Archive | Tháng Hai 2012

Những lời dạy của Bác về đạo đức

Đạo đức Hồ Chí Minh được xây dựng trên tầm nhìn chính trị và văn hoá. Đó không phải là đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản, mà là đạo đức mang sắc thái Việt Nam. Đạo đức đó phải thể hiện ở nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, cần, kiệm, công bằng và bình đẳng.

 

Với Hồ Chí Minh:

Người có nhân là người có tấm lòng nhân hậu, tình thương yêu, giúp đỡ đồng bào, đồng chí. Nhân là tâm và tâm là nhân.

Người có nghĩa là người có chí khí, lòng dạ ngay thẳng, không có tư tâm, tà tâm, không lắt léo, không uốn công cuộc đời, không luồn cúi, xu nịnh, xu thời. Trọng nghĩa là đức tính của con người.

Người có trí là người có đầu óc sáng suốt, trong sạch, biết xem người, biết xét việc, biết nhân tình thế thái mà liệu bề ứng xử.

Người có dũng là người dũng cảm, gan góc, có gan bảo vệ lẽ phải, có gan đấu tranh với những việc làm sai trái, không sợ khó, không sợ khổ, có gan chịu đựng để mưu cầu việc lớn.

Người có liêm là người không tham địa vị, tiền tài, sự quyến rũ mềm yếu, quan minh chính đại, sống cuộc đời liêm khiết, tử tế, đàng hoàng.

Cần là cần cù, cần mẫn trong công việc, chịu thương chịu khó, một nắng hai sương, lao động vì lợi ích chung và lợi ích riêng mình.

Kiệm là tiết kiệm, không xa hoa lãng phí, không tiêu xài bừa bãi, không lấy của công làm của riêng; tiết kiệm nhưng không bủn xỉn, cái gì đáng tiêu dù phải mất số tiền lớn cũng phải tiêu, cái gì không đáng tiêu dù chỉ là một đồng cũng không được tiêu.

Xây dựng một xã hội đạo đức, dân chủ, công bằng, văn minh, tiến bộ là lý tưởng sống của Hồ Chí Minh. Người lo sợ về một xã hội vô đạo đức, lo sợ cho một đội ngũ cán bộ vô đạo đức, thoái hóa, biến chất, vì vộ đạo đức sẽ đẻ ra biết bao tai họa mà chính Người đã được chứng kiến nhiều nơi trên thế giới. Vì vậy, vấn đề đạo đức xã hội, đạo đức con người là một vấn đề mà Người suốt đời quan tâm.

Người suốt đời kêu gọi sự giải phóng cho con người trong một nước độc lập, tự do. Bài viết đầu tiên trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người là bàn về đạo đức. Bài viết cuối cùng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người cũng về đạo đức.

Người luận rằng:

“Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

1.

Tự mình phải:

Cần kiệm.
Hoà mà không tư.
Cả quyết sửa lỗi mình.
Cẩn thận mà không nhút nhát.
Hay hỏi.
Nhẫn nại (chịu khó).
Hay nghiên cứu, xem xét.
Vị công vong tư.
Không hiếu danh, không kiêu ngạo.
Nói thì phải làm.
Giữ chủ nghĩa cho vững.
Hy sinh.
Ít lòng tham muốn về vật chất.
Bí mật.

Đối với người phải:

Với từng người thì khoan thứ.
Với đoàn thể thì nghiêm.
Có lòng bày vẽ cho người.
Trực mà không táo bạo.
Hay xem xét người.

Làm việc phải:

Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.
Quyết đoán.
Dũng cảm.
Phục tùng đoàn thể.

————

– Đường cách mệnh, 1927.
– Hồ Chí Minh Toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 2, tr. 260.

2.

Gạo đem vào giã bao đau đớn,
Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông,
Sống ở trên đời người cũng vậy,
Gian nan rèn luyện mới thành công.

————

– Nghe tiếng giã gạo, t. 3, tr. 350.

3.

Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi.

————

– Trả lời các nhà báo nước ngoài, 21-1-1946, t. 4, tr. 161.

4.

Những lỗi lầm chính là:

1. Trái phép
2. Cậy thế
3. Hủ hoá
4. Tư túng
5. Chia rẽ…
6. Kiêu ngạo…

Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm, thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa.

————

– Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ tỉnh, huyện và làng
 17-10-1945, t. 4, tr. 57, 58.

5.

1- Mình đối với mình : Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Phải tìm học hỏi cầu tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm.

2- Đối với đồng chí mình phải thế nào? Thân ái với nhau, nhưng không che đậy những điều dở. Học cái hay sửa chữa cái dở. Không nên tranh giành ảnh hưởng của nhau. Không nên ghen ghét đố kỵ và khinh kẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị…

————

– Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hoá,
20-2-1947, t. 5, tr. 54.

6.

… Chúng ta phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm sau đây:

a. Địa phương chủ nghĩa…

b. Óc bè phái…

c. Óc quân phiệt, quan liêu…

d. Óc hẹp hòi…

e. Ham chuộng hình thức…

f. Làm việc lối bàn giấy…

g. Vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm…

h. Ích kỷ, hủ hoá…

————

– Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ, 1-3-1947, t. 5, tr. 71 – 74.

7.

Bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, bệnh hẹp hòi, v.v.., mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó.

Chúng ta chống bệnh chủ quan, chống bệnh hẹp hòi, đồng thời cũng phải chống thói ba hoa. Vì thói này cũng hại như hai bệnh kia. Vì ba thứ đó thường đi với nhau.

————

– Sửa đổi lối làm việc, 10-1947, t. 5, tr. 238, 239, 299.

8.

Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.

————

– Sửa đổi lối làm việc, 10-1947, t. 5, tr. 252-253.

9.

Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ.

Dân tộc ta đang kháng chiến và kiến quốc, đang xây dựng một Đời sống mới trong nước Việt Nam mới. Chẳng những chúng ta phải cần, kiệm, chúng ta còn phải thực hành chữ Liêm.

————

– Cần Kiệm Liêm Chính, 6-1949, t. 5, tr. 642.

10.

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Thiếu một mùa, thì không thành trời.
Thiếu một phương, thì không thành đất
Thiếu một đức, thì không thành người.

————

– Cần Kiệm Liêm Chính, 6-1949, t. 5, tr. 631.

11.

Chúng ta hay nể nả. Mình chỉ biết mình thanh liêm là đủ – Quan niệm: Thanh cao tự thủ không đủ. Tất cả chúng ta phụ trách trước nhân dân trong anh em phải có phê bình và tự phê bình… phải mở cửa khuyến khích lãnh đạo phê bình và tự phê bình.

————

– Lời phát biểu trong phiên họp Hội đồng Chính phủ,
11-1950. Tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh.

12.

Tất cả chúng ta phải thi hành phê bình và tự phê bình một cách liên tục và thực thà… Có thế ta mới tiến bộ… Nhưng nhận lỗi chưa đủ, phải kiên quyết sửa lỗi.

————

– Lời phát biểu trong phiên họp Hội đồng Chính phủ,
11-1950. Tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh.

13.

Cải tạo thế giới là việc to, phải trường kỳ gian khổ.

Kháng chiến để cải tạo nước nhà cũng phải trường kỳ và gian khổ. Muốn cải tạo mình, cũng phải trường kỳ và gian khổ, chứ không phải là dễ đâu.

Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được.

Ai cũng thấy siêng năng, trong sạch là tốt. Điều đó không ai chối cãi được. Thế mà vì sao vẫn không làm hay không làm được? Chẳng những không làm được mà còn làm trái lại? Đó là vì cái tâm mình không chính.

Phải thấy kẻ địch trong mình ta nó mạnh lắm. Đế quốc bên ngoài có thể dùng súng dùng đạn để đánh được kẻ địch trong người không thể dùng lựu đạn mà ném vào được; nó vô hình, vô ảnh, không dàn ra thành trận, luôn luôn lẩn lút trong mình ta. Nó khó thấy, khó biết, nên khó tránh. Nhưng đã biết việc phải thì kiên quyết làm.

… Có hai con đường ở thế giới, ở trong nước và ở trong mình.

Theo con đường ác thì dễ dàng, nhưng lăn xuống hố.

Theo con đường thiện thì khó nhọc, nhưng vẻ vang.

Quyết tâm là làm được.

Cái gì khó bằng làm cách mạng, bằng đánh Tây, bằng cải tạo xã hội? Thế mà ta làm được.

Cán bộ có quyết tâm thì cải tạo được mình, được nước nhà, được xã hội.

————

– Bài nói tại lớp chỉnh Đảng Trung ương khoá 2, 3-1953, t. 7, tr. 59, 60, 62, 63.

14.

… Khiêm tốn là một đạo đức mà mọi người cách mạng phải luôn luôn trau dồi.

————

– Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn, ký tên C.B.
 Báo Nhân Dân, số 194, từ 13 đến 15-6-1954, t. 7, tr. 296.

15. 

Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi, phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh.

Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu.

Có thể những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn địch không chịu khuất phục, nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường, sa vào tội lỗi.

Cho nên bom đạn của địch không nguy hiểm bằng “đạn bọc đường” vì nó làm hại mình mà mình không trông thấy.

Muốn giữ vững nhân cách, tránh khỏi hủ hoá, thì phải luôn thực hiện 4 chữ mà Bác thường nói. Đó là: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

————

– Bài nói chuyện với bộ đội, công an và cán bộ trước khi vào tiếp quản Thủ đô,
5-9-1954, t. 7, tr. 346, 347.

16. 

… Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi.

Vì vậy, cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được.

————

– Bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói, 13-6-1955, t.7, tr. 572.

17.

… Phải tránh tư tưởng kiêu ngạo, công thần, tự tư, tự lợi.

————

– Bài nói chuyện tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn
Thanh niên Lao động Việt Nam, 2-11-1956. – T. 8, tr. 263.

18. 

… Chủ nghĩa cá nhân là trái ngược với chủ nghĩa tập thể, và chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa xã hội nhất định thắng, chủ nghĩa cá nhân nhất định phải tiêu diệt.

————

– Đạo đức cách mạng, 12-1958, t. 9, tr. 282.

 19.

… Đạo đức cách mạng là:

Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất.

Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng.

Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc.

Ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ.

….

Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân.

Đạo đức cách mạng là ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng, hết sức trung thành phục vụ giai cấp công nhân và nông dân lao động, tuyệt đối không thể lừng chừng.

Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu. Có như thế mới thắng được địch và thực hiện được nhiệm vụ cách mạng.

Đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng; phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân.

Đạo đức cách mạng là hoà mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng.

————

– Đạo đức cách mạng, 12-1958, t. 9, tr. 285, 286, 288, 290.

 

20.

Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. “Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như: lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô, v.v… Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng.

————

– Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Đoàn
Thanh niên Lao động Việt Nam, 24-3-1961, t. 10, tr. 306.

Chủ nghĩa cá nhân, lợi mình, hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác là kẻ địch nguy hiểm của chủ nghĩa xã hội.

Tham ô, lãng phí tài sản của Nhà nước, tập thể, của nhân dân là hành động trộm cắp, mà ai cũng phải thù ghét, phải trừ bỏ.

Cán bộ và đảng viên càng phải nâng cao tinh thần phụ trách, nêu gương “Cần, kiệm, liêm, chính” không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân, phải chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh là nguồn gốc sinh ra tham ô, lãng phí.

Cán bộ và đảng viên lại càng phải có tinh thần ấy(1) phải gạt bỏ những thái độ sai lầm như: thoả mãn với thành tích bước đầu, bảo thủ, tự mãn với những kinh nghiệm đã có, có ít nhiều tri thức thì kiêu căng, coi khinh quần chúng, hoài nghi những sáng kiến bình thường của quần chúng; lười biếng, không tích cực học tập cái mới, v.v..

… Những tư tưởng, tác phong xấu cần chống lại là:

– Chủ nghĩa cá nhân,

– Quan liêu, mệnh lệnh,

– Tham ô, lãng phí,

– Bảo thủ, rụt rè.

—————————-

(1) Tinh thần dám nghĩ, dám làm, tinh thần tập thể, tinh thần kỷ luật, ra sức học tập, sáng tạo, tìm tòi cái mới, ủng hộ cái mới.

– Xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội, 3-1961, t.10, tr. 310, 313, 314, 315.

21.

Trong công tác lưu thông phân phối, có hai điều quan trọng phải luôn luôn nhớ:

“Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng.

Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”.

————

– Bài nói tại kỳ họp Hội đồng Chính phủ cuối năm 1966,
24-12-1966, t. 12, tr. 185.

22.

… Chớ bỏ qua những việc mà các chú tưởng là tầm thường… tất cả những việc làm như vậy đều nói lên tinh thần yêu nước, đạo đức trong sáng, thuần phong mỹ tục của nhân dân ta. Chúng ta đánh giặc và xây dựng xã hội mới bằng những việc làm muôn hình muôn vẻ của hàng chục triệu con người như thế, chứ không phải chỉ bằng một vài việc làm nổi bật và vang dội của một số cá nhân anh hùng.

Những gương người tốt làm việc tốt muôn hình muôn vẻ là vật liệu quý để các chú xây dựng con ngươì. Lấy gương tốt trong quần chúng nhân dân và cán bộ đảng viên để giáo dục lẫn nhau còn là một phương pháp lấy quần chúng giáo dục quần chúng rất sinh động và có sức thuyết phục rất lớn.

Ra sức làm tròn nhiệm vụ cách mạng và sống với nhau có tình có nghĩa. Lấy gương người tốt, việc tốt có thật trong nhân dân và cán bộ, đảng viên ta mà giáo dục lẫn nhau, đó chính là một cách tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin thiết thực nhất.

Muốn giáo dục nhân dân, làm cho mọi người đều tốt cả thì cán bộ, đảng viên phải tự giáo dục và rèn luyện hằng ngày…

Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng.

Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới.

————

– Ý kiến về việc làm và xuất bảnloại sách “Người tốt việc tốt”,
6-1968, t. 12, tr. 550, 551. 554, 557, 558.

           

23.

Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

————

– Di chúc, 1969, t.12, tr. 498.

24.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bìnhlà cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho dời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

—————-

– Di chúc, 10-5-1969, t. 12, tr. .510.

Hoàng Nhật Minh

Khắc sâu lời Bác dạy

Ðảng bộ Công ty CP Than Ðèo Nai là đơn vị duy nhất của Ðảng bộ than Quảng Ninh được Tỉnh ủy Quảng Ninh tặng Bằng khen về những thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, sau hơn hai năm triển khai thực hiện cuộc vận động.

Ngày 30/3/1959, thật vinh dự cho cán bộ công nhân thợ mỏ Công ty than Đèo Nai (Quảng Ninh) đã được Bác Hồ về thăm. Đến thăm nơi ăn, ở của công nhân Đèo Nai, Bác nói: “ Muốn cải thiện đời sống phải đào nhiều than, phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, phải đoàn kết giữa công nhân và cán bộ, giữa công nhân với công nhân. Công nhân là giai cấp lãnh đạo, là chủ mỏ thì phải làm sao cho xứng đáng với vai trò làm chủ. Muốn làm những người chủ xứng đáng thì phải thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Bây giờ chúng ta làm cho mình, cho nhân dân và cho con cháu chúng ta nữa”.

Hơn 50 năm kể từ ngày Bác Hồ về thăm, các thế hệ cán bộ và công nhân Công ty than Đèo Nai luôn luôn khắc sâu lời dạy của Bác, ra sức xây dựng đơn vị ngày càng lớn mạnh, trở thành con chim đầu đàn của Tập đoàn Than và Khoáng sản, được Nhà nước tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng trong thời kỳ đổi mới”.

Bí thư Đảng uỷ Công ty cổ phần Than Ðèo Nai, Nguyễn Văn Thuỵ tự hào cho biết, từ nhiều năm qua, lãnh đạo, công nhân viên công ty luôn ý thức thực hiện tốt lời Bác dạy nên sản xuất luôn đạt và vượt chỉ tiêu năm của tập đoàn giao. Năm 2001, công ty khai thác được 920 nghìn tấn than, lợi nhuận đạt 5,4 tỷ đồng, thu nhập bình quân đạt 1,2 triệu đồng/người/tháng, đến năm 2011, công ty khai thác được 3 triệu tấn than, doanh thu đạt hơn 3 nghìn tỷ đồng, thu nhập bình quân của người lao động đạt 7,2 triệu đồng/người/tháng. Để có được kết quả ấn tượng này, Bí thư Đảng uỷ Công ty than Đèo Nai cho biết thêm: Công ty đã phát động sâu rộng phong trào học và làm theo Bác, ngay từ việc nhỏ nhất tới tất cả đảng viên cán bộ công nhân viên, đặc biệt coi trọng việc học theo Bác để áp dụng vào trong công việc sản xuất, sinh hoạt hàng ngày. Phong trào học và làm theo Bác, đã khơi dậy được tinh thần sáng tạo trong sản xuất của công ty, đã có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật làm lợi cho công ty nhiều tỷ đồng.

Khi được hỏi về việc tiết kiệm chi phí trong quá trình sản xuất, anh Phạm Công Hoan, phân xưởng sữa chữa ôtô hồ hởi cho biết: Với việc rất nhỏ là giảm điều hoà nhiệt độ trên xe, dừng xe là tắt máy, vận hành phương tiện ra vào “ăn than” nhịp nhàng, phân xưởng vận tải đã tiếp kiệm bình quân mỗi tháng được hơn 40 nghìn lít dầu. Anh Nguyễn Quang Tùng, Chánh văn phòng Công ty Than Đèo Nai khẳng định, phong trào tiết kiệm trong sản xuất được hưởng ứng mạnh nhất thông qua hình thức khoán chi phí, hạch toán chi phí sản xuất đến các công trường, phân xưởng đã xây dựng được ý thức tiết kiệm, chống lãng phí và không ngừng nâng cao ý thức làm chủ của người lao động trong quá trình sản xuất, trong năm 2011, công ty đã tiếp kiệm trong quá trình sản xuất được 10 tỷ đồng. Thông qua các phong trào này đã góp phần nâng cao đời sống, bảo đảm việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động.

Từ những hành động nhỏ của đội ngũ công nhân cho thấy việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tại Công ty cổ phần Than Đèo Nai đã đi vào thực chất và có sức lan toả mạnh mẽ. Để việc học tập được thường xuyên liên tục, Đảng bộ công ty đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục thông qua nhiều hình thức sinh động như tổ chức văn nghệ, thi kể chuyện về Bác, tuyên truyền qua hệ thống truyền thanh của công ty…Vào mỗi kỳ sinh hoạt, đảng uỷ công ty yêu cầu các chi bộ phải đánh giá, rút kinh nghiệm để từ đó có sự điều chỉnh, uốn nắn đối với từng đảng viên trong quá trình học tập tấm gương đạo đức của Bác. Nhờ đó mà tác phong lề lối làm việc của cán bộ, công nhân viên công ty chuyên nghiệp hơn, ý thức trách nhiệm được nâng lên, kỷ cương, kỷ luật được giữ vững kể cả trong công việc lẫn trong cuộc sống hàng ngày.

Ðảng bộ Công ty CP Than Ðèo Nai là đơn vị duy nhất của Ðảng bộ than Quảng Ninh được Tỉnh ủy Quảng Ninh tặng Bằng khen về những thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, sau hơn hai năm triển khai thực hiện cuộc vận động. Những ngày đầu xuân Nhâm Thìn, Công ty cổ phần Than Đèo Nai đang nỗ lực tập trung cao độ khai thác lập thành tích chào mừng ngày sinh nhật Bác 19/5, bằng việc hoàn thành công trình hạ móng vỉa chính để khai thác một triệu tấn than – một nhiệm vụ không dễ dàng trong điều kiện khai thác ngày càng khó khăn, khai trường sâu, rộng.

Với truyền thống vẻ vang được Bác Hồ về thăm, cộng với đội ngũ thợ mỏ được luyện rèn, có tinh thần đoàn kết, kỷ luật, đồng tâm, chắc chắn rằng Công ty cổ phần Than Đèo Nai sẽ hoàn thành xuất sắc kế hoạch sản xuất năm 2012./.

Mạnh Khánh

tuyengiao.vn

Ðẩy mạnh cuộc thi viết về đề tài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

nullChiều 6-2, Ban Biên tập Báo Nhân Dân phối hợp Công ty cổ phần PVI (Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam) tổ chức cuộc họp sơ kết về tình hình triển khai cuộc thi viết về đề tài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong thời gian qua.

Dự cuộc họp, có các đồng chí lãnh đạo Báo Nhân Dân và lãnh đạo Công ty cổ phần PVI, các thành viên Ban chỉ đạo, Ban tổ chức cuộc thi.

Thực hiện Chỉ thị 03 và Kế hoạch 03 của Bộ Chính trị và Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Báo Nhân Dân phối hợp Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Dầu khí, nay là Công ty cổ phần PVI (Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam) tổ chức cuộc thi viết về đề tài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Cuộc thi được phát động từ ngày 1-5-2011 trên ấn phẩm Báo Nhân Dân cuối tuần. Cuộc thi đã thu hút đông đảo bạn đọc, bạn  viết  trên  mọi  miền Tổ quốc tham gia. Nhiều tập thể, cá nhân, nhất là những người dân bình thường với những việc làm thiết thực, nhiều ý nghĩa theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được các tác giả phản ánh trong các bài dự thi; góp phần cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Tại cuộc họp, các đồng chí trong Ban chỉ đạo, Ban tổ chức cuộc thi đều đánh giá cao kết quả bước đầu triển khai cuộc thi viết về đề tài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong thời gian qua; đồng thời nêu lên các giải pháp đẩy mạnh thực hiện cuộc thi này trong thời gian tới.

Nhằm đáp ứng yêu cầu của người dự thi ngày càng đông và nâng cao chất lượng các bài viết dự thi, Ban tổ chức cuộc thi quyết định đăng các bài viết dự thi trên Báo Nhân Dân từ ngày 7-3-2012 và tiếp tục đăng bài viết dự thi trên ấn phẩm Báo Nhân Dân cuối tuần. Việc triển khai cuộc thi trong thời gian tới gắn với việc triển khai Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XI). “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay”; với ba vấn đề cấp bách: thứ nhất, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Ðảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Ðảng; thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; thứ ba, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng.

Ðể nâng cao chất lượng bài viết dự thi, Ban tổ chức cuộc thi viết về đề tài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chọn lọc đăng các bài viết dự thi của bạn đọc, bạn viết cả nước nêu những tấm gương tập thể, cá nhân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhất là những cá nhân, người đứng đầu cấp ủy có những việc làm ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; những cá nhân kiên quyết đấu tranh với tệ nạn tham nhũng, lãng phí; người đứng đầu cấp ủy, cơ quan đơn vị phát huy vai trò tự nêu gương để cán bộ, đảng viên, các tầng lớp noi theo; những người bình dân, người lao động bình thường có nhiều việc làm tốt, nghĩa cử cao đẹp được cộng đồng tôn vinh, khen ngợi; những tập thể đoàn kết thống nhất, thực hiện nghiêm các chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, có nhiều sáng kiến, cách làm hay trong phát triển kinh tế-xã hội. Ðồng thời phê bình, nhắc nhở các địa phương, đơn vị chưa thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 03, Kế hoạch 03 của Bộ Chính trị và Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh…

Ban tổ chức cuộc thi hy vọng tiếp tục nhận được ngày càng nhiều bài viết dự thi của bạn đọc, bạn viết trong và ngoài nước. Bài viết dự thi xin gửi về Ban Xây dựng Ðảng, Báo Nhân Dân, 71 Hàng Trống, Hoàn Kiếm, Hà Nội; địa chỉ email: xaydungdang@gmail.com. Thời hạn nhận bài dự thi đến ngày 1-5-2012. Ban tổ chức cuộc thi sẽ trao giải cho các tác phẩm chất lượng cao vào dịp 19-5-2012.

 Theo Nhân Dân

tuyengiao.vn

Hồ Chí Minh với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

(TCTG) – “Hồ Chí Minh là nhà yêu nước vĩ đại. Tình yêu nước thương nòi của Người sâu sắc bao la, không lấy gì so sánh được. Bác Hồ đã cống hiến trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp cứu nước của dân” (Đại tướng Võ Nguyên Giáp).

(TCTG) – Chủ nghĩa yêu nước là nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là hành trang của Người khi đi tìm đường cứu nước. Người viết: “Lúc đầu, chính do chủ nghĩa yêu nước mà tôi tin theo Lênin”(1). Người đã tìm thấy trong cương lĩnh về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin sự phù hợp của chủ nghĩa Mác-Lênin với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được hình thành trong quá trình lập nước, trong đấu tranh giành độc lập, thoát khỏi sự đô hộ của ngoại bang, xác lập có ý thức về sự thống nhất, bản sắc nổi bật và riêng biệt của cộng đồng đó bằng mối liên kết lâu dài về lịch sử văn hóa.

Ngay từ thuở ban đầu, người Việt Nam vời tư cách là một nhóm đã thể hiện tình cảm chung trong một quá trình dần dần nhận thức sơ đẳng về số phận chung và đặc điểm nổi bật về bộ tộc và văn hóa. Qua một nghìn năm bị phong kiến Trung Quốc đô hộ, Người Việt Nam gắn bó bằng di sản dân tộc, ngôn ngữ và văn hóa chung, đa sát cánh bên nhau, quyết tâm giữ gìn bản sắc của mình, luôn luôn lấy sự đoàn kết và sức mạnh dân tộc để vượt qua thời kỳ khó khăn. Đến khi giành được độc lập, ý thức dân tộc của người Việt đã phát triển thành nhận thức và khái niệm hiện đại bắt rễ sâu trong quần chúng nhân dân. Nhà nghiên cứu Duiker nhận xét: “Hai ngàn năm đấu tranh để sinh tồn chống sự đô hộ chính trị và văn hóa của Trung Quốc đã tạo ra ở Việt Nam một tinh thần dân tộc điển hình, mang tính chất tự ý thức dân tộc nhiều hơn và thiết tha hơn so với bất cứ nơi nào khác ở Đông Nam Á”(2).

Chủ nghĩa yêu nước là sự biểu hiện của tự ý thức dân tộc dưới dạng hệ thống quan điểm tư tưởng lý luận và hệ giá trị của dân tộc. Đó là ý thức hệ dân tộc hoặc chủ nghĩa dân tộc – yêu nướcÝ thức hệ đó bắt đầu từ lòng tự hào về “Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước tiếng để muôn đời”(3). Tiếp đó là ý thức về quyền độc lập dân tộc, bắt đầu từ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” cho đến quyết tâm “Sát Thát” ở đời Trần, tinh thần quyết chiến của Nguyễn Huệ “Đánh cho phiến giáp bất hoàn, đánh cho Nam quốc sơn hà chi hữu chủ”, từ triết lý “Nước là của chung chứ không phải của một dòng họ nào” (Nguyễn Bỉnh Khiêm) đến nhà nước của dân vì dân, do dân và “lòng căm ghét bọn xâm lược”(4). Chủ nghĩa dân tộc – yêu nước Việt Nam là chủ nghĩa dân tộc chân chính chứ không phải là chủ nghĩa dân tộc cực đoan, bài ngoại như một số nơi trên thế giới.

Khi đi sâu vào chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh lại gặp phải một mâu thuẫn lớn: trong sơ đồ phả hệ lý luận Mácxit chưa có vị trí của chủ nghĩa dân tộc – yêu nước. Lý do đơn giản là: chủ nghĩa Mác cho rằng dân tộc và nhà nước quốc gia dân tộc chỉ ra đời cùng với chủ nghĩa tư bản, khi đã có một thị trường thống nhất. Việt Nam chưa qua chủ nghĩa tư bản, chưa hình thành dân tộc thì làm sao có được ý thức hệ dân tộc. Luận điểm này được khái quát từ lịch sử chủ nghĩa phong kiến cát cứ ở phương Tây. Chính ở đây, Hồ Chí Minh đã có một phát hiện lớn: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu ÂuMà châu Âu là gì? Đó chưa phải toàn thể nhân loại. Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”(5). Hàng loạt bài báo của Người vào đầu những năm 20 đã đề cập đến vấn đề này. Để thực hiện sự bổ sung đó, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu từ phân tích quá trình hình thành các dân tộc phương Đông, mối quan hệ giai cấp và dân tộc dẫn tới nêu bật các đặc điểm đấu tranh giai cấp và chủ nghĩa dân tộc của phương Đông.

Nhuần nhuyễn tư duy biện chứng “Phân tích cụ thể trong tình hình cụ thể”, Hồ Chí Minh đã đi đến những phát hiện cực kỳ quan trọng, đóng góp vào kho tàng lý luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin. Những đóng góp đó là:

– Xuất phát từ thực tiễn lịch sử, Hồ Chí Minh cho rằng các dân tộc phương Đông không diễn ra sự thay đổi tuần tự và đầy đủ các hình thái kinh tế xã hội như ở phương Tây, mà nó đã bỏ qua một số giai đoạn. Đó là chế độ chiếm hữu nô lệ và nông nô (tức phong kiến cát cứ)(6). Vì vậy, cơ cấu giai cấp và đặc điểm giai cấp có sự khác biệt với phương Tây. Từ nhìn nhận tiến trình lịch sử đó, Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra các dân tộc ở phương Đông, gắn liền với chế độ ruộng đất công xã và phong kiến tập quyền, có sớm hơn chủ nghĩa tư bản rất nhiều, đã hình thành dân tộc và chủ nghĩa dân tộc yêu nước.

– Do bị các nước tư bản xâm lược, biến thành thuộc địa, các nước này bắt buộc phải tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ, trước khi chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa.

– Dân tộc và ý thức dân tộc ở Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung có trước khi chủ nghĩa tư bản xâm lược thuộc địa trong khi giai cấp công nhân chưa hình thành, “chủ nghĩa dân tộc đã hiện đại hoá khi chuyển từ giới thượng lưu này sang giai thượng lưu khác”(7), vì vậy chủ nghĩa dân tộc – yêu nước là nền tảng tư tưởng của các phong trào yêu nước, chống chủ nghĩa thực dân. “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”(8).

– Chính việc khai thác thuộc địa đã tạo ra giai cấp công nhân, do đó lợi ích của giai cấp công nhân, phù hợp với lợi ích dân tộc, chỉ có giải phóng được dân tộc mới giải phóng được giai cấp công nhân, cho nên lợi ích của giai cấp công nhân phụ thuộc vào lợi ích dân tộc.

– Đảng Cộng sản, người lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp phải là sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin vời phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là của giai cấp công nhân vừa là của toàn dân tộc.

Cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, trong việc sáng lập và rèn luyện Đảng ta, trong công cuộc lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến, Hồ Chí Minh đã phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tập hợp lực lượng đoàn kết toàn dân tộc, với quyết tâm sắt đá “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Hồ Chí Minh đã gắn kết độc lập dân tộc về mặt chính trị với độc lập kinh tế. Người viết: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(9). Tuy nhiên độc lập về kinh tế không có nghĩa và đóng cửa, khép kín. Ngay từ năm 1924, từ việc khảo sát thực tế, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là sự đơn độc. Không giống như các dân tộc phương Tây, các dân tộc phương Đông không có những quan hệ tiếp xúc giữa các lục địa với nhau. Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ, do đó họ thiếu sự tin tưởng lẫn nhau, sự phối hợp hành động và cổ vũ lẫn nhau”(10). Từ góc nhìn đó, Người đưa ra những chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế. “Một là để xây dựng lại Việt Nam sau lúc bị chiến tranh tàn phá; hai là để điều hòa với kinh tế thế giới và giữ gìn hòa bình”(11). Như vậy tư tưởng chiến lược của Hồ Chí Minh là không những gắn hội nhập kinh tế với phát triển kinh tế nước ta, mà còn gắn với bảo vệ hòa bình và an ninh quốc gia. Đó cũng là một nội dung quan trọng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.

Người còn nói: “Các nước bạn giúp ta cũng như thêm vốn cho ta. Ta phải khéo dùng cái vốn ấy để bồi bổ lực lượng của ta, phát triển khả năng của ta. Song nhân dân và cán bộ ta tuyệt đối chớ vì bạn ta giúp nhiều mà đâm ra ỉ lại”(12). Người cũng lưu ý rằng: trong hợp tác, Việt Nam không chỉ thừa hưởng những giá trị văn minh nhân loại mà phải đóng góp vào nền văn minh chung bằng những giá trị sáng tạo của mình mà người gọi là “có vay có trả”. Người tha thiết mong muốn nước nhà phải giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Người đặc biệt nhấn mạnh rằng: trong mở cửa, hội nhập, “Chính phủ… muốn cho danh chính, lợi chính thì Danh, làm sao cho dân tộc mình có danh với thế giới, và lợi, làm thế nào cho tranh được lợi với thế giới”(13).

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là sự sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh, là bộ phận cấu thành quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể khẳng định rằng những thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta trong công cuộc đổi mới dưới đây đã không tách rời khỏi việc phát huy chủ nghĩa yêu nước đó: Việt Nam đã đạt được vị thế quốc tế cao nhất trong lịch sử của mình với tư cách là một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Việt Nam ngày nay là đối tác chiến lược của nhiều nướcChính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác hữu nghị cùng với những thành công trên mặt trận kinh kế và văn hóa đã mang lại cho Việt Nam vị thế đó./.

Hồ Văn

——————

(1) Hồ Chí Minh, toàn tập, t.12, Nxb CTQG, H, tr.474
(2) Tìm hiểu nền tảng văn hóa dân tộc trong tư tưởng cách mạng Việt Nam, tr.232.
(3) Sđd, t.3, tr.216.
(4), (5), (6), (7), (8), (10) Sđd, t.1, tr.466, 465, 465, 467, 466, 263.
(9), (13) Sđd, t.4, tr.152, 43.
(11) Sđd, t.5, tr170
(12) Sđd, t.8, tr.30.

tuyengiao.vn

Bác Hồ nói về phê bình và tự phê bình

(TCTG) – “Trước mặt quần chúng không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được mọingười yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng cao đẹp của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu cao tấm gương đạo đức cách mạng, Người nói :”Cũng như sông có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Bác lại nói :”Trước mặt quần chúng không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được mọi người yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết tháng 10-1947 cách đây đã hơn nửa thế kỷ, Bác Hồ đã nói :”Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả, điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra, lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư”. Cũng ở cuốn sách này, người chỉ rõ “thang thuốc tốt nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”.

Trong những cuộc nói chuyện và cán bộ lãnh đạo của Đảng, của Chính phủ, với đảng viên trong các lớp chỉnh huấn, với các anh hùng mới được tuyên dương, nói chuyện với công nhân trí thức, văn nghệ sĩ hoặc thăm các địa phương…ở đâu Bác cũng nhắc nhở đến việc trau dồi đạo đức cách mạng và vấn đề phê bình và tự phê bình. Bác nói :”Đảng víên và cán bộ cũng là người, ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu”. “Phê bình và tự phê bình là vũ khí rất cần thiết và sắc bén, nó giúp chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm”.

Người chỉ rõ :”Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh, mà Đảng sẽ khoẻ mạnh vô cùng.

Cấp trên cũng nên thỉnh thoảng trưng cầu ý kiến phê bình của cấp dưới, có như thế có khác gì người có vết nhọ trên mặt, được người ta đem gương cho soi, lúc đó không cần ai khuyên bảo cũng tự vội vàng đi lưa mặt…”.

Bác Hồ coi những thứ bệnh quan liêu, tham nhũng, ích kỷ, hẹp hòi…là những kẻ địch bên trong và người nói :”Mỗi kẻ địch bên trong là người bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ, địch bên trong đáng sợ hơn vì nó phá hoại từ trong ra. Vì vậy ta phải hết sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những thứ bệnh đó”.

Có lần Bác lại nói :”Ta có hai cách để thực hiện thống nhất tư tưởng, đoàn kết nội bộ là phê bình và tự phê bình”. Phê bình và tự phê bình quan trọng như vậy, nhưng nhiều nơi nhiều lúc chúng ta chưa làm tốt, hoặc có đề ra nhưng lại làm một cách qua loa, chiếu lệ, nể nang, xuê xoa cho xong…

Trong phê bình còn thiếu dân chủ, cấp dưới không dám thẳng thắn phê bình cấp trên. Cấp trên có nơi không lắng nghe ý kiến phê bình của quần chúng. thậm chí còn trù úm, trả thù, coi đó là luận điệu của kẻ xấu. Trong nhân dân và cán bộ có câu nói :”Đấu tranh rồi tránh đâu”. Những điều đó làm cho việc phê bình và tự phê bình không được đến nơi đến chốn, có khi biến thành một việc hình thức.

Trong bài nói chuyện tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong II, năm 1950, Bác Hồ đã nói :”Tự phê bình và phê bình phải thật thà vạch khuyết điểm, có lỗi mà không vạch ra, không khác gì người có bệnh mà không chịu khai với thầy thuốc…Vạch khuyết điểm để sửa chữa, cũng phải nêu ưu điểm để phát huy. Muốn tự phê bình và phê bình có kết quả, cán bộ các cấp nhất là cấp cao phải noi gương trước”.

Nhân ngày thành lập Đảng 3-2-1969, Bác viết bài báo “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.. Trong bài báo đầy tâm huyết và nỗi ưu tư ấy, Bác viết :”Đảng ta đã đào tạo một thế hệ thanh niên cách mạng gái cũng như trai rất hăng hái dũng cảm trong mọi công tác. Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân dân và Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng như thế. Song bên cạnh những đồng chí ấy, còn có số ít cán bộ đảng viên mà đạo đức và phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo :”Mình vì mọi người” mà chỉ muốn ,”Mọi người vì mình”. Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, 1ãng phí xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi .thường tập thể, xem thường quần chúng, độc đoán chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh, họ không có tinh thần vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, thiếu tinh kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Cũng trong bài báo cuối cùng này Người chỉ rõ :”Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên, phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng, phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ đảng viên…”

Trong bản Di chúc của mình, Bác căn dặn :”Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng, phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Bác căn dặn chúng ta :”Đạo đức cách mạng không phải trên trời rơi xuống, nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Những lời dạy của Bác rất thiết thực với chúng ta, nhất là trong cuộc vận động ” Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, xây dựng chỉnh đốn Đảng và trong công cuộc đưa đất nước ta trở thành một nước giầu đẹp như mong ước của Người. Ngày nay khi nhắc đến phê bình, chúng ta lại nhắc đến bài thơ của Bác :

” Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông
Sống ở trên đời người cũng thế
Gian nan rèn luyện mới thành công”.

  • Bùi Hoàng, Thanh Hóa

tuyengiao.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Đổi mới trong lãnh đạo cách mạng”

Bác Hồ thăm đồng ruộng HTX Lạc Trung-Bình Dương-Vĩnh Tường-Vĩnh Phúc (tháng 1 năm 1961)

Công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo được chính thức tiến hành từ Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986), đến nay đã thu được nhiều thắng lợi. Đánh giá tổng quát thành công của 10 năm đổi mới, Đại hội lần thứ VIII của Đảng năm 1996 đã kết luận: ”Công cuộc đổi mới trong 10 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng… Nước ta ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội…”(1)Đường lối đổi mới cũng được Đại hội nhấn mạnh:

“Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn…”(2). Nguyên nhân quan trọng là Đảng ta đã “kiên trì chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh (3).

Nhìn về lịch sử, đây là lần đầu tiên Đảng tiến hành công cuộc đổi mới một cách quy mô và toàn diện. Trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đây cũng là một việc làm chưa có tiền lệ trong lịch sử. Trước khủng hoảng sâu sắc của chủ nghĩa xã hội, mỗi đảng cách mạng đều tự mình tìm thấy con đường thoát ra khỏi khủng hoảng. Đường lối chung đều là vận dụng sáng tạo lý luận Mác- Lê-nin vào hoàn cảnh đặc thù của đất nước mình và mỗi đảng đều thu được những thành quả nhất định. Riêng Đảng ta, nhờ có tư tuởng Hồ Chí Minh (sự vận dụng sáng tạo lý luận Mác-Lê-nin vào hoàn cảnh Việt Nam) dẫn đường, và kế thừa truyền thống cải cách, đổi mới của ông cha, đã có được những bước đi vững chắc. Nay, qua hơn 20 năm đổi mới, việc tìm ra những bài học lịch sử trong kế thừa và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới là một điều bổ ích.

Trước hết, sinh thời, Bác Hồ ít dùng từ “đổi mới”, nhưng trong thực tiễn thì tư duy và hành động cách mạng của Người mang nhiều ý nghĩa đổi mới.

Năm 1911, khi ra đi cứu nước, Người đã không theo cách đi của cha anh là sang phương Đông tìm sự viện trợ ở “những người da vàng” phong kiến, tư sản, mà quyết đi sang phương Tây nhằm thấy rõ căn bệnh của chế độ “nô lệ thuộc địa” để tìm phương thuốc cứu chữa. Ở phương Tây, trong khi các bậc cha anh tìm sự cứu giúp của văn minh tư sản thì với Bác Hồ, khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác ái” tuy vẫn còn cuốn hút sự chú ý của Người, nhưng cái mà Nguyễn Ái Quốc say sưa tìm hiểu lại là “cái mới” của thời đại. Đó là lý luận cách mạng vô sản và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế gắn với phong trào dân tộc thuộc địa.

Gặp chủ nghĩa Mác – Lê nin, Nguyễn Ái Quốc nhạy cảm nắm bắt lấy cái mới. Đó là sự phát triển của chủ nghĩa Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, thời đại cách mạng dân tộc và thuộc địa. Khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại” của Mác đã được Lê-nin phát triển lên thành khẩu hiệu ”Vô sán toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức liên hiệp lại”. Đọc Luận cương về các vấn đề dân tộc thuộc địa của Lê nin, Nguyễn Ái Quốc đã “vui mừng đến phát khóc lên” vì thấy rõ: “Đây là con đường giải phóng chúng ta”(4). Thực tiễn của cách mạng Việt Nam và thế giới đã cho Người thấy: Vô sản chính quốc phải cùng vô sản và nhân dân các thuộc địa trên toàn thế giới liên kết lại với nhau mới có thể diệt được “con đỉa” đế quốc chủ nghĩa “hai vòi”: một vòi hút máu các dân tộc thuộc địa, một vòi hút máu của vô sản chính quốc để tồn tại.

Từ cái mới của tư duy, Nguyễn Ái Quốc đã có cái mới trong hành động. Năm 1919, Người đã cùng đại biểu các dân tộc thuộc địa gửi Yêu sách lên Hội nghị Véc-xây, yêu cầu các cường quốc phải quan tâm đến quyền lợi của các dân tộc thuộc địa. Rồi tháng 12-1930, tham dự Đại hội thành Tua của Đảng Cộng sản xã hội Pháp, Người đã biểu quyết tán thành Quốc tế cộng sản III, vì Quốc tế này coi trọng vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa. Trên đất Pháp, Nga đã hoạt động không mệt mỏi cho sự đoàn kết chiến đấu giữa vô sản chính quốc với vô sản thuộc địa.

Khi về nước xây dựng Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trương thành lập chính đảng của giai cấp công nhân từ ba yếu tố” Lý luận Mác- Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đưa “Phong trào yêu nước” vào thành một trong 3 yếu tố cấu thành chính đảng vô sản là một đổi mới ”sáng suốt” đến“táo bạo” khiến các nhà lãnh đạo Quốc tế cộng sản lúc bấy giờ đã cho Bác là một người dân tộc chủ nghĩa. Nhưng lịch sử đã chứng minh ”đổi mới” đó của Người là đúng đắn, là sáng tạo.

Đến sự thành lập chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam, ngay từ đầu, Chính cương và Sách lược vắn tắt do Người khởi thảo đã ghi rõ thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam chứ không phải Đảng Cộng sản Đông Dương, mặc dầu lúc đó sự nghiệp giải phóng các dân tộc Đông Dương còn do Đảng lãnh đạo. Cái mới này của Người xuất phát từ thực tiễn lịch sử và cách mạng của ba dân tộc Việt, Miên, Lào trên bán đảo Đông Dương, mà cũng là sự thể hiện nghiêm túc nguyên tắc về “Quyền dân tộc tự quyết” chủ nghĩa Mác – Lênin. Đổi mới này không phải đã được chấp nhận ngay. Phải đến Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (tháng 5- 1941) mới được trở thành hiện thực và ngày càng được lịch sử xác minh là đúng dằn.

Tới cuộc vận động Cách mạng Tháng Tám (1939-1945), tư duy đổi mới của Người lại tiếp tục được phát huy. Từ nhận thức về mục tiêu cách mạng là “cứu nước” (tức chỉ nhằm đánh những đế quốc xâm lược Việt Nam để giải phóng dân tộc) chứ không “phản đế” tức chống mọi đế quốc nói chung, Người đã “đổi mới” phương châm chiến lược và tổ chức cách mạng, lập “Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng Minh” (gọi tắt là Việt Minh) thay cho Mặt trận dân tộc phản đế Đông Dương, tổ chức ra các đoàn thể công, nông, thanh, phụ… “cứu quốc” thay cho các đoàn thể “phản đế”. Chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng có tính chất “ba thứ quân” của Người cũng đã bắt đầu được thực hiện. Đường lối “Từ khởi nghĩa từng phần tiến đến Tổng khởi nghĩa…” của Người cũng là cái mới trong lịch sử quân sự Việt Nam.

Đặc biệt là ”Chương trình cứu nước” của Mặt trận Việt Minh do Người đề xướng đã nêu rõ: ”Thợ thuyền được hưởng luật lao động… gìa có lương hưu trí, cải thiện chế độ làm việc”; “Dân cày có đủ ruộng cày cấy, được, được cứu tế trong những năm mất mùa; tá điền, được giảm địa tô, chia lại công điền”; “Tư sản được tự do kinh doanh, được giúp đỡ trong việc mở mang các ngành kỹ nghệ cần thiết”; “Địa chủ thì: quyền sở hữu về ruộng đất vẫn được coi trọng, được khai phá đất hoang. Nhà buôn được tự do thông thương, sản nghiệp thương mại được pháp luật bênh vực…”(5)… Có thể nói cho đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với tư duy và hành động đổi mới của Người.

Công cuộc đổi mới của chúng ta hiện nay nhằm giải quyết khủng hoảng sâu sắc bắt đầu từ cuối thập niên 70 cũng là sự kế thừa và phát huy tinh thần đổi mới mà Bác Hồ đã thực hiện.

Từ Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khóa IV) tháng 8 – 1979, Đảng đã đề xuất chủ trương đổi mới. Trải qua một “quá trình tìm tòi, đổi mới, bám sát thực tiễn…”, Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986 mới chính thức bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới, như Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã tổng kết:

”Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa IV) với những chính sách làm cho sản xuất “bung ra”; Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (khóa IV) về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong hợp tác xă nông nghiệp; các Quyết định 25, 26 – CP của Thủ tướng Chính phú về nhiều nguồn cân đối và ba phần kế hoạch; Đại hội V của Đảng với việc xác định lại thứ tự ưu tiên trong phát triển kinh tế.Nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa V) tháng 6 năm 1985 về giá, lương, tiền; Kết luận của Bộ Chính trị (khóa V) tháng 8 năm 1986 về một số vấn đề lớn thuộc quan điểm kinh tế.

Những thử nghiệm ban đầu về đổi mới nói trên là tiền đề dẫn tới đường lối đổi mới toàn diện tại Đại hội VI. Đường lối ấy hình thành trên cơ sở phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tổng kết những kinh nghiệm sáng tạo của nhân dân, của các cấp, các ngành, hợp quy luật, thuận lòng người, nên đã nhanh chóng đi vào cuộc sống”(6).

Ở đây tư tưởng Hồ Chí Minh về “đổi mới” đã kế thừa và phát huy:

Trước hết, Như trên đã nói, Bác Hồ trong quá trình lãnh đạo cách mạng luôn coi trọng đổimới tư duy. Nay công cuộc đổi mới của Đảng ta cũng bắt đầu từ đổi mới tư duy.

Thấy rõ một trong những nguyên nhân của khủng hoảng là chúng ta duy trì quá lâu cơ chế quan liêu bao cấp mà nguồn gốc là sự trì trệ về tư duy và bảo thủ về tổ chức nên Đại hội lần thứ VI của Đảng đã nêu rõ.

Báo cáo chính trị tại Đại hội VI của Đảng nhấn mạnh: Để tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của mình, Đảng phải đổi mới về nhiều mặt. “Đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế…”(7). Đại hội VIII lại tổng kết thêm được kinh nghiệm là “Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới, chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị”(8).

Thứ hai – Bác Hồ luôn nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê nin trong thực hiện đổi mới, nên không lúc nào đi chệch mục tiêu “độc lập dân tộc và xã hội chủ nghĩa”. Khi tìm được con đường cứu nước, Người đã khẳng định “Chỉ có chủ nghĩa xã hội… mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên toàn thế giới khỏi ách nô lệ”(9).

Nay trong đổi mới, Báo cáo chính trị trong Đại hội VI của Đảng cũng nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê nin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh…”(10). Theo gương Bác Hồ, Đảng ta luôn xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn kiểm tra chân lý. Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đề ra một phương châm nổi tiếng là”Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”(11). Đại hội VIII của Đảng đã rút ra được bài học lịch sử quan trọng là:

“Xác định rõ đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là quan niệm đúc đắn hơn về chủ nghĩa xã hội và thực hiện mục tiêu ấy bằng những hình thức, bước đi và biện pháp phù hợp. Kết hợp sự kiên định về nguyên tắc và chiến lược, nhạy cảm nắm bắt cái mới.

Đổi mới phải được thực hiện trên cơ sở bảo vệ, kế thừa và phát huy truyền thống quý báu của dân tộc và những thành quả đã đạt được. Phê phán nghiêm túc sai lầm, khuyết điểm, phải đi đôi với khẳng định những việc làm đúng, không phủ nhận sạch trơn qúa khứ, không hoang mang, mất phương hướng, từ thái cực này chuyển sang thái cực khác”(12).

Thứ ba – Trong đổi mới, Bác Hồ luôn tìm cách khắc phục những yếu kém, sai lầm của giai đoạn trước bằng đổi mới sách lược hay chuyển hướng chỉ đạo chiến lược. Nay trong khắc phục sai lầm chủ quan, duy ý chí, Đảng ta từ đổi mới tư duy lý luận, đã thấy rõ cách mạng xã hội chủ nghĩa phải trải qua nhiều nấc thang của thời kỳ quá độ, đã đề ra chủ trương: “Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(13). Ở đây chúng ta thấy có sự vận dụng chính sách Tân kinh tế (NEP) của Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam, điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng quan tâm trong xây dựng Chương trình cứu nước của Việt Minh thời Cách mạng Tháng Tám, đồng thời Đảng ta cũng nêu lên bài học kinh nghiệm: “Vận dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý nền kinh tế thị trường là để sử dụng mặt tích cực của nó phục vụ mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội, chứ không phải đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”(14). Trong bất kỳ sự đổi mới nào, Đảng ta, Nhà nước ta, nhân dân ta vẫn không bao giờ xa rời con đường xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư – Trong cách mạng, Bác Hồ luôn coi trọng dân chủ, chăm lo tới quyền lợi của nhân dân với quan điểm lấy dân làm gốc, mọi sự nghiệp cách mạng, mọi tổ chức cách mạng đều là “của dân, do dân, vì dân”.

Trong đổi mới, Đảng đã đưa kinh nghiệm lịch sử này lên vị trí hàng đầu: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”(15).

Trong đổi mới chính trị, phải ”Chăm lo phát triển nguồn lực con người, thực hiện công bằng xã hội”(16).

Trong xây dựng kinh tế, phải chăm lo xóa đói giảm nghèo, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa nông nghiệp lên mặt trận hàng đầu, phấn đấu cho nhân dân được ấm no, đất nước được văn minh, giàu mạnh.

Thứ năm – Trong đổi mới, Bác Hồ luôn coi trọng đổi mới tổ chức và sự lãnh đạo của Đảng, củng cố hệ thống chính trị, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, mở rộng đoàn kết quốc tế tạo nên một sức mạnh tổng hợp cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi cả trong dựng nước và giữ nước.

Ngày nay toàn Đảng, toàn dân ta học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, trước hết là học tập và phát huy  duy đổi mới của Người trong lãnh đạo và tiến hành cách mạng, để đưa đất nước ta tiến kịp với trình độ và yêu cầu mới của thời đại.

GS.Văn Tạo


(1)(2)(3), ĐCSVN Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 67, 68, 70.
(4), Hồ chí Minh: Tuyển tập, Nxb Hà Nội, 1960, tr. 794.
(5), ĐCSVN Văn kiện Đảng 1930- 1945, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1977, tập 3, tr. 446-445.
(6), ĐCSVN Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 68-69.
(7), ĐCSVN Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1987, tr 124-125.
(8), ĐCSVN Văn kiện Đại hội VIII, Sđd, tr 71.
(9), Hồ Chí Minh: Tuyển tập, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1960 tr. 794.(10), ĐCSVN Văn kiện Đại hội VI, Sđd, tr. 125, tr. 12.
(11), ĐCSVN Văn kiện Đại hội VI, Sđd, tr 125., tr. 12.
(12) (13), ĐCSVN Văn kiện Đại hội III, Sđd, tr 70, tr. 72.
(14), ĐCSVN Văn kiện Đại hội III, Sđd, tr 70, tr. 72.
(15), ĐCSVN Văn kiện Đại hội VI, Sđd, tr 29.
(16), ĐCSVN Văn kiện Đại hội VII, Sđd, tr 28.

tuyengiao.vn

Xây dựng Đảng ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh

(TCTG)- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cách mạng Việt Nam đã có người cầm lái. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác- Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

1. Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam

V.I. Lênin đã từng chỉ rõ: “Điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng là phải có một đảng cộng sản, có một đường lối chính trị đúng, có kỷ luật tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng và từng trải tranh đấu mà trưởng thành. Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, lấy chủ nghĩa Mác và Lênin làm gốc”. Và trên tinh thần kế thừa, phát triển những luận điểm của Lênin về Đảng Cộng sản, trên cơ sở nhận thức sâu sắc về chế độ chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa của các dân tộc phương Đông khác với phương Tây, đặc biệt là các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp chung của dân chúng, và muốn quần chúng đ­ược giác ngộ, đư­ợc tổ chức lại để tiến hành đấu tranh cách mạng, tất yếu phải có một tổ chức tiền phong lãnh đạo. Vì vậy, Người chỉ rõ: “Cách mạng trư­ớc hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững thì cách mệnh mới thành công, cũng nh­ư ng­ười cầm lái có vững thuyền mới chạy”[1].

Không dừng lại ở đó, cùng với những hoạt động về lý luận và thực tiễn, cùng với việc tổ chức, giảng bài tại những lớp Huấn luyện chính trị, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cốt cán, sáng lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và ra báo Thanh Niên làm cơ quan ngôn luận của Hội tại Quảng Châu trong những năm từ 1925- 1927, Hồ Chí Minh đã nỗ lực chuẩn bị một cách đầy đủ những tiền đề và điều kiện cho sự ra đời của một chính đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam.

Tiếp đó, như một tất yếu khách quan của lịch sử, luồng gió mới của thời đại, những nguyên lý của học thuyết Mác- Lênin về Đảng Cộng sản, về phương pháp đấu tranh cách mạng, vận động quần chúng, về vai trò của các tổ chức quần chúng,v.v.. đã theo những hội viên của hội Việt Nam cách mạng thanh niên, theo những tờ báo Thanh Niên được bí mật truyền về trong nước, góp phần làm cho đời sống chính trị – xã hội trong nước có những chuyển biến tích cực. Và phong trào công nhân phát triển từ tự phát đến tự giác, phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân ta đã ngả theo khuynh hướng vô sản,v.v.. đã dẫn đến sự ra đời của ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam trong những năm 1929- 1930.

Trong bối cảnh đó, để tránh nguy cơ phân liệt và mất đoàn kết, nhận thức rõ sứ mệnh lịch sử của mình, Hồ Chí Minh đã viết thư mời đại diện các tổ chức cộng sản và triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa xuân năm 1930. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cách mạng Việt Nam đã có người cầm lái. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác- Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đảng ta được thành lập, một hành trình đấu tranh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH bắt đầu.

Thấm nhuần những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin về Đảng của giai cấp vô sản, Hồ Chí Minh khẳng định: trong thời đại ngày nay, giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất và độc nhất có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng. Và trong cuộc đấu tranh giải phóng, dù là lực l­ượng cách mạng to lớn, nhưng do những hạn chế về mặt giai cấp, nên giai cấp nông dân không thể tự mình lãnh đạo cách mạng, mà phải liên minh với giai cấp công nhân, là đồng minh tin cậy của giai cấp công nhân.

Tuy nhiên, cũng theo quan điểm của Người, Đảng dù là tổ chức của những người con ưu tú nhất của giai cấp công nhân và của dân tộc, nhưng Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận và nhân dân thừa nhận quyền lãnh đạo của mình mà, Đảng “phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất, chân thực nhất; chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng thì Đảng mới giành đư­ợc địa vị lãnh đạo”[2].

Thực tiễn quá trình ra đời và hoạt động của Đảng ta trong 82 năm qua đã chứng minh rằng: Vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã không chỉ sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mà Người còn xây dựng thành công một Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, nhưng cũng đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam. Nhân tố quyết định bản chất của giai cấp công nhân của Đảng không chỉ là thành phần xuất thân của đảng viên, mà chính là nền tảng tư tưởng của Đảng – đó là chủ nghĩa Mác-Lênin, là mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, là đ­ường lối của Đảng thực sự vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người; đó không chỉ là việc tuân thủ những nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng kiểu mới, mà còn là thực tiễn đấu tranh cách mạng đầy vinh quang và gian khó của Đảng, nên trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ II (2/1951), Người nêu rõ: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”.

Xuyên suốt và nhất quán quan điểm này, khi Đảng lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và xây dựng CNXH ở miền Bắc, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư­, thiên vị” (9/12/1961). Ng­ười còn nói rõ thêm, Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những ngư­ời thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân, nên luôn luôn và nhất định: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung s­ướng”[3].

2. Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh trong điều kiện Đảng cầm quyền

Sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công, cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. Theo Hồ Chí Minh, là ng­ười lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, nhưng “Đảng cầm quyền, nhân dân là chủ” và mọi quyền hành, mọi lực lư­ợng đều ở nơi dân.

Ngay từ những ngày đầu của nền dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề này, và nhấn mạnh đó chính là điểm khác biệt, phân biệt bản chất của một chính Đảng vô sản kiểu mới với các chính đảng khác. Và dù là người lãnh đạo, song trong chế độ xã hội mới mà nhân dân ta đang xây dựng và tiếp tục xây dựng, thì quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân là vấn đề có tính nguyên tắc. Nguyên tắc đó khẳng định vai trò Đảng lãnh đạo cách mạng, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ, đồng thời chỉ rõ: cán bộ, đảng viên của Đảng nắm giữ những vị trí quan trọng trong các cơ quan công quyền thực sự là công bộc của dân, phải hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, v.v… Nếu làm trái với những điều này, nếu cậy quyền, cậy thế, quan liêu, tham nhũng, những “ông quan cách mạng”, những kẻ “vinh thân phì gia”, vì quyền lợi ích kỉ của bản thân, gia đình, giòng họ mà xa rời mối liên hệ máu thịt Đảng – Dân, thì những con “sâu mọt của dân” ấy đã làm cho nguy cơ thoái hóa, biến chất, đe dọa sự tồn vong của một Đảng cầm quyền đến rất gần.

Tiên liệu trước nguy cơ thoái hóa biến chất của một bộ phận cán bộ đảng viên trong Đảng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: để Đảng cầm quyền bao gồm những người con ưu tú nhất của dân tộc, đó là những người công nhân, nông dân, lao động trí óc, và những người ưu tú của các giai tầng khác trong xã hội (đã giác ngộ cách mạng, sẵn sàng hy sinh phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân), thì những đội ngũ cán bộ đảng viên phải là những người “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Muốn vậy, mỗi cán bộ đảng viên phải không ngừng phấn đấu, học tập, để một mặt nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý, phương thức lãnh đạo, mặt khác “mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải thật sự cần kiệm liêm chính chí công vô tư­, phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là ngư­ời lãnh đạo ng­ười đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[4]. Đây chính là một luận điểm quan trọng của Người về mối quan hệ giữa Đảng và Dân; Đảng và Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong điều kiện Đảng cầm quyền.

Và cũng theo lời Người, để xây dựng Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh trong điều kiện Đảng cầm quyền, tất yếu và thư­ờng xuyên phải tiến hành xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Về vấn đề này, Hồ Chí Minh đã từng nói: “Phải chỉnh đốn nội bộ Đảng… Đảng ví nh­ư cái máy phát điện, các công việc trên ví như­ những ngọn đèn, máy mạnh thì đèn sáng” (1/1949); “Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc. Để làm tròn nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc, Đảng phải mạnh, toàn Đảng tư­ t­ưởng phải nhất trí, hành động phải nhất trí”(4/1952); và trong bản Di chúc lịch sử, Ng­ười nhấn mạnh: “Việc phải làm tr­ước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm đ­ược như­ vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”(5/1968),v.v..

Trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng, cán bộ, đảng viên phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư­ t­ưởng và kim chỉ nam cho hành động; nâng cao trình độ nhận thức, nắm vững bản chất cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, nắm vững lập tr­ường, ph­ương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin để giải quyết những vấn đề của thực tiễn. Cán bộ, đảng viên phải không ngừng nâng cao trình độ lý luận, trình độ chuyên môn, năng lực trí tuệ, nắm chắc thực tiễn cách mạng để hoạch định và kịp thời bổ sung chủ trư­ơng, đường lối của Đảng; chống giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa,v.v..Đặc biệt, cán bộ, đảng viên phải luôn tuân thủ và vận dụng một cách linh hoạt các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng: nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình; kỷ luật nghiêm minh và tự giác; đoàn kết thống nhất trong Đảng về tư­ t­ưởng, ý chí và hành động, và trong mọi hoàn cảnh phải kiên quyết chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Đồng thời, để Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh, để xây dựng và chỉnh đốn Đảng thành công, một công việc không kém phần quan trọng, đó là Đảng phải phải loại bỏ những phần tử cơ hội, thoái hoá, biến chất ra khỏi Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, để Đảng luôn là bộ tham mưu tối cao, ưu tú của giai cấp và dân tộc, luôn luôn giữ vững đạo đức cách mạng, tận tâm, tận lực phục vụ Tổ quốc và nhân dân.

3. Tiếp tục xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

Tiến hành công cuộc đổi mới, chúng ta từng b­ước tiến hành đổi mới chính trị, nhằm thực hiện mục tiêu dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ và sức mạnh của nhân dân. Trong khi đổi mới tổ chức và hoạt động của cả hệ thống chính trị, chúng ta đã coi trọng xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo đối với toàn bộ hệ thống chính trị và cả xã hội. Đảng phải thư­ờng xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ và năng lực lãnh đạo, trên tinh thần: 1/ Xác định đúng mục đích xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững và nâng cao năng lực hiệu quả, uy tín lãnh đạo xã hội về mọi mặt của Đảng. 2/ Xác định đúng chức năng của Đảng trong sự lãnh đạo xã hội về mọi mặt. 3/ Xác định đúng phương thức lãnh đạo của Đảng chủ yếu bằng hệ t­ư t­ưởng, lý luận, đư­ờng lối, chủ trư­ơng, và xác định đúng ph­ương pháp lãnh đạo tuyên truyền, giáo dục thuyết phục, kiểm tra và nêu g­ương của cán bộ, đảng viên, của tổ chức Đảng.

Trên tinh thần đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ XI ghi rõ: Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị nhưng đồng thời cũng là một bộ phận của hệ thống đó, nên “Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”[5]. Để Đảng đảm đương được vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng phải mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải giữ vững truyền thống đoàn kết, thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình, luôn xây dựng và tự chỉnh đốn, v.v…

Đồng thời để đội ngũ cán bộ đảng viên xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế đến thành công, thấm nhuần lời dạy của Người: “Đảng có vững cách mạng mới thành công”, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng một cách nghiêm túc trên tinh thần đổi mới. Đó là thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới trong hơn tám thập kỷ; là cùng với sự nghiệp đổi mới toàn diện, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đã thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ư­ơng VI (lần thứ 2) của Ban Chấp hành Trung ư­ơng Đảng khoá VIII “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng“, trên cả ba lĩnh vực (nhận thức, tư­ t­ưởng, chính trị; đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên và một số vấn đề tổ chức); là triển khai thực hiệnHọc tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI (2011) và Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị và đặc biệt là thực hiện Nghị quyết 12- khóa XI: “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” sâu rộng trong cả nước,v.v..

Trên tinh thần,”xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta hiện nay”, và nhất là “chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, có năng lực, có sức chiến đấu cao theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ XI, mỗi cán bộ đảng viên của Đảng “phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; phê phán, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”. Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng”[6].

Đó là yêu cầu, là nhiệm vụ bức thiết, thường xuyên của một Đảng cầm quyền, đó cũng là thực hiện theo những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, để Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh” đưa sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của nhân dân ta đi đến thành công./.

Ths. Văn Thị Thanh Hương
Nxb. Chính trị Quốc gia

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.2, tr. 268

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.138

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.249

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.510

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.89

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.57

tuyengiao.vn

Sự vĩ đại chỉ trường tồn khi lòng dạ trong sáng

Thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX có thể coi là mùa đông bǎng giá, đầy mây mù của Tổ quốc ta. Người dân oằn lưng vì sưu cao, thuế nặng, roi vọt. Cả dân tộc, nòi giống, giang sơn, miếu mạo, đền chùa, bàn thờ tiên tổ, mồ mả ông cha đều như bị chế nhạo, khinh thị bởi lũ độc ác vô nhân tính – lũ thực dân và bè lũ tay sai. Nhưng trời đất, xã hội vẫn vần vũ theo quy luật, từ mạch nguồn của dòng chảy vǎn hoá dân tộc mấy ngàn nǎm tích tụ bừng nở một sinh lực mới, một sức mạnh tự thân. Vận nước đã bắt đầu từ ngày Nguyễn Tất Thành – người con ưu tú, dũng cảm của dân tộc rời bến cảng Nhà Rồng đi tìm đường cứu nước.

Theo điện tín số 1258 của Chánh mật thám Sài Gòn gửi Chánh mật thám Huế, phát đi từ Sài Gòn ngày 13-11-1923 thì mùa đông nǎm 1912 Nguyễn Tất Thành đã tới Niu-oóc. Bà J.Stenson, nhà sử học Mỹ, người “quyết tâm đi tìm cho được lai lịch vǎn hoá Hồ Chí Minh” cho biết: Nhiều chính khách đến Niu-oóc chiêm ngưỡng thần Tự do, đều viết cảm tưởng ca ngợi ngôi sao toả sáng trên vòng nguyệt quế là ánh sáng tự do… Duy chỉ có Nguyễn Tất Thành đến xem và ghi: “Ánh sáng trên đầu thần Tự do toả rộng khắp trời xanh, còn dưới chân tượng thần tự do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”

Mùa xuân 1919 đánh dấu bước quyết định chính trị đầu tiên khi Nguyễn Tất Thành dưới tên Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Điểm xuất phát và động lực duy nhất đưa tới việc Người vào Đảng này “chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: Tự do – Bình đẳng – Bác ái”.

Giải phóng Tổ quốc, thực hiện tự do, bình đẳng, bác ái cho nhân dân, cho nhân loại, đó là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Nguyễn Ái Quốc về mục đích của một đảng cách mạng chân chính.

Lần đầu tiên ở giữa Thủ đô của “mẫu quốc”, một người Việt Nam, trên diễn đàn của Đại hội Đảng Xã hội Pháp đã kịch liệt lên án chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược và đã “nhân danh toàn thể loài người, nhân danh tất cả các đảng viên xã hội, cả phái tả lẫn phái hữu, chúng tôi kêu gọi: Các đồng chí, hãy cứu chúng tôi”. 22 giờ ngày 29-12-1920 Nguyễn Ái Quốc đã tiến đến một quyết định lịch sử, bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ ba bởi Quốc tế đó ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, bởi nó có Luận cương của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Và chính hành động này đã đưa Nguyễn Ái Quốc vào hàng ngũ những yếu nhân của lịch sử hiện đại ở châu Âu: Tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Với Việt Nam thì hành động lịch sử đó của Nguyễn Ái Quốc chính là một ánh chớp giữa đêm đông, là tiếng chuông báo hiệu “Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”.

Trải qua 10 mùa xuân sống, làm việc trong gian khó, hiểm nguy ở các nước tư bản phát triển nhất để học hỏi và tìm con đường sống cho giống nòi (1911-1920). Phải qua 10 mùa xuân bôn ba nữa, từ quê hương của V.I.Lênin đến quê hương của C.Mác và P.Ăngghen, qua nhiều nước, đến mùa xuân 1930, Người “đi tìm hình của nước” mới đủ điều kiện từ trời tây trở về Hương Cảng – Trung Hoa, thay mặt Quốc tế Cộng sản sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chấm dứt một thời gian dài phong trào cách mạng trong nước khủng hoảng lãnh đạo vì bị chia rẽ. Tiếp 10 năm nữa, mùa xuân 1940, Người mới trở về Tổ quốc lãnh đạo Đảng và dân tộc làm cuộc Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, khai sinh thể chế dân chủ cộng hòa Việt Nam. Từ bấy đến nay đã bao nhiêu mùa xuân và thế kỷ XX cũng đã đi vào lịch sử. Cuộc đời đã cho chúng ta những điều kiện để nghĩ suy và hiểu thấu, đã cho ta ngày một thêm “giàu đôi mắt” để thêm sáng mãi một tấm lòng, một niềm tin, rằng: Với những quyết sách chiến lược tài tình, những việc làm thông minh, những hành động dũng cảm, ngoan cường, những gương hy sinh lẫm liệt… Đảng Cộng sản Việt Nam đã là một “hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc”. Đảng đã chinh phục được trái tim, khối óc của hàng chục triệu người. Nhân dân tin theo Đảng. Sự nghiệp, cơ đồ, giang sơn, Tổ quốc ta, danh dự và phẩm giá của người Việt Nam ta được như ngày nay thì, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại”.

Đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, người thông minh, vĩ đại không phải là người không phạm sai lầm. Không có và không thể có những người không sai lầm. Người nào phạm sai lầm, biết nhanh chóng nhận ra sai lầm, tìm nguyên nhân đúng và đề ra được chủ trương, biện pháp và có quyết tâm hành động để khắc phục sai lầm, người đó mới đích thực là người thông minh.

Đảng Cộng sản Việt Nam, trong suốt 82 nǎm qua tuy đã đạt tới sự vĩ đại cũng chính bằng sự thông minh, chân chính. Đảng đã từng phạm không ít sai lầm trong những chặng đường cách mạng đầy khó khǎn, phức tạp. Nhưng từ sức mạnh tự thân, Đảng đã thông minh, dũng cảm “tự chỉ trích” nhận ra sai lầm, kiên quyết sửa chữa và vượt lên, đi tiếp tới thắng lợi.

Lịch sử cho thấy:

Khi nào có sự trong sáng về tư tưởng và vững chắc về tổ chức thì Đảng sẽ chống được mọi biểu hiện của tệ bè phái, cá nhân, cục bộ, giáo điều, cơ hội;

Nếu Đảng ta quang minh chính đại, thì nơi nào sai lầm, ai sai lầm sẽ lập tức được sửa chữa, và ngược lại;

Nếu những người lãnh đạo của tổ chức đảng biết tự mình nêu gương và kiên quyết duy trì nguyên tắc sống và giữ gìn phẩm giá của mỗi người cộng sản Việt Nam chân chính là trong sạch, gương mẫu, kiên quyết chống thói nể nang và che giấu;

Nếu trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, tự phê bình và phê bình nghiêm túc, không hình thức, biết lắng nghe lời chỉ dẫn của nhân dân, biết sống thật thà, trung thực và chung thuỷ, sống có tình, có nghĩa, lý lẽ phân minh, nghĩa tình đầy đủ, có tình đồng chí thương yêu, cùng nhau hướng về cái tốt, cái đẹp, một lòng một dạ phục vụ nhân dân… thì Đảng trở nên vĩ đại.

Sự vĩ đại của Đảng được quyết định ở việc làm, ở hành động cách mạng của mỗi đảng viên, ở sự hy sinh, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường của họ vì lợi ích của xã hội, của nhân dân và dân tộc. Để có những đảng viên như thế Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên trì dũng cảm đấu tranh với chính bản thân mình và hiện nay còn phải có quyết tâm tiếp tục tiến hành chỉnh đốn và đổi mới Đảng, lãnh đạo cải cách tư pháp và cải cách hành chính, trong đó việc cần phải làm ngay là sửa đổi Hiến pháp và cải cách thể chế kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và chống tham nhũng – một căn bệnh đang trở thành quốc nạn. Phải đặc biệt chống bệnh xuống cấp về văn hóa, đạo đức trong Đảng để chấn hưng nền văn hóa, đạo đức của nước nhà.

Nhìn lại thái độ đối với sai lầm, khuyết điểm, ta thấy được sức mạnh của Đảng chân chính cách mạng. Xây dựng, đổi mới, chỉnh đốn làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, kết nạp những người ưu tú trong nhân dân vào Đảng, trọng dụng nhân tài; dũng cảm bãi miễn, cách chức, đưa ra khỏi Đảng những kẻ thoái hoá, những tên cơ hội, những bọn quan liêu, lợi dụng chức quyền để mưu vinh thân phì gia… là thể hiện ý chí, đạo đức, lương tâm, danh dự, lẽ sống của Đảng, là bí quyết để giữ vững uy tín, tiếp tục làm nên sự nghiệp vĩ đại.

Hiếm thấy một lãnh tụ vừa nhân từ, vừa khoan dung đối với mọi người, lại vừa nghiêm khắc phục tùng kỷ luật của Đảng và tôn trọng phép nước như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhớ lại, trước đây, dù đau xót, Người vẫn dằn lòng ký lệnh tử hình cán bộ cấp cao đã phạm tội tha hoá, tham nhũng. Nhân dân, qua đó, càng tǎng thêm sự tin tưởng vào hành động quang minh chính đại của Đảng, vào sự công minh, công bằng của pháp luật. Cán bộ, đảng viên, công chức đã lấy đó mà rǎn mình để ngày càng xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Từ bấy đến nay những việc làm ấy của Người vẫn đang là bài học mà nhân dân mong mỏi các nhà chính trị hậu thế phải làm theo.

Chúng ta nghĩ về quá khứ, tự hào và suy ngẫm để hiểu thấu hiện tại, vững bước đi tới tương lai, một tương lai đàng hoàng tốt đẹp “hơn mười ngày nay”.

Mùa xuân mới đã về! Thắp nén nhang thơm, lòng thành kính trước bàn thờ tổ tiên, cầu mong được mọi sự an khang, thịnh vượng, ta bỗng như vǎng vẳng lời Bác Hồ:

“Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân…

Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân, và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”

Bác Hồ Chí Minh, chúng con nghe lời Bác như nghe lời Non Nước, như nghe tiếng của lịch sử hào hùng và của một tương lai đang rộng mở. “Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh”!

Theo Trần Đình Huỳnh

Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Gặp người viết truyện thơ dài nhất về Bác Hồ

(GDVN) – Đã bao năm ròng ông lang thang trên từng miền quê nước Việt, lần theo những nơi mà Bác Hồ đã đi qua, rồi sưu tập cả một kho tài liệu viết về Bác, để rồi thức trắng bao đêm và viết ra 3654 câu thơ về Bác Hồ vĩ đại bằng tấm lòng mộc mạc, chân thành. Với tập truyện thơ có tựa đề “Từ làng sen”, ông trở thành người đầu tiên viết truyện thơ dài nhất về Bác Hồ, trong đó ghi lại tất cả cuộc đời của một vĩ nhân. Ông là nhà thơ Nguyễn Gia Ninh, ở Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội.

Một lần gặp Bác Hồ…

… Đó là năm 1962 tại trường Trung cấp Nông lâm. Lúc đó ông khoảng 13 tuổi. Vào một buổi tối trước hôm Bác đến, ông theo đám thanh niên đến trường Trung cấp Nông lâm để xem cải lương, tối hôm đó trời bỗng đổ mưa to, ông chui vào một góc trong giao thông hào tránh mưa rồi ngủ luôn ở đó. Buổi sáng thức giậy, ông nghe tiếng reo hò của đám đông “Bác Hồ! Bác Hồ!” ông vội chạy ra khỏi giao thông hào hòa mình vào đám trẻ con và chạy theo Bác.

Người thi sỹ đồng quê vẫn từng ngày miệt mài viết những vần thơ về bácNgười thi sỹ đồng quê vẫn từng ngày miệt mài viết những vần thơ về bác

Dù đã gần 50 năm trôi qua, nhưng Nguyễn Gia Ninh vẫn nhớ như in những cảm xúc ban đầu khi gặp Bác. Lúc đó, Bác mặc một bộ quần áo nâu gụ trông giản dị lắm, râu Bác bạc phơ. Khi nhìn thấy Bác, đám trẻ con hớn hở chạy theo, đứa nào cũng muốn được Bác xoa đầu và bế trên tay. Trong giây phút đó, bỗng trong lòng Nguyễn Gia Ninh dâng lên một cảm xúc dào dạt, khó tả. Cũng từ đó, ý tưởng về những vần thơ viết về Bác được manh nha.

Năm 1965 Nguyễn Gia Ninh lên đường đánh giặc và luôn đau đáu mơ ước gặp Bác thêm một lần nữa. Mơ ước của ông chưa trở thành hiện thực thì năm 1969 Bác mất, nghe tin ấy, trong ông dồn lên những cảm xúc thương mến, xót đau người lãnh tụ vĩ đại. Từ đó ý tưởng về việc sáng tác một tập thơ dài về Bác cứ thôi thúc ông mãnh liệt. Những cảm xúc ấy theo Nguyễn Gia Ninh đến suốt mãi sau này.

Theo dấu chân Người

Để viết được tập thơ dài nhất về Hồ Chủ tịch, người thi sĩ đồng quê Nguyễn Gia Ninh đã bao năm lặn lội đến những miền quê nơi mà trước đây Bác Hồ đã từng đặt chân qua. Đầu tiên, ông đến Nghệ An thăm nơi chôn nhau cắt rốn của Bác, ông lại sống ở đây suốt mấy tháng liền, nghe bà con xứ Nghệ kể lại những câu chuyện về dòng họ Nguyễn, về truyền thống hiếu học và trí thông minh ít người sánh bằng của cậu bé Nguyễn Sinh Cung.

Nhìn dải đất Miền Trung triền miên cát trắng, cằn bạc hanh khô khiến cho Nguyễn Gia Ninh càng cảm sự học và ý chí vươn lên của Hồ Chủ tịch cũng như những con người nơi Miền Trung chỉ có nắng và gió. Cũng từ mảnh đất khô cằn này, đã tạo niềm cảm hứng cho người thi sĩ quê mùa  Gia Ninh sáng tác những câu thơ đầu tiên về Bác.

Sau những ngày dài ở lại nơi xứ Nghệ, ông đến bến cảng Nhà Rồng, nơi Bác đưa bước chân huyền thoại lên tàu viễn dương đi tìm đường cứu nước. Rồi ông lại vượt núi băng ngàn, đến các vùng quê Việt Bắc một thời là nơi che dấu Hồ Chủ tịch và nghĩa quân cách mạng, thăm nơi Người đặt chân từ nước ngoài về và tiếp tục lãnh đạo cách mạng chống lại cường thù. Trong suốt nhiều năm liền, từ 1986 hầu như ông đã đặt chân đến những miền đất nơi mà trước đây Bác đã từng đi qua, đi đến đâu ông cũng nghe người dân kể chuyện về Bác, từ chuyện ăn uống hàng ngày, cho đến chuyện về chống giặc ngoại xâm như thế nào… và ông bỗng trở thành người ghi chép những câu chuyện lịch sử liên quan đến Hồ Chủ tịch.

Những tư liệu mà ông thu thập được trong quá trình điền dã vẫn còn chưa đủ, trong khi thời gian Bác hoạt động ở nước ngoài lại rất dài, mà ông không thể đi các nước, đến những nơi bác đã từng đặt chân qua như ở Việt Nam được. Vậy là ông lại rong chiếc xe đạp cà tàng ra khắp các hiệu sách ở nội, ngoại ô thành phố Hà Nội để tìm mua sách viết về cuộc đời và con người Hồ Chí Minh để đọc.

Việc sưu tầm tìm hiểu những tài liệu về con người Hồ Chủ tịch theo ông Ninh là rất nhanh và bổ ích, khi mua được bất kỳ cuốn sách nào viết về Bác ông cũng thường thức đêm để đọc, đọc rồi mới hiểu về những hành động của Bác, rồi lại tìm cách chuyển thể từ thể loại văn xuôi sang thơ, làm sao cho bình dân dễ đọc, dễ nghe nhất. Qua nhiều năm sưu tầm sách, đến nay Nguyễn Gia Ninh đã có cả “kho sách viết về Hồ Chí Minh”. Ông Ninh cho rằng, hiện nay có nhiều sách viết vầ Hồ Chủ tịch với những thái độ và chính kiến khác nhau. Tuy nhiên tựu chung lại thì thấy Bác vẫn luôn là ngọn cờ đầu và là ánh dương để dẫn dắt cả dân tộc thoát khỏi xiềng gông, nô lệ, tìm đến với hạnh phúc, ấm no.

Những vần thơ về Bác

Toàn bộ cuộc đời và con người của Hồ Chủ tịch đã được thi sỹ đồng quê Nguyễn Gia Ninh chuyển thể thành thể thơ lục bát. Với thể thơ truyền thống của dân tộc, ông đã tạo ra sự gắn bó thân thương của một thị hiếu thẩm mỹ truyền thống về thơ và âm hưởng hiện đại, khiến cho người đọc dù trẻ hay già đều cảm thấy dễ đọc, dễ đi vào lòng người, đồng thời thu lượm được những hiểu biết về con người và cuộc đời của Hồ Chủ tịch.

Đúng như tiêu đề “từ làng sen”, tập trường ca nói về cuộc đời Nguyễn Ái Quốc bắt đầu từ một miền đất cằn cỗi nhưng đầy sức mạnh kết hợp với cách kể giầu tính truyền thống: “ Làng Sen có tự ngày xưa/khai sinh lập địa còn thưa thớt người/có dòng họ Nguyễn đến rồi”. Cứ như thế mạch thơ đều đều xuôi theo cuộc đời của Bác, cùng những lúc gian truân khi thì bị giặc truy sát, khi tìm đường về với nước non.

Qua những vần thơ chân quê ấy, người ta thấy được tầm vóc của một con người vĩ đại – Hồ Chí Minh, và một tấm lòng của người thi sỹ. Đọc những vần thơ của Nguyễn Gia Ninh, chúng tôi thấy ông như nghẹn ngào òa rơi nước mắt, khiến người đọc cũng như nghẹn lời.

“Miền Nam chưa kịp đón về
Ngoài này Bác đã hôn mê mất rồi
Thèm câu ví dặm đưa nôi
Ước ao nghe tiếng quê thôi cũng đành
Thay câu quan họ buông mành
Sụt sùi nấc hát bậm vành môi đau
Cả đời nào có gì đâu”

Thảo Nguyên

giaoduc.net.vn

Các chú ấy nói có đúng không

Chủ nhật trước ngày 2 tháng 9 năm 1958, khu nhà tập thể Thành hội phụ nữ đông vui hơn mọi ngày vì hôm ấy không chỉ có các ông chồng về chơi mà nhiều chị còn đón cả bố mẹ ở quê ra dự ngày hội lớn ở Thủ đô.

Khoảng ba giờ chiều, được các đồng chí lãnh đạo Thành uỷ báo sẽ có khách quý tới thăm, chị Minh Quang – phó hội trưởng vội họp ý với chị Thuý Hạnh, nhắc nhở chị em đang ở nhà dọn dẹp sạch sẽ để đón khách.

Chưa kịp bắt tay vào việc chuẩn bị thì xe của Bác đã đến. Bác nhanh nhẹn bước xuống, các chị trong cơ quan mừng quá ùa ra đón Bác, mời Bác vào phòng khách. Nhưng Bác nói:

– Không, Bác chưa vào phòng khách. Các cô chứ để Bác đi xem các cô ăn ở thế nào đã.

Vừa nói, Bác vừa đi qua dần, qua dãy nhà tập thể rồi xuống thẳng bếp. Trước đó chị Thuý Hạnh đã chạy vội đi khép cửa mấy căn hộ nổi tiếng là luộm thuộm.

Các chị đang chuẩn bị bữa cơm chiều trong bếp thấy Bác thì vui sướng chạy ào ra, miệng reo như trẻ thơ:

– A! Bác đến, Bác đến!

Các đồng chí đi cùng với Bác khẽ nhắc:

– Các chị không nên reo to.

Bác hỏi chị em:

– Đây là nhà ăn à?

– Thưa Bác, vâng ạ!

Bác cười, hỏi mấy cô cấp dưỡng:

– Thế nào? Chiều nay các cô cho chị em ăn món gì?

Chị Nhàn thay mặt cả nhóm thưa:

– Thưa Bác, chiều nay chúng cháu có rau  muống luộc, cà muối và đậu rán ạ!

Bác gạt đầu vẻ hài lòng:

– Các cô giữ bếp núc sạch sẽ như thế này là tốt. Cố gắng thay đổi món ăn luôn cho chị em.

Cả mấy chị em đồng thanh đáp:

– Thưa Bác, vâng ạ!

Từ nhà bếp, Bác đi sang nhà trẻ. Bác hỏi:

– Sao không có các cháu?

– Thưa Bác, hôm nay là chủ nhật các cháu ở nhà với bố mẹ các cháu ạ!

Bác nhìn qua cửa, thấy nhà trẻ sạch bóng, Bác gật đầu tỏ ý hài lòng.

Lúc ấy ngoài sân nhà tập thể, chồng của một số chị em đã tạm dừng công việc, phấn khởi ra đứng đón Bác, Bác cười hỏi anh em:

– Cơ quan phụ nữ sao lại có các chú ở đây?

– Thưa Bác, hôm nay chủ nhật, chúng cháu về thăm gia đình ạ.

Bác hỏi lại:

– Các chú chỉ về thăm thôi à? Các chú phải về giúp các cô việc gì chứ?

– Thưa Bác, chúng cháu có giặt giũ, bế con, dọn dẹp  nhà cửa đấy ạ.

Bác quay ra hỏi chị em:

– Thế các chú ấy có nói đúng không?

– Thưa Bác đúng ạ.

Tất cả chúng tôi rộ lên sung sướng theo cái gật đầu bằng lòng của Bác.

(Theo lời kể của một chị trước ở Thành hội –“Bác Hồ với phụ nữ Hà Nội NXB HN – 1985”)

P.S. Cám ơn chị Kim Yến đã cung cấp bài viết này.

Việt Nam – Hồ Chí Minh

Hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định ra đi tìm đường cứu nước

1. Phong trào yêu nước chống Pháp diễn ra sôi nổi nhưng đều thất bại

Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hoá. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc cũng có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam. Các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta diễn ra đa dạng, sôi nổi: phong trào có khuynh hướng dân chủ tư sản Đông Du, Đông kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội; phong trào chống sưu thuế của nông dân ở Trung kỳ; phong trào đánh Pháp như: vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế…

Các phong trào yêu nước chống Pháp trên đều thất bại. Nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Giai cấp phong kiến, có vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử đã trở thành giai cấp phản động, bán nước, tay sai cho đế quốc. Giai cấp tư sản mới ra đời, còn non yếu với lực lượng kinh tế phụ thuộc và khuynh hướng chính trị cải lương, không có khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến để giành độc lập tự do. Giai cấp nông dân và tiểu tư sản khao khát độc lập, tự do, hăng hái chống đế quốc và phong kiến, nhưng không thể vạch ra con đường giải phóng đúng đắn và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng. Cách mạng Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước.

Nguyễn Ái Quốc ở Pháp năm 1920.

Nguyễn Ái Quốc ở Pháp năm 1920.

Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân, chí sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Tất Thành tuy lúc đó chưa gặp chủ nghĩa xã hội, nhưng đã thể hiện tầm vóc vượt trước quan điểm cứu nước đương thời. Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, “còn mang nặng cốt cách phong kiến”.

Thất bại của các cụ Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh …nói lên một sự thật lịch sử là: không thể cứu nước trên lập trường phong kiến hay lập trường của giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Các đường lối và phương pháp này đều không đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ thống thế giới. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đòi hỏi được đổi mới, đó là một nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ.

2. Những chuyển biến của tình hình chính trị thế giới

Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và đã xác lập được sự thống trị trên phạm vi thế giới. Phần lớn các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của chúng. Chủ nghĩa đế quốc vừa tranh giành xâu xé, vừa hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ bé. Cùng với những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản – mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh mâu thuẫn mới – mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Đời sống nhân dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vô cùng cực khổ, trong đó có nhân dân Việt Nam dưới xiềng xích của chế độ thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc bắt đầu phát triển và có xu hướng lan rộng.

Con tàu La Towche Treville chở Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: TLCon tàu La Towche Treville chở Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: TL

3. Phẩm chất và trí tuệ của Nguyễn Tất Thành

Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, một địa phương có truyền thống yêu nước. Từ lúc tuổi còn nhỏ, Người sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông, hấp thụ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc, Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hoá phương Tây. Chứng kiến chứng kiến cảnh khổ cực của người dân mất nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh, Người càng yêu nước, thương dân sâu sắc và hun đúc những hoài bão lớn lao. Vốn có tư chất thông minh, tinh thần ham học hỏi, khả năng tư duy độc lập, tính ham hiểu biết và nhạy bén với cái mới, Người bị lôi cuốn bởi khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” và thôi thúc bởi ý định tìm hiểu “cái gì ẩn dấu sau” những từ đẹp đẽ đó ở chính nước sinh ra khẩu hiệu đó. Những tư tưởng tiến bộ của cuộc cách mạng ở Pháp năm 1789, thành tựu văn minh, tiến bộ của nhân loại ở Pháp và các nước châu Âu khác, đã thúc đẩy Người muốn đến tận nơi tìm hiểu. Đó chính là những lý do Nguyễn Tất Thành quyết định chọn nước Pháp, chọn châu Âu làm điểm đến đầu tiên trong cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước năm 1911.

Những chuyển biến trong nhận thức về con đường giải phóng dân tộc

Hành trang ban đầu của Nguyễn Tất Thành khi ra nước ngoài là tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lớp trước và một dự định rõ rệt, lớn lao, đó là “xem nước Pháp và các nước khác, sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”, đó là dự định đi tìm con đường cứu nước, cứu dân. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu “Đô đốc Latouche Tréville”, từ bến cảng Nhà Rồng của Thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp. Người làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động (phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong các khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…). Gần mười năm, vừa lao động kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa, khảo sát các cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ… Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng là: cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư sản xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng. Từ đó, Người đi đến kết luận, chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này. Nguyễn Tất Thành đã tìm ra những mặt trái của xã hội phương Tây, nhận ra “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Điều đó đã giúp Người có một nhận thức quan trọng: nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

Khách sạn trung tâm Max-cơ-va, nơi Nguyễn Ái Quốc ở trong những ngày sang Liên Xô (1923 – 1924). Ánh: TLKhách sạn trung tâm Max-cơ-va, nơi Nguyễn Ái Quốc ở trong những ngày sang Liên Xô (1923 – 1924). Ánh: TL

Sống hòa mình cùng nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Ái Quốc say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền, cổ động. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành tham gia hoạt động trong phong trào của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Người. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp. Ngày 18/6/1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Vécxây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tám yêu cầu không được chấp nhận, nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình.

Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa có một ý niệm rõ ràng về giai cấp, đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, chủ nghĩa Mác – Lênin… Từ những hoạt động thực tiễn trên và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo L’Humanité tháng 7/1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Trong bối cảnh bấy giờ, có nhiều trí thức Việt Nam sống tại Pháp, nhưng Người đã thể hiện tính vượt trội của tư tưởng khi nhận ra được chân lý lớn nhất của thời đại. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở Đại học phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Nhận thức của Người về sức mạnh của nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, về chính quyền cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng… ngày càng sâu sắc và có những luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12/1920 là một mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người – từ một nhà yêu nước chân chính trở thành một chiến sĩ cộng sản. Đồng thời, sự kiện đó cũng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam bắt đầu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bắt đầu hình thành.

Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát triển lực lượng cách mạng… Việc Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, chứng tỏ đến 1930, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành cơ bản.

Sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Một trang mới mở ra trong cuộc đời cách mạng của Người và cũng là bước ngoặt mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.

Ý nghĩa lịch sử to lớn:

– Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới; chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX; tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu tiến hoá chung của nhân loại và xu thế của thời đại.

– Hồ Chí Minh đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường cho phong trào yêu nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, mà sau này biểu tượng sáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc tái thiết và phát triển đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

– Với việc tìm ra con đường cứu nước, phát triển của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đóng góp to lớn, thiết thực chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới và châu Á nói riêng.

IV. Những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin và cách mạng vô sản thế giới.

1. Hồ Chí Minh – nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc của phong trào cộng sản, phong trào công nhân quốc tế: Từ khi rời Tổ quốc đi tìm con đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh sớm nhận thức muốn hoạt động cách mạng cần phải tham gia các tổ chức và hoà mình vào phong trào đấu tranh cách mạng. Người đã hoạt động trong phong trào của người Việt Nam yêu nước và phong trào công nhân Pháp, tham gia Đảng Xã hội Pháp; sinh hoạt trong Câu lạc bộ Phôbua; tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa; chủ nhiệm kiêm chủ báo Người cùng khổ; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp; tham gia Quốc tế Cộng sản, hoạt động trong Quốc tế Nông dân; tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức… Những hoạt động đầy nhiệt huyết của Người – với tư cách nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản quốc tế đã in dấu đậm nét trong lịch sử cách mạng vô sản thế giới. Trong quá trình hoạt động cách mạng, nhiều lần phải sống trong thiếu thốn, khổ cực, nguy hiểm, tù đày, thậm chí bị hiểu lầm, nhưng trong hoàn cảnh nào, Người cũng có một niềm tin sắt son vào chủ nghĩa Mác – Lênin, nêu cao ý chí, bản lĩnh và phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản.

Cuốn sách “Đường Kachs mệnh” của Nguyễn Ái Quốc. Ảnh: TLCuốn sách “Đường Kachs mệnh” của Nguyễn Ái Quốc. Ảnh: TL

2. Hồ Chí Minh có công truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm l925, một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Hoạt động trong tổ chức Quốc tế Cộng sản, Người tích cực đưa lý luận Mác – Lênin vào phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa; kiên trì bảo vệ, phát triển sáng tạo những quan điểm của V.I Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc. Với trách nhiệm là Ủỷ viên Ban phương Đông của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Người hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng, phong trào cộng sản ở các nước châu Á và xúc tiến thành lập đảng cộng sản ở Việt Nam.

3. Sức lan toả của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc rất mạnh mẽ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào cách mạng ở hàng trăm nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Hàng loạt các phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp nổ ra ở các nước Á, Phi và Mỹ Latinh rộng lớn trong suốt các thập kỷ 50, 60 và 70 của thế kỷ XX. Hệ thống thuộc địa thế giới đã từng được chủ nghĩa thực dân đế quốc xây dựng ròng rã trong 500 năm đã nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng chưa đầy 50 năm sau mốc son Việt Nam mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

4. Chủ tịch Hồ Chí Minh có những đóng góp quan trọng với lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau: Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở các nước chính quốc, nhân dân các dân tộc ở các nước thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng chính mình và cuộc cách mạng có thể thắng lợi trước. Đây là những cống hiến quan trọng vào kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin.

Xuất phát từ tình hình ở các nước tư bản, Lênin đã nêu luận điểm Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Xuất phát từ tình hình Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận thấy việc ra đời của Đảng Cộng sản ở đây nếu chỉ kết hợp chủ nghĩa Mác -Lênin với phong trào công nhân thì chưa đủ, vì giai cấp công nhân còn nhỏ bé và phong trào còn non yếu, do đó phải kết hợp cả với phong trào yêu nước rộng lớn của các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Đảng cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Hồ Chí Minh còn đi đến kết luận: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam. Đây là những luận điểm mới của Hồ Chí Minh, bổ sung vào học thuyết về Đảng Cộng sản của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Các Mác, Ăngghen xác định, quần chúng làm cách mạng là giai cấp công nhân, nông dân. Lênin, trong cách mạng vô sản Nga, xác định quần chúng cách mạng là công nhân, nông dân và binh lính. Đối với Hồ Chí Minh, lực lượng cách mạng là “cả quần chúng”, bao gồm: giai cấp công nhân – giai cấp lãnh đạo cách mạng, giai cấp nông dân – cùng với công nông là gốc của cách mạng, tiểu tư sản, trí thức, phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản dân tộc, các cá nhân yêu nước, “Bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới”. Quan điểm này của Người không chỉ đúng trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn trong sự nghiệp xây dựng đất nước ngày nay.

Hồ Chí Minh có những sáng tạo độc đáo trong các bước đi giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc; luận giải khoa học, sâu sắc về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, ưu tiên giải quyết vấn đề dân tộc trước, giải quyết vấn đề dân chủ từng bước. Bảo vệ nền độc lập dân tộc đã giành được bằng biện pháp hòa bình, nhưng khi kẻ thù đã dùng chiến tranh xâm lược để áp đặt sự nô dịch mới, thì cần dựa vào và phát huy sức mạnh của cả dân tộc để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Để bảo vệ nền độc lập dân tộc chân chính, cần xây dựng một xã hội mới là xã hội xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc để xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công và xây dựng chủ nghĩa xã hội để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc.

Trong di sản tư tưởng của Người, có cả một hệ thống những chỉ dẫn khoa học về cách thức, biện pháp, bước đi trong thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc không chỉ tính khoa học, cách mạng mà còn có nhiều luận điểm bổ sung từ góc độ đạo đức, văn hoá, nhân văn.

Tiếp tục triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

1. Đảng ta kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, luôn tìm tòi, làm sáng tỏ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, khẳng định quyết tâm tiếp nối con đường đó trong các văn kiện đại hội của Đảng, nhất là trong các Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ là: “xây dựng được về cơ bản nền kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc”.

2. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nêu cao tinh thần trách nhiệm và nỗ lực thực hiện con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, nhất là những điều căn dặn trong Di chúc của Người về điều kiện bảo đảm sự bền vững của con đường đó: bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tổ chức một đời sống xã hội ưu việt, đầy tính nhân văn và thực sự đem cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, bồi dưỡng thế hệ trẻ sống có lý tưởng, có hoài bão, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có lòng yêu nước nồng nàn để tiếp tục sự nghiệp cách mạng của ông cha, thực hiện đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế…

Những văn bản do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo trong thời gian hoạt động ở nước ngoài. Cuốn sách “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925) và “Bản án yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Véc xây đòi các quyền tự do, độc lập cho các dân tộc thuộc địa” (1919), Báo Le Paria. Ảnh: TLNhững văn bản do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo trong thời gian hoạt động ở nước ngoài.

Cuốn sách “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925) và “Bản án yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Véc xây đòi các quyền tự do, độc lập cho các dân tộc thuộc địa” (1919), Báo Le Paria. Ảnh: TL

3. Hơn bốn năm qua, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được triển khai sâu rộng trong các tổ chức của hệ thống chính trị và toàn xã hội và đã tạo được những chuyển biến quan trọng. Để phát huy những kết quả đó, trách nhiệm của mỗi cấp uỷ, các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, mỗi cán bộ đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động này, gắn liền với những nhiệm vụ về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

4. Hiện nay, các thế lực thù địch đang tấn công vào chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Người với ý đồ đen tối “lật đổ thần tượng Hồ Chí Minh”, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ định con đường cách mạng Việt Nam… Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân là bảo vệ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi luận điệu thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động. Tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới. Đó chính là sự bảo vệ đúng đắn nhất chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta, vững bước đi theo con đường của Hồ Chí Minh đã chọn, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kỷ niệm sự kiện 100 năm Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước gắn với kỷ niệm 121 năm Ngày sinh của Người, chúng ta càng hiểu rõ hơn về cuộc đời cách mạng và tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng dịp cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu sâu sắc hơn về những cống hiến to lớn của Người đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế giới. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nguyện thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội do Đảng hoạch định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được bổ sung, phát triển năm 2011. Đó là tấm lòng tri ân sâu sắc của toàn dân tộc đối với công lao vĩ đại của Lãnh tụ Hồ Chí Minh.

TS (Theo tài liệu của Ban Tuyên giáo Trung ương)

Theo Lâm Đồng Online

Chúng tôi yêu quí Bác Hồ

Tôi được cụ Nguyễn Văn Trúc – cựu chiến binh hơn 50 tuổi đảng, nguyên là cán bộ (hàm vụ trưởng) thuộc Bộ Nông nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), nghỉ hưu tại phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Hà Nội, kể cho nghe một kỷ niệm trong đời quân ngũ của cụ. 81 tuổi, không còn nhanh nhẹn nhưng cụ Trúc rất minh mẫn. Câu chuyện như làm cho cụ trẻ lại, khỏe ra… tựa hồ anh Trúc 25 tuổi hồi ấy.

Sau ngày 7-5-1954, Nguyễn Văn Trúc được điều động sang công tác tại Tổng trạm tù binh Điện Biên Phủ. Ở đấy có gần 5000 lính Lê Dương từ các nước Pháp, Đức, Angiêri, Ma rốc, Tuynidi, Mađa, Xênêgan và cả người Đông Âu. Đồng chí Hùng – cán bộ chỉ huy cấp Trung đoàn là Tổng trạm trưởng.

Cuối thàng 7, anh Trúc cùng một tổ công tác dẫn tù binh Đức, Angiêri và Ma rốc đi bộ từ huyện Thọ Xuân theo bờ Nam sông Mã, về đóng tại các làng gần cầu Hàm Rồng, Thanh Hóa. Hôm ấy, vào khoảng 14 giờ, các anh cho đoàn tù binh giải lao tại thị trấn Hậu Hiền. Ở đây có những cửa hàng ảnh bày bán một loại huy hiệu in hình Hồ Chủ Tịch (kích thước 2cmx3cm), được bọc trong miếng foocmica hình tròn, có ghim móc. Lúc đầu, lác đác tù binh người Đức vào mua đeo lên ngực. Sau, tất cả tù binh ùa vào, tìm mua hết số huy hiệu ấy. Từ tám mươi đồng một chiếc, tăng lên đến một trăm năm mươi đồng, rồi hai trăm đồng một chiếc. Thấy vậy, anh Trúc rất bối rối. Chưa xác định được việc để tù binh mua huy hiệu là đúng hay sai, chỉ nghĩ rằng các cửa hàng tăng giá lên gấp hai lần là không tốt, nên anh đề nghị cấp trên ra lệnh buộc tù binh trả lại huy hiệu cho các chủ hàng và yêu cầu chủ hàng trả lại tiền cho tù binh. Tất cả đều nghiêm túc thực hiện…

Tù binh về đến nơi ở mới thì đã 18 giờ. Anh Trúc lên báo cáo ban chỉ huy Tổng trạm toàn bộ tình hình. Nghe xong, đồng chí Hùng gật gù nói: “Chứng tỏ tù binh Lê Dương rất kính phục lãnh tụ của ta. Họ cũng yêu quí Bác Hồ”. Rồi đồng chí ra lệnh cho anh Trúc tức tốc trở lại phố Hậu Hiền, tìm mua 800 chiếc huy hiệu nói trên. Nếu thiếu thì vận động bà con làm thêm cho đủ.

Đúng 10 giờ ngày hôm sau, anh Trúc mang 800 chiếc huy hiệu về đơn vị. Đồng chí Tổng trạm trưởng mừng lắm. Anh cho mời các bà mẹ, các em thiếu nhi quàng khăn đỏ trong xã đến, tổ chức thành đoàn xuống từng trại tù để trao huy hiệu Bác Hồ cho những tù binh tiến bộ được trả về nước đợt đầu. Tù binh đứng nghiêm, các mẹ, các em gắn huy hiệu lên ngực họ. Xong, mọi người đồng thanh hô vang: “Chúng tôi yêu quí Bác Hồ! Chúng tôi yêu quí Bác Hồ!”. Tiếp theo, cùng múa hát ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả tù binh đều rất cảm động. Họ tỏ ý vui mừng vì sẽ được mang tấm huy hiệu in hình Hồ Chủ Tịch về quê hương.

PHẠM XƯỞNG

baolamdong.vn