Archive | Tháng Ba 2012

Gia đình hai đời tổ chức lễ giỗ Bác Hồ

(Nguoiduatin.vn) – Trọn 42 năm kể từ ngày Bác mất, có một gia đình vẫn thầm lặng tự tổ chức lễ giỗ cho Bác suốt quãng thời gian qua. Đó là gia đình của cụ Cao Văn Đằng (SN 1922, ngụ tại khóm 9, thị trấn Càng Long, tỉnh Trà Vinh), một người nông dân nghèo, chất phát mà người dân quanh đây thường gọi với cái tên là “ông Hai con trai Bác Hồ”.

Giờ đây, tuy cụ Hai không còn nữa nhưng mỗi năm đến ngày 2/9, các con của cụ vẫn đều đặn thắp nén nhang và nấu một ít món ăn dâng lên Bác để bày tỏ lòng thành kính.

Cô Mừng thắp nén nhang cho Bác Hồ trong lễ giỗ

Chiếc radio kỷ niệm

Con đường vào nhà cụ rất khó đi và khá vòng vèo, thế nhưng năm nào cũng thu hút hơn 100 người đến dự lễ giỗ tại căn nhà nhỏ này. Ngày trước, cụ Hai tham gia làm công tác hậu cần, dân quân, tiểu tổ nông hội đi vận động tiếp tế cho quân ta thời kháng chiến chống Pháp. Bốn người con trai đầu của cụ cũng nối gót cha tham gia cách mạng, nhưng một người đã nằm xuống trong một cuộc kháng chiến chống Mỹ. Lúc đó, bà con trong vùng ai cũng bỏ nhà tránh bom đạn của giặc. Duy nhất còn lại mình cụ bám trụ lại để dự trữ lúa gạo nuôi quân.

Cô Cao Thị Mừng (57 tuổi), người con thứ 5 của cụ Hai lấy trong tủ ra cho tôi xem một cái radio đã cũ. Cô chia sẻ: “Hồi trước cha tôi đi cuốc mướn hai công khoai, bán thêm một tạ heo, một bầy gà vịt mới có tiền mua cái radio này với giá 7.200 đồng. Tại ổng mê nghe tin tức lắm, ngày nào cũng kè kè cái radio bên tai”.

Cũng nhờ chính chiếc radio này mà cụ Hai hay tin Bác mất. Chiều ngày 3/9/1969, đài phát thanh Hà Nội loan tin về sự ra đi của Bác, nghe tin này, cụ Hai đã khóc rất nhiều. Mặc dù chưa một lần được gặp mặt Bác, nhưng qua những thông tin từ báo đài, ông rất ngưỡng mộ về sự giản dị và tài giỏi, thương nước thương dân của Bác.

Cô Cao Thị Rành (50 tuổi), người con thứ 8 của cụ chia sẻ: “Cha tôi thương Bác lắm. Để thể hiện tấm lòng của mình, cha tôi bắt đầu để râu giống Bác, đi dép cao su. Hễ có ai khen cha tôi giống Bác là ổng vui cả buổi trời”.

Ngày cụ Hai còn sống, dù Bảo tàng Trà Vinh đã nhiều lần ngỏ ý mang chiếc radio và một cái gầu tát nước mà ngày xưa ông bắt cá làm giỗ cho Bác về trưng bày nhưng cụ Hai không đồng ý. Từ giường bệnh, ông cụ lòm còm bước lại đến ôm chiếc radio và cái gầu vào lòng, vì đối với cụ, đây là những kỹ vật thiêng liêng, quý giá, không gì có thể sánh bằng cho dù nó đã hỏng suốt mười mấy năm nay.

Lừa lính ngụy đốt nhang lạy Bác

Sau khi Bác mất, cụ Hai lập ngay một bàn thờ nhỏ và giấu kín trong nhà để giặc không phát hiện. Vì không có hình của Bác nên cụ lấy một con tem kháng chiến có hình của Bác để thờ. Cụ tính từng ngày cúng thất, cúng 49, 100 ngày cho Bác, đầy đủ lễ tiết như người thân trong gia đình.

Cụ Hai bên chiếc radio kỷ niệm

Ngày đó, gia đình còn khó khăn nên có gì cụ cúng nấy, có cá bắt cá, có gà làm gà. Lần đầu tiên giỗ Bác, lấy lý do đám giỗ bố, cụ đã mời bọn lính Ngụy đến dự rất đông, còn các anh bộ đội sắm vai con cháu trong nhà. Thấy lính Ngụy đốt nhang lạy Bác, ông cụ cười thầm trong bụng.

Sau khi đi giỗ về, bọn lính Ngụy sinh nghi nên bắt cụ Hai về đồn chất vấn. Tuy nhiên, vì không đủ chứng cứ, bọn chúng đành phải để ông cụ ra về.

Ấm ức vì không thể kết tội cụ Hai, tên đồn trưởng quyết định cho lính đến mai phục bắn cụ cho hả tức. Núp trong một bụi cây, nhìn thấy cụ đang đặt dĩa khoai lang lên bàn thờ và thắp nén nhang, bọn lính bắn một phát đạn vào cánh tay phải của cụ.

Cô Mừng nhớ lại: “Lúc đó nghe tiếng sung trước nhà, tôi sợ quá, chạy ra thì thấy cha đang giữ lấy cánh tay đầm đìa máu. Tôi vội vàng lấy chiếc xe đạp ra kêu cha lên chở đi nhà thương nhưng cha một mực không chịu. Cha nói, tụi lính Ngụy đang nghi ngờ mà bây giờ đi nhà thương cho tụi nó giết chết cả nhà nên tôi đã đưa cha đi trạm xá mổ vết thương lấy viên đạn ra”. Vì chậm trễ làm máu chảy rất nhiều nên sau hôm đó, tay phải cụ Hai không còn hoạt động bình thường được nữa.

Sau ngày giải phóng, ông Hai liền đóng một cái tủ nhỏ làm bàn thờ Bác và đặt trang trọng giữa nhà, nơi thường dành thờ cúng tổ tiên.

Muốn giỗ cùng ngày với Bác

Bệnh tật đã dần dần cướp đi sức khỏe cụ Hai. Sau bao nhiêu năm bị bệnh gan hành hạ, cụ Hai quyết định về nhà để được gần Bác, được lo cơm nước, thắp nhang cho Bác mỗi ngày.

Cô Mừng bên di ảnh cụ Hai 

Đến giữa tháng 9 năm ngoái, cụ Hai đã ra đi, 10 ngày sau đám giỗ của Bác. Cô Mừng nghẹn ngào tâm sự: “Trước lúc mất, mắt cha tôi cứ nhìn chăm chăm vào bàn thờ Bác. Ông dặn, sau này nếu có làm giỗ cho ông thì làm chung ngày giỗ với Bác Hồ. Nên năm sau tụi tôi sẽ tổ chức chung một ngày cho ông vui lòng”.

Gia đình cụ Hai mỗi năm có đến sáu cái giỗ nhưng giỗ của Bác luôn luôn là giỗ lớn nhất. Trước giỗ 2 ngày, các con cụ đã bắt tay vào công việc làm đồ ăn. Cô Mừng chia sẻ: “Hồi đó làm giỗ đơn giản lắm, chỉ có mấy anh chị em trong nhà thôi, nhưng bây giờ thu hút càng ngày càng đông người, có năm tiếp hơn cả chục bàn nên phải chuẩn bị nhiều hơn, sợ khách lại mà không đủ đồ ăn thì ngại lắm”.

Ngày đầu tiên, các con cụ Hai từ phương xa trở về quây quần lại gói bánh tét, bánh ít biếu tặng khách. Ngày thứ hai, mọi người tiếp tục làm heo, gà, vịt để đúng ngày 2/9 bà con lại chung vui. Tất cả đồ ăn nấu giỗ đều do tự tay các con cụ nuôi trồng vì như thế vừa đỡ chi phí vừa đảm bảo vệ sinh an toàn cho mọi người.

Trong bàn ăn, các con cụ Hai không quên dọn thêm một bộ chén đũa, vì mọi người biết, dù có đi đâu thì ngày này, chắc chắn cụ Hai sẽ về dự giỗ Bác Hồ.

Chị Nguyễn Thị Hoa sáng sớm đã đi mua trái cây rồi lặn lội từ huyện Vũng Liêm (Vĩnh Long) đến nhà cụ Hai dự giỗ. Chị chia sẻ: “Tôi đến đây lần này là được 4 lần rồi. Hồi đó nghe người ta nói nhiều về ông nên tôi rất tò mò và tìm đến đây dự giỗ. Tôi không phải bà con gì của ông Hai hết vậy mà gia đình ông vẫn đón tiếp niềm nỡ. Riết rồi cũng thành quen, năm nào tôi cũng dành chút thời gian xuống thắp cho Bác nén nhang”.

Anh Lê Văn Ngoan, Bí thư thị trấn Càng Long nhận xét: “Đây là một việc làm hết sức ý nghĩa nên tôi rất trân trọng tấm lòng của chú Hai. Sau khi xuống Đền thờ Trà Vinh là tôi tranh thủ qua nhà chú Hai. Việc làm này tưởng chừng đơn giản nhưng không phải ai cũng có thể làm được”.

Sau khi cụ Hai qua đời, các con cụ tiếp tục tự tổ chức lễ giỗ cho Bác Hồ. Vì đó không những là tâm nguyện của cụ Hai mà còn là ý muốn của các con cụ, để mọi người có dịp thể hiện tấm lòng của mình đối với vị cha già của dân tộc.

Đỗ Dũng

nguoiduatin.vn

Kiều nữ Thành Nam lần đầu gặp Bác

(Nguoiduatin.vn) – “Thế cháu là nông dân, mặc áo dài đi cày, áo quấn vào cày, cháu cày làm sao?”. Câu hỏi của Bác làm nữ đại biểu Quốc hội thẹn thùng, mặt nóng như đổ lửa.

Với bất cứ ai, được trực tiếp nhìn thấy Bác một lần trong đời là niềm hạnh phúc lớn. Riêng đối với bà Nguyễn Thị Kim Dung – Nguyên cán bộ Ban Tổ chức Thành ủy Nam Định, nguyên đại biểu Quốc hội khóa III – niềm hạnh phúc đó thật to lớn vì bà không chỉ được gặp Bác hai lần mà còn được Người trò chuyện và dạy bảo.

Bà Nguyễn Thị Kim Dung thời trẻ

Sinh năm 1937 tại xã Hải Quang (Hải Hậu), bà Kim Dung cùng gia đình chuyển tới sống tại xã Nam Phong vào năm 1963. Một năm sau, bà được Mặt trận Tổ quốc tỉnh Nam Định giới thiệu ra ứng cử rồi được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa III. Tại kỳ họp thứ nhất ở Thủ đô Hà Nội, bà và các đại biểu trẻ vinh dự được vào gặp Bác ở vườn cây gần nơi Bác ở.

Quá xúc động và bỡ ngỡ vì lần đầu tiên trong đời được gặp Bác, bà không nghe thấy Bác gọi tên mình. Phải tới khi Bác gọi đến lần thứ ba và mọi người xung quanh nhắc, bà mới vội vàng đứng dậy, lúng túng đến nỗi để chiếc áo dài quấn vào ghế.

Bác nhìn bà đôn hậu rồi hỏi đùa: “Thế cháu là nông dân, mặc áo dài đi cày, áo quấn vào cày, cháu cày làm sao?”. Câu hỏi làm nữ đại biểu Quốc hội thẹn thùng, mặt nóng như đổ lửa. Thấy vậy, Bác nói ngay: “Thôi, Bác đùa đấy. Thế Chi bộ Vạn Phong và Đảng bộ Nam Phong vẫn 4 tốt chứ?”.

Sau khi trò chuyện, hỏi han, Bác cùng mọi người ra cửa Phủ Chủ tịch chụp ảnh kỷ niệm. Hôm đó, các đại biểu trẻ được về gặp Bác rất đông, ai cũng muốn được đi gần Bác. Các anh chị em khác chen nhau đi trước còn bà Dung đi sau.

Bỗng Bác dừng lại bên cạnh rồi nắm lấy tay bà nói: “Những thành tích của cháu đạt được, Bác rất hoan nghênh. Bác sẽ tặng cho cháu Huy hiệu của Bác. Cháu cố gắng học tập để có đủ trình độ làm tốt nhiệm vụ của nguời Đảng viên, người đại biểu Quốc hội nhưng Bác cũng phê bình cháu, cháu ít tuổi nhưng nhiều con. Cháu phải sinh đẻ có kế hoạch thì mới tiến bộ được”.

Những lời dạy bảo của Người làm bà vô cùng vui sướng và xúc động. Bà không ngờ một vị Chủ tịch nước bận trăm công nghìn việc như vậy mà lại có thể nắm rõ một cách tường tận thành tích của một Chi bộ, một Đảng bộ và hơn thế là cả lai lịch chi tiết của một đảng viên trẻ ở vùng quê như bà. Lời Bác như những lời dạy bảo chân tình của người ông nội, người cha đối với con, cháu trong nhà.

Bà Kim Dung được Bác nắm tay dẫn đi tiếp trên con đường rải sỏi, dưới hàng cây mát rượi. Trong bàn tay ấm áp của Người, bà cảm thấy như được truyền thêm sức mạnh để có thể vượt qua tất cả mọi khó khăn và sự khốc liệt của chiến tranh.

Trong lần chụp ảnh đó, Bác còn bảo với bà: “Cháu thấp, cháu đứng đằng trước để thợ chụp ảnh nhìn cho đẹp”. Khi lấy ảnh, bà mới biết được rằng mình được đứng ngay dưới chân Bác. “Trải qua mấy chục năm rồi nhưng thời khắc thiêng liêng đó vẫn không phai mờ trong ký ức của tôi” – Bà nói, tay nâng niu bức ảnh cũ đã sờn, khóe mắt ngấn lệ vì xúc động xen lẫn vẻ tự hào.

Bác Hồ tại Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần 3, tháng 5-1962

Sau lần gặp đó, vào năm 1968, bà được Đảng bộ tỉnh cử đi dự Hội nghị tổng kết công tác xây dựng Đảng 4 tốt toàn miền Bắc tại Hội trường Ba Đình. Đến giờ giải lao, các đại biểu xôn xao vì không thấy Bác đến dự.

Khi đang đứng ở hội trường, bà thấy đồng chí Lê Hoành – Chuyên viên Ban Tổ chức Trung ương – đến tìm và nói: “Bác đang hỏi cô. Cô về chụp ảnh với Bác”. Lúc gặp, Bác vẫy vẫy tay gọi bà đến bên và bảo: “Bác cháu ta ngồi xuống để chụp ảnh”.

Bà ngồi xuống ôm chân Bác như một đứa cháu nhỏ. Nhìn thấy Bác gầy và xanh, bà hỏi: “Thưa Bác, Bác có khỏe không ạ?”. Bác hiền từ nhìn bà và bảo: “Bác vẫn khỏe”. Bác còn quan tâm hỏi han bà rất nhiều về chuyện chồng con, cuộc sống gia đình… Bà không ngờ đó là lần cuối cùng bà được gặp Bác và được chụp ảnh chung với Bác.

Trong 8 năm làm đại biểu Quốc hội cũng như trong quá trình công tác và về địa phương nghỉ hưu sau này, bà vẫn luôn nhớ và làm theo lời Bác dặn: Phấn đấu rèn luyện phẩm chất lối sống để mãi là người đảng viên tốt được quần chúng tin yêu.

Năm 1993, bà nghỉ hưu nhưng vẫn tích cực tham gia hoạt động trong các tổ chức như Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, Mặt trận Tổ quốc… Cách đây 2 năm, bà xin thôi giữ chức Chủ tịch Hội Khuyến học xã Nam Phong và bàn giao công việc cho người khác.

Trong cuộc sống hàng ngày, bà luôn xông xáo, miệng nói tay làm, sẵn sàng đi đầu giải quyết những vụ việc khó khăn, phức tạp ở địa phương với tinh thần “bất cứ lúc nào, bất cứ đâu cần là mình có mặt”.

Bà tâm niệm phải cố gắng làm tốt nhất những gì mình có thể, làm những gì có lợi cho Đảng, cho dân và rất tự hào đến nay vẫn giữ được cốt cách, đạo đức của người đảng viên. Điều hạnh phúc nhất của bà là cả 5 người con đều đã thành đạt và có gia đình êm ấm. ở bất kỳ vị trí nào, các con bà đều luôn phấn đấu để xứng đáng với truyền thống cách mạng của gia đình.

Bà Kim Dung chia sẻ, năm tới sẽ được nhận Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Bà cũng kể thêm, có một cán bộ trên Trung ương vừa tìm về xin mượn tấm huy hiệu mà Bác đã trao tặng cho bà cách đây gần 50 năm cùng tấm huy hiệu đại biểu Quốc hội để trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, bà quyết định xin giữ lại tấm Huy hiệu cao quý Bác tặng để làm kỷ niệm cho mình và cho con cháu sau này.

Hữu Chiến

nguoiduatin.vn

Tới Pác Bó ngẫm tầm vóc tư duy chiến lược của Người

Tác giả: VƯƠNG QUÂN HOÀNG

Cái sự “cuộc đời cách mạng thật là sang,” như tự nhủ ấy có lẽ là một cách tự nhắc nhở bản thân của Người về cái đích còn rất diệu vợi của cái ngày thành công.

Sáng 28-1-2011 (tức ngày 25 tháng Chạp) chúng tôi tiếp tục hành trình trên mảnh đất Cao Bằng, nơi biên cương tổ quốc để được đến với địa danh Pác Bó, khu di tích lịch sử ghi mốc những ngày đầu lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Việt Nam, tổ chức và lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.

…Càng đi trên con đường dẫn tới khu di tích Pác Bó, ta có cảm giác núi cao hơn, rừng bao phủ dày đặc hơn. Con đường có vẻ như hẹp lại – mặc dù rõ ràng là không phải như vậy. Tôi có cảm giác như Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn để lại ở đây – hoặc tiếp tục trao cho nơi đây – rất nhiều năng lượng của Người, như thể Người chưa bao giờ nằm xuống vậy. Đó là cảm giác rất thực, thực đến mức càng cố gắng sử dụng ngôn ngữ để miêu tả, có lẽ càng làm cho điều ấy ít thực hơn đi.

Phiến đá bên đường ghi lại rằng, vào năm 1961 Hồ Chủ tịch đã trở lại thăm Pác Bó sau khi lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng 8 và Kháng chiến 1946-54 lẫy lừng bốn bể. Cờ hoa dọc hai bên con đường dẫn vào khu di tích – nơi nhiều hộ dân sinh sống làm sáng lên và ấm hơn cho vùng núi non hiểm trở nơi địa đầu tổ quốc.

Từ nơi này vào tới trung tâm của khu di tích không còn bao xa. Phía trong, đường bê tông đã trải tới tận sát những phiến đá đầu tiên dẫn vào lối nơi Người sống và làm việc từ cuối tháng 1 năm 1941, cái nơi mà Người tả rằng “cuộc đời cách mạng thật là sang,” mà đa số học sinh phổ thông đều thuộc, nhưng khó mà mường tượng ra sự sang trọng của “cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng.”

Hang Pác Bó, nơi Bác Hồ đã từng làm việc.

Và đây cũng là lần đầu tiên tôi được tận mắt ngắm nhìn và sờ tay vào dòng suối Bác Hồ đặt tên Suối Lê Nin, chạy uốn quanh núi đá thấy ngay từ khi bước vào sân khu di tích – Núi Các-Mác (Karl Marx). Nhìn thấy “phong thủy” của sự lựa chọn sáng suốt của Già Thu thời ấy, tôi càng khẳng định đó là sự lựa chọn cho một năng lượng chiến đấu với những thách thức lớn của cả một dân tộc, cầu sự an bình, độc lập, hạnh phúc cho cả 3 miền đất nước. Có lẽ cảm nhận năng lượng ấy không khó.

Tôi có biết một giả thiết – cứ xem như được mật truyền – của nhà khoa học Nga tên là Ernest Muldashev, người được rất nhiều người Việt gần đây biết đến qua bản dịch tiếng Việt các cuốn sách “Chúng ta thoát thai từ đâu,” và “Bức thông điệp bi thảm của cổ nhân,” và “Trong vòng tay Sambala.” Ông ấy có biện luận cho sự tồn tại và lý giải năng lượng của các ngọn núi lớn nơi Phật giáo Tây tạng phát triển là nhằm tiêu diệt cái ác, đem đến năng lượng thiện, sự cải hóa tâm tính con người… Nếu Muldashev có lý, thì lựa chọn 70 năm trước của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đối với vùng núi biên cương này chứa đựng sự thấu hiểu cao độ những nguyên lý năng lượng vũ trụ, sự hòa hợp năng lượng tự nhiên với tâm năng của ý chí Người nuôi dưỡng vượt mọi thách thức thời cuộc… Nói ngắn gọn, chúng ta bắt gặp tiên cảnh ở nơi đây.

Trộm nghĩ, với một tầm vóc tư duy lớn lao, những khao khát theo đuổi sự nghiệp giải phóng cả một dân tộc, thống nhất một đất nước chia cắt làm 3 miền kể từ 1884 bởi những các thế lực chính trị Pháp lần lượt cai trị An Nam, Già Thu không thể câu cá nơi đây để có sự thư thái, ung dung. Cái sự “cuộc đời cách mạng thật là sang,” như tự nhủ ấy có lẽ là một cách tự nhắc nhở bản thân của Người về cái đích còn rất diệu vợi của cái ngày thành công. Sử sách vẫn còn ghi đó, ngay khi vừa tới Pác Bó, Hồ Chủ tịch đã sớm phác họa con đường chiến lược lấy Cao Bằng với địa hình thuận lợi và phong trào cách mạng có chiều sâu trong nhân dân làm điểm bắt đầu, và huấn thị phải nhanh chóng chuyển biến được thuận lợi ban đầu này thành căn cứ để lan tỏa sức mạnh tới Bắc Kạn, Thái Nguyên, từ đó tiếp cận đồng bằng và triển khai sự liên kết lực lượng các mạng các vùng miền của Việt Nam.

Thẳng thắn mà nói, đời sống vật chất tiện nghi, văn hóa nghe nhìn, bấm nút rầm rộ đã phần nhiều cản trở chúng ta thoát khỏi sự hời hợt của những khái niệm không đầu không cuối. Trong khi đó, để thấu hiểu những phát biểu chiến lược này, cần phải quay ngược lại không thời gian của giai đoạn lịch sử ấy. Một người sâu sắc như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã biết rõ rằng, mỗi một bước đi chiến lược đều liên quan đến sinh mệnh đồng chí, đồng bào, đến sự tồn vong của một lực lượng non trẻ… và phép tính ấy còn phải vượt qua rất nhiều thử thách để đi từ một chốn tiên cảnh nơi hoang sơ trở thành phong trào cách mạng rộng khắp toàn quốc chỉ hơn 4 năm sau đó. Những bất trắc như thời kỳ ngục tù 1943 dưới tay quân Tưởng là một phần của những khó khăn Người đã dự liệu.

Không có cách nào để hiều điều ấy nếu chúng ta không chịu rời chăn ấm và phòng kín điều hòa, những bữa tiệc ngon để biết trong hang đá lạnh lẽo chừng hơn 10 mét vuông ở Hang Cốc Bó, Người và 5 đồng chí thuở ban đầu chỉ có ý chí và ngọn lửa sự nghiệp dân tộc làm hơi ấm tiếp sức. Rõ ràng cháo bẹ, rau măng ấy là những món sang nhất trên đời, một khi đó là nguồn năng lượng đem đến những kỳ tích dân tộc

Nơi nghỉ của lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam cũng chỉ đơn sơ với một tấm phản bằng gỗ như thế này mà thôi. Một nhân cách vĩ đại là thế, một tài năng lỗi lạc là thế, một sự nghiệp lớn lao bao trùm là thế, nhưng nhu cầu vật chất nào có là bao.

Nhũ đá trong hang Cốc Bó được Người đặt tên “tượng Các Mác” như một minh chứng của trí tuệ phong phú, khởi nguồn cho những tư duy chiến lược, viễn kiến quốc gia mãi mãi sau này vẫn là bài học sống động của lịch sử Việt Nam.

Tôi chợt nhớ những vần thơ của Tố Hữu – không phải viết về Hồ Chủ tịch, mà trong bài thơ về anh hùng Nguyễn Văn Trỗi – nhưng lại hợp lý vô cùng khi suy ngẫm về tầm vóc và sự nghiệp của Người:

Có những phút làm nên lịch sử
Có cái chết hóa thành bất tử
Có những lời hơn mọi bài ca
Có con người như chân lý sinh ra

Con người “như chân lý sinh ra” ấy có một cuộc đời giản dị tới mức những người bình thường sống trong xã hội chúng ta ngày hôm nay không sao hình dung được đó là cuộc sống của một lãnh tụ vĩ đại, một cuộc sống được đánh đổi bằng những năm tháng tuổi trẻ bôn ba, và sự đau đáu cả đời, hy sinh mọi thú vui cá nhân… Chỉ để thế này thôi sao?

Đầu năm 1941, Bác Hồ về nước, Người đã chọn bản Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) làm nơi khởi sự cho công cuộc cách mạng. Vào thời kỳ đó, lương thực có lẽ chỉ là ngô. Cảnh thiếu đói triền miên phổ biến với vùng cao đất nước này. Người về sống trong hang Cốc Bó, trước đó là kho trữ lương thực của ông Lý Quốc Sùng, người ban đầu chăm lo cuộc sống cho Người. Bác sống đạm bạc, với cháo ngô, măng và rau rừng như những người dân quanh đây. Bác sống ở Cốc Bó khoảng 2 tháng. Đến đầu tháng 4-1941, chuyển sang sống ở lán Khuổi Nặm. Chuyện kể rằng, có người cán bộ bẫy được con gà lôi đẹp, muốn giữ nuôi cảnh. Bác bảo: “- Nuôi gà lôi giải trí cũng thích, nhưng hiện nay lương thực rất thiếu thốn, cơm gạo chúng ta còn chưa đủ ăn thì các chú lấy gì để nuôi gà cảnh?”

Anh em có ý kiến rằng sẽ bắt sâu bọ để nuôi gà, Bác đồng ý, nhưng chỉ được vài bữa con gà gầy rộc. Cuối cùng, anh em đành xin phép thịt con gà ấy đi. Khi Bác nhất trí, mọi người nghĩ sẽ được bữa ngon, nhưng sau khi thịt lại chỉ được phép lấy bộ lòng để nấu một bữa tươi. Còn lại thì phải băm nhỏ toàn bộ để trộn muối và rang mặn, cất trữ trong ống tre ăn dần…

Năm 1942, Bác sang Trung Quốc để gặp gỡ với chính quyền Trung ương Tưởng Giới Thạch bàn về mối quan hệ giữa hai nước trong công cuộc chống Nhật. Không may, đi đến phố Túc Vinh, huyện Đức Bảo, Quảng Tây, Trung Quốc, Bác đã bị chính quyền địa phương Tưởng Giới Thạch bắt giữ. Chúng giải Bác đi qua hơn 30 nhà lao của 13 huyện thị Quảng Tây, Trung Quốc. Tháng 10-1943, mới được trả tự do. Tháng 10-1944, Bác quay trở lại Pác Bó. Khi này, sức khỏe đã giảm sút đi nhiều. Tuy vậy, Người vẫn kiên quyết từ chối những chế độ chăm sóc đặc biệt. Trong chữ “đặc biệt” ở đây chỉ là những bữa ăn có thêm chất mà thôi, chứ tuyệt nhiên chẳng có gì để so với những bữa tiệc hoành tráng, lãng phí, trang điểm bằng âm thanh “dzô dzô…” mà dân chớm có tiền của ở đô thị VN hiện đại ngày nay đãi nhau mỗi khi có cớ và cả không cớ.

Lại nói tới điều kiện, tôi vốn không tin rằng điều kiện vật chất là thứ phải có để cho con người có đủ năng lượng chinh phục khát khao. Giống như khi tôi lấy ví dụ rằng,(*) Louis Pasteur đã phát minh ra những thứ vĩ đại cho y học hiện đại (trong đó có vắc-xin chống bệnh dại) trong điều kiện nửa não đã teo, và nửa kia ngập trong bệnh tật, có nguy cơ dừng làm việc bất cứ lúc nào. Nhưng Pasteur xa quá, còn Hồ Chủ tịch thì ngay nơi đây, trong lịch sử đương đại của chính đất nước này.

Tôi đã thỉnh xin vị Thánh dân tộc để được ngồi thử vào chiếc “bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,” trong bộ dạng trang bị ấm áp của kẻ từ dưới xuôi lên, đã sẵn sàng chống chọi với cái rét vùng cao. Tuy thế, cái lạnh thấu xương vẫn cứ xuyên qua những lớp vải bảo vệ, như ngầm nhắc nhở rằng, ngủ quên trong sự ấm áp, hưởng thụ, có sức công phá và gây xói mòn nhanh chóng nghị lực, ý chí và cả đạo đức con người.

… Nhìn xuống dòng Suối Lê-Nin, vẫn thấy những đàn cá đang bơi trong nước lạnh. Những người ở đây nói, thường là cá chép. Nước suối Cao Bằng thật lạnh, tê buốt tay, và ta có thể mường tượng chỉ có những vĩ nhân với năng lượng mãnh liệt mới vừa chinh phục sự khắc nghiệt thời tiết để tạo dựng những viễn kiến lớn của tương lai một đất nước đang chìm trong kiếp nô lệ. Lại tự hỏi, không biết có bao nhiêu người được gọi là quan đầu tỉnh này, bộ kia… có thể tự mình rời bỏ những nơi ấm áp, để thấu hiểu nỗi khổ của thiên hạ, để chia sẻ nỗi đau của muôn dân, để thoát khỏi sự mụ mị của mâm cao, cỗ đầy, say đắm tửu sắc nơi phồn hoa đô thị (cho dù chỉ là sự phồn hoa giả tạo, cục bộ).

Khi cha tôi còn sống, tôi biết ông nhiều lần đã gặp Cụ Hồ, vì ông cũng là thiếu sinh quân từ khi còn nhỏ ở Liên Xô (chừng 10 tuổi hay hơn chút), mà Cụ Hồ có lịch sử quan hệ rất đặc biệt với Liên Xô, lãnh đạo Quốc tế Cộng sản, cũng như đặc biệt quan tâm đến thiếu nhi. Tôi có hỏi cha tôi về sự kiện Bác mất năm 1969, và hỏi cụ thể rằng: “Thế bố có khóc không?” Câu trả lời rất ngắn gọn: “Người Việt Nam, ai cũng khóc.” Và hàng triệu bạn bè khắp năm châu bốn bể cũng thương nhớ chia sẻ mất mát này. Giờ tôi lại tự hỏi, liệu nay còn được bao nhiêu người ở bậc sang trọng, quyền chức có thể khiến cho hàng chục triệu người Việt, và bạn bè khắp năm châu rơi lệ tiếc thương được nữa?

Trước khi rời khu di tích, chúng tôi tới thắp hương tưởng nhớ Hồ Chủ tịch ở khu tưởng niệm người, cách hang Cốc Bó không xa. Nơi đây, những cây trồng kính dâng người của lớp học trò xuất sắc như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã vượt lên trời cao, vững vàng trước nắng mưa, gió rét. Một cây lát hoa đã cao vài chục mét của ông Hồ Tế đã có vòng thân lớn khỏe… Dọc đường chúng tôi mới để ý, vùng này người dân trồng thật nhiều cây lát, dọc cả hai bên quốc lộ.

Hơn bao giờ hết, tôi ý thức được sự bé nhỏ của mình, khi đứng trước tầm vóc lớn lao của một nhân cách vĩ đại, một tư duy chiến lược xuyên không-thời gian mà Hồ Chủ tịch đã mang đến cho đất nước. Chỉ nguyên giao thông thôi, ta cũng nên hiểu rằng ngồi trên những chiếc xe hơi đời mới, tiện nghi không thiếu gì, bánh ngọt nước uống đủ cả, mà chúng ta vượt đèo tới nơi cũng ê ẩm cả người. Hãy nghĩ tới khi Người vượt núi rừng về đây, ở trong hang đá lạnh hơn 10 mét vuông, xung quanh rừng rậm chỉ có chồn sóc, rắn rết… mà nghĩ tới một tương lai độc lập dân tộc, để thấy chúng ta bé nhỏ nhường nào.

Vào lúc này đây, xin được dành phút giây này nhớ đến vị anh hùng dân tộc, Người đã mang lại sự toàn vẹn của tổ quốc Việt Nam hình chữ S thân thương, người cho tôi được nói mình là “người Việt Nam”.

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Câu chuyện “Bác Hồ về thăm làng Gốm” giờ mới kể

Sơ lược lịch sử Bát Tràng

Trước năm 1961 xã Bát Tràng là xã Quang Minh gồm 3 thôn Bát Tràng, Giang Cao và Kim Lan. Hiện nay xã Bát Tràng có 2 thôn :Giang Cao và Bát Tràng, thuộc huyện Gia Lâm – thành phố Hà Nội.

Theo cuốn lịch sử cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân xã Bát Tràng (1930 – 2000) thì diện tích toàn bộ xã là 164 ha với 1628 hộ và 6655 nhân khẩu. Về địa lý, xã Bát Tràng nằm bên tả ngạn sông Hồng, phía Bắc giáp xã Đông Dư , phía đông giáp xã Đa Tốn, phía nam giáp xã Xuân Quan (huyện văn giang, tỉnh Hưng Yên) Phía tây là sông Hồng. Xã Bát tràng cách trung tâm thành phố Hà Nội 12km.

Xã Bát tràng có làng nghề gốm sứ cổ truyền là làng Bát Tràng, cũng như mọi làng quê Việt Nam, làng Bát Tràng có nhiều công trình kiến trúc như đình, chùa, đền, miếu, văn chỉ… chứng minh cho một làng quê văn hiến. Làng Bát tràng từ xa xưa đã nổi tiếng là đất học, đất làng nghề có nhiều người đỗ đạt , khoa bảng . Văn Miếu Quốc Tử Giám, Văn miếu Huế và Văn Miếu Bắc Ninh ( trước 1961 làng Bát Tràng thuộc tỉnh Bắc Ninh) đã ghi danh các bậc đại khoa của làng Bát Tràng gồm một trạng nguyên , tám tiến sĩ, mười quận công. Đầu thế kỷ 20, xã Bát tràng có nhà chí sĩ cách mạng Phạm Văn Tráng tham gia Việt Nam Quang Phục Hội của cụ Phan Bộ Châu, cùng đồng đội tiêu diệt viên tuần phủ gian tỉnh Thái Bình và đã hi sinh anh dũng. Nhiều người làng Bát Tràng đã tham gia Việt Minh, cùng nhân dân nổi lên cưới chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Làng Bát tràng cũng là nơi in ấn bài hát tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao, sau này là Quốc ca của nước ta. trong kháng chiến chống pháp giữa vòng vây kìm kẹp của kẻ thù, người dân làng Bát Tràng vẫn hướng về Đảng và Bác Hồ kính yêu, không ngại hy sinh gian khổ, tích cực tham gia chiến đấu , phá tề trừ gian, chống giặc càn. trong kháng chiến chống Mỹ, dân quân tự vệ Bát tràng đã đánh trả máy bay Mỹ ném bom vào thôn bát tràng. Thanh niên Bát tràng đã xung phong vào bộ đội và đi khắp mọi miền Đất nước để bảo vệ Tổ quốc. Làng Bát tràng có nhiều Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các thương binh liệt sĩ trong 2 cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và chống Mỹ cứu nước nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tháng 8 năm 1958, TW Đảng và Chính phủ quyết định đào sông Bắc Hưng Hải nhằm phục vụ tưới tiêu cho 3 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ (Bắc Ninh, Hưng yên, Hải Dương). Do việc đào sông, xã Quang Minh được tách thành hai xã: Xã Bát Tràng và xã Kim Lan.

Để phục vụ cho đào sông Bắc Hưng Hải, phải di chuyển một nửa thôn Bát Tràng ra chỗ đất mới. Trong đó, có hơn 200 ngôi nhà cổ, một ngôi chùa, các lò nung đồ gốm sứ và các cơ sở sản xuất lâu đời…

Trong tình hình các hộ dân đã di chuyển ra chỗ ở mới, mới chỉ có một số hộ dân xây dựng được nhà cửa , còn một số hộ đang chuẩn bị xây dựng nơi ăn chốn ở và cơ sỏ sản xuất thì Bác Hồ về thăm làng gốm Bát Tràng.

Bác Hồ về thăm làng gốm Bát Tràng

Sáng ngày 20-2-1959, nhân dân xã Quang Minh (Tên xã ở thời điểm đó) vô cùng phấn khởi được đón Bác Hồ về thăm làng Bát Tràng. Cùng đi với Bác có các cán bộ của xã và huyện. Rất đông dân làng nô nức đón Người, vô cùng sung sướng được ngắm nhan dung Bác và đi theo người đến thăm các nơi.

Trên đường vào thăm HTX sản xuất gốm sứ Minh Châu. Bác ghé thăm nhà ông lang Tự (Nguyễn Trọng Đức, đã mất vào năm 1983). Nhà ông Tự đã được di chuyển ra chỗ đất mới và xây dựng xong. Ông lang Tự và con trai đi làm vắng nhà, chỉ có 2 con gái, cô chị là Nguyễn Thị Trâm 13 tuổi., cô em gái Nguyễn Thị Oanh 9 tuổi đang chơi ngoài sân, theo Bác vào Nhà.

Bác hỏi:

– Ba mẹ đi đâu rồi?

– Thưa Bác, thầy cháu và anh cháu đi làm, u cháu đi chợ.

Bác ngắm, đọc bức hoành phi và đôi câu đối ở ngoài hiên nhà thờ. Bác bảo hai cô gái.

– Các cháu nói với ba mẹ là treo câu đối không đúng vị trí, phải đổi câu bên trái sang bên phải.

Bác xuống nhà dưới, mở lồng bàn để xem mâm cơm của gia đình.

Lúc đó chưa đến bữa ăn nên mâm cơm chỉ có bát rau muống luộc. Sau ngày Bác về thăm, ông Lang Tự đã treo lại câu đôi như lời bác dặn.

Bác rời nhà ông lang Tự, vào thăm HTX sản xuất gốm sứ Minh Châu. Thời gian đó HTX này là mô hình sản xuất gốm sứ tiến bộ nhất của làng Bát Tràng, có nội dung và hình thức gần giống như một công ty cổ phần ngày nay. Tiền thân của HTX là tập đoàn sản xuất Minh Châu được thành lâp bởi một số thợ làm thuê tập hợp nhau lại và đóng góp cổ phần. Ban đầu, tập đoàn chỉ có 30 người. Trong vòng 2 năm, tập đoàn này đã phát triển thêm được gần 50 người nữa. Tháng 10 năm 1957, tập đoàn chuyển thành HTX sản xuất Minh Châu. Tháng 8-1959, HTX hợp nhất với các xí nghiệp gốm công ty hợp doanh thành xí nghiệp sứ Bát Tràng. HTX sản xuất Minh Châu chỉ được thông báo vào hôm trước là sẽ có lãnh đạo của TW về thăm. Sáng hôm sau Bác đã về. Tất cả các xã viên đều sản xuất bình thường.

Bác đi qua khu bể lọc đất rồi vào khu sản xuất đứng xem anh Vũ Văn Vinh (sinh năm 1941, hiện nay đã 63 tuổi đã nghỉ hưu) in bát. Vì cảm động quá và còn ít tuổi nên anh Vinh in ra một bát còn hơi méo rồi đặt lên bàn sản phẩm.

Bác hỏi:

– Khi nung chín ra, bát có méo không?

– Thưa Bác, bát cũng méo ạ!

– Thế thì phải làm lại!

Bác quay sang chỗ anh Trần văn Tửu (sinh năm 1940, đã nghỉ hưu) đang tiện tiện bát (một công đoạn sản xuất sau khi in bát và để khô) và hỏi:

– Mỗi ngày cháu tiện được bao nhiêu cái bát?

Anh Tửu hồi hộp quá nên không trả lời được. Một anh cán bộ huyện trả lời.

– Thưa Bác , được 300 cái ạ!

– Như thế có ít không? Có thể gấp hai được không?

Rồi Bác đi ra sân, xem chị Nguyễn Thị Kiểm ( Gọi theo tên chồng là Định, năm nay 74 tuổi đã nghỉ Hưu dấn men phủ Bát . Lúc đó là mùa Xuân nhưng vẫn còn rét, công nhân phải đun nước nóng để pha vào huyễn dịch men sứ cho khỏi giá. Một cán bộ huyện Gia Lâm cầm chậu để đi lấy nước nóng.
– Để các công nhân làm, kẻo chú làm hỏng mất!

Chị Định còn mải ngắm Bác nên Bác nói:

– Cứ làm đi cháu, khéo không đổ vỡ.

Xem xong, bác hỏi chị Định:

– Các cháu làm thế này, thu nhập có cao không? Sản phẩm có chất lượng không?

Mọi người chỉ mải nhìn Bác nên không ai biết trả lời như thế nào.
Cuối cùng, Bác bá vai anh Phùng Ngọc Oanh (hiện 71 tuổi, đã nghỉ hưu) là chủ nhiệm HTX Minh Châu, căn dặn:

– Các cháu cố găng sản xuất hàng hoá sao cho nhiều, nhanh, tốt, rẻ để phục vụ nhân dân!

Bác Hồ rời khỏi HTX trong tiếng hô của mọi người

Hồ chủ tịch muôn năm!

Bác rẽ xuống thăm nhà ông Lang Xương (Lê Văn Xương đã mất) làm nghề Đông dược. Nhà ông lang Xương cũng đã được xây dựng xong ở chỗ đất mới.

Bác thấy trong nhà có mâm cơm, mổ lồng bàn ra xem. bác thấy cơm trắng, đậu rán, rau muống luộc, cà muối. Bác khen nhà có cơm ngon. Rồi Bác ngồi xuống phản gỗ, nói chuyện với ông lang. Bác thấy các lọ và hộp tủ đựng thuốc có dán nhãn tên thuốc bằng chữ Hán, Bác bảo:

– Chú phải dán tên thuốc bằng chữ Quốc ngữ ở dưới chữ Nho để khi chú đi vắng, người nhà bốc thuốc cứu người.

Bác lại hỏi:

– Chú có đắt hàng không?

– Thưa Bác, không được đắt lắm ạ!

Bác nói:

– Thế thì tốt, hàng thuốc mà đắt thì dân có nhiều người bệnh. Bác ngoặt sang một ngôi nhà 2 tầng gần đấy cũng đã được xây dựng xong.
Bác hỏi

– Đây là nhà ai?

Ông Trần Văn Tuý (nguyên Phó chủ tịch xã Bát Tràng đã mất)

– Thưa Bác, nhà ông Phạm Huy Giáp đi bộ đội về ạ!

Bác vào thẳng gian hàng giữa nhà và thấy chăn chiếu trên giường được xếp gọn gàng. bác hỏi bà Trần Thị Vinh (vợ ông Giáp, nay đã 83 tuổi):

– Gia đình ta có mấy người?

– Thưa Bác, có 5 người cháu, 2 vợ chồng và một mẹ già , tổng cộng là 8 người ạ!

Bác nói;

– Thế thì có quá nhiều con.

Ngày 2- 09 – 2002, gia đình ông Phạm Huy Giáp đã lập bia đá gắn và ở tường trước ngôi nhà mà Bác đã đến thăm để kỷ niệm ngày Bác về thăm Gia đình .

Ra khỏi nhà ông Giáp, Bác vào nhà bà Nguyễn Thị Bùi (gọi theo tên chồng là bà Tín, đã mất) chưa xây dựng xong nhà ở tại khu đất mới.

Bác hỏi:

– Sao cô chưa làm nhà?

– Thưa Bác, chưa có vôi ạ!

Thế là hôm sau, bà Tín có vôi làm nhà.

Cuối cùng, Bác trở lại để nói chuyện với dân làng. Trên khu đất có một đường goòng chạy đến cửa sông Bắc Hưng Hải để chở vật liệu và dụng cụ cho việc xây dựng cửa sông này. có một chiếc cầu cao bằng gỗ vượt qua đường gòong để anh chị em công nhân chất đồ xuống xe goòng. Dân làng muốn Bác Hồ đứng trên cầu vượt để nói chuyện với nhân dân.

Bác bảo các cán bộ lãnh đạo huyện và xã:

– Các cô chú cho Bác ra chỗ nào rộng!

Bác ra khoảng đất rộng trước HTX mua bán cho nhân dân trong xã (nay là Trạm Y tế thôn Bát Tràng), Anh Trần Văn Tửu vào một gia đình ở gần đó, mượn một cái bàn gỗ nhỏ , dài chừng 1,2m và cùng mấy người khiêng ra chỗ đất rộng để Bác đứng nói chuyện với dân làng. Mọi người đứng xung quanh Bác, yên lặng và trật tự để nghe Bác nói chuyện.

Bác hỏi thăm dân làng và nói:

– Nhà nước đào sông Bắc Hưng Hải làm mất đi một phần đất của làng Bát Tràng, các cụ và dân làng có vui lòng không hay không đồng ý? Việc di chuyển vừa qua, tình hình xây dựng nơi ăn chốn ở của các gia đình như thế nào? Làng Bát Tràng cũng như xã Quang Minh trong những năm qua hoạt động và công tác có thành tích ra sao?

Ai nghe cũng ngẩn người ra, không biết nói gì vì chỉ ngắm Bác và nghe Bác nói. Cụ Phùng Văn Chạnh (đã mất) thay mặt dân làng báo cáo:

– Dân làng sản xuất rất tốt, thành tích so với năm 1957-1958 gấp rưỡi, không ai bị đói, làng Bát tràng không những giải quyết việc làm cho dân mà còn cho cả bà con ở các nơi khác.
Bác bảo:

– Thế thì tốt, Bác nghe bác cáo dân làng đã chuyển một nửa làng ra khu đất mới. Vậy tất cả bà con đã xây dựng được nhà mới chưa?

– Thưa Bác, đã xây dựng được 80%. bà con phấn khởi, an tâm, không ai thắc mắc gì cả ạ!

– Dân làng đã phải giúp đỡ nhau để ai cũng làm nhanh được nhà mới.
Mọi người đồng thanh nói:

– Vâng ạ!

Bác Hồ căn dặn:

– Bát Tràng là một làng nghề phát triển. Các cô chú phải xây dựng đường sá rộng rãi để xe chở nguyên liệu về làng và chở hàng hoá đi, làng phải có giao thông thuận lợi . Bác căn dặn: “Làng Bát Tràng mới phải làm sao trở thành một làng kiểu mẫu của nước Việt Nam mới, nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa”.

Sau đó Bác chúc sức khoẻ các cụ và dân làng rồi ra xe, rời khỏi làng Bát Tràng. Theo lời Bác dặn, các gia đình ở các đường cái đều lùi vào nhà 1m, còn các gia đình ở đường phụ đều lùi vào 5 m. Một tuần sau đó, thư ký của Bác về hỏi ông Trần Văn Tuý xem nhân dân đã lùi nhà vào chưa? Ông Tuý đưa thư ký của Bác đi xác minh và công nhận dân làng đã làm đúng theo lời Bác!

Nguồn: Giang Thanh sưu tầm

battrangceramics.com.vn