Archive | 2012

Ngày Quốc khánh bên Lăng Bác

Sáng ngày 2/9, mặc dù thời tiết lúc nắng, lúc mưa nhưng ngay từ sáng sớm, nhân dân từ khắp nơi mọi miền tổ quốc, các cháu thiếu nhi, nhi đồng, bạn bè quốc tế… đã xếp hàng ngay ngắn tại hai điểm tập kết số 17 Ngọc Hà và số 8 Hùng Vương, chờ đợi được vào Lăng viếng Bác. Anh Đinh Đức Lộc, khách từ Đức Thọ (Hà Tĩnh) chia sẻ với chúng tôi: Chỉ còn vài ngày nữa là đến khai giảng năm học mới, nhưng hôm nay, tôi vẫn quyết định đưa con trai ra Hà Nội viếng Lăng Bác. Trước đó, tôi đã hứa nếu cháu học giỏi sẽ giành phần thưởng này cho cháu. Cháu rất vui sướng, háo hức. Tôi nghĩ rằng đến viếng Bác Hồ trong Ngày Quốc khách sẽ có ý nghĩa hơn rất nhiều”. Điều này cũng giải thích được vì sao hàng năm cứ đến Ngày Quốc khánh, cũng là ngày Bác đi xa, lại có hàng chục nghìn người đến viếng Bác và ngày 2/9 năm nay cũng không ngoài thông lệ: Đã có tới 33.957 lượt người đến viếng Bác trong ngày này.

quoc khanhĐồng bào trong nước và bạn bè quốc tế về Lăng viếng Bác nhân dịp Quốc khánh 2/9

 Để phục vụ nhân dân và khách quốc tế đến viếng Bác được an toàn, chu đáo trong dịp Lễ Quốc khánh, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo phối hợp chặt chẽ các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng như Trung đoàn 375 thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Đoàn 275 thuộc Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng, Ban Đón tiếp thuộc Cơ quan Văn phòng, đồng thời phối hợp với công an thành phố Hà Nội tạo mọi điều kiện thuận lợi từ bãi để xe ô tô, xe đạp, xe máy đến khu vực vệ sinh vơi phương châm phục vụ tận tình chu đáo nhất. Với phương châm đó, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên phục vụ tại Lăng Bác đã luôn trăn trở, suy nghĩ để mỗi ngày làm tốt hơn công tác phục vụ đón tiếp nhân dân, như việc lắp đặt hệ thống mái che nắng, che mưa cho nhân dân và khách quốc tê khi xếp hàng vào viếng Bác. Từ chỗ nhân dân vào viếng Bác phải gửi toàn bộ hành lý cho các bộ phận phục vụ, Ban Quản lý Lăng đã nghiên cứu tổ chức thêm điểm gửi ca-me-ra, trang bị máy kiểm tra hiện đại tiến tới có thể mang máy điện thoại di động, máy ảnh du lịch theo người khi vào Lăng, tạo rất nhiều thuận lợi cho nhân dân.

Cây và hoa bên Lăng Bác được cải tạo, chăm sóc thường xuyên, đã tạo được một không gian cảnh quan rộng lớn làm cho khung cảnh xung quang Lăng thêm tưoi đẹp. Mỗi loài hoa, loài cây tượng trưng cho mỗi miền đất nước quây quần bên Lăng Người. Đặc biệt, sau khi thành phố quyết định triển khai tuyến phố đi bộ khu vực Lăng, cán bộ, công nhân viên Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình (thuộc Ban Quản lý Lăng) đã suy nghĩ, tìm tòi để trang trí khu vực đường Hùng Vương. Rất nhiều phương án trang trí được đưa ra. Và phương án đặt hoa và cây ghép giữa lòng đường Hùng Vương với nhiều màu sắc đã tạo được sự mới mẻ, mềm mại trong toàn khu vực.

QTBD abs1Trang trí hoa xung quanh cột cờ

Với những cố gắng không ngừng, cán bộ, công nhân viên Ban Quản lý Lăng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đón tiếp đồng bào trong nước và khách Quốc tế đến viếng Bác trong dịp lễ Quốc khánh với thái độ phục vụ văn minh, lịch sự, tạo được nhiều ấn tượng và tình cảm tốt đẹp.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Thầm lặng “giữ yên giấc ngủ của Người”

43 năm đã trôi qua kể từ ngày Bác Hồ đi xa, gần 40 năm kể từ ngày Lăng Bác hoàn thành, mở cửa đón đồng bào trong nước và khách quốc tế đến viếng Bác. Những dòng người đến với Bác, đều cảm thấy yên tâm bởi dung nhan Bác vẫn hồng hào, thanh thản như khi Người còn sống. Ít người biết, để có được điều đó, đã có những đơn vị kỹ thuật ngày đêm làm nhiệm vụ bảo đảm, sửa chữa, thay thế máy móc thiết bị, kiến trúc công trình Lăng… Đơn vị đó chính là Đoàn 595.

Thượng tá Lê Đình Chiến, Chính trị viên Đoàn 595 cho chúng tôi xem những tấm ảnh chụp ngày đầu xây dựng Lăng. Những tấm ảnh phản ánh chân thực tấm lòng của cán bộ, đảng viên, nhân dân toàn quốc góp sức, góp vật liệu để làm nên công trình lòng dân, ý Đảng – công trình Lăng Bác hiện nay. Anh nói:

– Công trình Lăng Bác là một công trình kiến trúc rất lớn, với nhiều hệ thống thiết bị máy móc phức tạp và hiện đại. Để bảo đảm kỹ thuật cho hệ thống đó hoạt động liên tục, chính xác và ổn định; kiến trúc công trình Lăng Bác được khang trang, sạch đẹp; cán bộ, chiến sĩ Đoàn 595 đã làm việc không quản ngày đêm, phát huy cao nhất trách nhiệm chính trị và trí sáng tạo của mình.

tham lang giu yen giac ngu cua nguoiĐoàn trưởng Nguyễn Đức Lãm kiểm tra việc bảo dưỡng, sửa chữa máy lạnh.

Tôi không hiểu lắm về kỹ thuật, nhưng nỗi vất vả, lo toan để bảo đảm cho công trình Lăng được hoạt động bình thường thì tôi có thể cảm nhận được. Ông Ra-vin, một chuyên gia người Nga đã nói rằng: Kỷ niệm lớn trong đời làm chuyên gia của ông chính là những đêm thức trắng cùng các chuyên gia Việt Nam dựng mô hình, thiết bị để theo dõi thông số nhiệt ẩm, nóng-lạnh. Một chi tiết đó đủ thấy, để các thiết bị kỹ thuật của công trình Lăng Bác hoạt động bình thường trong điều kiện khí hậu nhiệt đới như ở nước ta, những người lính thợ đã phải giải quyết bao bài toán hóc búa.

Đại tá Nguyễn Đức Lãm, Đoàn trưởng nói rằng, điều may mắn là ngay từ ngày đầu thành lập, cán bộ, chiến sĩ của đơn vị đều ý thức rõ nhiệm vụ chính trị đặc biệt của mình, không nề hà ngại khó, ngại khổ. Như đồng chí Bùi Sơn Hải, một nhân viên kỹ thuật bình thường nhưng khi làm nhiệm vụ, sẵn sàng chui xuống lặn ngụp trong ống cống nước thải, móc đất đá lên để chứng minh lời khẳng định với đơn vị đối tác, rằng: Nếu không làm kỹ thì sẽ gây tắc các đường ống liên quan. Giở cuốn sổ theo dõi, anh Lãm kể: Cách đây hơn chục năm, Đoàn 595 từng thay hệ thống máy lạnh do Liên Xô sản xuất đã xuống cấp bằng hệ thống máy lạnh hiện đại. Đây là tổ hợp máy mới, với hai chế độ hoạt động, một loại sử dụng máy nén kiểu trục vít, một loại sử dụng máy nén kiểu pít-tông. Mỗi máy gồm hai mạch môi chất hoạt động độc lập, có thể điều chỉnh được công suất 50% và 100%.

Để “làm cuộc cách mạng” về máy lạnh, đơn vị đã thực hiện mở trần công trình. Chỉ trong 3 ngày, Đoàn 595 đã vận chuyển máy cũ ra và chuyển máy mới vào với khối lượng hàng trăm tấn bảo đảm tuyệt đối an toàn, vượt trước thời hạn trên giao 4 ngày. Việc rút ngắn được thời gian mở trần công trình đã hạn chế tối đa tác động của môi trường. Thượng tá Trần Văn Tính, Đoàn phó kỹ thuật thì khẳng định: Chúng tôi xem đó là một chiến công, mà có lẽ những ai bảo đảm kỹ thuật ở các công trình lớn mới hiểu chiến công lớn đến đâu. Qua một nhiệm vụ quan trọng như vậy, từ cán bộ đến nhân viên trong đơn vị đều trưởng thành hơn về chuyên môn. Năm 2009, để bảo đảm thông số nhiệt ẩm phục vụ công tác y tế được tốt, đáp ứng yêu cầu vô trùng tuyệt đối, cấp trên đã giao Đoàn 595 lắp đặt hệ thống điều hòa K5. Công việc được chuẩn bị và tiến hành hơn một năm, với gần 1000 ngày công lao động. Những người lính thợ của đơn vị đã miệt mài làm cả giờ nghỉ, ngày nghỉ để công trình đạt tiến độ đề ra. Rất nhiều công sức, sáng kiến của bộ đội đã nảy sinh trong quá trình làm nhiệm vụ.

Dẫn chúng tôi đến xem những sáng kiến cải tiến kỹ thuật của đơn vị, Thượng tá Lê Đình Chiến nhấc một mũi khoan nhỏ lên và nói:

– Chỉ riêng sáng kiến nhỏ này đã mang lại giá trị kinh tế rất lớn cho đơn vị.

Trung úy, QNCN Dương Thành Giang, “chủ” của sáng kiến trên giải thích: Là người thợ hàn, tôi luôn tâm niệm về lời dạy của Bác Hồ, ra sức thực hành tiết kiệm. Khi đơn vị trang bị máy khoan mới của Nhật, các mũi khoan do Liên Xô (trước đây) sản xuất còn rất nhiều nhưng không lắp được vào máy khoan mới. Tôi tìm tòi, cải tạo đầu zen của mũi khoan cũ để lắp được vào máy khoan mới.

Nghe Giang giải thích thì đơn giản như vậy, nhưng sáng kiến nhỏ đó của anh đã tiết kiệm cho đơn vị hàng trăm triệu đồng. Đây cũng là một điểm sáng trong thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của đơn vị. Nhân viên Phạm Văn Khắc, người hai lần được tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quân” tâm sự: Trở thành người lính của Đoàn 595, điều anh tâm đắc là học được cách hy sinh. Nhiều đêm, anh cùng đồng đội lặng lẽ làm nhiệm vụ trên công trình, nhìn xa ra một chút ngoài kia, phố xá lộng lẫy, dòng người dạo chơi như bất tận. Nhưng các anh hiểu, những việc mình làm vì một điều vô cùng cao quý, phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ “giữ yên giấc ngủ của Người”.

Bài và ảnh: HỒNG NGỌC
Theo qdnd.vn
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Dù Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mãi mãi đi xa, hình ảnh giản dị, cao cả của Người sẽ sống mãi trong trái tim mỗi con người Việt Nam

Dưới đây là một số bức ảnh chân dung tiêu biểu của Người, trích từ ấn bản Hồ Chủ tịch sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta, xuất bản tháng 11 năm 1970.

 nguoi song mai a1
Nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc năm 30 tuổi, khi ở Pháp.

nguoi song mai a2
Tại Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tua (nước Pháp), tháng 12 năm 1920, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

nguoi song mai a3
Giữa năm 1923, Người sang Liên Xô.

nguoi song mai a4
Sau Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 5, đồng chí Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu tham gia cách mạng Trung Quốc, đồng thời lo xây dựng phong trào cách mạng Việt Nam và Đông Dương.

nguoi song mai a6
Hồ Chủ tịch năm 1945.

nguoi song mai a7
Tháng 2 năm 1946, Người nói chuyện với hơn 10 vạn nhân dân Thủ đô Hà Nội sau cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.

nguoi song mai a8

nguoi song mai a9
Ngày 31/5/1945, Người dẫn đầu Đoàn đại biểu Chính phủ ta sang đàm phán chính thức với Chính phủ Pháp.

nguoi song mai a10
Người làm việc trong hang đá ở Việt Bắc năm 1951.

nguoi song mai a11
Người đang theo dõi mặt trận Đông Khê (Cao Bằng).

nguoi song mai a12
Hồ Chủ tịch trong phòng làm việc của Người ở căn cứ Việt Bắc.

nguoi song mai a13
Hồ Chủ tịch sau ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi (năm 1954).

nguoi song mai a13a
“Người ngồi đó với cây chì đỏ
Vạch đường đi từng bước, từng giờ” (Tố Hữu).

nguoi song mai a14
Bác Hồ trong trang phục của Hải quân Nhân dân Việt Nam.

nguoi song mai a15
Hồ Chủ tịch sống mãi trong sự nghiệp chúng ta.

Theo Đất Việt
Kim Yến(st)
bqllang.gov.vn

Độc lập, Tự do: Sợi chỉ hồng trong thơ Bác

Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: internet

Những năm tháng Bác Hồ hoạt động ở nước ngoài, tìm đường cứu nước, những chữ Độc lập, Tự do xuất hiện trong nhiều bài thơ, bài ca của Bác đã thể hiện một khát vọng thật lớn lao, một ước mơ thật cháy bỏng của Người…

Độc lập, Tự do đối với Bác là cả một quá trình nhận thức, một quá trình thực hiện. Tại hội nghị Đảng Xã hội Pháp, sau khi bỏ phiếu tán thành Đệ tam Quốc tế, ông Nguyễn đã nói với người đảng viên, nữ chiến sĩ Rônơ, chuyên ghi tốc ký trong các hội nghị của Đảng: Tôi không hiểu chị nói thế nào là chiến lược, chiến thuật và nhiều điểm khác. Nhưng tôi hiểu rõ một điều Đệ tam Quốc tế rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa. Đệ tam Quốc tế sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành tự do và độc lập. Còn Đệ nhị Quốc tế không hề nhắc đến vận mạng các thuộc địa. Vì vậy tôi đã bỏ phiếu tán thành Đệ tam Quốc tế. Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu.

Khi đã có hướng đi, Bác tìm cách sang Liên Xô, rồi về Quảng Châu (Trung Quốc) và lần về Tổ quốc. Trước khi rời Paris đi Mátcơva, Bác để lại một bức thư dài cho các đồng chí làm việc với Bác trong tòa báo Người cùng khổ, cơ quan ngôn luận của Hội Liên hiệp thuộc địa tại Pháp: Mặc dù chúng ta là những người khác giống, khác nước, khác tôn giáo, chúng ta đã thân yêu nhau như anh em, chúng ta chung một nỗi đau khổ: Sự bạo ngược của chế độ thực dân, chúng ta tranh đấu cho lý tưởng chung: Giải phóng đồng bào chúng ta và giành độc lập cho Tổ quốc chúng ta. Đối với tôi câu trả lời đã rõ ràng: Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập.

Về nước, Bác đã làm đúng như đã nói. Ngoài những Lời hiệu triệu, Thư gửi đồng bào, Bác viết một loạt bài ca: Khuyên thanh niên học quân sự, Ca dân cày, Ca phụ nữ, Kêu gọi thiếu nhi, Ca công nhân, Ca binh lính, Ca tự vệ, Ca sợi chỉ, Mười chính sách của Việt Minh, Bài ca du kích nhằm giải thích, cắt nghĩa nguyên nhân vì sao nô lệ, lầm than; động viên, cổ vũ mọi người, mọi tầng lớp quyết tâm thực hiện mục đích cao cả đã được xác định. Bài Thơ đề tranh báo Việt Nam độc lập vang lên lời kêu gọi khẩn thiết Việt Nam độc lập thổi kèn loa / Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già / Đoàn kết vững bền như khối sắt / Để cùng nhau cứu nước Nam ta. Nghĩa là không còn dừng ở khát vọng mà thực sự bắt tay thực hiện khát vọng. Độc lập, Tự do đang đứng trước vận hội lớn gắn liền với Tổ quốc hiện tại, với mỗi nhà, với mọi người, trở thành lý tưởng chung của thời đại Lửa cách mạng sáng choang bờ cõi, Chiếu lên cờ độc lập, tự do (Nhóm lửa). Toàn dân tộc ta đã vùng lên làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi và ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Khát vọng đã thành hiện thực, một kỷ nguyên mới của nước ta đã mở ra – kỷ nguyên độc lập, tự do. Bác mừng, cả dân tộc vui mừng nhưng không chủ quan. Bởi thế, những bài thơ Bác viết ở thời điểm này lời mừng rất kín đáo, Bác dùng Lời chúc vừa truyền thống, vừa có ý nhắc nhở mà lại rất tự nhiên: Độc lập đầy vơi ba chén rượu,/ Tự do vàng đỏ một rừng hoa./ Muôn nhà chúc tết xuân dân chủ,/ Cả nước hoan nghênh phúc cộng hòa./ Ta chúc nhau rồi ta nhớ chúc,/ Những người chiến sĩ ở phương xa./ (Tặng Báo Quốc gia).

Chẳng bao lâu, chỉ sau khi Nam bộ giành chính quyền chưa đầy 30 ngày, toàn dân tộc ta buộc phải tiến hành cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, rồi tiếp đến kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đằng đẵng suốt 30 năm. Trong những năm kháng chiến, xây dựng và đấu tranh thống nhất đất nước, cứ mỗi năm mới đến, Bác đều có thơ chúc Tết đồng bào cả nước. Tinh thần chủ đạo của những bài thơ chúc Tết là kêu gọi: Toàn dân đại đoàn kết,/ Cả nước dốc một lòng;/ Thống nhất chắc chắn được,/ Độc lập quyết thành công./ (Thơ chúc Tết Mậu Tý – 1948).

Những năm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vào giai đoạn quyết định, thơ Bác như lời hịch thiêng liêng cổ vũ quân và dân ta xốc tới giành thắng lợi hoàn toàn: Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào./ Tiến lên! chiến sĩ, đồng bào!/ Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn.

Thơ Bác là biểu hiện sinh động tư tưởng độc lập, tự do. Tự do trong thơ Bác có nhiều hàm nghĩa, Tổ quốc tự do, dân tộc tự do và tự do của mỗi người. Đằng sau hai chữ tự do là cả một quá trình, ẩn tàng một sức nặng, một sự nhạy cảm và thiêng liêng. Mất tự do là mất tất cả. Từ những trải nghiệm, chứng kiến nỗi đau của những người cùng khổ ở khắp các châu lục đến nỗi đau riêng của bản thân, Bác tự rút ra, tự đúc kết như châm ngôn trong những câu thơ: Trên đời nghìn vạn điều cay đắng,/ Cay đắng chi bằng mất tự do./ (Cảnh binh khiêng lợn cùng đi). Đau khổ chi bằng mất tự do. (Bị hạn chế).

Muốn độc lập, tự do chỉ có con đường đấu tranh và chiến thắng các lực lượng bạo tàn. Bác là người tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh quyết liệt vì mục tiêu đó với cái nhìn biện chứng. Trong Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc, Bác gói gọn trong một câu giản dị Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Câu nói đó đã trở thành chân lý, cổ vũ cho mọi hành động cách mạng của mỗi người, của toàn dân tộc, của những lực lượng, của các dân tộc đấu tranh cho độc lập, tự do.

Rõ ràng, Vì độc lập, vì tự do – từ khát vọng, đến lý tưởng đã trở thành chân lý phổ biến. Đó cũng là sợi chỉ hồng xuyên suốt trong toàn bộ thơ ca của Bác.

Theo HNMO
qdnd.vn

Kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9: Bác Hồ dùng từ “Phải”, “Thật sự”

Trong cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta một di sản lớn. Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng của Người luôn soi sáng sự nghiệp cách mạng của nước ta. Sinh thời, Người quan tâm toàn diện đến mọi mặt đời sống xã hội, và luôn mong muốn thực hiện nó một cách hiệu quả, thực chất. Điều đó phần nào được thể hiện trong rất nhiều tác phẩm, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dùng từ “phải” hoặc “thật sự” hay “thật”, “thực sự”.

Qua các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thống kê nhưng chưa đầy đủ, Người đã dùng từ “phải”, “thật sự”… ở 3.931 lượt tài liệu. Xét về nội dung đều là những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị làm đúng bản chất của sự việc, chứ không phải là nói suông, qua loa, đối phó, mang tính hình thức, có như thế mới là cán bộ, đảng viên của nhân dân, mới là con người mới của xã hội xã hội chủ nghĩa. Trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cầm kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Với một đoạn văn ngắn chỉ có 57 từ mà đã có 7 từ “phải” hoặc “thật”, “thật sự”, chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh việc cần phải làm và mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện nó một cách nghiêm túc, thực chất của vấn đề, chứ không phải làm cho có, nói cho hay, làm không đến nơi đến chốn. Xét trong thực tiễn ngày nay, đối chiếu với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không phải là không có những ví dụ về những trường hợp cán bộ, đảng viên thay vì là “đày tớ thật trung thành của nhân dân” lại hống hách, chuyên quyền, xem khinh quần chúng, những tệ nạn xã hội có không ít bóng dáng của cán bộ, công chức. Đó là vì chúng ta chưa thật sự quan tâm một cách thấu đáo, giáo dục hiệu quả mà còn nặng hình thức, chung chung, đại khái, chạy theo thành tích, không thực hiện nghiêm túc các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước.

Hay trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” viết: “Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”. Có thể hiểu ngay rằng, đó chính là những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, không phải vô tình hay ngẫu nhiên mà trong một bài viết, một đoạn văn ngắn Người lặp lại rất nhiều từ có tính chất yêu cầu, bắt buộc, kiên quyết như thế. Bởi vì Người hiểu, nếu không nhấn mạnh thì điều đó là chưa đủ, mà Người muốn mọi người cần phải quan tâm hơn, coi trọng những điều đó để thực hiện cho tốt, triệt để, có như vậy mới thực sự vì dân, vì nước.

Tại lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện ngày 18-1-1967, nói đến việc triển khai đường lối, chủ trương của Đảng xuống cơ sở cho đúng, kịp thời, Người nhắc nhở “các cô, các chú phải đi sâu, đi sát cơ sở, nằm ở ở sở để chỉ đạo phong trào, không nên xuống cơ sở theo lối chuồn chuồn đạp nước. Vấn đề này nghe thì dễ, nhưng thực hiện chưa tốt lắm. Hiện nay, có một số đồng chí huyện ủy chưa thật sự lăn lộn ở cơ sở… Hiện nay, mỗi huyện ủy có từ 15 đến 20 đồng chí. Phải chia nhau mà nắm tình tình…”. Đối chiếu với thực tế tại tỉnh Gia Lai, thiết nghĩ đây là một bài học bổ ích mà trong thời gian vừa qua, chúng ta đang thực hiện tăng cường cán bộ về cơ sở. Không những thế, Bác Hồ còn nêu cụ thể: “Phải đi sâu, đi sát nắm vững tình hình, không những phải nắm vững tình hình hợp tác xã, mà còn phải nắm vững tình hình ăn, ở, học tập, sức khỏe… của các gia đình”.

Bài viết nhỏ này không thể nêu hết được những từ “phải”, “thật sự” mà Bác Hồ đã dùng, nhưng qua đấy phần nào mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần những lời dạy của Người, ra sức nỗ lực, phấn đấu “thật sự”, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như lòng Bác Hồ mong ước.

Nguyễn Xuân Phước
Tap chi cong san.org.vn
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Chương XI: Nỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ (E)

Thật là một sự mỉa mai đau đớn khi thấy rằng nền vǎn minh – dưới nhiều hình thức khác nhau như tự do, công lý, v.v., được tượng trưng bằng hình ảnh dịu hiền của một người phụ nữ và được một hạng người tự cho là phong nhã ra sức điểm tô – lại đối xử một cách hết sức bỉ ổi với người phụ nữ bằng xương, bằng thịt và xúc phạm tới phong hoá, trinh tiết và đời sống của họ một cách cực kỳ vô liêm sỉ.

Thói dâm bạo thực dân là hiện tượng phổ biến và tàn ác không thể tưởng tượng được. ở đây, chúng tôi chỉ nêu ra một vài việc mà những nhân chứng không thiên vị đã trông thấy và kể lại, để các chị em phương Tây hiểu rõ giá trị của cái gọi là “sứ mạng khai hoá” và nỗi đau khổ của chị em mình ở thuộc địa.

Một người ở thuộc địa kể lại rằng: Khi bọn lính kéo đến, tất cả dân chúng đều chạy trốn, chỉ còn lại hai cụ già, một thiếu nữ, một thiếu phụ đang cho đứa con mới đẻ bú và tay dắt một em gái lên tám. Bọn lính đòi tiền, rượu và thuốc phiện. Vì không ai hiểu tiếng Pháp nên chúng nổi giận, lấy báng súng đánh chết một cụ già. Còn cụ già kia thì bị hai tên lính, khi đến đã say mềm, đem thiêu sống trong một đống lửa hàng mấy giờ liền để làm trò vui với nhau. Trong khi đó thì những tên khác thay phiên nhau hiếp cô thiếu nữ, người mẹ và đứa con gái nhỏ của bà. Xong, chúng vật ngửa cô thiếu nữ ra, trói lại, nhét giẻ vào miệng, rồi một tên cầm lưỡi lê đâm vào bụng cô, chặt ngón tay cô để lấy chiếc nhẫn và cắt đầu cô để lột cái vòng cổ.

Trên đám đất bằng phẳng trước kia là ruộng muối, ba cái xác chết nằm đó: một em bé bị lột trần truồng, một thiếu nữ ruột gan lòi ra, cánh tay trái cứng đờ giơ nắm tay lên chĩa vào ông trời vô tình, một xác cụ già ghê rợn khủng khiếp, thân thể trần truồng, mặt mũi cháy không nhận ra được nữa, mỡ chảy lênh láng đã đông lại da bụng phồng lên, láng xầy, vàng óng như da lợn quay.

Buổi tối hôm đánh chiếm Chợ Mới (Bắc Kỳ), một sĩ quan của tiểu đoàn châu Phi còn thấy một người tù khoẻ mạnh, không thương tích. Sáng hôm sau, viên sĩ quan ấy đã thấy anh ta bị thiêu chết, mỡ chảy nhầy nhụa, da bụng phồng lên và vàng ánh. Đó là vì một bọn lính đã suốt đêm thui con người tay không ấy, trong khi bọn khác hành hạ một phụ nữ.

Một tên lính buộc một người phụ nữ An Nam phải hiến thân cho con chó của hắn. Chị không chịu. Hắn liền đâm một nhát lưỡi lê vào bụng chị, chết tươi. Cũng vẫn người ấy kể lại: “Một ngày lễ nọ, một tên lính trong cơn vui, tự nhiên vô cớ nhảy bổ vào một bà già người An Nam, lấy lưỡi lê đâm bà một nhát chết ngay.

Một tên lính làm vườn nhìn thấy một toán người, nam có, nữ có, đi vào vườn hắn lúc mười giờ sáng. Đó là những người trồng rau hiền lành, tò mò muốn xem vườn. Nhưng tên lính đã lấy súng sǎn bắn xả vào họ, làm chết hai thiếu nữ.

Một nhân viên nhà đoan đòi vào nhà một người bản xứ, chủ nhà không chịu, hắn bèn đốt nhà, và đánh gãy chân chị vợ chủ nhà giữa lúc chị này bị khói xông mờ mắt, dắt con chạy ra để khỏi chết cháy”.

Thói dâm bạo vô độ của bọn xâm lược thật không có giới hạn nào cả. Cái tinh vi của một nền vǎn minh khát máu cho phép chúng tưởng tượng được đến đâu thì chúng cứ thực hiện tính tàn ác lạnh lùng của chúng đến đó.

Thuế má nặng nề không phải chỉ đánh vào ruộng đất, vào súc vật và vào nam giới mà thôi, mà cái ơn mưa móc (!) ấy còn tưới rộng ra cho cả nữ giới nữa:

Nhiều phụ nữ bản xứ khốn khổ, phải mang nặng gông xiềng đi quét đường chỉ vì một tội là không nộp nổi thuế.

Trong tất cả những cố gắng của các nhà khai hoá nhằm làm cho nòi giống An Nam lành mạnh hơn và đưa họ lên con đường tiến bộ (?), phải kể đến việc cưỡng bức mua rượu ty. Không sao kể xiết tất cả sự nhũng lạm chung quanh việc bán rượu, một thứ thuốc độc dùng để pha chế thế nào cho người ta nuốt trôi được cái món “dân chủ”.

Trên kia chúng tôi đã nói rõ rằng, để nuôi béo bọn cá mập ở chính quốc, cái chính phủ đầy tội ác ở Đông Dương đã cho phép bọn tôi tớ của nó bắt đàn bà, trẻ con không uống rượu cũng phải mua rượu. Muốn làm vừa ý bọn độc quyền, người ta đặt ra những luật lệ để trừng trị việc nấu và buôn rượu lậu; người ta đặt lên đầu người dân bản xứ cả một lô đủ thứ hình phạt; người ta cấp vũ khí cho nhân viên nhà đoan. Bọn này có quyền xông xáo vào nhà cửa, ruộng vườn của tư nhân.

Chúng ta hơi lấy làm ngạc nhiên – mà kể cũng đáng ngạc nhiên thật – khi thấy cảnh binh giải về Hà Nội hay Hải Phòng từng đoàn ông già, phụ nữ có mang, trẻ con, cứ hai người tróichung một dây, để trả lời về tội vi phạm luật lệ thương chính.

“Nhưng thế cũng chưa thấm gì so với những việc xảy ra ở các tỉnh, nhất là ở Trung Kỳ; ở đấy, viên công sứ kết án và bỏ tù hàng loạt, già, trẻ, đàn ông, đàn bà”.

Tác giả đoạn vǎn trên tả dám thân quyến của họ ở cổng nhà lao như sau: “ông già, đàn bà, trẻ con, tất cả đám người ấy đều bẩn thỉu, rách rưới, mặt mũi hốc hác, mắt đỏ ngầu lên vì sốt; trẻ con bị lôi theo vì ngắn chân bước không kịp. Tất cả cái đám người đã kiệt sức ấy mang theo đủ mọi thứ: nón, quần áo rách, cơm nắm, đủ thứ thức ǎn, để lén trao cho người bị can là cha, là chồng, là trụ cột của gia đình, và hầu như luôn luôn là chủ gia đình”.

Tất cả những điều mà người ta đã có thể nói ra vẫn còn ở dưới mức sự thật. Chưa có bao giờ, ở một nước nào mà người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách dã man, độc ác trắng trợn đến thế.

Không phải chỉ có những cuộc khám nhà hàng loạt, liên tục, mà còn có những cuộc khám xét thân thể người bản xứ bất kể ở chỗ nào, bất kể là nam hay nữ. Nhân viên nhà đoan vào nhà người bản xứ, bắt đàn bà, con gái cởi hết áo quần trước mặt chúng, và khi họ đã trần truồng như nhộng thì chúng giở trò dâm đãng kỳ quặc đến mức đem cả con dấu nhà đoan đóng lên người họ.

Ôi! Hỡi những người mẹ, những người vợ, những người phụ nữ Pháp, chị em nghĩ gì về tình trạng đó? Và các bạn, những người con, những người chồng, những anh em người Pháp nữa? Có phải đó là phép lịch sự của người Pháp đã bị “thực dân hoá” đi không nhỉ?

Nhiệt tình của người An Nam đối với nền giáo dục hiện đại làm cho chính phủ bảo hộ lo sợ. Bởi thế, chính phủ đóng cửa các trường làng, biến trường học thành chuồng ngựa cho các quan nhà binh, đuổi học trò và bỏ tù thầy giáo. Một cô giáo bản xứ đã bị bắt giải về tỉnh lỵ, cổ đeo gông, đầu phơi trần dưới ánh nắng như thiêu đốt.

Một viên chánh quản pháo binh, đã đốt nhà một phụ nữ An Nam, vì người ấy không chịu tiếp hắn vào lúc nửa đêm.

Một viên quan hai có nhiều vợ đã quật ngã một thiếu phụ An Nam và dùng gậy song đánh chị đến chết chỉ vì chị không chịu làm vợ lẽ hắn.

Một sĩ quan khác hiếp một em bé gái bằng những cách dâm bạo vô cùng ghê tởm. Bị truy tố trước toà đại hình, hắn được trắng án, chỉ vì nạn nhân là người An Nam.

Trong tất cả các bài diễn vǎn, tất cả các bản báo cáo ở khắp những nơi mà các nhà cầm quyền của chúng ta có dịp mở miệng, và có bọn ngốc ngồi nghe, họ luôn luôn khẳng định rằng, chỉ có nước Đức dã man mới là đế quốc, là quân phiệt, còn nước Pháp, cái nước

Pháp yêu hoà bình, nhân đạo, cộng hoà và dân chủ, cái nước Pháp mà họ đại diện thì không phải là đế quốc, cũng không phải là quân phiệt. ồ! hoàn toàn không phải! Nếu chính các nhà cầm quyền ấy đưa binh lính – là con em công nhân hay chính là công nhân – đi giết hại những công nhân ở các nước khác, thì đó chẳng qua là để dạy cho những người này biết sống cho tốt mà thôi!

cpv.org.vn

Chương XI: Nỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ (D)

Thật là một sự mỉa mai đau đớn khi thấy rằng nền vǎn minh – dưới nhiều hình thức khác nhau như tự do, công lý, v.v., được tượng trưng bằng hình ảnh dịu hiền của một người phụ nữ và được một hạng người tự cho là phong nhã ra sức điểm tô – lại đối xử một cách hết sức bỉ ổi với người phụ nữ bằng xương, bằng thịt và xúc phạm tới phong hoá, trinh tiết và đời sống của họ một cách cực kỳ vô liêm sỉ.

Thói dâm bạo thực dân là hiện tượng phổ biến và tàn ác không thể tưởng tượng được. ở đây, chúng tôi chỉ nêu ra một vài việc mà những nhân chứng không thiên vị đã trông thấy và kể lại, để các chị em phương Tây hiểu rõ giá trị của cái gọi là “sứ mạng khai hoá” và nỗi đau khổ của chị em mình ở thuộc địa.

Một người ở thuộc địa kể lại rằng: Khi bọn lính kéo đến, tất cả dân chúng đều chạy trốn, chỉ còn lại hai cụ già, một thiếu nữ, một thiếu phụ đang cho đứa con mới đẻ bú và tay dắt một em gái lên tám. Bọn lính đòi tiền, rượu và thuốc phiện. Vì không ai hiểu tiếng Pháp nên chúng nổi giận, lấy báng súng đánh chết một cụ già. Còn cụ già kia thì bị hai tên lính, khi đến đã say mềm, đem thiêu sống trong một đống lửa hàng mấy giờ liền để làm trò vui với nhau. Trong khi đó thì những tên khác thay phiên nhau hiếp cô thiếu nữ, người mẹ và đứa con gái nhỏ của bà. Xong, chúng vật ngửa cô thiếu nữ ra, trói lại, nhét giẻ vào miệng, rồi một tên cầm lưỡi lê đâm vào bụng cô, chặt ngón tay cô để lấy chiếc nhẫn và cắt đầu cô để lột cái vòng cổ.

Trên đám đất bằng phẳng trước kia là ruộng muối, ba cái xác chết nằm đó: một em bé bị lột trần truồng, một thiếu nữ ruột gan lòi ra, cánh tay trái cứng đờ giơ nắm tay lên chĩa vào ông trời vô tình, một xác cụ già ghê rợn khủng khiếp, thân thể trần truồng, mặt mũi cháy không nhận ra được nữa, mỡ chảy lênh láng đã đông lại da bụng phồng lên, láng xầy, vàng óng như da lợn quay.

Buổi tối hôm đánh chiếm Chợ Mới (Bắc Kỳ), một sĩ quan của tiểu đoàn châu Phi còn thấy một người tù khoẻ mạnh, không thương tích. Sáng hôm sau, viên sĩ quan ấy đã thấy anh ta bị thiêu chết, mỡ chảy nhầy nhụa, da bụng phồng lên và vàng ánh. Đó là vì một bọn lính đã suốt đêm thui con người tay không ấy, trong khi bọn khác hành hạ một phụ nữ.

Một tên lính buộc một người phụ nữ An Nam phải hiến thân cho con chó của hắn. Chị không chịu. Hắn liền đâm một nhát lưỡi lê vào bụng chị, chết tươi. Cũng vẫn người ấy kể lại: “Một ngày lễ nọ, một tên lính trong cơn vui, tự nhiên vô cớ nhảy bổ vào một bà già người An Nam, lấy lưỡi lê đâm bà một nhát chết ngay.

Một tên lính làm vườn nhìn thấy một toán người, nam có, nữ có, đi vào vườn hắn lúc mười giờ sáng. Đó là những người trồng rau hiền lành, tò mò muốn xem vườn. Nhưng tên lính đã lấy súng sǎn bắn xả vào họ, làm chết hai thiếu nữ.

Một nhân viên nhà đoan đòi vào nhà một người bản xứ, chủ nhà không chịu, hắn bèn đốt nhà, và đánh gãy chân chị vợ chủ nhà giữa lúc chị này bị khói xông mờ mắt, dắt con chạy ra để khỏi chết cháy”.

Thói dâm bạo vô độ của bọn xâm lược thật không có giới hạn nào cả. Cái tinh vi của một nền vǎn minh khát máu cho phép chúng tưởng tượng được đến đâu thì chúng cứ thực hiện tính tàn ác lạnh lùng của chúng đến đó.

Thuế má nặng nề không phải chỉ đánh vào ruộng đất, vào súc vật và vào nam giới mà thôi, mà cái ơn mưa móc (!) ấy còn tưới rộng ra cho cả nữ giới nữa:

Nhiều phụ nữ bản xứ khốn khổ, phải mang nặng gông xiềng đi quét đường chỉ vì một tội là không nộp nổi thuế.

Trong tất cả những cố gắng của các nhà khai hoá nhằm làm cho nòi giống An Nam lành mạnh hơn và đưa họ lên con đường tiến bộ (?), phải kể đến việc cưỡng bức mua rượu ty. Không sao kể xiết tất cả sự nhũng lạm chung quanh việc bán rượu, một thứ thuốc độc dùng để pha chế thế nào cho người ta nuốt trôi được cái món “dân chủ”.

Trên kia chúng tôi đã nói rõ rằng, để nuôi béo bọn cá mập ở chính quốc, cái chính phủ đầy tội ác ở Đông Dương đã cho phép bọn tôi tớ của nó bắt đàn bà, trẻ con không uống rượu cũng phải mua rượu. Muốn làm vừa ý bọn độc quyền, người ta đặt ra những luật lệ để trừng trị việc nấu và buôn rượu lậu; người ta đặt lên đầu người dân bản xứ cả một lô đủ thứ hình phạt; người ta cấp vũ khí cho nhân viên nhà đoan. Bọn này có quyền xông xáo vào nhà cửa, ruộng vườn của tư nhân.

Chúng ta hơi lấy làm ngạc nhiên – mà kể cũng đáng ngạc nhiên thật – khi thấy cảnh binh giải về Hà Nội hay Hải Phòng từng đoàn ông già, phụ nữ có mang, trẻ con, cứ hai người tróichung một dây, để trả lời về tội vi phạm luật lệ thương chính.

“Nhưng thế cũng chưa thấm gì so với những việc xảy ra ở các tỉnh, nhất là ở Trung Kỳ; ở đấy, viên công sứ kết án và bỏ tù hàng loạt, già, trẻ, đàn ông, đàn bà”.

Tác giả đoạn vǎn trên tả dám thân quyến của họ ở cổng nhà lao như sau: “ông già, đàn bà, trẻ con, tất cả đám người ấy đều bẩn thỉu, rách rưới, mặt mũi hốc hác, mắt đỏ ngầu lên vì sốt; trẻ con bị lôi theo vì ngắn chân bước không kịp. Tất cả cái đám người đã kiệt sức ấy mang theo đủ mọi thứ: nón, quần áo rách, cơm nắm, đủ thứ thức ǎn, để lén trao cho người bị can là cha, là chồng, là trụ cột của gia đình, và hầu như luôn luôn là chủ gia đình”.

Tất cả những điều mà người ta đã có thể nói ra vẫn còn ở dưới mức sự thật. Chưa có bao giờ, ở một nước nào mà người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách dã man, độc ác trắng trợn đến thế.

Không phải chỉ có những cuộc khám nhà hàng loạt, liên tục, mà còn có những cuộc khám xét thân thể người bản xứ bất kể ở chỗ nào, bất kể là nam hay nữ. Nhân viên nhà đoan vào nhà người bản xứ, bắt đàn bà, con gái cởi hết áo quần trước mặt chúng, và khi họ đã trần truồng như nhộng thì chúng giở trò dâm đãng kỳ quặc đến mức đem cả con dấu nhà đoan đóng lên người họ.

Ôi! Hỡi những người mẹ, những người vợ, những người phụ nữ Pháp, chị em nghĩ gì về tình trạng đó? Và các bạn, những người con, những người chồng, những anh em người Pháp nữa? Có phải đó là phép lịch sự của người Pháp đã bị “thực dân hoá” đi không nhỉ?

Nhiệt tình của người An Nam đối với nền giáo dục hiện đại làm cho chính phủ bảo hộ lo sợ. Bởi thế, chính phủ đóng cửa các trường làng, biến trường học thành chuồng ngựa cho các quan nhà binh, đuổi học trò và bỏ tù thầy giáo. Một cô giáo bản xứ đã bị bắt giải về tỉnh lỵ, cổ đeo gông, đầu phơi trần dưới ánh nắng như thiêu đốt.

Một viên chánh quản pháo binh, đã đốt nhà một phụ nữ An Nam, vì người ấy không chịu tiếp hắn vào lúc nửa đêm.

Một viên quan hai có nhiều vợ đã quật ngã một thiếu phụ An Nam và dùng gậy song đánh chị đến chết chỉ vì chị không chịu làm vợ lẽ hắn.

Một sĩ quan khác hiếp một em bé gái bằng những cách dâm bạo vô cùng ghê tởm. Bị truy tố trước toà đại hình, hắn được trắng án, chỉ vì nạn nhân là người An Nam.

Trong tất cả các bài diễn vǎn, tất cả các bản báo cáo ở khắp những nơi mà các nhà cầm quyền của chúng ta có dịp mở miệng, và có bọn ngốc ngồi nghe, họ luôn luôn khẳng định rằng, chỉ có nước Đức dã man mới là đế quốc, là quân phiệt, còn nước Pháp, cái nước

Pháp yêu hoà bình, nhân đạo, cộng hoà và dân chủ, cái nước Pháp mà họ đại diện thì không phải là đế quốc, cũng không phải là quân phiệt. ồ! hoàn toàn không phải! Nếu chính các nhà cầm quyền ấy đưa binh lính – là con em công nhân hay chính là công nhân – đi giết hại những công nhân ở các nước khác, thì đó chẳng qua là để dạy cho những người này biết sống cho tốt mà thôi!

cpv.org.vn

Chương XI: Nỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ (C)

Trước chiến tranh, ở Máctiních, giá đường là 280 phrǎng một tấn, rượu rom 35 phrǎng một trǎm lít.

Nay giá đường 3.000 phrǎng, rượu rom 400 phrǎng.

Như thế bọn chủ được lời 1000%.

Trước chiến tranh, lương công nhân mỗi ngày 3 phrǎng, nay từ 3 phrǎng 75 đến 4 phrǎng.

Như thế tiền lương công nhân tǎng chưa đầy 30%.

Giá sinh hoạt thì lại tǎng lên ít nhất 300%. Nếu cộng thêm sự giảm sút sức mua của đồng phrǎng vào sự chênh lệnh ghê gớm nói trên thì các bạn sẽ thấy đời sống của người công nhân bản xứ cùng cực đến thế nào.

Tháng 2 nǎm 1923, vì chủ không chịu tǎng lương, công nhân đã bãi công.

Cũng như bất cứ ở đâu, mà ở thuộc địa lại còn hơn ở nơi khác, bọn chủ không bao giờ ngần ngại làm cho công nhân đổ máu. Cho nên trong cuộc bãi công ấy, hai công nhân trẻ người Máctiních, một anh 18, một anh 19 tuổi, đã bị giết một cách hèn nhát.

Bọn chủ hung ác không từ trẻ con, không từ phụ nữ. Tờ Le Paria, số ra tháng 5 nǎm 1923, đã đǎng tin dưới đây:

“Nhà chức trách đối xử rất bất công với nhân dân lao động. Những người không nhận làm việc theo mức tiền công do bọn chủ ấn định đều bị tố giác, bị cảnh binh bắt giữ và khám xét. ở đâu, bọn cảnh binh cũng tỏ ra đầy ác ý đối với dân nghèo khổ.

“Chẳng hạn hôm kia, hai cảnh binh đã đến viện cứu tế Tơrinitê bắt một phụ nữ tên là Luybanh, chị này hai đùi bị trúng nhiều vết đạn trong vụ nổ súng ở Rátxinhắc ngày 9 tháng 2. Người ta đã bỏ tù chị, lấy cớ rằng “chị đã vi phạm quyền tự do lao động bằng bạo hành hoặc bằng lời doạ dẫm”.

“Nhưng một điều chắc chắn là người phụ nữ đáng thương đó đi không được, thế mà bọn cảnh binh vẫn cứ muốn giải chị đi bộ 32 kilômét đến chỗ ông dự thẩm.

“Lúc chị bị bắt thì đã nǎm, sáu ngày chị không được thầy thuốc ở mãi Pho đơ Phrǎngxơ 1 , cách đấy 32 kilômét, đến khám.

“Thế thì ai đã cấp giấy cho chị ra viện, khi mà người mẹ có ba con nhỏ và bị bắt giam kia vẫn bảo rằng mình chưa lành, mình còn thương tích và không đi lại được?

“Tôi nêu sự việc này trong số bao nhiêu sự việc đáng cǎm phẫn thường tái diễn hầu như ở khắp nơi trong thuộc địa.

“Trong cuộc bãi công, ở một số doanh nghiệp, những người “được tuyển dụng” bị bắt buộc làm việc dưới sự giám sát của cảnh binh và lính thuỷ, y như dưới thời đại nô lệ”.

*

*      *

Chúng tôi đọc trong một tờ báo, thấy như sau:

“ở Côngxtǎngtin 1 , từng đoàn phụ nữ lũ lượt kéo đi ǎn xin. Một người trong đám người cùng khổ đó đã chết bên cầu En Cǎngtara, tay còn ẵm đứa con nhỏ.

“Từ Bôgari đến Gienpha 2 vô số ông già, trẻ em và phụ nữ bế con bao vây đoàn xe lửa để xin bố thí.

“Họ chỉ còn là những bộ xương, quần áo tơi tả. Người ta cấm họ lảng vảng đến các ga”.

cpv.org.vn

Chương XI: Nỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ (B)

Dưới đầu đề: “Bọn thực dân kẻ cướp”, Víchto Mêrích đã kể lại một hành vi bạo ngược không thể tưởng tượng được của một viên quan cai trị thuộc địa nọ: hắn đổ nhựa cao su vào âm hộ của một phụ nữ da đen. Sau đó, hắn bắt chị ta đội một tảng đá to tướng đứng phơi nắng cho đến chết.

Tên viên chức dâm bạo ấy hiện đang tiếp tục lập công ở một địa phương khác.

Khốn thay, những hành vi bỉ ổi như thế lại không hiếm gì ở cái nơi mà làng báo bồi bút thường gọi là “nước Pháp hải ngoại”.

Tháng 3 nǎm 1922, một nhân viên nhà đoan ở Bà Rịa (Nam Kỳ) đã đánh gần chết một phụ nữ An Nam làm phu đội muối, lấy cớ chị đã làm ồn ào dưới hiên nhà hắn làm hắn mất giấc ngủ trưa.

Tuyệt hơn nữa là người phụ nữ ấy còn bị đe doạ đuổi khỏi công trường muối nếu chị kêu kiện.

Tháng 4, một nhân viên nhà đoan khác đến thay, cũng tỏ ra xứng đáng với tên trước bởi những hành vi tàn ác của hắn.

Một bà cụ An Nam, cũng là phu gánh muối, vì bị khấu lương nên cãi nhau với mụ cai. Mụ cai thưa với viên đoan. Viên này không cần xét hỏi gì cả, tát luôn bà cụ hai cái tát nên thân, và khi bà cụ cúi xuống nhặt nón, thì nhà khai hoá đó lại đá luôn một cái rất ác vào bụng dưới làm cho máu ộc ra lênh láng.

Bà cụ ngã xuống bất tỉnh. Đáng lẽ phải đỡ bà cụ dậy thì người

cộng sự của ông Xarô lại đòi lý trưởng sở tại đến và ra lệnh đem người bị thương đi. Lý trưởng từ chối không làm. Viên đoan liền cho đòi chồng bà già đến, – ông này mù, – ra lệnh đem vợ về.

Các bạn có muốn đánh cuộc rằng cũng như bạn đồng sự của họ là viên quan cai trị nọ ở châu Phi, hai viên chức nhà đoan Nam Kỳ này đã được hoàn toàn vô sự không ? Thậm chí có thể chúng đã được thǎng thưởng nữa là khác!

*
* *

Các em bé Angiê đói. Nhiều em mới lên sáu, lên bảy đã phải đi đánh giầy hay xách giỏ thuê ở chợ để kiếm ǎn.

Chính phủ thuộc địa và khai hoá cho rằng các em cùng khổ kia kiếm được quá nhiều tiền nên bắt mỗi em phải có một sổ đǎng ký và trả môn bài hằng tháng từ 1 phrǎng rưỡi đến 2 phrǎng.

Các bạn công nhân chính quốc! Các bạn đang phản đối món thuế vô lý đánh vào tiền lương, các bạn nghĩ thế nào về món thuế bỉ ổi đánh vào các em bé kia?

cpv.org.vn

Chương XI: Nỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ (A)

Đọc những trang trên đây cũng đã thấy người phụ nữ An Nam được các nhà khai hoá của chúng ta “bảo hộ” như thế nào. Không một chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo ngược. Ngoài phố, trong nhà, giữa chợ hay ở thôn quê, đâu đâu họ cũng vấp phải những hành động tàn nhẫn của bọn quan cai trị, sĩ quan, cảnh binh, nhân viên nhà đoan, nhà ga. Một người Âu mắng một phụ nữ An Nam là con đĩ, con bú dù là một việc thông thường. Ngay giữa chợ Bến Thành ở Sài Gòn – mà người ta bảo là một thành phố Pháp-, bọn gác chợ người Âu cũng không ngần ngại dùng roi gân bò, dùi cui đánh phụ nữ bản xứ để bắt họ tránh khỏi làm nghẽn lối!

Những chuyện đáng buồn như thế, có thể kể mãi không hết, song chúng tôi hy vọng rằng mấy việc kể trên cũng đủ làm cho chị em ở chính quốc biết rõ phụ nữ An Nam sống quằn quại trong cảnh lầm than và bị áp bức như thế nào. Bây giờ hãy xem người phụ nữ bản xứ ở các thuộc địa khác – cũng ở dưới sự bảo hộ của nước mẹ- có được tôn trọng hơn không.

ở Phết Mơdala (Angiêri), một người bản xứ bị kết án một nǎm tù vì tội ǎn trộm. Anh ta trốn khỏi nhà lao. Người ta phái một toán quân, do một quan hai chỉ huy, đến bao vây làng anh ta. Toán quân sục sạo rất kỹ nhưng không tìm thấy. Chúng bèn tập trung 35 phụ nữ họ hàng thân thuộc của anh ta lại. Trong số người này có những em gái 12 tuổi, những cụ bà 70 tuổi, những phụ nữ có thai, những bà mẹ đang cho con bú. Dưới con mắt bao dung của viên quan hai và của viên quan cai trị vừa đến, mỗi tên lính vồ lấy một phụ nữ. Các hào mục, các người cầm đầu các tổ chức từ thiện trong làng cũng bắt buộc phải đứng xem cảnh ấy. Người ta bảo làm thế để cho họ sợ. Xong rồi, người ta phá nhà cửa, bắt súc vật, nhốt những người đàn bà đã bị hãm hiếp vào một cǎn nhà để cho chính bọn đao phủ kia canh gác và tiếp tục mọi hành động ô nhục như thế đến hơn một tháng.

Người ta thường nói: “Chế độ thực dân là ǎn cướp”. Chúng tôi xin thêm: là hiếp dâm và giết người.

cpv.org.vn

 

 

 

Chương XII: Nô lệ thức tỉnh (II- Ở ĐAHÔMÂY)

Lo sợ về giai cấp công nhân ở chính quốc đã thức tỉnh, chủ nghĩa tư bản Pháp tìm cách di chuyển nền thống trị của nó qua các thuộc địa. Tại đó, nó vơ vét nguyên liệu cho các nhà máy và sử dụng những lực lượng phản động và lạc hậu 1 để chống lại cách

mạng. Báo chí tư sản ở Pari và các tỉnh thường xuyên dành hàng trang cho mục thuộc địa. Các tướng tá và nghị sĩ tổ chức những cuộc diễn thuyết về thuộc địa. Những cây bút quan liêu và những người nói khoác ấy không tìm đâu ra đủ lời lẽ để ca ngợi công ơn khai hoá “của họ” và lòng trung thành của người bản xứ.

Đôi khi các ngài ấy trơ tráo đến mức đem lòng… nhân từ của họ đối lập với sự cướp bóc của thực dân Anh; họ cho chính sách của người Anh là “phương pháp tàn nhẫn” hoặc “thái độ thô bạo” và quả quyết rằng cách làm của người Pháp là đầy công bằng và từ thiện!

Chỉ cần nhìn qua các thuộc địa Pháp một chút cũng đủ thấy công cuộc khai hoá đó là “đẹp đẽ và nhân từ” biết chừng nào?

ở Đahômây, người ta tǎng thêm thuế vốn đã quá nặng đối với người bản xứ. Người ta bắt thanh niên phải bỏ nhà cửa, ruộng nương để đi làm “những người bảo vệ vǎn minh”. Người ta cấm người bản xứ mua sắm và sử dụng vũ khí để chống thú dữ thường phá hoại sạch trơn hàng loạt làng xóm. Giáo dục, vệ sinh đều thiếu. Trái lại, người ta không từ một thủ đoạn nào để bắt người Đahômây “được bảo hộ” phải chiụ cái chế độ “dân bản xứ” đáng phỉ nhổ, một chế độ đã hạ con người xuống hàng con vật và làm ô nhục cho cái thế giới gọi là vǎn minh. Dân bản xứ không cam chịu nhục được mãi, phải vùng lên. Thế là đàn áp đẫm máu. Người ta dùng những biện pháp cứng rắn. Người ta điều quân đội, súng liên thanh, súng cối và tàu chiến đến, người ta ra lệnh giới nghiêm. Người ta bắt bớ và bỏ tù hàng loạt. Đấy! Công cuộc khai hoá nhân từ là như thế đấy!

cpv.org.vn

Chương XII: Nô lệ thức tỉnh (I- Ở ĐÔNG DƯƠNG)

Tháng 11 nǎm 1922, 600 thợ nhuộm ở Chợ Lớn (Nam Kỳ) vì bị bớt lương nên đã quyết định bãi công.

Cuộc phản công của bọn chủ liền diễn ra ở khắp nơi, và khắp nơi giai cấp công nhân cũng bắt đầu giác ngộ về lực lượng và giá trị của mình.

Nếu những công nhân bản xứ khốn khổ kia, thường là rất ngoan ngoãn, dễ sai, dễ bảo, không được giáo dục và tổ chức, đã đi đến chỗ phải tập hợp nhau lại – do bản nǎng tự vệ, nếu có thể nói như thế- và đấu tranh chống những đòi hỏi tàn bạo của chủ, thì đó là vì tình cảnh của họ quá ư khốn khổ, khốn khổ đến mức mà ở châu Âu người ta không tưởng tượng được. Đây là lần đầu tiên, một phong trào như thế nhóm lên ở thuộc địa. Chúng ta hãy ghi lấy dấu hiệu đó của thời đại và chúng ta đừng quên rằng bổn phận của chúng ta – những người lao động ở chính quốc – không phải chỉ tỏ tình đoàn kết với những anh em cùng giai cấp ở đấy bằng lời nói, mà còn phải giác ngộ họ, giáo dục họ về ý thức tổ chức và về phương pháp tổ chức.

cpv.org.vn