Hồi ấy, tôi và nhà thơ Xuân Hoàng được Hội Nhà văn cho về thâm nhập thực tế ở vùng Quảng Bình – Vĩnh Linh. Lúc này vợ con chúng tôi đều ở Quảng Bình.
Khi Mỹ ném bom, bắn phá ác liệt ở vùng Quảng Bình, Vĩnh Linh, thì tôi được Hội triệu tập ra trại sáng tác Quảng Bá, Hà Nội.
Nhà văn Trần Công Tấn và con gái Thúy Vinh ở Hà Nội.
Ra dự trại có Thu Bồn, Liên Nam, Anh Đặng… Ngồi viết sách nhưng thỉnh thoảng chạy ra hầm hố ẩn nấp khi nghe loa phóng thanh báo có máy bay địch hướng về Hà Nội. Mỗi lần như thế, Thu Bồn và tôi đội mũ sắt, đeo súng ngắn vào hông, sẵn sàng nếu bộ đội phòng không bắn rơi máy bay thì hai đứa tôi lao theo dân quân đi bắt giặc lái Mỹ.
Đứng trên bờ đê Yên Phụ – Nhật Tân, chúng tôi thấy rõ tên lửa bay, máy bay Mỹ bị nổ tung giữa bầu trời. Mọi người vỗ tay reo hò, vui mừng như trẻ con rồi lao ra bãi sông Hồng, đi bắt giặc lái.
Nhưng những ngày vui đó cũng chóng qua do Mỹ ngày càng đánh phá ác liệt hơn. Năm 1971, Hội Nhà văn sơ tán vào Bến Đục. Trại viết văn chấm dứt. Thu Bồn, Liên Nam chuẩn bị theo Văn nghệ quân đội đi sơ tán. Tôi chuẩn bị đạp xe về Quảng Bình thì vợ tôi – cô giáo Phan Thị Bích An bất ngờ đem hai con gái nhỏ: Trần Thị Ngọc Lan mới tám tuổi và Trần Thúy Vinh hai tuổi ra Hà Nội giao cho tôi và nói: “Tỉnh ủy chủ trương tất cả đảng viên cho con nhỏ đi sơ tán ra các tỉnh phía Bắc, rồi trở về mà đánh giặc. Giáo viên thì đào hầm, đưa trường lớp xuống dưới lòng đất mà dạy. Còn vài ba học sinh cũng phải bám trụ mà dạy”.
Nói rồi, Bích An ôm con nhỏ, ngủ lại một đêm. Sáng hôm sau dậy sớm, rón rén ôm hôn con rồi trở về Quảng Bình.
Mọi người đi hết, tôi cảm thấy bơ vơ. Cháu Vinh lại ốm, nằm một chỗ. Nghe còi báo động máy bay, tôi ôm con nhỏ, dắt con lớn chạy xuống hầm.
Thu Bồn nhìn cha con tôi, ái ngại nói:
– Tấn đừng lo. Mình sẽ ở lại với cha con cậu.
Ngày ngày, Thu Bồn vác súng hơi đi quanh vùng Nhật Tân – Quảng Bá bắn chim. Chim gì cũng bắn: Chào mào, họa mi, sáo sậu, cu gáy, cà cưỡng… miễn là có chim đem về lấy thịt nuôi cháu Vinh.
Anh Chế Lan Viên và Nguyễn Tuân lên thấy Vinh ốm, Chế Lan Viên đi bắt cóc về làm thịt, băm viên, nấu cháo đỗ xanh cho Vinh ăn. Anh Tuân nói: “Tấn là “nhà quân sự”, ông không thấy Quảng Bá nằm cạnh con đê và cây cầu bắc qua sông Hồng. Mỹ nó đang nhằm ném bom cho vỡ đê, sập cầu. Phải đưa con đi chỗ khác”. Nói rồi anh móc túi cho hai chục đồng, dặn: “Cầm lấy mua thức ăn nuôi cháu”. Anh còn rỉ tai: “Này này. Mua cá mè của bọn câu trộm ở hồ Quảng Bá, Hồ Tây thì rẻ hơn cá ở chợ”…
Tôi nghe anh Tuân, đem con về sơ tán giữa… trung tâm Hà Nội. Ở nhờ căn hộ của nhà văn Hoàng Lại Giang và nhà thơ Lữ Huy Nguyên tại 52 Trần Nhân Tông.
Giang và Nguyên lấy sách xếp chồng lên cái bàn viết. Chất sách cao hai bên bàn làm cái hầm cho ba cha con ẩn nấp khi máy bay Mỹ đến.
Cả xóm Trần Nhân Tông đông vui thế đi sơ tán hết chỉ còn mấy người ở lại: Giang và Nguyên, bà Lê bán cháo gà, cô Quy uốn tóc, bà Tiệp hàng xén và ba bố con tôi. Sống tạm ổn vì có người chung quanh được mấy ngày thì Giang và Nguyên đi thực tế vào chiến trường miền Nam. Lúc địch ném bom trúng ga Hàng Cỏ thì cả xóm đi hết không còn ai. Trước khi sơ tán, bà Tiệp nói: “Anh là nhà văn, nhà báo thì ở lại cùng đánh Mỹ mà viết lách. Cứ giao hai cháu Lan, Vinh đi sơ tán với chúng tôi”. Cô Quy và bà Lê cũng muốn đưa hai con của tôi theo nhưng các cháu khóc, không muốn xa bố.
Anh Nguyễn Đình Thi, Chủ tịch Hội Nhà văn biết tin, đến thăm. Anh nói sẽ cho xe Hội Nhà văn đến đón ba bố con đi Bến Đục. Tôi thưa rằng cha con tôi cần ở lại Hà Nội, tìm xe quân sự của Đoàn 559 để về lại Quảng Bình. Anh lắng nghe tôi nêu đủ lý do để ở lại Hà Nội nhưng vẫn khuyên tôi nên đem hai con đi sơ tán. Anh nói rằng sắp đến Mỹ sẽ dùng máy bay B52 ném bom rải thảm hủy diệt Hà Nội… Tôi nói, ở giữa Hà Nội như thế này là an toàn lắm rồi, vẫn chưa ác liệt bằng lúc tôi ở Quảng Bình.
Biết tôi không thể rời Hà Nội, anh Thi nói:
– Thôi được, nếu ở lại thì ở Hội Nhà văn có cái hầm ẩn nấp tốt. Tấn đem các cháu đến đó mà tránh bom ít hôm…
Sau đó là vào những ngày ác liệt trong mười hai ngày đêm tháng Chạp năm 1972 bám trụ Hà Nội trong cái hầm sách ở 52 Trần Nhân Tông. Cha con chúng tôi vẫn sống trong sự đùm bọc của người Hà Nội.
Vợ chồng các nhà văn Nguyễn Anh Tài, Văn Linh mang đến cho chúng tôi bánh mì khô (bít cốt) tem phiếu để mua gạo, đậu phụ và cá thịt. Anh Chế Lan Viên, Bùi Hiển thì cho tiền. Thu Bồn từ chỗ Văn nghệ quân đội số 4 Lý Nam Đế mang đến cho một thùng lương khô…
Bà Tiệp, bà Lê, cô Quy vài ba bữa ở nơi sơ tán đem về cho chúng tôi quả bầu, quả bí, ít khoai lang và thức ăn.
Tôi nhớ có ông già tổ trưởng dân phố tên là bác Mai. Bác mặc sơ mi, quần tít-xo màu mỡ gà, là thẳng tắp. Tay chống gậy “ba toong” đến gặp tôi. Bác lễ phép cất cái mũ phớt khỏi mái đầu bạc ra vẻ chào, giương mục kỉnh ái ngại nhìn tôi và nói:
– Bố con anh là người ngụ cư bất ngờ, cho nên tôi không thể buộc anh mang các cháu đi sơ tán như các vị khác trong phố này. Nhưng cảm phiền anh: Đầu hôm anh cho biết ba bố con có ở lại đêm không. Nhỡ nó bom sập nhà, biết có người đang ở trong nhà để cho dân quân tự vệ đến đào bới mà cấp cứu.
Nói xong bác Mai lại chống gậy đến nhà khác. Từ đó, cứ đầu hôm bác đến gặp tôi. Mở sổ tay bác ghi nắn nót tên tôi và hai cháu. Đêm lại còi báo động, súng cao xạ, tên lửa rực trời. Tiếng bom nổ chỗ này, chỗ khác.
Rạng sáng bác Mai đến ngoài ngõ hỏi chõ vào: “Anh Tấn ơi! Vẫn còn ở đấy chứ”. Tôi vui mừng báo: “Ba bố con tôi vẫn bình yên, bác Mai ạ”. Bác cười, lọc cọc chống gậy đi.
Có hôm bác hỏi xong, lại nói: “Anh ra tôi bảo cái này”. Tôi chạy ra, bác trao cho gói xôi nóng, nói: “Đem vào cho hai cháu”. Cứ như vậy. Lúc thì gói xôi, lúc ổ mì, lúc mấy củ khoai luộc. Bác góp phần nuôi bố con tôi.
![]() |
| Tác giả (bên trái) khai thác phi công Lô-chát Hây-đơ lái máy bay F4H bị bắn rơi tại Thác Cóc, Quảng Bình ngày 9-3-1965. Ảnh do tác giả cung cấp |
Tôi nhớ cái đêm kinh hoàng, giặc Mỹ đưa máy bay B52 đến ném bom Hà Nội. Chỗ chúng tôi ở rất gần phố Khâm Thiên, ga Hàng Cỏ, Bệnh viện Bạch Mai. Bom nổ, tiếng đạn cao xạ, tên lửa bắn đuổi máy bay, bầu trời Hà Nội đỏ rực như máu. Đêm cuối năm trời rét dữ, tôi lấy tất cả chăn gối của nhà Lại Giang, Lữ Huy Nguyên ủ ấm cho hai con rồi ra ngoài trời nhìn. Bom nổ rền bốn bên. Tên lửa vạch những đường đỏ rực bay lên. Máy bay B52 bị trúng đạn, bùng cháy, những khối lửa rơi lả tả. Tiếng reo hò của những người còn ở lại Hà Nội vang rền cả phố hoan hô bộ đội tên lửa và cao xạ. Chốc sau có tiếng chân người hối hả chạy qua nhà tôi, bắc loa gọi cả xóm đến Khâm Thiên cứu người bị sập hầm. Tôi đội cái mũ sắt, đeo súng ngắn vào và dặn con gái lớn: “Lan ở nhà trông em để ba đi cứu người”.
Băng qua đường sắt chạy vào đầu phố Khâm Thiên đã thấy lố nhố bộ đội, tự vệ, dân quân, thanh niên xung phong tay xẻng, tay cuốc đang hối hả đào bới những căn hầm bị sập. Một số bác sĩ, y tá đang băng bó cho người bị thương. Một số bộ đội và dân phố đang khiêng những tử thi ra khỏi đống gạch ngói đổ nát. Tôi đã nhận ra các nhà văn bám trụ Hà Nội cũng trong số người đào bới hầm sập. Anh Nguyễn Tuân, Thu Bồn đội mũ sắt. Chị Giên Phôn-đa, diễn viên điện ảnh Mỹ đang đưa máy lên ghi hình… chẳng ai nói với ai lời nào, chỉ nghe tiếng thở hổn hển và tiếng đất đá cuốc xẻng chạm nhau.
Cứ thế, mọi người miệt mài hối hả đào bới hết nhà này sang nhà khác trong lúc bom đạn và tiếng máy bay rền trời.
Trời rạng dần, máy bay địch đã mất hút. Sực nhớ đến hai con, tôi chạy về phố Trần Nhân Tông, vào nhà kêu tên con, chẳng có tiếng trả lời. Căn hầm sách chỉ còn chăn gối. Hốt hoảng, tôi đi tìm quanh nhà bà Lê, bà Tiệp, cô Quy vẫn trống vắng.
Một anh tự vệ nói: “Ra hồ Ha Le. Người chết, người bị thương, người lạc vô thừa nhận đều tập trung cả ngoài ấy”.
Tôi chạy quanh hồ Thuyền Quang, chỗ trước Đại sứ quán Lào, có mấy cái xác chết. Mấy người bị thương đang được băng bó và lố nhố dăm bảy đứa trẻ con. Tôi chạy ào đến thì hai con tôi trong đám xác chết và bị thương bước ra. Vinh khóc khản cả tiếng. Lan kêu: “Ba ơi! Ba ơi! Ba đi đâu mà lâu thế?”. Tôi ôm lấy hai con. Áo cả hai đứa đều lấm máu. Tôi sờ khắp người con xem chúng bị thương ở đâu. Chẳng có vết thương nào cả. Lan nói: “Ông Mai đến không thấy ba. Ông bảo mấy cô mấy chú bế con ra đây ngồi một chỗ với các bạn khác!”.
Tôi hiểu bác Mai tổ trưởng đã chăm sóc trẻ vắng bố mẹ bằng cách này. Hỏi Lan có đói không? Khát không? Lan nói: “Các cô các chú cho ăn cho uống rồi”. Tôi thầm biết ơn các cô chú y tế, dân quân tự vệ rồi xưng tên là bố của hai cháu và xin mang con về. Tôi phải ký vào cuốn sổ của cô giữ trẻ mới được bế Vinh và dắt Lan ra khỏi đám người chết, người bị thương ở bên bờ hồ Ha Le.
Bom đạn ác liệt đến thế, người Hà Nội vẫn bình tĩnh gan lì chiến đấu và chăm sóc nhau.
Trên đường trở về phố Trần Nhân Tông, tôi lắng nghe tin chiến thắng đêm qua vang lên trên các loa phóng thanh. Các em bé bán báo ôm những xấp báo lớn, cầm trên tay tờ báo đã mở, giơ lên vẫy vẫy vừa chạy vừa reo:
– Báo mới đây. Ta đã bắn rơi nhiều máy bay B52 của giặc Mỹ, bắt sống cả bầy giặc lái dẫn về nhốt chật trại giam… Báo mới đây!
Sau tin chiến thắng là bài ca “Người Hà Nội” bi tráng vang lên trên các loa phóng thanh:
Đây hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây
Đây lắng hồn núi sông ngàn năm
Đây Thăng Long
Đây Đông Đô
Đây Hà Nội, Hà Nội mến yêu…
Giờ đây hai con tôi ở Hà Nội năm ấy đã trưởng thành: Ngọc Lan đi làm luận án tiến sĩ ở Nga đã trở về giảng dạy Trường Đại học Văn Hóa. Thúy Vinh tốt nghiệp Nhạc viện Hà Nội, giảng dạy ở Nhạc viện TP Hồ Chí Minh, học cao học ở Pa-ri và hiện đang giảng dạy đàn dương cầm ở nước ngoài. Hẳn hai cháu không bao giờ quên những ngày ở Hà Nội, đã được người Hà Nội che chở thương yêu đùm bọc. Công ơn to lớn ấy chúng tôi không bao giờ quên.
Trần Công Tấn
qdnd.vn
