Archive | Tháng Ba 2012

Ra đi để Tổ quốc trở về…

Ảnh tư liệu

100 năm trước đây, năm 1911, từ Bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Từ sự kiện lịch sử phi thường ấy đã làm thay đổi vận mệnh của dân tộc Việt Nam.

Lịch sử sẽ mãi ngẫm ngợi trong việc lý giải vì sao một người thanh niên chỉ mới 21 tuổi đời – tuổi đẹp nhất, tuổi bắt đầu lớn lên về mặt nhận thức, lại có thể có cách nhìn vượt tầm, mẫn tiệp đến mức phải ngỡ ngàng? Chân lý ban đầu thật ra rất giản dị: Muốn đánh bại kẻ thù thì phải hiểu rõ kẻ thù.

Nguyễn Tất Thành đã ra đi để tìm hình của nước (Chế Lan Viên), để đổi thay cả một cách tư duy, cách hiểu, cách tiếp cận đúng những giá trị tốt đẹp nhất giá trị độc lập dân tộc, giá trị con người. Nơi “đến” đầu tiên và khá dài là thành phố Boston- quê hương của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu tiên của loài người trong thời đại tư bản chủ nghĩa (17/12/1773). Thành phố đó cũng là cái nôi để khai sinh ra một nhà nước hoàn toàn mới: Nhà nước Cộng hòa chưa có mô hình tiền lệ, nhà nước tam quyền phân lập, nhà nước với bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ. Với bản Tuyên ngôn đó, những giá trị thiêng liêng của con người: quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc được khẳng định.

Cách đi và đến đó không hề ngẫu nhiên vì chúng ta sẽ được xác quyết một cách rõ ràng: So với tất cả những nhân vật nổi tiếng của thời cận hiện đại, chưa có một ai sống nhiều ở nước ngoài như Nguyễn Tất Thành- Nguyễn Ái Quốc. Nếu Hoa Kỳ (nơi Nguyễn Tất Thành đã sống từ 1911 – 1913) cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu tiên; thì nước Anh (Nguyễn Tất Thành sống từ khoảng 1913-1917) là nơi khai sinh ra nền công nghiệp hiện đại – mà, dù muốn hay không, đất nước nào cần phát triển, hiện đại hóa cũng phải đi theo mô hình đó. Nước Pháp là cái nôi văn minh, ánh sáng của châu Âu, cũng là “nước mẹ bảo hộ” cho Đông Dương mà Nguyễn Tất Thành cần tìm hiểu nhiều nhất và cũng là nơi Người sống lâu nhất trong thời gian ở Tây Âu, từ khoảng 1917 đến cuối năm 1923. Tiếp theo là nước Nga, quê hương của Cách mạng Tháng Mười và Trung Quốc – một trong những nền văn minh sớm nhất và rực rỡ nhất trong lịch sử loài người.

Thống kê như thế để thấy rằng không một lãnh tụ nào của phong trào cách mạng vô sản thế giới đi nhiều, hiểu rộng như Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc- Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này. Lẽ dĩ nhiên, vì đã sống ở các nền văn minh khác nhau nên sự so sánh để lựa chọn điều tốt nhất là vấn đề nguyên tắc của tư duy, của rất nhiều trăn trở và thao thức. Có thể mô hình xã hội XHCN còn có nhiều điều phải tiếp tục nghiên cứu thì thực tế đã chỉ ra rằng, con đường mà Nguyễn Ái Quốc đã chọn là con đường ngắn nhất để dân tộc Việt Nam đến với độc lập, tự do; là con đường tốt nhất để Tổ quốc Việt Nam thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu; là con đường phù hợp nhất với một dân tộc còn chậm phát triển.

Một trong những thành quả to lớn nhất mà Nguyễn Ái Quốc đã “tìm thấy” từ trong truyền thống dân tộc và từ trong 30 năm hoạt động, học tập, nghiên cứu ở nước ngoài là vấn đề đoàn kết. Đã có khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” nhưng vào tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc chỉ ra rằng, ngoài giai cấp vô sản thì phải liên kết, tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được, phân hóa mọi đối tượng có thể phân hóa được để tạo nên sức mạnh tổng hợp bách chiến bách thắng cho dân tộc Việt Nam.

Một thế kỷ đã đi qua kể từ mùa Hạ năm 1911 và, 70 năm cũng đã trôi qua kể từ mùa Xuân năm 1941 – ghi dấu sự ra đi và trở về của vị lãnh tụ vĩ đại. 30 năm cho một lần đi khắp năm châu, bốn biển, đủ hết tất cả những nền văn minh đáng kể nhất trong lịch sử từ hiện đại đến cổ đại (từ Mỹ đến Trung Quốc). Phải chăng Hồ Chí Minh đã làm đúng như những gì Người đã trải qua: Từ thực tế cách mạng và hiệu quả nhất là cách mạng Mỹ (trước Cách mạng Tháng Mười) của chỗ đứng hiện đại để lần giở lại lịch sử, dùng lịch sử để soi rọi nó cho ánh sáng của tầm nhìn mới, con đường mới rực rỡ, chan hòa? Với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, lịch sử không bao giờ lặp lại bằng cách áp dụng cứng nhắc các nguyên tắc cũ mòn, thiếu hiệu quả. Hiểu về Người là phải hiểu rõ mục đích muôn một của tìm kiếm, hành động và thành công là Tổ quốc Việt Nam trở thành một quốc gia hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới .

Hà Văn Thịnh

dvt.vn

Chuyện của một ngày lịch sử

Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước đã diễn ra như thế nào? Nhà văn Sơn Tùng kể chi tiết trong tiểu thuyết “Búp sen xanh”.

Ngày 2 tháng 6 năm 1911.

Anh Ba mặc quần áo trắng, toát lên màu thanh khiết tóc rẽ đường ngôi bên phải, chải mượt, chân đi dép xăng-đan. Anh đi khoan thai xuống tàu Đô đốc La- tu-sơ Tơ-rê-vin.

Tàu Đô đốc La- tu-sơ Tơ-rê-vin.

Được sự giới thiệu của ông chủ sự cảng Nhà Rồng, anh Ba gặp viên thuyền trưởng. Thuyền trưởng Lu-I Ê- đu-a Mai-sen trạc tuổi gần bốn mươi, tiếp anh Ba dưới buồng khách của con tàu. Ông ta quan sát diện mạo anh Ba với một thái độ trọng nể. Ngay từ phút đầu, ông Mai-sen đã để ý tới đôi mắt to, dài và sáng của anh Ba. Ông chìa hai bàn tay ra trước mặt, nói :

– Ô! Nhìn anh, tôi ưa lắm, tốt lắm. Tiếc là trên con tàu của tôi không còn có loại công việc hợp với anh

– Mai-sen lật lật quyển sổ nhân sự để trước mặt. Ông lại nhìn anh Ba, hỏi: – Anh biết đọc chữ Pháp chứ?

– Thưa ông Mai-sen, tôi đọc được ạ.

– Ồ…! Tốt, tốt lắm. – Mai-sen chỉ vào trang sổ nhân sự và nói bằng tiếng Pháp: – Đây. Anh xem, vừa mới sáng nay, tôi đã nhận thêm bốn người An-nam. Danh sách bốn người đây. – Mai-sen đọc tên từng người: – Đặng Quang Giao, Lê Quang Chi, Nguyễn Tuân, Nguyễn Văn Tri.

Anh Ba chau mày, những ngón tay gõ gõ trên mặt bàn. Hai mắt anh Ba như phủ một lớp sương chiều. ông Mai-sen đọc được những băn khoăn trong đôi mắt anh Ba :

– Tôi biết những người như anh muốn làm cánh chim bay trên những miền đất lạ. Tiếc là, trên con tàu của tôi chỉ còn cần một chân phụ bếp.

Hai mắt anh Ba bừng sáng :

– Thưa ông Mai-sen, tôi đề nghị ông nhận tôi vào chân phụ bếp ấy.

– Ồ… ! – Mai-sen nhìn anh Ba, hơi ngờ vực. – Một thư sinh như anh chịu không nổi đâu. Công việc làm bếp ở con tàu này rất nặng nhọc. Hằng ngày phải lo những bữa ăn cho cả trăm người với nhiều khẩu phần khác nhau; riêng hành khách có vé hạng nhất đã bốn mươi người.

Anh Ba chìa hai bàn tay ra trước ông Mai-sen :

– Ông xem những vết chai sạn trên bàn tay của tôi.

Mai-sen cầm lấy bàn tay anh Ba ngắm, mỉm cười :

– Người phương Tây chúng tôi rất tin khoa xem tướng bàn tay. Tôi không sành bói toán, nhưng bàn tay anh ngón thon dài thế này thì viết chữ đẹp, có năng khiếu mỹ thuật và âm nhạc. Anh được cả hai cái lớn: con mắt và bàn tay. Tôi biết một câu rất hay mà người An-nam hay dùng : “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”.

– Ông đã xem tướng tôi, ông có tin là tôi làm được phụ bếp không?

– Tôi muốn nhận anh vào một công việc hợp với khả năng của anh, ít ra cũng là một chân thư ký trên con tàu của tôi. Để anh giữ chân phụ bếp, phí quá – ông ta hạ giọng: – Thôi được, từ ngày mai – Ông ta nhìn lên tấm lịch – ngày mai là mồng 3 tháng 6, anh xuống tàu nhận việc. Tôi sẽ báo cho ông quản bếp để tiếp nhận anh đúng 8 giờ sáng mai. Tháng đầu tiên này tôi tạm cấp lương cho anh là 45 phơ-răng. Được chứ?

Anh Ba cười :

– Tôi sẽ làm việc xứng đáng với sự tin dùng của ông.

Ông Mai-sen còn đưa cho anh Ba một tấm thiếp in hình con tàu rẽ sóng đại dương, có chữ ký của ông, và một cuốn sách mỏng, cỡ bỏ túi, ngoài bìa cũng có hình con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin. Ông dặn cẩn thận:

– Anh giữ cái các để tiện việc lúc lên bến, lúc xuống tàu. Cuốn sách nhỏ này giúp anh hiểu về hãng Sác-giơ Rê-uy-ni và con tàu của chúng tôi hoạt động như thế nào…

Rời con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin, trên đường về xóm, anh Ba vừa đi vừa xem tập sách nhỏ của ông Mai-sen đưa. Anh đọc nhẩm : Tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin thuộc hãng tàu Sác-giơ Rê-uy-ni. Con tàu này thuộc loại lớn nhất của hãng và cũng là tàu có cỡ của đầu thế kỷ 20. Chiều dài của con tàu: 120 mét 10, rộng 15 mét 20, trọng tải là 5.572 tấn, chạy bằng máy hơi nước với 2.800 sức ngựa. Tàu có thể chạy một mạch những 12.000 hải lý, không cần phải ghé bến. Trong lòng con tàu được thiết kế hiện đại, tiện nghi. Đáy tàu là một bể chứa nước ngọt, tới 900 tấn. Có hầm chứa than : 150 tấn. Tầng trên của con tàu là các buồng làm việc, nghỉ ngơi, phòng giải trí vui chơi của các sĩ quan và thủy thủ. Tiếp đến là dãy phòng đủ cho bốn chục khách đi vé hạng nhất. Ở giữa khoang tàu, phần dưới cùng là ba nồi hơi lớn, các cỗ máy lớn và bếp nấu, nơi nghỉ của các người làm bếp, bồi bàn… Xem đến trang giới thiệu về khu vực nhà bếp, anh Ba mỉm cười : mình sẽ được làm bạn với Táo quân.

Út Huệ ngồi bên bậc cửa vá áo, đầu nghiêng nghiêng. Một giọt nắng lọt qua mái nhà thủng, đậu trên tóc và chảy sáng xuống gò má. Hai lọn tóc mai dài xuống quá đuôi mắt. Hai con mắt to, dài, đen láy ấp ủ một nỗi buồn sâu kín, cặp môi tươi như một cánh hoa nở dưới cái mũi dọc dừa. Cả gương mặt Út Huệ như một hòn ngọc sáng.

Út Huệ tay lảy kim trên miếng vá của tấm áo anh Ba, lòng thẫn thờ, thầm nghĩ : Mấy hôm nay anh Ba hơi khang khác với mọi ngày. Anh trầm lặng, không còn vui tính khơi lên cho anh em trong nhà những trận cười phải ôm lấy bụng. Hằng ngày ảnh ăn rất ít, không còn giữ mức mỗi bữa ba bát nữa. Ảnh ăn không được, mình làm thêm món để ảnh ăn ngon miệng, ảnh lại gắp chia đều lên bát cho từng người. Đêm nào ảnh cũng thì thầm với ba, với anh Tư cho mãi tới khuya. Hình như ảnh không nói những chuyện gì đó với các anh Sáu Đen, Chín Mập. Ảnh cũng giữ kín cả với mình. Mà cũng phải thôi, mình là phận gái…

Đang mải nghĩ, nghe tiếng chân anh Ba ở ngoài cảng đi về, Út Huệ giật mình đặt vội tấm áo xuống đầu gối, ngước nhìn anh Ba, mỉm cười, đon đả :

– Anh đã về. Em ngỡ anh về muộn nên chưa soạn cơm nước chi cả.

– Nấu muộn một tí đợi anh em về đông đủ cùng ăn nóng, càng tốt, cô Út ạ.

Anh Ba vẻ mặt buồn buồn, ngồi xuống sập gỗ.

Bàn chân anh miết qua miết lại trên nền nhà, giọng nói không tự nhiên :

– Có một việc riêng, hôm nay tôi mới có dịp nói với cô Út.

Hai má Út Huệ ửng đỏ, mắt chớp chớp, môi mấp máy, hai lúm đồng tiền ẩn hiện trên má. Cô ngước nhìn thoáng anh Ba, cúi xuống liền, nói hơi run :

– Có điều chi anh Ba thấy cần dạy bảo em, em…

– Ấy chết! Chuyện riêng của tôi chứ đâu dám “dạy bảo” gì, hở cô Út?

Út Huệ đã bình tĩnh hơn :

– Anh đã tin em, anh cứ nói ra. Dù có quá sức em, em cũng ráng giúp anh.

Anh Ba nhìn ra xa, giọng trầm trầm :

– Tôi không ở đây nữa… Mai sớm, tôi… đi… xa…

Út Huệ rùng mình. Cái kim trên tay tuột xuống nền nhà. Cô bối rối, tay run run nhặt cây kim lên, môi mim mím. Hai người như bị hẫng, ngồi im lặng. Út Huệ nói, giọng nghèn nghẹn :

– Sao anh không ở đây nữa với ba em, với anh Tư…?… Mà anh đi mãi đâu, có vẻ hệ trọng vậy ạ?

– Tôi đi… xa lắm… đi khỏi nước mình, cô Út ạ. – Anh chùng giọng: – Ai mà chẳng muốn có một cuộc sống êm đềm bên cạnh những người thân yêu. Nhưng, tình cảnh nước mình, tôi không thể ngồi yên một chỗ, xây dựng cho riêng mình một tổ ấm được.

– Anh đi chừng bao lâu thì anh trở về đây?

– Cô Út! Ngày trở về, – anh Ba nói – cô Út hiểu thấu cho : ngày về của tôi xa mù mịt, tôi cũng chẳng định liệu trước được.

Út Huệ nắm chặt tấm áo vá trong tay mình, nén tiếng khóc từ trong cổ họng. Cô định nói thêm, nhưng tiếng ông già Đờn đã oang oang ngoài đầu ngõ hẻm. Chưa vào nhà, ông già đã hỏi con gái :

– Đã có đồ nhậu tối nay chưa, Út?

Út Huệ giấu mặt buồn, cúi xuống tấm áo vá, thưa :

– Dạ… Con chưa ra chợ, ba ạ.

Thấy anh Ba đã về đang ngồi trên sập giữa nhà, ông già vui vẻ :

– Ồ thầy cháu về rồi à?

– Cháu cũng vừa về được một lúc chú ạ. Mấy ảnh sao chưa về chú?

– Bọn nó biểu, mai sớm cháu đi, bọn nó ghé tiệm mua đồ nhậu, thức suốt đêm nay với cháu mà.

Ông già dặn nhỏ con gái, giọng bồi hồi :

– Út à. Anh Ba mầy hổng còn ở lại đây nữa. Ảnh đi vượt vời sang tận các nước Âu Mỹ kia. Mơi anh mầy đã đi sớm. Con ra chợ mua cái ăn, mua những thứ ngon, mắc mấy cũng được, ăn với nhau bữa cơm cuối cùng mà…

Út Huệ mím mím môi, cắn vội sợi chỉ, trao cái áo đã vá lành cho anh Ba, nói lảng :

– Những đường kim về sau vì vội nên không được đều anh vui lòng, nghe.

– Trời đất, cô Út cẩn thận quá. Cảm ơn cô Út.

Út Huệ sập rèm mi ướt, giọng nói đượm chút dỗi :

– Vá miếng áo có là chi đâu mà anh Ba cảm ơn em.

Anh Ba cười. Ông già Đờn dặn thêm con gái :

– Con nhớ mua một miếng thịt heo nạc, rặt nạc, nghe hông. Rồi mua dừa lấy nước kho với thịt. Kho thiệt khô. Nhớ mua nước mắm hạng nhất kho thịt mới để được lâu. Con cũng đừng mua gạo thường, mua gạo nàng thơm nắm mới dẻo.

Ông ngồi bên cạnh anh Ba, ngậm cái tẩu thuốc, mắt ông mơ màng bóng khói :

– Bước chân xuống tàu có lẽ là phải ăn cơm Tây rồi. Cháu chịu khổ mang cơm nắm theo. Chú nghĩ chắc còn lâu lắm cháu mới được ăn cơm trên đất quê mình. Hạt gạo, củ khoai, con cá, lá rau, quả cà, trái ớt, chút nước mắm, tí dấm… những món ăn của quê mình bình thường vậy mà thiếu nó ta không chịu nổi!

– Cảm ơn chú. Chú và cô Út đã săn sóc cháu nhiều mà cháu chưa đền đáp được gì!

– Đừng, cháu đừng nghĩ vậy. Cháu sắp rời xứ sở, hãy nghĩ về chặng đường phía trước…

*
*    *

Bóng tối trùm xuống xóm thợ. Những tiếng rao đêm lang thang trong ngõ hẻm. Tiếng chửi rủa của bà già, tiếng khóc gào than vãn, tiếng quát tháo của người say rượu và bao nhiêu thứ tiếng ồn ào hỗn độn dấy lên trong đêm như biển động.

Không khí trong nhà ông già Đờn cũng đang như trước giờ cơn bão đến.

Hai chiếc chiếu trải rộng giữa nhà. Một mâm thức ăn đầy ngộn đặt giữa chiếu. Ông già Đờn ngồi sát anh Ba. Anh Tư Lê, Chín Mập, Sáu Đen ngồi vòng tròn quanh mâm. Người nào cũng đăm chiêu, ít nói. Họ uống rượu từng tợp đủ thấm môi, không như mọi ngày, tu một người hết cả chén. Chẳng mấy ai cầm đũa nhắm. Người nào cũng luôn luôn trăn trở thế ngồi. Không khí trầm lặng kéo dài. Anh Ba định kể một câu chuyện vui vui thì Tư Lê ca bài Nam ai, buồn xé ruột. Tiếp đến Chín Mập hát bài Lý chiều chiều, Sáu Đen hát tích Nguyệt Nga cống Hồ. Hát xong, Sáu Đen nài nỉ anh Ba hát giặm Nghệ Tĩnh. Anh Ba vẻ lúng túng. Ông già Đờn đỡ lời :

– Cuộc vui đêm nay tiễn thằng Ba đi, tụi bây và tao phải làm hết mọi chuyện, đừng để thằng Ba nó phải dính vô một việc chi, nghe hông. – ông già so dây đàn : – Bữa nay tiễn Ba nó đi Tây, tao cho tui bây nghe trọn cả bài “ca lòng” của tao.

Nước mắt ông già rơm rớm, giọng ông buồn buồn :

Một… mối… tình… câm
Tình câm… một.. mối
Chàng… đã… ra… đi…
Chẳng nói lời… chi
Ôi cảnh… biệt… ly…
Thiếp ngóng…. theo… chàng…
Sông nước… mênh… mang…
Kéo neo… tàu… chạy…
Nước… mắt… tiễn…đưa…
Chàng đi… chàng đi…
Muôn trùng… sóng vỗ…
Thiếp giữ… tình câm…
Tình câm… theo… chàng…

Tư Lê, Sáu Đen, Chín Mập đều ngồi xo ro gục trên cánh tay và mỗi người đuổi theo một kỷ niệm của riêng mình.

Anh Ba chống tay đỡ cằm, máng tóc dày đổ xuống trán, mắt anh hướng vào một điểm sáng tụ dưới chiếu, nhưng trong đầu anh hiện lên lớp lớp những gương mặt thân yêu mà anh đã ghi nhớ từ tuổi ấu thơ. Cả hình ảnh các ông già mù hát dạo ở quê hương, ở Huế, ở Phan Thiết cũng hiện lên trong đầu anh. Và bao nhiêu bài ca anh đã từng nghe cũng đang văng vẳng giữa tâm hồn anh : Nước Nam ta sao lại có Tây?…

Út Huệ một mình một đèn, nước mắt giọt ngắn giọt dài tại buồng trong. Hai bàn tay Huệ vắt, nắm, vỗ vỗ nắm cơm gạo nàng thơm dẻo quẹo. Đặt nắm cơm vào tấm bẹ cau trắng mịn như lụa, Huệ ngồi thừ nhìn không chớp mắt. Tiếng đàn ca phòng ngoài vọng vào, cô chẳng để vào tai mình. Cô mở hòm lấy quyển vở, lật lật từng trang, nói thầm : Chữ anh Ba dạy cho mình. Anh Ba đã cầm tay tập cho mình viết. Sao anh Ba không ở lại đây mãi mãi? Lúc nào anh Ba cũng nói “cứu nước, thương đồng bào mình sống cực”!

Tiếng còi tàu chở khách sang Thủ Thiêm kéo một hồi dài. Út Huệ giật mình và chợt nhớ đã sáng đêm. Út Huệ cầm tấm khăn rằn của anh Ba mua dạo nọ, lau nước mắt. Bỗng Huệ nhớ hồi nhỏ Huệ được nghe mẹ ru :

Khăn thương nhớ ai mà khăn rơi xuống đất,
Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt,
Mắt thương nhớ ai mà mắt không khô…

Út Huệ trùm khăn đi ra cửa. Trời còn nhá nhem. Sương mù giăng trên nóc nhà xóm thợ. Út Huệ lại quay vào buồng, nhìn ngọn đèn, nói : Mình thương thầm ảnh. Giờ ảnh đi xa. Đi sang Tây. Mình có nên nói với ảnh cái điều dớ dẩn của mình nghĩ không? Ôi! Ai lại ngược đời vậy bao giờ? Mình là con gái kia mà. Nhưng, ảnh ra đi liệu ảnh có đoán biết được cái điều mình nghĩ về ảnh không? Đèn ơi! Nếu anh Ba không biết điều ấy thì đèn chứng cho tấm lòng Út Huệ này nhé. Ôi ! Một người mà ai cũng yêu mến…
Sáng ngày Năm, tháng Sáu, năm Một ngàn chín trăm mười một. Sương sớm phủ nóc Nhà Rồng. Dòng sông Sài Gòn cong vòng như lưng người già đã trải qua nhiều khúc đường đời khổ ải.

Trời ngả màu chì.
Cơn mưa đen tháng sáu dấy lên.

Từ trong ngõ hẻm, anh Ba bước từng bước ung dung, mắt nhìn thẳng phía trước. Đi bên anh là ông già Đờn. Tư Lê, Sáu Đen, Chín Mập đi sát phía sau. Út Huệ đi sau cùng.

Con đường hẻm dài hun hút. Họ im lặng đi. Sắp đến lối rẽ vào bến cảng, họ đi chậm bước, mắt hướng ra phía những con tàu đang xả khói đen đục. Và trong mắt họ có cái ảo giác cả đất trời tròng trành, thành phố Sài Gòn chao đưa.

Anh Ba khựng bước. Anh ôm chầm lấy người ông già Đờn :

– Chú Út ơi! Các anh ơi! Út Huệ ạ – Anh nhìn vào mắt những người thợ thuyền trao gửi niềm tin.

– Nước mình, dân mình sẽ không cam chịu cảnh ngựa trâu nầy mãi được. Phải xóa bỏ kiếp nô lệ và nhất định đời thợ chúng ta sẽ đổi khác… Chúng ta tin ở tương lai, tin vào tiền đồ dân tộc…

Ông già Đờn ôm chặt lấy hai vai anh Ba, lắc mạnh :

– Ba! Chú tin… rất tin ở lời cháu vừa nói và càng tin sự quyết chí ra đi vì nước vì dân của cháu. Chúc cháu đi được trơn bọt lọt lạch, chân cứng đá mềm!

Ông ôm chặt anh Ba vào ngực mình, bộ tóc muối tiêu của ông xõa rộng xuống vai anh. Rời ông già Đờn, anh Ba bước đến với ba người thợ trẻ. Tư Lê cầm chặt tay anh Ba, giọng nghẹn ngào :

– Tôi không cùng đi với anh được, nhưng cái bụng của tôi mãi mãi ở bên anh. Ở lại bến cảng này, tôi sẽ làm việc và sống theo như anh đã bày biểu, căn dặn.

Sáu Đen, Chín Mập, hai người cầm hai tay anh Ba nhìn nhau. Và lần đầu tiên anh Ba thấy ở mắt hai người thợ “có đá trong đầu” này rơm rớm lệ. Hai người cùng nói một lúc :

– Anh Ba ơi! Anh đi, để lại trong mắt chúng tôi cái chữ…

Anh Ba chợt nhìn sang út Huệ thì ông già Đờn giục con gái :

– Út! Con đi với anh Ba một quãng đường nữa…

Gió cửa sông thổi giục từng cơn. Anh Bạ chắp tay giơ cao xá xá ông già Đờn và các bạn đang quay bước trên đường về.

Anh Ba im lặng đi bên Út Huệ. Mắt Út Huệ luôn luôn nhìn về hướng con tàu rồi liếc nhìn anh Ba. Chưa bao giờ Út Huệ thấy anh Ba đẹp trai như lúc này. Cô lâng lâng như đang ở trong mơ và thấy anh Ba là chàng hoàng tử trong truyện cổ tích…

Anh Ba bất chợt nhìn Út Huệ, nhìn con tàu. Anh rùng mình. Một luồng giá lạnh từ đỉnh đâu xuống gan bàn chân như phân chia con người anh làm hai. Anh dừng lại :

– Sắp hết giờ lên tàu rồi. Út… đi với tôi, đến đây là… Út về kẻo…

Út Huệ vẫn ôm trên tay mình cái gói nho nhỏ, mắt chớp chớp nhìn vào mắt anh Ba. Tiếng Út Huệ nhẹ như gió thoảng :

– Em muốn nói với anh… chỉ sợ… anh cười em!

– Ấy! Đến giờ này mà Út Huệ còn chưa thiệt tin tôi?

Út Huệ bối rối. Cái gói cầm trên tay cứ trao qua trao lại, nhưng Huệ vẫn hết nhìn con tàu đang xả khói lại nhìn anh Ba.

Giọng út Huệ bồi hồi :

– Anh nói đi anh!

Anh Ba lúng túng :

– Điều nói được, tôi đã nói với Huệ từ hôm qua rồi.

– Lúc này khác với ngày hôm qua. Em muốn được nghe anh nói với em một tiếng giữa phút giây nầy, anh Ba ạ!

– Hôm qua, hôm nay và mãi mãi tôi nhớ tấm lòng của Huệ cũng như bao nhiêu tấm lòng vàng khác đã cứu giúp tôi trong những phen hoạn nạn, lúc sẩy nhà ra thất nghiệp.

– Anh Ba luôn luôn nhớ đến những người có lòng tốt với mình, nhưng anh có biết người khác nhớ anh đến cháy ruột cháy gan không? – Út Huệ nghẹn ngào nói.

Anh Ba sững sờ… Út Huệ biết mình đã buột miệng lỡ lời vội nói khỏa lấp :

– Em biết anh là con chim bằng, chiếc lồng son không thể nào nhốt được.

Anh Ba nhấn từng tiếng chắc và ấm :

– Phải có tự do! Huệ ạ, Tổ quốc ta, nhân dân ta phải có độc lập tự do chứ không thể nô lệ mãi được!
– Ước mơ ấy, khát vọng ấy liệu có thành sự thật ở quê mình không anh?

– Vì mất nước mà phải lìa nhà. Nếu không tìm ra phương kế giành lại độc lập cho nước, hạnh phúc cho dân thì tôi không về mà cũng chẳng ai mong đợi làm gì!

Út Huệ run run, cái gói trên tay như muốn rơi xuống, nước mắt giàn giụa :

– Anh! Cơm nắm. Em nấu cho anh bữa cơm cuối cùng nầy. Cầm lấy anh! Đi đi… anh!
Anh Ba đỡ gói cơm trên tay Huệ. Một tiếng gọi lẫn trong tiếng khóc bật ra từ trái tim người con gái Sài Gòn :

– Anh Ba! Em…

Út Huệ ôm mặt chạy trở về. Anh Ba cầm nắm cơm trong tay. Âm thanh thành phố Sài Gòn đổ dồn xuống cửa sông như trùm lấy anh. Anh nghe tiếng còi tàu nhọn hoắt khoan vào không gian nhức nhối. Anh bước sải dài, vội vã xuống tàu. Gương mặt người con gái Sài Gòn chập chờn trước mắt anh như một búp sen quê hương. Và cả khuôn mặt Việt Nam choán lấy trái tim anh!

Út Huệ lại quay lại chạy theo xuống bến tàu.

Con tàu chở anh Ba mờ mờ phía chân trời. Lê Thị Huệ chắp tay trên ngực nhìn theo, khấn trước đất trời :

Sông ơi!
Đừng mọc đá ngầm…
Biển ơi!
Đừng dựng sóng dữ…
Anh đi thuận gió xuôi buồm…
Hỡi những phương trời xa lạ…
Hãy đón lấy Anh…
Một chàng trai nước Việt…
Anh là của Nước của Dân…
Tất cả đợi Anh về…

dvt.vn

Bác Hồ ở “thủ đô gió ngàn”.

(DVT.vn) – “Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ”. Cái “nhà sàn đơn sơ” nơi Bác Hồ tiếp nhà thơ Tố Hữu năm 1947 ấy là ở đâu? Tân Trào hay Định Hóa?

HÀM CHÂU

Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc.

Vui sao một sáng tháng Năm
Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ
Suối dài xanh mướt nương ngô
Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn
Bác kêu con đến bên bàn
Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ…

Trước kia, đọc mấy câu thơ hết sức quen thuộc ấy của Tố Hữu, tôi thường tự hỏi: Vậy cái “thủ đô gió ngàn”, nơi “Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ” ấy nằm ở đâu trong chiến khu Việt Bắc bao la? Phải chăng là ở Tân Trào, Sơn Dương?

Phải đến gần đây, sau bốn lần “về nguồn” thăm Định Hóa, tôi mới biết rõ chốn “suối dài xanh mướt nương ngô” kia chính là ở Định Hóa.

Sở dĩ Định Hoá được chọn làm “thủ đô xanh” – hay còn gọi là “thủ đô gió ngàn” – trong những ngày đầu kháng chiến, bởi vì trước hết đây là vùng núi non hiểm trở, quân Pháp khó sử dụng xe cơ giới đánh chiếm. Nhưng ta thì lại có thể sử dụng mạng đường mòn xuyên rừng và đường ngựa thồ chằng chịt để liên lạc với vùng Tây Bắc, trung du và đồng bằng nước ta, cũng như với các cơ sở bí mật của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở miền Hoa Nam lúc bấy giờ còn nằm dưới quyền kiêm soát của Tưởng Giới Thạch. Định Hoá không quá xa miền xuôi như vùng căn cứ Pác Bó (Cao Bằng), tiện cho việc kịp thời chỉ đạo cuộc kháng chiến trong cả nước.

Ngay từ năm 1906, nhà yêu nước Phan Bội Châu từ Quảng Châu trở về Định Hoá, đã có ý định xây dựng nơi đây thành căn cứ chống Pháp, nhưng không thành. Bởi vì, lúc bấy giờ, mới chỉ có địa lợi, chứ thiên thời chưa xuất hiện, và nhân hoà cũng chưa rõ nét. Phải đến thập niên 1940, thì mới hội đủ cả ba yếu tố đó.

Chúng ta còn nhớ, đến cuối tháng 8/1945, cách mạng mới thành công trong cả nước. Nhưng, riêng Định Hoá, thì sớm hơn nhiều. Rạng sáng 26/3/1945, Cứu quốc quân và tự vệ địa phương đã nổ súng đánh chiếm đồn lính khố xanh Chợ Chu. Rồi vào ngày 18/4/1945, 130 đại biểu đồng bào bảy dân tộc trong châu đã họp tại Bản Lác, bầu ra Uỷ ban Nhân dân cách mạng lâm thời .châu Định Hoá. Cán bộ và nhân dân Định Hoá luôn kiên trung với cách mạng.

Tập thể dục ở chiến khu.

Trong tám năm chống Pháp, Bác Hồ thay đổi chỗ ở nhiều lần quanh vùng Phú Đình (Định Hoá) và Tân Trào (Sơn Dương). Tuy thuộc hai tỉnh khác nhau, hai xã này rất gần nhau, nằm hai bên ngọn núi Hồng. Bác thường “ung dung yên ngựa trên đường suối reo” qua lại trên con đường ngựa thồ vượt đèo De, ngọn đèo dài khoảng bốn ki-lô-mét. Nơi đây có cánh rừng phách, một loại cây thân gỗ khá lớn, lá rực vàng lúc thu sang, đã đi vào thơ Tố Hữu:

Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình…

Theo lời Bác dặn, những cái lán Bác ở phải đạt mấy tiêu chí sau đây:

Trên có núi,
Dưới có sông,
Có đất ta trồng,
Có bãi ta vui.
Tiện đường sang Bộ Tổng,
Thuận lối đến Trung ương.
Nhà thoáng, ráo, kín mái,
Gần dân, không gần đường.

Rất tiện cho công việc mà cũng rất đẹp, xét từ góc nhìn “phong thuỷ” cổ xưa hay sinh thái học hiện đại.

Trong bài Quê hương Việt Bắc, Nguyễn Đình Thi từng miêu tả ngôi nhà sàn của Bác Hồ ở Định Hóa bằng những câu thơ thật giản dị, sáng trong:

Một nhà sàn đơn sơ vách nứa
Bốn bên suối chảy cá bơi vui
Đêm đêm cháy hồng lên bếp lửa
Ánh đèn khuya còn sáng trên đồi

Nơi đây sống một người tóc bạc
Người không con mà có triệu con
Nhân dân ta gọi người là Bác
Cả đời người là của nước non…

Trong cuốn Những năm tháng bên Bác (Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 1985), đồng chí Hoàng Hữu Kháng kể:

“Chúng tôi làm cho Bác một cái “lầu”, tầng trên để Bác ngủ và làm việc ban đêm, tầng dưới làm việc ban ngày, như vậy tránh được thú dữ và không khí núi rừng ẩm thấp. Gọi là “lầu” nhưng thật ra nó bé lắm. Bác giao hẹn: Chiều cao có thể giơ tay với được, còn chiều ngang thì đưa tay sang phải, sang trái đều chạm đến, để tiện lấy các vật dùng treo trên vách. Bác bảo làm như vậy đỡ tốn công sức, dễ giữ bí mật. Trên sàn chỉ cần một chiếc bàn con để Bác ngồi làm việc, xem sách báo là đủ.”

Bác Hồ và các đồng chí giúp việc.

Cái “lầu” mà đồng chí Kháng kể chính là ngôi nhà sàn ở Khuôn Tát, Định Hoá.

Qua cuốn Chiến đấu trong vòng vây (Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 1995), Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho ta biết thêm: Bữa cơm của Chủ tịch nước lúc bấy giờ “phần lớn là sắn do cơ quan tăng gia, gạo chỉ loáng thoáng. Thức ăn duy nhất là măng rừng chấm muối”. Những hôm có khách, nếu săn thú trong rừng, câu cá ngoài suối chẳng được gì, thì Chủ tịch tiếp khách bằng “món đặc biệt trong ống tre, món thịt lợn thái nhỏ trộn với rất nhiều muối và ớt mà Chủ tịch thường dùng trên đường đi công tác.”

Năm 1947, những dãy núi chung quanh thung lũng Chợ Chu còn nhiều khỉ vượn. Cán bộ miền xuôi, nhất là thanh niên Hà Nội quen “sống vui phố hè” giữa “Hàng Đào ríu rít Hàng Đường, Hàng Bạc, Hàng Gai”, những ngày đầu mới lên Định Hoá, nghe “vượn hót, chim kêu suốt cả ngày”, cảm thấy man mác một nỗi buồn nhớ thành phố, nhớ đồng bằng. Vẫn là tiếng “vượn hót, chim kêu” ấy thôi, nhưng Bác lại cảm thấy “hay”:

Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay,
Vượn hót, chim kêu suốt cả ngày.
Khách đến thì mời ngô nếp nướng,
Săn về thường chén thịt rừng quay.
Non xanh, nước biếc tha hồ dạo,
Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.
Kháng chiến thành công ta trở lại
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này.

Bác Hồ chia vui với bà con thôn bản trong mùa gặt ở chiến khu.

Đúng là cảnh vật được cảm nhận qua tâm trạng con người. Như Nguyễn Du miêu tả, qua tâm trạng của Thuý Kiều trong những năm lưu lạc ê chề, thì “cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”! Là nhà cách mạng từng trải, được tôi luyện qua lao tù ngục thất, quen nằm gai nếm mật, Bác Hồ luôn lạc quan. Hơn nữa, vào năm 1947, lực lượng cứu nước đã đông đảo, hùng mạnh hơn nhiều so với năm 1941, khi Bác mới về nước, ở trong hang Cốc Bó, thôn Pác Bó, “sáng ra bờ suối, tối vào hang”. Trong bài thơ Chúc năm mới, Đinh Hợi -1947, Bác viết những lời hào sảng:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông…

Bác vui vì thấy rõ:

Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng…
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông…

Chính vì tin chắc vào sức mạnh quật cường của cả dân tộc nhất tề đứng dậy “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, Bác mới có thể sáng tác nên bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc với âm hưởng lạc quan như vậy. Một số vị trí thức, nhân sĩ trong Chính phủ kháng chiến, lúc bấy giờ tuổi còn khá trẻ, như luật sư Phan Anh, xin được họa bài thơ này của Bác. Một không khí tin tưởng bao trùm khắp các cơ quan trung ương. Cuộc sống núi rừng với choé rượu cần, bát nước chè tươi, bắp ngô nếp nướng, và đôi khi có miếng thịt rừng quay, hóa ra cũng không đến nỗi buồn, mà còn có nét nào đó… “thật là hay”!

Giản dị như một nhà nông, Bác uống bát nước chè xanh với người dân.

Hai câu cuối nói lên tình cảm thuỷ chung của Bác: Sau ngày kháng chiến thành công, Bác sẽ trở lại thăm chiến khu xưa, không bao giờ quên những con người chất phác đã từng “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” với mình.

Bài thơ của một nhà cách mạng hiện đại, thế mà lại toát lên cốt cách thanh cao của một nhà hiền triết phương Đông cổ đại “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo hèn không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”.

dvt.vn

“Việt Nam! Tôi thở tâm hồn Người đây”

(DVT.vn) – Về làng Sen quê Bác vào mùa sen nở, Nữ thi sĩ Blaga Dimitrova coi hương sen thơm ngát mà bà đang hít thở là biểu tượng của tâm hồn Việt Nam.

HÀM CHÂU

Tôi trở về làng Sen quê Bác. Nói “trở về” bởi vì thuở nhỏ đi học, tôi vẫn thường cuốc bộ qua đây, khi ông Cả Khiêm và cô Thanh vẫn còn sống. Quê tôi cũng ở Nam Đàn, Nghệ An. Làng tôi cách làng Sen chẳng bao xa.

Làm báo ở Hà Nội đã hơn nửa thể kỷ, nhưng năm nào tôi cũng sắp xếp thời gian để trở về thăm quê hương bản quán một đôi lần, khi nửa tháng, lúc chỉ vài giờ.

Đi xe lửa vào Vinh, xuống ga, ngồi xe buýt theo con đường hàng tỉnh số 49, qua huyện Hưng Nguyên, lên huyện Nam Đàn. Đến cây số 13, rẽ sang trái một quãng, là đến làng Sen hay còn gọi là làng Kim Liên.

Con đường làng gồ ghề sống trâu thuở trước – khi tôi là một cậu bé học sinh trung học trường huyện – nay đã được mở rộng, trải nhựa phẳng phiu. Hai bên đường, bạch đàn cao vút, tiếng lá reo vi vu trong nắng sớm.

Chiều chiều ra đứng Cồn Sen
Bạch liên trắng bạch, hồng liên đỏ hồng…
Vui nhất là cảnh xã mình
Kim Liên sen tốt, Ngọc Đình chuông kêu…

Người dân khắp nước đổ về thăm ngôi nhà tranh của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ở làng Sen.

Kim Liên, tên chữ của làng Sen, có nghĩa là sen vàng. Nhưng ở làng Sen này không chỉ có sen vàng, mà còn có sen trắng (bạch liên), sen đỏ (hồng liên) nữa. Sen nở khắp mặt đầm. Hương sen thơm dịu lan xa…

Về làng Sen, ta sẽ hiểu vì sao cô Thanh, người chị gái của Bác Hồ, còn được gọi là Nữ sĩ Bạch Liên.

Ngôi nhà Bác Hồ ở trong thời niên thiếu đơn sơ, thanh bạch như bao nhiêu ngôi nhà khác ở chốn làng quê. Bờ tre xanh. Cánh cổng liếp tre sơ sài. Hoa râm bụt nở hiền hoà bên hai bờ giậu thấp. Dăm ba bụi chuối. Mấy gốc mít, gốc chanh. Vài hàng cau. Một ngôi nhà dọc năm gian. Một ngôi nhà ngang nho nhỏ. Cả hai đều nền đất, mái tranh, phên tre, giại nứa. Trong nhà vẻn vẹn chỉ có mấy thứ: cái sập gỗ, chiếc chõng tre, cái án thư, chiếc võng gai, chum nước, vại cà và vài ba cái nồi đất…

Thời trẻ, cụ Nguyễn Sinh Sắc (còn có tên là Nguyễn Sinh Huy) ở gửi rể bên làng Chùa. Năm 1894 cụ thi đỗ Cử nhân, năm 1901 đỗ Phó bảng (đồng khoa với các cụ Ngô Đức kế, Phan Châu Trinh).

Đây là lần đầu tiên, không những trong làng Kim Liên, mà cả trong toàn xã Chung Cự và toàn tổng Lâm Thịnh, mới có được một người đỗ đại khoa. Thế mà cụ Phó bảng lại chưa hề có nhà ở bên quê nội!

Dân làng bèn bỏ tiền ra mua một ngôi nhà ở dưới xã Xuân La, khiêng về dựng lên trên một thửa đất công rộng non năm sào. Từ đấy gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc dọn về làng Sen. Nhưng rồi, trong những năm gia đình cụ phiêu cư bạt quán, ngôi nhà ấy cũng “trôi giạt” nhiều nơi, bị mua đi bán lại nhiều lần.

Năm 1956, hoà bình trở lại trên miền bắc, dân làng Sen mới tìm chuộc được cột, kèo của ngôi nhà ngày trước, nhặt nhạnh mỗi nơi một thứ, đem về dựng lại trên thửa vườn xưa.

Đường về quê nội Bác Hồ – (Ảnh: Internet)

Và một năm sau, ngày 9/6/1957, Bác Hồ trở về thăm quê hương sau 52 năm xa cách. Lúc bấy giờ ngôi nhà, thửa vườn, lối cổng nhà chưa được khôi phục đúng như ngày trước. Cái ngõ đáng lẽ ở giữa bờ rào, thì lại để một bên. Nhà cũ đằng sau thưng phê nứa, nhà lúc này thưng gỗ ván. Bàn thờ ngày trước chỉ giản đơn là một tấm liếp tre đan mau phía trên trải chiếu, bàn thờ lúc này lát ván phẳng phiu…

Bác Hồ hầu như không quên một tí gì trong ngôi nhà và thửa vườn xưa. Bác chỉ tay vào từng chỗ đất nơi xưa kia có gốc mít, gốc bưởi, cây chanh, cây cau. Bác hỏi xem mấy ngôi mộ trong vườn giờ bốc đi đâu…

Vui chân đi vào lối xóm, Bác tìm xem cái giếng Cốc thuở nào, cái giếng đất nơi cậu bé Nguyễn Sinh Cung vẫn ngồi câu cá. Giếng Cốc vẫn còn, bờ giếng vẫn um tùm cây cỏ, mặt nước vẫn lăn tăn gợn sóng do sự chuyển động của các sinh vật phù du. Bác rẽ sang phía lò rèn cố Điền. Cố Điền đã mất, và anh Điền trai trẻ ngày nào giờ là một cụ già râu tóc bạc phơ.

Rời làng Sen từ tuổi mười lăm, vào Huế, vào Phan Thiết, Sài Gòn; rồi xuống cảng Nhà Rồng đi sang Pháp, sang Anh, sang Đức, Hà Lan; rồi lênh đênh trên tàu thuỷ vòng quanh châu Phi, sang Mỹ và quay trở lại châu Âu; rồi đi qua Liên Xô, Trung Quốc, Xiêm …
Mấy mươi năm phiêu bạt nơi chân trời góc biển, khắp xứ lạ quê người, ấy vậy mà Bác Hồ vẫn không hề quên con người, cảnh vật quê hương, không hề quên một điệu ru hời, một bát canh rau muống, quả cà dầm tương….
Cái “gốc” truyền thống Việt Nam trong lòng Bác sâu bền, vững chãi biết bao, không thể nào bị lung lay, bật rễ trước bão tố bốn phương. Chung đúc tinh hoa của các nền văn hoá đông, tây, kim, cổ, nhưng, ở con người ấy, đố ai tìm thấy một nét lai căng, một cái gì còn sượng. Bởi vì, ngay từ thuở lọt lòng, cậu bé Cung đã được hít thở không khí trong lành của đất trời, sông núi quê hương, cùng ăn, cùng ở với nhân dân thuần hậu, cần cù, và uống nước từ mạch nguồn sâu thẳm của các tầng văn hoá Việt Nam.

Về làng Sen vào mùa sen nở, tôi chợt nhớ đến bài thơ của Nữ thi sĩ Blaga Dimitrova, người Bulgaria, viết về hoa sen, về tâm hồn Việt Nam thanh khiết. Bà đã đến nước ta vào năm 1966, về thăm làng Sen quê Bác Hồ, khi cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đang diễn ra ác liệt. Bài thơ của bà chỉ có sáu câu, đã được nhà thơ Xuân Diệu dịch ra tiếng Việt:

Hoa sen trắng dịu trên ao
Diệt hơi bùn độc, ngạt ngào trổ hoa
Biến ao thành một vườn thơ
Để tôi đứng lại bên bờ uống hương
Hương thanh ẩn, sức lạ thường!
Việt Nam! Tôi thở tâm hồn người đây.

Nữ thi sĩ nổi tiếng thế giới Blaga Dimitrova, người Bulgaria.

Blaga Dimitrova về sau được bầu làm Phó Tổng thống nước Cộng hòa Bulgaria. Bài thơ của bà cho ta thêm một “luận cứ” để tin rằng việc chọn hoa sen làm quốc hoa là đúng.

Về làng Sen, nhớ đến Bác Hồ, nghĩ tới điều triết lý về biểu tượng hoa sen, ta càng muốn giữ cho tâm hồn mình được luôn luôn trong sạch ngát hương, không bao giờ “hôi tanh mùi bùn”.

H. C.

dvt.vn

Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thiếu nhi dịp Tết Trung thu và 1/6

(DVT.vn) – Trung thu đến gần, đọc lại những bức thư này khiến chúng ta thêm nhớ và hiểu về Bác. Người cả cuộc đời luôn quan tâm và yêu thương thiếu nhi.

Bảo tàng Cách mạng Việt Nam hiện đang lưu giữ khá nhiều bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thiếu niên nhi đồng nhân dịp Tết Trung thu và ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6. Những bức thư này do Văn phòng Trung ương Đảng chuyển giao cho Bảo tàng từ trước năm 1959.

Đáng chú ý là cuốn sách có nhan đề Tập thư Bác Hồ, tập hợp một số bức thư Bác gửi cho thiếu nhi từ năm 1945 đến năm 1954, của Ban chấp hành Đoàn thanh niên Cứu quốc Liên khu V, miền Nam Trung Bộ.

Năm 1954, cuốn sách đã được in ra thành nhiều bản để phát hành và tuyên truyền vào dịp Tết Trung thu với mong muốn “Các em sẽ chăm chỉ đọc ôn lại các bức thư của Bác, ghi sâu và làm theo lời Bác dạy để xứng đáng là cháu yêu của Bác”.

Sách có kích thước 14,5 x 10 cm, gồm 18 trang, in 2000 quyển và được kiểm duyệt theo giấy phép in số 493 của Ban Ấn loát miền Nam Trung Bộ.

Bác Hồ vui tết Trung thu với các cháu thiếu nhi Hà Nội và Quốc tế, ngày 27/9/1958.

Năm 1945, nhân dịp Tết Trung thu độc lập đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho thiếu niên nhi đồng cả nước. Với tình cảm thương yêu trìu mến nhất, Người hòa mình với các em: “Các em vui cười hớn hở, già Hồ cũng vui cười hớn hở với các em. Đố các em biết vỡ sao? Là vì… Trung thu năm nay đã được tự do và các em đã thành những tiểu quốc dân của một nước độc lập”. Người gửi tới các cháu “trăm cái hôn thân ái”.

Tiếp đến là Thư Trung thu 1948. Đó là năm đất nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ nên thư của Người cũng chất chứa bùi ngùi thương xót.

Người thấu hiểu những khó khăn mà thiếu nhi phải chịu đựng: “Nhiều cháu phải xa cha mẹ đến núi đỏ rừng xanh. Nhiều cháu chịu khó nhọc, hăng hái giúp các anh bộ đội. Nhiều cháu ở hậu phương thấy đồng bào hi sinh cực khổ, không nỡ ăn Tết Trung thu vui sướng một mình”, và Người thấy “áy náy”, thấy “căm giận bọn thực dân phản động Pháp”. Người đã thay mặt toàn thể đồng bào hứa với các cháu: “Sớm đuổi bọn thực dân phản động để trường kỳ kháng chiến sớm thắng lợi”. Cuối thư, Người khuyên các cháu “ra sức học hành” và không quên “gửi lời hôn các cháu”.

Bác Hồ cùng các cháu thiếu nhi quốc tế trong đêm liên hoan mừng ngày Quốc tế thiếu nhi tổ chức tại Phủ Chủ tịch, ngày 31/5/1960.

Năm 1949 là năm kháng chiến thứ ba và cũng là Trung thu thứ ba các cháu thiếu nhi “phải ăn Tết thiếu thốn hơn trước”. Đó cũng là ý đầu tiên trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ và chia sẻ. Dù vậy, Người vẫn chúc các cháu “vui hơn”.

Bằng lời lẽ giản dị phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi, Người phân tích để thiếu nhi thấy những thành tích cụ thể, thiết thực mà các cháu đã làm được trong khó khăn của cuộc kháng chiến, qua đó biểu dương và khen ngợi. Từ sâu thẳm lòng mình, Người bộc bạch: “Trung thu năm nay, Bác cũng chưa có quà gì biếu các cháu, nhưng Bác chắc chắn rằng sau này các cháu sẽ có Tết Trung thu linh đình là Tết Trung thu kháng chiến hoàn toàn thắng lợi. Bây giờ các cháu hãy nhận cái hôn Bác Hồ”.

Nhân ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6/1950, Người cũng có thư gửi các cháu. Vẫn là sự băn khoăn “Đáng lẽ các cháu đều được no ấm, được vui chơi, được học hành như con trẻ Liên Xô”, Người phân tích cho thiếu nhi hiểu dân tộc ta kháng chiến thắng lợi thì các cháu “sẽ đều được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng”. Dù còn nhiều khó khăn, vui buồn, Người vẫn không quên “gửi các cháu nhiều cái hôn”.

Trung thu 1951, Người mở đầu thư bằng bốn câu thơ:

Trung thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng
Sau đây Bác viêt mấy dòng
Gửi thăm các cháu tỏ lòng nhớ nhung.

Sau khi thông báo đã nhận được thư của nhi đồng vùng tạm bị chiếm và thư của nhi đồng các nơi báo cáo thành tích thi đua, Người giải thích về ý nghĩa của ngày 1/6 và căn dặn thêm các cháu những việc nên làm, phải làm trong sinh hoạt đội, trong học tập và cả khi vui chơi để trở thành người có ích cho Tổ quốc.

Bác Hồ và các cháu thiếu nhi Hà Nội và Quốc tế vui tết Trung thu, tại vườn hoa Phủ Chủ tịch.

Trung thu 1952 là năm đất nước đang bước vào thời kỳ kháng chiến cam go. Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ niềm thương nhớ thiếu nhi ở mọi vùng đất nước. Lời lẽ trong thư Người ẩn chứa nỗi buồn lo cho các cháu. Người biểu dương tinh thần tiến bộ của thiếu nhi, “đã biết yêu nước, ghét giặc, đều chăm học, siêng làm… biết đoàn kết, thương yêu cha mẹ, giúp đỡ bộ đội và thương binh, giúp tăng gia sản xuất và tiêt kiệm”. Đặc biệt, Người tỏ lòng thương xót khi thấy tinh thần chiến đấu hi sinh dũng cảm của các cháu ở vùng tạm chiếm “đã giữ bí mật để giúp đỡ các cán bộ và bộ đội”. Cuối thư, Người lại có bài thơ:

Ai yêu các nhi đồng, bằng Bác Hồ Chí Minh.
Tính các cháu ngoan ngoãn. Mặt các cháu xinh xinh…

Năm 1952, nhân ngày 1/6, Người gửi thư cho thiếu nhi, nhấn mạnh tinh thần Quốc tế để các cháu hiểu rõ và cùng nhau giữ gìn hòa bình, dân chủ.

Trung thu 1953, Người lại có bài thơ gửi cho các cháu với mong muốn “Thu sau so với thu này vui hơn”.

1/6/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc mừng tới toàn thể thiếu nhi trong nước và quốc tế. Người mong các cháu “ngoan ngoãn, mạnh khỏe, vui vẻ, tiến bộ”.

Có thể nói, tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với thiếu niên nhi đồng chiếm một mảng lớn trong tâm hồn của Người. Thực tế, chúng ta thấy, ở đâu và lúc nào bên cạnh Người cũng có các cháu. Không chỉ thiếu nhi trong nước mà thiếu nhi quốc tế cũng luôn quây quần quanh Bác .

Năm 1954, nước ta được hưởng nền hòa bình sau chín năm kháng chiến chống Pháp. Điều trước tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ đến là các cháu thiếu niên nhi đồng. Người viết thư (khi là văn xuôi, khi bằng những vần thơ) để khen ngợi, biểu dương tinh thần của các cháu trong cuộc kháng chiến trường kỳ. Đồng thời, Người cũng bày tỏ lòng thương yêu, nhớ nhung thiếu nhi ở cả hai miền Nam, Bắc. Người viết cho các cháu bằng cả tấm lòng thương yêu vô hạn: “Trăng thu trong đẹp, sáng rọi khắp nơi, từ Nam đến Bắc. Cũng như lòng Bác yêu quý tất cả các cháu miền Bắc và miền Nam“.

Tình cảm bị kìm nén bấy lâu, đến năm 1954 Người mới được thỏa lòng vì thiếu nhi miền Bắc đã được sống trong cảnh hòa bình. Trong thư, Người tỏ ý xin lỗi “Vì bận việc quá” nên “không rảnh làm thơ gửi các cháu“. Cuối thư, Người không quên chúc các cháu “Vui mạnh khỏe, ngoan ngoãn và cố gắng thi đua học hành“, để:

Đến ngày Nam Bắc vui chung
Các cháu xúm xít thì lòng ta vui.

Nhưng, niềm vui của Người chưa trọn vẹn vì Người còn một điều trăn trở. Một nửa đất nước chưa được độc lập. Người vẫn còn một nỗi niềm khi nhớ đến các cháu thiếu nhi miền Nam. Các cháu vẫn còn phải sống trong hoàn cảnh chưa có hòa bình, chưa có tự do. Từ xúm xít được Người thể hiện trong hai câu thơ kết của bức thư làm chúng ta cũng xúc động theo Người.

Ước vọng đó của Người ngày nay chúng ta đã làm được: Bắc, Nam đã liền một dải. Đất nước hòa bình thịnh vượng đang sánh vai tiến bước cùng các nước trong khu vực và toàn cầu. Thiếu niên nhi đồng Việt Nam cũng đang được hưởng một nền giáo dục tiên tiến, được cả xã hội quan tâm và yêu thương.

Vui Tết Trung thu, đọc lại những bức thư này của Chủ tịch Hồ Chí Minh khiến chúng ta thêm nhớ và hiểu về Người. Người cả cuộc đời luôn quan tâm và yêu thương thiếu nhi. Người được cả thế giới ngưỡng mộ và gọi bằng cách thân mật là Bác Hồ! Bác Hồ kính yêu!

Lê Minh Độ

dvt.vn

Trong chiếc gương kỉ vật

(DVT.vn) – Chiếc gương có tấm hình Bác Hồ đã theo suốt cuộc đời một người lính thông tin, thôi thúc anh sống, chiến đấu và cứu mạng anh trong tình huống bất ngờ.

Hồi kí của Đặng Trường Lưu

Nhiệm vụ của bộ đội thông tin trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975

Trong số chín anh em cùng xung phong vào bộ đội của xã tôi dạo mùa hè năm 1967, Hoạt là người thân với tôi nhất, ít tuổi hơn nhưng anh đã có vợ và con anh chào đời cũng vừa mấy tháng. Anh là người ít nói, ưa hoạt động, xốc vác và chân tình. Khi vào chiến trường, Hoạt và tôi ở cùng tiểu đội trong tiểu đoàn bộ binh, trực thuộc Bộ Tư lệnh mặt trận B5. Một thời gian sau, cả tiểu đoàn chuyển sang phối thuộc với Trung đoàn 132 thông tin chiến lược của Bộ Tổng tham mưu, có nhiệm vụ khẩn trương xây dựng đường dây trần xuyên Trường Sơn, phục vụ cho Trung ương chỉ huy cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân ở Huế.

Nhiệm vụ mới như người lính thông tin, nhưng công việc chủ yếu của chúng tôi là vận chuyển trên vai hàng nghìn tấn vật tư, vật liệu như: tách sứ, dây sắt, dây đồng, bu-lông, ốc vít…, từ bãi đổ hàng (của các binh trạm có đường ô-tô) đến từng cột mốc trên tuyến để lắp đặt, dựng lên một con đường âm thanh lịch sử, qua bao đỉnh cao trên nghìn mét, qua sông Sê-bang-hiêng, hay Sê-pôn ù ù thác réo, qua những vực sâu nhìn xuống mà sởn gai người.

Bộ đội vượt Trường Sơn (Ảnh tư liệu: Internet).

Chiến dịch kết thúc, chúng tôi vừa củng cố đường dây thông tin, vừa tổng kết kinh nghiệm. Hoạt được bình bầu là chiến sĩ thi đua, là Dũng sĩ Quyết thắng, hai lần được mặt trận tặng bằng khen. Anh là gương sáng của đơn vị.

Cuối năm 1968, chúng tôi có lệnh hành quân ra bắc an dưỡng. Hoạt được đưa lên làm cần vụ cho thủ trưởng trung đoàn. Sự xốc vác và kiệm lời của anh được thủ trưởng vô cùng tin cậy. Sau ba tháng nghỉ ngơi và tập huấn, chúng tôi lại hành quân vào mặt trận. Thủ trưởng trung đoàn cùng một số cán bộ chiến sĩ xuất sắc được ở lại dự Đại hội “Thi đua lập công” toàn binh chủng, tổ chức ở Hà Nội. Hoạt cũng nằm trong số đại biểu được bầu, đại diện cho lực lượng bộ đội thông tin đang đối mặt quân thù trên khắp chiến trường miền nam. Sau đại hội, Hoạt được tranh thủ ghé thăm nhà một tuần. Đứa con gái, lúc này đã biết bám chặt vào quần mẹ, vừa ngọng nghịu hát bài “Hoan hô chú bộ đội bắn Mỹ tài ghê” vừa chằm chằm nhìn vào người lính lạ lẫm mà mẹ bảo phải gọi bằng bố.

Khi tiểu đội đang triển khai công việc trên tuyến thì Hoạt xuất hiện. Anh em xôn xao và thực sự cảm động khi anh kể chuyện cứ nằng nặc xin thủ trưởng cho phép trở về tiểu đội cũ. Với một người như anh, cuộc sống trong vòng tay đồng đội hẳn ý nghĩa hơn nhiều. Mà thật vậy, nếu không có sự trở về để cùng “nếm mật nằm gai” với tôi và anh em tiểu đội, thì làm sao tôi với anh lại có được những kỉ niệm tuyệt vời trong câu chuyện mà tụi sắp kể ở đây, khi bộ đội thông tin toàn quân đang long trọng chuẩn bị kỉ niệm 40 năm Bác Hồ gửi thư khen ngợi.

Tấm ảnh Bác Hồ và kỉ niệm không thể quên trong đời người lính

Giữa những ngày Bác mất (tháng 9/1969), Hoạt và tôi được cử đi tăng cường cho trung đội khảo sát địa hình, chuẩn bị cho một nhánh đường dây mới. Chúng tôi chạm trán với lực lượng thám báo do đối phương thả xuống, đang len lỏi dò dẫm trong rừng hòng phát hiện nơi đóng quân và tuyến dây trần thông tin lợi hại của ta. Ác một nỗi là trang phục của chúng y hệt bộ đội ta: cũng mũ tai bèo, áo quần Tô Châu xanh lá, cũng súng AK báng gập thay vì bộ quần áo rằn ri biệt kích.

Trong khi cả trung đội khảo sát vừa bắn vừa rút nhanh khỏi khu rừng có khả năng chỉ trong ít phút thành tọa độ bom lửa, Hoạt và tôi bị thương. Chúng tôi tỉnh dậy thấy mình bị trói chặt, nằm trong một hang đá, giữa bao nhiêu đôi mắt ngầu đỏ, mở ra trừng trừng của những người dân đen đủi, hốc hác, đàn ông và đàn bà, người già và con trẻ. Ấy là những người Lào Thơng sống sót, chui lủi trong hang đá ven tây Trường Sơn, dọc hai bờ Sê-băng-phai.

Tôi và Hoạt nhìn nhau, sau khi đã nhận ra chợt ngơ ngác và khó hiểu vì những cái nhìn căm giận ấy. Khi mọi người xô đẩy rồi cùng nhau quỳ xuống, nhìn vượt qua đầu những người Lào Thơng khốn khổ, tôi và Hoạt cùng kinh ngạc nhận ra một bàn thờ được xếp lên bằng những tảng đá, và khói trầm đầm đìa ngút ngát từ một miếng vỏ cây đang cháy. Mấy nải chuối xanh xếp thành vòng tròn quanh cây chuối còn nguyên những tàu lá xanh mướt. Trên bẹ chuối lớn, người ta xăm hình một ngôi sao 5 cánh cùng những vạch tỏa ra tựa hồ ánh sáng. Họ ngồi im lặng và khóc, lẫn trong tiếng nấc nghẹn ngào. Không hiểu tiếng Lào, càng không biết tí gì thứ ngôn ngữ líu ríu như chim của những người Thơng kia, nhưng chúng tôi vẫn nghe thấy một từ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần: Hồ, Hồ, Hồ…

Thế là rõ. Tin Bác Hồ của chúng ta vừa mất đã đến được với những người dân Lào dưới chân Trường Sơn. Ai đã báo tin cho họ hay sự mách bảo của trời đất? Cái bàn thờ được dựng lên trong hang đá kia với biểu tượng ngôi sao khắc vào bẹ chuối thay bức chân dung mà họ không sao có được cùng với khói hương từ vỏ cây trầm đã nói lên tất cả. Chúng tôi lẳng lặng khóc. Một lát, những người Lào Thơng đứng lên, người cầm nỏ, kẻ cầm dao, nhiều người cầm đá, chậm rãi và dữ tợn, tiến về phía chúng tôi. Thì ra, họ nghĩ chúng tôi là biệt kích. Trong giờ phút đau thương, họ muốn hành xử kẻ thù.

Giữa khoảnh khắc vô cùng nguy hiểm ấy, Hoạt vùng vẫy, la hét: “Tôi là lính Bác Hồ! Tôi là lính Bác Hồ! Lấy cái gương trong túi cho tôi!”. Đầu anh ngúc ngoắc và cằm đập liên hồi xuống phía ngực. Một thanh niên với mảnh khố rách bươm tiến đến, thò tay vào túi áo của Hoạt, lấy ra chiếc gương tròn, to gần bằng miệng bát đưa cho già làng. Ông lão không thể hiểu câu nói của Hoạt: “Mở ra, mở vành nhựa ra, ở bên trong…”. Một cô gái xin nhận chiếc gương, đem đến bàn thờ đá, quỳ xuống và lẩm nhẩm điều gì đó. Rồi như được thần linh mách bảo, cô kéo lật vành tròn nhựa.

Ảnh tư liệu minh họa (Nguồn: Internet).

Từ phía trong, kẹp giữa tấm nhựa và miếng kính, đột ngột rơi ra tấm ảnh hai mẹ con, người thiếu phụ trẻ ôm đứa bé gái mũm mĩm: Hẳn đó là vợ con Hoạt. Một mảnh giấy báo gấp tư được mở ra. Gần như cùng một lúc, tất cả ồ lên và quỳ xuống. Đó là tấm ảnh Bác Hồ cầm ống nói được chụp ở Việt Bắc cùng với bức thư khen bộ đội thông tin in ngay dưới bức ảnh. Lập tức, chúng tôi được cởi trói. Hoạt nhanh nhẹn găm mảnh báo cũ hình Bác Hồ ấy vào bẹ chuối trên bàn thờ, dưới hình ngôi sao tỏa sáng. Trong không gian thiêng liêng hang đá Trường Sơn và mùi trầm thơm ngát, tôi và Hoạt cứ để cho dòng nước mắt đầm đìa tuôn chảy.

Sau những ngày được chữa chạy, vết thương đã tương đối lành, chúng tôi tìm về đơn vị đường dây của mình. Suốt chặng vượt rừng ấy, Hoạt kể tôi nghe về mảnh báo mà anh cắt từ tờ báo quân đội, phát hành trong ngày Đại hội thi đua của binh chủng ở Hà Nội, rồi kể về tấm ảnh vợ con, kể về chiếc gương xin được từ một người lính khi gặp nhau trên bến phà Xuân Sơn, kẻ ra Bắc đi học, người về lại chiến trường. Tấm ảnh vợ con cùng mẩu báo có hình Bác Hồ và bức thư của Người, anh kín đáo giấu vào chiếc gương, giữa hai lần kính và nhựa.

Tại sao phải giấu diếm thế? Kỉ luật chiến trường quy định: Những người lính đi B không được phép để lộ nhân thân của mình. Với anh, đây là chứng tích của một kỉ niệm đẹp, là niềm vinh dự lớn. Lời Bác khen Bộ đội Thông tin cũng là lời nhắc nhủ bản thân anh phải luôn gắng để vượt lên qua bao gian khổ và sống chết.

Những bí mật về bức ảnh “đặc biệt” ấy

Sau chiến thắng 1975, tôi về quê thăm nhà. Tôi không quên tìm đến gia đình những người đồng đội. Trong chín anh em đi cùng tôi đợt ấy, năm người hi sinh và đã có giấy báo tử gửi về. Riêng Hoạt, vợ và con anh vẫn trông chờ mỏi mắt. Tôi không giúp được gì cho chị, bởi tôi cũng không một manh nha tăm tích của anh. Sau cái lần bị thương và thoát hiểm trước cơn giận dữ do hiểu lầm của những người Thơng bên Lào hạ, nhờ tấm ảnh Bác Hồ và bức thư in trên mảnh báo mà Hoạt bí mật giấu trong chiếc gương, chúng tôi tìm về đơn vị. Hoạt được điều sang một đơn vị thông tin khác của chiến trường khu 5. Hai đứa bặt tin nhau từ đó.

Mãi cuối năm 1976, người ta mới đưa giấy báo tử cùng những di vật của Hoạt về gia đình. Anh đã hi sinh anh dũng từ mùa xuân năm 1974, trong một trận càn dữ dội của đối phương tràn lên trên núi, khi anh đang cố gắng ngụy trang đoạn đường dây rải hớ hênh qua khoảng trống của rừng.

Năm ngoái, sau ngày giỗ của Hoạt, vợ anh mời tôi nán lại. Trong câu chuyện nhỏ to, gián đoạn bởi những giọt nước mắt cạn kiệt, chị hỏi tôi nhiều về người chồng yêu quý, trong những câu hỏi, gợn lên một điều: Di vật mà anh để lại trong ba lô, có một chiếc gương. Đó không phải là chiếc gương của chị. Chị không tặng gương cho chồng trước lúc đi xa như nhiều người đàn bà khác, bởi chị nghĩ: “Chiến tranh khốc liệt thế, đạn bom sống chết là thế, tấm gương làm sao tránh được rạn vỡ!” Vậy thì ai đã tặng tấm gương ấy để đến lúc anh hi sinh, tấm gương vẫn nằm gọn trong đáy ba lô mà về đây với chị? Phải chăng…

Thì ra vậy! Người vợ suốt mấy chục năm lấy tuổi thanh xuân nuôi con thờ chồng ấy vẫn có một điều canh cánh không thể tự trả lời. Tôi bỗng cảm thấy mình có lỗi với mẹ con chị, có lỗi với vong linh của Hoạt. Sau đề nghị khẩn khoản của tôi, chị vào buồng, mở tủ lấy ra chiếc gương được bọc kỹ trong vuông vải ka-ki màu đỏ. Tôi đỡ lấy chiếc gương và thầm mong một lần nữa, phép màu lại hiện ra.

Bộ đội thông tin liên lạc (Ảnh tư liệu: Internet).

Quả thế! Tấm ảnh mẹ con chị và mảnh báo in hình Bác Hồ cầm ống nói, cùng bức thư của Người vẫn còn nguyên đó, dù đã ố vàng và dính bết vào nhau. Phải thận trọng bóc dần từng tí một. Mấy chục năm rồi, những dòng chữ nhỏ li ti vẫn đủ nét để tôi còn đọc được trong nghẹn ngào: “Thân ái gửi cán bộ và chiến sĩ thông tin liên lạc”… “đã có cố gắng, cần cố gắng hơn nữa…”, “…Cho xứng đáng là những chiến sĩ anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng”… Tấm gương mà anh giữ trọn trong ngực áo mình chính là cuộc đời trọn vẹn của anh, là tấm gương vĩnh cửu, làm sao có thể lu mờ hay rạn vỡ!

Không thể nói thêm điều gì, tôi và chị lặng ngắm di ảnh của anh. Rồi chị đứng lên, cầm bức ảnh, cùng tôi mở khung kính, ộp vào đó mảnh báo có hình Bác và bức thư của Người. Chị run run treo lại tấm ảnh của người chồng yêu quý, người chiến sĩ thông tin đã sống, chiến đấu và hi sinh, xứng đáng với lời khen của vị lãnh tụ thiên tài, người cha thân yêu của lực lượng vũ trang, trước khi anh về cõi vĩnh hằng.

Ngoài sân, chiều đã bắt đầu chạng vạng. Cả khung trời phía tây chợt bừng lên những nan quạt khổng lồ màu đỏ tía. Lòng ngổn ngang bao ý nghĩ về thời cuộc, về tình người, về những thế hệ đã đi qua cuộc chiến suốt gần thế kỉ, tôi xin chị được thắp thêm mấy nén nhang cho anh, rồi thầm gọi: “Hoạt ơi!”.

Tháng 12 năm 2008

dvt.vn

Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn in đậm nét trong trí nhớ của tôi

Nguyễn Tử Nên

Vào dịp kỷ niệm lần thứ 113 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Bộ Thông tin – Văn hoá CHDCND Lào đã phát hành cuốn sách quí “Chủ tịch Hồ Chí Minh, đời sống và hoạt động” được dịch từ nguyên bản cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” của Trần Dân Tiên và dịch giả là nhạc sĩ Đuôngmixay Lycayđa. Cuốn sách dày trên 170 trang (khổ 13 x 19cm) được in bằng giấy tốt và do họa sĩ Xútchay Đuôngmixay Lycayđa (con trai Nhạc sĩ Đuôngmixay) vẽ bìa; trong đó nổi bật chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trên nền màu tím của cánh sen và bao quanh là hoa sen, lá sen và hai sợi chỉ trắng và đỏ đan vào nhau thể hiện tình hữu nghị Lào – Việt mãi mãi xanh tươi và đời đời bền vững. Việc Bộ Thông tin – Văn hoá Lào cho dịch, xuất bản và phát hành cuốn “Chủ tịch Hồ Chí Minh, đời sống và hoạt động” đúng vào dịp kỷ niệm lần thứ 113 Ngày sinh của Bác là một sự kiện có ý nghĩa trong quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào.

Chúng tôi đã gặp và trò chuyện với dịch giả – nhạc sỹ Đuôngmixay Lycayđa về công trình dịch thuật của anh. Nhạc sĩ Đuôngmixay Lycayđa vui vẻ kể: Tôi có may mắn được tiếp xúc với quân tình nguyện Việt Nam từ những năm còn rất nhỏ và hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các bản nhạc, câu chuyện do các anh bộ đội Việt Nam kể đã in đậm trong trí nhớ của tôi. Năm 11 tuổi tôi được sang Việt Nam học văn hoá và sau đó lại được học tiếp khoa sáng tác (hệ trung cấp) Nhạc viện Hà Nội. Với gần 10 năm sống và học tập tại Việt Nam, tôi có điều kiện hiểu sâu sắc về đất nước, nhân dân Việt Nam và về Bác Hồ kính yêu cùng những tình cảm và sự giúp đỡ to lớn mà nhân dân Việt Nam đã dành cho cách mạng Lào. Gần 20 năm trở lại đây, do công tác trong ngành TT – VH (nhạc sỹ hiện là Phó Cục trưởng Cục Nghệ thuật) mà tôi nhận ra rằng sách viết về Bác Hồ, người đặt nền móng cho quan hệ hữu nghị đòan kết đặc biệt Lào – Việt, dịch ra tiếng Lào còn quá ít. Từ đó, tôi nảy ra ý định tìm dịch một cuốn sách về Bác với mong muốn là góp phần nhỏ bé của mình vào việc giáo dục lý tưởng, đạo đức các mạng, giáo dục truyền thống đoàn kết thủy chung son sắt giữa hai dân tộc Lào – Việt qua tấm gương về nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh. Và cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” đã được dịch ra tiếng Lào trong trường hợp đó.

Chúng tôi hỏi nhạc sỹ Đuôngmixay Lycayđa về những khó khăn khi dịch cuốn sách này và nhạc sĩ đã thổ lộ: Là một cán bộ quản lý nên quỹ thời gian dành cho các lĩnh vực khác không nhiều. Do đó, tôi phải tranh thủ mọi lúc rảnh rỗi và phải mất hơn 2 năm trời gần như dành toàn bộ tâm trí sức lực, quỹ thời gian, vốn từ ngữ và cả kiến thức xã hội về Việt Nam mà mình có để dịch mới hoàn thành được tác phẩm. Cái khó nhất đối với tôi là có nhiều danh từ riêng chỉ các địa phương, mà chủ yếu là ở nước ngoài hoặc những đoạn người viết tả bối cảnh xã hội của Việt Nam và các nước Bác đến, phải dịch thế nào để người Lào đọc và hiểu được trong khi vẫn giữ được những bản sắc vừa giàu hình ảnh, vừa đậm nét dân tộc của Việt Nam và các nước. Trong trường hợp đó, tôi phải tìm các sách như: “Hồ Chí Minh – về đạo đức cách mạng”, “Hồ Chí Minh – tiểu sử và sự nghiệp”, “Chuyện kể về Bác Hồ, những năm đầu trường kỷ kháng chiến” bằng tiếng Việt và cuốn “Hồ Chí Minh” bằng tiếng Lào để tham khảo hoặc tìm các đồng chí Việt Nam để hỏi. Những cuốn sách mà tôi đã đọc cùng với những cuộc trao đổi thân tình với các đồng chí Việt Nam đã giúp tôi rất nhiều trong cách diễn đạt ngữ pháp Việt Nam, trong việc sử dụng câu từ để làm sinh động thêm những đoạn tả cảnh mà người viết đã có dụng ý nhấn mạnh để phục vụ cho nội dung chủ yếu của cuốn sách.

Kết thúc câu chuyện, nhạc sĩ Đuôngmixay Lycayđa tâm sự: Tôi coi việc dịch cuốn sách quý này là vinh dự, là hạnh phúc lớn lao trong đời hoạt động cách mạng của mình. Đối với nhân dân các bộ tộc Lào cũng có thể coi đây là món quà kính dâng lên Bác Hồ muôn vàn kính yêu nhân dịp kỷ niệm lần thứ 113 Ngày sinh của Người.

cpv.org.vn

Thư khen quân và dân Quân khu IV (27-12-1967)

Thân ái gửi đồng bào, bộ đội và cán bộ Quân khu IV,

Đến ngày 20 tháng 12 nǎm 1967, quân và dân Quân khu IV đã bắn rơi hơn 1.000 máy bay giặc Mỹ. Ngày 20 tháng 12 nǎm 1967 lại bắn rơi hai máy bay B.52 nữa. Thế là quân và dân Quân khu IV đã góp phần cùng với quân và dân toàn miền Bắc bắn rơi 2.680 máy bay giặc Mỹ.

Trong ba nǎm chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, quân và dân Quân khu IV đã nêu gương sáng, đoàn kết chặt chẽ, không sợ hy sinh gian khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, sản xuất tốt, chiến đấu giỏi, bắn rơi nhiều máy bay, bắt nhiều giặc lái, bắn cháy và bắn chìm nhiều tàu chiến của giặc Mỹ, giữ vững giao thông vận tải.

Bác rất vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi toàn thể đồng bào, bộ đội và cán bộ Quân khu IV.

Giặc Mỹ đang thua to. Trong cơn khốn đốn, chúng sẽ còn nhiều thủ đoạn hung ác. Quân và dân hai miền nước ta ngày càng thắng lớn. Đồng bào, bộ đội và cán bộ Quân khu IV hãy luôn luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, sản xuất tốt, chiến đấu giỏi hơn nữa, dũng cảm tiến lên, cùng với quân và dân cả nước quyết đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

Chào thân ái và quyết thắng

Ngày 27 tháng 12 nǎm 1967
Bác Hồ

————————–

Báo Nhân dân, số 5013, ngày 1-1-1968.
cpv.org.vn

Điện gửi các bạn người Mỹ nhân dịp nǎm mới 1968 (31-12-1967)

Nhân dịp đầu nǎm 1968, tôi gửi các bạn lời chúc mừng nǎm mới.

Các bạn đều biết, không hề có người Việt Nam nào đến khuấy rối ở nước Mỹ. Vậy mà có nửa triệu quân Mỹ đến miền Nam Việt Nam, cùng với hơn 70 vạn quân nguỵ và quân chư hầu, hằng ngày bắn giết người Việt Nam, đốt phá thành phố và xóm làng Việt Nam.

Ở miền Bắc Việt Nam, hàng nghìn máy bay Mỹ đã giội hơn 80 vạn tấn bom, phá hoại trường học, nhà thờ, bệnh viện, đê điều và các khu đông dân.

Chính phủ Mỹ đã buộc hàng chục vạn thanh niên Mỹ phải chết và bị thương vô ích trên chiến trường Việt Nam.

Chính phủ Mỹ xài phí về chiến tranh ở Việt Nam mỗi nǎm hàng chục tỉ đôla tiền mồ hôi nước mắt của nhân dân Mỹ.

Nói tóm lại, bọn xâm lược Mỹ chẳng những phạm tội ác đối với Việt Nam mà còn làm chết người, hại của và bôi nhọ danh dự của nước Mỹ.

Các bạn ra sức đấu tranh đòi Chính phủ Mỹ phải chấm dứt xâm lược Việt Nam, vừa bảo vệ chính nghĩa, vừa ủng hộ chúng tôi.

Vì độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc mình, vì muốn sống hoà bình hữu nghị với tất cả các dân tộc trên thế giới, cả với nhân dân Mỹ, toàn dân chúng tôi đoàn kết nhất trí, kiên quyết chống đế quốc Mỹ xâm lược. Chúng tôi được sự ủng hộ của anh em bè bạn khắp nǎm châu. Chúng tôi nhất định thắng lợi và các bạn cũng nhất định thắng lợi.

Cảm ơn các bạn đã ủng hộ nhân dân Việt Nam.
Chúc các bạn tốt lành

Hồ Chí Minh

————————

Báo Nhân dân, số 5012, ngày 31-12-1967.
cpv.org.vn

Thư chúc mừng nǎm mới (1-1-1968)

Đồng bào và chiến sĩ yêu quý,

Từ nǎm 1965, đế quốc Mỹ đưa hàng chục vạn quân trực tiếp xâm lược miền Nam nước ta và gây chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta, nhân dân ta đoàn kết một lòng, kiên quyết đánh Mỹ, cứu nước, đã giành được nhiều thắng lợi vẻ vang.

Đến cuối nǎm 1967, quân và dân miền Nam anh hùng đã diệt, làm bị thương và làm tan rã hàng chục vạn quân Mỹ, quân nguỵ và quân chư hầu.

Quân và dân miền Bắc anh hùng đã bắn tan xác hơn 2.680 máy bay giặc Mỹ.

Sang nǎm nay, bọn Mỹ xâm lược càng bị động càng lúng túng, quân và dân ta thừa thắng xông lên, nhất định giành được nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa.

Nhân dịp nǎm mới, tôi thay mặt đồng bào và chiến sĩ ta, gửi lời chúc mừng đến các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước bầu bạn và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta.

Tôi chúc kiều bào ta ở nước ngoài, nǎm mới cố gắng mới, tiến bộ mới!

Với đồng bào và chiến sĩ cả nước ta, tôi chúc mừng nǎm mới như sau:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

————————–

Báo Nhân dân, số 5013, ngày 1-1-1968.
cpv.org.vn

Điện mừng Tổng thống nước Cộng hoà Ghinê (10-1-1968)

Kính gửi Ngài Xêcu Turê, Tổng thống nước Cộng hoà Ghinê,

Cônacri

Nhân dịp Ngài lại được bầu giữ chức Tổng thống nước Cộng hoà Ghinê, thay mặt nhân dân Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, tôi xin gửi đến Tổng thống lời chúc mừng nhiệt liệt nhất.

Chúc nhân dân Ghinê, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống, thu được nhiều thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, củng cố độc lập dân tộc, xây dựng đất nước phồn vinh, góp phần vào việc giữ gìn hoà bình ở châu Phi và thế giới.

Chúc tình hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Ghinê ngày càng củng cố và phát triển.

Hà Nội, ngày 10 tháng 1 nǎm 1968
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Hồ Chí Minh

—————————–

Báo Nhân dân, số 5025, ngày 13-1-1968.
cpv.org.vn

Thư khen quân và dân Quân khu Việt Bắc (21-1-1968)

Thân ái gửi đồng bào và chiến sĩ Quân khu Việt Bắc,

Đến ngày 14-1-1968, quân và dân Quân khu Việt Bắc đã bắn rơi 300 máy bay Mỹ, góp phần vào chiến công vẻ vang của quân và dân miền Bắc bắn rơi hơn 2.700 máy bay Mỹ.

Đồng bào các dân tộc và cán bộ, chiến sĩ Việt Bắc đã luôn luôn nêu cao truyền thống đoàn kết, trung dũng của khu cǎn cứ cách mạng.

Quân và dân Quân khu Việt Bắc đã vượt mọi khó khǎn gian khổ, chiến đấu giỏi, sản xuất tốt, giữ vững trật tự trị an, bảo đảm giao thông vận tải thông suốt, dốc lòng dốc sức vào sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Bác rất vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi toàn thể đồng bào các dân tộc, bộ đội và cán bộ Quân khu Việt Bắc.

Quân và dân cả hai miền nước ta ngày càng thắng lớn. Giặc Mỹ thua to, nhưng chúng còn rất ngoan cố. Quân và dân Quân khu Việt Bắc hãy nâng cao cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, sản xuất và chiến đấu giỏi hơn nữa, hǎng hái tiến lên cùng đồng bào cả nước quyết đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 21 tháng 1 nǎm 1968
Bác Hồ

———————–

Báo Nhân dân, số 5034, ngày 22-1-1968.
cpv.org.vn