn tập: 1930-1931; 1936-1939; 1939-1945. Xét đến cùng, đó là thắng lợi của tổng hợp sức mạnh văn hóa, nó bao gồm sức mạnh văn hóa truyền thống hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước và sức mạnh văn hóa dân tộc từ khi có ánh sáng văn hóa của Đảng.

Văn hóa dân tộc từ ngàn năm cho đến đêm trước của Cách mạng Tháng Tám chính là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí độc lập, lòng khát khao tự do của dân tộc Việt Nam. Điều đó còn có giá trị hơn nhiều so với sức mạnh vật chất cụ thể. Bác Hồ đã tổng kết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Cùng với lòng yêu nước là tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng xã, Tổ quốc. Đó là một tình cảm tự nhiên (Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng). Đó là một triết lý nhân sinh (Một cây làm chẳng nên non/ Ba cây chụm lại nên hòn núi cao). Đó là một phép ứng xử và tư duy chính trị rất cụ thể và sâu sắc của người Việt Nam (Nước mất thì nhà tan/ Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh). Từ truyền thống đoàn kết dân tộc để đi tới Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã từng kêu gọi: Dân ta xin nhớ chữ đồng: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh. Từ lời kêu gọi đó, tất cả mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, đảng phái,… đã tập hợp dưới ngọn cờ của mặt trận Việt Minh, thành những tổ chức cứu quốc.

Sức mạnh của văn hóa Việt Nam là lấy nhân nghĩa làm gốc, lấy đại nghĩa làm đầu, dùng chí nhân thay cường bạo. Đó là một nền văn hóa trọng đạo lý làm người, đề cao trách nhiệm cá nhân đối với cộng đồng mà cao hơn là đối với Tổ quốc. Sức mạnh văn hóa Việt Nam bắt nguồn từ nền văn hóa trọng dân, đề cao dân, lấy dân làm gốc. Nguyễn Trãi từng nói: Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân, lật thuyền mới biết dân như nước. Hội nghị Diên Hồng dưới thời vua Trần Thánh Tông, nhằm huy động trí tuệ của dân chống giặc Nguyên Mông là một biểu tượng của văn hóa. Trước Cách mạng Tháng Tám, Quốc dân đại hội Tân Trào là sự kế tục, phát huy tinh thần văn hóa trong điều kiện mới. Sức mạnh của văn hóa Việt Nam còn chứa đựng lòng khoan dung hòa hợp để hòa đồng. Bao dung để đoàn kết, đoàn kết phải bao dung (cầu đồng tồn dị) là sự ứng xử văn hóa của Hồ Chí Minh trong quá trình tập hợp lực lượng để chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám.

Quá trình chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám chính là quá trình khơi nguồn và quy tụ sức mạnh văn hóa vốn tiềm ẩn lâu đời trong lịch sử dân tộc. Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đem lại cho văn hóa truyền thống một tinh thần mới, một tầm cao mới, một sức mạnh của văn hóa thời đại Hồ Chí Minh. Sức mạnh văn hóa đó chứa đựng tố chất truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, văn hóa và cách mạng, nhờ đó đem lại sự thành công cho Cách mạng Tháng Tám.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là ánh bình minh của dân tộc, mở ra trang sử mới của Việt Nam, mở đường cho văn hóa phát triển. Từ đây, nhân dân ta bắt tay xây dựng nền văn hóa mới theo phương châm Dân tộc – Khoa học – Đại chúng như Đề cương văn hóa 1943 đã chỉ dẫn./.

Theo Báo Lâm Đồng online
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Quảng trường Ba Đình và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – không gian thiêng liêng của Thủ đô Hà Nội và của cả nước

“Dù có đi bốn phương trời
Lòng vẫn nhớ về Hà Nội
Hà Nội của ta, Thủ đô yêu dấu
Một thời đạn bom, một thời hòa bình….”

Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, là trái tim của nước Việt Nam, thì Quảng trường Ba Đình và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là trái tim của Hà Nội, là không gian thiêng liêng mà mỗi người dân Việt Nam và bè bạn quốc tế đều mong được một lần đến thăm.

Quảng trường Ba Đình trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 còn gọi là Quảng trường Tròn hay còn gọi là Quảng trường Puginier. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt NamDân chủ cộng hòa ra đời, Quảng trường Tròn được gọi là Vườn hoa Ba Đình hay gọi là Quảng trường Ba Đình, Quảng trường được lấy tên địa danh Ba Đình là để gợi nhớ dải đất Ba Đình ở tỉnh Thanh Hoá nơi đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp kéo dài từ tháng 9 năm 1886 đến tháng 1năm 1887. Từ đó cho đến nay đã diễn ra những sự kiện trọng đại của Thủ đô Hà Nội và của cả nước, ghi nhận nhiều dấu ấn quan trọng trong lịch sử dân tộc.

QTBD 1Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ảnh internet

Cách đây 67 mùa Thu, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công trọn vẹn trong cả nước và ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, giữa rừng cờ đỏ sao vàng và giữa rừng người dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sau ngày tuyên bố độc lập, Quảng trường Ba Đình đã đi vào lịch sử của dân tộc ta, trở thành nơi khai sinh ra nước Việt Nam mới được cả thế giới biết đến. Và đây cũng là nơi chứng kiến cuộc mít tinh trọng thể mừng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa trở về Thủ đô vào ngày 1/1/1955; cuộc mít tinh vào ngày 2/9/1975 mừng thống nhất đất nước; ngày nay là nơi diễn ra các buổi mít tinh, diễu binh, diễu hành chào mừng các ngày lễ lớn của Việt Nam, đặc biệt là cuộc diễu binh, diễu hành chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội vào năm 2010.

QTBD 2JPGQuang cảnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình ngày
Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Ảnh internet

Ngày 2/9/1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, tại Quảng trường Ba Đình, Lễ Truy điệu Người vào ngày 9/9/1969 được cử hành trọng thể. Thấu hiểu sâu sắc và thể theo nguyện vọng của toàn Đảng, toàn quân, và toàn dân ngày 29/11/1969 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định: “Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch, chúng ta phải thực hiện đến mức tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng của Người”. Vào ngày 2/9/1973, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định khởi công xây Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình – nơi yên nghỉ vĩnh hằng của Người – vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam. Sau hai năm khẩn trương xây dựng, ngày 29/8/1975, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức khánh thành, mở cửa đón tiếp đồng bào cả nước và khách quốc tế đến viếng Bác và cũng chính ngày này đã trở thành Ngày Truyền thống của bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới, vinh dự được Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân giao trọng trách thực hiện nhiệm vụ chính trị đặc biệt – Giữ yên giấc ngủ cho Người.

QTBD3Lễ Truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu được cử hành trọng thể tại 
Quảng trường Ba Đình ngày 9/9/1969. Ảnh internet

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoài việc tổ chức lễ viếng hàng ngày, còn diễn ra nhiều hoạt động quan trọng của Đảng, Nhà nước; là nơi thường xuyên tổ chức các sinh hoạt chính trị, văn hóa, nghệ thuật, báo công, giao ước thi đua, kết nạp Đảng, kết nạp Đoàn, kết nạp Đội…nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, tình cảm kính yêu, biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và là nơi hun đúc chí khí cách mạng của các thế hệ người Việt Nam.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng đáng là một công trình văn hóa, nghệ thuật lớn. Toàn bộ khối Lăng được kết cấu bằng đá của các miền trên đất nước và chia thành 3 phần: Mái, cột và nền. Mái và các cột bằng đá hoa cương màu xám bạc. Nền Lăng cấu trúc tam cấp được ốp bằng đá hoa cương màu xám đen. Phía trong hàng cột là thân Lăng, đó là phòng đặt thi hài Bác, toàn bộ mặt ngoài được ốp đá hoa cương màu đỏ sẫm. Mái Lăng được xếp tam cấp, bốn góc chếch đầu đao, có dáng dấp như mái chùa cổ kính tôn nghiêm mà quen thuộc.

Dòng chữ: “CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH” trên mái Lăng được ghép bằng đá ngọc ở vùng Cao Bằng, cửa chính của Lăng được ốp bằng đá ngọc bích, các bậc cầu thang được lát bằng đá hoa cương, tất cả tường và cột phía trong được ốp bằng đá cẩm thạch. Riêng tường chính tiền sảnh ốp đá hoa cương vân đỏ hồng tương, làm nền cho dòng chữ “Không có gì quý hơn độc lập tự do”và chữ ký của Bác, dòng chữ và chữ ký được mạ vàng sáng nổi lên rực rỡ – đây cũng chính là ước nguyện, là khát vọng và là tư tưởng xuyên suốt của Bác từ khi rời Bến cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước đến khi là vị Chủ tịch nước, cả một đời đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc.

Phòng Bác yên nghỉ được ốp bằng đá cẩm thạch Hà Tây. Trên tường có lá cờ, cờ Đảng bên trái, cờ Tổ quốc bên phải, dài 5,9m, rộng 2,5m, ghép bằng 4.000 miếng đá hồng ngọc Thanh Hóa màu đỏ cờ, ngôi sao vàng năm cánh và búa liềm ghép bằng đá cẩm vân màu vàng sáng.

Góp phần vào hoàn thiện công trình Lăng Bác là những khối gỗ quý của đồng bào Nam Bộ, được các nghệ nhân tài hoa từ các tỉnh Nghệ An, Nam Hà, Hà Bắc xẻ bằng tay, với những kỹ thuật tinh xảo đóng thành 200 bộ cánh cửa. Cửa ra lễ đài được ốp đá, những cửa tiếp giáp với nắng được quét nhựa chống nứt. Ngoài đồ gỗ, trong Lăng còn dùng các kim loại để trang trí như nhôm làm trần, đồng làm tay vịn, lưới gió…Mỗi vật liệu đưa vào trang trí đều được Hội đồng Thẩm định chất lượng kiểm tra thử nghiệm chặt chẽ.

Lễ đài chính dùng cho những cuộc diễu binh, duyệt binh lớn của cả nước được xây dựng gắn với Lăng, phía trên cửa chính của Lăng, so với phòng Bác nằm thấp hơn. Hai bên là hai lễ đài, đặt thẳng hàng với lễ đài chính tạo sự cân đối cho cả khối công trình.

Trước cửa Lăng có hai cây đại, tượng trưng cho sự thanh khiết, thiêng liêng, trường tồn, do các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trồng khi khánh thành Lăng Bác, mỗi bên lễ đài trái, phải trồng 9 cây vạn tuế như hàng tiêu binh đứng trang nghiêm ngày đêm giữ yên giấc ngủ của Người.

Phía sau Lăng, ở hai bên là bức tường lưu niệm ốp bằng đá hoa cương đỏ, sau tường trồng 19 cây ngọc lan, hoàng lan tỏa hương thơm ngát, trước tường có 8 ô vuông trồng hoa hồng bốn mùa xanh tốt.

Xung quanh Lăng Bác là cả một vườn cây quý hiếm, được nhân dân các địa phương cả nước lựa chọn về để xây dựng và tôn tạo Lăng: Những khóm trúc Pác Bó; cây dầu nước; cây đa được triết từ cây đa Tân Trào, nơi Bác Hồ và Trung ương đã quyết định Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945; những cây luồng, cây tre vùng Lam Sơn – Thanh Hóa; cây đào được chiết ghép từ cây đào do người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu trồng tại nhà tù Sơn La; quế Trà My; cây chè Shan tuyết cổ thụ….những chậu cây thế, cây cảnh quý hiếm của các địa phương trong cả nước hội tụ về Lăng tạo ra một vùng thiên nhiên tươi đẹp, ngào ngạt hương thơm càng làm tôn vẻ đẹp của Lăng Bác và Quảng trường Ba Đình.

Phía trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là Quảng trường Ba Đình. Xung quanh là Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch có ngôi nhà sàn Bác đã ở, có Bảo tàng Hồ Chí Minh, đặc biệt với việc phát lộ Hoàng Thành Thăng Long ngay bên Quảng trường Ba Đình càng làm cho nơi đây trở nên ý nghĩa và thiêng liêng hơn bao giờ hết. Trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là cột cờ với chiều cao 25m, một năm 365 ngày đều đặn, không kể mưa hay nắng lễ chào cờ ở Quảng trường Ba Đình vào mùa nóng diễn ra vào lúc 6h sáng, mùa lạnh diễn ra vào lúc 6h30 phút sáng, lễ hạ cờ diễn ra lúc 21h hàng ngày cho cả hai mùa.

Hiện nay, Quảng trường Ba Đình có khuôn viên với chiều dài 320m, rộng 100m, với 240 ô cỏ xanh tươi, mỗi chiều rộng 10,8m, giữa các ô có đường đi lại, rộng 1,4m được lát bằng những tấm bê tông sỏi nổi. Dưới các thảm cỏ của Quảng trường có các tầng lọc nước, mạng ống và mương ngầm, đi đôi với hệ thống thoát nước, có hệ thống cấp nước. Hệ thống cấp nước phục vụ cho các nhu cầu cần thiết của hệ thống kỹ thuật.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Quảng trường Ba Đình và Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ là một quần thể di tích thống nhất, liên hoàn trong Cụm Di tích lịch sử – văn hoá Ba Đình. Lăng Bác uy nghiêm mà giản dị giữa Quảng trường Ba Đình lịch sử đã trở thành địa chỉ thiêng liêng, quen thuộc, hướng đến đầu tiên của du khách mỗi khi tới Thủ đô Hà Nội, là niềm tự hào, vinh quang không chỉ của người dân Hà Nội mà còn là nơi hội tụ tình cảm và niềm tin của nhân dân cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài và khách quốc tế đến Việt Nam. Được về bên Bác, trong những ngày toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đang nỗ lực thi đua lập nhiều thành tích chào mừng kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9, chúng ta đều thấy lòng mình thật thanh thản, yên bình và đâu đây giữa Quảng trường Ba Đình lộng gió “…tiếng Người giờ đây vẫn âm vang và mai sau vẫn truyền… thiêng liêng tiếng dịu hiền, ngân trong nắng Ba Đình, tràn đầy niềm tin”, làm cho ta không khỏi xao xuyến, xúc động: “Tổ quốc thống nhất vinh quang, lòng Bác vui khi con cháu về càng đông trong tình thương của Bác… Hôm nay đứng bên Người, con xin khắc sâu lời Người.. trọn đời thủy chung…”

Huyền Trang
bqllang.gov.vn

Ngày Độc lập thiêng liêng

Hôm nay, ngày 2/9, Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Không biết tự bao giờ người dân Việt Nam quen gọi ngày Quốc khánh là Ngày Độc lập hay Tết Độc lập, với bao cảm xúc thiêng liêng…

Ngày Tết Độc lập, nhìn vào hiện tại, ngẫm về quá khứ, mỗi chúng ta lại canh cánh món nợ với những người hi sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc…

Để hàng năm, vào dịp 2/9, mỗi người dân Việt Nam cất lên ba tiếng Ngày Độc lập hay Tết Độc lập với tâm trạng hào sảng, thiêng liêng, dân tộc Việt Nam đã phải đi qua bao cuộc can qua, đổi biết bao xương máu, mồ hôi và trí tuệ!

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thợ cả vĩ đại xây nền độc lập dân tộc (Ảnh: KT)

Đêm trước của cuộc cách mạng Tháng Tám 1945, bao nhiêu cuộc vận động, tranh đấu, bao nhiêu cuộc khởi nghĩa nổ ra, sóng này lặn, sóng khác mọc, sóng nối sóng, người tiếp người… Những Bãi Sậy, Ba Đình, Thái Nguyên, Yên Thế… Những Yên Bái, Nghệ Tĩnh, Nam Kỳ, Hóc Môn-Bà Điểm…Những nhà yêu nước và những chiến sĩ cộng sản tiếp nối “đầu dám thay đầu, chân nối chân”…

Để có Ngày Tết Độc lập náo nức trong không khí thanh bình của ngày thu, biết bao tháng năm cả dân tộc phải chịu cảnh mưa bom bão đạn, áp bức, lầm than, hết giặc tây lại giặc nam giặc bắc… Ý chí không chịu làm nô lệ, không chịu mất nước thôi thúc cả dân tộc “tự mang sức ta mà giải phóng cho ta”, phá xiềng nô lệ, đánh đuổi giặc gần giặc xa, “gậy tầm vông đập tan quân bạo tàn”, giành “tự do về chói ở trên đầu”…

Nhìn trăm năm gần, ngẫm nghìn năm xa, máu xương của lớp lớp tiền bối xây nên con đường đến đài hoa độc lập…

Độc lập mang giá trị thiêng liêng và linh thiêng…

Độc lập không chỉ là danh xưng, Độc lập đi liền với tự do, con người được ấm no, hạnh phúc. Độc lập là nền để con người tự do xây nên ngôi nhà ấm no, hạnh phúc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thợ cả vĩ đại xây nền độc lập dân tộc, hơn ai hết, Người nhận thức: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì!”.

Chỉ độc lập không thôi, chưa đủ, mà phải tôn cao giá trị của độc lập, phải là một nền độc lập bền vững, mang lại nhiều phúc lợi thực sự cho mỗi con người!

67 năm qua, tự hào vì nền độc lập dân tộc được giữ vững, non sông thống nhất, đất nước hòa bình, nhưng mỗi người dân Việt Nam vẫn canh cánh món nợ với tiền nhân, món nợ với hàng triệu người hi sinh vì nền độc lập dân tộc. Lý tưởng, khát vọng về một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, con người tự do, ấm no, hạnh phúc, “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”, vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chưa thật sự trọn vẹn trong hiện thực đời sống hôm nay.

Những lý tưởng cao cả mà những người ngã xuống vì nền độc lập tự do của dân tộc từng tâm niệm: Non sông ta phải thật sự toàn vẹn, đất nước ta phải thật sự giàu mạnh, con người phát triển tự do, hài hòa, xã hội ta phải thật sự dân chủ, công bằng, văn minh phải trở thành hiện thực bền vững, khi đó món nợ với tiền nhân mới được đáp đền.

Tính thời sự nóng hổi trong mùa Tết Độc lập năm nay là toàn Đảng đang thực hiện các bước tự phê bình và phê bình, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Đảng ta thục hiện cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng lần này là để “đáp ứng yêu cầu thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân”, là thêm một lần nhấn mạnh và đề cao vai trò CÁN BỘ, yếu tố CON NGƯỜI trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, biến lý tưởng, hoài bão của Đảng, của dân tộc thành hiện thực.

Thực hiện tự phê bình và phê bình, nhân Ngày Độc lập, mỗi cán bộ đảng viên một lần nữa tự soi mình, nhớ lại lời thề trước Đảng, lời hứa trước dân để tự sửa mình, để bản thân mình đảng viên hơn, cộng sản hơn, để không hổ thẹn với các bậc tiền bối của Đảng, để phần nào xứng với sự chở che, nuôi dưỡng và hi sinh của nhân dân.

Từ lâu rồi, trong dân gian đã truyền câu: Đảng viên đi trước, làng nước theo sau.

Mỗi ngày, mỗi đảng viên hãy dành một khoảng thời gian cần thiết để nghĩ về đảng, nghĩ về nhân dân, tự sửa mình, tự kết nạp mình vào đảng và cũng tự kỷ luật mình, nếu có điều không phải với dân, với đảng.

Tương lai và vận mệnh đất nước, sự vững bền độc lập dân tộc, vận mệnh của Đảng phụ thuộc vào sự trong sạch, vững mạnh của Đảng ta, sự dũng cảm, trung thực của từng đảng viên của Đảng./.

Uông Ngọc Dậu/VOV1
cpv.org.vn

1946 – Hội đồng Chính phủ vừa lập pháp, vừa hành pháp

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tình thế đất nước muôn vàn khó khăn. Giai đoạn này đã đánh dấu vai trò hết sức quan trọng của Hội đồng Chính phủ, tập hợp lực lượng xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng. Có thể nói, sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua các hoạt động của Hội đồng Chính phủ đã đưa đất nước vượt qua thời kỳ khó khăn và phức tạp này.

Hội đồng Chính phủ thời kỳ này đảm nhận vai trò lập pháp của Quốc hội, một mặt ban hành các sắc lệnh, mặt khác gánh vác vai trò là cơ quan hành pháp thực hiện việc điều hành và quản lý đất nước trên tất cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và quân sự.

Ngay sau ngày tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ vào ngày 3.9.1945. Trong phiên họp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ nêu lên 6 vấn đề cấp bách mà Chính phủ lâm thời phải tập trung giải quyết: giải quyết nạn đói; thanh toán nạn dốt; tổ chức Tổng tuyển cử; xóa bỏ hủ tục; bỏ ngay các thứ thuế bóc lột vô nhân đạo; và tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết. Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội đồng Chính phủ đã liên tục nhóm họp đề ra những quyết sách lớn. Vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, nạn đói và nạn dốt bước đầu được đẩy lùi, đồng thời thực hiện mềm dẻo trong sách lược đối với quân Tưởng, chèo lái con thuyền cách mạng đứng vững trong giai đoạn đầy khó khăn, phức tạp.

Chính phủ Việt Nam lâm thời sau phiên họp Chính phủ đầu tiên, ngày 3.9.1945

Trong những ngày cuối tháng 9.1945, tình hình quân sự ngày càng phức tạp. Ngày 23.9.1945, dưới sự hỗ trợ của quân Anh, thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược Sài Gòn. Trong thời gian này, Hội đồng Chính phủ ngày nào cũng nhóm họp để tìm cách đối phó với âm mưu xâm lược của địch. Các chính sách của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Hội đồng Chính phủ thời kỳ này luôn bình tĩnh, chủ động, đầy bản lĩnh trước những âm mưu của kẻ thù, với mục tiêu kiên định con đường độc lập dân tộc, cứng rắn về mặt nguyên tắc, mềm dẻo trong sách lược, nhờ đó đã lần lượt đẩy lùi âm mưu của các thế lực phản động, bảo vệ an toàn tuyệt đối chính quyền cách mạng dân chủ nhân dân mới được xác lập. Với tư cách cơ quan lãnh đạo cao nhất của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hội đồng Chính phủ đã thống nhất ban hành nhiều sắc lệnh để tiến hành Tổng tuyển cử, dự thảo Hiến pháp.

Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, một cuộc Tổng tuyển cử đã thành công rực rỡ. Ở 71 tỉnh, thành trong cả nước có 89% cử tri đi bỏ phiếu, cả nước bầu được 333 đại biểu, trong đó 57% số đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau, 43% đại diện không đảng phái, 87% đại biểu là công nhân, nông dân, các chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu là phụ nữ, 34 đại biểu đại diện cho các dân tộc thiểu số… Thắng lợi của Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội là mốc son chói lọi, là bước tiến nhảy vọt đầu tiên của thể chế dân chủ Việt Nam.

Những khó khăn và phức tạp của tình hình đất nước thời kỳ này cần có sự lãnh đạo, điều hành thống nhất, Quốc hội đã ủy nhiệm sự lãnh đạo toàn dân cho Chính phủ thông qua các cuộc họp của Hội đồng Chính phủ. Ban Thường trực Quốc hội luôn sát cánh cùng Hội đồng Chính phủ, bàn bạc, tham gia ý kiến về những chủ trương và chính sách lớn.

Sau Tổng tuyển cử, ở miền Bắc quân Pháp từ Vân Nam (Trung Quốc) quay trở lại chiếm Lai Châu, Tuần Giáo, Điện Biên phủ và một số địa phương ở Tây Bắc. Ở miền Nam quân Pháp mở rộng đánh chiếm Tây Nguyên và Nam Trung bộ, bọn phản động Việt Quốc, Việt Cách gây sức ép với Chính phủ lâm thời đòi giải tán Chính phủ lâm thời, lập ra Chính phủ Liên hiệp quốc gia. Phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 4.3.1946 đã đề ra chính sách đàm phán với Pháp trên nguyên tắc Việt Nam độc lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh được Chính phủ ủy quyền quyết định chính sách ngoại giao và đàm phán với Pháp. Để chuẩn bị cho nội dung ký Hiệp định Pháp – Việt, Người đã đi đàm phán những nội dung cơ bản với đại diện của Pháp bằng giải pháp: nước Pháp phải công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do. Bằng sự mềm dẻo về sách lược, kiên trì đàm phán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Pháp đã chấp nhận đề nghị và ký Hiệp định Sơ bộ 6.3. Nhờ đó, chúng ta đã đẩy nhanh quân Tưởng về nước, loại trừ cho cách mạng một kẻ thù nguy hiểm, phá tan âm mưu của các thế lực đế quốc câu kết với nhau, hòng bán đứng Việt Nam cho Pháp, dành thêm thời gian hòa bình để xây dựng và củng cố lực lượng về mọi mặt, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Để củng cố hệ thống chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, ngày 22.6.1946, Hội đồng Chính phủ ra Sắc lệnh 63/SL về Tổ chức chính quyền Hội đồng Nhân dân và ủy ban hành chính được bầu ở các cơ sở. Ngày 29.3.1946, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 23/SL thành lập Việt Nam Công an, cơ quan an ninh quốc gia, có hệ thống tổ chức từ Trung ương đến cơ sở. Thành lập một số đảng phái dân chủ như: Mặt trận Liên Việt (28.5.1946), Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (27.5.1946), Đảng Xã hội Việt Nam (27.7.1946)…, các tổ chức này hoạt động trong khối đại đoàn kết dân tộc, củng cố vững chắc Mặt trận đoàn kết dân tộc, thống nhất quốc gia.

Trước sau như một, nhân dân Việt Nam mong muốn hòa bình để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Nhưng thực dân Pháp đã bội ước Hiệp định Sơ bộ 6.3 và Tạm ước 14.9, chúng cho quân đánh chiếm Hà Nội và Hải Phòng, Lạng Sơn và một số địa phương khác. Trước sự tráo trở của thực dân Pháp, ngày 17.12.1946, Hội đồng Chính phủ đã họp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã báo cáo trước các đại biểu thống nhất quyết định phát động cuộc chiến tranh trong cả nước. Đêm 19.12.1946, thực hiện chủ trương của cuộc họp Hội đồng Chính phủ, tại Vạn Phúc (Hà Đông), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, sau đó đã chủ động sơ tán các cơ quan đầu não của Trung ương Chính phủ lên chiến khu Việt Bắc để củng cố lực  lượng, chuẩn bị mọi mặt để lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến lâu dài với thực dân Pháp.

Có thể nói, sau khi giành được độc lập từ tay thực dân Pháp và phát xít Nhật, tình hình đất nước đến tháng 12.1946 diễn ra với nhịp điệu khẩn trương, sôi động, ẩn chứa rất nhiều khó khăn và phức tạp. Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội đồng Chính phủ – nơi tập hợp những nhân sỹ, trí thức ưu tú nhất đã đưa dân tộc giành được những thắng lợi có ý nghĩa quan trọng, bước đầu xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, đấu tranh chống các thế lực phản động trong và ngoài nước, xây dựng bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Hiến pháp của một nhà nước do nhân dân làm chủ, tôn trọng quyền tối thiểu của nhân dân. Thắng lợi quan trọng đó ghi dấu ấn và thể hiện vai trò quan trọng của Hội đồng Chính phủ đối với vận mệnh của đất nước. Thắng lợi của giai đoạn này là tiền đề quan trọng để quân và dân ta tự lực vươn lên, xây dựng và bảo vệ chế độ mới, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho kháng chiến ở giai đoạn sau.

Sách Lịch sử Chính phủ Việt Nam 1, 1945 -1955 (NXB Chính trị quốc gia – 2005) đánh giá: “Hoạt động của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là Chủ tịch Chính phủ trên tất cả các mặt: chính trị, kinh tế – tài chính, quân sự, an ninh, văn hóa – xã hội và ngoại giao đều nhằm thực hiện sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, để giữ vững quyền độc lập và tự do… Những hoạt động của Chính phủ làm cho bộ máy chính quyền Nhà nước được từng bước tổ chức chặt chẽ và toàn diện, với đủ cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trở thành công cụ sắc bén phục vụ sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc”.

Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa thời kỳ 1945 – 1946, nhất là năm 1946 cho thấy một mô hình nhà nước kỳ lạ nhưng đặc biệt hiệu quả, xứng đáng được nghiên cứu và đánh giá đúng với tầm vóc của nó.

Đức Minh
daibieunhandan.vn

Nhà nước ra đời từ trong lòng dân

Ngay sau Cách mạng tháng 8, chính quyền đã về tay ta, Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Bác Hồ khẳng định Đảng cầm quyền là đầy tớ của dân. Đảng phải tạo mọi điều kiện để chỉ có nhân dân là chủ đất nước còn đảng viên tham gia bộ máy Nhà nước dù là Chủ tịch nước cũng là đầy tớ của dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã là hiện thân người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Ảnh:HOÀNG LONG

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã là hiện thân người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Bác đòi hỏi lãnh đạo các cấp, người đứng đầu phải nêu gương, đứng đầu một bộ, một tỉnh, một xã, một cơ quan… đều phải nêu gương, Đảng cầm quyền trước hết phải làm được việc này. Nạn đói còn hoành hành, Bác Hồ đề nghị mọi người 10 ngày nhịn ăn một bữa, dành gạo cứu đói. Vừa ở chiến khu về sau cơn sốt rét nặng, Bác cũng nhịn ăn mặc dù tập thể quyết định Bác không phải nhịn. Các việc Bác nêu lên để yêu cầu đồng bào thực hiện, Chủ tịch nước đều thực hiện đến nơi đến chốn.

Trên thế giới chưa có Nhà nước nào đồng cam cộng khổ với dân như Nhà nước dân chủ cộng hòa, hàng chục năm, cán bộ, viên chức không có lương, bác sĩ, kỹ sư, bộ trưởng, chủ tịch, bí thư… hàng ngày đều tăng gia sản xuất để có thêm lương thực, thực phẩm. Năm năm đầu tiên chống Pháp (1945 – 1949) kháng chiến còn trong vòng vây của địch, chưa liên hệ được với các nước bè bạn, thiếu thốn đủ mọi thứ. Đi công tác đến bữa, gặp nhà dân nào vào cũng có ăn, “thêm đũa thêm bát” và dân ở đâu cũng nuôi cán bộ. Bệnh viện chưa có, ốm đau chỉ còn nhà dân, có nhà chỉ còn gạo, khoai, sắn nuôi được một, hai ngày rồi gọi hàng xóm xung quanh xúm đến nuôi. Đúng là dân nuôi những người đầy tớ của mình. Một nhà nước thực sự là đầy tớ trong suốt mấy chục năm, với sức chịu đựng mọi cực khổ ngoài sức tưởng tượng của mỗi con người. Bị thương, vết thương không nặng nhưng cũng không sống nổi vì chưa có thuốc cầm máu. Sốt rét, chỉ cần vài viên thuốc ký ninh là qua khỏi nhưng cũng không có. Cực khổ đến nỗi đồng chí Trần Việt Hoa phục vụ Bác Hồ kể lại có lúc Bác muốn ăn cháo, Bác lại hỏi còn cơm nguội có nấu cháo được không, Bác ngại cơm nguội để đến hôm sau không ăn thì phí. Vào lúc hết sức gian nan này xảy ra vụ tham nhũng Trần Dụ Châu. Tòa án binh tối cao xử hắn tử hình cùng với Cục phó Lê Sỹ Cửu. Một số cán bộ tưởng chưa thể phổ biến công khai vụ tham nhũng lớn khi đất nước còn vô cùng khó khăn, Trần Dụ Châu lại là Đại tá Cục trưởng Cục Quân nhu, lúc này chức vụ đại tá còn hiếm hoi trong quân đội. Bác Hồ chỉ thị thông tin rộng rãi cho đông đảo nhân dân biết. Báo Cứu Quốc đăng sáu kỳ trên 6 số báo hàng ngày, kèm theo xã luận, trình bày đầy đủ, chi tiết mọi mánh khóe, thủ đoạn tham ô, mọi trò ăn chơi xa hoa cùng diễn biến phiên tòa và thi hành án tử hình (chỉ có Trần Dụ Châu đền tội còn Cục phó Lê Sỹ Cửu ốm nặng nên vắng mặt tại pháp trường). Bài xã luận đầu đề “Nhân vụ án Trần Dụ Châu”, đăng số báo ngày 20-9-1950 có đoạn rất đáng chú ý, tới nay đã 62 năm vẫn nguyên vẹn tính thời sự nóng bỏng: “… Có người e ngại: chúng ta mở toang vụ án này, công khai vạch rõ những tội lỗi nhơ bẩn của Trần Dụ Châu và bè lũ có thể làm một số dân chúng chê trách hay kẻ địch bám vào đấy để nói xấu Chính quyền, Đoàn thể (1). Không! Chúng ta không sợ phê bình và tự phê bình những khuyết điểm của ta. Chúng ta khác bọn phản động và hơn hẳn chúng ở chỗ đó. Đây là sự khuyến khích nhân dân thẳng thắn phê bình những sai lầm của cán bộ, của chính quyền, đoàn thể.

Chúng ta phải thẳng tay vạch mặt và trừng trị những kẻ tham ô, hoang phí, những kẻ mưu sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt người khác để tiến tới xây dựng một nền tảng chính quyền nhân dân thật vững vàng.

Đây không phải là việc riêng của Chính phủ, của Đoàn thể mà đây là bổn phận của các tầng lớp đông đảo quần chúng nhân dân chúng ta”.

Qua vụ án Trần Dụ Châu thấy Đảng cầm quyền trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù khó khăn phức tạp, đến đâu cũng công khai, minh bạch với dân. Mọi lý do “địch biết sẽ bôi nhọ ta” hoặc “không vạch áo cho người xem lưng”, hoặc đòi “giải quyết nội bộ”, cốt để không cho dân biết đều chỉ là những cái cớ không lành mạnh, che dấu tà tâm, ác ý. Cuốn sách “Về Đảng Cộng sản Việt Nam – Hồ Chí Minh” tuyển chọn những trước tác của Bác Hồ về Đảng Cộng sản Việt Nam (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – 1993), có đoạn nói về Bác Hồ đối với Đảng cầm quyền, xin trích: “Suốt 24 năm đứng đầu Nhà nước, đứng đầu một Đảng cầm quyền, Bác Hồ đã giải quyết không biết bao nhieu vấn đề lớn trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, văn hóa, xã hội, những vấn đề của kháng chiến và kiến quốc của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và một phần của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, nhưng vấn đề Đảng cầm quyền bao giờ cũng là vấn đề được Bác quan tâm nhiều nhất và có một sự chú ý đặc biệt” (trang 25).

Mỗi đảng viên dù giữ chức vụ gì trong bộ máy Nhà nước phải luôn luôn là đầy tớ trung thành và tận tụy của dân. Sự tín nhiệm của nhân dân với Đảng không phải bất di, bất dịch, sự tín nhiệm ấy không thể còn nguyên vẹn nếu Đảng không còn trong sạch vững mạnh. Ngày 2-8-1968, làm việc với Ban Tuyên huấn trung ương, khi nhắc đến chủ nghĩa cá nhân nảy nở, một số cán bộ có chức quyền chỉ lo thân, “đã có nhà lại còn đòi nhà đẹp hơn, đã có xe rồi lại còn đòi xe đẹp hơn”, Bác Hồ nói: “Một dân tộc, một đảng viên và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Bác Hồ với bà con nông dân
Ảnh: TL

Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, đất nước hoàn toàn được giải phóng. Lúc này kinh tế tư nhân không còn, giai cấp tư sản và đội ngũ doanh nhân cũng không còn. Một nền kinh tế chỉ còn thành phần nhà nước và tập thể. Cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp hoàn toàn ngược lòng dân nhưng dân không được góp ý kiến. Lãnh đạo xa dân, không chịu nghe dân, cũng không tin cả đại biểu dân bầu. Quốc hội họp, các đại biểu Quốc hội phát biểu tại hội trường phải viết ra giấy nộp Ban Thư ký để trên duyệt, chỉ được đọc những đoạn hợp với chủ trương chính sách của trên, không được có ý kiến ngược. Nền kinh tế kiệt quệ không chỉ đói mà hàng tiêu dùng cũng không còn, là sức ép buộc phải đổi mới khi đất nước đang bị dồn đến bước đường cùng. Đổi mới đã thay đổi bộ mặt đất nước rất nhanh, nhìn vào đất nước thấy đời sống các tầng lớp nhân dân đều được cải thiện nhưng nhìn ra một số nước cùng khu vực thấy tốc độ phát triển của ta còn quá chậm, ta vẫn đang tụt hậu. Ta chậm vì những yếu kém từ thời tập trung, bao cấp khắc phục chưa được bao nhiêu, kỷ cương phép nước rất lỏng lẻo đi đôi với đặc quyền đặc lợi quá nhiều. Không còn phê bình và tự phê bình là đặc quyền đặc lợi tệ hại nhất, lãnh đạo bên trên gần như đứng trên mọi sự giám sát của Đảng và Nhà nước. Đầu năm 1990, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã vạch rõ việc này: “Giải quyết nội bộ xuất hiện ban đầu chỉ ở cơ quan lãnh đạo bên trên rồi vì dột từ nóc nên nhanh chóng trở thành phổ biến, xuống đến cơ quan lãnh đạo bên dưới. “Vùng cấm” tràn lan đâu cũng có “vùng cấm” không được phê bình, đụng chạm, trong Đảng đương nhiên xuất hiện những “siêu đảng viên” hàng chục năm không phải tự phê bình, tự kiểm điểm nhưng khen ngợi tâng bốc thì quá nhiều, quá đáng cùng với tuyên dương, đề bạt”.

Nhiều cán bộ lãnh đạo chẳng cần học tập, nâng cao năng lực lãnh đạo, trau dồi đạo đức mà vẫn bình chân như vại, giữ hết chức vụ chủ chốt này đến chức vụ chủ chốt khác, chỉ thấy có lên không có xuống, một số người năng lực lãnh đạo quản lý và tư cách đạo đức rất hạn chế lại giữ những mấy chức vụ quan trọng. Trong một số bộ, ngành và cơ quan, ở cả Trung ương và tỉnh, thành phố, cán bộ biết lãnh đạo cấp trên của mình chỉ còn là lực cản, đã đứng ngoài tự kiểm điểm, phê bình lại rất ham nghe nịnh hót, “bốc thơm”, đất nước ngày càng tụt hậu đâu chỉ tại thiên tai, địch họa mà nguyên nhân còn từ chủ quan bên trên nhưng không ai dám nói thẳng ra, chỉ trao đổi, than thở với nhau. Phát biểu trên đây của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh lại được đăng báo làm cho nhiều người hy vọng, phải đánh động như vậy thì những “siêu đảng viên” mới giật mình và lãnh đạo Đảng mới thấy phải lập lại trật tự, kỷ cương từ bên trên. Dư luận rất hài lòng khi Tổng Bí thư cho biết Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Chấp hành Trung ương sẽ tự phê bình và phê bình. Dân chủ và công khai được đề cao, coi như ánh sáng soi rọi vào mọi góc tối, tham nhũng và mọi tiêu cực không thể ẩn nấp, trụ bám. Trung ương Đảng sẽ họp công khai, chuyển biến bước đầu là một số tổng biên tập được dự Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khóa VI) giữa năm 1989, đã có hứa hẹn phóng viên sẽ được đến hành nghề tại Hội nghị Trung ương.

Tình hình biến chuyển được một thời gian rồi mấy năm sau lại như cũ. Phê bình và tự phê bình vắng hẳn, rất ít thấy nhắc đến. Các “vùng cấm” chẳng giảm được là bao lại thêm những “vòng khép kín” của các bộ và UBND tỉnh, thành phố, biến chứng đáng sợ của cơ chế bộ chủ quản và cấp hành chính chủ quản, đã quản lý Nhà nước lại còn quản lý các doanh nghiệp nhà nước, vừa đá bóng vừa thổi còi. Trong mỗi “vòng khép kín” là giang sơn riêng không ai có thể giám sát, một thứ siêu quyền lực sản sinh ra những tỷ tỷ phú có chức quyền. Càng hiểu rõ tại sao tham nhũng càng tràn lan, cán bộ có chức quyền giàu có khác thường nhiều hơn hẳn trước sống xa hoa, đế vương bất chấp dư luận vì chúng đinh ninh có vỏ bọc kiên cố, chúng lại có chức có quyền, câu kết với nhau thành thế lực để che chắn cho nhau. 37 năm độc lập và thống nhất, chỉ còn ta với ta, thuận lợi gấp trăm lần chống ngoại xâm nhưng chống nội xâm không sao thắng lợi, nội xâm không những ngày càng mạnh và tới hiện nay đã thực sự là mối đe dọa đến độc lập và tự do của Tổ quốc. Cũng là đảng cầm quyền nhưng sao thời đánh ngoại xâm phép nước nghiêm như thế, còn nay đánh nội xâm pháp luật, kỷ luật quá lỏng lẻo, gây tổn thất hàng trăm tỷ đồng, hàng ngàn tỷ và có vụ mấy chục ngàn tỷ cũng chẳng thấy cá nhân nào chịu trách nhiệm. Nhà nước ra đời từ trong lòng dân, dân nhịn ăn, nhịn mặc nuôi Nhà nước lúc còn hàn vi, nay dân đóng thuế, Nhà nước giữ tiền nhưng để nội xâm gây tổn thất quá nhiều mồ hôi công sức của dân, dân xót xa lắm.

Trên thế giới, nhiều nước có đảng cầm quyền, mỗi đảng đều tìm mọi cách giữ vững uy tín với dân, tranh thủ sự ủng hộ của dân, khá giống nhau ở chỗ rất tích cực bảo vệ tiền dân đóng thuế, chỉ cần gây tổn thất cho ngân sách nhà nước trên dưới 1.000 đôla Mỹ là bộ trưởng đã bị cách chức. Singapore và Thụy Điển là hai nước chống tham nhũng nổi tiếng thế giới.

Bà M. Sahlin đã được chuẩn bị thay ông Y. Carisson vào chức lãnh tụ Đảng xã hội – dân chủ và là đảng cầm quyền nên đương nhiên bà sẽ là Thủ tướng Thụy Điển. Báo chí phát hiện bà đã sử dụng thẻ tín dụng Euro-card (chỉ dùng để thanh toán những chi phí liên quan đến công vụ) để thanh toán chi phí cho cá nhân như mua quần áo, trả tiền thuê xe và thuê phòng ngủ khi bà đi nghỉ hè, tất cả thành tiền là 8000 đôla Mỹ. Bộ phận kế toán nhắc nhở, bà đã thanh toán ngay và thanh minh đã quên và sơ suất. Mặc dù bà đã thanh toán ngay món tiền nhưng tiêu chuẩn đạo đức chính trị, đặc biệt đối với đảng viên đảng cầm quyền buộc bà phải từ chức. Chức vụ lãnh tụ đảng đã có đảng viên khác đang là bộ trưởng tài chính thay thế.

Bộ trưởng môi trường phát triển Singapore Hoàng Tuấn Văn nhận của một nhà buôn người Indonesia quà biếu 7 vé máy bay để đưa người nhà đi du lịch. Sau khi bị phát hiện, Bộ trưởng không những bị cách chức mà còn phải ra tòa lĩnh án tù 4 năm. Trịnh Chương Viễn, Bộ trưởng bộ Phát triển và Xây dựng, nhân vật số hai có công rất lớn xây dựng Singapore, chỉ sau Lý Quang Diệu. Ông bị phát hiện nhận hối lộ hai lần. Vẫn tưởng công lao rất lớn sẽ được tha thứ nhưng Nhà nước Singapore đã lập tức ra lệnh đình chỉ công tác, chuẩn bị đưa ông ra tòa. Được hỏi tại sao mấy bộ trưởng của Singapore lại bị xử nghiêm đến thế, Lý Quang Diệu trả lời: “Tham nhũng hư hại sẽ làm suy đồi đảng chấp chính (đảng cầm quyền) của chúng ta, nếu không trừng trị nghiêm khắc sẽ làm cho đảng sụp đổ”.

Thụy Điển và Singapore là hai nước có thu nhập bình quân đầu người mỗi năm vào hàng đầu thế giới, thành công của họ là nhờ có đảng cầm quyền vững mạnh, dựa vào sự tín nhiệm của nhân dân, thỉnh thoảng lại có thăm dò dư luận xem đảng có còn xứng đáng cầm quyền không, các quan chức cấp cao của Đảng cầm quyền dù giữ chức vụ gì, phạm sai lầm và tỏ ra mất lòng dân đều bị trừng trị thích đáng và thay thế ngay.

Thái Duy
daidoanket.vn

(1) Lúc này Đảng đã tự giải tán nên công khai gọi là Đoàn thể

Với danh dự và ý chí kiên quyết, Cụ Hồ đã bảo vệ quyền thiêng liêng của các dân tộc được sống trong độc lập tự do

Con người sống phải có mục tiêu, có lý tưởng và thời nào cũng vậy, những con người chân chính bao giờ cũng có một lý tưởng sống. Lý tưởng cao đẹp ấy, có lẽ nằm trong 4 chữ: “Vì nước vì dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại là con người suốt đời vì nước vì dân.

Ngay từ nhỏ, Nguyễn Tất Thành đã được nghe những người bạn của bố mình như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý… nói về nỗi nhục mất nước. Tuổi trẻ của Nguyễn Tất Thành đã từng biết đến sự kiện Phan Đình Phùng chống Pháp, rồi mất ở trên núi khi mới 49 tuổi và Vua Thành Thái vì yêu nước đã bị Pháp đưa vào Ô Cấp, Vũng Tàu để mấy năm sau đưa đi đày ở nước ngoài.

Cụ Nguyễn Sinh Sắc người cha rất yêu quý của Nguyễn Tất Thành, khi đỗ Phó bảng, vua cho vinh quy về làng, đã nhất định không chịu nằm lên cái võng mà dân làng nô nức kéo nhau ra đón. Cụ chắp tay nói: Tôi đã làm được việc gì có ích cho dân làng đâu, mà dám nằm lên cái võng này! Rồi sau đó cùng bà con đi bộ về làng. Khi nhân dân làm cho ngôi nhà để ở, cụ Phó bảng đã viết lên xà nhà dòng chữ “Vật dĩ quan gia, vi ngô phong dạng” nghĩa là đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình!

Quê hương, gia đình, đất nước… đã giúp Nguyễn Tất Thành nảy nở tấm lòng yêu nước thương dân và sớm nhận ra con đường cứu nước.

Năm 1923, khi ở Pháp, một hôm được Anbe Xarô, Bộ trưởng Thuộc địa mời đến. Mời đến để doạ nạt, nhưng khi thấy không thể doạ nạt được, hắn đã khéo léo phỉnh phờ: “Tôi rất thích những người như anh. Cần gì anh cứ nói với tôi…”. Và Nguyễn Ái Quốc đã nói: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”.

tranh son dauBác Hồ về nước – Tranh sơn dầu của Trịnh Phòng.

Có lẽ vì thế, khi Cách mạng Tháng Tám thành công, sau tên nước Bác Hồ đã ghi hai chữ Dân chủ: Việt Nam Dân chủ cộng hoà, tiếp theo đó là những tiêu chí cao cả: Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Suốt cuộc đời của Bác, những chữ nhân dân, tổ quốc, độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc luôn luôn xuất hiện trong ngôn ngữ Hồ Chí Minh. Những ngôn ngữ ấy xuất hiện trong Lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa, trong Tuyên ngôn Độc lập… Nhưng cảm động hơn, khiến ta phải suy ngẫm sâu sắc hơn, đó là câu nói này của Bác:

“Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Nhưng nếu nước Độc lập, mà dân không được hưởng hạnh phúc – tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Câu nói ấy Bác viết trong: “Thư gửi Uỷ ban nhân dân các Kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng” ngay từ những ngày 17 tháng 10 năm 1945.

Ngày 16 tháng 7 năm 1947, trả lời một nhà báo nước ngoài, Bác nói:

“Cảm ơn ngài. Tôi vẫn mạnh khoẻ, mặc dầu tin Pháp mấy lần đồn rằng tôi đã chết rồi.

Ngài đã hỏi, tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp một cách thực thà. Tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ.

Bao giờ đạt được mục đích đó, tôi sẽ trở về làm một người công dân, du sơn ngoạn thuỷ, đọc sách làm vườn”.

Nghiên cứu về cuộc đời của Bác, Staley Karnow, giảng viên lịch sử Trường Đại học Harvard Mỹ đã viết: “Trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chủ tịch chỉ ám ảnh một mục đích duy nhất, đó là nền độc lập cho đất nước”.

Ông Lê Hữu Lập, một trong những người đã có 12 năm giúp việc Bác Hồ từ 1958 đến 1969. Ông là người được vinh dự đứng tên trong sổ tiết kiệm của Bác gửi ở quầy tiết kiệm phố Hàng Gai, Hà Nội. Tiền tiết kiệm của Bác được dành dụm từ tiền lương hàng tháng còn lại ít ỏi, sau khi đã trừ mọi chi tiêu sinh hoạt, và nhiều hơn là tiền nhuận bút mà các báo trong và ngoài nước gửi cho Bác.

Dịp đi dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô, là đại biểu mời, Bác được Đảng bạn tặng một số tiền. Nhưng khi về, Bác không nhập số tiền này vào sổ tiết kiệm của mình, mà nhập vào quỹ Đảng. Bác coi số tiền đó là của chung, nên không dùng riêng cho mình.

ben cang sgBến cảng Sài Gòn ngày nay. Ảnh: Internet

Tiến sĩ A.Sacơrabôrôty, người Ấn Độ viết:

“Bác Hồ mặc bộ quần áo giản dị, nói giản dị, cách cư xử và tính nết giản dị, viết bằng thứ ngôn ngữ giản dị, xuất hiện một cách giản dị, với vẻ mặt tươi cười làm toả ra sự trong sáng của một tâm hồn giản dị…”.

Phải dùng đến 6 chữ giản dị để nói về Bác, trong một câu ngắn gọn, mà vẫn thấy như chưa đầy đủ.

Có thể nói, suốt đời Bác là sự nêu gương, nêu gương để xây dựng Đảng, xây dựng nước. Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng, một người học trò xuất sắc, một người cộng sự gần gũi lâu năm bên cạnh Bác đã viết: “Đời sống của Hồ Chủ tịch là một đời sống khắc khổ, cần lao và tranh đấu. Người lãnh tụ của một dân tộc mất nước không thể có một đời sống khác…”.

Những ngày sau Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ làm việc suốt ngày đêm, nhưng vẫn ăn chung với những người giúp việc. Một hôm Bác bận họp, anh em phải để phần cơm cho Bác. Bác về, đang ăn thì lại có người báo Cố vấn Vĩnh Thụy (tức vua Bảo Đại) muốn được gặp Bác. Bác đã đứng dậy, nhưng sau lại bảo chú cứ mời ông Cố vấn xuống đây cũng được. Ông Vĩnh Thuỵ xuống, thấy Bác đang ngồi trước cặp lồng cơm, một đĩa rau muống luộc, một bát nước mắm và quả trứng luộc… Ông Cố vấn cảm động nói:

– Thưa cụ, từ mai xin cụ cho phép tôi được cho người mang cơm đến hầu cụ.

Bác Hồ cảm ơn, rồi nói: Thôi, cứ để tôi ăn cơm với anh em cũng được. Tôi đã quen rồi.

Nhiều người nước ngoài đến Việt Nam đều nói, Việt Nam và Hồ Chí Minh là hai cái tên không thể tách rời nhau: Tên của một đất nước anh hùng và tên của người con vĩ đại nhất của đất nước đó. Người tượng trưng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và chính tấm gương đó của Việt Nam, của Cách mạng Tháng Tám đã cổ vũ các dân tộc thuộc địa vùng lên giành lại quyền sống, độc lập, tự do.

Khi tuổi đã cao, đã nghỉ những công việc của Đảng và Nhà nước, nhiều người nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng là ông nên viết một cuốn hồi ký về cuộc đời mình. Nhưng ông nói, tôi muốn dành những ngày còn lại, để nếu có thể viết được gì, thì đó là viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong tác phẩm nổi tiếng “Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp” những trang về Cách mạng Tháng Tám, Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết:

“Sau ngày 2 tháng 9 năm 1945 và cả năm 1946, Cách mạng Việt Nam đã trải qua một thời kỳ đầy sóng gió. Vận mệnh của Tổ quốc mong manh như “ngàn cân treo sợi tóc”. Trong những năm tháng gian lao chồng chất đó, Hồ Chí Minh là hiện thân của lòng dũng cảm, trí thông minh và tài năng sáng tạo, rất nhạy bén với tình thế, ứng phó rất kịp thời, vận dụng nhiều biện pháp khôn khéo để phân hoá kẻ thù. Lúc thì nhân nhượng với quân đội Quốc dân đảng Trung Hoa để tập trung sức đối phó với thực dân Pháp. Lúc thì tạm hoà với Pháp để đẩy nhanh quân Tưởng về nước và quét sạch bọn lâu la tay sai của Tưởng.

Dưới tay lái của Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm thất bại mọi mưu đồ độc ác của giặc ngoài thù trong, giữ vững chính quyền cách mạng, tranh thủ thời gian chuẩn bị cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp. Mỗi khi nhớ lại những năm tháng đó, một ý nghĩ luôn luôn đến với tôi: Nếu bấy giờ không có Hồ Chí Minh thì khó lường hết cái gì có thể xảy ra”.

Được nhân dân yêu kính, được thế giới tôn vinh, nhưng có lần Bác Hồ đã nói: “Nếu không có nhân dân thì cũng không có Hồ Chí Minh”. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và cách mạng gắn liền với quần chúng, được nhân dân ủng hộ, được nhân dân đoàn kết, hy sinh, chiến đấu và đã làm nên thời đại Hồ Chí Minh.

Là người sáng lập và xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Người luôn luôn nhắc nhở Đảng và các cấp chính quyền nhiệm vụ chăm lo đời sống nhân dân. Và Bác thường nhắc đến 4 chữ có: “Làm cho Dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, có học hành”.

Đến dự Hội nghị chỉnh huấn cán bộ trung cao cấp ngày 26 tháng 1 năm 1965, Bác nói:“Có Đảng lãnh đạo, dân tộc ta đã trở thành một dân tộc anh hùng, được bè bạn khắp năm châu yêu mến và kính trọng. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, thắng lợi của cách mạng là do sự phấn đấu hy sinh và trí thông minh sáng tạo của hàng triệu nhân dân. Mỗi chúng ta phải biết đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, phải biết quên mình vì nghĩa lớn”. Bác còn nhấn mạnh muốn đánh thắng kẻ thù bên ngoài thì trước hết phải chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta, đó là chủ nghĩa cá nhân.

Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Bác Hồ từ biệt chúng ta! 22.000 bức điện chia buồn trên toàn thế giới đã gửi đến Việt Nam. Báo Tin Tức, Cộng hoà Ả Rập thống nhất viết: “Sau 79 năm đấu tranh lâu dài và liên tục, trái tim vĩ đại, trái tim Cụ Hồ Chí Minh đã ngừng đập. Nếu ta nói rằng lịch sử loài người trước đây chưa từng biết đến một kiểu mẫu chiến sĩ nào như thế, thì chỉ riêng cuộc đời của Cụ cũng đã để xác nhận chân lý đó. Còn khi ta nói Cụ Hồ đã qua đời, thọ 79 tuổi, chính là ta muốn nói rằng suốt cả cuộc đời lâu dài đó, ngay từ khi còn trẻ cho đến những giờ phút cuối cùng, Cụ đã nắm chắc vũ khí trong tay, bảo vệ với danh dự và ý chí kiên quyết, quyền thiêng liêng của dân tộc mình cũng như các dân tộc khác trên thế giới, được sống trong độc lập, tự do”.

Còn ông Xanh-tơ-ni, Trưởng đoàn Phái đoàn nước Cộng hoà Pháp sang Hà Nội dự Lễ tang Bác Hồ đã viết: “Chúng tôi đi ngang qua trước quan tài bằng kính, ở đó thi hài mảnh khảnh của người chiến sĩ già đang yên nghỉ. Chúng tôi đã đưa thêm vào cả một biển hoa tràn ngập phòng lớn của Hội trường Ba Đình một vòng hoa đồ sộ, để chứng tỏ lòng ngưỡng mộ của nước Pháp đối với Người!”./.

Bùi Công Bính
Theo baonamdinh.net
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn