Archive | 2012

Điều 4 Hiến pháp 1992 và nền dân chủ của chúng ta

Lợi dụng chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang dấy lên làn sóng xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, lãnh tụ và chế độ xã hội ta. Một trong những trọng điểm mà họ tập trung chống phá là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được ghi trong bản Hiến pháp năm 1992.

altChủ tịch Quốc hội (nay là Tổng Bí thư) Nguyễn Phú Trọng dự ngày hội đại đoàn kết tại huyện Ninh Giang, Hải Dương (Nguồn: qdnd.vn)

 Họ cho rằng: “Điều 4 Hiến pháp 1992 phá hủy nền tảng của chính bản Hiến pháp”. Bởi lẽ: “Điều 2 Hiến pháp 1992viết “Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”, trong khi Điều 4 lại khẳng định: “Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, tức là nước Cộng hoà XHCN Việt Nam theo một chế độ Đảng trị= Đảng chủ”. Hơn nữa, theo họ: “Điều 83 của Hiến pháp viết “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam… Như vậy, cơ quan cao nhất ở đây “không thuộc về ĐCS Việt Nam như Điều 4”.

Về đường lối kinh tế,họ nói: “Điều 15 của Hiến pháp viết: “Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN… dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng…”. Như vậy, Điều 15 trái với Điều 4ghi: “ĐCS Việt Nam theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Vì chủ nghĩa Mác – Lê-nin phủ nhận kinh tế thị trường = tư bản, xóa bỏ sở hữu tư nhân” và họ hỏi: “Vì sao theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin lại phát triển kinh tế tư bản?”, v.v. 

Tựu trung lại, họ kêu gọi: “cần phải xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp 1992” mà thực chất là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam, đơn giản chỉ là như vậy!

Có lẽ không cần phải phân tích những sai trái trong từng lập luận của họ. Bởi vì, mọi người có thể thấy rõ tất cả những lập luận trên chỉ là sự sao chép tư duy chính trị dân chủ đa nguyên mà các phần tử hành nghề chống cộng ở ngoài nước đã đưa đầy rẫy trên mạng internet cùng với sự ngụy biện thô thiển mà thôi.

Người làm chính trị, khoa học hay văn hóa, nghệ thuật trước hết phải thực sự nghiêm túc, chân thành, trung thực… Thế nhưng, những lập luận ngụy biện, vòng vo rằng: “Điều 4 Hiến pháp 1992 phá hủy nền tảng của chính bản Hiến pháp” chẳng những không có sức thuyết phục về trí tuệ mà còn thể hiện lập luận hoàn toàn ngụy biện, không đáng tin cậy.

Với họ, đã là Nhà nước pháp quyền XHCN thì Quốc hội – cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, không chịu sự lãnh đạo của bất cứ chính đảng nào! Ở lập luận này, trước hết, họ đã bộc lộ sự thiếu hiểu biết của mình. Họ không thấy rằng: trong tất cả các nền dân chủ hiện đại bao giờ cũng có đảng chính trị lãnh đạo, cầm quyền. Sự khác nhau chỉ là ở mục tiêu và phương thức lãnh đạo mà thôi. Ở Hoa Kỳ, Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa thay nhau lãnh đạo. Ở Cộng hòa Liên bang Đức cũng như vậy, phần lớn thế kỷ XX do Đảng Dân chủ Thiên chúa và Đảng Dân chủ xã hội cầm quyền. Ở Úc thì Đảng Lao động và Liên Đảng Quốc gia – Tự do thay nhau cầm quyền… Thử hỏi: Nếu ở Hoa Kỳ, Đức, Úc thì họ có phê phán chế độ đó là không dân chủ với lập luận: “Nhà nước pháp quyền, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”, sao lại có đảng cầm quyền? Vì sao đã là Nghị viện – cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của quốc gia sao quyền lãnh đạo lại vẫn thuộc về đảng này đảng nọ? Thật ra, họ chỉ muốn loại trừ ĐCS Việt Nam ra khỏi vai trò lãnh đạo, cầm quyền mà thôi, còn những đảng khác lãnh đạo, cầm quyền thì vẫn hợp lý!

Lại nói về lập luận của họ về Điều 17 của Hiến pháp 1992. Điều này quy định: “Phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài…”. Theo họ, thì chính sự khẳng định: “ĐCS Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế TBCN (ở Điều 17 này) đã “giết chết chủ nghĩa Mác – Lê-nin là tôn giáo và cương lĩnh của Đảng như Điều 4”.

Trong lập luận trên, họ đã thể hiện mâu thuẫn trong tư duy và sự thiếu trung thực. Bởi vì, họ cho rằng: ĐCS Việt Nam “đang xây dựng nền kinh tế TBCN”, là “giết chết chủ nghĩa Mác – Lê-nin”. Ở đây họ đóng vai trò là người bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lê-nin; thế nhưng, ngay ở câu đó lại nói: “chủ nghĩa Mác – Lê-nin là tôn giáo”. Và ở một đoạn khác họ cho rằng: “nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường – khái niệm “định hướng XHCN” hoàn toàn vô nghĩa”.

Xin nói rằng, bình luận “định hướng XHCN hoàn toàn vô nghĩa” của họ là hoàn toàn sai lầm. Bởi vì, không có một nền kinh tế nào nằm ngoài một không gian chính trị, nằm ngoài một quốc gia với một nhà nước và một đảng chính trị cầm quyền.

 Những ai hiểu biết về lịch sử tư tưởng kinh tế thì đều biết rằng, chủ nghĩa tự do cổ điển (Classical liberalism) về kinh tế thị trường còn gọi là “bàn tay vô hình” do Adam Smith đề xướng cho rằng: tự cơ chế thị trường sẽ bảo đảm được sự hài hòa lợi ích giữa các nhóm xã hội… Tuy nhiên, trên thực tế ở các nước TBCN cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã xuất hiện suy thoái và khủng hoảng nghiêm trọng. Đó là cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 ở hệ thống TBCN, mở đầu ở nước Mỹ.

Không ai khác, chính Tổng thống Mỹ Phranh-klin Ru-dơ-ven (Franklin Roosevelt) đã nhận thấy khiếm khuyết của kinh tế thị trường tự do. Ông đã chủ trương chuyển sang thực hiện chính sách kinh tế thị trường có sự can thiệp của nhà nước; mà về mặt học thuật, đại diện cho lý luận kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước là John Maynard Keynes. Thế nhưng, vào những năm 80 (thế kỷ XX), ở hệ thống TBCN lại ra đời học thuyết: “Chủ nghĩa tự do mới” mà nội dung của nó là hạn chế sự can thiệp của nhà nước theo phương châm “thị trường nhiều hơn, nhà nước ít hơn”… Tiếp đó, vào đầu thập niên 90 (thế kỷ XX), một lần nữa CNTB hiện đại lại điều chỉnh mô hình kinh tế thị trường. Mô hình mới được gọi là “Con đường thứ ba” mà nội dung của nó là kết hợp giữa chủ nghĩa tự do mới với các ưu tiên dành cho chính sách xã hội, như: đầu tư vào lĩnh vực đào tạo, việc làm, y tế, giáo dục,… Còn ở Trung Quốc, như mọi người đều biết, nền kinh tế của quốc gia này được gọi là “nền kinh tế thị trường XHCN”. Vì vậy, từ lý luận và thực tế cho thấy, định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường Việt Nam không phải là ngoại lệ, hơn nữa còn là một tất yếu đối với chế độ ta.

Định hướng XHCN đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam dựa trên các nguyên tắc và quy luật phổ biến của kinh tế thị trường, đồng thời phát huy chức năng của nhà nước pháp quyền XHCN để tác động vào thị trường hướng vào mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Cụ thể hơn, đó là việc bảo đảm công bằng xã hội, hạn chế sự phân cực giàu – nghèo, bất công xã hội.

Xin hỏi tất cả những ai kêu gọi xóa bỏ định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường nhằm mục đích gì? Nếu ai đó nói rằng, nền kinh tế của Việt Nam chưa hoàn thiện về thể chế, về cơ chế, chính sách, còn tình trạng tham nhũng, lãng phí, còn tình trạng lợi ích cục bộ, phân hóa giàu – nghèo, lợi ích nhóm thì đó là một nhận định khách quan, có trách nhiệm. Song nếu cho rằng, khái niệm “định hướng XHCN hoàn toàn vô nghĩa” thì thực sự đó là một ý đồ chính trị đen tối.

Thiết tưởng hiện nay, Việt Nam rất cần sự “định hướng XHCN”; bởi pháp luật chưa hoàn chỉnh, lại thiếu cơ chế quản lý hữu hiệu, vẫn còn những khoảng trống pháp lý, những sơ hở, khiếm khuyết về cơ chế, những quy định cụ thể, đặc biệt là thiếu sự nghiêm minh trong việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến thất thoát của cải, tài nguyên quốc gia, tiền đóng thuế của người dân.

Nói tới Điều 4 Hiến pháp 1992 là nói tới những cơ sở lịch sử, chính trị và pháp lý về vai trò lãnh đạo, cầm quyền của ĐCS Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội ta. Về lịch sử, ai cũng biết hơn 80 năm qua, ĐCS Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện là lực lượng duy nhất tổ chức vận động, lãnh đạo, đồng thời là người đi tiên phong, không sợ hy sinh, gian khổ trong cuộc Cách mạng Tháng Tám, giành lại độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, xây dựng nước Việt Nam hiện đại với chế độ dân chủ – cộng hòa. Lần đầu tiên trong lịch sử, các quyền công dân và quyền con người của người dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 và được bảo đảm trong thực tế. Tiếp đó, ĐCS Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ thành quả của cách mạng. ĐCS Việt Nam cũng là lực lượng chính trị duy nhất khởi xướng công cuộc đổi mới, hội nhập với cộng đồng quốc tế, tạo nên vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế.

Về chính trị – tư tưởng, ĐCS Việt Nam đi theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh với tinh thần cách mạng và sáng tạo. Mục tiêu của Đảng là: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; vừa giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia, vừa xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, hội nhập quốc tế trên tinh thần: Việt Nam sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm với tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập dân tộc và sự tiến bộ xã hội.

Những kẻ đang tuyên truyền cho nền dân chủ phương Tây thường lập luận rằng, chủ nghĩa Mác – Lê-nin là “tôn giáo”, đã lỗi thời và CNXH đã sụp đổ; do đó, Việt Nam cần phải thực hiện chế độ dân chủ đa nguyên… Họ lờ đi hoặc xuyên tạc tư duy mới, đường lối đổi mới của ĐCS Việt Nam về CNXH và con đường đi lên CNXH. Trong đó, ĐCS Việt Nam đã thừa nhận những sai lầm, khuyết điểm của mình trong thời kỳ trước đổi mới, như: chủ quan duy ý chí, xóa bỏ kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường… Đảng ta đã khẳng định cần phải xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể xã hội và hội nhập với cộng đồng quốc tế, v.v.

Về vai trò lãnh đạo của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung và phát triển năm 2011) viết: “ĐCS Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động… Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”1.

Về pháp lý, vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam đã được quy định tại Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1992. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế. Tại Điều 1, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966) ghi: “Tất cả các quốc gia đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình, tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá”2.

Quy định trên có nghĩa: việc lựa chọn chế độ chính trị nào, thể chế tam quyền phân lập hay phân công phối hợp có sự giám sát của nhân dân; đề cao hệ tư tưởng nào? Giai cấp tư sản hay giai cấp công nhân? CNTB hay CNXH? và việc có ghi hay không ghi vào Hiến pháp, điều đó hoàn toàn là quyền của mỗi dân tộc, không ai có quyền can thiệp, kể cả Liên hợp quốc. Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của ĐCS Việt Nam được Quốc hội quyết định ghi vào Hiến pháp 1992 chỉ là văn bản hóa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta trên thực tế hơn một nửa thế kỷ qua mà thôi.

Không phủ nhận rằng, xã hội ta hiện nay còn nhiều vấn đề, thậm chí có những vấn đề bức xúc, như: tình trạng phân hóa giàu – nghèo, quan liêu, tham nhũng chưa bị đẩy lùi, đặc biệt là sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên cho đến nay, xã hội ta đã tạo lập được những cơ sở chính trị, tư tưởng, pháp lý vững chắc để giải quyết những vấn đề đó, nhất là quyết tâm chính trị của toàn Đảng ta thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” để làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Bởi vậy, tất cả sự xuyên tạc, hoặc mưu toan áp đặt một mô hình dân chủ nào đó cho xã hội ta, đều là nhằm loại bỏ sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch trong và ngoài nước thực hiện dã tâm chuyển hóa xã hội ta trở lại chế độ bóc lột, trở lại chế độ thuộc địa cho ngoại bang mà thôi. Hơn nữa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của ĐCS Việt Nam còn là một giá trị của dân tộc ta trong thế kỷ XX – thế kỷ mà dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đứng lên giành được độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng một xã hội mới hướng đến những tiêu chuẩn chung của nền văn minh nhân loại.

PHƯƠNG NHI
tapchiqptd.vn

                 

1 – ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 88 – 89.

2 – Trung tâm nghiên cứu Quyền con người – Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, H. 2002, tr. 250.

This entry was posted on Tháng Mười 2, 2012, in Chính luận.

Bác Hồ với miền Nam – miền Nam với Bác Hồ

Bác Hồ vun xới cây vú sữa của đồng báo miền Nam gửi ra biếu Bác

Bác muốn qua cái nắm tay cuối cùng, gởi gắm tấm lòng của Bác đối với đồng bào, chiến sỹ miền Nam

Tấm lòng của Bác với miền Nam

…. Năm 1963, ba năm sau Đồng khởi, Bác Hồ và Bộ Chính trị Trung ương Đảng triệu tập tôi ra Hà Nội báo cáo tình hình. Ra đến nơi, vừa vào nhà nghỉ đã có đồng chí đến báo: “Bác kêu anh đấy”. Tôi vội vàng đến chỗ Bác. Vào đến phòng họp, tôi thấy trên chiếc bàn lớn đã trải sẵn tấm bản đồ miền Nam. Vừa ngồi được một tí đã thấy Bác bước vào với bộ quần áo nâu, đi chân đất. Bác nói:

– A, chú Cúc đấy phải không. Chú ở miền Nam ra, trước hết là Bác khen ngợi tinh thần đấu tranh của nhân dân miền Nam. Chú ngồi xuống, chỉ cho tôi xem bây giờ Trung ương cục đóng ở đâu?

Tôi chỉ Tây Ninh và thưa:

– Thưa Bác đóng ở Tây Ninh ạ.

Bác liền hỏi:

– Tôi nghe là ở Tây Ninh trước kia, hồi kháng chiến chống Pháp, các đồng chí Phạm Hùng, Trần Văn Trà và Ban lãnh đạo Phân liên khu miền Đông rất khó khăn về gạo, phải tích từng lon. Thế bây giờ thì thế nào? Mỗi tháng mỗi người được bao nhiêu?

– Thưa Bác, gần 30 ki-lô-gam.

– Tới gần 30 ki-lô-gam cơ à. Nhưng mà đó là các chú hay chiến sỹ?

– Dạ, đó là anh em chiến sỹ thanh niên, chứ chúng cháu không ăn hết được.

– Thế thì tốt lắm. Nhưng làm sao để được như vậy?

– Dạ, đó là nhờ dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ sau Đồng khởi, bà con ở miền Đông Nam bộ đẩy mạnh đấu tranh chính trị, theo đường lối “hai chân, ba mũi”, vừa chống địch càn quét đánh phá, vừa đẩy mạnh sản xuất nên bây giờ bà con đã có đủ gạo ăn và nuôi khánh chiến. Ta cũng đã phá được thế bao vây chia cắt của địch giữa các vùng. Cho nên đảm bảo được những nhu cầu cần thiết yếu cho cả đồng bào và chiến sỹ, không đến nỗi khó khăn như thời kháng Pháp.

– Tốt lắm các chú và nhân dân làm giỏi đấy. Thế nhưng liệu có được lâu không?

– Thưa Bác, khi chưa làm thì chưa có kinh nghiệm. Đã làm rồi thì càng thấy rõ trên thực tế là đường lối của Đảng rất đúng. Cho nên chắc chắn là sẽ giữ được lâu dài.

Quả thật, những năm về sau, mãi đến mùa xuân năm 1975, đồng bào và chiến sỹmiền Đông vẫn không bị đói. Hồi năm 1952, ở miền Đông Nam Bộ ta chỉ có hai Trung đoàn, mà chỉ sau một trận lụt, cả nhân dân và bộ đội đều bị đói, phải ăn củ mì, phải đưa bộ đội xuống miền Tây (vùng Đồng Tháp) để có gạo ăn. Số còn lại mỗi người mỗi tháng chỉ có năm lít gạo.

Tôi rất xúc động trước sự quan tâm của Bác đối với việc chăm lo đời sống cho đồng bào, chiến sỹ cán bộ. Từ câu hỏi đó, Bác hỏi đến phong trào tình hình chung, rồi Bác phân tích, Bác khen làm như thế là giỏi và hướng dẫn, chỉ vẽ thêm cách làm cho thời gian tới.

Năm 1968, tôi lại có dịp ra báo cáo tình hình. Lúc này Bác đang mệt. Lần đó tôi đi cùng đồng chí Trần Độ. Đồng chí Vũ Kỳ (Thứ ký của Bác, hôm đó cũng có mặt) báo cho biết là Bác mời cơm tôi và anh Trần Độ. Được Bác mời cơm là một vinh hạnh lớn, nhưng nghe Bác mệt, cả tôi và anh Trần Độ đều hơi ngài ngại.

Hôm đó, cả tôi, anh Trần Độ và anh Vũ Kỳ cùng ăn với Bác. Tôi thấy Bác ăn rất ngon lành. Bác ăn tới hai bát cơm và bảo anh Kỳ xúc cho thật đầy. Bác vừa ăn vừa bảo mọi người ăn cho hết thức ăn, không để thừa. Tôi và anh Trần Độ thấy vậy mừng quá. Bác đang mệt mà Bác vẫn ăn được.

Sau đó, anh Vũ Kỳ cho biết: Bác cố gắng ăn như thế để các anh về nói lại cho đồng bào miền Nam yên tâm! Bác biết rằng nếu đồng bào và chiến sỹ miền Nam hay tin Bác mệt sẽ lo lắng biết bao nhiêu.

Năm 1969, tôi lại được triệu tập ra Trung ương. Lúc này Bác đã mệt nhiều, khi tôi được vào thăm thì Bác đã không còn ngồi dậy để tiếp chuyện nữa. Tôi ngồi trên chiếc ghế bên cạnh giường Bác. Bác vẫn còn đang khỏe. Trên bức tường cạnh giường, tôi vẫn thấy như mọi lần có treo sẵn tấm bản đồ miền Nam với các mũi tên chỉ tình hình chiến sự trong những ngày gần nhất. Đồng chí Vũ Kỳ cho biết tuy yếu mệt như vậy nhưng hằng ngày Bác vẫn yêu cầu cán bộ Bộ Tổng tham mưu sang báo cáo về tình hình chiến sự ở miền Nam. Tôi xúc động quá!

Cho đến hôm gần thở hơi cuối cùng, Bác cho mời các đồng chí trong Bộ Chính trị đến bên cạnh. Tôi lúc đó không ở trong Bộ Chính trị nhưng là cán bộ duy nhất ở miền Nam ra, nên Bác cũng cho kêu đến. Bác cố nắm tay từng đồng chí trong Bộ Chính trị và sau đó nắm lấy tay tôi. Khi ấy Bác đã không còn nói được nữa. Nhưng đôi mắt và vẻ mặt của Bác thể hiện một tình cảm thật sâu sắc không bút nào tả xiết. Riêng đối với tôi, tôi hiểu rằng tình cảm của Bác không phải đối với riêng tôi, mà Bác muốn qua cái nắm tay cuối cùng, gởi gắm tấm lòng của Bác đối với đồng bào, chiến sỹ miền Nam trước khi Bác từ biệt cõi đời để theo các cụ Mác, Lênin.

Miền Nam hướng về Bác kính yêu.

Tấm lòng của nhân dân miền Nam với Bác Hồ cũng mênh mông vô bờ bến. Như hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, địch bắt được hai em đi rải truyền đơn. Nó tra tấn đánh đập dữ dội, nhưng cuối cùng vì hai em tuổi vị thành niên, nó phải thả. Nhưng trước khi thả, nó giở âm mưu xảo quyệt. Trước cửa xà lim nhốt hai em, nó trải hình Bác dưới đất và bảo: “Tụi bây có muốn ra khỏi đây thì phải bước qua tấm hình đó!”. Hai cháu quay trở vào chứ không bước qua.

….Hay như những năm 1955 – 1956, sau khi Mỹ – ngụy dẹp xong Bình Xuyên và các giáo phái, chúng tập trung đánh vào nhân dân cách mạng, vào những người cộng sản rất khốc liệt. Thế mà hai ngày 1 tháng 5 năm 1955 và năm 1956, hàng triệu quần chúng tập hợp nhau lại ở vườn Tao Đàn đi biểu tình rất có trật tự, nêu cao khẩu hiệu đòi giải quyết quyền lợi thiết thực, đòi địch phải thi hành Hiệp định Giơnevơ, thống nhất nước nhà. Địch huy động cảnh sát tới ngăn chặn, đồng bào nêu khẩu hiệu đòi tăng lương cho binh lính và cảnh sát ngụy. Thấy vậy đám cảnh sát để cho bà con đi. Đó cũng là những kinh nghiệm trong đấu tranh chính trị, kinh nghiệm xuất phát từ tinh thần đại đoàn kết, từ lời dạy của Bác Hồ: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công!

Khi Bác mất, rất nhiều bàn thờ được đặt ra ngay giữa các vùng địch tạm chiếm. Ở viện Bảo tàng Cách mạng, tôi thấy có bức ảnh anh em xích lô sắp hàng ngồi mặc niệm Bác. Hay như việc lập bàn thờ Bác ở xã Long Đức, thị xã Trà Vinh (Cửu Long), ở xã Viên An (huyện Ngọc Hiển, Minh Hải). Nhiều nhà tri thức công giáo như anh Lý Chánh Trung đã viết bài tỏ lòng thương tiếc Bác đăng trên báo công khai ở Sài Gòn, v.v….

Để đàn áp phong trào đấu tranh chính trị, địch khủng bố rất ác liệt. Ở Mỹ Tho trước khi Đồng Khởi, có chi bộ bị chúng bắn giết chết hết, phải lập đi lập lại, lột xác tới ba bốn lần. Tôi nhớ lúc đó Xứ ủy chúng tôi có nhận được bức thư của 30 lão nông ở Thủ Dầu Một chất vấn rằng tình hình như vậy không biết Xứ ủy có báo cáo lên Trung ương, lên Bác Hồ hay không? Các cụ yêu cầu gửi bức thư đó cho Bác Hồ và yêu cầu phải đấu tranh vũ trang trở lại, nếu không thì không thể thắng được. Bức thư phản ánh ý kiến chung của đồng bào, nhân dân miền Nam lúc đó.

Sau đó, Xứ ủy đã bàn bạc, phân tích tình hình địch – ta và góp ý kiến với đồng chí Lê Duẩn và Xứ ủy Nam Bộ xây dựng đề cương cách mạng miền Nam làm cơ sở cho Nghị quyết 15 rất phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Nhân dân cách mạng ở miền Nam đã được Đảng, được Bác giáo dục, động viên, luôn có nhận thức rất đúng và nhạy bén với tình hình. Khi có Nghị quyết 15 là phong trào bật lên. Và ngay trong Nghị quyết 15, Bác đã đóng góp rất nhiều ý kiến.

Tôi nói những điều đó để nói lên lòng tin yêu, kính trọng của nhân dân miền Nam với Bác. Lòng tin yêu, kính trọng đó bắt nguồn từ những chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng mà Bác là Lãnh tụ tối cao, từ những lời chỉ dạy của Bác. Và đó chính là nguồn gốc của sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của chúng ta cho đến ngày nay.

Nguyễn Văn Linh
Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

(Trích “Bác Hồ với Miền Nam – miền Nam với Bác Hồ”,
NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1986)
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Không thể ngụy biện “tự do ngôn luận” để xuyên tạc, chống phá Nhà nước

Tùy điều kiện chính trị, xã hội từng quốc gia mà có các quy định quản lý khác nhau về thông tin trên internet, song nguyên tắc chung là không chấp nhận việc thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và cao hơn là xâm phạm an ninh quốc gia.

Như đã thông tin, ngày 12/9, Văn phòng Chính phủ có văn bản thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo các cơ quan chức năng điều tra, xử lý việc một số trang thông tin điện tử (blog, mạng xã hội) đăng tải thông tin có nội dung vu khống, bịa đặt, xuyên tạc, không đúng sự thật nhằm bôi đen bộ máy lãnh đạo của đất nước, kích động chống Đảng và Nhà nước ta, gây hoài nghi và tạo nên những dư luận xấu trong xã hội. Đây là thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công an chủ trì phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan chức năng tập trung chỉ đạo điều tra, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.

Ngay sau khi Văn phòng Chính phủ truyền đạt ý kiến chỉ đạo nói trên của Thủ tướng, ngày 13/9, trên một số trang mạng xã hội, blog lại xuất hiện các thông tin ngụy biện rằng, viết, bình luận trên internet là quyền tự do thông tin, việc siết chặt quản lý internet là vi phạm “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”…

Đây là cách giải thích mang tính quy chụp, hoàn toàn không có cơ sở khoa học. Ở Việt Nam hay nhiều quốc gia trên thế giới, việc thông tin trên internet đều phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc cụ thể, trong đó dù ở nước đang phát triển hay các nước phát triển, các thông tin đăng tải lên internet phải đảm bảo tính khách quan, chính xác. Các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ cá nhân, tổ chức đều là phạm pháp và người vi phạm phải chịu trách nhiệm trước luật pháp.

Tại các nước phát triển, nơi được cho là mảnh đất của tự do ngôn luận, tự do báo chí, chính quyền các nước này cũng đặt ra các điều khoản cụ thể quản lý thông tin trên internet và nhiều cá nhân, tổ chức vi phạm đã bị xử lý. Cảnh sát Italia từng bắt giữ một blogger 59 tuổi Roberto Mancini và xử phạt tới 16.900 USD do người này lên mạng đưa các thông tin xuyên tạc, vu khống người khác. Tại Pháp, Christopher cũng từng lên bolg đưa những bài viết có nội dung chỉ trích thị trưởng thành phố Puteaux mà nội dung mang tính xuyên tạc, bịa đặt. Christopher đã bị cảnh sát địa phương bắt giữ và xử lý. Tòa án Ai Cập kết án 3 năm tù giam đối với blogger Suleiman, 22 tuổi. Suleiman bị cáo buộc đã có hành vi phỉ báng đạo Hồi, đồng thời y còn bị phạt thêm 1 năm tù do có hành vi viết bài phỉ báng Tổng thống trên mạng internet. Còn tại Mỹ, chuyện blogger viết bài xuyên tạc trên mạng và bị kiện, xử lý trước tòa cũng không hiếm như việc blog đăng ảnh của diễn viên nổi tiếng Jennifer Aniston mà không được phép. Ông James Buss, giáo viên Trường Trung học Milwaukee bị bắt vì đã vào blog của các nhà chính trị bang Wisconsin với lời bình mang biệt danh “Người quan sát” (Observer), kích động vụ một thiếu niên xả súng ở Trường Trung học Columbine làm 12 học sinh và một giáo viên thiệt mạng hồi tháng 4/1999.

Ở Liên bang Nga, ngày 30/7 vừa qua, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ký ban hành luật sửa đổi về internet của Nga. Luật này quy định hoạt động của các website chứa những thông tin bị coi là nguy hiểm đều bị nghiêm cấm. Đồng thời, Tổng thống Nga Vladimir Putin cũng ký ban hành luật chống vu khống. Người nào có hành vi vu khống, kể cả việc lên mạng internet vu khống, sẽ bị xử phạt nhiều mức, trong đó có cải tạo và phạt tiền lên đến 5 triệu rúp. Nga cũng như nhiều nước tư bản khác quy định rõ việc lợi dụng internet để xâm hại chính quyền, an ninh quốc gia và những hành vi này sẽ bị phạt nặng.

Như vậy, tùy điều kiện chính trị, xã hội từng quốc gia mà có các quy định quản lý khác nhau về thông tin trên internet, song nguyên tắc chung là không chấp nhận việc thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và cao hơn là xâm phạm an ninh quốc gia. Có ý kiến cho rằng blog là nhật ký nên họ có quyền tự do viết bất kỳ những gì họ muốn. Tuy nhiên, blog chỉ coi là nhật ký cá nhân nếu được đặt chế độ riêng tư (chỉ có chủ nhân blog đó đọc được). Còn khi viết blog công khai trên mạng, thì người viết phải chịu trách nhiệm về nội dung đưa lên. Hiện, một số blog bằng nhiều cách đã “câu” sự tò mò của người đọc, khiến lượng độc giả khá lớn, không thua kém trang báo điện tử.

Từ những viện dẫn trên, việc Nhà nước ta đưa ra các quy định quản lý thông tin trên internet cũng như xử lý các cá nhân, tổ chức vi phạm là phù hợp thực tiễn chung. Do đó, không thể chụp mũ thông tin trên blog, mạng xã hội là “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”. Ngày 23-8-2001, Chính phủ có Nghị định số 55, quy định quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ internet. Nghị định này nghiêm cấm: “Lợi dụng internet để chống lại nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây rối loạn an ninh, trật tự; vi phạm đạo đức, thuần phong, mỹ tục và các vi phạm pháp luật khác”

Đăng Trường
cand.com.vn

Một số vấn đề đáng chú ý trong chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch

Để góp phần làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch, chúng ta cần vạch rõ những âm mưu, thủ đoạn của chúng.

Tiếp tục đọc

Bài trả lời cho ai hỏi: Diễn biến hòa bình là gì, tại sao phải chống? (*)

Phòng, chống diễn biến hòa bình

oOo

LTS:  “Diễn biến hòa bình” là chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành với những nước XHCN nói chung và với Việt Nam nói riêng. Đối với nước ta, cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng và cần được tiến hành thường xuyên, kiên trì, bền bỉ. Những năm qua chúng ta đã đấu tranh có hiệu quả với chiến lược “diễn biến hòa bình”, phát hiện, ngăn chặn, đập tan nhiều âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch.

 Để góp phần giúp người dân tiếp tục nâng cao nhận thức, đề cao tinh thần cảnh giác, tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm của kẻ địch, bắt đầu từ tháng 9 năm 2009, trên Trang Quốc phòng-An ninh ra ngày thứ Tư hằng tuần, báo Quân đội nhân dân mở chuyên mục: “PHÒNG, CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”. Dưới dạng hỏi – đáp, đưa tin, bài viết về từng sự việc, câu chuyện cụ thể… với độ dài từ 500 đến 600 từ, chuyên mục sẽ đi sâu giải thích, phân tích giúp bạn đọc hiểu rõ hơn bản chất của chiến lược nguy hiểm này, những điều chỉnh mới, chuyển hướng trong hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; các chủ trương, biện pháp phòng, chống của ta…

Để chuyên mục ngày càng nâng cao chất lượng, gây được ấn tượng, tạo được hiệu ứng xã hội, chúng tôi rất mong nhận ý kiến đóng góp và sự cộng tác nhiệt tình của bạn đọc, đặc biệt là các chuyên gia, các nhà nghiên cứu, lãnh đạo, quản lý, chỉ huy các cơ quan, đơn vị, địa phương… Tin, bài, thư góp ý xin gửi về: Phòng biên tập Quốc phòng – An ninh, Báo Quân đội nhân dân, số 7 Phan Đình Phùng, Hà Nội; Email: ; ĐTQS: 554160, ĐTBĐ: (04) 37474257.

Chiến lược diễn biến hòa bình là gì?

Hỏi: Trong sinh hoạt chúng tôi thường xuyên được quán triệt cần đề cao cảnh giác trước chiến lược “diễn biến hòa bình”, thế nhưng bản chất của “diễn biến hòa bình” là gì, nó ra đời từ khi nào thì lại chưa hiểu rõ? Đề nghị quý báo giúp chúng tôi việc này.

LÊ VĂN QUỐC

(Hòm thư 3NB – 5631 Tuyên Quang)

Trả lời: “Diễn biến hòa bình” (DBHB) là chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế, được thực hiện dưới một phương thức, thủ đoạn mới để chống phá, đẩy lùi và đi đến xóa bỏ chủ nghĩa xã hội (CNXH).

Đối tượng của chiến lược DBHB là các nước có khuynh hướng phát triển phi tư bản chủ nghĩa (TBCN). Bản chất của chiến lược DBHB là chống CNXH, chống độc lập dân tộc. Nội dung cơ bản của chiến lược DBHB là phá hoại các nước XHCN về các mặt chính trị, tư tưởng-văn hóa, kinh tế, xã hội… Phương thức và thủ đoạn của chiến lược DBHB chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự, tạo dựng và thúc đẩy những nhân tố phản động, chống đối từ bên trong, đẩy đối phương vào khủng hoảng toàn diện, từng bước chuyển hóa chế độ chính trị theo con đường phát triển TBCN hoặc bị chính các thế lực chống đối dùng bạo loạn lật đổ. DBHB thường được tiến hành bằng tổng hợp nhiều biện pháp buộc đối phương trong cùng một lúc phải đối phó với nhiều thế lực, nhiều hoạt động chống đối, thúc đẩy cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội thành khủng hoảng chính trị, tạo ra tình thế bạo loạn lật đổ chế độ.

Những ý tưởng ban đầu về DBHB do các nhà hoạch định chiến lược phương Tây soạn thảo từ cuối những năm 40 thế kỷ 20, sau được tiếp tục bổ sung. Vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20, ý tưởng DBHB được nâng lên và hoàn chỉnh thành chiến lược DBHB. Trong điều  kiện mới về so sánh tương quan lực lượng trên thế giới, chiến lược DBHB được tiến hành chủ yếu bằng các thủ đoạn phi quân sự, nhằm “chuyển hóa hòa bình” các nước XHCN theo TBCN. Đặc biệt sau biến động ở Liên Xô và một số nước XHCN ở Đông Âu, phương Tây đã công khai tuyên bố chuyển hướng chiến lược từ “kiềm chế”  sang chiến lược “mở rộng” với hai nội dung cơ bản là: “dân chủ hóa về chính trị” và “tự do hóa về kinh tế”. Vấn đề “nhân quyền”, “dân chủ” và “tôn giáo”… được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng coi đó là vũ khí lợi hại để chống phá.

Quốc An
qdnd.vn

——————————-

(*) Tiêu đề do Vkyno đặt

Những nhà “cải cách”- họ là “chí sĩ” hay những kẻ “chọc gậy bánh xe” ?

Họ tự xưng, hoặc được các thế lực thù địch bên ngoài tung hô, cổ xúy là những nhà “cải cách”, những “chí sĩ” vì “dân chủ”. Nhưng, những luận điệu, việc làm cụ thể của họ, dù có được cố tình thay đổi bằng cách này hay cách khác tinh vi hơn, cũng không che đậy được mưu đồ “chọc gậy bánh xe”, hòng gây mất ổn định đất nước, xóa bỏ Đảng Cộng sản, chế độ XHCN ở Việt Nam.

altThời gian vừa qua,lợi dụng việc Đảng ta tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, một số người, tự xưng là những nhà “cải cách”, những “chí sĩ” đấu tranh vì nền “dân chủ mới” đã đua nhau tung lên mạng Internet nhiều bài “góp ý”, “huyết tâm thư” để đóng góp cho Đảng. Trong các “huyết tâm thư” này, người đọc có cảm giác, Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng chuyên quyền, độc đoán, sai lầm về quan điểm, đường lối, không đủ năng lực lãnh đạo, điều hành đất nước; đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng ruỗng nát, tham ô, tham nhũng. Và, dưới chế độ XHCN, đất nước, người dân Việt Nam đang trong cảnh lầm than, đời sống cơ cực, quyền “tự do”, “dân chủ” không được đảm bảo. Không những thế, họ còn lớn tiếng đòi tiến hành “cải cách” triệt để theo hướng: xóa Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, xóa bỏ Đảng Cộng sản, chế độ XHCN…; xây dựng một xã hội, mà họ gọi là xã hội “dân chủ mới” ở Việt Nam. Hòa cùng với những người này, cách Việt Nam nửa vòng trái đất, một số vị là nghị sĩ của Mỹ và một số nước Tây Âu cũng lớn tiếng phê phán Chính phủ Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền”, “đàn áp những người bất đồng chính kiến”, “đàn áp tôn giáo”…; đòi đưa Việt Nam vào danh sách các nước “cần quan tâm đặc biệt”…

alt

Lễ hội Đền Hùng

Đối với người dân Việt Nam, luận điệu trong những bài viết, “huyết tâm thư” của những nhà “cải cách” trên thật xa lạ, thể hiện sự ấu trĩ về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, bộc lộ rõ thái độ thù địch, “chọc gậy bánh xe”, hòng ngăn cản công cuộc đổi mới của Việt Nam, phá hoại cách mạng Việt Nam – điều mà bấy lâu nay các thế lực thù địch không làm được và sẽ không thể làm được. Hẳn mọi người đều nhớ, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo diễn ra trong bối cảnh (những năm thập niên 80, đầu thập niên 90, thế kỷ XX) “ngàn cân treo sợi tóc”. Bên trong nước, khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng, lạm phát với tốc độ phi mã, đời sống nhân dân muôn vàn khó khăn, thiếu thốn. Bên ngoài, chủ nghĩa đế quốc gia tăng bao vây, cấm vận, cô lập đất nước ta. Tiếp đó là sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu, khiến đất nước “chất đầy khó khăn”, tưởng chừng không trụ đứng nổi. Trong tình thế hiểm nguy đó, trên cơ sở nắm vững và vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh cách mạng, phân tích một cách khoa học xu thế vận động phát triển của thời đại, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, Đảng ta đã sáng suốt lựa chọn, đề ra đường lối đổi mới toàn diện, với những chủ trương, chính sách phù hợp, lãnh đạo đất nước vượt qua “phong ba, bão táp”, tiếp tục tiến bước vững chắc trên con đường XHCN đã chọn. Trong lĩnh vực kinh tế, Đảng đã lãnh đạo đất nước phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xử lý hài hòa quan hệ giữa nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường với giữ vững nguyên tắc và bản chất của CNXH; nhờ đó, đã giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, động viên được mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của CNXH, tạo ra sự phát triển năng động, hiệu quả cao của nền kinh tế, từng bước cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng, bình đẳng và làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn: từ một nước kém phát triển vươn lên trở thành một nước đang phát triển; từ một nước phải nhập khẩu gạo vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới; tăng trưởng kinh tế trung bình đạt 7,2%/năm; GDP bình quân đầu người từ mức trên dưới 100 USD/người/năm, đến nay đã đạt 1.200 USD/người/năm… Về đối ngoại, Đảng đã đề ra đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế”, vì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đường lối đối ngoại đó là sự kế thừa, phát triển quan điểm hòa hiếu của dân tộc, tư tưởng “Đại đoàn kết” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, thể hiện bản chất cách mạng của Đảng ta, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Nhờ đó, nước ta không ngừng mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập ngày càng sâu, rộng với khu vực và thế giới. Đến nay, nước ta có quan hệ đối ngoại với hơn 170 quốc gia và vùng lãnh thổ, là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới và nhiều tổ chức quốc tế khác; đặc biệt, được bạn bè quốc tế tín nhiệm bầu làm ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2008-2009 và nhiều trọng trách quốc tế khác. Trong các cương vị, trọng trách đó, nước ta đã có nhiều đề xuất, sáng kiến tích cực, được bạn bè đánh giá cao, coi là những đóng góp quan trọng cho hòa bình, ổn định và sự phát triển của khu vực và thế giới. Cùng với đó, các hoạt động quốc phòng-an ninh, đối ngoại đã góp phần phá vỡ thế bao vây, cô lập, tạo dựng và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, điều kiện quốc tế có lợi, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đẩy mạnh CNH,HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao uy tín và vị thế của đất nước ở khu vực và trên trường quốc tế; đấu tranh ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch… Những thành tựu đạt được trong 25 năm đổi mới vừa qua là minh chứng sống động nhất khẳng định những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta là hoàn toàn đúng đắn, sắc diện đất nước ngày càng được đổi mới “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như lời Bác Hồ dạy. Những thành tựu đó cũng được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, xếp Việt Nam vào danh sách “những nước hòa bình nhất thế giới”, “những nước đầu tư có triển vọng”; là tấm gương cho các nước đang phát triển trong xóa đói, giảm nghèo và đến nay đã thực hiện được nhiều Mục tiêu thiên niên kỷ (MDG) của Liên hợp quốc.

altTuy nhiên, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình hoàn toàn mới, nhiều nội dung phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm, nên cùng với những thành tựu đạt được, nước ta cũng khó tránh khỏi những vấp váp, những khiếm khuyết; đó là thực tế khách quan mà nước nào cũng gặp phải trong quá trình phát triển. Đảng ta đã nghiêm túc kiểm điểm, chỉ rõ cho toàn Đảng, toàn dân những khiếm khuyết đó, kể cả những khuyết điểm do sai lầm, hữu khuynh, duy ý chí trong lãnh đạo, chỉ đạo, trong xây dựng Đảng. Đảng ta cũng chỉ rõ, một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, tham ô, tham nhũng không chỉ đang làm giảm uy tín mà còn là nguy cơ của Đảng. Đại hội XI vừa qua đã biểu thị quyết tâm của Đảng thực hiện các giải pháp đồng bộ, quyết liệt để khắc phục những khuyết điểm, đặc biệt là trong xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên “vừa Hồng vừa Chuyên” để Đảng ta thực sự “là đạo đức là văn minh”.

Hơn 80 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn thử thách, khó khăn, vững bước trên con đường đi lên CNXH, Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự là một đảng bản lĩnh, trí tuệ, xứng đáng là ngọn cờ tiền phong, người lãnh đạo, người “đầy tớ trung thành” của đất nước và nhân dân Việt Nam. Nhân dịp diễn ra Đại hội lần thứ XI của Đảng ta, hàng trăm Đảng Cộng sản của các nước, các tổ chức và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới đã bày tỏ sự cảm phục những thành công mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã đạt được trong công cuộc đổi mới; coi Việt Nam là tấm gương, hình mẫu sinh động để khẳng định: Đảng Cộng sản có đủ khả năng lãnh đạo đất nước mạnh giầu; CNXH là một thành tố không thể thiếu cho sự phát triển của nhân loại. Họ cũng bày tỏ tin tưởng rằng, với tài trí thông minh, thái độ cầu thị, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất định lãnh đạo đất nước đi tới thành công.

Vậy mà, những nhà “cải cách” cố tình khoét sâu những khiếm khuyết, những mặt còn bất cập, hạn chế để phủ nhận, rũ bỏ sạch những thành quả cách mạng mà Đảng, nhân dân ta đã nỗ lực phấn đấu bằng biết bao mồ hôi, xương máu mới có được. Những việc làm đó là không có lương tri, phi đạo lý, hoàn toàn xa lạ, không thể chấp nhận được Mưu đồ và thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng xóa bỏ Đảng Cộng sản, chế độ XHCN ở Việt Nam là hoàn toàn trái ngược với ý chí và nguyện vọng của nhân dân và dân tộc Việt Nam. Mưu đồ và thủ đoạn đó của chúng dù có được “tàng hình” tinh vi đến đâu cũng nhất định sẽ bị nhân dân lật tẩy và bị làm cho thất bại.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra mục tiêu tổng quát của 5 năm tới là “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị-xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”1. Để phấn đấu hoàn thành mục tiêu chiến lược mà Đảng đã đề ra, hơn lúc nào hết, Đảng, Nhà nước, nhân dân đang rất cần những người con ưu tú, như giáo sư Ngô Bảo Châu, hàng nghìn, hàng vạn doanh nhân trẻ “Đất Việt” – những người đang ngày đêm mang tri thức, nhiệt huyết để tham gia xây dựng đất nước mạnh giầu; xây dựng sự đồng thuận trong toàn xã hội, nhằm phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, nguy cơ, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thực hiện thắng lợi những chủ trương, chính sách, mục tiêu mà Đảng ta đã đề ra. Bài học thành công của cách mạng Việt Nam, nhất là trong hơn 25 năm đổi mới vừa qua, đã khẳng định là: kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, giữ vững kỷ cương, phép nước, pháp chế XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân; nhưng kiên quyết xử lý thích đáng những kẻ vi phạm pháp luật, cố tình “chọc gậy bánh xe”, đi ngược lại ý chí, nguyện vọng của nhân dân, phá hoại an ninh quốc gia, phá rối an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội của đất nước… Đó vẫn là bài học có giá trị thực tiễn trong thời gian tới.

MINH ĐỨC
tapchiqptd.vn

_________

1- Báo Quân đội nhân dân, ngày 20-1-2011, tr. 3

Dưới sự bảo hộ của… (17-8-1922)

Khi làm công sứ tỉnh Thái Nguyên (Bắc Kỳ), vì mục đích tống tiền, Đáclơ đã bắt bớ, giam cầm và kết án vô cớ người bản xứ. Hắn đã giáng những cú đấm và những trận đòn roi vào những người bản xứ bị gọi đi lính “tình nguyện”. Hắn đối xử tàn ác với những người lính lệ bản xứ, nắm tóc họ lôi xềnh xệch, đập đầu họ vào tường nhà của hắn.

Hắn đâm lưỡi kiếm vào những người tù khiến họ bất tỉnh nhân sự.

Viên công sứ Đáclơ đánh một người bản xứ bằng roi sắt và làm gãy hai ngón tay của người này. Hắn dùng roi đánh túi bụi một viên đội người bản xứ. Hắn chôn đến tận cổ những người lính lệ bản xứ nào không làm vừa lòng và chỉ cho đào họ lên khi họ đã gần chết. Hắn dùng gậy đâm lòi mắt một viên đội người bản xứ khác.

Cuối cùng cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên đã bùng nổ chống lại sự tàn ác của hắn và máu người bản xứ lẫn máu người Pháp đã đổ. Bao nhiêu máu đã chảy, bao nhiêu nhà đã bị phá, và bao nhiêu người vô tội đã bị chặt đầu.

Để thưởng những công trạng đáng khen ấy của viên công sứ Đáclơ, người ta phong hắn chức chánh giám khảo các trường lớn ở Hà Nội và bổ nhiệm hắn làm đổng lý vǎn phòng của viên thống sứ Bắc Kỳ.

Báo L’Humanité và Hội Nhân quyền và Dân quyền đã phản đối.

Nếu viên sĩ quan Đức Phôn Sephen bị tù 20 nǎm khổ sai vì đã tàn sát người ở Rôngcơ thì viên công sứ Đáclơ đáng phải tù ít nhất là gấp ba lần 20 nǎm khổ sai vì tội ác của hắn.

Nhưng các bạn có biết số phận của hắn ta như thế nào không?

Hắn đã trở thành uỷ viên Hội đồng thành phố Sài Gòn, nghĩa là người cộng tác trực tiếp của các ngài Xarô và Utơrây và làm chủ vận mệnh những người nhà quê (1) ở Sài Gòn!

Hạnh phúc thay xứ Nam Kỳ!!

NGUYỄN ÁI QUỐC

MỘT VẤN ĐỀ

Có thật người Pháp tên là C. phục vụ trong Sở mật thám của viên toàn quyền Đông Dương không ? Có thật cái tên C. ấy được phái đi “công cán” ở Phú Xuyên đã buộc những người An Nam ở đó phải gọi hắn là Quan lớn (1) , và đánh đập tàn nhẫn những ai chậm tuân theo lệnh hắn không? Có thật cũng chính tên C. ấy đã đánh người lính lệ (1) không? ở cái thiên đường Đông Dương, người ta được phép và có thể làm bất cứ gì, có phải như thế không, Ngài toàn quyền Lông?

N.A.Q

Báo L’Humanité, ngày 17-8-1922.
cpv.org.vn

——————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Chủ nghĩa cộng sản và thanh niên Trung Quốc (19-8-1922)

Phong trào thanh niên xã hội chủ nghĩa mới bắt đầu ở Trung Quốc từ nǎm 1920. Nhưng từ đó và chỉ có từ đó thì những thanh niên mácxít, những thanh niên vô chính phủ chủ nghĩa, những nghiệp đoàn xã hội chủ nghĩa và những công đoàn mới gia nhập các hội liên hiệp. Và chỉ từ tháng 11 nǎm 1921, những thanh niên cộng sản mới thành lập được các tổ chức độc lập của họ. 5 nghìn thanh niên đã tập hợp dưới ngọn cờ búa liềm. Hồi tháng 5 nǎm 1922, họ triệu tập Đại hội toàn Trung Quốc. 16 diễn giả đã lên phát biểu trên diễn đàn Đại hội. Họ đã bầu ra một Ban chấp hành gồm 25 đại biểu, thay mặt cho 15 tổ chức, và 2 đại biểu thay mặt cho các thanh niên ở ngoài nước. Họ thông qua một bản điều lệ gồm 35 điểm.

Đại hội kêu gọi các công nhân và lao động toàn Trung Quốc, các sinh viên, các thanh niên nam nữ, tất cả những người có tư tưởng độc lập, các binh lính cũng như cảnh sát.

Cương lĩnh của tổ chức đó gồm có 4 phần sau đây:

A. Về chính trị

1. Đấu tranh giai cấp.

2. Quyền đầu phiếu.

3. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do bãi công.

B. Về kinh tế

1. Ngày lao động (6 giờ cho những thanh niên 18 tuổi trở

xuống, 8 giờ cho những người đã đủ tuổi thanh niên). 2. Tuần lễ nghỉ một ngày. 3. Bỏ chế độ hợp đồng cá nhân ký giữa chủ và thợ. 4. Bảo hộ lao động cho công nhân. 5. Lao động ngang nhau thì trả lương ngang nhau.

C. Về giáo dục

1. Giáo dục xã hội ở nhà nước: dùng các cuộc nói chuyện, các báo chí để tuyên truyền những tư tưởng cộng sản chủ nghĩa, 2. Giáo dục chính trị bằng các cuộc nói chuyện, các sách báo, và các cuộc thảo luận về đấu tranh giai cấp.

D. Về việc giáo dục ở nhà trường

Sửa đổi chương trình giáo dục, giáo dục phổ thông bắt buộc, v.v..

Đại hội kết thúc bằng bài “Quốc tế ca”.

NGUYỄN ÁI QUỐC

T.B. Mãi khi tới Pari, chúng tôi mới nhận được số báo Tiền phong đầu tiên, viết bằng chữ Trung Quốc.

Báo L’Humanité, ngày 19-8-1922.
cpv.org.vn

“Chủ nghĩa Vida” còn đang tiếp diễn (7-9-1922)

Hàng nghìn dân bản xứ bị cưỡng bức đẩy vào quân đội để bảo vệ những két bạc cho những kẻ bóc lột mình.

Chúng ta nhớ rằng, để buộc những người châu Phi thực hiện “nghĩa vụ của mình”, người ta đã đốt nhà cướp của của họ và sau đó, những nạn nhân ấy bị bắt đi lính cho đội quân tiên phong của nền vǎn minh.

“Việc dạy dỗ” người bản xứ bằng những cú đá đít và đánh đập đã trở thành thói quen của những vị trứ danh của chúng ta.

Anh Nahông bất hạnh, “người bị giết hai lần” – lần đầu do đại uý Viđa và sau đó, là do bác sĩ, người được lệnh mổ xác và xác định nguyên nhân cái chết của anh, người đã không ngần ngại đánh cắp và giấu di hài của người chết đó để lấp liếm cho kẻ giết người, – than ôi, không phải là nạn nhân đầu tiên của chủ nghĩa quân phiệt thực dân! Một bạn đồng nghiệp của chúng tôi ở thuộc địa cho biết về một trường hợp bi thảm khác.

“Lần này, – anh ấy nói, – sự việc xảy ra ở Medông Carê, trong trung đoàn bộ binh thứ 5. Nạn nhân là một người lính trẻ tên là Terie, sinh quán ở Tênét, bị gọi ra lính nǎm 1921. Cái chết của anh ta thật là đặc biệt bi đát. Ngày mồng 5 tháng 8, Terie đến quân y trung đoàn xin thuốc tẩy. Anh nhận thuốc, hay nói cho đúng hơn, anh đã nhận cái mà anh cho là thuốc tẩy. Người lính uống thuốc và sau vài giờ thì chết một cách đau đớn khủng khiếp. Ông Terie, cha của anh ấy nhận được một bức điện ngắn ngủi về cái chết của con trai báo rằng lễ an táng sẽ được tổ chức vào ngày hôm sau. Điên dại vì đau đớn, người cha đáng thương vội vã đến Angiê, đến trung đoàn bộ binh thứ 5 đóng ở Medông Carê, và tại đây, ông biết xác đứa con trai duy nhất của ông đang ở trong quân y viện Maiô. Làm thế nào mà nó lại rơi vào đấy? Tại sao người ta lại đưa nó về Maiô? Phải chǎng là vì cần phải tìm ra nguyên nhân thực sự của cái chết và mô tả nó như một cái chết đột ngột trên đường hành quân?

Tại quân y viện, khi người cha bất hạnh đề nghị được phép nhìn xác con trai thì người ta bảo ông ta hãy đợi. Sau đó, một vị thiếu tá xuất hiện và nói rằng việc phẫu nghiệm đã được tiến hành, nhưng nguyên nhân của cái chết không rõ và ông ta không thể cho phép người cha nhìn thấy xác người con trai của ông.

Theo những tin tức cuối cùng thì người ta biết rằng khi ông Terie yêu cầu viên chỉ huy trung đoàn bộ binh thứ 5 giải thích, ông ta được trả lời như sau: “Con trai của ông chết vì bị ngộ độc”.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 7-9-1922.
cpv.org.vn

———————–

In trong sách: Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói chọn lọc, tiếng Nga, Nxb. Chính trị quốc gia, Mátxcơva, 1959, tr. 28-29. Dịch theo bài in trong sách Những bài viết và nói chọn lọc.

Phòng kiểm duyệt ở Đông Dương (28-9-1922)

Báo L’Humanité, số ra ngày 13 tháng 9 có cho biết ở Mađagátxca vẫn còn chế độ kiểm duyệt thư từ nghiêm khắc, mặc dù bốn nǎm đã qua sau “cuộc chiến tranh vì công lý”.

Đông Dương dưới quyền cai trị của viên toàn quyền Lông cũng chẳng khác gì Mađagátxca dưới sự thống trị của viên toàn quyền Gácbi: cũng những bất công, những việc lộng quyền, những vụ tai tiếng, những điều ô nhục như thế.

Chúng tôi được biết ở Sở Bưu chính và Sở Mật thám Đông Dương được lệnh giữ những gói và thư gửi cho báo Le Paria, xuất bản ở Pari, cũng như những thư tín do báo này gửi về Đông Dương.

Không phải là ngẫu nhiên mà hành vi lạm quyền này lại xảy ra đúng lúc viên quan cai trị xảo trá Bôđoanh và người trợ lý xuất sắc của hắn, con rể viên Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anbe Xarô, đến Sài Gòn.

Ngoài ra, chúng ta vấp phải luật xâm phạm quyền bất khả xâm phạm thư riêng, và các viên cai trị tiếp tục giữ và lục soát thư riêng.

Như thế là người bản xứ bị giết chóc, cướp phá và không được hưởng những quyền sơ đẳng nhất: cả đến quyền thư tín! Sự vi phạm tự do cá nhân này chứng minh thêm chính sách đê tiện của bọn mật thám và chính sách lạm quyền đang thống trị ở những thuộc địa chúng ta.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 28-9-1922.
cpv.org.vn

Đồng tâm nhất trí (29-9-1922)

– Đi chợ nào đấy, anh Hai?

– Đi chợ Đông. Thế còn anh, anh Ba?

– Tôi cũng vậy. Thế có món hàng gì quý trong đôi thúng bảnh ấy thế?

– Vàng mã cúng ông vải ạ. Còn anh, anh có cái gì hay hay cho khách hàng nào?

– Trầu non để làm thơm và để nhuộm hồng miệng xinh của các chị chàng đẹp đấy.

Thế rồi hai anh bán hàng bặt im. Mặt trời đứng bóng chiếu ướt đẫm những bắp tay bắp chân lực lưỡng gần như để trần của hai anh. Bốn chiếc thúng nặng nề đung đưa ở đầu hai đòn gánh tre đặt ngang trên vai cháy nắng. Bụi cuốn lên quanh bước chân thoǎn thoắt thành một thứ màn sương, làm cho mọi cử động của hai anh mờ ảo và nhìn xa lại còn có vẻ mỹ thuật là khác.

– Nghe này, người anh em! – Ba nói.

– Tai tôi đang lắng nghe lời anh dạy – Hai đáp.

– Hai ta cùng đi một chợ này, theo cùng một con đường này, lại có cùng một mục đích – là bán hết hàng, cùng một chí hướng – là làm ǎn lương thiện kiếm miếng cơm. Phải thế không nào?

– Anh nói muôn nghìn lần đúng.

– Thế có muốn hai ta kết làm anh em không ? Có muốn hai ta cùng nhau giao ước thắt tình hữu ái, và, ngay từ hôm nay, khuyên bảo lẫn nhau, thấy đây làm gì thì đó làm theo, mà đó đã bảo gì thì đây cũng làm y, nói tóm lại, là giữa hai ta có sự đồng tâm nhất trí.

– Anh dạy thật là chí lý, xin vâng theo.

– Thế thì, nào! chú mày, đường còn xa, chúng ta hãy thay phiên nhau hát, cho đôi cánh bổng trầm nén cơn mệt mỏi nhé!

– Ông anh hát trước đi!

Kon-mèo trèo lên cây CAU
Hỏi thǎm Kon – chuột đi ĐÂU vắng nhà?

Thưa rằng đi chợ đường XA
Mua đồ vật liệu giỗ CHA Kon – mèo (1) .

– Khôn ngoan hơn cường bạo, kẻ yếu thì chỉ có cách đó để tự vệ. Hai nói ra vẻ hiền triết lắm. Rồi, giọng u sầu, anh ngân nga:

Trông lên hòn núi THIÊN THAI
Thấy bầy chim quạ ǎn XOÀI chín cây
2)

– Bài chú hát sao nghe buồn quá! Nhưng mà sự thật là thế.

Dẫu ta cũng cứ thấy cái giống chim chóc (1) biếng lười, nó chẳng chịu làm lụng gì cả, chuyên bòn của người khác làm ra mà ǎn. Mà ơ này! Dòng sông có cát mịn, có làn nước trong veo, đây rồi! Nhớ nhúng đôi thúng xuống cho hàng thêm tươi tốt lúc qua sông.

Một lời đã hứa, Hai, anh bán đồ giấy, làm theo không chối cãi.

Qua khỏi con sông, anh bảo Ba:

– Ánh sáng là mẹ của mọi sự tốt lành, mà mặt trời thì lại là cha của ánh sáng. Vậy, anh à! ta hãy phơi hàng một lát dưới ánh mặt trời tốt lành cho hàng lên màu, khách mua thêm hài lòng, ta bán được giá hời. Vừa nói, Hai vừa bày chỗ hàng bằng giấy bồi của mình lên ven đường nóng bỏng, rồi đến nghỉ dưới bóng cây.

Một lời đã hứa, Ba, anh bán trầu không, làm theo không chối cãi.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 29-9-1922.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Nǎm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đǎng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

Tự do báo chí vì lợi ích quốc gia, dân tộc

QĐND – Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, bên cạnh các vấn đề về “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tự do tôn giáo”… các thế lực thù địch thường sử dụng chiêu bài “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”, vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Mục tiêu là làm cho báo chí tách rời sự lãnh đạo của Đảng, làm cho các nhà báo mất phương hướng chính trị, mất sức chiến đấu trong hoạt động báo chí, tiến tới gây mất ổn định và rối loạn về tư tưởng xã hội.

Mới đây, có tổ chức báo chí và quan chức ngoại giao nước ngoài lại đưa ra những nhận định, đánh giá sai lệch về tình hình tự do báo chí, tự do internet ở Việt Nam. Họ xuyên tạc rằng Việt Nam “có nhiều hoạt động chống lại giới bloggers khi họ phổ biến các thông tin về các dự án bauxite ở Tây Nguyên”; rằng Việt Nam đang “siết chặt kiểm soát internet, từ các quán cà phê internet tới trang mạng Facebook”; rằng Việt Nam là nước trong số các quốc gia “hạn chế ngôn luận trên internet”, và đòi thúc đẩy “tự do báo chí”, “tự do internet”!.

Đó là cách nhìn nhận và đánh giá thiếu khách quan, vô căn cứ, không đúng với tình hình tự do báo chí và sự phát triển internet ở Việt Nam, cho thấy thái độ thiếu thiện chí của họ đối với Việt Nam. Những luận điệu trên không có gì mới và chúng được tung ra nhằm hậu thuẫn những người cố tình lợi dụng tự do internet và tự do báo chí để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đưa những thông tin ngụy tạo, truyền bá những thông tin thiếu xác thực, chưa được kiểm chứng, thậm chí cả những ý kiến mạo danh các lão thành cách mạng, các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước lên blog cá nhân, lên các trang mạng phục vụ ý đồ cá nhân.

Những ai đòi Việt Nam mở rộng hơn nữa “tự do báo chí”, “tự do internet” cần phải hiểu đúng hơn về các khái niệm trên. Tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền căn bản của con người, nhưng tự do báo chí không có nghĩa là vô tổ chức, là đổi trắng thay đen, là tự do đảo lộn chính-tà… Chúng ta khuyến khích tự do báo chí vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, bảo vệ lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Và lẽ tất nhiên, chúng ta không thể chấp nhận việc lợi dụng tự do báo chí, tự do internet để gây mất ổn định, chống lại Tổ quốc và dân tộc, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, xâm phạm lợi ích của công dân. Thực chất “tự do báo chí” và tự do internet mà một số thế lực mong muốn là kiểu tự do vô chính phủ, hoàn toàn trái với dân chủ đích thực. Quyền tự do báo chí, tự do internet ở Việt Nam được pháp luật bảo vệ. Bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào lợi dụng tự do báo chí để chống lại Tổ quốc, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, vi phạm pháp luật, đều phải bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Điều này là hiển nhiên mà bất cứ một quốc gia độc lập có chủ quyền nào cũng đều phải thực hiện.

Tại Việt Nam quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được quy định rõ trong Hiến pháp, pháp luật, được tôn trọng và được bảo đảm trên thực tế, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Ảnh minh họa: Internet

Không thể vin vào lý do một số cá nhân lợi dụng báo chí, lợi dụng internet chống lại Tổ quốc, bị chính quyền xử lý mà cho rằng Việt Nam “vi phạm” tự do báo chí, tự do internet, rồi cố tình xuyên tạc và xếp Việt Nam là một quốc gia “hạn chế tự do báo chí”.

Thực tế những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật trong quản lý hoạt động báo chí, xuất bản; cùng với việc quy định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị thực hiện nghiêm túc quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin… chúng ta còn quy định rõ việc xử lý các vi phạm đối với các quyền nói trên. Luật Báo chí và các văn bản pháp luật liên quan luôn bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, quyền hành nghề chính đáng trong khuôn khổ pháp luật của các nhà báo. Đây là việc làm cần thiết để bảo đảm quyền tự do báo chí theo nghĩa đích thực, bảo đảm cho báo chí hoạt động đúng tôn chỉ mục đích, trong khuôn khổ pháp luật; làm cho báo chí thực sự phục vụ lợi ích của quốc gia, dân tộc, không để báo chí bị lợi dụng, bị hoen ố bởi những hành vi trái pháp luật, trái với thuần phong mỹ tục… Đó là việc làm vì lợi ích của quốc gia dân tộc, của nhân dân ở một đất nước độc lập, có chủ quyền.

Cũng cần nói thêm rằng, những luận điệu xuyên tạc, vu cáo trên là sự can thiệp có chủ ý vào tình hình Việt Nam; là giọng điệu lạc lõng trong khi phần lớn các quốc gia, tổ chức quốc tế và nhân dân trên thế giới đều đánh giá cao, nhận xét tích cực về một nước Việt Nam đang đổi mới, ổn định và phát triển, có những bước tiến ngoạn mục, hướng tới một quốc gia phồn thịnh trong tương lai. Năm 2010, trong một cuộc làm việc với Phó thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Gia Khiêm, chính Ngoại trưởng Mỹ H.Clin-tơn cho biết bà “thực sự phấn khích” về “sự tiến bộ của Việt Nam ngày nay…”. Sự tiến bộ đó, như Ngoại trưởng Mỹ khẳng định, hàm chứa cả những tiến bộ về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được bảo đảm và phát huy tích cực trong đời sống xã hội.

Thực tế đã chứng minh, tại Việt Nam quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được quy định rõ trong Hiến pháp, pháp luật, được tôn trọng và được bảo đảm trên thực tế, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Những ai xuyên tạc tình hình “tự do báo chí”, “tự do internet” ở Việt Nam cần phải thấy rằng, những năm qua, báo chí Việt Nam có sự phát triển nhanh về số lượng, loại hình, ấn phẩm; đội ngũ những người làm báo, số lượng người đọc, người truy cập internet… và cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ, năng lực tài chính của các cơ quan báo chí, truyền thông, cũng như sự tác động và ảnh hưởng xã hội của báo chí, internet đều tăng nhanh. Báo chí thực sự là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội, là diễn đàn của nhân dân; quyền tự do báo chí ở nước ta được bảo đảm vững chắc bằng pháp luật và thể hiện cụ thể trong thực tiễn.

Đến năm 2010, cả nước có hơn 17.000 người được cấp thẻ nhà báo (tăng gấp 3 lần so với 1986, tăng 1,4 lần so với 2001); có hơn 700 cơ quan báo chí in, gần 70 đài phát thanh-truyền hình, hàng chục tờ báo điện tử và hàng nghìn trang thông tin điện tử… Việt Nam là một trong những nước trên thế giới có tốc độ phát triển nhanh nhất về internet. Đó là kết quả thể hiện rõ ràng, sinh động về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở nước ta, trái ngược hẳn với luận điệu xuyên tạc Việt Nam “hạn chế tự do báo chí”, “hạn chế ngôn luận trên internet” như một số thế lực cố tình gán ghép.

Báo chí chân chính phải thực sự là “vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”. Mọi sự lẫn lộn “chính”- “tà” đều không đúng với bản chất và vai trò của báo chí nước ta trong tình hình mới. Báo chí phải chung vai gánh vác sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần cổ vũ, giáo dục, định hướng tư tưởng, nhân lên những điển hình tốt, đấu tranh chống tiêu cực, phê phán những cái xấu, biểu hiện lệch lạc, đi ngược lại lợi ích của dân tộc và đất nước. Báo chí cách mạng Việt Nam ngày càng phát triển, trở thành lực lượng hùng hậu, luôn đồng hành cùng đất nước, dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hưng Hà
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Chín 30, 2012, in Chính luận.