Archive | 2012

Mát-xcơ-va trong cách mạng tháng Mười

LTS: Khác với Pê-tơ-rô-gơ-rát, nơi cách mạng toàn thắng ngay ngày 7-11-1917, tại Mát-xcơ-va, các lực lượng phản cách mạng đã phản kích ác liệt, thậm chí đã chiếm điện Kremli và buộc một số thành viên Ủy ban Quân sự cách mạng (UBQSCM) phải nhân nhượng. Nhưng dưới sự chỉ huy của những người Bôn-sê-vích kiên định, Vệ binh Đỏ kết cục đã đánh bại các lực lượng thù địch. Sự kiện này đi vào lịch sử Nga như “Tuần lễ đẫm máu ở Mạc Tư Khoa”.

Tin về cuộc đảo chính ở Pê-tơ-rô-gơ-rát đã về tới Mát-xcơ-va sáng 25-10 (7-11 theo lịch hiện nay), và ngay buổi tối, trong phiên họp Xô-viết đại biểu công nhân và nông dân đã lập ra UBQSCM. Cùng ngày, theo sáng kiến của Đu-ma thành phố, đã lập ra Ủy ban an ninh xã hội (UBANXH), do chủ tịch Viện Đu-ma Mát-xcơ-va Rút-nép và Tư lệnh quân khu Mát-xcơ-va, Đại tá Ri-át-sép chỉ huy.

Vệ binh Đỏ Vùng bên kia sông Mát-xcơ-va

Trung tâm khởi nghĩa là tòa nhà Mốt-xô-viết trên quảng trường nay là Tơ-ve-xcai-a. Trung tâm kháng cự (phản cách mạng) là trường sĩ quan A-lếch-xan-đrốp-xki ở gần cổng Ác-bát, nay nằm trong khuôn viên Bộ Quốc phòng Nga. Tại đây đã lập ra các đơn vị tình nguyện của sinh viên được gọi là “Vệ binh Trắng” (Bạch vệ). Từ này, được dùng để chỉ lực lượng chống chính quyền Xô-viết, ban đầu chỉ mang nghĩa là “đội quân sinh viên”.

Đại tá V Ra đã tổ chức phòng thủ cho doanh trại Trường Học sinh sĩ quan số 1 tại Lefotovo từ học sinh sĩ quan các lớp lớn. Các học sinh sĩ quan và sĩ quan của trường sĩ quan A-lếch-xan-đrốp-xki, A-lếch-xép-ki, trường chuẩn úy số 2 sẽ là lực lượng chủ yếu của phe chống đối cách mạng.

Quân Trắng tập hợp được một lực lượng khá tinh nhuệ, từ 15-20 ngàn quân được huấn luyện tốt và vũ trang đầy đủ. Lực lượng quân Đỏ vượt lên với khoảng 30 nghìn nghĩa quân, bao gồm cả lính quân khu Mát-xcơ-va theo cách mạng. Một trong những ưu thế của quân Đỏ là trọng pháo. Công nhân của các nhà máy trước đó đã tự chế lựu đạn và bom mìn. Trong tường nhà máy Mi-hen-sơn có cả một kho vũ khí. Hôm 28-11, một công nhân thuộc lực lượng Vệ binh Đỏ tên là M. Mác-kin đã phát hiện trên đường sắt đoạn Sô-kôn-ni-ki một số toa chứa tới 4000 súng trường.

Rạng sáng 8-11 (theo lịch mới) thành phố bắt đầu xao động. “Công nhân lôi đại liên ra, chuẩn bị vào trận” (thơ S. Mikhalkov). Một đại đội của Trung đoàn quân dự bị 193 tiến về Kremli để tăng cường cho Trung đoàn số 56 vừa chạy sang hàng ngũ cách mạng, đang bảo vệ thành trì chính này của nước Nga.

Quân gioong-ke (học viên sĩ quan Quân đội Sa hoàng) lập tức chiếm Quảng trường Ma-ne-giơ, chặn đường gần nhất tới Kremli. Hội đồng an ninh xã hội đề xuất thỏa hiệp: phe Bôn-sê-vích rút đại đội tăng cường khỏi Kremli thì quân gioong-ke sẽ nới vòng vây Kremli. Sáng 27-10, đại đội tăng cường theo lệnh UBQSCM rút khỏi Kremli.

Ngày 9-11, S. Prơ-koo-vít, Bộ trưởng duy nhất của Chính phủ lâm thời không bị bắt, đã về tới Mát-xcơ-va để tổ chức kháng cự các lực lượng Bôn-sê-vích.

Tình hình của UBQSCM là rất gay go, bởi vì bị cắt rời khỏi Vệ binh Đỏ trên các khu lao động nằm ở vòng ngoài thành phố. Không thể liên lạc bằng điện thoại, vì quân gioong-ke đã chiếm trạm điện thoại của thành phố. Trên các phố, hầm hào được đào, các chiến lũy được dựng. Cuộc chiến quyết liệt giành khu trung tâm Mát-xcơ-va bắt đầu.

Máu đổ đầu tiên là trên quảng trường Đỏ, đêm 27 rạng 28-10. Đội quân gồm vài trăm lính của Hạm đội Bắc theo cách mạng (trong lịch sử gọi là lính Đvin-si), bị Chính phủ lâm thời bắt giam vừa được thả ra đã tiến về tòa nhà nơi Hội đồng Xô-viết thành phố trú đóng (Mốt-xô-viết, nay là viện Đu-ma thành phố Mát-xcơ-va). Tới Quảng trường Đỏ, họ bị quân gioong-ke ngăn lại. Hai bên bắn nhau. Riêng trận này quân Đỏ mất tới 70 người. Đại tá Ri-át-xép ra tối hậu thư cho UBQSCM: tự giải tán, bàn giao Kremli, giải giáp các đơn vị quân đội Nga ngả theo cách mạng. Thời hạn của tối hậu thư là 15 phút.

Chỉ huy đại đội bọc thép của trường chuẩn úy chuyên nghiệp số 6 đòi lính Trung đoàn 56 bảo vệ Kremli hạ súng. Bị đánh lừa rằng đại quân ủng hộ chế độ cũ từ mặt trận đã về và chính quyền Xô-viết đã thất thủ, lực lượng bảo vệ bị cô lập trong thành Kremli đã chấp nhận giải giáp. Khi nhận thấy chỉ có hai đại đội tiến vào Kremli, lính Trung đoàn 56 tìm cách giành súng trở lại, nhưng không được. Một hỏa điểm trọng liên bỗng nhả đạn vào đám lính không mang vũ khí, khiến nhiều người bị thương vong.

Đến thời khắc này, UBQSCM mới kêu gọi công nhân cầm vũ khí. Kết quả là từ 18-11 Mát-xcơ-va đột nhiên trở thành bãi chiến trường cho một cuộc chiến trên đường phố. Súng bắn vào tất cả những gì động đậy. Rền vang tiếng pháo, chủ yếu là 75mm và 150mm của quân Đỏ, bắn vào trung tâm thành phố. Những ngày này sẽ đi vào lịch sử Nga như “tuần lễ Mát-xcơ-va đẫm máu”.

Từ đầu phe Bôn-sê-vích đã thọc ngay từ vùng ngoại vi vào trung tâm thành phố. Họ nhanh chóng chiếm các mục tiêu chiến lược của khu vực bờ bên kia sông, như Nhà bưu điện, Nhà điện báo, và cơ quan hành chính Khu. Trên quảng trường Ka-lu-giơ-xkai-a từ sáng, các đội Vệ binh Đỏ tập hợp, họ vượt cầu Cơ-rưm-xki sang Ka-lu-giơ-xkai-a, đánh vào Bộ Tham mưu quân Trắng.

Các Vệ binh Đỏ đã cơ động đường vòng, qua Quảng trường Ku-đrin, theo các phố Pô-vác-xcai-a và Ni-kít-xcai-a về hướng Kremli.

Các lực lượng cách mạng từ các thành phố khác và thủy thủ hạm đội Ban-tích đã kéo về hỗ trợ cho UBQSCM Mát-xcơ-va. Còn các đơn vị từ mặt trận rút về hỗ trợ cho các lực lượng chống Bôn-sê-vích thì bị giải giáp khi về đến Mát-xcơ-va, hoặc chạy sang phía chính quyền Xô-viết.

Chiến sự ác liệt nhất là tại khu Ốt-xtô-gien-ka. Cho đến gần đây, tại góc nhà 13-12 còn một tấm biển đánh dấu nơi tử thương của chỉ huy đội Vệ binh Đỏ vùng bên kia sông Mát-xcơ-va, Pi-ốt Đô-brư-nin, mà tên tuổi được đặt cho vùng quanh Mê-tờ-rô Đô-brư-nin hôm nay.

Đêm 13-11 hai bên tuyên bố ngừng bắn một thời gian ngắn để thương lượng, nhưng sau đó các trận đánh lại bùng lên mãnh liệt. Chiều 14-11, quân cách mạng chiếm được các nhà ga còn lại, viện Đu-ma, các doanh trại khu Cơ-ru-tít-xki, các tòa nhà của Trường Thiếu sinh quân ở Lơ-phoóc-tơ-vô, tòa Mê-tơ-rô-pôn, và các Cục Lương thực. Mãi tới 15-11, quân Đỏ mới chiếm được Bộ tham mưu Quân khu Mát-xcơ-va, sau khi nó bị trọng pháo bắn cháy rụi.

Quân Đỏ chiếm được khu Ki-tai-gô-rốt, rồi bao vây Kremli. Viện quân từ mặt trận đã không thể về đến nơi. Định mệnh đã không để Mát-xcơ-va trở thành “tâm điểm chống chính quyền Xô-viết cho toàn Nga” như phe chống đối mong đợi.

Kremli đã được cố thủ lâu nhất, cho tới rạng sáng hôm sau, sau khi bị pháo kích khốc liệt. Lúc này khi các đơn vị Vệ binh Đỏ và lính thủy từ Pê-tơ-rô-gơ-rát và nhiều thành phố khác đã vào được Mát-xcơ-va, kết cục của cuộc chiến đã hiển nhiên.

Ngày 15-11, UBANXH đề xuất thương lượng. UBQSCM đồng ý thả các sĩ quan và sinh viên, với điều kiện họ phải nộp vũ khí. Ngày 16-11, quân Trắng rời khỏi Kremli và tòa nhà Trường sĩ quan A-lếch-xan-đrốp-xki.

Con số chính xác người chết trong “tuần lễ đẫm máu” hiện chưa rõ. Chỉ biết 10-11, tại Nghĩa trang Liệt sĩ chân tường điện Kremli đã chôn cất 238 thi thể những người lính thuộc quân Đỏ (Nghĩa trang đầu tiên ở Mát-xcơ-va dành cho liệt sĩ Cách mạng Tháng Mười này sau đó trở thành nơi chôn cất các nhà lãnh đạo trong suốt lịch sử Liên Xô).

Sự kiện phái Bôn-sê-vích chiếm được Mát-xcơ-va được đánh dấu bằng Thông cáo 15-11, có đoạn viết: “Kẻ thù của nhân dân, từng vũ trang chống lại cách mạng, đã bị thương vào đầu… Ở Mát-xcơ-va từ đây thiết lập chính quyền Xô-viết đại biểu cho công nhân và binh lính”.

Lê Đỗ Huy

(Lược dịch từ Tạp chí Đời sống Nga tháng 11-2007)
qdnd.vn

Tướng Uây-y-en và lối thoát khỏi cuộc chiến ở Việt Nam

LTS: Tướng Uây-y-en (1916 – 2010), Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ (1973 – 1976) được sách báo phương Tây đề cập nhiều trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam.

Cùng các lính Mỹ đầu tiên dấn vào chiến tranh cục bộ ngay từ năm 1965, Uây-y-en còn bộc lộ tư duy về chính trị, thể hiện trong vai trò cố vấn quân sự cho phái đoàn Hoa Kỳ tại Pa-ri (1969 – 1970). Quay lại Việt Nam, Uây-y-en làm tướng “Việt Nam hóa”, rồi tiễn các đơn vị Mỹ cuối cùng, trên cương vị tư lệnh “cuốn cờ” của Mỹ ở đây đầu năm 1973.

Trước khi từ trần, Uây-y-en đã chính thức xác nhận năm 1967 ông từng chủ động làm một vụ “Wikileaks”, vạch rõ tình thế sa lầy trong khi phe quân sự Mỹ đang tưng bừng về một “chiến thắng trong tầm tay”.

“Thổ công” chiến trường Nam Á

Khởi đầu binh nghiệp đầu Thế chiến II trong một đơn vị pháo bờ biển, một biên chế được xem là không có tương lai, chàng trai tốt nghiệp hệ sĩ quan dự bị F. Uây-y-en đã lọt vào ngành quân báo Mỹ sau một khóa học Chỉ huy – Tham mưu.

Tư lệnh Mỹ Oét-mo-len gắn thêm một sao lên lon tướng cho Uây-y-en,1967. Ảnh: Lưu trữ Quân đội Hoa Kỳ.

Uây-y-en tham gia chỉ đạo mạng tình báo quân sự chiến trường Trung Hoa – Miến Điện – Ấn Độ những năm 1944 – 1945, rồi trở thành trưởng ngành tình báo Hạm đội Trung Thái Bình Dương (Middle Pacific) ngay sau đó. Chuyển sang làm tiểu đoàn trưởng bộ binh “khi xe tăng Kim Nhật Thành vượt vĩ tuyến 38”, Uây-y-en kết thúc chiến tranh Triều Tiên trên cương vị Trợ lý tham mưu Sư đoàn 3 bộ binh Hoa Kỳ. Với hai huân chương trên ngực, Uây-y-en thách thức các sĩ quan “huênh hoang” đến từ Oét Poi (West Point), trong mỗi kỳ xét bổ nhiệm vào một cương vị trọng yếu.

Nhưng Uây-y-en kiên trì với một cung cách “ngoài mềm, trong rắn” trong suốt đời binh nghiệp. Trong “Lời nói dối hào nhoáng” (A Bright Shining Lie), Neo-lơ Si-han (Neil Sheehan) đã đặc tả Uây-y-en như sau:

“Uây-y-en có được ngoại hình thuận lợi: Đẹp trai, cao gần hai mét. Phong thái cởi mở một cách đúng mực, vừa trung thực vừa khôn khéo, không chuộng nghi thức, thân ái. Ông không chờ các sĩ quan trẻ hoặc binh lính chào mình, mà chào họ trước”.

Chân ướt, chân ráo trên cương vị tư lệnh Sư đoàn bộ binh 25 đóng tại đảo Ha-oai, Uây-y-en cùng “Tia chớp nhiệt đới” (biệt hiệu của sư đoàn này) tham chiến ở Đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1965. Từ năm 1967, Uây-y-en là phó, quyền, rồi tư lệnh Dã chiến quân II (II Field Force, Vietnam, tồn tại từ 1966 đến 1973), chịu trách nhiệm vùng chiến thuật III, gồm 11 tỉnh “vành đai” quanh Sài Gòn.

Là đơn vị cấp quân đoàn, nhưng Dã chiến quân II gồm tới 4 sư đoàn (“Anh cả đỏ” – Sư đoàn BB số 1; “Tia chớp nhiệt đới”; Sư đoàn BB Mỹ số 9, Sư đoàn không vận số 101), 5 lữ đoàn trong đó có Lữ đoàn thiết giáp số 11, Lữ đoàn không chiến số 12, 3 lữ đoàn kỵ binh bay và không vận; hai binh đoàn pháo binh, các đơn vị quân đội Ô-xtrây-li-a và quân đội Thái Lan, và các binh đội thuộc Sở chỉ huy đóng tại Long Bình. Các đơn vị này tham chiến trong phản công năm Mậu Thân, và cuộc xâm nhập Cam-pu-chia năm 1970.

Ngoài ra, trên cương vị tư lệnh Dã chiến quân II, Uây-y-en còn dùng chung các “quả đấm thép”, như Sư đoàn kỵ binh bay số 1, Lữ đoàn không vận 173, cùng với Dã chiến quân I (phạm vi tác chiến là vùng chiến thuật II, hay khu vực Tây Nguyên). Dã chiến quân I (1966 – 1971) gồm Sư đoàn BB 4 và hai lữ đoàn BB), có Sở chỉ huy đặt tại Nha Trang.

“Cứu tinh” của Oét-mo-len

Sách “Tết: bước ngoặt của chiến tranh Việt Nam” (xuất bản 1971) của Đon-Ô-bơc-đô-phơ (Don Oberdofer) liệt kê 7 khả năng mà nếu xảy ra, “Việt Cộng” đã có thể kết thúc thắng lợi cuộc chiến. Trong đó có một khả năng là: Nếu tướng Uây-y-en không chuyển các tiểu đoàn Mỹ quanh Sài Gòn trở lại trạng thái phản ứng linh hoạt.

Sách Năm 1968 (Nineteen Sixty-Eight. NXB Boston Publishing Company, 1983), cho hay Uây-y-en, một cựu sĩ quan tình báo, đã nghi ngờ về cung cách hoạt động của “Cộng quân” đầu năm dương lịch 1968 tại vùng ông chịu trách nhiệm (quanh Sài Gòn), và báo cáo lên Oét-mo-len hôm mồng 10 tháng Giêng. Oét-mo-len chấp thuận đánh giá của Uây-y-en, và lệnh cho rút 15 tiểu đoàn Mỹ đang triển khai ở ven biên giới với Cam-pu-chia trở lại bổ sung cho tuyến phòng thủ Sài Gòn.

Sách Lời nói dối hào nhoáng, xuất bản năm 1989, dẫn dắt một quá trình “phá bóng cứu nguy” phức tạp hơn bởi Uây-y-en.

“Kế hoạch tác chiến năm 1968 của Oét-mo-len dựa vào luận thuyết Việt Cộng và quân Bắc Việt không chịu nổi những đòn tấn công tại miền Nam Việt Nam. Cũng vì vậy, các tỉnh thuộc trung tâm vùng chiến thuật III (quanh Sài Gòn) được Mỹ lên kế hoạch chuyển giao cho quân đội Nam Việt Nam… Nếu Uây-y-en bố trí quân đúng theo kế hoạch chiến dịch dọc biên giới với Cam-pu-chia, phần lớn 43 tiểu đoàn bộ binh và thiết giáp của ông sẽ dầm mưa trong rừng nhiệt đới vào dịp Tết Mậu Thân …

Uây-y-en không đồng tình với quan điểm làm chiến tranh của Oét-mo-len, không muốn nhập bè với sự hả hê của Tổng hành dinh (về các chiến dịch của quân Mỹ) …

Uây-y-en chống lại kế hoạch của Oét-mo-len ngay từ mùa thu trước (1967). “Kế hoạch này vĩ đại nhưng không khả thi”, Uây-y-en nói với viên đại tá đến thông báo kế hoạch của Lầu Năm Góc phương Đông cho ông. Điều Uây-y-en quan tâm nhiều nhất, là khi ông phải dẫn quân đến biên giới Cam-pu-chia, theo những nguồn tin tình báo tin cậy, các binh đoàn chủ lực Việt Cộng lại đang rời căn cứ vùng biên giới với Cam-pu-chia theo chiều ngược lại, thâm nhập vào các tỉnh đông dân gần Sài Gòn…

Cùng A-bram (Abrams) đi gặp Oét-mo-len, Uây-y-en trình bày trên bản đồ: “Tôi thấy quân VC từ đây tiến về trung tâm”, ông chỉ vào vùng Sài Gòn – Biên Hòa. “Tôi không biết họ nghĩ gì, nhưng thấy rõ một cuộc tấn công đang sắp bắt đầu”. Rồi đề xuất ngày khởi đầu chiến dịch năm 1968 nên để chậm lại.

…Tổng chỉ huy Mỹ chấp nhận, vì Uây-y-en chỉ đề nghị hoãn, chứ không đòi bỏ kế hoạch tác chiến năm 1968. Oét-mo-len đang có một nỗi lo lớn hơn: Phe cộng sản Việt Nam có vẻ đang tìm cách biến Khe Sanh thành một Điện Biên Phủ thứ hai …”.

Sách Lời nói dối hào nhoáng kết luận:

“ … Cố giữ quân của mình lại, Uây-y-en có lẽ đã cứu được Sài Gòn khỏi bị chiếm. Nhưng cái không cứu được là cuộc chiến tranh. Oét-mo-len đã thua trận. Thành quả cuối cùng nghiệp làm tướng của Uây-y-en trong cuộc khủng hoảng này, mỉa mai thay, lại là kéo dài một cuộc đụng độ không thể thắng”.

“Chim báo bão”

Tháng 8-1967, tờ báo Mỹ The NewYork Times (NY) đăng bài viết “Việt Nam: Những dấu hiệu tắc đường”, (Vietnam: The Signs of Stalemate) cho rằng, chiến tranh Việt Nam đang lộ rõ “những nước cờ bí” (stalemate) trong chiến lược của Mỹ, bất chấp Nhà Trắng quyết định tăng quân:

“1 triệu 20 vạn quân Đồng minh (phe Mỹ) hiện vẫn đang cố giữ một phần của một đất nước bé hơn bang New York tới 1,5 lần”, NY viết. Để đạt được kết quả về bình định, quân số lực lượng đồng minh cần đạt tới 8 triệu người (khoảng 16 triệu dân miền Nam), rằng cuộc chiến sẽ kéo dài hàng chục năm, các quan chức cao cấp Mỹ tiết lộ với tác giả bài báo. Cùng kỳ, Hãng CBS “chạy” một phóng sự tương tự.

Điều này khớp với nhận định của Hà Nội ngay từ đầu năm 1967: Hiện có một sự “chập chững”, “lúng túng về chiến lược” của Mỹ (chữ dùng trong điện mật số 00, 23-11-1967 của Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục và Khu V).

Cuối năm 2006, NY trong bài viết “Hãy nêu tên nguồn tin” (Name that source)[1], tự đánh giá sự kiện tiết lộ “thế bí” của Mỹ ở Việt Nam năm 1967 là “một quả bom dội lên cả Oa-sinh-tơn lẫn Sài Gòn, gây kinh hoàng cho quân đội và cộng đồng tình báo, tạo biến chuyển từng bước nhận thức của Mỹ trong phần còn lại của cuộc chiến”.

Bài báo đời người

Biên tập viên NY W. Ép-pô (W. Apple), chính là người chấp bút bài “Việt Nam: Những dấu hiệu tắc đường” cho rằng đây là phóng sự quan trọng nhất của đời ông. Cho dù chưa thể xác định được nó đã ảnh hưởng đến mức nào tới quyết định bỏ cuộc đua vào Nhà Trắng của L. Giô-xơn (L. Johnson).

Trong suốt 4 thập kỷ, NY viết tiếp, nhiều sử gia và ký giả đã yêu cầu các tác giả bài “Việt Nam: Những dấu hiệu tắc đường” tiết lộ danh tính của quan chức đã cung cấp tư liệu cho phóng sự đó, nhưng bị từ chối, do một lời thề từ năm 1967 với một “tướng Mỹ thông thái”, có khả năng tư duy nhiều chiều, khó có thể gặp được gặp ở Việt Nam, lẫn trong các cuộc chiến khác của Mỹ về sau. Thời đó, viên tướng này tiết lộ: “Oét-mo-len vẫn chưa vỡ ra được rằng Mỹ không thể thắng cuộc chiến này. Chúng ta đã lâm vào ngõ cụt. Phải tìm lối thoát trong danh dự”.

Năm 1984, trong vụ Oét-mo-len kiện hãng CBS đã vu cáo ông đã cố đánh giá thấp Bắc Việt và Việt Cộng nhằm ngụy tạo một “thắng lợi”, các luật sư đã đề nghị viên cựu tư lệnh Mỹ ở Việt Nam này nghe một đoạn trích, trong đó một tướng Mỹ đã khẳng định thắng lợi nằm ngoài tầm với của Mỹ (victory is beyond reach, the war is unwinnable). Oét-ty (Westy-gọi tắt Oét-mo-len) đã giãy nảy lên, nói rằng không một tướng Mỹ dưới quyền nào có thể nói như vậy.

Năm 1995, các tác giả của bài “Việt Nam: Những dấu hiệu tắc đường” đã có dịp gặp lại viên tướng Mỹ đã cấp “bom” tin tức cho họ năm 1967, và đề nghị ông giải phóng họ khỏi nghĩa vụ bảo mật nguồn tin. Người hùng giấu mặt này vẫn lưỡng lự. “Hãy chờ khi Westy từ giã cõi đời”.

Oét-mo-len từ trần năm 2005. Một năm sau, được tin phóng viên W. Ép-pô cũng vừa tạ thế, Uây-y-en, chính là tướng ba sao Uây-y-en, đã chính thức nói với NY rằng từ nay ông sẽ chấm dứt sự “giấu mặt” gần bốn thập kỷ, để xác nhận mình từng rung chuông báo cuộc chiến ở Việt Nam “là một cuộc phiêu lưu tuyệt vọng”.

Tưởng niệm Uây-y-en trong một bài báo năm 2010, NY cho rằng, Uây-y-en là tướng lĩnh cấp cao đã đủ dũng khí và trí tuệ, để sớm tạo nguồn có “sức công phá”cho báo giới, gieo những nghi ngờ nghiêm trọng về cuộc phiêu lưu ở Việt Nam vào công luận Mỹ, làm điên tiết những ai đang ca bài “chiến thắng”, như tướng Oét-mo-len và tổng thống Johnshon.

Định mệnh đã giao cho “tướng chiến trận” Uây-y-en cả những sứ mệnh ngoại giao, như trông nom cuộc rút quân có kèn trống “trong danh dự”, như chính ông từng tiên liệu năm 1967. Để “dứt áo ra đi”, NY nhớ lại, Uây-y-en thậm chí từng phải khẳng định quân đội Sài Gòn rồi sẽ thắng đối phương, sau khi quân Mỹ triệt thoái hoàn toàn khỏi chiến trường Việt Nam

Lê Đỗ Huy (tổng hợp)
qdnd.vn

Hết đời một quái thai lịch sử

Thế kỷ 20, trên ba nước Đông Dương đã từng nảy nòi những tên phản cách mạng, bám theo quân xâm lược, gây nên những tội ác đẫm máu. Riêng tội ác do trùm phỉ Vàng Pao gây ra cho nhân dân hai nước Việt-Lào trên vùng biên giữa tỉnh Nghệ An với tỉnh Xiêng Khoảng (Lào), đến nay vẫn ám ảnh trong ký ức các bậc cao niên-những nạn nhân thoát hiểm trong trận tập kích đẫm máu vào thung lũng Mường Lống, huyện Kỳ Sơn tháng 6-1964. Trùm phỉ Vàng Pao sinh ngày 8-12-1929 tại Noọng Hét (Lào), chết ngày 06-1-2011 tại Ca-li-phoóc-ni-a, Hoa Kỳ.

Quái thai của lịch sử

Vàng Pao lúc là Trung úy quân đội Pháp.

Hơn 80 năm trước tại Noọng Hét-vùng đất của “vua” Mèo Lyfoung, cặp nông dân sinh ra Vàng Pao cũng khốn khổ cơ hàn như hầu hết người Mông sống dọc vùng biên hai nước Việt-Lào. Lớn lên Vàng Pao khởi đầu “sự nghiệp” đâm thuê chém mướn bằng việc gia nhập nhóm người Mông, do quân đội Pháp tổ chức, huấn luyện, trang bị vũ khí để phục vụ vào mục đích chiếm giữ lâu dài xứ Đông Dương thuộc địa giàu tài nguyên khoáng sản. Sau khi tái chiếm Đông Dương, quân đội Pháp sử dụng Vàng Pao như một Trung úy của lực lượng biệt kích không vận hỗn hợp (GCMA) để chống lại liên quân Việt-Lào vừa được thành lập sau 2-9-1945, do Hoàng thân Xu-pha-nu-vông làm tổng chỉ huy, đồng chí Lê Thiệu Huy tình nguyện quân Việt Nam (con trai của GS Lê Thước) làm Tham mưu trưởng, Liệt sĩ Lê Thiệu Huy hy sinh ngày 21-3-1946 tại mặt trận Thà Khẹt, Lào.

Sau ngày 7-5-1954 quân Pháp bại trận tại Điện Biên Phủ, Vàng Pao là sĩ quan hàm Thiếu tá trong quân đội của chính phủ Hoàng gia Lào, giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 10 bộ binh quân đội Hoàng gia Lào đóng tại Cánh đồng Chum. Năm 1959, hai nhân viên CIA là Luy-xiêng Cô-nê-in (Lucien Conein) và Ét-ga Bu-en (Edgar Buell) đề cử Vàng Pao thay “vua” Mèo Lyfoung làm chỉ huy trưởng lực lượng “dân binh tự vệ Mèo” ở vùng Thượng Lào. Được CIA hậu thuẫn, tháng 10-1960 Vàng Pao tiếm quyền “vua” Mèo tại vùng Thượng Lào, tuyên bố ủng hộ cuộc đảo chính bất thành của tướng Phu-mi Nô-xa-vẳn (Phoumi Nosavan) và cánh hữu bấy giờ đang kiểm soát vùng Sa-van-na-khẹt (nam Lào). Sau khi nắm quyền điều khiến bộ tộc người Mông vùng Thượng Lào, Vàng Pao kiểm soát Cánh đồng Chum và chống trả quyết liệt chính phủ Trung ương Lào. Vùng Cánh đồng Chum thời kỳ này như là lãnh địa “bất khả xâm phạm” của Vàng Pao, và y trở thành tân “vua” Mèo tại vùng Thượng Lào rộng lớn. Để “nhổ cỏ tận gốc”, Vàng Pao bắt cựu “vua” Mèo Lyfoung và tướng Am-kha giao nộp cho tướng Phu-mi Nô-xa-vẳn. Với “chiến tích” này Tổng tham mưu trưởng Phu-mi Nô-xa-vẳn thăng cho Vàng Pao cấp Trung tá, cử y làm Tỉnh trưởng tỉnh Xiêng Khoảng giáp với tỉnh Nghệ An. Tháng 1-1961 tướng Phu-mi Nô-xa-vẳn giao cho Vàng Pao làm Tư lệnh Quân khu II trấn giữ bắc Lào, và y được phong hàm tướng.

Mọi “thăng tiến” của Vàng Pao đều nằm trong lập trình của quan thầy CIA nhằm phục vụ cuộc chiến tranh đặc biệt kéo dài tại Việt Nam và Đông Dương đã được Lầu Năm góc chuẩn bị kỹ càng. Trước hết, CIA hậu thuẫn đôn Vàng Pao trở thành chỉ huy một đạo quân bí mật thay cho những toán dân binh cũ, liền đó cử Uy-li-am Yâng (William Young), một điệp viên kỳ cựu đến Pa-doung, cùng với lực lượng biệt kích “mũ nồi xanh” của Mỹ, và các toán biệt kích không phải người Lào do CIA tài trợ, có mặt tại Quân khu II để tuyển mộ, huấn luyện, tăng cường tiếp tế vũ khí, quân nhu cho đội quân đặc biệt này, để Vàng Pao đương đầu với quân đội Pa-thét Lào đang ngày càng lớn mạnh. CIA còn hy vọng biến đội quân đặc biệt Vàng Pao thành lực lượng “đa năng”, vừa làm con bài dự trữ trong việc ngăn chặn QĐND Việt Nam đang mở tuyến đường Hồ Chí Minh chi viện cho chiến trường miền Nam Việt Nam, vừa sử dụng chúng từ Lào xâm nhập, quấy rối, phá hoại miền Bắc Việt Nam, mà mục tiêu chính là miền Tây tỉnh Nghệ An-lá chắn trực tiếp của miền Bắc XHCN. Dựa vào sức mạnh của Mỹ, cuối năm 1961 đội quân Vàng Pao tụ tập được 9000 tay súng để rồi tăng vọt lên 20.000 rồi 30.000 vào thời gian sau đó.

Lợi dụng địa hình rừng núi hiểm trở của đất nước Triệu Voi, đội quân “binh cua tướng ốc” của Vàng Pao khống chế một vùng rộng lớn từ núi Pa-doung ở phía Nam đến núi Phou Pha cho tới Boum Long phía Đông Cánh đồng Chum. Có thể nói, trong suốt cuộc kháng chiến Mỹ giữ nước của hai nước Việt-Lào, đội quân Vàng Pao được CIA đào tạo, huấn luyện, trang bị tận chân răng, đã gây khó khăn lớn cho quân đội Pathet Lào và QĐND Việt Nam tại vùng Thượng Lào.

Tạo đường sống cho kẻ lầm đường

Cụ Vừ Chông Pao, người con ưu tú của đồng bào Mông tỉnh Nghệ An, Anh hùng LLVT Nhân dân năm 2010, bồi hồi nhớ lại: Với mấy chục năm ngắn ngủi có mặt trên cõi đời, quái thai Vàng Pao đã trút tai ương chướng họa lên đầu đồng bào mình, Tổ quốc mình và nhân dân Việt Nam vùng biên giới.

Năm 1955 cụ Vừ Chông Pao được tham dự Lễ kỷ niệm Quốc khánh 2-9 tại Hà Nội. Khoảng 10 giờ-cụ Pao kể-chúng tôi có mặt tại Phủ Chủ tịch. Bác Hồ xuất hiện, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đi bên cạnh, Bác trìu mến nhìn mọi người nói:

– Thắng xâm lược Pháp rồi, các dân tộc anh em đoàn kết lại.

Bỗng Bác nắm chắc hai bàn tay giơ lên cao tiếp:

– Có bẻ được không?

Cả hội trường đứng dậy đồng thanh đáp:

– Không ạ.

Bác xòe bàn tay làm động tác bẻ từng ngón và tiếp: – Có bẻ được không?

– Thưa Bác có ạ.

– Nếu kẻ nào cố tình chia rẽ thì chúng ta phải làm gì?

– Dạ, phải đánh thắng chúng nó.

– Đúng! Có như thế chúng ta mới giải phóng được miền Nam.

Năm 1963 với trọng trách Chủ tịch MTTQ huyện Kỳ Sơn, cụ Pao được ra Hà Nội dự tập huấn chính trị, được Bác cho gọi vào Phủ Chủ tịch. Cùng tiếp hôm ấy có đồng chí Lê Duẩn. Bác hỏi tình hình kinh tế-xã hội của địa phương, tình hình làm ăn của bà con các dân tộc huyện Kỳ Sơn. Đồng chí Lê Duẩn báo cáo với Bác:

– Thưa Bác, Kỳ Sơn đang có loạn Châu Pà (Phỉ xưng vua).

Bác hỏi:

– Các chú định xử lý thế nào?

Vừ Chông Pao mạnh dạn trình bày suy nghĩ đã ấp ủ trong đầu, đại thể là: Loạn Châu Pà khởi phát từ một nhóm người Mông và người Khơ mú, chúng bắn giết bà con mình, điên cuồng chống trả bộ đội ta, nhiều tên ngoan cố tàn ác như con hổ con beo. Ta phải truy bắt bằng được rồi bắn.

Ông Vừ Chông Pao trình bày xong “giải pháp” khấp khởi nghĩ thầm sẽ được Bác khen, không ngờ thấy Bác xua tay lắc đầu, giọng Bác chùng xuống:

– Không được làm như thế. Trước hết phải nhìn rõ kẻ thù chính của toàn dân tộc là quân ngoại xâm cướp nước. Những người nông nổi theo Châu Pà là đồng bào ta, anh em ruột thịt của ta, nếu cứ bắt được là giết thì tự ta giết hết người của ta. Từ nay về sau bắt được họ, các chú không được bắn, không được làm nhục, mà phải bằng mọi con đường cảm hóa giáo dục, đến tận từng nhà vận động bà con không được theo, không được nuôi giấu chứa chấp Châu Pà, làm được vậy chúng ta nhất định thắng.

Mãn khóa huấn luyện chính trị, ông Vừ Chông Pao trở về Kỳ Sơn kể cho bà con nghe những điều Bác dạy. Lãnh đạo huyện Kỳ Sơn thành lập Ban chỉ đạo chống Phỉ dẹp loạn với khẩu hiệu “5 nên, 6 không” in phát đến từng nóc nhà, đến các già làng trưởng bản, trưởng các dòng họ. Nhận ra chính sách độ lượng khoan hồng của Bác Hồ là tạo cho những kẻ lỡ lầm một con đường sống, thời gian sau hầu hết những tên theo Châu Pà lần lượt mang súng ra giao nộp cho chính quyền để trở về sống yên bình cùng vợ con gia đình, sống giữa tình thương của dân làng. Cùng thời gian ấy, bộ đội chủ lực, dân quân địa phương Kỳ Sơn đồng loạt san phẳng hết thảy đồn bốt của Châu Pà dọc tuyến đường biên, cảm hóa gọi 400 tên ra đầu thú, hơn 3000 dân cùng 3000km2 nơi biên giới Kỳ Sơn thoát khỏi nạn Châu Pà.

Cây muốn lặng, gió chẳng đừng

Vàng Pao (giữa) tại Mỹ.  Ảnh tư liệu

Xã biên giới Mường Lống huyện Kỳ Sơn cách thành phố Vinh khoảng 300km, nhưng chỉ cách Noọng Hét sào huyệt của Vàng Pao chỉ mấy quăng dao. Vào 3 giờ sáng ngày 24-6-1964, khoảng 60 tên phỉ Vàng Pao xâm nhập qua biên giới, với sự chỉ điểm của 7 tên phỉ trước đó chúng đã cài cắm vào nội địa của ta. Chúng chia làm 3 tốp: Tốp thứ nhất 17 tên với 1 khẩu ĐKZ, 3 cạc-bin, 13 khẩu ca-rông, 1 máy điện đài liên lạc; Tốp thứ hai 19 tên, với 1 trung liên, 4 cạc-bin, 13 khẩu ca-rông; Tốp thứ ba gồm 24 tên, 2 cạc-bin, 22 khẩu ca-rông… bất ngờ tập kích vào trung tâm xã Mường Lống. Cuộc tập kích đẫm máu kéo dài từ 3 giờ sáng đến 17 giờ tối ngày 24-6-1964 đã gây tổn thất lớn cho ta: 54 người vĩnh viễn nằm lại nơi biên cương, trong đó có 23 bộ đội, 20 công nhân tự vệ Trại giống Mường Lống, 3 dân quân địa phương, 4 cán bộ y tế, 4 cán bộ chính trị; Bị thương 36 người gồm 15 bộ đội, 10 công nhân tự vệ Trại giống Mường Lống, 5 dân quân, 5 cán bộ chính trị, 1 thường dân. Về phía địch có 4 tên bị tiêu diệt, 1 tên bị thương. Hai mươi công nhân lao động của Trại giống Mường Lống hy sinh trong trận tập kích đẫm máu này quê ở 4 xã thuộc huyện Nam Đàn, trong đó xã Nam Thắng 7 người, xã Nam Trung 6 người, xã Nam Thịnh 6 người, xã Nam Lộc 1 người. Năm 2007 tức 43 năm sau, toàn bộ 20 CNLĐ Trại giống Mường Lống đã được Nhà nước truy phong liệt sĩ, trong đó 18 người đang tuổi đôi mươi chưa kịp lập gia đình.

Đã gần 47 năm kể từ cuộc tập kích đẫm máu, nguyên trùm phỉ Vàng Pao-kẻ gây ra tội ác trời không dung đất không tha ấy, được quan thầy Mỹ cưu mang sống đến 81 tuổi. Tại thung lũng Mường Lống, cũng đã gần 47 năm thay da đổi thịt, đến hôm nay vẫn chưa có một nghĩa trang ghi danh 54 con người đã anh dũng ngã xuống vì sự nghiệp bảo vệ vùng biên bất khả xâm phạm của Tổ quốc Việt Nam thân yêu.

Ghi chép của Giao Hưởng
qdnd.vn

Điệp viên “Lui-ix”, người anh hùng kiệt xuất nước Nga

QĐND – Ngày 20-7-1995, Tổng thống Liên bang Nga đã quyết định truy tặng Danh hiệu Anh hùng cho Mô-rít Kô-en do đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đặc biệt và lòng quả cảm của người chiến sĩ điệp viên Xô-viết. Một năm sau, người vợ huyền thoại của ông, điệp viên Lê-ôn-ti-na Tê-rê-da Pết-ka cũng được truy tặng Danh hiệu cao quý như thế.

Mô-rít Kô-en sinh ngày 2-7-1910 tại Niu Y-óoc trong gia đình Nga kiều. Trong hồ sơ cá nhân lưu giữ tại nhà, Kô-en viết: “Trong nhà thường xuất hiện những vị khách từ nước Nga hoặc từ U-crai-na đến, đem theo những đĩa hát và cùng nhau hát những bài dân ca Nga. Nhưng, ấn tượng hơn cả là họ kể những câu chuyện lý thú về xứ sở mà tôi chưa hề thấy bao giờ – nước Nga… Cứ mỗi lần vậy, trong tôi sinh khát vọng muốn tận mắt nhìn thấy Tổ quốc của mình. Lớn lên, khát vọng đó càng thôi thúc tôi mạnh mẽ hơn”. Năm 1936, Mô-rít Kô-en gia nhập Đảng Cộng sản Mỹ và bắt đầu tham gia công tác truyền bá sách báo của đảng, vận động thợ thuyền đấu tranh với chủ đòi quyền lợi chính đáng cho mình.

Tháng 5-1937, trong một lần tham gia mít-tinh ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Tây Ban Nha, các đồng chí của Kô-en đã giới thiệu cô Lô-na Pết-ka – một thiếu nữ trẻ đẹp cho anh.

Trong thời gian ở Tây Ban Nha, qua những hoạt động sôi nổi, Kô-en đã khiến cơ quan phản gián Xô-viết để mắt tới. Vào những ngày đầu tháng 7-1938 tại thành phố Bác-xê-lô-na, người phụ trách cơ quan tình báo Xô-viết ở nước ngoài – Alếch-xan-đơ Ơ-rơ-lốp đã mời anh đến hỏi chuyện và dần dà đặt vấn đề với anh về việc tham gia công tác bí mật của Tổ quốc. Mô-rít Kô-en đã hăng hái nhận lời. Trong quá trình hoạt động bí mật, Kô-en có nhiều bí danh, mà “ Lui-ix” là bí danh ông ưa thích nhất.

Tháng 11-1938, theo quyết định của Trung tâm, Kô-en rời Tây Ban Nha trở về Mỹ để nhận công tác giao liên cho tổ chức tình báo Xô-viết ngoại tuyến ở Niu Y-oóc. Về đến Mỹ, Kô-en lập tức gọi điện cho Lô-na Pết-ka. Người chiến sĩ thuộc Đoàn quân Quốc tế từ chiến trường trở về đã lay chuyển trái tim Lô-na. Ngày 4-7-1941 – ngày Độc lập của nước Mỹ – họ tổ chức đám cưới. Biết rõ mối quan hệ của chồng với cơ quan phản gián Liên Xô, Lô-na không những không phản đối, mà còn ra sức giúp chồng hoàn thành nhiệm vụ.

Trong hồi ký của mình, Mô-rít Kô-en viết: “Lần đó tôi đã phân vân rất lâu không thể quyết định nổi, có nên lôi kéo Lô-na tham gia công việc này hay không? Trong quan hệ vợ chồng không nên chơi trò úp mở, cần giải thích rõ để cùng nhau hoạt động”. Cặp vợ chồng điệp viên này bắt đầu hoạt động rất ổn định, trở thành đường dây liên lạc vững chắc giữa tổ chức tình báo Liên Xô ở Niu Y-oóc với cơ sở cấp tin. Một lần, hai người nhận được lệnh khai thác tin tức về việc sản xuất một kiểu đại liên mới của nhà máy sản xuất vũ khí trang bị cho máy bay. Ngay lập tức, Lô-na bắt quen được ngay với một kỹ sư trẻ trong nhà máy tên là “Phờ-ren-ka”, rồi họ tiến hành thực hiện một chiến dịch táo bạo. Làm theo hướng dẫn của Lô-na, chàng kỹ sư trẻ đã khôn khéo đem được hết các bộ phận của khẩu súng ra ngoài nhà máy. Sau đó vợ chồng Kô-en chuyển chúng tới Tổng lãnh sự quán Liên Xô tại Niu Y-oóc. Thắng lợi đó đã làm cho các cộng tác viên giàu kinh nghiệm nhất cùng Trung tâm phản gián Liên Xô hết sức sửng sốt. Khẩu súng mẫu đó được chuyển ngay về Mát-xcơ-va.

Năm 1942, Kô-en bị động viên vào quân đội và được điều sang châu Âu để tham gia chiến đấu chống phát-xít Đức. Còn vợ anh ở hậu phương vẫn tiếp tục tích cực cộng tác với tổ chức tình báo Xô-viết.

Bắt đầu từ năm 1943 tổ phản gián Liên Xô ở Niu Y-oóc được lệnh phải gấp rút thu thập thông tin về một đề án mang tên “Man-hat-tan”. Đó là đề án khởi thảo chế tạo trong phòng thí nghiệm một quả bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới tại Trung tâm nghiên cứu ở Lốt Ala-mốt. Các cộng tác viên của tổ tình báo đã thu thập được những tài liệu vô cùng quan trọng nói về năng lượng nguyên tử và việc sử dụng nó vào mục đích quân sự. Tới ngày 16-7-1945, một tiếng nổ nguyên tử hình nấm đã nổi lên trên sa mạc Niu Mê-hi-cô. Những số liệu chính thức về vụ nổ này đã nằm gọn trong hồ sơ của các nhà khoa học Xô-viết mà công lao chính trong việc này thuộc về bà Lô-na Pết-ka.

Tháng 11-1945 Mô-rít Kô-en xuất ngũ và quay trở về Mỹ. Tháng 12 năm đó ông đã nối lại đường dây liên lạc với cơ sở tình báo Nga. Bắt đầu giai đoạn hoạt động mới đối với những người làm công tác phản gián. Vợ chồng Kô-en đảm đương đường dây liên lạc giữa những nguồn cấp tin với tổ chức phản gián của Liên Xô ở Niu Y-oóc, khai thác được nhiều tin tức quý giá liên quan đến các kế hoạch chế tạo vũ khí hạt nhân của Mỹ.

Tình hình ở Mỹ lúc này mỗi lúc càng trở nên căng thẳng, không thuận lợi cho công tác tổ chức tình báo, nhất là sau vụ trỗi dậy của bọn quá khích Ma-ka-rơ. Năm 1948, quan hệ Xô-Mỹ đã bị giảm sút. Tổng Lãnh sự quán Liên Xô ở Niu Y-oóc bị đóng cửa. Các tổ chức tình báo ngoại tuyến phải nâng cấp bảo toàn đường dây liên lạc giữa Trung tâm với cơ sở. Năm 1949, theo quyết định của trên, vợ chồng Kô-en đã chuyển sang hoạt động bí mật dưới sự lãnh đạo của điệp viên nổi tiếng Vi-lem Phi-se-ra. Hoạt động gần 2 năm thì Kô-en và Lô-na được điều về Liên Xô để tránh sự truy bức từ phía Mỹ.

Sống tại Mát-xcơ-va 3 năm, vợ chồng Kô-en đã học xong khóa truyền tin mật mã vô tuyến. Năm 1954, hai vợ chồng Kô-en được lệnh chuyển sang Anh dưới danh nghĩa nhà buôn Tân Tây Lan để hoạt động bí mật. Ông bà đã mua một căn nhà nhỏ ở cách căn cứ BBS Nô-rơ-khon thuộc ngoại vi Luân Đôn để đặt trạm thiết bị vô tuyến liên lạc với Mát-xcơ-va. Phần lớn tin tức mật về các hạm thuyền Hoàng gia và các lực lượng hải quân NATO đang đóng quân gần đó cùng với chương trình bố trí tên lửa của họ đã được báo về Liên Xô. Thiếu tướng tình báo Va-xi-li Đô-da-lép, người thường vẫn duy trì mối quan hệ mật với các nhà buôn giả danh, đã có nhận xét sau: “Tôi cho rằng, Mát-xcơ-va có nhiều thông tin về hạm đội tàu ngầm của nước Anh không ít hơn so với Nữ hoàng Ê-li-da-bét. Ngoài ra, chúng tôi nắm được đầy đủ tình huống đang diễn ra, kịp thời thảo những dự án mới để trang bị cho quân đội. Trung tâm rất cần đến những tin tức đó”.

Tuy nhiên, đến giữa năm 1960, cơ sở của thương gia Go-rơ-đon Lon-xđây (biệt danh của vợ chồng Kô-en) bị phát hiện. Một trong số những người chỉ huy ngành tình báo Ba Lan là Gô-lê-nép-xki đã cung cấp tin cho Cục Tình báo Mỹ về việc Liên Xô cài người vào căn cứ hải quân Hoàng gia Anh ở Po-rơ-len-đe. Phía Mỹ đã thông báo cho cơ quan phản gián Anh về sự hiện diện của tình báo Liên Xô trên căn cứ Hải quân Hoàng gia Anh. Ngành phản gián Anh phải bỏ ra một năm trời để truy lùng điệp viên Liên Xô, kết quả là họ đã xác định được Công ty “Be-na” của thương gia Go-rơ-đon Lon-xđây là cơ sở của Tình báo Xô-viết.

Trong phiên tòa xét xử vụ Po-rơ-len-đe ngày 13-3-1961, Lon-xđây khẳng định rằng vợ ông không hề biết gì về việc hoạt động tình báo của mình. Mặc dù vậy, ngày 23-3-1961, tòa án Anh đã xử vợ chồng Lon-xđây 25 năm tù giam.

Tháng 8-1969, chính quyền Anh đã thỏa thuận trao đổi vợ chồng Kô-en lấy một điệp viên của Anh bị bắt ở Mát-xcơ-va cùng với hai tên buôn lậu ma túy người Anh. Ngày 24-11-1969, hai nhà tình báo đã được ra khỏi nhà tù. Những ngày cuối đời ông bà Kô-en vẫn tiếp tục làm việc cho ngành tình báo Xô-viết, tham gia đào tạo thế hệ tương lai.

Ngày 23-12-1992, Anh hùng Mô-rít Kô-en đã trút hơi thở cuối cùng tại Mát-xcơ-va. Ba năm sau đó – năm 1995 – bà Mô-rít Kô-en cũng theo chồng về nơi an nghỉ cuối cùng.

Vũ Đình Huy
qdnd.vn

Hai bài viết của Bác Hồ trên báo Đảng đúng Ngày Quốc khánh: “Tẩy sạch bệnh quan liêu”

Thường thường những ngày kỷ niệm trọng đại, báo chí ta bao giờ cũng in những bài nêu lên những thành tích lớn mà Đảng và nhân dân ta đã thực hiện được. Đó là một điều cần thiết.

Tuy nhiên, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, bên cạnh những bài viết nêu lên những thành tựu lớn, Bác thường có những bài viết nêu lên cả những khuyết điểm còn tồn tại của cán bộ và đảng viên ta.

Ngày 2 tháng 9 năm 1950, cả nước vui mừng kỷ niệm lần thứ 5 Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, Bác Hồ đã viết bài “Phải tẩy sạch bệnh quan liêu”, in trên Báo Sự thật số 140 với bút danh XYZ (Hồ Chí Minh toàn tập – tập 6 trang 88).

Sang năm sau, cũng ngày 2 tháng 9 năm 1951, Bác lại viết tiếp bài “Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh” in trên Báo Nhân Dân số 23 (Hồ Chí Minh toàn tập – tập 6 trang 292). Bài này Bác ghi bút danh CB.

Hai năm liền trong Ngày Quốc khánh, Bác Hồ viết bài “Tẩy sạch bệnh quan liêu”. Điều đó chứng tỏ quan liêu là một thứ bệnh nguy hiểm, có hại lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

anh chu tich ho chi minhChủ tịch Hồ Chí Minh – Người thầy vĩ đại của báo chí cách mạng Việt Nam. Ảnh: Tư liệu

Trong hai bài báo này, Bác chỉ rõ: Bệnh quan liêu là thế nào?

“Nguyên nhân của nó vì xa cách quần chúng, không hiểu biết dân chúng, không học hỏi dân chúng, sợ dân chúng phê bình… Các cán bộ ấy, người thì cả đời chỉ loanh quanh trong trụ sở. Có người thì bao giờ “Sấm ra đá kêu” mới gặp dân chúng một lần. Khi gặp dân chúng thì đút tay vào túi quần mà “huấn thoại”, nói hàng giờ, nói bao la thiên địa. Song, những việc thiết thực cần kíp của địa phương, những điều dân chúng cần biết thì không nói đến”.

Chứng bệnh ấy thể hiện ra như sau:

Đối với người: Cấp trên đối với cấp dưới, cán bộ đối với nhân dân… chỉ biết dùng mệnh lệnh. Không biết giải thích, tuyên truyền. Không biết làm cho dân chúng tự giác và tự động.

Đối với việc: Chỉ biết khai hội nghị, viết nghị quyết, ra chỉ thị. Chứ không biết điều tra, nghiên cứu, đôn đốc, giúp đỡ, khuyến khích, kiểm tra.

Đối với mình: Việc gì cũng kềnh càng, chậm rãi, làm cho qua chuyện. Nói một đằng làm một nẻo. Chỉ biết lo cho mình, không quan tâm đến nhân dân, đến đồng chí… Chỉ biết ăn cho sang, diện cho kẻng, chẳng những không lo phụng sự nhân dân, mà còn muốn nhân dân phụng sự mình. Tham ô, hủ hoá. Trước mặt dân chúng thì lên mặt “quan cách mạng”.

Và Bác Hồ nói: “Đó là mấy vẻ chính của bệnh quan liêu và nếu không lo chữa thì bệnh quan liêu sẽ đưa bệnh nhân đến chỗ hoàn toàn bị đào thải!”.

Trong bài “Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh” (2-9-1951) Bác viết:

“Ai cũng biết bệnh quan liêu mệnh lệnh là nguy hiểm. Nhưng trong công tác thực tế, nhiều cán bộ ta còn mắc bệnh ấy. Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng” nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ”.

Bác cũng chỉ rõ nguyên nhân của bệnh quan liêu là:

– Xa nhân dân: Do đó không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân.

– Khinh nhân dân: Cho là “dân ngu khu đen” bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình.

– Sợ nhân dân: Khi có sai lầm, khuyết điểm, thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.

– Không tin cậy nhân dân: Họ quên rằng không có lực lượng nhân dân thì việc nhỏ mấy, dễ mấy làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân thì việc khó mấy, to mấy, cũng làm được.

– Không hiểu biết nhân dân: Họ quên rằng nhân dân cần trông thấy những lợi ích thiết thực. Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông.

– Không yêu thương nhân dân: Do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân. Có nơi bệnh quan liêu mệnh lệnh trầm trọng đến nỗi cán bộ lừa phỉnh dân, doạ nạt dân!

Cuối cùng, Bác nêu ra cách chữa chứng bệnh quan liêu mệnh lệnh, gồm 6 điều:

1 – Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết.

2 – Liên hệ chặt chẽ với nhân dân.

3 – Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ.

4 – Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình.

5 – Sẵn sàng học hỏi nhân dân.

6 – Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo.

Bệnh quan liêu là một nguy cơ của Đảng cầm quyền, là nguyên nhân sinh ra nhiều thứ bệnh khác. Quan liêu chính là nguồn gốc sinh ra tham nhũng, lãng phí. Bác Hồ nói: “Bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí. Vì vậy muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí, thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu” (Hồ Chí Minh toàn tập – tập 6 trang 490).

Bác khẳng định: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân. Kẻ thù này khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta, phá hoại đạo đức cách mạng của ta”. Ngày thành lập Đảng (3/2/1969, Bác Hồ lại viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” thể hiện sự quan tâm lo lắng của Người. Bác chỉ rõ: Chính vì chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra bệnh quan liêu mệnh lệnh, tham ô, lãng phí. Chủ nghĩa cá nhân là mẹ đẻ ra mọi tính hư, nết xấu. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng. Bác nhắc nhở và căn dặn phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Và đó cũng chính là yêu cầu của Nghị quyết Trung ương 4 một số những vấn đề cấp về bách xây dựng Đảng hiện nay.

Trong Di chúc của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Đó cũng chính là nguyện vọng và mục tiêu cao cả của cách mạng Việt Nam./.

Theo Bùi Công Bính/Báo Nam Định
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Bại tướng Dư Quốc Đống

QĐND – Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ-Quân đội Sài Gòn, ngoài lực lượng chính là Quân đoàn l-Quân khu l, giới chóp bu Sài Gòn còn tăng cường hai lực lượng được xem là “thiện chiến” nhất trong quân lực Việt Nam cộng hòa là Sư đoàn Thủy quân Lục chiến và Sư đoàn dù. Tư lệnh Sư đoàn dù lúc đó là Trung tướng Dư Quốc Đống.

Dư Quốc Đống. Ảnh tư liệu

Dư Quốc Đống sinh năm 1932 tại tỉnh Rạch Giá. Y cầm súng theo thực dân Pháp từ khi còn rất trẻ. Tốt nghiệp Trường Sĩ quan Đà Lạt năm 1952, Đống được điều về Tiểu đoàn 4 Vệ binh Sơn cước đóng tại Plei-cu. Một năm sau, y tình nguyện xin về Tiểu đoàn 1 nhảy dù.

Con đường làm tay sai hết Pháp đến Mỹ của Dư Quốc Đống chủ yếu trong lực lượng “mũ nồi đỏ” khét tiếng gian ác từng gây nhiều tội ác đối với đồng bào ta. Từ năm 1953 đến cuối năm 1972, Đống lần lượt leo qua các chức Đại đội trưởng, Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng, Tư lệnh Lữ đoàn… đến Trung tướng, Tư lệnh Sư đoàn dù. Dư Quốc Đống từng tham gia chiến dịch tảo thanh lực lượng Bình Xuyên năm 1955, từng nhiều lần đụng độ với Quân Giải phóng trong trận Ia Đrăng, Tết Mậu Thân 1968, Đồi 1416 ở Đắc Tô, cuộc tiến quân sang Cam-pu-chia… và cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971.

Như vậy, cuộc đời binh nghiệp làm tay sai cho ngoại bang của Đống chủ yếu ở Sư đoàn dù, lực lượng “con cưng” của chính quyền Sài Gòn, được trang bị hiện đại, được quan thầy Mỹ tuyển chọn nhân sự và đào tạo bài bản, kỹ lưỡng. Vì có “thâm niên” nhất trong lực lượng, lại có vóc dáng cao lớn, thêm tính cách biết giữ chữ tín theo kiểu giang hồ nên y được cấp dưới vì nể. Nói một cách công bằng, Dư Quốc Đống được Pháp và Mỹ đào tạo cơ bản về chiến thuật của lực lượng dù, có kinh nghiệm trong hành quân tác chiến càn quét và đối phó với lực lượng Quân Giải phóng. Nhưng tại cuộc hành quân Lam Sơn 719, Sư đoàn dù do y chỉ huy đã bị Quân Giải phóng quần cho tơi tả.

Trong “Lệnh hành quân Lam Sơn 719” của Sư đoàn dù ký ngày 3-2-1971, Dư Quốc Đống ra lệnh cho thuộc cấp: “Nỗ lực chính trong cuộc hành quân hỗn hợp không lực theo trục DO, nhằm cắt đứt hệ thống tiếp vận của Công sản Bắc Việt, tìm diệt địch và phá hủy tối đa các quân dụng kho tàng của chúng trong căn cứ 604”. Hướng hành quân cũng được Đống chỉ rõ: “Xuất phát từ căn cứ Hàm Nghi, hành quân bộ theo dọc Đường 548 (Đường 9) và trực thăng vận xuất nhập các khu vực mục tiêu A Lưới, A Sầu, thiết lập các căn cứ hành quân và căn cứ hỏa lực, tổ chức hành quân tuần thám, lùng diệt địch, phá hủy các kho tàng trong khu vực trách nhiệm”.

Cuộc hành hành quân của Sư đoàn dù cũng được Đống chia làm 4 giai đoạn:

Giai đoạn l (Từ ngày 30-1 đến 7-2 năm 1971): Di chuyển toàn bộ sư đoàn nhảy dù và các đơn vị tăng phái đến phối trí xung quanh khu vực căn cứ Hàm Nghi.

Giai đoạn 2 (từ 8-2 đến 14-2): Sử dụng chiến đoàn đặc nhiệm làm nỗ lực chính, xuất phát từ Tà Bạt, tiến quân dọc theo Đường 548 (Đường 9) về phía tây, giao tiếp và hỗ trợ cho 1 tiểu đoàn nhảy dù trực thăng vận chiếm mục tiêu A Lưới (Bản Đông) và thiết lập căn cứ hỏa lực tại đây. Đồng thời Lữ đoàn 3 nhảy dù được trực thăng vận cấp tiểu đoàn chiếm các khu vực cao điểm 30-31 (điểm cao 450-543) phía bắc Đường 9 và thiết lập các căn cứ hỏa lực để hỗ trợ mặt Bắc cho cánh quân cơ giới, chiến đoàn đặc nhiệm.

Giai đoạn 3: Củng cố các căn cứ hành quân và căn cứ hỏa lực tổ chức hành quân lục soát, tiêu diệt lực lượng địch, khám phá và tiêu hủy tới mức tối đa các quân dụng cũng như kho tàng của địch trong phạm vi trách nhiệm.

Giai đoạn 4: Đoạn lệnh hành quân sẽ ban hành sau (sau này thành cuộc tháo chạy vội vã của Sư đoàn dù cũng như toàn bộ lực lượng địch tham chiến).

Tổ chức biên chế của Sư đoàn dù lúc này rất mạnh, gồm 9 tiểu đoàn thuộc 3 lữ đoàn dù, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh… đó là chưa kể các lực lượng của Quân đoàn 1 tăng cường cho Đống gồm Lữ đoàn 1 thiết kỵ, Tiểu đoàn 44 pháo binh (155mm) và tiểu đoàn 101 công binh chiến đấu.

Nhưng, cuộc hành quân hoang tưởng Lam Sơn 719 do quan thầy Mỹ sắp đặt bị thất bại thảm hại. Toàn bộ lực lượng của cái gọi là Cuộc hành quân Lam Sơn 719 trong đó có Sư đoàn dù của Dư Quốc Đống đã lọt vào trong thế trận giăng sẵn của quân và dân ta. Thất bại của chúng là điều không tránh khỏi.

Sáng 9-2-1971, 2 đại đội của chiến đoàn đặc nhiệm dù tại chốt 351 cầu Cha Kỳ bị Quân Giải phóng tiêu diệt. Cùng ngày, Tiểu đoàn dù 2 bị tập kích ở Xê Nam.

Từ ngày 11 đến ngày 13-2, Trung đoàn 64 thuộc Sư đoàn 320 Quân đội nhân dân Việt Nam liên tiếp tiến công khu vực điểm cao 456 và Đồi Không Tên, diệt 3 đại đội của Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn dù 6 (Lữ đoàn dù 3) chốt giữ căn cứ 31 (điểm cao 543), cách Bản Đông 7km về phía bắc.

Trưa 25-2, bằng trận tiến công hiệp đồng binh chủng, Trung đoàn 64 đã làm chủ căn cứ 31, tiêu diệt Tiểu đoàn 3 dù, bắt sống Đại tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 dù và toàn bộ ban tham mưu lữ đoàn.

Ngày 12 đến ngày 17-3, Quân Giải phóng đại phá Bản Đông do 1 lữ đoàn dù và 2 thiết đoàn quân đội Sài Gòn chốt giữ. Lữ đoàn dù 3 bị xóa sổ.

Ngày 18-3, do bị thất bại nặng nề, quân đội Sài Gòn rút khỏi Bản Đông. Cuộc rút quân trở thành một thảm bại hỗn loạn. Binh sĩ vứt bỏ vũ khí chạy cắt rừng hòng thoát thân nhưng cuối cùng trúng vào các ổ phục kích của Quân Giải phóng.

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 là cuộc hành quân lớn nhất của Liên quân Mỹ-ngụy trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng, khi viết về cuộc đời cầm súng làm tay sai cho hết Pháp và Mỹ của Dư Quốc Đống, đám đàn em của y và thậm chí người cháu gọi Đống bằng cậu ruột là Trần Thái Văn hiện sống ở Ca-li-phoóc-ni-a (Mỹ) không một lời nhắc đến cuộc hành quân này. Đây là một trong những thất bại nặng nề nhất trong 26 năm khoác áo lính của Dư Quốc Đống mà thuộc hạ cũng như y muốn quên đi. Cũng có vài kẻ thân tín của y cho rằng, việc đặt Dư Quốc Đống và Lê Nguyên Khang, Trung tướng Tư lệnh Sư đoàn Thủy quân Lục chiến dưới quyền của Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh Quân đoàn 1 – Vùng 1 chiến thuật là một sai lầm của Tổng thống Thiệu, vì hai viên tướng vốn ngổ ngáo lại quen được chiều chuộng rất coi thường Lãm. Bằng chứng là mặc dù toàn bộ Sư đoàn Thủy quân Lục chiến tham gia cuộc hành quân, nhưng Lê Nguyên Khang giao cho cấp phó chỉ huy, còn mình thì nằm chơi ở Sài Gòn… Sau này, mâu thuẫn giữa Đống và Lãm được bộc lộ trong kế hoạch phòng thủ Bản Đông. Chuyện đó có chăng cũng chỉ là một nguyên nhân nhỏ để bào chữa cho thất bại cay đắng của Đống và Sư đoàn Dù của y.

Trong hồi ký “Sư đoàn nhảy dù Việt Nam và cuộc hành quân Lam Sơn 719” của Trung tướng hồi hưu Giêm B.Vốt-tơ (James B.Vaught), nguyên Cố vấn trưởng Sư đoàn dù trong cuộc hành quân này cũng rất ít khi nhắc đến Đống. Sau khi ba hoa rằng mặc dù bị đối phương bao vây quyết liệt, nhưng cuối cùng nhờ tài cố vấn của mình, Sư đoàn dù đã “triệt thoái có quy củ khỏi đất Lào thành công”, Vốt-tơ chỉ nhắc Đống một chút, nguyên văn như sau: “Tướng Đống trong buổi họp tham mưu đã nói với toàn bộ các đơn vị trưởng trong Sư đoàn dù rằng, từ nay tôi được phép đề nghị các quyết định hành quân chiến thuật cần thiết và mọi người phải tuyệt đối thi hành. Và kể từ ngày đó tướng Đống không bao giờ phản đối bất cứ một đề nghị nào của tôi đưa ra…”.

Không biết Vốt-tơ khen hay… chửi Đống, xem vị tướng này như là bù nhìn dưới quyền điều hành của các cố vấn Mỹ.

Cuối năm 1972, Dư Quốc Đống rời chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn dù để thay Ngô Du làm Trưởng đoàn thương thuyết của Quân đội Sài Gòn trong Ủy ban liên hợp Quân sự bốn bên.

Tháng 11-1974, Dư Quốc Đống được Tổng thống Thiệu cử giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 3-Quân khu 3 bao gồm Sài Gòn và các tỉnh phụ cận. Sau đó 3 tháng, y phải từ chức khi để mất Phước Long vào tay Quân Giải phóng. Ngày 29-4-1975, khi chế độ Sài Gòn trong cơn hấp hối, Đống cùng gia đình vội vã rời khỏi Việt Nam sang tiếp tục sinh sống những ngày tàn cuối đời ở Mỹ. Ngày 22-4-2008, Dư Quốc Đống chết ở một Viện dưỡng lão ở Ca-li-phóoc-ni-a.

Khôi Nguyên (Theo báo chí nước ngoài)
qdnd.vn

Con cháu 10 nguyên soái Trung Quốc đảm nhiệm những công việc gì?

QĐND – Chu Mẫn, con gái nguyên soái Chu Đức, công tác ở Khoa Tiếng Nga, Trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh. Chị đã từng làm Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu giáo dục. Nghỉ hưu năm 1986, chị đã sáng lập Học viện Huấn luyện nhân tài lưỡng dụng quân dân Bắc Kinh (hiện nay đổi tên thành Học viện Chuyên tu quân dân Bắc Kinh), đảm nhiệm chức Viện trưởng. Các con trai Chu Mẫn là Lưu Kiến làm Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phòng hóa Quân Giải phóng Trung Quốc; Lưu Khang làm công tác giao lưu thương vụ giữa Trung Quốc và nước Đức; Lưu Mẫn phiên dịch viên tiếng Pháp; Lưu Võ, Đại đội trưởng Sở Nghiên cứu X Quân Giải phóng Trung Quốc).

Bành Cương, cháu gái nguyên soái Bành Đức Hoài, quân hàm Thiếu tướng, Ủy viên thường vụ Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung ương, Phó bí thư Ủy ban Kỷ luật Quân ủy Trung ương.

Con trai nguyên soái Lâm Bưu là Lâm Lập Quả, tốt nghiệp Khoa Vật lý, Trường Đại học Bắc Kinh. Tháng 3-1967, đảm nhiệm Chánh Văn phòng Đảng ủy Quân chủng Không quân. Ngày 17-10-1969, được bổ nhiệm làm Phó chủ nhiệm kiêm Phó trưởng ban Tác chiến Văn phòng Bộ tư lệnh Không quân Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc. Sáng sớm ngày 13-9-1971, theo cha mẹ đi máy bay vội vàng trốn chạy ra nước ngoài, dọc đường máy bay bị rơi ở Ôn-đô-nhan (Mông Cổ) và bị chết.

Lâm Lập Hằng con gái Lâm Bưu.

Con gái nguyên soái Lâm Bưu là Lâm Lập Hằng, đã từng đảm nhiệm Phó tổng biên tập Báo “Không quân”. Ngày 31-7-1974, Mao Trạch Đông trực tiếp phê chuẩn bãi bỏ thẩm tra cách ly đối với Lâm Lập Hằng. Tiếp theo, chị kết hôn với Trương Thanh Lâm, đồng thời được sắp xếp công tác trong một nhà máy sản xuất xe hơi tại Trịnh Châu. Sau Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 khóa 11 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, vấn đề của Lâm Lập Hằng được sự quan tâm của Trung ương Đảng, công tác và hộ khẩu tại Bắc Kinh của chị đã được giải quyết, đồng thời được phân công đến Viện Khoa học xã hội Trung Quốc công tác, chồng chị cũng được sắp xếp công tác tại ngành y tế thành phố Bắc Kinh. Từ đó, cả nhà Lâm Lập Hằng đã có cuộc sống bình yên. Ngày 18-5-2001, nhận lời mời của một công ty ở quê hương, chị ra làm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Đại tửu lầu Hoàng Hạc.

Con trai trưởng của nguyên soái Lưu Bá Thừa là Lưu Thái Hành, đã từng làm Phó giám đốc Sở Nghiên cứu X Quân chủng Không quân, sau đó làm Phó trưởng ban Ban Tác chiến Bộ đội Tăng thiết giáp. Con trai thứ hai là Lưu Mông đã từng làm Cán sự tham mưu ở Bộ Tổng tham mưu, yêu thích văn học, đã tham gia công tác biên soạn cuốn sách “Truyện ký Lưu Bá Thừa”, sáng tác kịch bản văn học điện ảnh “Tuổi trẻ Lưu Bá Thừa”. Con trai thứ ba Lưu Thái Trì, quân hàm Thiếu tướng, Phó trưởng ban Ban Trang bị Bộ tư lệnh Không quân. Con gái Lưu Hoa Bắc, tháng 6-1945, bị quân địch ám sát khi ở Viện Bảo vệ giáo dục Diên An; Lưu Di Quần, quân hàm Thiếu tướng, Phó viện trưởng Học viện Chỉ huy Không quân; Lưu Giải Tiên, Bác sĩ Ban Chẩn trị số 1 Bệnh viện Tổng bộ Hậu cần tại Bắc Kinh; Lưu Nhạn Vũ, Chuyên viên Khoa học Y học hạt nhân Bệnh viện Trung ương Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, Ủy viên Hội đồng chuyên môn Y học hạt nhân Hội Y học Bắc Kinh.

Con trai nguyên soái Hạ Long là Hạ Bằng Phi, quân hàm Trung tướng, Phó tư lệnh Hải quân, đã từ trần. Con gái Hạ Tiệp Sinh, quân hàm Thiếu tướng, Phó trưởng ban Ban Nghiên cứu Bách khoa quân sự Viện Khoa học quân sự (chồng là Lý Chấn Quân, cựu Chính ủy Bộ tổng Cảnh sát vũ trang).

Con trai trưởng nguyên soái Trần Nghị là Trần Hạo Tô, đã từng làm Phó thị trưởng thành phố Bắc Kinh, hiện làm Hội trưởng Hội Hữu hảo đối ngoại nhân dân Trung Quốc kiêm Hội trưởng Hội Hữu hảo Trung – Nga. Con trai thứ hai Trần Đan Hoài, quân hàm thiếu tướng, Ủy viên Hội đồng khoa học kỹ thuật Tổng bộ Trang bị, Quân giải phóng. Con trai thứ ba Trần Hiểu Lỗ, là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Quản lý đầu tư quốc tế đại lý nhân sự Trung tâm khai thác nhân tài quốc tế Trung Quốc. Con gái Trần San San (chồng là Vương Quang Á, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc.)

Con trai nguyên soái La Vĩnh Hằng là La Đông Tiến, quân hàm Trung tướng, nguyên Phó chính ủy Bộ tư lệnh Pháo binh 2 Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Con trai của nguyên soái Từ Hướng Tiền là Từ Tiểu Nham, quân hàm Trung tướng, đã từng làm Trưởng ban Ban Thông tin Bộ Tổng tham mưu Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Con gái nguyên soái Nhiếp Vinh Trăn là Nhiếp Lực, quân hàm Trung tướng, đã từng làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng, hiện nay đảm nhiệm Phó chủ tịch thường trực Hội Phát minh Trung Quốc, Ủy viên thường vụ Quốc hội Trung Quốc (chồng là Đinh Hằng Cao, quân hàm Thượng tướng, Viện sĩ Viện Công trình Trung Quốc, đã từng làm Chuyên viên nghiên cứu, Phó chủ nhiệm, Chủ nhiệm Ủy ban khoa học Quốc phòng. Hiện nay làm Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật quán tính Trung Quốc).

Con trai trưởng của nguyên soái Diệp Kiếm Anh là Diệp Tuyển Bình, Phó chủ tịch Ủy ban mặt trận dân tộc Trung ương (vợ là Ngô Tiểu Lan, cháu gái của Ngô Ngọc Chương, làm Phó chủ nhiệm Hội đồng nhân dân thành phố Thâm Quyến. Con gái Diệp Tân, Tổng giám đốc Công ty Vạn Tín Hồng Công). Con trai Diệp Tuyển Ninh (Nhạc Phong), từng làm Trưởng ban Liên lạc Tổng bộ Chính trị Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc, quân hàm Trung tướng, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội. Con trai Diệp Tuyển Liêm, Ủy viên Ủy ban mặt trân dân tộc trung ương (Chính hiệp toàn quốc), Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Khải Lợi, một trong những người phụ trách Công ty Bảo Lợi Bộ Tổng tham mưu Quân giải phóng. Con gái Diệp Sở Mai, nguyên Phó cục trưởng Cục Máy cái Bộ Công nghiệp Cơ giới (Chồng là Trâu Gia Hoa, Phó thủ tướng Quốc vụ viện). Con gái Diệp Hướng Chân (chồng là La Đan, cháu ngoại của Tiền Tráng Phi). Con gái Diệp Văn San, Phó chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Đầu tư Hoa kiều Hải Nam, đã từng làm Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Bôn Đức Châu Á-Thái Bình Dương Hồng Công (chồng là Dư Phương con trai của Dư Thu Lý).

VŨ PHONG TẠO biên dịch
qdnd.vn

(Theo Báo mạng Trung Hoa)

Nguyễn Khoa Nam: Cô đơn và đoản mệnh

QĐND – Trong quân đội ngụy Sài Gòn, có hơn 160 người đeo lon tướng, thì Nguyễn Khoa Nam là một trong rất ít tướng được binh sĩ ca ngợi bởi vẻ học thức và sự “trong sạch”. Nhưng vào ngày tàn cuộc chiến, ông ta vẫn bị mê hoặc bởi một thứ “lý tưởng nhập khẩu” từ Mỹ và đã chọn con đường ngu ngốc: tự sát.

Nguyễn Khoa Nam-Viên tướng sống cô đơn, khép kín.

Huế giải phóng ngày 26-3-1975 thì chừng 16 giờ chiều hôm sau, Đoàn công tác đặc biệt của Bộ tư lệnh Pháo binh đã có mặt tại căn cứ Trần Cao Vân. Từ tối ấy, đoàn chúng tôi trú tại Nhà thờ họ Nguyễn Khoa cạnh chùa Bà La Mật, thuộc địa phận xã Phú Hương, huyện Phú Vang trên đường Huế đi Thuận An. Với 38 sĩ quan trung, cao cấp và hai chiến sĩ, vậy mà chúng tôi chỉ sử dụng hết một phần nhỏ diện tích của nhà thờ. Thuở học trường huyện, được tắm gội trong những áng văn của nhà lý luận phê bình văn học Hải Triều-Nguyễn Khoa Văn, mấy năm sau lại ở trong Nhà thờ họ Nguyễn Khoa, thế nên “eng” (anh) giải phóng vừa từ Hà Nội vào là tôi cứ đoán già đoán non tướng Nguyễn Khoa Nam bên kia chiến tuyến có thể là hậu duệ của cụ Tổ tại nhà thờ này, nên lò mò thu thập những điều người ta nói về Nam.

Trong đội ngũ bại tướng của quân đội Sài Gòn, có lẽ Nguyễn Khoa Nam là người được học hành đến nơi đến chốn và đậm chất nghệ sĩ nhất. Nam quê gốc làng An Cựu Tây, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, sinh ngày 23-9-1927, tại Đà Nẵng. Bố là Nguyễn Khoa Túc làm Thanh tra giáo dục thời Pháp thuộc tại Đà Nẵng (về hưu năm 1941 tại Huế); mẹ là Tôn Nữ Mộc Cẩn thuộc dòng Tuy Lý Vương. Gia đình có 5 anh chị em, hai anh mất sớm, năm 1975 chị gái là Nguyễn Khoa Diệu Khâm làm ngành y tại Sài Gòn, em trai là Nguyễn Khoa Phước theo ngành giáo dục. Nam học Tiểu học tại Trường École des Garcons (trường dành cho nam học sinh) ở Ðà Nẵng, sau đó ra Huế học Trường Khải Ðịnh, năm 1943 đậu bằng Thành chung và học lên Nhị cấp, năm 1947 tiếp tục học lớp Ðệ nhị Toán và lớp Hành chính tại Huế. Nam giỏi Anh ngữ và Pháp ngữ, lại có năng khiếu hội họa và âm nhạc. Thời gian 1947-1949, Nam tập trung vào hội họa. Chuyện rằng hồi đó Nam ngồi suốt ngày bên khung vải, cặm cụi cho ra đủ các loại tranh sơn dầu, bột màu, bút chì, một số bức tranh được trưng bày. Thời trai trẻ nghe bảo Nam từng yêu một mỹ nữ, về sau người này sang Pháp và lấy chồng là bác sĩ bên ấy, từ đó ông ta “kiêng kỵ” phụ nữ đến suốt đời, nhưng người thân và gia đình vẫn thấy trong các tác phẩm hội họa của chàng trai thất tình này luôn thấp thoáng bóng dáng người tình xưa. Năm 1951, Nam làm tại Sở Ngân sách Trung kỳ.

Tháng 4-1953, Nguyễn Khoa Nam vào học Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức thuộc “Quân đội Quốc gia Việt Nam” trong Liên hiệp Pháp. Mãn khóa, y đeo lon thiếu úy, từ đó con người sống thiên về nội tâm và rêu phong như lăng tẩm Huế đã bị cuốn vào đường binh nghiệp.

Năm 1955, y làm Ðại đội trưởng lính dù, sau đó đi học kỹ thuật khoảng 8 tháng ở Pau (Pháp), trở về đeo lon đại úy. Từ khi đeo lon úy cho đến khi đeo lon tướng vào năm 1972, làm Tư lệnh Quân đoàn 4 kiêm Tư lệnh vùng 4 chiến thuật, Nam sống độc thân khép kín, hầu như không mấy khi tâm sự với ai, thế nên người ngoài từ cấp trên đến cấp dưới đều khó hiểu, khó gần. Y thuộc tạng “xa lạ giữa những người thân thuộc”.

Việc Nguyễn Khoa Nam cho lập mật khu tử thủ tại Cần Thơ tháng 4-1975 và sau đó tự sát cùng với cấp phó của mình là Chuẩn tướng Lê Văn Hưng về sau được một số tàn quân viết trong hồi ký. Theo Lê Nguyên Bình, cựu đại tá ở Bộ Tham mưu Vùng 4 chiến thuật quân đội ngụy Sài Gòn thì: “Bộ tư lệnh vùng 4 và Quân đoàn 4 đã nỗ lực xây nhiều địa ốc kiên cố chuẩn bị cho Bộ Tổng tham mưu (Quân đội Sài Gòn) và các đơn vị khi cần có thể rút về giữ tuyến cuối cùng… Từ ngày 24 đến 30-4-1975, Quân Giải phóng đã chia cắt và chiếm nhiều đoạn dài trên lộ 4 (tức Quốc lộ 1A hiện nay). Tỉnh trưởng Long An nhiều lần gọi điện xin dùng thuốc nổ phá hủy hai cầu Tân An và Bến Lức nhằm cắt đứt bước tiến của Quân Giải phóng, nhưng Nguyễn Khoa Nam nhất quyết không đồng ý vì dự phòng phương án cho chính quyền Sài Gòn và Bộ Tổng tham mưu lui về Cần Thơ bằng đường bộ (!)… Sáng 30-4-1975, một số binh sĩ bỏ ngũ. Tại thị xã cảnh náo loạn đã xảy ra, kế hoạch tử thủ ở Cần Thơ của Nguyễn Khoa Nam cũng không thuận lòng dân địa phương…”.

Trưởng thành từ lính dù (một trong những lực lượng “con cưng” khét tiếng gian ác của quân đội Sài Gòn) từ đại đội trưởng đến lữ đoàn trưởng lữ đoàn nhảy dù, lại làm tay sai cho hết chủ Pháp rồi chủ Mỹ, bàn tay của Nguyễn Khoa Nam từng vấy máu đồng bào ta từ Quảng Ngãi, Kon Tum, Sài Gòn-Chợ Lớn… đến Tiền Giang, Cần Thơ. Thế mà, theo lời kể của Lê Văn Danh (trung úy, trợ lý của Nam), Nam lại là “tín đồ” của đạo Phật: “Tầng dưới sở chỉ huy nơi ông làm việc, khi bước vào cửa: bên trái là phòng thuyết trình cũng là nơi làm việc của tùy viên. Bên phải là phòng thờ Phật. Bàn thờ Phật đặt giữa bức tường phía sau, trên bàn thờ Phật có tượng Phật Thích Ca, phía bên phải bàn thờ Phật có một cái chuông nhỏ, giữa là lư hương được cắm nhang điện, bên trái là đĩa trái cây và hai cây đèn cầy bằng điện ở hai bên bàn thờ. Bên phải phòng thờ Phật là phòng ăn của ông, phòng rất dài, trên 10 thước, đặt một bàn ăn dài, trải vải trắng, tấm vải trắng này đã đắp cho ông sau khi chết… Buổi sáng trước 7 giờ, trước khi đi làm ông đến bàn thờ đốt nhang xá Phật, cắm hương vào lư nhang và gõ vài tiếng chuông, tối về trước khi đi ngủ ông đến bàn Phật đốt nhang như buổi sáng…”.

Phải chăng ghê sợ với chính tội ác của mình mà những ngày cuối cùng của cuộc đời, Nguyễn Khoa Nam đã tìm đến cửa Phật để cầu mong được xá tội?

Trong khi 5 cánh Quân Giải phóng đang như 5 dòng thác tiến về Sài Gòn, nhiều viên tướng của quân đội Sài Gòn đã theo Nguyễn Văn Thiệu chuồn ra nước ngoài, số đông còn lại không thể tháo chạy theo cầu hàng không nên đành ở lại mặt đất để mấy hôm sau chấp hành cải huấn. Thời gian đầu họ sống trong nơm nớp, đến hết thời gian cải huấn họ đã được sống tự do cùng gia đình. Bấy giờ, chính họ tự thốt lên rằng chỉ có “cuộc tắm máu” xảy ra trong hoang tưởng của họ mà thôi.

Riêng Nguyễn Khoa Nam dường như luôn lẻ loi với đời thường hay bị tiêm nhiễm luận điệu tuyên truyền từ bộ máy chiến tranh tâm lý của Mỹ-Thiệu, hoặc lo sợ trước tội ác của mình từng gây cho đồng bào nên đã chọn cái chết. Danh chứng kiến ngày cuối cùng của “chủ tướng” mình: “…Từ ngoài nhìn vô bàn Phật, ông ngồi trên ghế sô-pha phía bên phải, đôi mắt đăm chiêu nhìn lên bàn thờ. Anh Việt (tùy viên thứ hai của ông) bước ra cửa để về thăm vợ con, còn trung sĩ Hộ đang thập thò trước cửa. Ông đứng dậy đến bàn thờ lấy 3 cây nhang đốt, vái ba vái cắm vào lư hương, gõ 3 tiếng chuông… xong vái 3 vái tiếp rồi về ngồi lại nơi cũ, hai tay để trên thành gỗ sô-pha như không có chuyện gì sắp xảy ra, bất chợt ông xoay qua bảo:

– Danh ra ngoài bảo Việt dẫn vợ con đi đi.

– Dạ.

Tôi thầm nghĩ ông và tôi đều độc thân, chắc ông nghĩ cách khác. Tôi đẩy nhẹ cánh cửa bước ra sân hướng về phòng trung úy Việt. Vừa đi khỏi một chút, tôi nghe tiếng súng nổ từ hướng bàn thờ Phật. Tôi chưa kịp quay trở lại thì trung sĩ Hộ chạy ra la thất thanh:

– Ðại úy! Ðại úy ơi! Thiếu tướng tự sát rồi (trong lúc hoảng sợ trung sĩ Hộ đã gọi nhầm Danh là “đại úy” – GH)

Tôi vội chạy vào phòng hãi hùng chứng kiến: Ông ngã ngửa hơi lệch về phía sau sô-pha, đầu nghiêng về bên trái, khẩu Côn 45 vẫn còn trong tay buông thõng xuống, nhưng các ngón tay cầm súng đã nới lỏng, đầu đạn xuyên từ tai phải qua trái, mắt ngước nhìn lên trần nhà… Lúc đó là khoảng 7 giờ 30 phút sáng ngày 1-5-1975… (Về thời điểm Nguyễn Khoa Nam tự sát, có tài liệu ghi xảy ra đêm 30-4 rạng sáng 1-5-1975 – GH).

Giao Hưởng
qdnd.vn

(Tài liệu tham khảo: Hồi ký của Lê Ngọc Danh, Lê Văn Hưng đăng trên báo chí nước ngoài)

En-mô Dum-uôn và “hồi chuông màu da cam”

LTS: En-mô Dum-uôn (Elmo Zumwalt, 1920 – 2000) là đô đốc Hải quân Hoa Kỳ từng tham gia chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tên tuổi và gia đình ông ta cũng được người Mỹ coi là một trong những bi kịch lớn nhất của thời hậu chiến tranh Việt Nam.

Xanh, nâu và da cam

Trong chiến tranh Việt Nam, lực lượng dưới quyền Dum-uôn không phải là “Hải quân nước xanh” như Hạm đội 7 của Đô đốc Sác-pơ (Sarp), mà là “Hải quân nước nâu”, có nhiệm vụ tuần phòng bờ biển, bến cảng và sông ngòi ở Nam Việt Nam. Dưới quyền Chuẩn đô đốc Dum-uôn lúc đó có hơn 38 nghìn lính thủy Mỹ. Trong số các thuyền trưởng tàu cao tốc có con trai ông ta, Rút-xen Dum-uôn III (Russell Zumwalt III) và Giôn Ke-ri (John Kerry), sau này là thượng nghị sĩ Hoa Kỳ.

Quân Giải phóng nấp trong các rừng rậm ven biển và ven sông đã gây khó khăn cho các Thủy quân Mỹ và “Việt Nam cộng hòa” bằng các trận phục kích bất ngờ. Oa-sinh-tơn khi đó đã đề xuất Hải quân Mỹ sử dụng một loại thuốc diệt cỏ, gọi là Chất da cam (Agent Orange/dioxin), nếu được rải lên tán cây, có thể làm trụi những lùm cây, bụi rậm từng được đối phương sử dụng rất hiệu quả cho cách đánh của họ. Cho dù tác động của nó lên con người chưa được thẩm định, các công ty Mỹ sản xuất Chất da cam là Đao (Dow) và  Mon-san-tô (Monsanto) mong muốn giành được lợi nhuận kếch xù đã cam đoan rằng, chất này là an toàn cho người sử dụng???

Các nguồn của Hoa Kỳ cho rằng, Đô đốc Dum-uôn đã chấp nhận sử dụng Chất da cam không chỉ để bảo vệ con trai mình mà còn vì những người lính khác của anh ta khỏi một hiểm họa trực diện và rõ ràng. Nhưng trên thực tế, ông ta đã đưa họ vào thế bị phơi nhiễm bởi thứ hóa chất gây ung thư đó. Sử dụng Chất da cam trên chiến trường, ông ta đã dựa trên các nguồn tin có phần áp đặt và thiếu tin cậy. Bản thân cựu đô đốc Dum-uôn đã tự bào chữa với hãng Thông tấn The Associated Press năm 1985 rằng, ông đã lệnh cho sử dụng Chất da cam với kỳ vọng làm giảm thương vong cho quân đội Mỹ nhờ phát quang các quần thể thực vật, vốn là nơi ẩn nấp và hoạt động của đối phương[1].

Trên thực tế, đô đốc Dum-uôn hẳn đã bị dẫn dắt vào một “đoạn trường” đã bày sẵn. Theo sách “Tổng thống Ken-nơ-đi – giai đoạn cầm quyền” (President Kennedy, Profile of Power) tác giả Ri-sớc Ri-vơ (Richard Reeves, NXB Simon and Schuster, 1989), từ đầu thập niên 1960, Nhà Trắng đã bí mật phê chuẩn sử dụng Chất da cam để phát quang cây cỏ trên những lộ trình hoạt động của “VC”.

Cuối 1961, các tàu đại dương đã chuyên chở hàng trăm nghìn ga-lông Chất da cam trong những thùng phuy gửi cho tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Chúng được dán nhãn là “hàng phục vụ nông nghiệp” để tránh sự kiểm tra của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế… Trong 10 năm, đã có tới 20 triệu ga-lông (80 triệu lít) chất diệt cỏ và chất làm trụi lá được rải xuống Việt Nam, miền đông Lào, và một số nơi ở Cam-pu-chia. Nó chỉ được đình chỉ sử dụng năm 1971 dưới sức ép của dư luận tiến bộ quốc tế.

Lính Mỹ chiết rót chất da cam tại miền Nam Việt Nam.

Thăng – trầm

Trở thành Tổng chỉ huy Hải quân Mỹ tháng 7-1970, Dum-uôn là tướng Mỹ trẻ nhất từng giữ chức vụ này. Ông ta lập tức nổi tiếng vì “chương trình Z” (Z – Grams; Z là chữ đầu của danh tính Zumwalt), làm cho binh nghiệp trong Hải quân Mỹ trở thành hấp dẫn, sau khi ông ta nới lỏng những quy định của quân chủng này, từng làm cho các tân binh cho rằng, chúng “hạ thấp nhân phẩm và vô nghĩa”. Chẳng hạn, một trong 121 chỉ lệnh của “chương trình Z” đã khẳng định rằng, người da màu và phụ nữ được phục vụ trong hải quân Mỹ và được bình quyền với các đối tượng khác.

Tuy nhiên, theo tờ Thời báo Niu Y-oóc ra ngày 3-1-2000, nhiều nhân vật, kể cả các đô đốc hồi hưu đã cáo buộc khá quyết liệt rằng “chương trình Z” kiến tạo một không khí dễ dãi, buông lỏng kỷ luật nhà binh. Theo báo  Pít-xbớc (Pittsburgh Post – Gazette) 14-4-1996, “chương trình Z” không được lòng chính quyền Ních-xơn. Năm 1974, Dum-uôn nhận quyết định hưu ở tuổi 53.

Bản thân đô đốc hồi hưu Dum-uôn sẽ còn đụng độ với Ních-xơn và Kít-xinh-giơ khi đấu tranh cho quyền lợi của cựu chiến binh Mỹ[2].

Hậu Việt Nam

Sau 32 năm phục vụ trong hải quân, năm 1976, Dum-uôn đã lao vào một cuộc chạy đua bất thành vào Nghị viện Mỹ. Hiện chưa rõ thất bại nghị trường này là do ông ta ra lệnh cho sử dụng chất độc màu da cam hay do đã để xảy ra các vụ đụng độ chủng tộc trên các tàu chở máy bay Kít-ti Hốc (Kitty Hawk) và Công-xten-lê-sơn (Constellation) năm 1972, trong một thời gian đầy nhạy cảm trên chính trường Mỹ.

Con trưởng của đô đốc Dum-uôn, Rút-xen Dum-uôn III mất năm 1988, hưởng dương 42 năm. Anh ta từng thuộc trong danh sách gần 40 ngàn cựu chiến binh Mỹ là nạn nhân của chất độc màu da cam cho đến 1993, theo sách Phong trào đòi quyền được công nhận phế binh: từ bố thí đến đối đầu (The disability rights movement: from charity to confrontation), tác giả Đô-rít Phlét-sơ (Doris Fleischer), NXB Temple University Press, 2000, tr.178). Cháu nội đô đốc Dum-uôn, con trai Dum-uôn III, bị dị tật bẩm sinh do ảnh hưởng chất độc da cam, không thể cắp sách đến trường. Tờ Associated Press ngày 14-8-1988 cho hay, cựu Trung úy Rút-xen Dum-uôn III trước khi từ trần đã khẳng định rằng: tất cả các hội chứng loạn thần kinh, ung thư, bệnh da liễu… mà các cựu chiến binh Mỹ từng ở Việt Nam mắc phải, cũng như các bệnh bẩm sinh hiểm nghèo mà con cái họ phải chịu, là do nhiễm chất độc da cam.

Rút-xen Dum-uôn III là đồng tác giả “Cha con tôi”, cuốn tiểu sử của cha anh và chính mình, đã chấp bút nó dưới những ám ảnh và hành hạ của thần chết “áo màu da cam”. Cuốn sách thực ra là một tiểu sử tổng hợp, khi các thành viên của đại gia đình Dum-uôn bàn luận về bi kịch gia đình họ, bởi Chất da cam mà Trung úy Rút-xen Dum-uôn III đã nhiễm phải khi tham chiến ở Việt Nam.

La-ri Bớc-man (Larry Berman), người nổi tiếng vì những cuốn sách về chiến tranh Việt Nam, đang viết cuốn sách: “Z lớn: Cuộc đời và thăng trầm của đô đốc Elmo Russell Zumwalt, Jr” . Tác giả Bớc-man cho rằng, một cột mốc lớn là chuyến đi Việt Nam năm 1995 của Đô đốc Dum-uôn, với cuộc gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp để bắt đầu những nỗ lực đầu tiên nhằm giải quyết vấn đề chất độc da cam bằng những phối hợp trong lĩnh vực y tế.

Hồi chuông màu da cam

Nhiều tiếng nổ của “bom hẹn giờ” mà nghị sĩ Mỹ Neo-xơn từng cảnh báo đã biến thành cuộc tranh đấu quyết liệt cho quyền lợi của nạn nhân chiến tranh của cả hai bên cuộc chiến. Đô đốc Dum-uôn và các con là cựu chiến binh Mỹ của ông đã và đang đi đầu trong sự nghiệp này. Con trai thứ hai của Dum-uôn, cựu chiến binh Giêm Dum-uôn (James Zumwalt) đã sang Việt Nam tới 50 lần trong 10 năm kể từ 1994, viết nên cuốn sách “Chân trần, trí thép: chuyện những người bên kia chiến tuyến ở Việt Nam” (Bare Feet, Iron Will ~ Stories from the Other Side of Vietnam’s Battlefields, NXB Fortis Publishing, 2010) về những người cách mạng Việt Nam, được dư luận tiến bộ đánh giá cao.

“Hậu quả việc Mỹ không thể thắng đã rõ ràng” là câu mở đầu những dòng cuối của chương “Trở về” của cuốn hồi ký toàn gia “Cha con tôi”, khi Đô đốc Dum-uôn khẳng định Việt Nam sẽ còn là tiêu điểm của cuộc tranh luận của nước Mỹ. Ông viết tiếp: “Với cá nhân tôi, sự thất bại của chúng ta ở Việt Nam đã làm cho tôi tràn ngập niềm đau xót, mất mát, về những cái chết, những thương tích, cả về thể xác và tâm hồn. Sự hy sinh của họ trở nên đau đớn và khó chấp nhận hơn, vì nước Mỹ đã thua một cuộc chiến tranh. Vô cùng bối rối, tôi đã suy nghĩ, đã tự chỉ trích nhiều lần. Tôi đã từng cho rằng, những lính thủy Mỹ tử trận trên sông nước sẽ được đền bù bằng việc có một số lượng lớn hơn sinh mạng lính Mỹ được an toàn, sẽ thúc đẩy được cuộc bình định châu thổ. Nhưng cuối cùng, các nỗ lực đã có tổng bằng không, các lính thủy đã hy sinh vô ích. Phân tích đến cùng, tôi cho rằng mọi cố gắng của chúng ta ở Việt Nam là tồi tệ. Giá như chúng ta đừng can thiệp vào Việt Nam thì tình hình sẽ tốt hơn nhiều. Những điều đã xảy ra với con trai tôi và cháu nội tôi, như là hậu quả của cuộc chiến tranh này, còn làm tôi đau lòng hơn bội phần…”.

Lê Đỗ Huy (tổng hợp)
qdnd.vn

Tình bạn giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh

“Đại Công báo”, một tờ báo Trung Quốc có hơn một trăm năm lịch sử, là một trong ba tờ báo Hoa văn có uy tín trên thế giới do Liên hợp quốc bình chọn, số ra ngày 6-4-2011 đã đăng bài “Vài mẩu chuyện về tình bạn giữa Hồ Chí Minh với Chu Ân Lai” của tác giả Lý Gia Trung, nguyên Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam từ tháng 12-1995 đến tháng 7-2000. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc tham khảo.

Hai vị vĩ nhân xưng hô với nhau là anh em

Tháng 11-1956, Thủ tướng Chu Ân Lai sang thăm Việt Nam. Trong lời chào mừng các vị khách quý dự tiệc chiêu đãi cấp nhà nước, với tư cách là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không đọc bài viết sẵn, mà nói vo một đoạn: “Với tôi, đồng chí Chu Ân Lai là người anh em của tôi. Chúng tôi đã từng cùng nhau đồng cam cộng khổ, cùng nhau làm công tác cách mạng. Anh ấy là người bạn chiến đấu thân mật của tôi trên ba mươi năm qua!”

Tiếp lời, Thủ tướng Chu Ân Lai cũng nói: “Hồ Chủ tịch vừa nhắc đến cá nhân tôi trên ba mươi năm trước đã quen thân anh, đúng thế! Ba mươi tư năm trước, tại Pa-ri, tôi đã quen thân Hồ Chủ tịch. Anh là người dẫn đường của tôi. Khi ấy, anh đã là một người Mác-xít thành thục, mà tôi khi ấy mới vừa tham gia Đảng Cộng sản. Anh ấy là lão đại ca của tôi!”

Lúc ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại đứng lên nói với mọi người có mặt: “Câu nói vừa rồi của đồng chí Chu Ân Lai, các đồng chí nghe biết là được rồi, không nên nói lại với những người khác. Mọi người đều biết, đồng chí Chu Ân Lai là nhà lãnh đạo của một Đảng lớn và một nước lớn dân số nhiều nhất trên thế giới!”.

Vì thế, báo chí Việt Nam không đưa tin viết bài kỹ câu chuyện này. Mãi cho đến ngày 14-5-1960, Nhân Dân nhật báo Trung Quốc mới tiết lộ tình tiết này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Chu Ân Lai.

Từ năm 1965 về sau, tình hình sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh không được tốt. Thủ tướng Chu Ân Lai rất quan tâm đến bệnh tình của Người, trực tiếp lựa chọn những chuyên gia y tế có trình độ cao nhất Trung Quốc thành lập Tổ điều trị, đến Hà Nội chữa bệnh cho Hồ Chủ tịch.

Tháng 5-1969, bệnh tình của Hồ Chủ tịch tương đối ổn định, phía Việt Nam bèn đề nghị các chuyên gia của Tổ điều trị Trung Quốc về nước nghỉ ngơi củng cố một chút, một tháng sau thì trở lại. Trước khi lên đường, các chuyên gia hỏi Hồ Chủ tịch yêu cầu từ Bắc Kinh mang về những gì. Hồ Chủ tịch nói luôn: “Cái gì cũng không cần, chỉ mang về một con vịt quay Bắc Kinh là được rồi!”.

Sau khi về nước, trong khi nghe báo cáo tình hình, Thủ tướng Chu Ân Lai biết Hồ Chủ tịch thích ăn vịt quay, nói ngay: “Một con không được! Phải mang hai con, đồng thời phải là vịt to, sườn mỏng và tưới ma-gi thơm ngọt và đầy đủ gia vị”. Thủ tướng Chu Ân Lai còn suy nghĩ, nhắc nhở: Việt Nam đang mùa hè, Hồ Chủ tịch lại là người cao tuổi, cơ thể yếu, nên giải quyết đông lạnh bảo quản thực phẩm tươi ngon là vấn đề quan trọng hàng đầu.

Thủ tướng Chu Ân Lai gửi vịt quay tặng Hồ Chủ tịch

Vì chuyện này, Thủ tướng Chu Ân Lai mời đồng chí Lý Cường, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương đến bàn bạc, song đồng chí Lý Cường cũng không am hiểu những tri thức về mặt đông lạnh. Cuối cùng, thông qua Công ty Xuất nhập khẩu Lương thực thực phẩm, một đơn vị trực thuộc Bộ Ngoại thương, tìm đến Nhà máy Rượu Bắc Kinh, ở đây sản xuất được một loại băng khô có thể làm lạnh, sau khi đưa vịt quay và các gia vị vào thùng lót xốp, chung quanh rắc băng khô lên, có thể khống chế nhiệt độ ở độ âm, bảo đảm chắc chắn vịt quay không thể biến chất. Đến khi ấy, Thủ tướng Chu Ân Lai mới yên tâm.

Hạ tuần tháng 6, chuyên gia trong Tổ điều trị trở lại Hà Nội.

Tháng 5-1960, Thủ tướng Chu Ân Lai thăm Việt Nam. Hồ Chủ tịch và Chu Thủ tướng vui với các cháu thiếu nhi Việt Nam. Ảnh do Vũ Phong Tạo cung cấp.

Hồ Chủ tịch quyết định đem một con vịt quay tặng Tổ điều trị, còn một con nữa, Người yêu cầu cùng thưởng thức với Đại sứ Trung Quốc Vương Ấu Bình.

Ngày 30-6, Phủ Chủ tịch Việt Nam gọi điện thoại đến Đại sứ quán Trung Quốc, thông báo: Ngày mai là Kỷ niệm 48 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, Hồ Chủ tịch quyết định mời cơm Đại sứ Vương Ấu Bình tại Phủ Chủ tịch, vào 12 giờ trưa.

Ngày hôm sau, tôi là phiên dịch tháp tùng Đại sứ Vương Ấu Bình đúng giờ đến Phủ Chủ tịch. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký của Hồ Chủ tịch dẫn chúng tôi vào phòng ăn. Trước khi Hồ Chủ tịch đi vào phòng ăn, đồng chí Vũ Kỳ kể với chúng tôi câu chuyện: Sau khi nghe Tổ điều trị phản ánh, Thủ tướng Chu Ân Lai đã gửi vịt quay sang.

Sau 30 năm, năm 1999, tôi đã gặp đồng chí Vũ Kỳ, năm ấy đã 78 tuổi. Khi nhắc đến chuyện Thủ tướng Chu Ân Lai gửi vịt quay tặng Hồ Chủ tịch, đồng chí ấy vô cùng xúc động. Đồng chí nói với tôi: Đến nay đồng chí ấy vẫn giữ gìn cẩn thận chiếc lọ sứ đựng ma-gi ngọt hồi ấy, coi như một hiện vật văn hóa quý báu có ý nghĩa lịch sử.

Thủ tướng Chu Ân Lai trực tiếp đến Hà Nội viếng Hồ Chủ tịch

Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, hưởng thọ 79 tuổi.

Sau khi nghe tin, Thủ tướng Chu Ân Lai vô cùng đau thương.

Ngoài việc gửi điện chia buồn đến Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Trung Quốc cử Phó thủ tướng Lý Tiên Niệm dẫn đầu Đoàn Đại biểu Đảng và Chính phủ Trung Quốc sang dự Lễ tang Hồ Chủ tịch, tổ chức vào ngày 9 tháng 9.

Thủ tướng Chu Ân Lai còn quyết định trước đó vào ngày 4-9, ông và Diệp Kiếm Anh, Vi Quốc Thanh cùng đến Hà Nội, viếng Hồ Chủ tịch.

Các nhà lãnh đạo cao cấp: Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Phó thủ tướng Võ Nguyên Giáp… trực tiếp ra tận sân bay đón tiếp. Thủ tướng Chu Ân Lai rơm rớm nước mắt, nói: “Tôi đến muộn rồi!”.

Trong khi hội đàm với những nhà lãnh đạo Việt Nam, Thủ tướng Chu Ân Lai đều nói rõ các thành viên của Đoàn đại biểu đều là những đồng chí quan hệ mật thiết với Hồ Chủ tịch. Bản thân đồng chí thay mặt cho Mao Chủ tịch đến. Trong thời kỳ chiến tranh kháng Nhật, Diệp Kiếm Anh đã từng cùng Hồ Chủ tịch công tác tại Văn phòng Bát Lộ Quân tại Trùng Khánh. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Vi Quốc Thanh làm Đoàn trưởng Đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc sang Việt Nam công tác.

Thủ tướng Chu Ân Lai nói:

“Hồ Chủ tịch suốt đời phấn đấu, chẳng những lập công bất hủ vì nhân dân Việt Nam, mà còn có cống hiến rất lớn vì giai cấp vô sản quốc tế. Hồ Chủ tịch có quan hệ đặc biệt mật thiết đối với cách mạng Trung Quốc, với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đồng chí mấy lần đến Trung Quốc, tham gia cách mạng Trung Quốc, cùng chung hoạn nạn, kề vai sát cánh chiến đấu với nhân dân Trung Quốc, dày công vun đắp tình cảm sâu đậm với nhân dân Trung Quốc, với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Phẩm chất cộng sản của Hồ Chủ tịch, sự quan tâm đến nhân dân lao động, ý chí cách mạng, tinh thần đấu tranh triệt để với kẻ thù, tác phong công tác gian khổ chất phác của Chủ tịch, trước sau như một, xứng đáng được mọi Đảng viên cộng sản học tập.”

Thủ tướng Chu Ân Lai nhiều lần nói: “Tôi đến muộn rồi, không thể gặp mặt lần cuối cùng với Hồ Chủ tịch!”.

Khi ấy, thi hài của Hồ Chủ tịch đã được giao cho chuyên gia Liên Xô để tiến hành xử lý y học, không cho người không có phận sự tiếp xúc, nên đáng lẽ Đoàn không thể đến với Người.

Nhưng, vì tình hữu nghị chiến đấu sâu đậm của Thủ tướng Chu Ân Lai với Hồ Chủ tịch, trước khi Đoàn đại biểu lên đường về nước, phía Việt Nam đã phá lệ, bố trí cho Thủ tướng Chu Ân Lai và các đại biểu trong Đoàn đến bái biệt Hồ Chủ tịch.

Lý Gia Trung – (Vũ Phong Tạo dịch)
qdnd.vn

Cùng hướng về mặt trời chính nghĩa

QĐND – LTS: Tháng 10-2003, NXB Si-mơn & Sút-xtơ (Simon & Schuster) xuất bản cuốn sách “Họ tiến về hướng mặt trời: Chiến tranh và hòa bình, Việt Nam và Mỹ, tháng Mười 1967”. Tác giả Đê-vít Ma-ra-nít (David Maraniss) đã song hành hai mặt trận khác nhau của cuộc chiến tranh ở Việt Nam: Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam và cuộc đấu tranh của các chiến sĩ hòa bình Mỹ. Trên chuyên mục điểm sách của Thời báo Niu-Yoóc, tác giả Phi-líp Ca-pu-tô (Philip Caputo) phê bình cuốn sách trên. SK & NC xin trích giới thiệu một bài bình văn tiêu biểu trong văn học Mỹ.

Trước khi đọc cuốn sách này, tôi đồ rằng mọi thứ nhân gian cảm nhận được về thời cuộc chiến tranh Việt Nam với thập kỷ 60 đã viết hết rồi: Nào là văn học hư cấu (fiction) nào là chuyện người thật việc thật (nonfiction), cả bằng văn hóa cao, lẫn văn hóa “lùn”, cả bằng thể phim truyện, cả bằng những phóng sự truyền hình.

Những “con sư tử đen” sa bẫy tại rừng Long Nguyên.

Tôi đã khá lưỡng lự khi mở cuốn Họ tiến về hướng mặt trời: Chiến tranh và hòa bình, Việt Nam và Mỹ, tháng Mười 1967. Lại một cuốn nữa, to như đá chặn cửa, về cuộc chiến tranh Việt Nam và những năm 60, tôi nghĩ. Nhưng mới đọc được ba trang thì tôi đã bị hút vào cho đến trang cuối…

Ma-ra-nít, một ký giả của Báo Bưu điện Oa-sinh-tơn (Washington) được giải Pu-lít-dơ (Pulitzer), cũng là tác giả của tiểu sử Bin Clin-tơn (Bill Clinton) và Vin-xơ Lom-bác-đi (Vince Lombardi-huấn luyện viên nổi tiếng), là một nhà văn bậc thầy về thức trần thuật. Trong “Họ tiến về hướng mặt trời”, Ma-ra-nít đã đặt song song các sự kiện của một trận đánh nhỏ nhưng ác liệt ghê gớm ở Việt Nam, với một cuộc tuần hành chống chiến tranh ở Đại học Uýt-con-xin (Wisconsin), trong hai ngày tháng 10-1967. Quả là một sự trùng hợp mà tác giả hẳn đã cảm thấy bị hút vào, không sao cưỡng lại.

Cuốn sách chứa một khối lớn, theo phong cách Tôn-xtôi (Tolstoi), các tuyến nhân vật, từ viên cai Uyn-li Giôn-xơn (Willie Johnson) tới Tổng thống Lyn-đơn Giôn-xơn (Lyndon Johnson), từ anh du kích Việt Cộng Nguyễn Văn Lam cho tới Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp; từ Bin-ly Si-mơn (Billy Simons), người lãnh đạo sinh viên phản chiến, đến Uy-li-am Si-oen (William Sewell), Hiệu trưởng Đại học Wisconsin. Còn lại là các doanh nhân, giáo sư, một dàn diễn viên mang tên Nhóm Kịch câm Xan-Phran-xi-xcô (San Francisco), các đảng viên Cấp tiến cánh tả Mới, và hai nghiên cứu sinh là Đích (Dick) và Lin-nơ Sơ-ni (Lynne Cheney).

Ma-ra-nít quả có bị thử thách khi cố làm cho toàn tuyến nhân vật hùng hậu ấy trở nên sinh động. Nhưng các nhân vật chính quả là sống động, tạo cho “Họ tiến về hướng mặt trời” một chất lượng kiểu mẫu cho tiểu thuyết. Đồng thời, tính sử thi của cuốn sách có lúc vượt quá tầm. Những cuộc du ngoạn trong các “cung điện” quyền lực ở Washington đã làm chậm, một cách không cần thiết, dòng chảy của sách, và làm tôi giật mình vì thấy chúng giống như nỗ lực xào xáo lại, một cách súc tích, cuốn sách “Những người tài hoa và cừ khôi nhất trần đời” (The Best and the Brightest)(1) của Đa-vít Han-bớc-xtam (David Halberstam)…

Ma-ra-nít đã phục chế lại những đường nét nguyên bản của bức tranh chiến tranh Việt Nam bằng cách rọi ánh sáng mới lên một sự thật bị quên lãng. “Phát ngôn ý thức hệ” (Ideological formulations) không phải là điều làm tác giả quan tâm, mà chính là “sự giao lưu giữa lịch sử và cuộc đời của các nhân vật, các biến cố, các tình tiết và các dự định, vừa thúc người ta lao lên phía trước, lại vừa níu họ, bắt cùng chôn chân tại chỗ”.

Chương chiến tranh của sách mở đầu bằng một tấm hình gây cảm tưởng như những bức ảnh được truyền đi bằng điện báo thời Thế chiến II, thể hiện hành trình của một con tàu chở hàng nghìn lính vượt Thái Bình Dương sang Việt Nam. Sau khi đoàn lính này đáp cảng Vũng Tàu, người đọc sẽ dõi theo những hành động chiến tranh của nó. Đó là một tiểu đoàn có cái tên đã di vào truyền thuyết là “Sư tử đen”, một phần của cái Sư đoàn bộ binh 1 đã được thần thánh hóa thành Anh Cả Đỏ.

Tiểu đoàn được chỉ huy bởi Trung tá Te-ri đơ la Mê-sa An-len Jr. (Terry de la Mesa Allen Jr.), sinh trưởng ở El Paso, Tếch-xát (Texas), trong một gia đình đã là thần tượng nhà binh: Thiếu tướng Terry Allen Sr. từng chỉ huy Sư đoàn 1 trong suốt những trận đánh ác liệt nhất của thế chiến II. Allen Jr. đã bày tỏ sẽ tiếp nối những bước đi hoành tráng của người cha. Nhưng vợ của Allen Jr. đã bỏ viên quan tư này để theo một võ sĩ đấu bò, khiến anh ta bị giày vò bởi những nghi ngờ về cuộc chiến tranh ở Việt Nam và binh nghiệp của mình.

Tác giả chuyển cảnh, sang Sở chỉ huy của đối phương, để người đọc gặp Võ Minh Triết, chỉ huy một đơn vị thuộc một luồng sự kiện khác của sách: Trung đoàn 1, Sư đoàn 9 của Việt Cộng. Trung đoàn với 1.500 quân của ông Triết đang trú quân tạm thời tại một cánh rừng dữ dội, mang một cái tên dữ dội là ‘mật khu Long Nguyên”, nằm ở phía tây bắc Sài Gòn.

Chịu sức ép của thượng cấp trong cuộc chạy đua số lớn về đếm xác đối phương, Allen dẫn những con “sư tử đen” vào địa ngục. Một tiểu đoàn (Mỹ) thường có khoảng 800 quân, nhưng chiến trận, bệnh tật và các vấn đề cá nhân đã giảm quân số của tiểu đoàn “Sư tử đen” xuống chỉ còn một nửa. Một nửa của cái nửa ấy: Hai đại đội thiếu, cộng với đại đội trực thuộc sở chỉ huy đã kiệt sức, đã dấn vào cuộc hành quân “tìm diệt” cùng với Allen.

Lính của ông Triết, đông hơn nhiều, đang phục sẵn. Điều trớ trêu là, vẫn theo Tôn-xtôi, những trận đánh nhiều khi không thành hay bại bởi sự sáng suốt hay đần độn của người chỉ huy, mà bởi những sự tình cờ. Trung đoàn của Võ Minh Triết không được giao nhiệm vụ mai phục ở đấy, mà được lệnh hành quân đi Lộc Ninh. Nửa đường hết lương thực, đơn vị này đành tạm trú ở mật khu Long Nguyên để tìm gạo. Để hoàn thành nhiệm vụ tiến quân về Lộc Ninh, ông Triết phải chỉ huy bộ đội quét sạch lính Mỹ cản đường mình, điều mà ông đã thực thi với một cung cách kiểu mẫu, như trong tài liệu giáo khoa.

Cảnh sát đàn áp những người biểu tình chống chiến tranh. Madison, tháng 10-1967.

Sách của Ma-ra-nít đã diễn tả một cuộc chiến tranh của lục quân thực sự: Những tiếng nổ khủng khiếp, sự rối loạn, hỗn độn, các xác chết, những người hấp hối và những mảnh cơ thể vương vãi khắp nơi, máu tuôn trào khiến cho súng bị kẹt. 58 người trong số 200 quân của “Sư tử đen”, kể cả Allen, bị thiệt mạng. 61 lính Mỹ khác bị thương.

Tiểu đoàn “Sư tử đen” đã không còn tồn tại như một đơn vị còn sức chiến đấu, nhưng Ma-ra-nít đã đi xa hơn khi chỉ ra rằng bộ tuyên truyền của quân đội Mỹ đã cố nhào nặn các sự kiện để biến một thảm kịch thành một bài ca chiến thắng. Những lời nói dối khủng khiếp ấy đã tương phản cả với ký ức về trận đánh của những người lính còn sống sót của tiểu đoàn, được họ kể lại sau khi hồi phục ở quân y viện, lẫn những trải nghiệm đã đến với thân nhân của lính Mỹ tử trận, khi nhìn thấy bộ dạng khiếp đảm của người bưu tá cầm giấy báo tử.

Chương nói về cuộc chiến của những người chống chiến tranh, mà kết tinh là thành phố sinh viên Madison, cũng rất lôi cuốn. Cuộc tuần hành được tổ chức để ngăn chặn việc Công ty Đao (Dow) sản xuất bom na-pan tới tuyển nhân sự ở Làng đại học Madison. Tựa như những “sư tử đen” của Allen sa bẫy trong rừng rậm Việt Nam, những người phản chiến, cảnh sát, và các quan chức của đại học Wisconsin đã dấn vào một cuộc đụng độ bạo lực. Nguyên nhân là sự tính toán nhầm và thiếu giao lưu giữa các bên của cuộc xung đột Madison.

Hướng đạo bởi một thiểu số kiên định là những thành viên hăng hái nhất của phong trào phản chiến, bị bức xúc bởi sự khiếm khuyết của các hành động phản kháng hợp luật, những người biểu tình đã chiếm tòa nhà nơi các nhân viên của Công ty Đao đang tiến hành phỏng vấn. Sau khi không thuyết phục nổi những người phản đối chiến tranh rời khỏi tòa nhà trong hòa bình, Hiệu trưởng trường đại học đã viện đến lực lượng cảnh sát của Madison, dẫn đến những hậu quả thảm khốc. Maraniss đã tránh không “đúc khuôn” các thành viên ban giám hiệu, các chỉ huy cảnh sát, và các thành viên cánh tả Mới đã lãnh đạo những người phản đối chiến tranh… Những người biểu tình được mô tả có phần tròn trịa, bị kích động bởi một hỗn hợp của chủ nghĩa vị tha, cảm tính, chủ nghĩa cá nhân, và niềm tin vào công lý.

Cuối cùng, các vấn đề được tranh cãi nóng bỏng và kịch liệt 40 năm trước vẫn vang dội đến hôm nay: về vai trò của Hoa Kỳ đối với thế giới, về những tham vọng đế quốc, về sự rồ dại của mô hình “súng và bơ”(2), và về những di sản gớm giếc về đạo đức của chiến tranh…

Lê Đỗ Huy (trích dịch)
qdnd.vn

 (1): Trong “Những người tài hoa và cừ khôi nhất trần đời”, tác giả David Halberstam lý giải vì sao những người có học thức và khá giả trong xã hội Mỹ (tầng lớp thượng lưu), cũng như những “bộ óc điện tử” trong chính giới và giới quân sự lại có thể sai lầm một cách đáng kinh ngạc trong một thời gian dài như thế (so incredibly wrong for so incredibly long) của thời kỳ chiến tranh Việt Nam.

(2): Tổng thống Johnson vừa muốn theo đuổi hành động chiến tranh ở Việt Nam, chạy đua vũ trang, làm chiến tranh Lạnh, lại vừa muốn thực hiện Những chương trình xã hội lớn (Great Society programs) nhằm “xóa đói giảm nghèo” (!)

Không gian lịch sử Việt Nam và khu vực khi Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước

QĐND – Thứ Hai, 16/05/2011, 16:53 (GMT+7)

QĐND – Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành 21 tuổi nhận làm phụ bếp với lương tháng 45 phơ-răng (tiền Pháp) trên tàu A-mi-ran La-tút-sơ Trê-vin (Amiral Latouche Tréville) thuộc hãng vận tải Hợp nhất, rời Bến Nhà Rồng, Sài Gòn “đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”(1). Một vấn đề đặt ra là: Tại sao Nguyễn Tất Thành không thể tìm được con đường cứu nước ngay trên quê hương mình hoặc thậm chí ở các nước trong khu vực quanh ta, mà phải sang tận trời Tây? Trả lời thỏa đáng câu hỏi đó không phải là dễ dàng.

Trước hết chúng ta xem xét những gì đã diễn ra trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX trên không gian hẹp là nước Việt Nam. Như chúng ta đều biết, sau khi dập tắt phong trào Cần Vương – cuộc vùng dậy cuối cùng theo ý thức hệ phong kiến nhằm khôi phục nền độc lập dân tộc, thực dân Pháp bắt tay khai thác thuộc địa nhằm bòn rút của cải nước ta làm giàu cho chính quốc. Cùng với việc nhập ngoại giống cây trồng mới, đặc biệt là cây công nghiệp dài ngày, nền nông nghiệp truyền thống của ta nhạt dần tính chất độc canh vốn có của nó, nhiều trung tâm công thương nghiệp và các loại hình giao thông vận tải hiện đại… xuất hiện. Xã hội truyền thống Việt Nam bắt đầu có sự chuyển biến, khởi đầu từ địa hạt kinh tế, sau lan sang các lĩnh vực khác. Dường như cùng một lúc với những chuyển biến bên trong, từ bên ngoài, luồng tư tưởng dân chủ tư sản, theo những con đường khác nhau, đã chảy vào Việt Nam. Từ Trung Quốc, Nhật Bản, Tân văn, Tân thư được truyền vào Việt Nam, tạo nên những ảnh hưởng tư tưởng to lớn. Sau cùng tư tưởng dân chủ tư sản đến từ nước Pháp, quê hương của cuộc cách mạng tư sản điển hình. Trong guồng máy thống trị không chỉ có những tên thực dân tàn bạo, mà còn có cả những người Pháp chân chính, yêu tự do, đó là đội ngũ những thầy giáo, cô giáo, những nhà khoa học Pháp. Tư tưởng dân chủ tư sản được họ gieo vào đầu óc đám học trò đang ngồi trên nghế nhà trường Pháp-Việt, những người đồng nghiệp Việt Nam cùng làm việc với họ trong các cơ quan nghiên cứu khoa học, các công sở.

Nhà Rồng – nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: Tuấn Tú

Bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, tại Pháp, hằng năm đều có tổ chức những Hội chợ thuộc địa để quảng bá vẻ đẹp quyến rũ, nguồn tài nguyên phong phú của các xứ thuộc địa nhằm thu hút vốn đầu tư của tư bản Pháp. Các gian hàng Việt Nam được giới thiệu ở các hội chợ đó. Nhân đó, nhiều người Việt có dịp sang Pháp làm việc như Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Văn Vĩnh… đồng thời các phái đoàn sang Pháp “khảo sát chính trị” cũng được tổ chức. Các đoàn này thường được tuyển chọn trong đám quan lại cấp tỉnh và học sinh Trường Hậu bổ. Tháng 2-1906, đoàn khảo sát chính trị của Bắc Kỳ gồm 10 người, trong đó có Tri phủ Hoài Đức là Trần Tán Bình, sang Pháp. Năm sau, một đoàn khảo sát chính trị khác gồm 17 người (10 người Bắc Kỳ, 7 người Trung Kỳ, đáp tàu Himalaia sang Pháp). Đến Pháp, họ được đưa đi thăm nhiều nơi, nhưng chủ yếu tập trung khảo sát hai lĩnh vực quan trọng là kinh tế và giáo dục. Trở về nước, họ trở thành những người tuyên truyền cho nền văn minh Pháp.

Trong khi tư tưởng dân chủ tư sản tràn vào Việt Nam nhằm chuẩn bị về tư tưởng cho sự chuyển đổi hệ ý thức thì trong xã hội chúng ta lúc đó chưa hội đủ những điều kiện cần thiết nhất cho phong trào cách mạng theo khuynh hướng tư tưởng mới. Lúc đó, xã hội Việt Nam chưa xuất hiện một giai cấp tư sản làm bệ đỡ cho nó và lớp trí thức tân học đang ngồi trên ghế nhà trường, do vậy, lớp nhà nho yêu nước, thức thời đứng ra lãnh trách nhiệm tiếp nhận tư tưởng mới, đưa nó vào cuộc sống và biến nó thành phong trào cách mạng sôi nổi trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX. Dẫu vậy, sự vận động tư tưởng ở Việt Nam bằng phong trào Duy Tân đã bắt đúng nhịp đi và hòa cùng trào lưu “châu Á thức tỉnh” thời đó.

Phong trào Duy Tân ở nước ta đầu thế kỷ trước được phân thành hai nhánh: Ám xã và Minh xã. Ám xã (tổ chức bí mật) do Phan Bội Châu lãnh đạo, chủ trương sử dụng bạo lực, còn Minh xã (tổ chức công khai) do Phan Châu Trinh lãnh đạo, chủ trương tự cường bằng những hoạt động kinh tế, văn hóa – giáo dục. Điều đặc biệt lý thú là phong trào Duy Tân đầu thế kỷ do hai nho sĩ nổi tiếng lãnh đạo đã có sự phối hợp, liên kết bên trong với bên ngoài, giữa các lĩnh vực và giữa các vùng miền của đất nước, tạo thành một phong trào cách mạng có quy mô toàn quốc. Nhưng rồi, phong trào đó cũng bị bọn thực dân và tay sai dập tắt. Năm 1909, sau một thời gian hòa hoãn dài, thực dân Pháp và tay sai huy động một lực lượng quân sự lớn tiến công vào Yên Thế. Khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo đang đi dần tới những năm tháng tồn tại cuối cùng.

Tiếp đến, trên không gian lịch sử rộng hơn – không gian lịch sử các nước trong khu vực, đặc biệt các nước cùng cảnh ngộ như nước ta.

Nước Trung Hoa rộng lớn, văn hiến lâu đời, bị các nước tư bản phương Tây xâu xé cũng đang tìm lối ra. Tư tưởng dân chủ tư sản từ nhiều ngả đường khác nhau được truyền vào Trung Quốc và được lớp nho sĩ tiến bộ như: Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Dương Thâm Tú… tiếp nhận, dấy lên phong trào Duy Tân, rồi được ông vua trẻ Quang Tự đồng tình tiến hành cuộc chính biến Mậu Tuất 1898. Cuộc chính biến diễn ra được một trăm ngày thì bị phái bảo thủ trong triều đình Mãn Thanh do Tây Thái hậu cầm đầu phản công và dập tắt. Ngày 21-9-1898, Tây Thái hậu truất ngôi và bỏ ngục Vua Quang Tự, truy nã Khang, Lương và kết án tử hình Đàm Tự Đồng và Dương Thâm Tú, giải tán các học đường, học hội… Phong trào Duy Tân cuối thế kỷ XIX thất bại. Những người đang sống sót chạy ra nước ngoài cư trú chính trị, tiếp tục viết trước tác truyền về đại lục, tiếp tục nhen nhóm ngọn lửa cho những cuộc vùng dậy tiếp theo. Cho đến tháng 6-1911, Trung Quốc vẫn chưa tìm thấy lối thoát mà phải đến tháng 10-1911, Trung Quốc đã tìm thấy hướng đi bằng cuộc cách mạng Tân Hợi do Tôn Dật Tiên lãnh đạo.

Trên đất nước Ấn Độ bị thực dân Anh đô hộ, những nhà ái quốc Ấn Độ cũng đang tìm hướng giải thoát cho dân tộc mình. Tháng 12-1885, Đảng Quốc dân Đại hội (Đảng Quốc Đại), đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản dân tộc Ấn Độ, được thành lập, chính thức bước lên vũ đài chính trị. Mặc dù, Đảng chủ trương đấu tranh ôn hòa nhưng có vị trí đáng kể trong cuộc đấu tranh chống thực dân Anh như đòi cải cách về giáo dục, xã hội và mở rộng sự tham gia của người Ấn trong các Hội đồng tự trị… Ngày 16-10-1905, ngày đạo luật chia cắt Bengan có hiệu lực, nhân dân Ấn Độ coi đây là ngày quốc tang, đã dấy lên phong trào chống Anh mạnh mẽ, đặc biệt ở Bombay và Cancúta. Cuộc đấu tranh đó đã buộc thực dân Anh phải thu hồi đạo luật chia cắt Bengan, nhưng sau đó cũng không phát triển được.

Ở khu vực Đông Nam Á, phong trào giải phóng dân tộc cũng đang diễn ra rộng khắp, sôi nổi, liên tục.

Ở In-đô-nê-xi-a, nơi bị thực dân Hà Lan đô hộ, nhiều tổ chức yêu nước của trí thức tư sản tiến bộ ra đời, thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Từ năm 1905, nhiều tổ chức công nhân được thành lập và bước đầu truyền bá chủ nghĩa Mác. Cũng trong năm đó, tổ chức nghiệp đoàn đầu tiên của công nhân xe lửa được thành lập, kích thích sự ra đời của các nghiệp đoàn khác, từ đó, dẫn đến thành lập Hội liên hiệp Công nhân In-đô-nê-xi-a vào năm 1908.

Ở Lào, đầu thế kỷ XX, nhân dân các bộ tộc Lào đã nhiều lần nổi dậy chống thực dân Pháp. Năm 1901, nhân dân Xa-van-na-khệt, dưới sự lãnh đạo của Phacađuốc, đứng dậy đấu tranh. Và trong năm đó, một cuộc khởi nghĩa khác bùng nổ trên cao nguyên Bô-lô-ven cho đến năm 1907 mới bị dập tắt. Ở Miến Điện, cuộc kháng chiến chống thực dân Anh diễn ra anh dũng, nhưng cuối cùng bị đàn áp. Nghĩa quân phải rút vào rừng sâu hoạt động đợi thời cơ. Điểm qua tình hình Việt Nam và các nước trong khu vực như vậy để đi tới kết luận rằng, cả “châu Á đau thương”, trừ Nhật Bản và Xiêm, phong trào giải phóng dân tộc theo nhiều khuynh hướng tư tưởng khác nhau diễn ra sôi nổi, liên tục, nhưng cuối cùng bị các thế lực thực dân và tay sai đàn áp và dìm trong máu. Khủng hoảng đường lối cứu nước không chỉ diễn ra ở Việt Nam, mà còn trong cả khu vực.

Ở Việt Nam, các bậc anh hùng nghĩa liệt thừa lòng yêu nước và lòng quả cảm, nhưng trước sau đều phải nhận lấy thất bại xót xa. Có nhiều nhân tố trong tình hình kinh tế-xã hội, chính trị-tư tưởng của đất nước lúc bấy giờ đã tạo nên những nghịch lý đó. Cuộc sống đang chứa đựng nghịch lý thì chính cuộc sống đang tạo ra những điều kiện vật chất để giải nghịch lý đó. Sự thất bại của các phong trào chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vừa chứng tỏ sự lỗi thời của hệ tư tưởng phong kiến, sự yếu ớt và bất lực của hệ tư tưởng tư sản, vừa từng bước chuẩn bị tiền đề cho một phương hướng cứu nước mới. Trong đội ngũ những nhà yêu nước đang hăm hở tìm đường cứu nước có một thanh niên trẻ tuổi mà buổi đầu xuất hiện đã vượt xa những nhà yêu nước đương thời về sự mẫn cảm của trí tuệ, về tầm nhìn. Đó là Nguyễn Tất Thành, người đã tự nguyện gánh lấy trách nhiệm ra đi tìm phương hướng cứu nước mới.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

————————

1. Trần Dân Tiên. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. NXB Chính trị Quốc gia và NXB Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr., 12.