Đông Dương rộng 710.000 kilômét vuông và có dân số là 20.000.000 người, trong đó có trên 26.000 người Âu, không kể những binh lính Pháp.
Những thành phố lớn là:
Sài Gòn, thủ đô 2 của Nam Kỳ 108.000 dân
Chợ Lớn, thành phố ở sát Sài Gòn 203.000 –
Huế, thủ đô 3 của Trung Kỳ 60.500 –
Hà Nội, thủ đô 4 của Bắc Kỳ 74.500 –
Hải Phòng, hải cảng của Bắc Kỳ 74.500 –
Phnômpênh, thủ đô của Cao Miên 79.000 –
Viêngchǎn, thủ đô của Lào 68.000 –
Những hải cảng là: Sài Gòn, cách biển 81 kilômét, với một lượng vận chuyển hằng nǎm là 3.600.000 tấn; Hải Phòng (Bắc Kỳ), cách biển 28 kilômét, với một lượng vận chuyển hằng nǎm là 1.200.000 tấn; Quy Nhơn và Tuaran 5 (Trung Kỳ) với một lượng vận chuyển là 500.000 và 100.000 tấn.
Đông Dương có khoảng 2.200 kilômét đường sắt, trong đó 860 kilômét thuộc con đường Vân Nam – Bắc Kỳ. Có tất cả 150 đầu tàu, 400 toa hành khách và 1.650 toa chở hàng hoá.
Doanh số thương nghiệp của nǎm 1925 là: 4.236.685.000 phrǎng
trong đó, nhập khẩu chiếm 1.780.501.000 –
và xuất khẩu chiếm 2.456.184.000 –
như vậy là trội hơn nǎm 1924 một tỷ và trội hơn nǎm 1923 hai tỷ.
Sự TíCH LUỹ TƯ BảN
Tư bản của tất cả những doanh nghiệp Pháp đều tǎng lên rất nhanh. Chúng ta hãy nêu lên, chẳng hạn:
Tư bản của công ty vôi đã tǎng từ 600.000 lên đến 3.000.000 phrǎng.
– của công ty nông công nghiệp Cam Tiêm từ 14 lên đến 30 triệu.
– của công ty trồng chè và cà phê ở Kon Tum từ 5 lên đến 15 triệu.
– của hãng vận tải liên hiệp từ 100 lên đến 300 triệu.
– của công ty xuất vốn cho cao su từ 100 lên đến 200 triệu.
– của công ty thương nghiệp, nông nghiệp và tài chính Đông Dương, từ 1 lên đến 10 triệu.
– của công ty xi mǎng Đông Dương, từ 8 lên đến 12 triệu.
Tư bản của công ty thǎm dò và khai thác hầm mỏ ở Đông Dương đã tǎng từ 12,5 lên đến 20 triệu.
Tư bản của Ngân hàng Đông Dương, một ngân hàng chi phối hầu như tuyệt đối nền thương nghiệp và công nghiệp ở Đông Dương, đã tǎng một cách liên tục. Được thành lập nǎm 1875 với số tư bản là 8 triệu phrǎng, đến nǎm:
1888, số tư bản đó đã lên tới 12.000.000
1900, ………………… 24.000.000
1916, …………………. 36.000.000
1910, ………………………….. 48.000.000
1920, …………………………… 72.000.000
LợI NHUậN
Những hãng buôn ở thuộc địa đã giành được những lợi nhuận đôi khi vượt cả những tư bản ứng trước. Chẳng hạn nǎm 1924, Ngân hàng Đông Dương, với số tư bản là 72 triệu mà đã thu được một món lợi nhuận là 77.845.083 phrǎng. Sau đây là tiến độ đi lên của lợi nhuận của các công ty:
Công ty xuất vốn cho cao su:
1918 3.378.486 phrǎng
1920 ………….. 4.950.014 –
1923 12.668.043 –
1925 ………… 32.573.850 –
Công ty đường sắt Vân Nam:
1917 1.121.000 phrǎng
1919 1.543.000 –
1921 2.637.000 –
1923 3.275.000 –
1925 6.440.000 –
Công ty than đá Bắc Kỳ:
1912 1.926.000 phrǎng
1914 3.302.000 –
1918 5.257.000 –
1920 17.601.000 –
1922 23.840.000 –
1923 35.037.000 –
Công ty lâm nghiệp và diêm Đông Dương:
1918 570.000 phrǎng
1920 1.327.000 –
1922 1.733.000 –
1924 2.300.000 –
1925 3.414.000 –
CÔNG NGHIỆP HÓA THUỘC ĐỊA
Báo Thời đại ngày 19-3-1927, người phát ngôn của chủ nghĩa tư bản Pháp, đã có lý khi nhận xét rằng: “Sự thật là ở nước ta, những tư bản, đã từ lâu vẫn tỏ ra e ngại đối với những doanh nghiệp khai thác lãnh thổ hải ngoại của chúng ta thì bây giờ lại sẵn sàng hướng về những doanh nghiệp ấy, nhất là ở Đông Dương”. Thật vậy, kể từ khi cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa 1914 – 1918 chấm dứt, vô số những hãng hoặc công ty xuất vốn thương nghiệp và nông nghiệp đã mọc lên ở Đông Dương. Dưới đây, chúng tôi chỉ liệt kê những công ty có số tư bản trên một triệu phrǎng:
Công ty Pháp ở á châu, thành lập nǎm 1922, tư bản là 1.000.000
Công ty Optorg … 1919 … 20.000.000
Hãng anh em Đơnít
ở Đông Dương … 1922 … 2.500.000
Hãng Duymarét
ở Đông Dương … 1922 … 4.000.000
Hãng Poǎngxa và Vâyrê … 1921 … 12.000.000
Tổng công ty các cửa hàng
tổng hợp … 1921 … 12.000.000
Công ty Pháp – An Nam về sợi
và xuất khẩu … 1920 … 4.000.000
Công ty Mácxây ở hải ngoại … 1919 … 1.500.000
Hãng vận chuyển Viễn Đông … 1917 … 20.000.000
Tổng công ty lụa Pháp
ở Đông Dương …1921 … 7.000.000
Công ty hầm mỏ và
luyện kim Đông Dương … 1919 … 16.000.000
Công ty điện lực Đông Dương … 1921 … 15.000.000
Công ty luyện kim, nhà máy cơ khí
và xưởng đóng tàu Đông Dương … 1919 … 3.000.000
Công ty nhựa cây và sơn “JB” … 1921 … 1.000.000
Công ty công trình lớn Viễn Đông … 1922 … 25.000.000
Nhà máy xay xát Viễn Đông … 1922 … 25.000.000
Công ty vô danh xà lan và tàu kéo
Đông Dương … 1921 … 4.000.000
Công ty vô danh bất động sản
anh em Đơnít … 1922 … 15.000.000
Công ty Antraxit Bắc Kỳ … 1920 … 5.000.000
Công ty kinh doanh á châu … 1921 … 1.000.000
Công ty thǎm dò và xuất khẩu
khoáng sản … 1920 … 7.500.000
Công ty Pháp làm đồ thuỷ tinh
Đông Dương … 1923 … 10.000.000
Công ty máy làm lạnh
ở Viễn Đông … 1920 … 10.000.000
Công ty sơn Đông Dương … 1919 … 1.075.000
Công ty mỏ Bàuman … 1924 … 1.100.000
Công ty mỏ vàng Bắc Kỳ … 1924 … 8.000.000
Công ty đồ thuỷ tinh Viễn Đông … 1923 … 5.000.000
Xanhđica nghiên cứu đường sắt … 1921 … 2.000.000
Công ty thuộc địa sản xuất
thức ǎn dinh dưỡng … 1921 … 2.500.000
CHIẾM ĐOẠT RUỘNG ĐẤT
Tư bản Pháp không chỉ hướng vào công nghiệp và thương nghiệp Đông Dương, mà còn thành lập những công ty lớn mạnh để khai thác đất đai:
Công ty Cao Miên, thành lập nǎm 1922
với số tư bản là 5.000.000 phrǎng
Công ty ruộng đất thuộc địa … 1923 … 2.500.000 –
Công ty đồn điền đất đỏ … 1923 … 36.000.000 –
Công ty thương nghiệp và
công nghiệp Pháp – An Nam … 1922 … 1.000.000 –
Công ty nghiên cứu trồng
bông ở Đông Dương … 1923 … 1.000.000 –
Công ty Hớn Quản … 1919 … 3.000.000 –
Công ty công nghiệp và
lâm nghiệp Đông Dương … 1923 … 1.000.000 –
Công ty chè Đông Dương … 1924 … 10.000.000 –
Công ty đường và chưng lọc
Đông Dương … 1923 … 10.000.000 –
Chính vì vậy mà ở Nam Kỳ, 250.000 hécta đã bị những chủ đồn điền Pháp chiếm đoạt và 600.000 hécta sắp bị chiếm đoạt.
Hãng vận tải đường sông ở Nam Kỳ mua đất với giá 2,1 phrǎng một mét vuông và đem bán lại với giá 1.440 phrǎng một mét vuông.
ở Bắc Kỳ, trên 112.000 hécta đất ruộng và 63.500 hécta đất có quặng đều nằm trong tay 150 chủ đồn điền và 34 chủ mỏ, đấy là chưa kể những đất tô nhượng chưa được khai khẩn.
ở Trung Kỳ, cho đến nǎm 1925, chỉ có 62.000 hécta nằm trong tay người Pháp. Chỉ riêng nǎm 1926, đã có trên 300.000 hécta bị 180 người Pháp chiếm đoạt.
ở Cao Miên, có tất cả 523.000 hécta đất trồng trọt, nhưng khoảng 1/3 số đó nằm trong tay những tên thực dân hay trong tay giáo hội Giatô.
ở Lào, những người Pháp đã thiết lập chế độ “Khu dự trữ” – một chế độ mà những người Mỹ đã dùng đối với dân da đỏ và những người Nhật đã dùng với dân Đài Loan – nhằm mục đích chiếm đoạt của người bản xứ 200.000 ha đất đỏ.
Sự ĐộC QUYềN
Chủ nghĩa tư bản thực dân có xu hướng tiến tới sự độc quyền. Tất cả những xí nghiệp đông đảo đó ở Đông Dương đều phụ thuộc vào một vài công ty có thế lực. Chẳng hạn, chúng ta thấy công ty rượu của Pháp ở Đông Dương tham gia vào các xí nghiệp sau:
Ngân hàng tín dụng ruộng đất Đông Dương
Nhà máy thuỷ tinh Viễn Đông
Công ty than và mỏ kim khí Đông Dương
Vận chuyển đường sông
Công ty nông công nghiệp Cam Tiêm
Công ty thức ǎn đạm
Công ty than đá Bắc Kỳ.
Công ty thương nghiệp, nông nghiệp và tài chính Đông Dương, công ty “SICAF” như người ta thường gọi, lãnh đạo những công ty sau đây:
Công ty chè (Kon Tum)
Công ty bông (Sài Gòn)
Công ty nông nghiệp (Kon Tum)
Công ty chè An Nam
Công ty thương nghiệp Pháp – An Nam
Công ty công nghiệp và lâm nghiệp Biên Hoà
Công ty nông công nghiệp Bến Củi
Tổng công ty tơ lụa Pháp và Đông Dương
Công ty cà phê Đông Dương
Công ty nông nghiệp Sông Ruy.
Công ty tài chính Pháp và thuộc địa kiểm soát:
Ngân hàng tín dụng ruộng đất Đông Dương
Công ty cao su Đông Dương
Công ty cây nhiệt đới Đông Dương
Công ty bông Sài Gòn
Công ty máy xúc và công trình công cộng
Nhà máy thuỷ tinh Viễn Đông
Công ty xà lan và tàu kéo
Đồn điền cao su Bình Lộc
Nhà máy đường và rượu Đông Dương
Nhà máy nước và điện Đông Dương
Tân công ty phốt phát Bắc Kỳ
Những mỏ vàng Đắc Lắc
Những nhà máy giấy Đông Dương
Nhà máy in Viễn Đông
Những nhà máy lụa Đờlinhông.
Hãng S.F.F.C. có những chi nhánh đến tận các thuộc địa ở châu Phi.
ĐầU Sỏ TàI CHíNH
Những công ty chỉ đạo, đến lượt chúng lại nằm dưới sự kiểm soát của Ngân hàng Đông Dương; mà ngân hàng này lại nằm trong tay một nhóm nhỏ những nhà tài chính độc quyền. Trong hội đồng quản trị của ngân hàng đó, chúng ta thấy có những tên sau đây:
Đờ Môngplanê, chủ tịch tổng công ty tín dụng công nghiệp và thương nghiệp.
Bêtơnốt, chủ tịch ngân hàng tín dụng Liông.
Boayê, chủ tịch chi điếm quốc gia chiết khấu Pari.
Rôxtan, phó chủ tịch chi điếm quốc gia chiết khấu Pari.
Đơnít, chủ tịch công ty anh em Đơnít.
G.Picốt, phó chủ tịch tổng công ty tín dụng công thương nghiệp.
Xtécnơ, quản trị ngân hàng Pari và Hà Lan.
Đờ Tơragômanh, quản trị ngân hàng tín dụng ruộng đất Pháp.
Và anh em Hônbéc nổi tiếng, có tên trong tất cả những xí nghiệp khai thác ở Đông Dương.
TƯ BẢN NƯỚC NGOÀI Ở ĐÔNG DƯƠNG
Chúng tôi không có những thống kê chính xác về tư bản nước ngoài đầu tư ở Đông Dương. Nhưng một vài số liệu dưới đây cũng đủ chứng tỏ sự tiến triển của tư bản nước ngoài:
Nhật xuất khẩu sang Đông Dương:
2.455.231 yên trong nǎm 1923
4.214.889 1924
6.382.512 1925
và nhập từ Đông Dương:
15.329.699 yên trong nǎm 1923
25.077.436 1924
62.272.000 1925
Nǎm 1924, 101 tàu Anh cập cảng Sài Gòn với 341.364 tấn hàng hóa (gần bằng nửa tổng số trọng tải hàng hoá Pháp lúc đó là 724.874 tấn), và 179 tàu Anh đã rời cảng Sài Gòn với 335.203 tấn hàng hoá. Cũng trong nǎm đó, 242 tàu của nước Anh đã cập cảng Hải Phòng và rời cảng đó với 285.441 tấn hàng hoá.
Nǎm 1926, những quan hệ thương mại của Anh với Đông Dương về mặt xuất khẩu là 323.667 xtéclinh, về mặt nhập khẩu là 328.824 xtéclinh.
Nǎm 1925, Mỹ bán cho Đông Dương 1.125.047 đồng hàng hoá và mua của Đông Dương 28.568 đồng nguyên liệu.
Xuất khẩu và nhập khẩu của Mỹ với Đông Dương trong nǎm 1926 được đánh giá là 1.434.049 đồng cho xuất khẩu và 211.877 đồng cho nhập khẩu.
ĐỐI KHÁNG THỰC DÂN Ở ĐÔNG DƯƠNG
Nước Nhật đã nhiều lần gửi những “Phái đoàn tuyên truyền”, “Phái đoàn nghiên cứu” hoặc “Phái đoàn thương mại” đi khắp Đông Dương. Mặc dù người Pháp thực tình không ưa những ông khách đáng nghi ngờ đó nhưng họ vẫn buộc lòng phải tỏ ra niềm nở, phải tiếp đón những phái đoàn ấy một cách long trọng và đưa họ đi tham quan khắp nơi. Những cuộc du hành ấy của những đại biểu Nhật làm cho chủ nghĩa đế quốc Pháp không yên tâm không những về phương diện kinh tế mà cả về phương diện chính trị. Vì mỗi khi có một cuộc thǎm viếng như vậy thì người An Nam hình như đột nhiên bừng tỉnh nhớ đến tình cảnh bị áp bức của mình, tình cảnh bị áp bức của “những người anh em họ của mình tại đế quốc mặt trời mọc”, và cũng nhớ đến khẩu hiệu “Châu á của người châu á”.
Người Nhật Bản đòi một biểu thuế quan được ưu đãi. Người Pháp không muốn cho người Nhật được hưởng như vậy, nhưng cũng không dám công khai từ chối.
Những cuộc thương lượng đang diễn ra giữa Chính phủ Nhật và Chính phủ Pháp về việc Nhật yêu cầu được tô nhượng những mỏ sắt ở Cao Miên.
Để chứng minh rằng mình chú ý nhiều đến Đông Dương, Chính phủ Nhật vừa mới đổi lãnh sự quán Hải Phòng của mình thành Tổng lãnh sự quán Bắc Kỳ. Ngược lại nước Pháp lại không cho phép Trung Quốc có quyền gửi những lãnh sự sang Đông Dương để bảo vệ quyền lợi của nửa triệu người Trung Quốc sinh sống ở đó.
Nǎm vừa qua ông M. Uynxtơn, thư ký ngân khố Oasinhtơn, đã đưa ra ý kiến rằng, vì nước Pháp không thể trả được nợ của mình mà nước Mỹ lại cần nhiều cao su, và Đông Dương thì lại có nhiều đất trồng cao su, cho nên thật rất tốt cho tất cả mọi người nếu người Pháp tô nhượng cho nước Mỹ – thay cho việc trả nợ – một vài triệu hécta đất đỏ (tháng 8 nǎm 1926).
Ông Uynxtơn đã được nhiều nghị sĩ của thượng nghị viện và hạ nghị viện Pháp tán thành. Một vài tờ báo Pháp cũng ủng hộ ý kiến của ông ta.
Với sự ủng hộ của chủ nghĩa đế quốc Anh, nước Xiêm cũng đưa ra những yêu sách với người Pháp ở Đông Dương. Chẳng hạn, ngày 31-7-1926, nước Pháp phải ký những hiệp nghị thừa nhận nước Xiêm có một chế độ quan thuế và thuế khoá độc lập, thừa nhận những quyền tự do rộng rãi cho những công dân Xiêm ở Đông Dương.
SỰ BÓC LỘT NGƯỜI AN NAM
Nếu người Pháp thấy lợi nhuận và tư bản của họ tǎng lên nhanh chóng, thì người An Nam cũng thấy sự nghèo khổ và những đảm phụ mình phải chịu cũng tǎng lên nhanh chóng.
Tổng ngân sách toàn Đông Dương do những người bản xứ đóng góp đã tǎng lên như sau:
1913 57.370.000 đồng
1915 62.230.000 –
1917 63.860.000 –
1920 70.170.000 –
1921 84.760.000 –
1922 87.120.000 –
1923 88.120.000 –
1924 89.830.000 –
Hơn nữa người An Nam còn phải đóng góp đầy đủ cho những ngân quỹ địa phương nữa: 17.800.000 đồng cho ngân quỹ Nam Kỳ, 18.200.000 đồng cho ngân quỹ Bắc Kỳ, v.v.. Ngoài ra họ còn phải đóng góp cho những khoản chi tiêu của các cơ quan thuộc địa ở chính quốc. Nǎm 1927, những số tiền đóng góp ấy là:
Chi tiêu quân sự … 130.000.000 đồng
Hàng không quân sự … 700.000 –
Trường học thuộc địa … 225.000 –
Cơ quan kinh tế … 880.000 –
Viện nghiên cứu thuộc địa … 302.000 –
Cơ quan thanh tra thuộc địa.. 240.000 –
Hội đồng tối cao của các thuộc địa 20.000 –
Ngoài những khoản thuế khoá và đảm phụ ấy, người bản xứ còn buộc phải mua quốc trái, buộc phải quyên góp để khôi phục đồng phrǎng, để giúp đỡ những miền bị tàn phá, v.v..
Khi đã thấy rõ diện tích bao la của phần ruộng đất bị chế độ thực dân chiếm đoạt và tiến độ đi lên của thuế má, thì thật là thừa nếu nói thêm rằng nông dân An Nam đang ở trong những điều kiện cùng khổ không thể tưởng tượng được.
Từ nǎm 1914 đến 1924, giá sinh hoạt tǎng thêm 47%, nhưng tiền lương của công nhân hầu như vẫn đứng nguyên tại chỗ.
Công ty than đá Bắc Kỳ chiếm 21.900 hécta đất mỏ và sử dụng 16.500 công nhân bản xứ. Với tư bản 16 triệu phrǎng, nǎm 1925 công ty đó đã kiếm được 35 triệu phrǎng tiền lời, trong khi đó, người thợ mỏ mỗi ngày chỉ lĩnh được 25 xu, tức là mỗi tấn được lĩnh 2,27 phrǎng. (Đàn bà được lĩnh 20 xu, trẻ em được lĩnh từ 10 đến 15 xu).
Công nhân làm trong các nhà máy bông vải sợi ở Bắc Kỳ làm suốt ngày từ 6 giờ sáng đến 9 giờ tối được lĩnh 15 xu.
Công nhân nông nghiệp trong các đồn điền cao su Bà Rịa cứ mỗi hố được lĩnh 6 xu. Do công việc khó khǎn và khí hậu oi bức, mỗi ngày một công nhân chỉ đào được 2 hố là nhiều, thành thử tiền công của họ được khoảng 12 xu.
Mỗi công nhân cạo mủ cao su làm trong công ty nông nghiệp Xuygiana phải phụ trách 9 hécta, nghĩa là từ 900 đến 1.500 cây cao su mới được lĩnh số tiền công nhật từ 15 đến 20 xu.
Một sắc lệnh ra ngày 11-11-1918 quy định rằng lao động của trẻ em không được vượt quá 10 giờ một ngày.
Về mặt thương nghiệp, với doanh số hằng nǎm là 5 tỷ, Đông Dương có 50 nghìn tiểu thương người An Nam (22 nghìn người ở Nam Kỳ), thương nghiệp lớn và trung bình nằm trong tay những người nước ngoài.
VÔ SẢN HÓA NGƯỜI BẢN XỨ
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thực dân ở Đông Dương đã tạo ra ở xứ đó hai giai cấp vô sản, giai cấp vô sản công nghiệp và giai cấp vô sản nông nghiệp.
Đa số công nhân công nghiệp làm trong các hầm mỏ và vận tải. ở Bắc Kỳ có khoảng 30 nghìn thợ mỏ chia ra như sau:
15.500 trong những hầm mỏ ở Hòn Gai
2.500 trong những hầm mỏ ở Bắc Cạn
1.500 trong những hầm mỏ ở Đông Triều
1.200 trong những mỏ than ở Bắc Kỳ
1.200 trong vùng đất sở hữu Kế Bào
1.200 trong những hầm mỏ ở Tràng Đà (tỉnh Tuyên Quang)
900 làm thuê cho công ty hầm mỏ Bắc Kỳ
900 trong những hầm mỏ ở Hà Nam và Hoà Bình
900 trong những mỏ thiếc ở Cao Bằng.
Ngành đường sắt có khoảng 11.500 công nhân, trong đó có 3.750 công nhân làm trên con đường Bắc Kỳ – Vân Nam (2.600 người An Nam và 1.150 người Trung Quốc).
Trong 65 nhà máy xay xát gạo lớn nhỏ ở Nam Kỳ có khoảng 7.000 công nhân, chưa kể một số lớn nhân công phụ làm công nhật (những người đánh xe, chở thuyền, v.v.).
Sau đó là:
2.000 công nhân trong những nhà máy dệt Nam Định
1.000 – – trong những xưởng sửa chữa tàu thuỷ ở Hải
Phòng
800 – – trong xưởng tàu Sài Gòn
800 – – trong hãng rượu Phôngten
600 – – trong nhà máy cơ khí Hải Phòng
600 – – trong nhà máy in Viễn Đông
650 – – trong nhà máy gạch ngói Đông Dương.
Những nhà máy, công xưởng sử dụng 400 công nhân thì rất nhiều, đó là: nhà máy xi mǎng Poóclan, xí nghiệp ácđen, nhà máy điện, những xưởng máy của công ty chuyên chở và dắt hàng, v.v..
Một trong những đồn điền cao su lớn ở Nam Kỳ sử dụng trên 3.600 công nhân nông nghiệp, một đồn điền khác sử dụng 3.300 công nhân, v.v..
ở Bắc Kỳ tuy rằng những đồn điền đều hẹp hơn, nhưng số những công ty hoặc công ty nông nghiệp Pháp sử dụng trên 100 công nhân thì có rất nhiều. Thường tất cả những thành viên trong 1 gia đình đều làm cho cùng 1 đồn điền, lúc đó người ta coi gia đình là một đơn vị tức là “gia đình tá điền”. Những gia đình đó gồm từ 2 đến 10 người. Trong số những doanh nghiệp nông nghiệp chúng tôi xin nêu:
Đồn điền Vielê 300 gia đình
Công ty thuốc lá Đông Dương 200 gia đình và 400 công nhân
Bonnơpho 200 gia đình
Guyôm 200 –
Huytlê 140 –
Râynôn 130 –
Kêple 100 – và 100 công nhân
Bécđê 100 –
Cácđê 110 –
Công ty nông lâm Yên Mỹ 600 công nhân
Cliét, Mahê và công ty 500 –
Bôren 150 –
Bà goá Halaba 150 –
Lơgiơn 150 –
Lêvi 100 –
v.v..
LAO ĐỘNG KHỔ SAI ĐỐI VỚI NGƯỜI BẢN XỨ
Trước khi người Pháp đến Đông Dương thì lao động khổ sai dưới hình thức lao dịch đã tồn tại. Nhưng chúng tôi đặt vấn đề lao động cưỡng bức dưới một hình thức khác hơn và hiện đại hơn.
Mặc dù Đông Dương có một dân số lớn, nhưng chủ nghĩa tư bản thuộc địa vẫn đang đứng trước tình hình khó khǎn khó tìm được đủ nhân công. Vấn đề là như sau:
Nông dân Cao Miên và Lào phản ứng mạnh mẽ chống lại công việc nặng nhọc mà chủ đồn điền Pháp muốn cưỡng bức họ tiến hành.
Nam Kỳ với đất đai khá màu mỡ và dân số thưa thớt không cung cấp được nhân công rẻ tiền.
Thế là chỉ còn người An Nam ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ bị sự cùng khổ đẩy đến chỗ phải lao động trong những điều kiện nặng nề, và họ là đạo quân hậu bị cho thị trường lao động.
Nhưng hiện nay số cầu về nhân công lại lớn hơn số cung về nhân công:
1. Chủ nghĩa quân phiệt Pháp cần có những người bản xứ cho những trại lính của nó.
2. Những đồn điền Pháp ở châu úc cần có những nô lệ cho đồn điền của chúng.
3. Những chủ đồn điền Pháp ở Nam Kỳ, Cao Miên, Trung Kỳ, Lào và Bắc Kỳ, tất cả bọn họ đều cần có nhân công giá rẻ.
4. Những hầm mỏ, nhà máy, xưởng thợ của Pháp cần có một dự trữ dồi dào về nhân lực cho những xí nghiệp của họ.
5. Chính phủ thuộc địa cần có những người đàn ông đi làm tạp dịch.
Công việc đê điều ở Bắc Kỳ cần 60.000 người. 35.000 người sẽ là cần thiết cho những đồn điền ở Nam Kỳ và 15.000 người cho những đồn điền ở Cao Miên (không kể những người đã có công ǎn việc làm), 10.000 người cho những đồn điền ở châu úc, v.v.. Nếu kể thêm những yêu cầu về mặt quân sự và công nghiệp thì cần đến khoảng 200.000 người có sẵn để thuê mướn. Vì sao khó mà tìm ra 200.000 người trong một đất nước có một dân số là 12 triệu người (Trung Kỳ và Bắc Kỳ).
Trước hết cần phải có những người vạm vỡ, trong khi đó đa số người An Nam lại ốm yếu do sự cùng khổ về sinh lý, (mỗi nǎm có 2 triệu trong số 5 triệu người An Nam ở Trung Kỳ bị đau mắt). Sau nữa là vì sợ bị ngược đãi, người An Nam chỉ vào làm trong những xí nghiệp Pháp khi họ bị thúc ép bởi sự cùng khổ đến cực độ.
Chính vì vậy mà người Pháp thường nói đến chuyện “thiếu nhân công” và họ nghĩ đến việc đưa ra những “thông báo về nhân công”, nghĩa là việc tuyển mộ cưỡng bức hoặc “chế độ tình nguyện” cưỡng bức được thi hành trong cuộc chiến tranh 1914-1918, nhằm mộ lấy 10.000 người An Nam gửi ra mặt trận ở Pháp và ở Salôních 1 .
SỢ HÃI CÁCH MẠNG
Mặc dù có hoạt động bề ngoài về kinh tế, và mặc dù làm ra vẻ an tâm, những tên đế quốc Pháp ở Đông Dương luôn luôn bị ám ảnh bởi ý nghĩ về một cuộc cách mạng sắp tới. Việc đã tạo ra một giai cấp vô sản và dạy cho người An Nam biết sử dụng súng ống là một bằng cớ chứng tỏ chủ nghĩa đế quốc tự mình đào hố để chôn mình.
Hiện nay chỉ một mảnh truyền đơn do một học sinh nhỏ phân phát cũng đủ để làm cho toàn bộ Chính phủ thuộc địa phải đề phòng, và cái bóng của một phong trào nhân dân cũng đủ để làm cho những phiếu cổ phần thuộc địa bị sụt giá trên thị trường tài chính.
Cái mà bọn đế quốc thường sợ hãi đó là sự tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản.
Nói chuyện ở Côngxtǎngtin, ngày 22-4-1927, ông Xarô nguyên là toàn quyền Đông Dương, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa và Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã nói: “… Và chủ nghĩa cộng sản Pháp, theo lệnh của nước ngoài đều nhằm vào tất cả những điểm liên kết đời sống dân tộc của chúng ta để tuần tự làm hư hỏng tất cả những bánh xe trong bộ máy, huỷ hoại những cơ quan, phá vỡ những tổ chức, phá hoại những cơ chế hoạt động của chúng ta, đặc biệt là trong những nǎm gần đây nó ra công tìm cách bẻ gãy những chìa khoá quan trọng của sự nghiệp thực dân vĩ đại của chúng ta. Chính phủ không thể dung túng những kích động cách mạng, nội chiến, sự sụp đổ của quốc gia. Chính phủ đã trừng trị nó, và sẽ còn trừng trị nữa…”.
Khi nhận chức toàn quyền, Varen – đảng viên Đảng Xã hội – tuyên bố rằng nhiệm vụ đầu tiên của mình là dùng mọi biện pháp để ngǎn cản sự thâm nhập của công cuộc tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản vào Đông Dương.
Tuy được bảo vệ bằng một đội quân 25.000 người (con số chính thức là 21.614 người), một hạm đội 27 tàu chiến (con số chính thức là hai pháo hạm, 4 ngư lôi hạm, 21 tàu có vũ trang), chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Đông Dương luôn luôn lo sợ cho số mệnh của mình. Nǎm 1928, khoản chi phí quân sự của ngân sách Bộ Thuộc địa ngốn mất 393 triệu phrǎng, như thế là nhiều hơn nǎm 1927 đến 81 triệu phrǎng.
Đến tháng 6, người ta gửi sang Đông Dương ông Mannơcanh, nguyên là Cảnh sát trưởng quận Xen và là viên chức đặc biệt của tổng nha cảnh sát, để lãnh đạo cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dương, theo lời của bản thông cáo chính thức.
Khi trở về Pháp, ông toàn quyền Varen đã có những cuộc hội đàm đặc biệt với các ông bộ trưởng Bộ hải quân và Bộ chiến tranh về vấn đề tǎng cường bảo vệ Đông Dương.
Tháng 7 nǎm 1927, tướng Clôđen, uỷ viên hội đồng chiến tranh tối cao sang Bắc Kỳ để nghiên cứu tại chỗ những biện pháp quân sự cần được tiến hành.
Người ta vừa thành lập ở Đông Dương 2 đại đội lính pháo thủ, 4 tiểu đoàn lính sơn cước, một cụm pháo binh gồm 3 khẩu đội, một phi đội và những phân đội xe tǎng, những phân đội súng máy khác.
Luôn luôn nói đến chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa đế quốc đã tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản, mặc dù nó không muốn và không biết như vậy.
——————————–
Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

Bạn phải đăng nhập để bình luận.