Năm 1969, NXB Phrê-đê-rích A-prây-gơ (Frederick A. Praeger Publishers) phát hành cuốn sách General Giap Politician and Strategist (Tướng Giáp – Chính trị gia và chiến lược gia) của Tiến sĩ sử học Rô-bớc Ô-neo (Robert O’Neill). Đây được xem là tác phẩm đầu tiên của phương Tây viết chuyên về một lãnh đạo quân sự của “phía bên kia” trong tiến trình chiến tranh ở Việt Nam…
Dưới đây là phần đầu chương 9, nói về thời kỳ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ.
… Trong mấy tháng đàm phán tại Giơ-ne-vơ, người Việt đã tránh tạo những điều kiện để Pháp thực thi một mưu đồ tuyệt vọng cuối cùng là tìm cách bắt giữ Ban lãnh đạo Việt Minh. Chính phủ Việt Nam đã ở lại Việt Bắc gian lao nhưng an toàn cho đến ngày quân Pháp phải rời Hà Nội theo Hiệp định Giơ-ne-vơ quy định. Nhóm đầu tiên của lãnh đạo Việt Minh về đến Hà Nội ngày 3-10-1954 để xúc tiến nhận bàn giao chính quyền thành phố này từ tay người Pháp. Ngày 9-10, khi những lính Pháp cuối cùng rời Hà Nội, bộ đội Sư đoàn 308 đã vào thành phố để tổ chức cuộc duyệt binh vào ngày hôm sau…
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một đơn vị bộ đội miền Nam tập kết (1957). Ảnh tư liệu
Mấy ngày sau, các lãnh tụ cấp cao mới về Hà Nội. Được phái đi trước Hồ Chí Minh, vào ngày 12-10, Võ Nguyên Giáp mới xuất hiện lần đầu. Ông tới thanh tra bộ đội cảnh vệ Thành Hà Nội, khu vực vừa tiếp quản từ tay quân Pháp. Đây hẳn là một thời điểm mà Tướng Giáp đã hằng mơ ước khi chịu đựng những gian khó của cuộc sống và chiến đấu trong rừng suốt 8 năm vừa rồi. Nhưng bản chất của những chức trách mới mà Tướng Giáp phải đảm nhiệm đã buộc ông phải vội vã tới Nhà máy điện Yên Phụ, để thẩm định những điều khoản Hợp đồng ký với các kĩ sư Pháp tại đây, những người Pháp này đồng ý ở lại làm việc cho tới cuối năm. Các công việc quân sự sẽ trở thành phần nhỏ hơn trong công việc của Tướng Giáp trong 4 năm tới, vì các nền móng của một chế độ Cộng sản cần được thiết lập để đủ sức đương đầu với những căng thẳng chiến tranh sẽ xảy đến. Hồ Chí Minh ở Hà Nội từ ngày 17-10, tại lễ đón vị nguyên thủ nước ngoài đầu tiên thăm chính thức Việt Nam, Thủ tướng Ấn Độ Nê-ru, đang trên đường sang Bắc Kinh hội đàm với Ban lãnh đạo Trung Hoa.
Các hoạt động kỷ niệm chiến thắng đã được hoãn đến đầu năm sau. Ngày 1-1-1955, trước sự hiện diện của công chúng gồm khoảng 200 nghìn người, Hồ Chí Minh đã chào mừng cuộc diễu hành trọng thể, được tổ chức công phu, kéo dài tới 5 tiếng rưỡi đồng hồ. Các nhà lãnh đạo tề tựu trên một lễ đài cao hơn 6 phít, trang hoàng bởi một chân dung lớn của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Diễu qua trước lễ đài là một lực lượng đông đảo các đơn vị quân đội và các khối dân chính, đi đều và vẫy cờ hoa, giương cao chân dung của Mác, Lê-nin, Sta-lin, Mao và các vị lãnh đạo khác của khối Cộng sản, cùng các biểu ngữ. Tướng Giáp, cùng với Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, lúc đó là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, xuất hiện thường xuyên, và đọc những diễn văn chủ yếu trong ngày lễ trọng đại này của lịch sử nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.
Theo tinh thần Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết giữa đại diện tối cao của Việt Minh và Pháp, quân đội của hai phía sẽ tập kết về miền Bắc và miền Nam, trong thời hạn 100 ngày. Đây không phải là luồng chuyển dịch lớn của quân Việt Minh, giống như cuộc triệt thoái quân Pháp, vì chiến sự phần lớn diễn ra ở miền Bắc. Nhưng Tướng Giáp không định mất chân đứng của mình tại miền Nam-những nơi từng phải tranh đấu vô cùng gian lao mới giành được, nên những chỉ thị đã được phát đi cho những cán bộ còn ở lại vùng do đối phương kiểm soát, yêu cầu họ đi vào bí mật trong một vài năm, cho đến khi họ lại được cấp trên gọi ra. Vì vậy, mặc dù các trung đoàn chủ lực đã tập kết ra Bắc, bộ phận quan trọng nhất của hạ tầng cơ sở cách mạng vẫn được duy trì nguyên dạng về thực chất ở miền Nam. Các đơn vị chính quy Việt Minh, thường giấu quân trong các căn cứ xa khu vực dân cư đông đúc, rồi xuất hiện bất ngờ ở những khoảng cách khó xác định từ khu căn cứ, để thực hiện những cuộc đột kích và phục kích. Bộ đội thường không được sử dụng vào các sứ mạng chính trị chuyên trách như các cán bộ dân chính cơ sở. Nhưng dường như Tướng Giáp cũng hài lòng khi bộ đội được tập trung tại miền Bắc, để tiến hành huấn luyện các phương thức tác chiến mới, phù hợp hơn với nhiệm vụ đánh đổ chính quyền thân Mỹ ở miền Nam.
Tình trạng lộn xộn ở miền Nam phát sinh sau khi Ngô Đình Diệm về cầm đầu chính phủ, cùng những chống đối do các giáo phái, nhất là Bình Xuyên, đã giúp các cán bộ Việt Minh ở lại miền Nam “điều lắng” khá thành công. Các căn cứ chính của Việt Minh, như các chiến khu C và Đ, nằm ở phía bắc và phía đông bắc Sài Gòn, rồi Phước Tuy ở phía đông nam, và chiến khu miền Tây Nam Bộ chạy từ sông Hậu ra phía vịnh Thái Lan tại vùng cực Nam của Việt Nam, hiện vẫn chưa bị quân đội Sài Gòn làm khó dễ, do đó còn có thể lén vận chuyển vào những nơi đó một lượng vừa phải các hàng cung cấp gồm vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ và điện đài vô tuyến, để sử dụng trong tương lai. Các hầm hào, địa đạo vẫn được bảo trì ở mức tương đối, cho dù không được phát triển thêm, và sự tò mò của quân đội Quốc gia (Sài Gòn) bị hạn chế bởi số lượng lớn hầm chông, cạm bẫy tại các chiến khu này, nay đã vắng bóng người…
Lê Đỗ Huy (lược dịch)
qdnd.vn