Archive | Tháng Sáu 2012

Những suy nghĩ về Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

suy nghi ve ngay sinh cua Bac

Giản dị, khiêm tốn, quên mình vì dân, vì nước là những  phẩm chất cao đẹp ở Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ thuở thiếu thời, khi làm người phụ bếp trong một chuyến tàu ra đi tìm đường cứu nước đến khi làm người thầy truyền đạt tri thức cho học trò và đến lúc đảm nhận trọng trách Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ở cương vị nào Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn giữ cuộc sống thanh bạch, giản dị, khiêm tốn và hết sức tiết kiệm.

Với tinh thần của người cộng sản, Hồ Chí Minh đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, dành trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước, phấn đấu thực hiện “ham muốn tột bậc” làm cho “Đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đất nước độc lập, nhân dân thoát khỏi ách nô lệ, được sống cuộc sống tự do, bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng cuộc sống thanh bạch của vị Chủ tịch nước vẫn không có gì thay đổi. Người không đòi hỏi bất kỳ những gì riêng tư cho mình, kể cả trong những dịp kỷ niệm Ngày sinh của Người.

Dõi theo những lần sinh nhật của Bác vào ngày 19-5, khi miền Bắc có điều kiện kỷ niệm, chúng ta càng thấy rõ nhân cách cao thượng của Người.

Từ sau ngày chiến thắng Điện Biên Phủ đến ngày Bác về với các Cụ Các Mác, Cụ Lênin (15 năm), có lẽ, để tránh những nghi lễ, 6 năm (1960, 1961, 1962, 1964, 1966, 1967) vào dịp sinh nhật của mình, trong đó có sinh nhật lần thứ 70, Bác ra nước ngoài công tác.

Nhiều lần trong dịp kỷ niệm ngày sinh, Bác không ở Hà Nội mà về thăm nhân dân các địa phương. Ngày 19-5-1957, Bác đi Quốc Oai, Hà Tây. Ngày 19-5-1958 Bác đến Chùa Hương (Mỹ Đức, Hà Tây), căn dặn nhân dân tích cực trồng cây, bảo vệ rừng. Ngày 19-5-1959, Bác đi thăm cán bộ, nhân dân các dân tộc Tây Bắc.

Là người lịch lãm, nhân ái, Bác luôn tôn trọng người xung quanh, không quên cảm ơn những người chúc mừng Bác. Ngày 19-5-1956, Bác gửi thư cho cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc. Trong thư có đoạn viết: “Bác nhận được rất nhiều thư chúc thọ của các cô, các chú… Bác gửi thư này cảm ơn chung”.

Cả cuộc đời vì nước, vì dân, Bác đau đáu vì miền Nam chưa được giải phóng, Bắc – Nam chưa được sum họp một nhà, nhiều gia đình ngày Bắc, đêm Nam. Ngày 19-5-1963, Quốc hội có ý tặng Bác Huân chương Sao Vàng – huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam, Bác nói: “Tôi xin tỏ lòng biết ơn Quốc hội. Nhưng Quốc hội cho phép tôi chưa nhận, vì tôi tự thấy chưa xứng đáng… Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đồng bào miền Nam tặng thì tôi xin nhận”. Bác mất đi, trên ngực không một tấm huân chương. Nhưng tấm huân chương cao quý nhất mà nhân dân cả nước trao tặng Bác là niềm tin tuyệt đối, tình cảm yêu quý Bác. Ngay trong bom đạn, kìm kẹp của kẻ thù, không có tỉnh nào ở miền Nam không có đền thờ Bác. Miền Nam trong trái tim Bác và Bác ở trong mỗi trái tim người dân miền Nam. Đây là một nguyên nhân làm nên chiến thắng 30-4  lịch sử.

Là lãnh tụ của Đảng, với tầm nhìn xa, trông rộng, Bác căn dặn việc đảng, việc nước, việc dân phòng khi Bác đi xa. Dịp kỷ niệm 75 năm Ngày sinh, đúng 9 giờ sáng, giờ đẹp nhất của ngày 10-5-1965, Bác đặt bút viết dòng đầu tiên của tài liệu “Tuyệt đối bí mật” – Di chúc.

Ngày 19-5-1968, Bác xem và sửa lại tài liệu “Tuyệt đối bí mật” và có bài thơ :

“Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm
Vẫn vững hai vai việc nước nhà
Kháng chiến dân ta đang thắng lợi
Tiến bước ta cùng con em ta” .

Ngày 19-5-1969, đúng 9 giờ sáng Bác tiếp tục sửa chữa bản Di chúc. Đây là kỷ niệm sinh nhật lần thứ 79 – kỷ niệm sinh nhật cuối cùng của Bác.
Hồ Chí Minh cả cuộc đời không một phút riêng tư, “nâng niu tất cả chỉ quên mình ”, đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết:

“Một đời thanh bạch chẳng vàng son
Mong manh áo vải, hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”.

Ngày nay, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta cần nâng cao nhận thức và quyết tâm quét sạch chủ nghĩa cá nhân, thực hiện nguyện ước của Bác: Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, sánh vai các cường quốc năm châu.

Đó cũng chính là thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người.

Trần Quý Cử
Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Thư khen ngợi bộ đội Thừa Thiên (22-8-1951)

Một lần nữa, Bác vui mừng và thân ái gửi lời khen ngợi cán bộ và chiến sĩ đã thắng trận ở Phú Vang.

Thắng lợi ấy chứng tỏ quân đội ta dũng cảm và tiến bộ nhiều.

Thắng lợi ấy một phần là nhờ sức đoàn kết và ủng hộ của nhân dân.

Vậy các chú chuyển lời Bác cảm ơn đồng bào.

Bác dặn các chú phải nhớ hai điều:

1. Chớ vì thắng lợi mà chủ quan khinh địch, phải luôn luôn cẩn thận và cố gắng để tranh thủ thắng lợi to hơn nữa.

2. Phải luôn luôn nhớ: du kích chiến tranh là chính. Vậy các chú phải giúp đỡ du kích chiến tranh phát triển và củng cố khắp các nơi.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1889, ngày 22-8-1951.
cpv.org.vn

Kẻ cướp bị cướp (24-8-1951)

Các đế quốc Tây Âu, nhất là Anh và Pháp, quen đi cướp nước người ta.

Ngày nay, Anh bị đá ra khỏi ấn Độ, Pháp đang bị ta đá ra khỏi Việt Nam. Hơn nữa, hai nước ấy đang bị Mỹ dùng làm như thuộc địa.

Do kế hoạch Mácsan, mà kinh tế của Anh và Pháp đã phụ thuộc vào kinh tế Mỹ. Vì Anh và Pháp mắc nợ Mỹ, mắc đến cổ cho nên chính trị hai nước ấy cũng bị Mỹ giật dây.

Về quân sự, còn tệ hơn nữa. 40 vạn lính Mỹ đóng ở Tây Âu. Hải, lục, không quân của Anh, Pháp và các nước Tây Âu đều dưới quyền chỉ huy của một người Mỹ làm Tổng tư lệnh.

Hơn 20 trường bay ở Anh bị Mỹ chiếm đóng. Khắp nước Pháp, quân Mỹ chiếm đóng 29 địa phương, trong số đó có 23 trường bay, 3 cửa bể to là Mácxây, Boócđô, Sécbua và 2 chỗ để bom nguyên tử ở Nim và Girông.

Thế là:

“Quen mồm cướp nước người ta,
Nước mình bị phỗng khóc mà ai thương”.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1890, ngày 24-8-1951.
cpv.org.vn

Thư gửi ông Vũ Đình Dộc (8-1951)

Gửi ông Vũ Đình Dộc, (đại lý báo Cứu quốc ở Bình Ca).
Nhờ UBKCHC huyện Tự Do chuyển.

Cảm ơn ông đã gửi cho tôi 2 phiếu công trái cộng là 100 ki lô thóc. Tôi sẽ dùng làm giải thưởng. Vì giặc Pháp, ông đã phải tản cư vất vả, mà ông vẫn sốt sắng góp sức góp của vào công việc kháng chiến. Như thế là tốt lắm. Mong ông luôn luôn cố gắng và chúc ông mạnh khoẻ.

Chào thân ái và quyết thắng

Tháng 8 nǎm 1951
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1892, ngày 27-8-1951.
cpv.org.vn

Thư gửi bà mẹ chiến sĩ Phạm Thị Dược (8-1951)

Gửi bà mẹ chiến sĩ Phạm Thị Dược, khu Tự Tiến.
Nhờ UBKCHC huyện Yên Sơn (Tuyên Quang) chuyển.

Cám ơn bà cụ đã gửi cho tôi một phiếu công trái 100 ki lô thóc để làm giải thưởng thi đua sản xuất. Tôi mong các Mẹ chiến sĩ hǎng hái đôn đốc đồng bào địa phương thi đua, để vụ mùa thắng lợi thành công tốt đẹp.

Chào thân ái và quyết thắng

Tháng 8 nǎm 1951
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc , số 1892, ngày 27-8-1951.
cpv.org.vn

Thư gửi cháu Nguyễn Thị Lương (8-1951)

Gửi cháu Nguyễn Thị Lương, ở bến đò Mộc, xã Minh Quang. Nhờ UBKCHC huyện Bất Bạt chuyển.

Bác gửi lời khen cháu đã chịu khó đi mót lúa, bán lấy tiền để giúp bộ đội. Thế là yêu nước. Bác mong các cháu nhi đồng khác đều biết yêu nước như vậy. Bác khuyên cháu cố gắng học và làm việc, để tiến bộ nhiều. Bác cũng cảm ơn bố mẹ cháu biết dạy cháu yêu Tổ quốc, yêu bộ đội.

Bác hôn cháu

Tháng 8 nǎm 1951
BÁC HỒ

Báo Cứu quốc, số 1892, ngày 27-8-1951.
cpv.org.vn

Vị bác sĩ già và 120 ngày đêm trực chiến bên thi hài Bác Hồ

Vi bac si gia

Bác sĩ Mai Khắc Thái (thứ 4 từ trái sang) và các cán bộ Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chuẩn bị cho lễ viếng Bác Hồ sáng 5/9/1969 tại Hội trường Ba Đình. (Ảnh tư liệu)

KTĐT – Một phòng khám nhỏ khá yên tĩnh trên phố Lương Khánh Thiện, ở đó vị bác sĩ già vẫn ngày đêm miệt mài với công việc của mình, khám bệnh miễn phí cho mọi người.

Ông là Đại tá, bác sĩ Mai Khắc Thái, người đã từng vinh dự được ứng trực trông nom thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những ngày đêm trực chiến bên thi hài Bác

Tôi tìm đến ông vào một ngày Hà Nội nắng như đổ lửa, nhưng phòng khám của ông vẫn tấp nập người đến, đi. Vị cựu Đại tá quân y 86 tuổi ấy tay thoăn thoắt với những cây kim, dò từng huyệt đạo châm cứu cho bệnh nhân. Trong lúc chờ ông xong việc, tôi ngắm nhìn xung quanh, mọi thứ ngăn nắp, gọn gàng cho thấy một tác phong quân đội vẫn hiện hữu. Phòng khám thêm trang trọng, linh thiêng nhờ những bức ảnh Bác Hồ. Và bên này là ảnh ông chụp cùng Tổ y tế tham gia bảo vệ thi hài Bác, bên kia chụp cùng lãnh đạo Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chuẩn bị lễ viếng Bác Hồ sáng 5/9/1969. Nghỉ tay, ông bắt đầu câu chuyện đầy hào hứng. Những kỷ niệm, cảm xúc năm xưa như ùa về trong trái lim người lính già.

Sinh ra trong một gia đình dòng dõi “trâm anh”, ngay thuở nhỏ, ông đã được rèn luyện, giáo dục những đức tính cần cù, chăm chỉ, ham học hỏi. Ông nội của ông chính là cụ Mai Khắc Đôn, nguyên là Thượng thư Bộ Lễ, kiêm giáo đạo và là thầy dạy chữ Hán cho vua Duy Tân. Tuy làm quan trong thời Pháp thuộc nhưng cụ vô cùng yêu dân, thanh liêm, chính trực. Cảm mến đạo đức và tấm lòng yêu nước, thương dân của nhà vua trẻ Duy Tân, cụ đã gả con gái của mình, là tiểu thư Mai Thị Vàng cho nhà vua. Để tưởng nhớ và biết ơn vị quan thanh liêm này, mới đây UBND thành phố Huế đã quyết định lấy tên cụ để đặt cho một con đường mới mở trên địa bàn phường Kim Long… Ông kể say sưa, rồi chuyển sang câu chuyện của bản thân mình.

Câu chuyện của ông đưa chúng tôi về những năm tháng theo cách mạng của một thanh niên xứ Huế. Năm 1946, nghe theo lời kêu gọi của Bác Hồ, thanh niên xếp bút nghiên lên đường chiến đấu, ông tham gia Vệ quốc quân ở chiến trường Nam bộ. Khi đoàn của ông đi đến Khánh Hòa thì địa phương này bị địch chiếm nên phải ngược lên Tây Nguyên. Là một trong số ít người có trình độ văn hóa lúc bấy giờ nên ông được cử đi học lớp y tá (năm 1947), rồi về phụ trách công tác y tế tại Tiểu đoàn 1, mang tên Nguyễn Nhạc, thuộc Trung đoàn 67 (Trung đoàn này gồm 3 Tiểu đoàn, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ). Sau đó, ông được đề bạt lên Viện phó Viện 1 Quảng Ngãi, rồi Viện phó Viện 5 Phú Yên. Cuối năm 1952, cấp trên cử ông cùng 11 y tá của Nam và Trung trung bộ xuyên rừng Trường Sơn ra Việt Bắc học y sĩ. Khi ta mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, lớp học kết thúc để học sinh đi làm nhiệm vụ, ông phụ trách trại tù Âu Phi ở Quảng Xương – Thanh Hoá. Trao trả tù binh dưới Sầm Sơn xong, ông về Hà Nội làm việc tại một đơn vị nghiên cứu ở sân bay Gia Lâm. Sau khi tốt nghiệp Trường Sĩ quan Quân y, năm 1965 ông lại được cử đi Liên Xô học y học và tâm lý hàng không.

“Vinh hạnh nhất suốt cuộc đời quân ngũ của tôi, đó là những ngày trực chiến bên thi hài Bác Hồ”, giọng ông chùng xuống, xúc động. Ông kể tiếp: “Năm 1969, Bác ốm nặng, Trung ương biết Người khó qua khỏi nên cử đoàn bác sĩ Việt Nam sang Liên Xô học kỹ thuật bảo quản thi hài trong 6 tháng (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh làm Trưởng đoàn). Năm ấy tôi vẫn đang là sinh viên, làm Bí thư Liên chi, phụ trách khối Chi đoàn quân đội của Học viện Quân y Leningrad; hồi đó không có người phiên dịch chuyên ngành y nên tôi được giao nhiệm vụ phiên dịch”.

Khi Bác mất, một nhóm chuyên gia của nước bạn được mời sang để hướng dẫn ta thực hiện ướp thi hài. Bác sĩ Thái tháp tùng đoàn chuyên gia về nước chở khí tài, bình thủy tinh, dung dịch… qua Việt Nam để thực hiện việc ướp thi hài Bác. “Hình ảnh cảm động nhất là hàng triệu người dân, bạn bè quốc tế đổ về Quảng trường Ba Đình viếng Bác, ai ai cũng nước mắt tuôn rơi… Bác nằm đó, như trong giấc ngủ ngon, gần gũi, thân thương biết nhường nào, Bác đã ra đi, nhưng hình ảnh Bác vẫn mãi mãi trong tâm trí mỗi người con đất Việt”, giọng đứt quãng, ông Thái kể lại câu chuyện cảm động về Bác Hồ. Với ông, 120 ngày làm nhiệm vụ bảo vệ thi hài Bác Hồ là niềm vinh dự, là những kỷ niệm không thể quên.

Vi bac si gia 2Bác sĩ Mai Khắc Thái. Ảnh: Thanh Hải

Một kỷ niệm nữa cũng khó quên với Đại tá, bác sĩ Thái. Đó là khi ông nhận nhiệm vụ làm Viện phó Viện Phòng không Không quân, kiêm Chủ tịch Hội đồng Giám định Không quân, ông đã khám, tuyển dụng và nghiên cứu diễn biến sức khỏe của Anh hùng vũ trụ Phạm Tuân, từ năm 1980 – 1986. “Lúc bây giờ tuyển phi công vũ trụ ngặt nghèo lắm, trong số hàng trăm người, tuyển được 30, 40 người, khi gửi lên Viện Phòng không Không quân, chỉ còn 5 người “lọt”. 5 người này được gửi sang Liên Xô tiếp tục khám tuyển, nhưng được 2 người là Phạm Tuân và Bùi Thanh Liêm đủ tiêu chuẩn. Sau khi test các vòng, Phạm Tuân được chọn là nhà du hành vũ trụ đầu tiên của Việt Nam. Sau 6 năm nghiên cứu sức khỏe của Anh hùng vũ trụ, ngày 23/4/1987 bác sĩ Mai Khắc Thái được Uỷ ban Nghiên cứu vũ trụ Việt Nam trao giải thưởng khoa học vì đã hoàn thành xuất sắc công trình khoa học: “Đánh giá sức khoẻ phi công nghiên cứu vũ trụ Phạm Tuân trước, trong, sau chuyến bay vũ trụ Xô – Việt”.

Phải lấy đức làm trọng

Sau khi về hưu, 20 năm nay, bác sĩ Thái mở phòng khám để tiếp tục chữa bệnh cứu người. Ở phòng khách và phòng khám của bác sĩ Thái đều treo trang trọng các bức thư pháp chữ “Đức”. Thấy tôi ngắm nhìn những bức thư pháp này, ông giải thích: Thầy thuốc phải lấy đức làm trọng, nếu không thì không nên làm nghề. Bác Hồ đã dạy “Thầy thuốc như mẹ hiền”, muốn được như mẹ hiền phải có tấm lòng. Chữa bệnh thì thân hay sơ, giàu hay nghèo đều như nhau, không vì đồng tiền mà làm sai lệch thiên chức của mình”. Rồi ông nhắc lại quy tắc của Hải Thượng Lãn Ông: “Đạo làm thuốc là một “nhân thuật” chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình không nên cầu lợi kể công”. Quan niệm như vậy, nên cách ông ứng xử với bệnh nhân cũng hết sức thân thiện, gần gũi. Và bệnh nhân từ khắp các tỉnh, thành trên cả nước đến với phòng khám của ông ngày một nhiều hơn. “Tôi ít thấy một vị bác sĩ nào dù tuổi cao mà lại minh mẫn, nhanh nhẹn đến vậy. Hơn thế, ở ông có một tấm lòng, ông coi chúng tôi như người thân. Chữa bệnh ở đây một thời gian khá dài, nhưng chưa bao giờ tôi thấy ông có một cử chỉ, hay một lời nói nặng với bệnh nhân”, một bệnh nhân đến từ Lạng Sơn bày tỏ. Trước đó, khi tôi hỏi thăm tìm đến phòng khám, một người dân gần đấy bảo: “Chị tìm bác sĩ Thái chứ gì, đúng là tiếng lành đồn xa. Tôi cũng chữa bệnh ở đấy, hàng xóm láng giềng bác không lấy tiền”.

Phương pháp chữa bệnh của ông là Đông, Tây y kết hợp, châm cứu nhưng đi theo đường giải phẫu Tây y và sử dụng tân dược để điều trị. Đây là một phương pháp chữa bệnh mới nhưng rất hiệu quả. Nhiều bệnh nhân đau lưng, đau thần kinh, rối loạn tiền đình, liệt, méo mặt, méo miệng đều tìm đến ông và cải thiện bệnh lý trên 80 – 90%. Hàng ngày, phòng khám của ông khám, tư vấn và kê đơn thuốc miễn phí cho mọi đối tượng, miễn phí điều trị cho hàng xóm, thương binh nặng; người nghèo, người tàn tật được giảm phí điều trị trên 20%. Phòng khám của ông thu hút ngày càng nhiều bệnh nhân, phần do những ưu đãi đặc biệt, nhưng điều quan trọng hơn, ở đó luôn có tiếng cười, lời động viên, an ủi ân cần của vị bác sĩ già. “Tôi mở phòng khám, có chút thu nhập để động viên, nhưng mục đích chính là chữa bệnh cứu người. Trong khi bệnh nhân đang cần đến, mà mình ngồi không, dưỡng già thì không đành, lao động là vinh quang”, vị bác sĩ già phấn chấn nói.

Gần 12 giờ trưa, chúng tôi rời phòng khám của ông, trời nắng chói chang, vẫn có thêm những bệnh nhân đội nắng đến khám bệnh. Và ông lại mất giấc ngủ trưa, nhưng tôi hiểu, niềm vui cứu người lại được nhen lên trong trái tim vị Đại tá, bác sĩ đã trọn đời cống hiến cho Tổ quốc, cho nhân dân./.

Theo Hải Lý/ Báo Kinh tế & Đô thị
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Mỹ đã phá sản ở châu á (29-8-1951)

Đuglát là một viên quan toà Tối cao pháp viện Mỹ, là một người chống cộng kịch liệt. Ba nǎm nay y đã 3 lần sang xem xét các nước châu á. Vừa rồi, y viết một bài trong tạp chí Mỹ, có mấy đoạn như sau:

“Châu á đang cách mạng. Một lực lượng sôi nổi từ dưới dấy lên, không có sức gì trong thế giới ngǎn trở được nó. Bao nhiêu bom nguyên tử, bao nhiêu súng đạn và quân đội cũng không ngǎn được làn sóng cách mạng ấy… Tinh thần độc lập lan tràn khắp châu á. Các nước ấy có một mục đích chung là: chống ngoại quốc xâm lǎng, chống phong kiến bóc lột … Trong con mắt nông dân châu á, Mỹ là bầu bạn của những thế lực hủ bại và phản động ấy … Dù Mỹ đưa ra bao nhiêu súng đạn và đôla cũng không thể chống lại phong trào cách mạng ở các nước châu á… Mỹ cần mở một mặt trận chính trị ở châu á để chống cộng sản. Chính sách Mỹ đã phá sản rồi, không phải vì lực lượng võ trang của Nga, nhưng vì Mỹ đã bị hy sinh cho tư tưởng của bọn quân nhân, cho nên Mỹ trở nên yếu hèn bất lực”.

– Cách mạng ở châu á sôi nổi lan tràn.

– Súng, đạn, tiền bạc của Mỹ cũng vô dụng.

– Chính sách phản động của Mỹ thất bại hoàn toàn.

Đó là lời một lãnh tụ phản động Mỹ, chứ không phải lời của một người cộng sản nào.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1894, ngày 29-8-1951.
cpv.org.vn

Tiền xương máu (1-9-1951)

Chiến tranh xâm lược ở Việt Nam làm nhân dân Pháp và Việt chết người hại của, cho lũ tư bản thực dân “ngồi mát ǎn bát vàng”. Theo báo Dân chúng (Pháp, 27-2-1951), thì bọn này vừa được những món phụ cấp to như sau:

– Hãng cao su Đất Đỏ, 610 vạn đồng.

– Hãng cao su Cao Miên, 220 vạn đồng.

– Hãng canh tác vùng nhiệt đới (Culture tropicale), 180 vạn đồng.

– Hãng cao su Đông Dương, 950 vạn đồng.

– Địa ốc ngân hàng Đông Dương, 500 vạn đồng.

– Hãng Misơlanh, 510 triệu phrǎng.

– Mỏ than Đông Triều, 800 triệu phrǎng.

– Mỏ ở Lào, 70 triệu phrǎng.

– Hãng rượu Đông Dương, 1.700 triệu phrǎng.

– Hãng cao su và cà phê Rốtxi (Rossi), 41 triệu phrǎng.

– Nhà tu hành các bà phước Xanh Pôn đờ Sáctơxơ (Saint Paul de Chartres), 85 triệu phrǎng.

Đây cũng là một tài liệu tốt cho anh em vận động lính Pháp và nguỵ binh. Vì lính Pháp và nguỵ binh sẽ thấy rõ: họ hy sinh xương máu cho ai ?

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1896, ngày 1-9-1951.
cpv.org.vn

Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh (2-9-1951)

Ai cũng biết bệnh quan liêu mệnh lệnh là nguy hiểm. Nhưng trong công tác thực tế, như trong việc tạm vay thóc chiêm vừa rồi, nhiều cán bộ ta còn mắc bệnh ấy. Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ.

Bệnh quan liêu mệnh lệnh tự đâu mà ra ?

Nguyên nhân bệnh ấy là:

Xa nhân dân : do đó, không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân.

Khinh nhân dân: cho là “dân ngu khu đen”, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình.

Sợ nhân dân: khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.

Không tin cậy nhân dân: họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy, làm cũng được.

Không hiểu biết nhân dân: họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông.

Không yêu thương nhân dân: do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân. Thí dụ: họ yêu cầu nhân dân đóng góp, nhưng không biết giúp đỡ nhân dân tǎng gia sản xuất, cải thiện sinh hoạt, để bồi dưỡng sức của, sức người của nhân dân.

Có nơi, bệnh quan liêu mệnh lệnh trầm trọng đến nỗi cán bộ lừa phỉnh dân, doạ nạt dân!

Bệnh quan liêu mệnh lệnh chỉ đưa đến một kết quả là: hỏng việc. Vì vậy, chúng ta phải mau mau chữa bệnh nguy hiểm ấy.

Cách chữa bệnh ấy gồm có một nguyên tắc là: Theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều là:

Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;

Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;

Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;

Sẵn sàng học hỏi nhân dân;

Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo.

Cán bộ Đảng và chính quyền ta đều sẵn lòng cầu tiến bộ, sẵn chí phụng sự nhân dân. Mong rằng anh chị em đều cố gắng thi đua dùng đơn thuốc này, (thuốc đắng dã tật), chữa hết bệnh quan liêu mệnh lệnh, để trở nên người cán bộ tốt, và làm cho công việc thu thuế nông nghiệp sắp tới đạt được kết quả mỹ mãn.

C.B.

Báo Nhân dân, số 23, ngày 2-9-1951.
cpv.org.vn

Phương Tây và phương Đông (2-9-1951)

Viên quan ba Mỹ Vang Bang sắp phải sang Triều Tiên. Chị vợ can hắn chớ đi. Can không được, chị ta bèn lấy dao đâm chồng bị thương nặng (Báo Mỹ 30-7-1951).

Sau khi nghe tin quân ta thắng trận, tên trưởng đồn Q.L. nhận được lệnh Pháp bắt phải ra trận. Vợ hắn can chớ đi. Can không được, chị vợ bế con nhảy xuống sông tự tử. (Tin tức Nam Định 1-8-1951).

Hai tin trên chứng tỏ:

Phương Tây cũng như phương Đông, mọi người đều oán ghét chiến tranh xâm lược, mọi người đều mong muốn hoà bình.

Nội bộ của địch, thậm chí giữa vợ và chồng, rất mâu thuẫn. Đó là một nhược điểm rất to của địch.

Hai chị kia muốn chống chiến tranh xâm lược, nhưng không biết cách chống. Cách hay nhất để chống chiến tranh xâm lược là:

1) Nhân dân các nước bị xâm lược, như Việt Nam, Triều Tiên, thì phải đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết kháng chiến, tiêu diệt đế quốc xâm lược.

2) Nhân dân các nước khác, thì đoàn kết chặt chẽ, phản đối chiến tranh, ủng hộ hoà bình.

C.B.

Báo Nhân dân, số 23, ngày 2-9-1951.
cpv.org.vn

Thư gửi lớp cán bộ cung cấp (2-9-1951)

Thân gửi:

Các đồng chí giáo viên,

Các đồng chí cán bộ phụ trách và cán bộ học trò,

Ban huấn luyện cung cấp.

Các đồng chí giáo viên đã có nhiều kinh nghiệm hiểu rõ tình hình, biết thấu những ưu điểm và khuyết điểm của học trò, sẵn lòng chịu khó dạy dỗ. Cho nên tôi chắc rằng ban huấn luyện sẽ có kết quả tốt đẹp.

Công việc cung cấp cũng quan trọng như việc trực tiếp đánh giặc trước mặt trận: Cung cấp đủ súng đạn, đủ cơm áo cho bộ đội thì bộ đội mới đánh thắng trận, điều đó rất rõ ràng dễ hiểu. Nhưng để làm cho đúng, thì phải có một chính sách rõ rệt, một tư tưởng thấu suốt.

Vì vậy, tôi tóm tắt nêu vài điểm sau đây để giúp các đồng chí nghiên cứu.

– Anh em đều đã có ít nhiều kinh nghiệm, nay lại hǎng hái học hỏi. Khi trở về làm việc, cần phải áp dụng những điều đã học cộng với kinh nghiệm của mình vào công việc thực tế một cách khôn khéo, mềm dẻo, hợp với hoàn cảnh chứ không nên máy móc.

– Có người cho rằng cung cấp là một công việc tầm thường không được nêu danh nổi tiếng như ra trận đánh giặc, vì vậy không vui lòng làm. Nghĩ như thế là sai, sai to. Nếu mọi người đều ra mặt trận, thì bộ đội lấy gì mà ǎn, lấy gì mà đánh?

Cách mạng cũng như một bộ máy, phải có phân công, người làm việc này, người làm việc khác, nhưng việc nào cũng cần thiết, cũng quan trọng. Thí dụ trong một cái đồng hồ, những cái kim thì chạy suốt ngày đêm, những chữ số thì suốt đời đứng một chỗ. Nếu những chữ số cũng muốn chạy như cái kim, hay là cái kim cũng muốn đứng lại như chữ số thì không thành cái đồng hồ nữa.

– Có người nói: Cán bộ cung cấp thường mang tiếng hủ hoá, mình không muốn mang tiếng, nên muốn đổi công tác. Nói như vậy là lầm, lầm to. Những kẻ hủ hoá là vì thiếu đạo đức cách mạng, đồng thời vì các cơ quan thiếu kiểm tra, thiếu phê bình và tự phê bình. Thiếu những điều đó thì bất kỳ làm công tác gì cũng dễ hủ hoá.

Vì vậy, cán bộ cung cấp càng phải làm kiểu mẫu cần, kiệm, liêm, chính. Các cơ quan cung cấp cần phải thực hành kiểm tra, phê bình và tự phê bình, để cải chính dư luận bảo rằng: cán bộ cung cấp thường hủ hoá.

– Có người lại e rằng: lề lối làm việc mới của cán bộ cung cấp có thể không ǎn khớp với cách làm việc cũ của cán bộ chỉ huy.

Cán bộ cung cấp tiến bộ thì cán bộ chỉ huy ắt cũng tiến bộ. Những chính sách và đường lối Chính phủ đã định, thì cán bộ ngành nào cũng phải phục tùng.

– Nhiệm vụ chính của cán bộ cung cấp là phụng sự đại đa số bộ đội tức là người binh nhì, phải thương yêu sǎn sóc người binh nhì.

Cán bộ cung cấp như là người mẹ, người chị của người binh nhì.

Gần đây sẽ có tiêu chuẩn cung cấp mới. Nó sẽ giúp cho cán bộ cung cấp dễ làm việc hơn. Điều kiện cần thiết là cán bộ cung cấp phải biết rõ ràng số người mình phụ trách cung cấp.

Phải có kế hoạch đầy đủ, sổ sách rành mạch.

Phải thấy trước, lo trước.

Phải có sáng kiến và phải tháo vát.

Phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính.

Phải khéo áp dụng những điều đã học và những kinh nghiệm đã có và sẽ có.

Như vậy, thì chắc anh em sẽ làm tròn nhiệm vụ, sẽ không phụ sự ân cần dạy bảo của các đồng chí giáo viên, để xứng đáng với sự tin cậy của Chính phủ, đoàn thể và bộ đội.

Chúc các đồng chí mạnh khoẻ và cố gắng.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Báo Quân đội nhân dân, số 31, ngày 2-9-1951.
cpv.org.vn