Archive | 2012

Chuyện về gia đình được Bác Hồ tặng áo lụa

Chúng tôi về thành phố Nam Định vào một ngày thu giữa tháng 9. Tiết trời trong veo và thanh bình khiến cho tôi càng háo hức sải bước tìm đến gia đình vốn được Bác Hồ ngợi khen là “Một nhà trung hiếu – Muôn thuở thơm danh”. Đó là gia đình ông Tạ Quang Tám (trú tại số nhà 87, đường Trần Thánh Tông, thành phố Nam Định).

Bốn người con cùng hi sinh trong một trận đánh

Tranh thủ thời gian đợi gia chủ về, tôi đã kịp bắt chuyện với những người hàng xóm trong con phố nhỏ nơi vợ chồng ông Tám sinh sống. Dường như chỉ nhắc đến cái tên Tạ Quang Tám, những người dân nơi đây ai cũng có thể kể vanh vách về những chiến công của gia đình ông cũng như những kỉ niệm xúc động liên quan đến câu chuyện gia đình ông được Bác Hồ tặng áo và viết thư ngợi khen vì sự hy sinh cao cả cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đang tiếp chuyện với người hàng xóm làm nghề thợ hàn ở căn nhà đối diện, bỗng từ xa tôi nhìn thấy một người đàn ông dáng nhỏ thó từ từ đạp xe tiến dần về phía ngôi nhà số 87. Người hàng xóm nói với tôi đó là người tôi đang cần tìm gặp. Tôi ngỡ ngàng khi biết rằng dù đã ở tuổi 83 nhưng ông Tám còn khá khỏe khoắn, sáng sáng vẫn đạp xe đi tập thể dục và thăm thú bà con, bạn bè.

gdBức trướng thêu nội dung bức thư của Bác Hồ.

Biết nhà có khách, ông Tám vồn vã mời tôi vào tiếp chuyện. Đến căn nhà nhỏ nơi vợ chồng ông cùng cô con gái cả sinh sống có lẽ điều khiến mỗi vị khách khó quên nhất là những tấm bằng Tổ quốc ghi công xếp kín trên tường, cạnh đó là bức trướng thêu trọn nội dung bức thư Bác Hồ khen tặng gia đình ông. Rót xong chén nước mời khách, giọng ông như chùng xuống, lần giở dòng hồi tưởng nhớ về những ngày tháng đã qua của gia đình.

Gia đình ông vốn có truyền thống cách mạng. Cụ thân sinh ra ông là Tạ Quang Yên (người gốc ở Huế) – một nhà Nho yêu nước trong những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám thành công đã hăng hái tham gia Hội Liên Việt, còn mẹ ông là cụ Nguyễn Thị Nuôi hoạt động trong Hội Phụ nữ cứu quốc. Gia đình ông có 9 anh chị em (8 anh em trai và 1 chị gái). Thừa hưởng tinh thần yêu nước từ cha mẹ, 9 anh chị em sớm được giác ngộ và hăng hái tham gia các hoạt động chiến đấu tại địa phương. Người anh cả là ông Tạ Quang Trường sau khi tham gia giành chính quyền thành công trong Cách mạng Tháng Tám đã hòa mình vào đoàn quân Nam tiến lên đường vào Nam chiến đấu. Noi gương người anh cả, bốn người anh kế tiếp của ông cũng hăng hái chiến đấu trong Trung đoàn 34.

Đến tháng 3 năm 1947, Bộ Chỉ huy Quân đội Pháp ở Đông Dương quyết định mở cuộc hành quân giải vây cho quân của chúng ở Thành phố Nam Định và đã huy động một lực lượng lớn từ Hà Nội theo đê sông Hồng tiến xuống. Bốn người anh của ông Tám khi ấy đã cùng các đồng đội đón đầu, đánh chặn địch, buộc chúng phải chuyển hướng tấn công và đã anh dũng hi sinh. Đón nhận tin cả bốn đứa con trai yêu quý cùng ra đi một ngày, bố mẹ ông dường như qụy ngã.

“Cha tôi như phát điên lên. Tôi không thể quên được ánh mắt của cha tôi lúc ấy, vừa đau đớn quằn quại, vừa rực lửa căm hờn. Có lẽ vì người đã chứng kiến sự hi sinh của quá nhiều đồng đội, đồng bào và giờ đây là những đứa con mình rứt ruột sinh ra. Mẹ tôi vẻ ngoài có phần điềm tĩnh hơn. Nhưng tôi biết nước mắt mẹ chảy ngược vào trong, bà không khóc nổi bởi nỗi đau ấy có lẽ không có gì diễn tả hết”, ông Tám nghẹn ngào, khóe mắt đỏ hoe.

Vượt qua nỗi đau mất 4 đứa con, cha mẹ vẫn tiếp tục động viên ông và cậu em trai út là Tạ Quang Mười tham gia Cách mạng. Ngày đó, ông được giao nhiệm vụ làm liên lạc, nắm bắt tình hình, thăm dò đường đi lối lại và truyền lệnh của cấp trên cho các đơn vị của Trung đoàn 34 để các đồng đội chuẩn bị sẵn sàng chờ lệnh khai hỏa mở màn cho cuộc chiến đấu bảo vệ Thành Nam. Người em trai của ông sau này cũng tham gia vào Sư đoàn Cao xạ. Anh chiến đấu anh dũng và hi sinh tại Vĩnh Linh (Quảng Trị) vào năm 1972. Ghi nhận những hi sinh đóng góp của gia đình ông, thân mẫu của ông là cụ Nguyễn Thị Nuôi đã được tặng danh hiệu Bà mẹ Nam Hà và năm 1994 cụ đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Giữ áo Bác tặng giữa lòng địch

Tự hào về truyền thống gia đình, ông Tám lại kể cho tôi nghe về món quà mà ông nói là vô giá và quý trọng nhất của gia đình. Năm 1947, khi biết tin về sự hy sinh anh dũng của bốn người anh của ông, nhân ngày Quốc khánh 2/9/1947, cụ thân sinh của ông đã được Bác Hồ tặng một áo lụa và gửi thư khen. Năm ấy, ông Tám 17 tuổi và đã tham gia làm liên  lạc cho Trung đoàn 34. Ngày gia đình ông được vinh dự về thôn Ngọc Tỉnh (thuộc huyện Xuân Trường, Nam Định ngày nay) để đón nhận quà và thư của Bác Hồ, ông vẫn đang đi làm nhiệm vụ. Qua lời của cha mẹ, ông vẫn nhớ như in cảm xúc tự hào ấy.

gd2Ông Tạ Quang Tám bên những tấm huân chương của gia đình.

Ông Tám được cụ thân sinh kể lại, trong buổi lễ mít tinh tuyên dương các anh hùng liệt sĩ được Tỉnh đội Nam Định tổ chức năm 1947, bức thư và tấm áo lụa Bác Hồ tặng được rước trang trọng trong buổi lễ và được cán bộ tỉnh trao cho gia đình ông. Tấm áo lụa cổ cao màu vàng, 5 tà trước đó là quà của nhân dân tặng Bác Hồ. Bên ngực phải có thêu chữ: “Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Kim Sơn, Ninh Bình”, ngực trái có ghi dòng chữ Hồ Chủ Tịch tặng kèm theo chữ ký của Bác. Gia đình ông trân trọng và coi đó như một báu vật. Cha ông chỉ mặc tấm áo vào những dịp trang trọng nhất. Ngày quân đội Pháp đánh chiếm Thái Bình và Nam Định, cả gia đình tìm mọi cách để cất giấu tấm áo. Lũ tay sai gián điệp trong lòng địch nhanh chóng đánh hơi được gia đình ông được nhận kỷ vật của Bác Hồ nên ngày đêm cho quân săn lùng. Song với tài khéo léo và nhanh nhẹn của mẹ ông, tấm áo đã được cất giấu an toàn. Kẻ địch gian manh nhưng không hề biết được rằng mẹ ông Tám đã sẵn sàng xé phăng tấm chăn bông để nhét tấm áo vào giữa rồi khâu kín lại. Cứ vậy, tấm áo nằm trong lõi chiếc chăn đã sưởi ấm cho gia đình ông qua bao mùa đông giá lạnh.

Đến năm 1956, tỉnh đội Nam Định đã mượn chiếc áo Bác tặng đem đi triển lãm ở một số nơi và sau đó chuyển về cho một Bảo tàng trong tỉnh. Lúc đầu, ông Tám cũng có ý định giữ món quà đó cho riêng gia đình, song ông lại quyết định dành tặng cho bảo tàng để đông đảo người dân được chiêm ngưỡng tấm áo. Bởi đó không chỉ là một tấm áo lụa đơn thuần mà còn là minh chứng cho sự hy sinh lớn lao của bao thế hệ người Việt Nam vì nền độc lập dân tộc.

Khi được hỏi về bức thư Bác Hồ gửi, ông Tám vô cùng luyến tiếc cho biết, bức thư ấy đã không may lưu lạc trong những ngày sơ tán. Thời gian gia đình sơ tán ở Thái Bình, cha ông đã cho thư vào một túyp thuốc rồi chôn tại chợ Gốc (Thái Bình) để quân địch không tìm thấy được. Sau ngày chiến tranh, gia đình đã nhiều lần về chợ Gốc, lật tung nhiều ngóc ngách nhưng vẫn không tài nào tìm lại được nơi đã cất giấu bức thư. Mặc dù bị thất lạc nhưng ông Tám vẫn nhớ như in bức thư được Bác đánh máy với nội dung: “Kính gửi cụ Tạ Quang Yên ở Nam Định: Tôi rất cảm động được báo cáo rằng cụ có 8 người con trong đó 6 người tham gia kháng chiến, mà bốn người đã oanh liệt hy sinh vì Tổ quốc. Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ gửi lời khen ngợi và tặng cụ mấy chữ: Một nhà trung hiếu, muôn thuở thơm danh. Nhân dịp này tôi xin biếu cụ 1 chiếc áo mà đồng bào đã biếu tôi. Chúc cụ mạnh khỏe và sống lâu”.

Sau này, để lưu giữ những lời vàng ngọc ấy cũng như nhắc nhở con cháu về truyền thống cách mạng vẻ vang của gia đình, ông Tám đã thuê người thêu toàn bộ nội dung bức thư lên một tấm vải lụa màu đỏ và treo trang trọng trong nhà. Phía trên bức trướng là tấm ảnh Bác Hồ với nụ cười hiền hậu.

Giờ đây đã ở tuổi xưa nay hiếm, nối tiếp truyền thống của gia đình, những ngày tháng còn lại của cuộc đời mình, ông Tám vẫn tích cực tham gia các hoạt động của địa phương để sống sao cho xứng đáng với niềm tin yêu và phần quà mà vị lãnh tụ kính yêu trao tặng.

Phạm Hạnh
Theo Báo Nam Định
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Trích Nghị quyết của UNESCO…



————————————-

Toàn văn nghị quyết của Tổ chức giáo dục,
khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO)
về kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

Phiên họp toàn thể;

Xét thấy việc tổ chức kỷ niệm trên quy mô quốc tế những nhà tri thức lỗi lạc và danh nhân văn hóa và góp phần vào việc thực hiện những mục tiêu của UNESCO và vào sự hiểu biết trên thế giới;

Nhắc lại Quyết định số 18C 4351 về việc tổ chức kỷ niệm những vĩ nhân và những sự kiện đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại;

Ghi nhận rằng năm 1990 sẽ được đánh dấu bằng lễ kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là một nhà văn hóa kiệt xuất;

Xét thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội;

Xét thấy sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau;

1 – Khuyến nghị các quốc gia thành viên kết hợp kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng cách tổ chức những hoạt động đa dạng để tưởng niệm Người, để làm cho mọi người hiểu được tầm vóc to lớn của những tư tưởng và sự nghiệp của Người vì công cuộc giải phóng dân tộc;

2 – Đề nghị ông Tổng Giám đốc UNESCO tiến hành những bước đi phù hợp để kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và giúp đỡ các hoạt động tưởng niệm chung được tổ chức nhân dịp này, đặc b iệt là những hoạt động diễn ra ở Việt Nam.

(Theo Phác thảo chân dung văn hóa Việt Nam.
NXB Chính trị Quốc gia)
quehuongonline.vn

Dân với Chính phủ, Chính phủ với dân

Bác Hồ và Chính phủ cách mạng đầu tiên của Việt Nam ra mắt quốc dân

Cách đây 63 năm, ngày 15 tháng 10 năm 1949, Báo Sự Thật đã đăng bài viết “Dân vận” của X.Y.Z (bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Bài báo rất ngắn gọn, nhưng vô cùng sâu sắc, súc tích và đầy đủ. Cho đến nay, bài báo này vẫn được coi là “cẩm nang” của công tác dân vận. Đặc biệt, ngay từ đó, Bác Hồ đã nhấn mạnh “Nước ta là nước dân chủ”:

“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Không phải đến năm 1949, mà ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trong nhiều bài viết Bác đã khẳng định địa vị làm chủ của người dân và bổn phận phục vụ của các cấp chính quyền từ Trung ương. Bác Hồ đã khẳng định rõ ràng “Chính phủ là công bộc của dân” khi Người lấy chính câu này làm tít bài báo đăng trên Báo Cứu quốc, số ra ngày 19-9-1945. Trong bài báo đó Bác Hồ đã nói: “Người xưa nói: Quan là công bộc của dân, ta cũng có thể nói: Chính phủ là công bộc của dân”; cho nên “Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết. Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”. Trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” đăng trên Báo Cứu quốc ngày 17-10-1945, Bác Hồ tiếp tục khẳng định: “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”. Trong một lần nói chuyện tại Trường Công an trung cấp khóa 2, Bác nói: “Từ Chủ tịch nước đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân, thì dân không cần nữa”. Thậm chí, trong một lần nói chuyện với đại biểu nhân sĩ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hóa, Bác Hồ còn quả quyết rằng “Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ. Nhưng khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi”.

Như vậy, qua những lời căn dặn của Bác, cho đến nay, quan điểm chủ đạo Chính phủ là “do dân cử ra”, để phục vụ dân, đại diện cho dân quản lý nhà nước, thực thi pháp luật, không được làm gì có hại cho dân vẫn còn nguyên giá trị. Thế nhưng, trong thực tế hiện nay, đây đó trong cả nhận thức cũng như việc làm lại có những hiện tượng ngược lại với quan điểm nói trên. Chẳng hạn, cơ chế xin – cho là biểu hiện của sự ban phát: Có người xin và có người cho. Người xin ở đây là người dân, những cơ quan, tổ chức đại diện cho người dân ở cấp dưới. Người cho ở đây là các cấp chính quyền, các cơ quan nhà nước và cao hơn là Chính phủ. Thường thì mọi quan hệ cho – nhận là mối quan hệ không dựa trên nghĩa vụ và quyền lợi mà dựa trên sự hảo tâm đầy cảm tính và tùy tiện. Về bản chất chế độ ta, Chính phủ do dân cử ra, hay nói một cách thị trường thì là những người làm thuê cho dân. Tiền lương, mọi chi phí cho bộ máy, phương tiện làm việc, đi lại của bộ máy hành chính lấy từ nguồn thuế của người dân và những tài sản quốc gia từ khai thác tài nguyên thiên nhiên. Chính phủ khi tạo ra của cải vật chất thông qua điều hành, quản lý sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ thì của cải đó thuộc về ông chủ, tức người dân. Ấy thế mà khi những người đày tớ làm thất thoát hàng chục, hàng trăm nghìn tỷ đồng thì “người đày tớ” vẫn không bị “đuổi việc” không bị bồi thường nghĩa là sao?

Người dân, từ chỗ là ông chủ lại trở thành người phụ thuộc và phải đi xin Chính phủ. Chính vì vậy, người dân trở thành người lệ thuộc và mỗi lần đến cơ quan công quyền thường lo sợ vì cứ nghĩ là mình phải đi xin và là người chịu ơn các cơ quan công quyền, cũng như những cá nhân thực thi công vụ ở đó. Nếu may mắn, người dân gặp được những người thi hành công vụ biết điều, tốt bụng thì được nhờ. Không may gặp phải những người gây khó khăn, nhũng nhiễu, cản trở thì người dân cũng chỉ cam chịu, không biết kêu ai bởi “quan thì xa, bản nha thì gần”. Thực trạng khá phổ biến như trên trong xã hội hiện nay nói lên một thực tế ngược đời rằng: Những người “làm thuê” cho dân lại đang đứng ở vị trí của “ông chủ”. Nhiều người làm thuê này lại ý thức, tự hào về địa vị “ông chủ” của mình, tự thấy mình đứng ở phía trên người dân để ban phát, dạy bảo.

Do vậy, vấn đề đặt ra hiện nay không phải chỉ là câu chữ, ngữ nghĩa nữa mà phải thật sự trao quyền làm chủ cho người dân, nhất là dân chủ trực tiếp. Để nhà nước thật sự là “nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” chứ không thể là khẩu hiệu suông. Không để tình trạng mập mờ chủ – tớ như hiện nay. Nhân dân có quyền đòi hỏi xây dựng một cơ chế xem xét, sàng lọc, thải loại cán bộ, công chức, viên chức cơ quan nhà nước không còn đủ phẩm chất, năng lực làm việc cho dân. Việc Quốc hội nước ta đang chuẩn bị quy định lấy phiếu tín nhiệm cán bộ thuộc diện Quốc hội, Hội đồng nhân dân bổ nhiệm, phê chuẩn là bước mở đầu cho công tác này. Thế nhưng nếu cứ hai năm/lần lấy phiếu tín nhiệm và hai lần liên tục không đủ số phiếu tín nhiệm thì mới bãi miễn chức vụ, e rằng lâu quá. Vì một nhiệm kỳ công tác thường nhiều nhất là 5 năm. Lấy phiếu tín nhiệm kiểu như vậy thì cán bộ, công chức đã “hạ cánh an toàn rồi!”.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang(st)
bqllang.gov.vn

Bức thư huyết lệ

8 giờ đêm – một đêm Tháng Chạp năm 1946 – bác sĩ Vũ Đình Tụng phải mổ một trường hợp chiến thương quá đặc biệt và rất đau lòng: Một chiến sĩ “sao vuông” rất trẻ, tuy vết thương nặng, đạn xé tung cả một khúc ruột mà miệng vẫn mỉm cười, cái nụ cười quá quen thuộc và thân thương đối với bác sĩ. Anh tự vệ Thủ đô ấy, người chiến sĩ gan góc ấy lại chính là Vũ Văn Thành, con trai út của bác sĩ.

Suốt ngày hôm ấy, tôi đã phải mổ cưa gắp đạn và khâu vết thương cho hàng chục chiến sĩ nhưng đến trường hợp con tôi, thần kinh tôi căng lên một cách kinh khủng. Mấy người giúp việc khuyên tôi nên nghỉ tay, nhưng tôi vẫn cố kìm mình để giữ bình tĩnh gắp mảnh đạn cuối cùng trong thân thể người con. Xong việc, tôi loạng choạng rời khỏi bàn mổ.

Các bác sĩ và những người giúp việc đã cố gắng nhiều, nhưng vết thương do quân thù gây ra quá nặng đã cướp đi mất Thành, con trai của tôi, anh của Thành là Vũ Đình Tín, tự vệ chiến đấu cũng vừa bị mất sau ngày Tổng khởi nghĩa, tôi đau đớn đến bàng hoàng.

Một buổi chiều trời rét lắm, sau đêm Nôen cuối cùng ở Bệnh viện Bạch Mai, bị bom đạn tàn phá, vào lúc tôi mổ xong một ca thương binh nhẹ thì bác sĩ Trần Duy Hưng, lúc bấy giờ giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ trân trọng trao cho tôi một bức thiếp của Hồ Chủ tịch. Tôi cảm động quá. Mới đầu tôi cứ ngỡ là một mệnh lệnh mới của Người. Nhưng thật không ngờ, đó lại là một bức thư riêng đầy tình cảm lớn lao của Bác chia đau thương với gia đình tôi. Khi đó, Bác gọi tôi là “Ngài”.

“Thưa Ngài,

Tôi được báo cáo rằng: Con giai Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.  Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi, tinh thần họ luôn luôn sống với non sông Việt Nam.

Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc. Những thanh niên đó là anh hùng dân tộc. Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ. Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây, chắc Ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng.

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn Ngài, và gửi Ngài lời chào thân ái và quyết thắng.

Tháng 1-1947

Hồ Chí Minh”

Đọc xong bức thư, tôi thấy bàng hoàng. Bác bận trăm công nghìn việc, thế mà Bác vẫn nghĩ đến tôi, một gia đình đang có cái tang đau lòng như hàng vạn gia đình khác. Tôi thấy nỗi đau thương và sự hy sinh của gia đình mình trở thành nhỏ bé trong cái tình thương mênh mông và sự hy sinh cao cả của Bác đối với cả dân tộc. Tôi nhủ mình sẽ phải làm tốt công việc để xứng đáng với sự hy sinh của các con và khỏi phụ lòng Bác.

Sau đó, tôi theo Bác lên Việt Bắc – căn cứ thần thánh của cách mạng Việt Nam. Từ một người thầy thuốc của xã hội cũ, một giáo dân ngoan đạo, tôi đã trở thành một người thầy thuốc tốt, một Bộ trưởng Bộ Thương binh xã hội của nước Việt Nam mới.

(Ghi theo lời kể của Bác sĩ Vũ Đình Tụng)

 Theo Báo Nghệ An
Tâm Trang (st)

cpv.org.vn

Chuyện về Ao cá Bác Hồ

Được thăm ao cá Bác Hồ
Chúng em mừng quá reo hò vỗ tay
Cá mè, cá chép, cá chày
Bỗng dưng rẽ nước bơi đầy mặt ao.

Em nghe mấy bạn thì thào
Được gần bên Bác thảo nào cá ngoan.

                                (Nguyễn Ngọc Ký)

A1Ao cá Bác Hồ

Vào Lăng viếng Bác xong, du khách được đi thăm Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và Bảo tàng Hồ Chí Minh là nơi sống và làm việc lâu nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Khi đi đến khu nhà sàn và ao cá Bác Hồ, du khách nào cũng thích thú ngắm nhìn đàn cá bơi lội chen nhau ngoi lên mặt nước đớp mồi. Từ thời Pháp, khi xây dựng Phủ toàn quyền Đông Dương (nay là Phủ Chủ tịch), Chính phủ Pháp đã cho đào một chiếc ao với mục đích để chứa nước. Sau là chỗ để hươu nai trong vườn sau Phủ Toàn quyền (vườn Bách Thảo bây giờ) xuống uống nước. Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, nơi này được chọn là nơi làm việc của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước, đồng thời là nơi sống và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nơi đây cũng là nơi Hồ Chí Minh đã qua đời. Ngày về Thủ đô, sống và làm việc ở nhà sàn, Bác Hồ đã gợi ý anh em phục vụ cải tạo nơi này thành ao nuôi cá vừa để cải thiện đời sống, vừa làm cho không khí thêm trong lành… Nghe theo lời gợi ý của Bác, anh em bảo vệ đã tập trung làm. Chỉ sau một tuần, công việc nạo vét hồ đã hoàn thành.

Sau khi ao đã được dọn sạch, nạo vét và kè lại bờ thành ao nuôi cá, Trại cá giống Đình Bảng đã mang sang những giống cá tốt thả vào ao. Những cây dừa, bụt mọc, liễu… được trồng đã tỏa bóng mát xuống mặt hồ rộng 3.320m2, độ sâu trung bình là 2m với 16 loài, 6 nhóm cá tung tăng bơi lội. Đặc biệt, nhiều loài cá như chép, trắm đen…, xung quanh ao trồng dâm bụt, cạnh bậc lên xuống trồng dừa, như hình ảnh miền Nam trong trái tim Người.

A2Cây bụt mọc bên ao cá Bác Hồ

Cá được thả ở đây là cá rô phi, chép, mè, trôi, trắm cỏ… Trong hồ còn phát triển khá nhiều loại trai, nhiều con đã kết ngọc. Riêng cá trắm phát triển rất nhanh và có lần anh em đánh được con cá nặng 24kg. Vì Bác nói rằng nuôi cá phải chọn loại dễ nuôi, mau lớn và sinh sản nhiều. Đó là những loại cá có giá trị kinh tế của nước ta. Phương châm đó của Người là một bài học lớn cho cán bộ ngành Thuỷ sản suy nghĩ trong công tác nghiên cứu của ngành mình gắn với quan điểm kinh tế, đem lại lợi ích thiết thực cho phong trào sản xuất.

BH bên ao cáBác Hồ bên ao cá

Bác chăm đàn cá rất chu đáo. Hàng ngày, sau giờ làm việc buổi chiều là lúc Bác cho cá ăn. Thức ăn chủ yếu cho cá thường là cám, ngoài ra buổi sáng lúc ăn điểm tâm, Bác để lại một lát bánh mỳ, cơm được anh em phục vụ phơi khô đựng vào chiếc hộp để cạnh cầu ao. Bác nhớ đặc điểm của từng con cá chép đỏ nên có lần sau khi đi công tác về, Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ – Thư ký riêng của Bác – xem tại sao không thấy con cá gáy đỏ của Bác về ăn như mọi khi? Mấy hôm sau Bác rất vui kể rằng con cá gáy đỏ lại đã trở về rồi. Bác còn chú ý bảo vệ đàn cá, những năm trời rét đậm, Bác nhắc anh em kiếm bèo tây về ngăn vào một góc ở hướng Bắc để che gió lùa và cho cá có nơi trú ẩn. Cá Bác nuôi rất mau lớn, đàn cá rô phi sản lượng mỗi năm một tăng nên đã góp phần đáng kể vào việc cải thiện bữa ăn. Cứ mỗi khi có khách trong nước hay ngoài nước được Bác mời cơm thì món ăn “cây nhà lá vườn” là cá Bác tự tăng gia. Hàng năm cứ vào những ngày lễ hoặc Tết cổ truyền, Bác lại nhắc anh em phục vụ bắt một số cá lên làm quà biếu các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đồng thời tặng anh em trong đơn vị bảo vệ cùng các gia đình trong cơ quan. Từ ngày Bác đi xa, các đồng chí lãnh đạo của Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch cùng với ngành Thuỷ sản trực tiếp trông nom ao cá, vẫn giữ nguyên truyền thống tốt đẹp và cảm động này vào ngày sinh nhật Bác 19 tháng 5 hàng năm.

Từ khi có ao cá, dù bận đến thế nào, sau giờ làm việc Bác cũng ra cầu ao gọi cá cho ăn. Những con cá dần quen với những tiếng vỗ tay của Bác. Bác thường bảo: “Phải rèn luyện để trở thành một thói quen tốt”.

Chỉ sau một thời gian ngắn huấn luyện, đàn cá chỉ nổi lên mỗi khi nghe tiếng vỗ tay quen thuộc. Có lần, Bác đi công tác lâu ngày, những người phục vụ cho con cá ăn theo cách Bác vẫn làm. Khi về, Bác ra cầu ao gọi cá nhưng mãi không thấy cá đâu. Bác buồn gọi người phục vụ ra và bảo: “Chú ạ, có mấy con cá quen mà Bác vỗ tay gọi mãi chẳng thấy nó về. Chắc chú nào bắt mất rồi!”.

Bác nói vậy nhưng thực ra Bác biết ao cá vẫn còn nguyên, chỉ có điều lâu ngày không được huấn luyện nên cá không còn thói quen cũ. Bác nói với người phục vụ: “Con người ta cũng vậy, để tạo thói quen tốt phải đòi hỏi sự kiên trì và khổ công rèn luyện. Thói quen xấu thì tiếp thu nhanh lắm!”.

Có một câu chuyện mà đến nay nhiều người vẫn thường nhắc, đó là chuyện Bác Hồ bày cách cân cá. Có lần bắt được con cá trắm đen nặng tới 24kg. Vì con cá quá to lại giãy rất khỏe nên nhiều người loay hoay mà không thể nào cân được.

Anh em cứ đặt lên cân thì cá lại nhảy xuống. Thấy vậy, Bác liền cười và bảo: “Một chú ôm con cá và đứng lên cân. Sau đó chú bỏ cá xuống, cân mình xem bao nhiêu cân rồi lấy tổng số trừ đi là ra”. Lúc ấy anh em mới chợt ồ lên vì cách giải quyết đơn giản thế mà chẳng ai nghĩ ra.

Cá từ ao cá Bác Hồ còn được đưa đi các địa phương để phát triển phong trào. Năm 1959, Hợp tác xã Tiền Phong – Yên Sở, Thanh Trì, Hà Nội là đơn vị đầu tiên được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tặng gần 100 con cá rô phi để nuôi. Địa phương thứ hai được nhận cá rô phi của Bác Hồ là tỉnh Quảng Bình. Đầu năm 1969, một đồng chí trong Thường vụ Tỉnh ủy ra Trung ương họp được vào báo cáo với Bác về thành tích của tỉnh. Bác hỏi thăm về tình hình sản xuất và đời sống của tỉnh, đồng chí cán bộ báo cáo đời sống của nhân dân khó khăn vì thu nhập chính là nghề cá thì bị địch phong tỏa bờ biển, cá giống không đủ để nuôi, Bác chỉ tay ra phía ao cá trước nhà nói: “Nếu thiếu giống thì Bác sẽ cho cá giống. Trong lúc cá biển gặp nhiều khó khăn các chú cần đẩy mạnh nuôi cá để có thêm thức ăn bồi dưỡng sức dân“. Mùa thu năm ấy, Bác đột ngột qua đời, nhưng theo lời Bác, dịp 19/5/1970 đại diện tỉnh Quảng Bình đã đến Văn phòng Phủ Chủ tịch để nhận 1.200 con cá rô phi giống trong ao cá Bác Hồ. Đoàn xe chở cá đã vượt 500km liên tục trong 3 ngày vào đến địa phương… Năm 1979, nhân dịp kỷ niệm 10 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Bộ Thuỷ sản, Bộ Nông nghiệp và Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh đã phát động phong trào “Ao cá Bác Hồ”. Sau cuộc phát động, cá giống từ ao cá trong khu Phủ Chủ tịch được gửi cho nhiều địa phương: Thái Bình, Hải Hưng, Thanh Hoá, Hà Nội. Từ miền Bắc vào miền Nam, từ miền núi đến vùng đồng bằng, nhiều hợp tác xã đã đầu tư hàng vạn ngày công để cải tạo những ao tù, đồng cớm thành khu “Ruộng cả ao liền”, có nơi thâm canh nuôi cá như Kiến Xương, Thái Bình. Những ao cá này như những chuồng trại tự nhiên chăn nuôi loài “gia cầm” dưới nước, là cái “kho thực phẩm” ở nông thôn để giải quyết hậu cần tại chỗ ở nước ta. Riêng miền Bắc đã có khoảng 4,5 vạn héc ta diện tích ao nhỏ là mặt nước nuôi cá và cho năng suất cao. Phong trào “ao cá Bác Hồ” được phát triển rầm rộ trong cả nước, nhằm phát huy tiềm năng của loại mặt nước phong phú này.

A4Thăm ao cá Bác Hồ

Đã hơn 40 năm Bác đi xa, hàng năm ao cá của Người vẫn được tu sửa nhằm tạo cảnh quan môi trường sinh thái vừa để phục vụ khách tham quan. Việc giữ gìn và phát triển đàn cá Bác Hồ vừa có ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền với cuộc sống đời thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời, để mỗi lần vào Lăng viếng Bác, thăm Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và ngắm nhìn ao cá Bác Hồ, mỗi chúng ta như lại thấy bồi hồi xúc động nhớ Bác qua những vần thơ của Tố Hữu:

Con cá rô ơi chớ có buồn
Chiều chiều Bác vẫn gọi rô luôn
Dừa ơi cứ nở hoa đơm trái
Bác vẫn chăm tay tưới ướt bồn.

Kim Yến (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Tượng đài Hồ Chí Minh tại Hungary (Châu Âu)

Nằm cách Thủ đô Budapest chừng 220km, Zalaegerszeg là một đô thị nhỏ, thủ phủ của tỉnh Zala (khu vực Tây – tả ngạn sông Danube), được biết đến như một trong những thành phốnhiều cây xanh và hoa lá nhất của Cộng hòa Hungary. Tuy nhiên, đối với cộng đồng Việt Nam tại Hungary, thành phố  có hơn 700 năm tuổi này lại mang một ý nghĩa đặc biệt khác: Tại đây, cho đến giờ, vẫn tọa lạc một tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, có lẽ là độc nhất vô nhị trong vùng Đông – Trung Âu!

H1
Đất nước Hungary

Hồ Chủ tịch trong lòng các bạn Hungary

Tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh không hề xa lạ với người dân Hungary. Dẫn đầu phái đoàn Việt Nam trong chuyến thăm chính thức Hungary kéo dài 4 ngày vào mùa hè năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những ấn tượng và kỷ niệm sâu sắc trong lòng những bạn bè Hungary. Trong các hồi tưởng, nhiều ký giả, chính khách Hungary đã cảm nhận ở Bác hình ảnh của một nhà ái quốc vì dân vì nước, một vị hiền triết phương Đông với những tư tưởng thâm trầm.

Sự tôn trọng mà đất nước Hungary dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, thiện cảm của người dân nước này với cuộc chiến giành độc lập của Việt Nam đã khiến Hungary trở thành một người bạn thân thiết với Việt Nam trong thời gian chiến tranh. Hungary đã có những hỗ trợ đáng kể và quý báu cho miền Bắc, trong phong trào quyên góp ủng hộ Việt Nam, trong việc đào tạo nhiều thế hệ du học sinh – trong đó, có nhiều học viên quân sự – để nhiều người trong số họ trở thành các chuyên gia đầu ngành, phục vụ hiệu quả cho cuộc chiến tranh vệ quốc.

Trong những năm tháng ấy, tên của Hồ Chủ tịch đã được đặt cho Trường Cao đẳng Sư phạm ở thành phố Eger, tại nhiều vùng trên toàn quốc, những pho tượng bán thân, phù điêu mang hình Bác được đặt ở những Quảng trường, vườn hoa… Tuy nhiên, tượng đài kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thành phố Zalaegerszeg là món quà quý báu duy nhất của nhân dân Hungary đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thời gian và thời cuộc.

Để tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời của tượng đài Hồ Chí Minh cách đây hơn 3 thập niên, chúng tôi đã có dịp trao đổi với ông Hóbor József, một người bạn nhiệt thành của Việt Nam, người đã có những “hệ lụy” sâu sắc với tượng đài. Ông cho biết:

“Dạo ấy, Việt Nam rất được yêu quý ở Hungary: Một năm sau ngày thống nhất, đất nước của các bạn được coi như xứ sở được ưa chuộng nhất trong khối Xã hội chủ nghĩa. Tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đồng nghĩa với tự do, ái quốc, với sự thống nhất của những lý tưởng cánh tả và xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh đã trở thành một khái niệm, từ đó đến giờ, và ngay cả những địch thủ của ông cũng không thể nói được gì xấu về ông”.

“Cũng trong thời gian ấy, tại Xí nghiệp May ở thành phố Zalaegerszeg (gần nơi tượng đài tọa lạc), có rất nhiều phụ nữ Việt Nam làm việc. Đây có lẽ cũng là một lý do khiến thành phố quyết định dựng tượng Bác Hồ”.

Một tác phẩm lớn từ tay một điêu khắc gia lớn

Những năm 70 thế kỷ trước, Zalaegerszeg là một trong số các thành phố phát triển năng động nhất của Hungary, đồng thời, cũng là một đô thị rất để tâm đến những giá trị văn hóa. Trong khuôn viên của thành phố, có rất nhiều pho tượng giá trị và khi nảy ra ý định dựng tượng đài Hồ Chí Minh, Ban lãnh đạo thành phố cũng đã “cầu viện” tới một bậc thày trong nền điêu khắc Hungary: Ông Marton László (1925-2008).

H2
Ông Marton László

Được coi là một trong những điêu khắc gia vĩ đại nhất của Hungary trong mọi thời đại, từng được Giải Kossuth (phần thưởng cao quý bậc nhất cho những đóng góp xuất sắc trên bình diện văn hóa và nghệ thuật), Marton László là tác giả của chừng 150 pho tượng trên toàn quốc, trong số đó, có hơn 40 pho tượng đặt tại Budapest.

Các tác phẩm của ông được trưng bày tại Phòng Trưng bày Quốc gia Hungary và nhiều thành phố lớn trên thế giới, như Paris, London, Berlin, Vatican…, cũng như, trong những bộ sưu tập cá nhân của các nhân vật nổi tiếng như Hoàng đế Nhật Bản, hoặc Hoàng tử xứ Wales. Pho tượng đồng thi hào József Attila, đặt bên cạnh Nhà Quốc hội Hungary, hướng ra bờ sông Danube, là một kiệt tác nổi tiếng của ông.

Có thể đặt tượng đài Hồ Chí Minh trong loạt các tác phẩm khắc họa những danh nhân Hungary và quốc tế của Márton László. Thể hiện hình tượng Bác Hồ một cách dung dị, nhưng rất sắc nét và có hồn, mang dáng dấp một “Ông Ké Cao Bằng”, dẫn đường cho quần chúng lao khổ, nhà điêu khắc Hungary đã tránh được lối mòn của trường phái “hiện thực xã hội chủ nghĩa” thịnh hành thời ấy, với những nét khoa trương, lên gân không cần thiết.

Được khai trương đúng vào dịp kỷ niệm 1 năm Ngày Việt Nam thống nhất (30-4-1976), tượng đài Hồ Chí Minh đã đoạt giải của Bộ Văn hóa Hungary năm 1977 và trở thành một phần của nét văn hóa thành phố Zalaegerszeg. Sau khi Hungary thay đổi thể chế chính trị, nhiều pho tượng thời xã hội chủ nghĩa đã bị dẹp bỏ, nhưng đúng như nhận xét của ông Hóbor József, “bằng một cách nào đó, vẻ đẹp của bức tượng và hình tượng Hồ Chí Minh đã không cho phép người ta đụng vào tượng đài”.

Biểu tượng của tình hữu nghị Hungary – Việt Nam

Đối với cộng đồng Việt Nam tại Hungary, tượng đài Hồ Chí Minh ở thành phố Zalaegerszeg chỉ được biết đến một cách rộng rãi từ năm 2005 qua một dịp rất ngẫu nhiên và lý thú.

H3Tượng đài Hồ Chí Minh ở thành phố Zalaegerszeg

Trong lễ kỷ niệm 60 năm thoát khỏi ách phát-xít Đức (tổ chức tại Nhà Quốc hội Hungary), đã có sự hiện diện của Đại sứ Việt Nam Trần Hữu Tùng, cũng là một cựu du học sinh Việt Nam tại Hungary thập niên 60 thế kỷ trước. Ông Hóbor József hồi tưởng: “Bỏ qua mọi nghi lễ ngoại giao, tôi đã tiến đến trò chuyện với ngài đại sứ và cho ông biết rằng, tại nơi tôi ở, thành phố Zalaegerszeg, có một tượng đài Hồ Chí Minh rất đẹp, mời các bạn Việt Nam đến thăm và nhân cơ hội đó, có thể thắt chặt mối quan hệ giữa thành phố Zalaegerszeg và Việt Nam”.

Vài bữa sau, tại Ngày Thơ ca Hungary (12 tháng 4 hàng năm) tổ chức ở Zalaegerszeg, được biết Hồ Chủ tịch đồng thời cũng là một nhà thơ, ông Balogh Mikós, một chính khách Đảng Xã hội Hungary, khi ấy là nghị sĩ Quốc hội và thành viên Hội đồng thành phố, đã đến đặt hoa tại tượng đài và đọc một số thi phẩm của Bác. Thành phố Zalaegerszeg có một truyền thống đẹp là mỗi thành viên Hội đồng thành phố đều nhận phần gìn giữ, chăm sóc một pho tượng đặt tại thành phố, và ông Balogh Miklós – cũng là một người bạn Hungary có mối giao tình đẹp đẽ với Việt Nam – đã nhận phần chăm sóc tượng đài Hồ Chí Minh.

Nhờ sự tích cực của các ông Hóbor József và Balogh Miklós, cũng như của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hungary, tượng đài Hồ Chí Minh tại Zalaegerszeg đã trở thành một điểm đến hàng năm của các đoàn thể Việt Nam tại Hungary và trong nước.

Theo Tienphong.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Ấm nghĩa tình kỷ vật của Bác Hồ

Chiếc áo trấn thủ được giữ gìn suốt 57 năm, giấy chứng minh được xem là của gia bảo, quyển sách in bút tích được nghiêm cẩn bảo tồn…Tất cả những kỷ vật ấy chứa chan nghĩa tình của Bác với cán bộ, chiến sĩ, đồng bào, đồng thời tích tụ tấm lòng quý trọng, mến thương của người dân với Bác.

Ngày 31/8, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã sơ kết hai năm thực hiện cuộc vận động hiến tặng tài liệu, hiện vật về Chủ tịch Hồ Chí Minh (2010-2012) và khai mạc Triển lãm Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam trưng bày các tài liệu, hiện vật liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh do người dân hiến tặng. Mỗi hiện vật đều hàm chứa một câu chuyện cảm động về Bác Hồ và tình cảm của người dân đối với Bác.

Chiếc áo ấm lòng chiến sĩ miền Nam

Một trong những vật quý đó là chiếc áo trấn thủ Bác Hồ tặng ông Lê Thống Nhất, nguyên trinh sát đặc công Quân khu 9. Người lính già 81 tuổi, thương binh đặc biệt với tỉ lệ thương tật 91%: Chỉ còn một chân, một tay rưỡi run run chống đôi nạng kể câu chuyện về chiếc áo. Năm 1953, ông Nhứt bị thương nặng phải ra miền Bắc chữa trị. Ông Nhất kể lại: “Phần lớn thương binh miền Nam ra Bắc không chịu được cái lạnh mùa đông, càng bị thương nặng thì càng không chịu thấu. Đang giữa mùa đông lạnh cóng năm 1955, Ty Thương binh cấp cho một chiếc áo trấn thủ, nói là của Bác Hồ gửi tặng cho thương binh nặng. Cầm cái áo mà tôi xúc động, biết ơn Bác Hồ”. Dù khốn khổ với cái rét, ông Nhất vẫn không dám mặc vì sợ áo cũ. Ông chỉ dám lồng áo vào bao gối để gối đầu hàng đêm và giữ chiếc áo như một báu vật. Đến ngày tặng cho Bảo tàng, ông đã giữ chiếc áo bên mình 57 năm.

am nghia tinh ky vat cua bacÔng Lê Thống Nhất, nguyên Trinh sát đặc công Quân khu 9,
tặng Bảo tàng chiếc áo chần bông Bác Hồ tặng ông năm 1955

Có lần ông Nhất tới thăm bạn tại Trại Thương binh mắt. “Đúng hôm đó có đoàn đại biểu tới thăm. Tôi nhìn thấy một ông bác sĩ cùng đi với vài người nữa. Ông bác sĩ đi xuống nhà bếp, vào xem cả phòng vệ sinh. Tới bậc thềm nhà vệ sinh, ông chỉ chỉ gậy xuống sàn, bảo phải cọ rửa cẩn thận kẻo thương binh té ngã. Sau đó, bác sĩ vào phòng thương binh. Anh em thương binh xì xầm: “Không biết có Bác Hồ trong đoàn không?”. Lúc này ông mới tháo nón, khẩu trang và hỏi: “Đây có phải Bác Hồ không nhỉ?”. Hầu hết các thương binh đều hỏng mắt nên nghe giọng trầm ấm của Bác Hồ thì reo to: “Bác Hồ, Bác Hồ” rồi xô tới ôm chầm Bác. Nhưng do không thấy nên hầu hết các thương binh chỉ ôm chầm lấy nhau, Bác nói: “Anh em cứ ngồi ở giường, tôi sẽ đến từng giường một”. Rồi Bác đến bắt tay từng thương binh một”.

Giấy chứng minh thứ trưởng

Ngày 2-9-2010, Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh đã phát động cuộc vận động sưu tầm, hiến tặng tài liệu hiện vật về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhân dân. Sau hai năm vận động, Bảo tàng đã nhận được hơn 400 tài liệu hiện vật. Tất cả hiện vật này đang được giữ gìn và trưng bày tại Bảo tàng.

Luật sư Nguyễn Quang Thắng đã trao tặng cho Bảo tàng Giấy chứng minh bổ nhiệm thân sinh của ông làm Thứ trưởng Bộ Tư pháp do Bác Hồ đích thân đánh máy. Giấy chứng minh viết: “Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cấp giấy chứng minh này cho ông NGUYỄN VĂN HƯỞNG, Thứ trưởng Bộ Tư pháp để ông Thứ trưởng liên lạc với các cơ quan hành chính, quân sự được dễ dàng”. Bác dùng máy đánh chữ của Pháp nên không có dấu. Sau khi đánh máy xong, Bác dùng bút điền từng thanh huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng vào giấy chứng minh. Luật sư Thắng đánh giá giấy chứng minh nói lên được cách dụng người của Bác đối với nhân sĩ yêu nước – những người cộng sản ngoài Đảng. Ông Thắng xúc động: “Giấy chứng minh này là kỷ vật quý. Nó được cha tôi giữ gìn trân trọng rồi truyền lại cho tôi. Nhưng nếu chỉ để ở gia đình thì chỉ có người thân, bạn bè biết đến. Nên tôi tặng kỷ vật này lại cho Bảo tàng để tất cả mọi người đều biết”.

Tại buổi lễ, nghệ sĩ ngâm thơ Trần Thị Tuyết không ngăn được nước mắt khi ngâm lại những bài thơ đã từng biểu diễn phục vụ Bác. Bà Tuyết tặng Bảo tàng quyển sổ tay có lời Bác Hồ đề tặng viết tay: “Học tập tốt, phấn đấu tốt. Chú ý nên luyện thanh. Góp sức đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược”. Nhiều lần nghệ sĩ Tuyết ngâm thơ cho Bác nghe, lần nào bà cũng được Bác tặng quà: Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm (các kỷ vật này bà cũng tặng cho Bảo tàng) và động viên rất ân cần. “Biết đứa con trai đầu của tôi bị bại liệt, Bác luôn hỏi thăm, động viên rồi khuyên: “Dù thế nào cháu cũng phải cho bé đi học để sau này còn làm người có ích, tàn nhưng không phế!””.

TRÀ GIANG
Theo phapluattp.vn
Phương Thúy
(st)
bqllang.gov.vn

Hành trình trở về đất Mẹ của một huyền thoại

30 năm ở nước ngoài, Hồ Chí Minh đã đặt chân tới hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, tiếp xúc với nhiều luồng tư tưởng văn hóa của thế giới. Một hành trình dài và lâu kỷ lục, đem về cho dân tộc cẩm nang giải phóng đất nước và con người khỏi ách thực dân, phong kiến. Suốt hành trình đó, Người vừa đi vừa trải nghiệm, suy xét, tìm kiếm để rồi chuẩn bị cho cuộc trở về lịch sử. Ra đi đã khó nhưng trở về còn khó khăn, phức tạp hơn nhiều. Tuy nhiên Nguyễn Ái Quốc đã vượt qua và trở về như một huyền thoại.

Nghiên cứu quá trình chuẩn bị về nước của Nguyễn Ái Quốc cần phải được xem xét trong một tổng thể, một quá trình, có mối liên hệ mật thiết với nhau; phân tích đầy đủ tính khách quan, chủ quan; lý giải hợp lý bản chất lịch sử của mỗi giai đoạn mới thấy hết được những khó khăn, phức tạp và sự chuẩn bị công phu, kiên trì của Người cho chuyến trở về lịch sử. Để thực hiện được hành trình về nước, Nguyễn Ái Quốc đã phải trải qua 4 chặng đường chông gai, với những thử thách nghiệt ngã, có lúc tưởng chừng không qua nổi.


hanh trinh 1Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường đi công tác tại Tuyên Quang năm 1951

Từ Pháp sang Xô Viết

Thời kỳ hoạt động cách mạng ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, tiếp thu luận cương của Lênin, có ít nhiều kinh nghiệm hoạt động cách mạng ở Thủ đô Paris. Nhưng với chừng đó vốn kiến thức và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn mà trở về nước thì rất khó khăn. Hơn nữa, thực dân Pháp và chế độ Nam Triều không cho phép hoạt động cộng sản tại Đông Dương. Do đó Người đã quyết định sang Xô Viết – quê hương của cách mạng. Chặng đường sang Xô Viết là một quyết định sáng suốt, một bước nhảy vọt về chất trong tiến trình trở về nước của Người. Vì từ đây, Người đã có đủ điều kiện củng cố lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin từ cơ sở gốc của nó. Người đã trực tiếp trải nghiệm xã hội tốt đẹp của nước Nga Xô Viết, hoạt động trong các tổ cộng sản bằng những thực tiễn sinh động. Trong hành trang trở về nước, Người đã tích lũy rất nhiều vốn kiến thức và hoạt động thực tiễn trên quê hương Lênin.

Trở về Quảng Châu, Trung Quốc

Đầu thập niên 20 thế kỷ trước, với nhãn quan chính trị sắc bén, Nguyễn Ái Quốc quyết định trở về Quảng Châu – trung tâm cách mạng của phương Đông. Tư tưởng Tam dân của Tôn Trung Sơn kết hợp với tư tưởng Mác – Lênin hội tụ nơi mảnh đất này hứa hẹn một tương lai tươi sáng cho chuyến trở về Tổ quốc Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc nếu như không có sự phản biến của Tưởng tháng 4 năm 1927.

Tuy thời gian ở Quảng Châu không dài (từ tháng 11 năm 1924 – tháng 5 năm 1927), nhưng Nguyễn Ái Quốc đã làm được nhiều việc cho chuyến trở về nước của mình sau này. Người đã gây dựng cho Tổ quốc những hạt nhân cách mạng đầu tiên. Chính những hạt giống đỏ cách mạng này đã đơm hoa kết trái cho sự nghiệp của Người trên khắp mảnh đất hình chữ S. Ở chặng đường thứ hai này, về tinh thần Nguyễn Ái Quốc thực sự đã trở về Tổ quốc với một đội quân cách mạng có đủ tầm trí tuệ, khác xa những vị tiền bối cách mạng. Phải khẳng định rằng tư tưởng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh đã trở về Tổ quốc trước khi Người trở về.

Từ Thái Lan đến Hồng Kông

Chuyến đi về nước qua Quảng Châu bị đóng cửa, Nguyễn Ái Quốc buộc phải quay trở lại châu Âu để tìm con đường mới. Qua phân tích tình hình, Người nhận thấy, tuyến đường duy nhất có thể về nước được là Thái Lan – Malaysia – Hong Kong, đặc biệt vùng Đông Bắc Thái Lan và Trung – Trung Thượng Lào có những cơ sở cách mạng tốt. Người quyết định về Thái Lan. Tại đây, do điều kiện khách quan, Nguyễn Ái Quốc phải ẩn nấp dưới một vỏ bọc để vận động quần chúng theo cách mới, phù hợp với thực tế địa phương. Tại đây có thuận lợi là gần Tổ quốc, nên những thông tin về tình hình đất nước thông qua cộng sự của Người luôn được cập nhật sát thực tế. Năm 1929, thực dân Pháp và Nam Triều đánh hơi thấy sự có mặt của Nguyễn Ái Quốc gần biên giới Đông Dương, chúng vội vã dựng lên bức thành là án tử hình vắng mặt Nguyễn Ái Quốc. Đấy là một thách thức cực kỳ nguy hiểm cho chuyến về nước lúc đó của Người. Cuối năm 1929 đầu năm 1930, biết được sự không thống nhất của các tổ chức cộng sản trong nước, vượt qua nguy hiểm Nguyễn Ái Quốc đi Hồng Kông để tổ chức hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản. Nhờ uy tín của Người, hội nghị hợp nhất thành công như một Đại hội sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ sự kiện đó, Người trở thành lãnh tụ tối cao vĩnh viễn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lúc này, Người chưa đặt chân về Tổ quốc nhưng sự nghiệp và tư tưởng của Người đã hòa vào hồn sông núi, như một chuyến trở về thực thụ.

hanh trinh 2Bức họa Bác Hồ về đến cột mốc 108 tại Pắc Bó ngày 28.1.1941

Từ Mát-xcơ-va về Pắc Bó

Thoát khỏi ngục Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc trở về Liên Xô, do điều kiện khách quan không cho phép Người trở về Tổ quốc ngay được, mà phải chờ thời cơ mới. Giai đoạn này, Người phải trải qua những thử thách cam go, đầy biến động bi hùng, kiên trì, nhẫn nại vượt qua để giữ mình, vững tin ở sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộcViệt Nam. Nghị lực và vận hội đã chiến thắng, khẳng định chân lý vĩ nhân là người biết chuyển họa thành may, chuyển bại thành thắng. Tranh thủ thời gian tĩnh để nghiên cứu, học tập, tiếp thu kiến thức mới, học hỏi kinh nghiệm xương máu ngay ở những người bạn, những người đồng chí, tất cả dồn cho ngày trở về Tổ quốc trong một tư thế mới, vận hội mới.

Tháng 9 năm 1939, tình hình thế giới và ở Việt Nam có nhiều biến động, đặc biệt là tình hình cách mạng Việt Nam, nội tình Đảng Cộng sản Đông Dương rất cần Nguyễn Ái Quốc, Quốc tế Cộng sản chấp nhận cho phép Người về nước. Từ tháng 9 năm 1939 – tháng 1 năm 1941, vượt hàng nghìn cây số, trải bao nguy hiểm, khó khăn, Nguyễn Ái Quốc mới đặt chân nơi cột mốc 108 biên giới Việt – Trung tại tỉnh Cao Bằng.

Người đã đi đến nơi, về đến chốn, trọn vẹn một hành trình, tìm được cái cần tìm, về đến nơi cần về. Lịch sử dân tộc Việt Nam ghi nhận chuyến trở về của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là một mốc son sáng chói ghi tạc vào không gian, thời gian một sự kiện vĩ đại.

Sự trở về của Người, xét trong cả quá trình, là bàn đạp xoay chuyển về chất, mở ra những chân trời mới cho sự nghiệp, cuộc đời Người và lớn lao hơn là dẫn dắt đường đi cho dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên Độc lập – tự do. Muôn đời sau còn kể mãi chuyến trở về vĩ đại của vĩ nhân Hồ Chí Minh tại quê hương Cao Bằng.

Ngay sau khi Bác về nước, ngày 19/5/1941, giữa vùng núi rừng Pắc Bó, theo sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Mặt trận Việt Minh ra đời giữa lúc nhân dân Việt Nam đang rên xiết trong cảnh một cổ hai tròng, vận mệnh dân tộc đang trong cảnh nước sôi lửa bỏng. Với một quyết tâm được xác định rõ trong chương trình của mình “làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, làm cho dân Việt Nam được sung sướng tự do”, Mặt trận Việt Minh đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Mặt trận Việt Minh chính là sợi dây nối liền chặt chẽ Dân – Đảng, Đảng – Dân, để ý Đảng thấm tới lòng dân, tạo ra khả năng cho Đảng có thể phát động một cuộc Tổng khởi nghĩa toàn dân trên địa bàn cả nước.

Công Thành
Theo http://daibieunhandan.vn
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Một lần được chụp ảnh với Bác Hồ

Sau cần lái máy bay, phi công Trần Văn Đông đã có gần 3000 giờ bay “cưỡi mây, vượt gió”. Mấy chục năm cầm lái, nhưng với ông hạnh phúc nhất là khoảng thời gian 3 năm lái chuyên cơ phục vụ Bác Hồ.

Sinh năm 1935 tại Hưng Hòa, Hưng Nguyên, Nghệ An, 18 tuổi chàng thanh niên Trần Văn Đông vào bộ đội và được biên chế về Đại đội 910, Tiểu đoàn 351, Trung đoàn 52, Sư đoàn 320. Tháng 2 năm 1956, từ Trường Văn hóa Kiến An, Hải Phòng, Trần Văn Đông cùng với 17 học viên khác được cử đi học lái máy bay tại Trường Không quân số 2 ở thành phố Trường Xuân, tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc. Về nước đúng lúc Trung đoàn Không quân vận tải 919 thành lập (1-5-1959), cũng thời điểm đó Liên Xô tặng cho ta hai chiếc máy bay IL14. Trần Văn Đông được chọn vào tổ bay lái hai chiếc máy bay này.

Máy bay IL14 là máy bay quân sự nhưng thời gian đầu, do có Hiệp định Giơ-ne-vơ nên ta cải trang chúng thành những chiếc máy bay dân dụng vận chuyển hành khách. Tổ bay là bộ đội nhưng mang mặc dân sự có nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa, các thành viên của Ủy ban Quốc tế đi giám sát đình chiến… Một điều đặc biệt là từ năm 1960 đến 1963, phi công Trần Văn Đông được giao nhiệm vụ cùng với tổ bay lái chiếc IL14 số hiệu 58482 chuyên chở Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đi công tác. Những ngày tháng phục vụ Bác, phi công Trần Văn Đông có khá nhiều kỷ niệm với Người. Và câu chuyện được cùng Người chụp ảnh lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất khiến ông “sung sướng” mãi đến hôm nay.


mot lan duco chup anh voi Bác HoPhi công Trần Văn Đông (người đứng phía sau, bên trái Bác Hồ)

Chuyện là, tháng 3 năm 1963, sau khi tổ bay của Trần Văn Đông đón Bác từ Bắc Kinh về đến sân bay Gia Lâm, Bác nói: “Bác cháu ta đi công tác với nhau nhiều lần, hôm nay Bác định chụp chung với các cháu một bức ảnh để làm kỷ niệm, các cháu có đồng ý không?”. Đây vốn là mong ước ấp ủ rất lâu của tổ bay nhưng chưa ai dám đề đạt với Bác cả. Nhanh miệng, phi công Trần Văn Đông nói: “Chúng cháu muốn lắm nhưng không dám thưa với Bác”. Người phê bình hóm hỉnh: “Muốn mà không nói thì làm sao Bác biết được. Hôm nay Bác gãi đúng chỗ ngứa của các cháu rồi”. Kể đến đây, ông Đông chỉ lên bức ảnh giới thiệu cho chúng tôi tên của những người trong ảnh. Thật lạ lại có một em bé đứng ngay cạnh Bác. Giải thích cho thắc mắc đó của chúng tôi về em bé trong ảnh, ông nói: “Đó là con một đồng chí làm việc ở ga hàng không sân bay Gia Lâm. Lúc chúng tôi chụp ảnh em bé chạy qua tôi gọi lại và xin phép Bác cho em bé đứng vào hàng. Bác mỉm cười đặt tay lên vai em bé”. Đơn giản vậy thôi nhưng điều đó cũng khiến Trần Văn Đông và cả tổ bay càng thêm kính phục tác phong giản dị và gần gũi của Người.

Sau lần được chụp ảnh đó, phi công Trần Văn Đông không được cùng đi với Bác chuyến nào nữa. Ông chuyển sang lái chiếc IL14 khác. Vì sau này, khi Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, Không quân của ta được Liên Xô cung cấp thêm một số chiếc IL14 nữa. Những chiếc máy bay này không cần phải ngụy trang như trước. Họ được giao nhiệm vụ quân sự là vận chuyển vũ khí, quân trang, đạn dược chi viện cho miền Nam qua các sân bay căn cứ rồi sau đó vận chuyển bằng đường bộ vào chiến trường. Ông Đông tâm sự: “Dù không tiếp tục phục vụ Bác, nhưng tôi đã học được ở Người nhiều đức tính đáng quý. Ở vị trí nào tôi cũng nhớ lời Người dặn chúng tôi, đó là trung thực và hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Những bài học, những câu chuyện khi được ở cùng Người có thể “thất lạc” theo thời gian và tuổi tác của những người trong cuộc. Song với phi công Trần Văn Đông, thì một lần được chụp ảnh cùng Bác mãi mãi là kỷ niệm, là dấu ấn không bao giờ quên trong cuộc đời của một người lính bay.

Trang Thanh – Văn Phú
Theo http://www.qdnd.vn
Thu Hiền
(st)
bqllang.gov.vn

Cố họa sĩ Mai Thứ và những thước phim quý giá về Bác Hồ

Có một Việt kiều Pháp từng theo dấu chân Chủ tịch Hồ Chí Minh ròng rã suốt 3 tháng trời để quay những thước phim tư liệu quý giá khi Người tới thăm chính thức nước Cộng hòa Pháp năm 1946.

7Co hoa si Mai Van Thu 1Hình ảnh Bác Hồ nói chuyện với các thanh niên dân chủ Pháp tại Paris, 1946
đã được họa sĩ Mai Trung Thứ lưu lại

Người sáng lập Hãng phim Tân Việt 

Họa sĩ Mai Trung Thứ sinh năm 1906 tại thôn Do Nha (Ro Nha), xã Tân Tiến, huyện An Dương, tỉnh Kiến An (cũ) nay là xã Tân Tiến, huyện An Dương, Hải Phòng. Ông cùng thời với Nguyễn Phan Chánh, Lê Văn Đệ, Lê Phổ, Nguyễn Cao Luyện, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí… thuộc khóa đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Bạn bè quen gọi ông là Mai Thứ, sau này, cái tên đó đã trở thành bút hiệu của ông trong suốt cuộc đời nghệ thuật. Từng có thời gian vào Huế dạy học, nhân có một cuộc triển lãm tại Pháp, ông đã sang dự rồi quyết định tu nghiệp và định cư luôn tại nước Pháp.

Dù hơn nửa cuộc đời sống xa Việt Nam nhưng Mai Trung Thứ đã làm hết sức những gì có thể cho sự phát triển của nền văn hóa nghệ thuật quê nhà. Ngoài những cống hiến cho nền hội họa Việt Nam, Mai Trung Thứ còn có nhiều đóng góp quý báu cho nền điện ảnh Việt Nam. Bên cạnh niềm đam mê hội họa, ông còn dành sự quan tâm trong lĩnh vực điện ảnh. Ông đã tự học kỹ thuật điện ảnh, tự sắm máy quay phim, tự sản xuất phim. Năm 1946, ông gửi về nước bộ phim tài liệu với nhan đề “Sức sống của 25.000 Việt kiều tại Pháp” do chính ông đứng tên hãng sản xuất là Tân Việt. Bộ phim sau đó được chiếu rộng rãi tại các rạp ở Hà Nội.

Cố họa sĩ Mai Trung Thứ tại phòng tranh của mình – Vanves Pháp, 1964

Và những thước phim quý giá

Mặc dù sống xa quê hương, song tấm lòng ông luôn hướng về Tổ quốc. Năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp, mặc dù điều kiện kỹ thuật lúc bấy giờ còn nhiều khó khăn, nhưng ông đã quay được toàn bộ các hoạt động của Bác từ khi Người đặt chân xuống sân bay Biarritz ở Tây Nam nước Pháp cho đến khi Người rời đất Pháp tại bến cảng Toulon trên bờ Địa Trung Hải, ngày 18-9-1946. Máy quay của  ông đã ghi rất nhiều hình ảnh của Bác Hồ trên đất Pháp, những hoạt động ngoại giao chính thức và những cảnh sinh hoạt ngày thường của Người: Tiếp các chính khách nước ngoài; gặp gỡ Việt kiều và những bạn bè quốc tế quen biết Người hơn 20 năm trước; đi thăm địa phương, cơ sở kinh tế, văn hoá, di tích lịch sử; đọc sách, xem biểu diễn nghệ thuật; đi dạo trên bãi biển; ngồi chơi trên bãi cỏ trong vườn Bulônhơ; nằm nghỉ trong vườn nhà ông bà Ôbrắc, Uỷ viên Cộng hoà Pháp, ở ngoại ô Paris…

Đáng nhớ nhất là những buổi Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ, nói chuyện với Việt kiều tại Hội trường Mutualiste. Đây là một hội trường lớn trong khu phố Môbe, rất thân thiết với người Việt Nam định cư ở Paris, là nơi diễn ra những buổi liên hoan vào dịp Tết, những cuộc gặp mặt, hội họp, mít tinh, biểu diễn nghệ thuật của Việt kiều. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Việt kiều, thông báo tình hình trong nước và căn dặn bà con đoàn kết, hướng về Tổ quốc và mỗi người cố học lấy một nghề. Bộ phim đã ghi lại nhiều hình ảnh của Bác Hồ trong các hoạt động chính thức cũng như các sinh hoạt thường ngày và trong các buổi tiếp xúc với Việt kiều. Ông cũng ghi lại được tiếng nói của Bác Hồ trên đĩa nhựa. Trong bộ phim này, ông đã ghi được một số hoạt động của đoàn đàm phán Việt Nam tại Hội nghị Foutainebleau do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu…

Toàn bộ hơn 1 tạ phim và 11 chiếc đĩa nhựa ghi lại tiếng nói của Hồ Chủ tịch đã được họa sĩ trao tặng lại cho Nhà nước ta. Ông cũng là người đã bỏ nhiều công sưu tầm lại những thước phim quý giá do người Pháp quay Ngày Tuyên bố Độc lập 2-9-1945 và dựng lại thành một bộ phim tài liệu chiếu cho bà con kiều bào xem. Nhờ sự giúp đỡ của nhà điện ảnh Hà Lan Giô rít  I-Ven, những thước phim quay Lễ Tuyên bố Độc lập 2-9-1945 ở Quảng trường Ba Đình đã được tìm thấy tại nhà một người Pháp ở Paris. Cuối phim, có chữ ký MAI THU, giống với chữ ký của ông Mai Trung Thứ trên các tranh lụa của ông. Chính những tư liệu quý giá đó đã được đồng chí Trường Chinh chỉ đạo dựng ngay thành bộ phim tài liệu lịch sử “Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh” phát rộng rãi cho khán giả xem vào dịp 2-9-1975.

Những đóng góp của cố họa sĩ Mai Trung Thứ cho nền điện ảnh tài liệu nước nhà vô cùng to lớn. Có thể ví ông như chiếc cầu nối văn hóa, lịch sử với những Việt kiều xa quê với đất nước. Mặc dù, tên tuổi của ông ít được biết đến trong nước nhưng những cống hiến của ông là không thể phủ nhận và cần được ghi nhận, tôn vinh xứng đáng của Đảng và Nhà nước./.

Theo Đỗ Nguyễn/An ninh Thủ đô
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Kỷ niệm về Bác Hồ của nhạc sĩ Trần Hoàn

tran hoanBác Hồ và cán bộ công nhân viên Văn phòng Phủ Chủ tịch nghe nghệ sĩ Trần Thị Tuyết
ngâm thơ nhân dịp Tết Nguyên đán năm 1963. Ảnh: Tư liệu

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, ông Trần Hoàn không có hạnh phúc được sống và làm việc gần gũi với Hồ Chủ tịch, nhưng trong sáng tác âm nhạc, ông lại có những nhạc phẩm để đời viết về Bác: “Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm”, “Lời Bác dặn trước lúc đi xa”, “Kể chuyện cây xanh bốn mùa”, “Thăm bến Nhà Rồng”…

Theo tài liệu mà hiện nay bà Nguyễn Thị Thanh Hồng, người vợ của ông, còn giữ lại thì lần đầu tiên ông được gặp Bác là lần Bác đến thăm lớp cán bộ chuẩn bị cho việc tiếp quản thành phố Hải Phòng tại Hà Nội vào đầu năm 1955. Ông nói vui: Bác đến “bất chợt” và đi cũng “bất ngờ”, làm những kẻ “ranh ma” như ông cũng không đoán trước được. Bác đi rồi mới ngẩn ngơ luyến tiếc.

Lần thứ hai, Bác đến thăm thành phố cảng sau khi tiếp quản, khoảng giữa năm 1955. Lần này, ông được ngắm nhìn Người gần hơn, kỹ hơn và vinh dự được Người hỏi thăm về công tác được giao phụ trách, được Người ân cần chỉ bảo. Đó là lần ông có dịp ngồi gần Bác nhất, có dịp ngắm nhìn Bác lâu nhất.

Hình ảnh của Bác lúc nào cũng vẹn nguyên trong trái tim ông, người cha già giản dị, nhanh nhẹn cả trong bước đi, trong lời nói, đặc biệt là đôi mắt của Bác rất sáng, nhưng lại hiền từ. Ông còn vinh dự được gặp Bác một lần nữa tại Hội nghị văn hóa toàn quốc. Nhưng lần này, Người đến thăm và phát biểu ý kiến cũng nhanh gọn, chợt đến, chợt đi như lần trước.

Trong số những tài liệu mà ông để lại, có tài liệu ông viết “về hình tượng Bác Hồ trong sáng tác của tôi”, ông có tâm sự: Là nhạc sĩ, ai cũng muốn viết về Bác và viết hay, nhưng ai cũng lo lắng, vì thân thế, sự nghiệp, đức hạnh, tài năng của Bác quá lớn, mà sức suy tư của mình quá nhỏ… Ông viết bài hát về Bác từ năm 1965, bài hát “Lời Bác là lời nước non”, nhưng bài hát không có sức sống lâu bền.

Năm 1970, khi ra miền Bắc chữa bệnh, được nghe các bài hát “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” của Trần Kiết Tường, “Trông cây lại nhớ đến Người” của Đỗ Nhuận, “Người là niềm tin tất thắng” của Chu Minh, ông rất khâm phục. Ông nghiệm thấy mình chưa có ngôn ngữ thích hợp, và chưa có cảm xúc thực. Ông nhận ra rằng, mình phải nói được ngôn ngữ của nhân dân, vì Bác là nhân dân, Bác bình dị như một công dân bình thường…

Khi trở lại chiến trường, ông viết bài: “Em thương người trong Huế đấu tranh”. Tác phẩm đã “ló” ra được ngôn ngữ thể hiện phù hợp, nhưng vẫn chưa đọng lại lâu bền trong lòng người nghe.

Phải đến khi nước nhà thống nhất, được ra Hà Nội làm việc (1983), có điều kiện vào Lăng viếng Bác, thăm nhà sàn, thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh, được thăm các di tích về Bác ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, về Nam Đàn (Nghệ An)…, được gặp gỡ và nghe các ông Vũ Kỳ, Cù Văn Chước – là những người trực tiếp phục vụ Bác – kể chuyện về Người cùng các ông đi trên con đường cây xanh bốn mùa ở Khu Di tích, đi lại những nơi đã từng in dấu chân Người, mang hơi ấm của Người, được ông Bùi Đình Hạc cho xem các thước phim về cảnh sinh hoạt của Người ở chiến khu, Bác thích đánh bóng chuyền, Bác tắm giặt ở suối, tắm xong Bác tiếp tục đi, vừa đi vừa giơ cao cây gậy mắc chiếc áo mới giặt để phơi nắng, đón gió cho chóng khô… Những hình ảnh cực kỳ chân thật và gây xúc động nhiều cho ông.

Thế rồi từ những thực tế sinh động đó, từ cảm xúc và tình cảm được hun đúc từ thực tế đó, ông lần lượt cho ra đời các bài “Lời Bác dặn trước lúc đi xa”, “Thăm bến Nhà Rồng”. Ông sử dụng lời kể để viết những bài hát về Bác Hồ. Theo môtíp những người ca sĩ đường phố trong phim thần thoại của Liên Xô cầm đàn đi hát rong kể chuyện về đất nước, về những người anh hùng của dân tộc mình…

Những câu chuyện mà ông kể về Bác Hồ không phải là lãnh tụ, người anh hùng, nhà văn hóa lớn, mà là một người công dân Việt Nam bình thường, một người cha, người anh gần gũi dung dị, một trái tim yêu nước và thương dân nồng nàn.

Ông dùng âm hưởng âm nhạc dân gian xứ Nghệ để kể lại câu chuyện bình dị, gần gũi đời thường của Người, nên những bài hát này đã đọng lại trong lòng người nghe và có lẽ sẽ trường tồn cùng năm tháng.

Theo Laodong.com.vn
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Đông Dương – (4-1921)

Tuy rằng Quốc tế Cộng sản đã làm cho vấn đề thuộc địa có được tầm quan trọng xứng đáng với nó bằng cách coi nó là thuộc về những vấn đề thời sự khẩn trương nhất, nhưng trong thực tiễn, các ban thuộc địa ở các cường quốc thực dân, cho đến nay, vẫn chưa quan tâm đến vấn đề này, thậm chí các ban này cũng chưa xem xét vấn đề một cách nghiêm túc!

Sự không hoạt động này thật đáng ngạc nhiên, nhất là khi không còn sự tranh cãi nội bộ trong đảng đã được thanh trừ, và đáng ngạc nhiên khi vấn đề tuyển mộ người thuộc địa lại được chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc của chính quốc nghiên cứu ráo riết. Sự không hoạt động này có lẽ do các đồng chí chúng ta không hiểu biết tình hình chính xác của những xứ bị áp bức. Do vậy, tôi thấy có ích, nếu phác hoạ ngắn gọn ở đây tình hình của một trong những thuộc địa lớn nhất của nước Pháp, là Đông Dương.

Nói rằng Đông Dương gồm hai mươi triệu người bị bóc lột, hiện nay đã chín muồi cho một cuộc cách mạng là sai, nhưng nói rằng Đông Dương không muốn cách mạng và bằng lòng với chế độ bây giờ như các ông chủ của chúng ta thường vẫn nghĩ như thế, thì lại càng sai hơn nữa. Sự thật là người Đông Dương không có một phương tiện hành động và học tập nào hết. Báo chí, hội họp, lập hội, đi lại đều bị cấm… Việc có những báo hoặc tạp chí mang tư tưởng tiến bộ một chút hoặc có một tờ báo của giai cấp công nhân Pháp là một tội nặng. Rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu dân của chính phủ. Máy chém và nhà tù làm nốt phần còn lại.

Bị đầu độc cả về tinh thần lẫn về thể xác, bị bịt mồm và bị giam hãm, người ta có thể tưởng rằng cái bầy người ấy cứ mãi mãi bị dùng làm đồ để tế cái ông thần tư bản, rằng bầy người đó không sống nữa, không suy nghĩ nữa và là vô dụng trong việc cải tạo xã hội. Không: người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương. Luồng gió từ nước Nga thợ thuyền, từ Trung Quốc cách mạng hoặc từ ấn Độ chiến đấu đang thổi đến giải độc cho người Đông Dương. Người Đông Dương không được học, đúng thế, bằng sách vở và bằng diễn vǎn, nhưng người Đông Dương nhận sự giáo dục bằng cách khác. Đau khổ, nghèo đói và sự đàn áp tàn bạo là những người thầy duy nhất của họ. Nếu những người xã hội chủ nghĩa lơ là việc giáo dục, thì giai cấp tư sản thực dân và bản xứ – bọn quan lại – cứ phụ trách giáo dục bằng phương pháp của chúng. Người Đông Dương tiến bộ một cách rất màu nhiệm và khi thời cơ cho phép họ sẽ biết tỏ ra xứng đáng với những người thầy của họ. Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến.

Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi.

Nguyễn Ái Quốc

Tạp chí La Revue Communiste, số 14, tháng 4-1921.
cpv.org.vn