Archive | Tháng Hai 2012

Phép dùng người của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong lịch sử nhân loại, từ khi có nhà nước thì việc dùng người luôn luôn được đặt ra, nó quyết định sự thành bại của mọi chế độ chính trị, quyết định sự nghiệp của từng nhà chính trị, tướng lĩnh…Trong hệ thống tư tưởng chính trị và văn hoá Hồ Chí Minh, phép dùng người là một bộ phận đặc sắc và quan trọng nhất. Ta có thể tìm hiểu tư tưởng của Người về dùng người theo một hệ vấn đề sau:

1. “Vô luận việc gì đều do người làm ra” 

Với Hồ Chí Minh, nhân dân, con người không bao giờ là phương tiện của các nhà chính trị mà ngược lại nhà chính trị, đảng chính trị… phải nhất quán trong nhận thức và hành động rằng nhân dân là người chủ sở hữu của quyền lực chính trị, con người vừa là mục đích vừa là động lực và sức mạnh của mọi sự nghiệp chính trị. Hồ Chí Minh đã từng nói: nhiều khi đường lối, chính sách đúng nhưng hoặc chưa làm được, hoặc làm được nửa chừng rồi lại nguội, vì chúng ta quên một lẽ rất giản đơn dễ hiểu, tức là vô luận việc gì đều do người làm ra và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả. Công việc Đảng, Nhà nước bao gồm nhiều lĩnh vực đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ, công chức tốt để thi hành công vụ. Từ quan niệm ”vô luận việc gì đều do người làm ra”, Hồ Chí Minh kết luận: có cán bộ tốt, việc gì cũng xong. muốn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém.

2. Dùng người vì chính lợi ích của mọi người 

Động cơ thôi thúc Hồ Chí Minh là tiến hành sự nghiệp vĩ đại: giải phóng dân tộc, xã hội, con người, trong đó độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào; làm cho mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Chính động cơ ấy đã trở thành triết lý nhân sinh, thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ chính sách dùng người của Hồ Chí Minh. Động cơ mang tính lý tưởng, khắc đậm chủ nghĩa nhân văn Hồ Chi Minh đã gặp gỡ những mong mỏi và lợi ích đời thường của mọi người lao khổ. Ý chí của Lãnh tụ với mong mỏi của đại đa số quần chúng trở nên đồng thuận một cách tự nhiên. Mọi người tập hợp dưới ngọn cờ của Lãnh tụ, phấn khởi tự hào được là lính Cụ Hồ, tuân theo sự điều khiển của Lãnh tụ: ”Bác bảo đi là đi”, bởi họ tin rằng: ”Bác bảo thắng là thắng”.

3. Yêu người, kính cẩn, thành tín và khoan dung

Các Mác từng nói: muốn mọi người đối xử với mình thế nào thì hãy đối xử với mọi người như vậy. Ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới UBND các cấp phê phán thói kiêu ngạo, tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi, coi khinh dân gian, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt ”quan cách mạng” lên; không biết rằng, thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến uy tín của Chính phủ. Người căn dặn cán bộ, công chức các cấp: việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. Hồ Chí Minh là ngọn cờ tập hợp mọi tầng lớp nhân dân; Người không những có sức cảm hoá, thu phục được những người cùng chí hướng, những tầng lớp, giai cấp cách mạng và những người có cảm tình với cách mạng mà còn cả những người không cùng chính kiến, quan điểm, thậm chí cả kẻ thù của mình. Sở dĩ như vậy là bởi vì, ở Người luôn toát lên sự thẳng thắn, trung thực, tôn trọng lẽ phải, tôn trọng con người và luôn ứng xử với ”lý lẽ phân minh, nghĩa tình đầy đủ”, luôn luôn giải quyết công việc ”có lý, có tình”, xuất phát từ đời sống hiện thực.

4. Hiểu mình và hiểu người

Xưa nay các vĩ nhân làm nên sự nghiệp lớn đều có chung một tư tưởng: ”biết mình, biết người”, ”biết địch, biết ta”. Biết, chính là bí quyết của sự thành công” Hồ Chí Minh đã chỉ ra một số căn bệnh cơ bản làm cho người cán bộ không tự biết được mình. Đó là, cậy thế kiêu ngạo, ưa người phỉnh nịnh mình,tư túi, kinh nghiệm chủ nghĩa, máy móc, giáo điều. Người cán bộ lãnh đạo, quản lý mắc những bệnh tật ấy, thì không hiểu được chính cái mạnh, cái yếu của mình do vậy không thể hiểu được người khác, tựa như mắt đã mang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông. Muốn biết rõ cán bộ, muốn đối đãi một cách đúng đắn các hạng người, trước hết phải sửa những khuyết điểm của mình. Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng Trên cơ sở tự hiểu mình, cần phải có phương pháp xem xét để hiểu cán bộ một cách thấu đáo, ”không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc” mà phải xét kỹ cả toàn bộ công việc của cán bộ”.

5. Phải khéo dùng người

Theo Hồ Chí Minh, muốn dùng cán bộ đúng thì người cán bộ lãnh đạo cần phải: một là, mình phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ không bị bỏ rơi. Hai là, phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gũi những người mình không ưa. Ba là, phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ. Bốn là, phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt. Năm là, phải có thái độ vui vẻ thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gũi mình. Khéo dùng cán bộ xuất phát từ việc tập hợp được sức lực và tài năng của mọi người vào việc hoàn thành nhiệm vụ chung. Nếu dùng cán bộ mà để họ hoang mang, sợ hãi, buồn rầu, uất ức hoặc cộng tác không hợp, chắc không thành công được. Vì vậy, muốn cán bộ làm được việc, phải khiến cho họ yên tâm làm việc, vui thú làm việc, phải thực hành những việc sau: làm cho người cán bộ mạnh dạn dám nghĩ, dám nói, dám đề xuất ý kiến; làm cho cán bộ có tinh thần chủ động, dám phụ trách (làm chủ) trong công việc. Phải mạnh dạn cất nhắc cán bộ.

6. Phải nuôi dạy cán bộ

Muốn có cán bộ tốt, thì cơ quan lãnh đạo, quản lý phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Muốn dùng người thì phải quan tâm săn sóc, giúp đỡ, nghĩa là phải “nâng cao” người cán bộ, cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần, làm cho người cán bộ ngày càng ”lớn lên” cùng với sự nghiệp cách mạng. Phải thường xuyên huấn luyện cán bộ để bất cứ cán bộ nào cũng đều ”vững về chính trị, giỏi về chuyên môn”.

7. Phải đổi mới và đan xen các thế hệ cán bộ

Mỗi thế hệ cán bộ sinh ra và trưởng thành trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau, mỗi người đều có những sở trường và sở đoản, cái mạnh và cái yếu nhất định, tuyệt nhiên không ai giống ai. Hồ Chí Minh nhắc nhở: phải thấy cái giới hạn khắc nghiệt của thời gian để tạo nguồn thay thế, bổ sung cho tổ chức những lớp người mới, đủ sức lực và tài năng đảm đương nhiệm vụ theo những yêu cầu mới. Theo Người, cần cán bộ già, đồng thời rất cần nhiều cán bộ trẻ; công việc ngày càng nhiều, càng mới. Một mặt, Đảng phải đào tạo, dìu dắt đồng chí trẻ, mặt khác, đảng viên già phải cố gắng mà học. Việc đổi mới cán bộ phải rất khách quan, công minh, cần lấy việc hoàn thành nhiệm vụ làm căn cứ; phải tổng kết từ phong trào thực tiễn, phát hiện những nhân tố mới, những cán bộ trẻ có đức, có tài để trao nhiệm vụ cho họ. Mặt khác cũng cần tạo điều kiện cho số cán bộ lớn tuổi, đã công tác quá lâu trong các văn phòng có điều kiện thâm nhập thực tế để khỏi lạc hậu với thực tế Vấn đề luân chuyển cán bộ hiện nay là một chủ trương đúng phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh.

8. Vun trồng lòng tự trọng, tự tin cho cán bộ, giúp họ sửa chữa sai lầm, khuyết điểm

Hồ Chí Minh cho rằng: ai cũng có lòng tự trọng, tự tin; không có lòng tự trọng, tự tin là vô dụng. Vì vậy phải xem xét kỹ trước khi cất nhắc; giúp đỡ, vun trồng, khuyên gắng, khích lệ lòng tự tin, tự trọng; kiểm tra, uốn nắn thường xuyên không để ”tích tiểu thành đại”. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp họ sửa chữa ngay, để vun trồng các thói có gan phụ trách, cả gan làm việc của họ. Đồng thời phải nêu rõ những ưu điểm, những thành công của họ. Làm thế không phải làm cho họ kiêu căng mà cốt làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức. Phải vun đắp chí khí của họ, để đi đến chỗ ”bại cũng không nản, thắng cũng không kiêu”.

9. Gương mẫu

Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạng đến vai trò của cán bộ cấp trên. Người đã nhiều lần nhắc nhở đảng viên, cán bộ cấp trên phải làm mực thước cho cán bộ cấp dưới và người ngoài Đảng. “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Nếu cán bộ cấp trên không gương mẫu thì làm sao có thể bảo ban, hướng dẫn được cấp dưới, làm sao duy trì được kỷ luật Đảng và trật tự kỷ cương phép nước. Hồ Chí Minh đã kịch liệt phê phán thói nể nang, bênh che cho nhau. Người đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải ghi nhớ rằng mình làm cách mạng là để phục vụ nhân dân, phải luôn ghi tạc trong lòng: lo toan công việc chung trước mọi người, hưởng thụ sau mọi người. Chỉ có như vậy mới thu phục, cảm hoá giáo dục được cấp dưới và mọi người.

10. Đổi mới cách lãnh đạo để dùng người

Vì việc mà dùng người. Công việc xây dựng và bảo vệ đất nước luôn luôn đổi mới, phát triển. Do đó, phải không ngừng đổi mới cách lãnh đạo để dùng người. Để lãnh đạo được thì phải học hỏi quần chúng. Điều đó có nghĩa là “người lãnh đạo không nên kiêu ngạo mà nên hiểu thấu”, ”một giây, một phút không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng”, ”phải biết lắng nghe ý kiến của những người không quan trọng”. ”Hiểu thấu”, ”biết lắng nghe”, học hỏi quần chúng, nâng cao nhân dân, ”đưa chính trị vào giữa dân gian” đã hợp thành một hệ giá trị của văn hoá chính trị và là vấn đề hàng đầu của đổi mới cách lãnh đạo. Nhân dân phải là người được tham gia vào quá trình ra quyết định. Theo Hồ Chí Minh, người ra quyết định thường chỉ ”phán từ trên xuống”, còn người thi hành quyết định lại chỉ ”nhìn từ dưới lên”. Cả hai đều có hạn chế. ”Vì vậy, muốn giải quyết vấn để cho đúng, ắt phải hợp kinh nghiệm cả hai bên lại”. Kiểm soát là điều bắt buộc của lãnh đạo, muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết có được thi hành không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát. Việc kiểm soát phải có hệ thống, thường xuyên. Người đi kiểm soát phải là những người có uy tín”, ”phải đi tận nơi, xem tận chỗ”, phải kiểm soát bằng hai cách, từ trên xuống và từ dưới lên, ”tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cách sửa chữa sự sai lầm đó”.

Phép dùng người của Hồ Chí Minh đã được thực tiễn lịch sử kiểm nghiệm, khẳng định. Đó là cơ sở lý luận và phương pháp luận của khoa học tổ chức trong tình hình hiện nay.

Nguyễn Văn Cư
(Báo GTVT)

sites.google.com

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về người cán bộ quân đội

Trong công việc xây dựng và phát triển quân đội, chúng ta phải ra sức đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố công tác chính trị và quân sự trong bộ đội ta. Phải nâng cao giác ngộ chính trị, nâng cao chiến thuật và kỹ thuật, nâng cao kỷ luật tự giác của bộ đội ta. Phải làm cho quân đội ta thành một quân đội chân chính của nhân dân.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 6, tr.171.

Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là:

Phải: Trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 5, tr.479.

Người đội trưởng, người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên. Chưa làm được như vậy là chưa hết nhiệm vụ. Cán bộ có thân đội viên như chân tay, thì đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt.

Sđd, tập 6, tr.109.

Đảng viên quân nhân:

– Phải luôn luôn giữ gìn kỷ luật, và quý trọng, tiết kiệm của công.

– Phải ra sức học tập chính trị và quân sự.

– Phải thương yêu anh em trong đội và dân chúng.

– Phải thi đua giết giặc lập công.

Sđd, tập 6, tr.189.

Cán bộ cung cấp như là người mẹ, người chị của người binh nhì…

Phải có kế hoạch đầy đủ, sổ sách rành mạch.

Phải thấy trước, lo trước.

Phải có sáng kiến và phải tháo vát.

Phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính.

Phải khéo áp dụng những điều đã học và những kinh nghiệm đã có và sẽ có.

Sđd, tập 6, tr.296.

Cần, Kiệm, Liêm, Chính của ta là đạo đức của người quân nhân cách mạng.

Sđd, tập 6, tr.321.

Không có dân thì không có bộ đội. Cán bộ phải dạy cho đội viên biết kính trọng dân, thương yêu dân, giúp đỡ dân, làm cho đội viên thành một người tuyên truyền bằng công việc thực tế.

Sđd, tập 6, tr.320.

Phải làm sao cho trong quân đội ta không có tham ô lãng phí.

Sđd, tập 8, tr.430.

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào yêu nước của nhân dân ta phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi sự lãnh đạo đúng đắn của một đảng chân chính của giai cấp công nhân Việt Nam, Trước tình hình đó, sau một thời gian ở lại Liên Xô để nghiên cứu chế độ xô-viết và kinh nghiệm xây dựng đảng theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã về gần Việt Nam để xúc tiến việc chuẩn bị thành lập Đảng. Ngày 11 tháng ll nǎm 1924, Người đến Quảng Châu (Trung Quốc).

Về mặt công khai, lấy tên là Lý Thụy, có khi lấy tên là Vương, Người làm cán bộ phiên dịch cho phải đoàn cố vấn của Chính phủ Liên Xô, do Bô-rô-đin dẫn đầu, đến giúp Chính phủ Quốc dân đảng Trung Quốc, trong khi Chính phủ này đang có chính sách hợp tác với Đảng cộng sản Trung Quốc. Việc đầu tiên của Người là bắt mối liên lạc với Tâm tâm xã và tổ chức yêu nước của cụ Phan Bội Châu đang hoạt động ở Quảng Châu.

Trước đó mấy tháng, Phạm Hồng Thái đã ném bom ở Sa Điện, định giết Méc-lanh, toàn quyền Đông Dương, khi y qua đây. Mới đến Quảng Châu, đồng chí Nguyễn ái Quốc còn cảm thấy tiếng vang của quả bom Phạm Hồng Thái. Tuy không tán thành chủ trương ám sát cá nhân, nhưng Người đánh giá cao sự kiện đó. Sau này, Người viết:

“Tiếng bom của Phạm Hồng Thái đã nhóm lại ngọn lửa chiến đấu… Nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc, như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”.

Lúc này cụ Phan bội Châu đã cải tổ Việt Nam quang phục Hội thành Việt Nam quốc dân đảng, với cương lĩnh và chương trình gần giống như Cương lĩnh và chương trình của Quốc dân đảng Trung Hoa.

Đồng chí Nguyễn ái Quốc viết thư góp ý kiến với cụ Phan Bội Châu về đường lối và phương pháp cách mạng. Cụ tiếp thu những ý kiến đó, nhưng chưa kịp sửa chữa sai lầm của mình thì cụ đã bị đế quốc Pháp bắt đưa về nước vào nǎm 1925.

Đồng chí Nguyễn ái Quốc chọn số thanh niên yêu nước trong các tổ chức cách mạng nói trên và một số thanh niên khác ở trong nước ra, mở Trưòng huấn luyện chính trị để đào tạo họ trở thành những cán bộ cách mạng và đưa họ trở về nước hoạt động trong giai cấp công nhân và nhân dân ta. Trường mở được l0 khóa, mỗi khóa từ một tháng rưỡi đến ba tháng, tổng số học viên có khoảng 200 người.

Mặc dù việc mở trường gặp nhiều khó khǎn, nhất là về tài chính, nhưng Người vẫn dành dụm từng đồng, ra sức đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt đầu tiên cho cách mạng Việt Nam, trong đó có những người tiêu biểu như các đồng chí Trần Phú, Lê Hồng Phong, Ngô Gia Tự…

Đồng chí Nguyễn ái Quốc là người phụ trách trường, vừa là giảng viên chính, có khi kiêm cả cán bộ phiên dịch. Phương pháp giảng dạy của Người là lý luận liên hệ với thực tế, học kết hợp với hành làm cho học viên dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Ngoài học tập lý luận và chính trị, các học viên còn được học thêm vǎn hóa và ngoại ngữ.

Được sự giáo dục trực tiếp của đồng chí Nguyễn ái Quốc sau một thời gian học tập, các học viên trưởng thành nhanh chóng về chính trị và tư tưởng. Trên cơ sở giác ngộ về tinh thần yêu nước, các học viên nhận rõ đường lối và phương pháp đúng đắn của cách mạng Việt Nam và có xu hướng cộng sản chủ nghĩa. Nhiều đồng chí được lần lượt cử về nước xây dựng cơ sở, tuyên truyền, tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng.

Người còn lựa chọn một số cán bộ gửi sang Mát-xcơ- va học tập lý luận ở Trường đại học Phương Đông và một số khác vào học Trường quân sự Hoàng Phố có cố vấn Liên Xô giảng dạy ở Quảng Châu.

Việc đồng chí Nguyễn ái Quốc mở Trường huấn luyện chính trị có ý nghĩa rất to lớn. Người đã đào tạo cho cách mạng Việt Nam những lớp cán bộ đầu tiên đi theo đường lối chủ nghĩa Mác – Lê-nin và góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị thành lập Đảng ta.

Để làm tài liệu giảng dạy tại Trường huấn luyện chính trị, đầu nǎm 1925, đồng chí Nguyễn ái Quốc biên soạn tập đề cương bài giảng. Đầu nǎm 1927, tập đề cương bài giảng đó được bộ tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á Đông á Đông xuất bản thành sách, với nhan đề là Đường cách mệnh.

Trong cuốn sách Đường cách mệnh, trước hết Người nêu lên tư tưởng cách mạng triệt để. Người chỉ rõ rằng, muốn sống thì phải làm cách mạng. Làm cách mạng phải có quyết tâm, hy sinh, bền gan, đoàn kết nhau lại Muốn được như vậy thì trước hết mọi người phải hiểu rõ vì sao phải làm cách mạng. Trong cuốn Đường cách mệnh Người nói về tư cách người cách mạng, tức là đạo đức cách mạng : tự mình phải cần kiệm, chí công vô tư, quả quyết sửa lỗi mình, không hiếu danh, không kiêu ngạo ; nói thì phải làm, phải giữ chủ nghĩa cho vững, hy sinh, ít lòng ham muốn về vật chất v.v., Người coi việc giác ngộ cách mạng và giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ là một trong những yêu cầu hàng đầu để chuẩn bị về tư tưởng và chính trị, tiến tới xây dựng một đảng chân chính của giai cấp công nhân Việt Nam.

Muốn làm cách mạng thành công, người cán bộ không những phải có đạo đức cách mạng mà còn phải hiểu lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, có đường lối và phương pháp cách mạng đúng. Nói về ý nghĩa và tầm quan trọng của lý luận cách mạng, trên trang đầu cuốn Đường cách mệnh Người nêu lên câu nói bất hủ của Lê-nin : “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng… Chỉ có đảng nào có lý luận tiên phong hướng dẫn mới có thể làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong”.

Nhân dân Việt Nam đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh anh dũng chống đế quốc Pháp, nhưng đều bị thất bại, vì chưa có lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, chưa có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, không hiểu tình hình thế giới, không biết so sánh lực lượng ta và lực lượng địch, không có “mưu chước” không hiểu “sách lược”, không biết nắm thời cơ, “chưa nên làm đã làm, khi nên làm lại không làm”. Vì vậy, những người cách mạng phải giảng giải cho nhân dân hiểu lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tình hình và kinh nghiệm cách mạng thế giới.

Đồng chí Nguyễn ái Quốc nêu rõ nhiệm vụ trực tiếp trước mắt của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc đồng thời Người cũng chỉ rõ triển vọng tiến lên và mục tiêu cách mạng lâu dài là cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nắm vững tính chất và đặc điểm xã hội Việt Nam, đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân thấm nhuần học thuyết của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, vận động một cách sáng tạo kinh nghiệm Cách mạng tháng Mười Nga vào điều kiện cụ thể của nước ta, Người đề ra đường lối cách mạng Việt Nam là phải đi từ giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cách mạng giải phóng dân tộc mà Người đã đề ra là cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới (nay gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa không qua giại đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đó là một trong những vấn đề mà Người đã phát triển một cách sáng tạo những luận điểm của Lê-nin về cách mạng ở các nước chậm tiến.

Cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, thì nhiệm vụ trước mắt của nó là đánh đổ đế quốc Pháp và bọn vua quan phong kiến tay sai. Muốn đánh đổ kẻ thù của cách mạng, phải tập hợp được lực lượng cách mạng. Người chỉ rõ lực lượng cách mạng là nhân dân bị đế quốc Pháp áp bức và bóc lột. Người nhấn mạnh công nhân và nông dân là lực lượng chủ yếu của cách mạng vì công nông bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất và công nông là lực lượng đông nhất. Theo quan điểm của Người, giải phóng dân tộc trước hết là giải phóng công nhân và nông dân ; lực lượng chủ yếu của sự nghiệp giải phóng dân tộc là công nhân và nông dân, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.

Người chỉ rõ cách mạng là việc chung của quần chúng nhân dân, không phải là việc của một hai người. Vì đế quốc Pháp dùng chính sách chia rẽ người Việt Nam thành người Trung, Nam, Bắc; lấy tôn giáo và vǎn hóa nô dịch để mê hoặc nhân dân ; lấy sức mạnh để đàn áp nhân dân, cho nên muốn làm cách mạng, trước hết chúng ta phải giác ngộ, tổ chức, đoàn kết và lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đấu tranh. Những người cách mạng phải tổ chức các hội quần chúng như công hội nông hội, phụ nữ, thanh niên v.v..

Người còn nêu rõ cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, theo đường lối của Quốc tế cộng sản, quan hệ mật thiết với cách mạng Pháp và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa khác.

Về kinh nghiệm cách mạng thế giới, Người rút ra nhưng bài học của Cách mạng tháng Mười, kinh nghiệm của cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ. Người nhận định cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ là những cuộc cách mạng tư sản không triệt để. Chỉ có Cách mạng tháng Mười Nga là cuộc cách mạng triệt để nhất, vì nó đem lại tự do, bình đẳng, hạnh phúc thật sự cho nhân dân lao động và còn giúp đỡ cho các dân tộc bị áp bức làm cách mạng để tự giải phóng. Cách mạng tháng Mười Nga dạy cho chúng ta biết rằng muốn làm cách mạng thành công phải dựa vào lực lượng của quần chúng nhân dân, chủ yếu là công nhân và nông dân; phải có đảng theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vững mạnh, thống nhất hy sinh, gan góc.

Muốn tổ chức và đoàn kết được các lực lượng cách mạng, muốn có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, trước hết phải có đảng cách mạng, để trong thì vận động và tổ chức nhân dân, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản các nước, Đảng có vững, cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững, thuyền mời chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm cốt. Trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có kim chỉ nam. “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lê-nin”.

Đường cách mệnh không chỉ vạch ra những vấn đề chiến lược cách mạng, mà còn vạch ra phương pháp cách mạng khoa học, “phải biết làm mới chóng”. Người cǎn dặn các chiến sĩ cách mạng phải biết cách tuyên truyền, vận động và tổ chức quần chúng đấu tranh một cách có tổ chức, có lãnh đạo chặt chẽ. Bộ tham mưu của giai cấp vô sản phải cho cách mạng bừng nở đúng lúc, tức là phải nắm vững thời cơ mới có thể giành được thắng lợi to lớn. Ví như Cách mạng tháng Mười Nga đã nổ ra đúng ngày mồng 7 tháng 11 nǎm 1917 và đã giành được thắng lợi vĩ đại.

Đường cách mệnh nêu lên một chân lý sáng ngời là “muốn sống phải làm cách mạng”, quyết tâm giành độc lập và tự do, “thà chết được tự do còn hơn sống làm nô lệ”, đấu tranh kiên cường bất khuất, kiên trì lâu dài, đời này qua đời khác, không ngại gian khổ, không sợ hy sinh. Tư tưởng nổi bật và bao trùm của cuốn Đường cách mệnh là tư tưởng độc lập, tự do gắn liền với chủ nghĩa xã hội. bó là xu thế cách mạng của thời đại, là quy luật tất yếu của sự phát triển xã hội loài người. bó tư tưởng cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, là tinh thần cách mạng triệt để của giai cấp công nhân được kết hợp một cách nhuần nhuyễn với truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam.

Cuốn Đường cách mệnh có ý nghĩa lịch sử rất to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Đường cách mệnh là ngọn cờ chỉ đạo cách mạng nước ta trong thời kỳ xúc tiến chuẩn bị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam và đặt nền tảng cho cương lĩnh của Đảng ta ra đời vào đầu nǎm 1930. Đường cách mệnh được phát triển hoàn chỉnh thêm đã trở thành nền tảng đường lối của đảng ta về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đó cũng là con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc.

Đường cách mệnh chẳng những có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong thời kỳ đã qua, mà còn soi sáng con đường cho nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong giai đoạn mới.

Để làm cơ sở cho việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, tháng 6 nǎm 1925, tại Quảng Châu, Người đã sáng lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, một tổ chức tiền thân của Đảng do những người cộng sản làm hạt nhân lãnh đạo. Khi thành lập, Hội đã thông qua Điều lệ tóm tắt và chương trình hoạt động của Hội. Tôn chỉ và mục đích của Hội được thể hiện trong cuốn Đường cách mệnh.

Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội là một tổ chức rất chặt chẽ, gần như một đảng cộng sản, theo nguyên tắc tập trung dân chủ, dùng tự phê bình và phê bình để xây dựng Hội.

Nhờ có sự giáo dục của đồng chí Nguyễn ái Quốc về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, đường lối và phương pháp cách mạng, về đạo đức cách mạng; được rèn luyện trong phong, trào đấu tranh của quần chúng cho nên hầu hết các cán bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội sau này đều trở thành nhưng người cộng sản chân chính và những cán bộ cốt cán của Đảng ta. Dưới sự lãnh đạo của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta đã kết hợp chặt chẽ với nhau, tạo thành một làn sóng dân tộc và dân chủ mạnh mẽ khắp cả nước. Phong trào công nhân Việt Nam từ khi tiếp thu được chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã có những chuyển biến mời về ý thức chính trị và về tổ chức đấu tranh. Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội là tổ chức cách mạng đầu tiên ở nước ta có xu hướng chủ nghĩa cộng sản, đi vào quần chúng vận động công nhân và nông dân theo quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và dẫn dắt giai cấp công nhân Việt Nam bước lên vũ đài chính trị.

“Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của các tầng lớp công nông và trí thức cách mạng, bắt đầu thành hình trong Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội lúc bấy giờ, đã có hệ thống thống nhất toàn quốc… “

Để làm cơ sở cho việc thành lập một chính đảng của giai cấp công nhân, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, trong đó có hạt nhân lãnh đạo là Cộng sản đoàn, để bồi dưỡng và phát huy mạnh mẽ tinh thần dân tộc của những người yêu nước trong giai cấp công nhân, nông dân và tiểu tư sản trí thức, kết hợp với việc giáo dục cho họ về chủ nghĩa Mác – Lê-nin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, nhằm đào tạo họ thành những người cộng sản Việt Nam. Hội là một tổ chức quá độ, rất phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam lúc đó. Thành lập Hội là một việc làm đúng đắn, phù hợp với kinh nghiệm phổ biến là phải thông qua những phần tử trí thức cách mạng, đưa chủ nghĩa xã hội khoa học vào giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Kinh nghiệm này đã được Đại hội lần thứ sáu của Quốc tế cộng sản (tháng 9 nǎm 1928) xác nhận :

“Kinh nghiệm cho thấy ở phần đông các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, một số lớn nếu không phải là đa số cán bộ cộng sản lúc đầu là rút từ giai cấp tiểu tư sản và đặc biệt là trong số những người trí thức cách mạng, thường là trong số sinh viên. Thường thường những phần tử ấy gia nhập Đảng vì họ nhận định Đảng là kẻ thù cương quyết nhất của chủ nghĩa đế quốc”.

Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội đã đóng một vai trò lịch sử cực kỳ quan trọng trong việc chuần bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng ta.

Để tuyên truyền tôn chỉ và mục đích của Hội. Người đã xuất bản tuần báo Thanh niên. Báo này vạch trần nhưng tội ác dã man của đế quốc Pháp, khơi sâu lòng cǎm thù đối với chúng. Đưa ra những bằng chứng cụ thể, dùng những lời lẽ đanh thép, báo Thanh niên tiếp tục nhiệm vụ của báo Người cùng khổ, lên án chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Việt Nam trên mọi lĩnh vực ; đồng thời giải thích rõ đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc Pháp và bọn vua quan phong kiến tay sai, giành độc lập và tự do, tiến lên cách mạng vô sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.

Đặc biệt, báo Thanh niên nêu rõ tính chất giai cấp của Đảng cộng sản và nhấn mạnh việc tổ chức đảng phải thật chặt chẽ. Báo còn nói rõ người đảng viên cộng sản phải có phẩm chất cách mạng, điều cốt yếu nhất là phải biết hy sinh. Nhiệm vụ của những người đảng viên cộng sản không phải chỉ đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc và giai cấp mình, mà còn phải đấu tranh góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Là một vũ khí sắc bén trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào giai cấp công nhân và nhân dân ta, tuần báo Thanh niên đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình là người tuyên truyền tập thể, người cổ động tập thể, đồng thời là người tổ chức tập thể.

Cùng với tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, cuốn Đường cách mạng, báo Người cùng khổ và một số vǎn kiện khác, báo Thanh niên đã góp phần quan trọng vào việc xúc tiến chuẩn bị thành lập Đảng ta.

Trong khi chuẩn bị thành lập chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam, nǎm 1926, tại Quảng Châu, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã tổ chức nhóm thiếu niên tiền phong đầu tiên của nước ta, nhằm đào tạo các em trở thành những chiến sĩ cách mạng tương lai. Nhóm này gồm có 8 em, trong đó có Lý Tự Trọng, sau này là người đoàn viên đầu tiên của Đoàn thanh niên cộng sản Việt Nam đã oanh liệt đấu tranh đến hơi thở cuối cùng cho Đảng và cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Trong thời gian này, với trách nhiệm là ủy viên Bộ phương Đông trực thuộc Quốc tế cộng sản và ủy viên đoàn chủ tịch ban chấp hành Quốc tế nông dân, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng phong trào cách mạng nói chung và phong trào nông dân nói riêng ở một số nước châu á. Trong bức thư mật đề ngày 13 tháng 8 nǎm 1925, của Ban chấp hành Quốc tế nông dân gửi cho Người, đã nói rõ :

“Theo quyết định của Đoàn chủ tịch ngày 31 tháng 7, đồng chí được ủy nhiệm làm công tác vận động nông dân ở Trung Quốc, ở các nước thuộc địa mà đồng chí đặt được liên lạc, cụ thể như Đông Dương… Nhiệm vụ trước mắt của đồng chí là tổ chức tiếp xúc với các thuộc địa ấy, liên hệ với các tổ chức nông dân địa phương nếu có, và xây dựng tổ chức nông hội hoặc các nhóm nông dân cốt cán ở những nơi chưa có tổ chức nông dân…”.

Để vận động nông dân Đông Dương nói chung và nông dân Việt Nam nói riêng, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã viết một số bài về tình hình nông dân Việt Nam, nói rõ nguyên nhân bị áp bức, bóc lột của họ, và chỉ cho họ phương hướng đấu tranh… Là một nhà lãnh đạo phong trào nông dân quốc tế, có nhtều kinh nghiệm, Người đã góp phần quan trọng vào phong trào cách mạng của nông dân Trung Quốc. Người đã dịch nhiều tài liệu của ban chấp hành Quốc tế nông dân viết bằng tiếng Anh, tiếng Pháp ra tiếng Trung Quốc, và đã viết nhiều tài liệu về nông dân Trung Quốc nói chung và về phong trào nông dân Hải Lục Phong nói riêng… để tuyên truyền và tổ chức nông dân Trung Quốc. Đầu tháng 5 nǎm 1925, Người đã cùng những người cộng sản Trung Quốc triệu tập Hội nghị đại biểu đầu tiên của 20 vạn nông dân có tổ chức của tỉnh Quảng Đông và Hội nghị đại biểu lần thứ hai của giai cấp công nhân Trung Quốc nhằm mục đích thành lập một mặt trận thống nhất giữa nhưng người bị bóc lột ở thành thị và nhưng người bị bóc lột ở nông thôn.

Cǎn cứ vào nội dung bản báo cáo tóm tắt của Người nói về hai cuộc hội nghị này gửi lên Ban chấp hành Quốc tế nông dân và những bài viết của Người về phong trào nông dân Trung Quốc, có thể rút ra những quan điểm đúng đắn như sau:

Những người cộng sản phải xây dựng liên minh công nông; hoạt động cho giai cấp công nhân ở thành thị không được sao nhãng việc tổ chức những người vô sản ở nông thôn. Giai cấp công nhân và giai cấp nông dân phải liên hiệp lại để chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa quân phiệt và những tên phản bội giai cấp công nhân. Muốn đấu tranh chống lại bọn địa chủ áp bức, bóc lột, nông dân Trung Quốc phải được tổ chức lại dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân công nghiệp có tổ chức. Công cuộc giải phóng nhưng người lao động là sự nghiệp của bản thân những người lao động. Đoàn kết lại, nhưng người lao động sẽ đánh thắng chủ nghĩa đế quốc.

Cùng với việc quan tâm theo dõi phong trào cách mạng Trung Quốc và các nước Đông – Nam á, đồng chí Nguyễn ái Quốc rất chú ý đến phong trào giải phóng dân tộc và dân chủ ở ấn-Độ. Từ nǎm 1921 đến nǎm 1928, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã viết nhiều bài (ký tên là Vương) trên Tạp chí Cộng sản và Thư tín Quốc tế, nhằm phản ánh tình hình đấu tranh cách mạng của nhân dân ấn-Độ.

Nhằm tập hợp và đoàn kết các lực lượng cách mạng ở châu á với những kinh nghiệm và cách tổ chức Hội liên hiệp thuộc địa ở Pháp trước đây, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã tham gia sáng lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á Đông á Đông (7-1925), một hình thức mặt trận thống nhất chống chủ nghĩa đế quốc. Hội này gồm những người yêu nước Việt Nam, Trung Quốc, Triều- Tiên, In-đô-nê-li-a, Ma-lay-xi-a, Thái-Lan, ấn- Độ.., Người được bầu làm bí thư của Hội.

Để phối hợp với phong trào chung chống chủ nghĩa đế quốc Người còn thường xuyên đặt quan hệ với Ban thư ký Tổng hội Thái Bình Dương và Liên đoàn chống chủ nghĩa đế quốc, vì độc lập, tự do, v.v..

Để xây dựng phong trào cách mạng nói chung và vận động nông dân nói riêng ở một số nước châu á, Người rất quan tâm vấn đề đào tạo cán bộ. Người đã lựa chọn một số cán bộ của các nước này, tổ chức đưa họ đến học tập tại Trường đại học phương Đông ở Mát- xcơ-va và đưa họ trở về nước hoạt động cách mạng…

Từ cuối nǎm 1924 đến đầu nǎm 1930, đồng chí Nguyễn ái Quốc vừa đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam, xúc tiến việc chuẩn bị và thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, vừa góp phần rất quan trọng vào việc đào tạo cán bộ và xây dựng phong trào cách mạng ở một số nước châu á… á… Dưới sự chỉ đạo của Ban phương Đông trực thuộc Ban chấp hành Quốc tế cộng sản, Người đã truyền bá chủ nghĩa cộng sản vào châu á nói chung và Đông Dương nói riêng.

Tháng 4 nǎm 1927, sau vụ phản biến của bọn Tưởng Giới Thạch ở Quảng Châu, Người đi Hồng Kông, Thượng Hải, rồi rời Trung Quốc đi Liên Xô. Người làm việc ở Quốc tế cộng sản góp phần tổng kết kinh nghiệm của phong trào cách mạng châu á, đặc biệt là cách mạng Trung Quốc. Người thường xuyên tới Trường đại học phương Đông giúp đỡ các học viên Việt Nam học tập và rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, đóng góp vớỉ nhà trường nhiều ý kiến xây dựng có giá trị.

Được sự giúp đỡ của Ban chấp hành Quốc tế cộng sản, cuối nǎm 1927, Người bí mật trở lại nước Pháp để gặp gỡ và trao đổi ý kiến với ban lãnh đạo Đảng cộng sản Pháp về tình hình hoạt động của Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng. Sau đó, người trở lại Đức và đi dự Hội nghị Quốc tế chống chiến tranh đế quốc họp ở thủ đô nước Bỉ.

Mùa hè nǎm 1928, Người bí mật rời khỏi Đức đi Thụy- sĩ I-ta-li-a rồi từ đó đáp tàu biển đi Thái-Lan vào mùa thu nǎm 1928. ở đây, Người lấy tên là Chín. Kiều bào thân mật và kính trọng gọi Người là Thầu Chín (ông già Chín).

Người chủ trọng giáo dục Việt kiều tinh thần đoàn kết và yêu nước. Người chỉ đạo việc chấn chỉnh nội dung tờ báo cho phù hợp với mục đích, tôn chỉ của Hội thân ái và trình độ của Việt kiều, lấy tên tờ báo là Thân ái thay cho tên Đồng thanh trước đây.

Người giảng giải cho cán bộ hiểu rõ tính chất lâu dài và gian khổ của cách mạng Việt Nam, tin tưởng vào triển vọng và tương lai của cách mạng trong nước và cách mạng thế giới Người đặc biệt quan tâm việc giáo dục thiếu niên, Người luôn luôn nhắc nhở cán bộ phải đề cao tinh thần cảnh giác và giữ gìn bí mật trong công tác. Người khuyến khích cán bộ học tiếng Xiêm. Người tham gia lao động cùng với kiều bào trong hội hợp tác, như đào giếng, làm vườn, gánh gạch xây trường học cho trẻ em v.v..

Được sự lãnh đạo của Người, chỉ trong khoảng một nǎm, công tác vận động Việt kiều ở Xiêm đã có những chuyển biến quan trọng ; tinh thần đoàn kết và yêu nước của kiều bào được củng cố và tǎng cường; trình độ chính trị của cán bộ được nâng cao, tư tưởng kiên trì vận động cách mạng được xác lập, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân Xiêm đối với những hoạt dộng yêu nước của Việt kiều nói riêng và đối với cách mạng Việt Nam nói chung.

Trong những nǎm 1928 – 1929, phong trào cách mạng ở nước ta dâng lên mạnh mẽ. Thực hiện chủ trương “vô sản hóa”, một số cán bộ của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội đã vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để tuyên truyền và tổ chức công nhân. Phong trào công nhân dần dần đã vượt qua giai đoạn tự phát, cục bộ, lẻ tẻ tiến đến giai đoạn tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo, có sự phối hợp giữa các ngành và các địa phương. Từ cuối nǎm 1929, phong trào công nhân Việt Nam đã có tính chất độc lập rõ rệt, trở thành lực lượng nòng cốt của phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào công nhân quốc tế lại bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất, có tinh thần cách mạng triệt để, đại biểu cho phương thức sản xuất tiến bộ nhất, tiêu biểu cho quyền lợi cơ bản và lâu dài của cả dân tộc, phát huy truyền thống quật cường bất khuất của dân tộc, giai cấp công nhân nước ta tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất của nhân dân Việt Nam.

Chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã được Người và những học trò của Người truyền bá vào Đông Dương, nơi nhân dân có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm, có giai cấp công nhân tuy số lượng không đông; nhưng là giai cấp tiên tiến nhất trong xã hội, lại bị ba tầng áp bức, bóc lột của đế quốc phong kiến và tư sản trong nước, cho nên có tinh thần cách mạng triệt để. Đông Dương cũng là nơi có phong trào đấu tranh của nông dân và phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân khác rất sâu rộng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, chân lý cách mạng của thời đại, khi đã thấm sâu vào trái tim, khối óc của những người cách mạng Việt Nam thì sẽ trở thành một sức mạnh to lớn và không có một kẻ thù nào có thể ngǎn cản nổi. Trên mặt trận chính trị và tư tưởng, chủ nghĩa Mác – Lê- nin đã đánh lui tư tưởng cải lương, tư tưởng dân tộc hẹp hòi và đã chiếm ưu thế trong phong trào cách mạng Việt Nam. Phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta đang đòi hỏi sự lãnh đạo của một đảng của giai cấp công nhân. Những điều kiện để thành lập một đảng như thế đã chín muồi. Nhưng khi vấn đề ấy được đặt ra, thì trong nội bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, nhất là ở cơ quan lãnh đạo của nó không nhất trí. Đó là cuộc đấu tranh giữa quan điểm vô sản và quan điểm tiểu tư sản trong Thanh niên cách mạng đồng chí Hội để thành lập đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Việt Nam. Cuộc đấu tranh ấy đã dẫn đến thắng lợi của tư tưởng vô sản và sự ra đời của Đông Dương cộng sản đảng và An Nam cộng sản đảng. Trong tình hình ấy Tân Việt cách mạng Đảng cũng không thể duy trì tổ chức cũ, cho nên đã được cải tổ thành Đông Dương cộng sản liên đoàn. Trong vòng nửa nǎm, ba tổ chức cộng sản đã liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng cộng sản là một tất yếu của sự phát triển phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929.

Nhưng lợi ích của cách mạng, và nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lê-nin không cho phép trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Như thế chỉ làm yếu sự thống nhất về tư tưởng, chính trị, tổ chức, làm giảm sức mạnh của phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Thành lập một đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam là yêu cầu bức thiết của phong trào công nhân và phong trào yêu nước lúc bấy giờ.

Lịch sử đòi hỏi phải có một lãnh tụ có đầy đủ uy tín và nǎng lực để thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đồng chí Nguyễn ái Quốc là người đã đáp ứng yêu cầu đó.

Vào cuối mùa thu nǎm 1929, đang hoạt động ở Thái- lan, được nghe báo cáo về tình hình mâu thuẫn giữa các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, Người đã trở lại Hồng Kông, triệu tập Hội nghị đại biểu các tổ chức cộng sản để thống nhất tổ chức, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Trở lại Hồng Kông lần này với sứ mệnh lịch sử nặng nề, đồng chí Nguyễn ái Quốc phải suy nghĩ và giải quyết hàng loạt vấn đề nóng bỏng và phức tạp trong quá trình chuẩn bị thống nhất Đảng: làm thế nào xóa bỏ những bất đồng giữa các nhóm cộng sản, để đi tới thống nhất các nhóm đó trong một tổ chức duy nhất? Tên Đảng nên đặt như thế nào cho đúng với tính chất đảng của giai cấp công nhân và các nhóm có thể chấp nhận làm sao hoàn thành cho kịp các bản Cương lĩnh, Sách lược Điều lệ của Đảng – Đó là những vǎn kiện cơ bản của Hội nghị hợp nhất. Vấn đề bảo đảm bí mật cho Hội nghị cũng được Người rất quan tâm. Tầt cả những vấn đề trên được tiến hành thận trọng, bí mật và khẩn trương để kịp khai mạc Hội nghị.

Dưới sự chủ tọa của Người, Hội nghị đã họp từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 2 nǎm 1930, trong cǎn phòng nhỏ của một người công nhân ở Cửu Long, gần Hồng Kông. Sau nǎm ngày làm việc khẩn trương trong hoàn cảnh bí mật, Hội nghị đã quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản, thành lập một đảng cộng sản chân chính duy nhất ở Việt Nam lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam, theo đề nghị của đồng chí Nguyễn ái Quốc. Về tên Đảng, các đại biểu được Người giải tbich :

“Cái từ Đông Dương rất rộng, và theo nguyên lý chủ nghĩa Lê-nin, vấn đề dân tộc là một vấn đề rất nghiêm túc người ta không thể bắt buộc các dân tộc khác gia nhập Đảng, làm như thế là trái với nguyên lý chủ nghĩa Lê-nin. Còn cái từ An Nam thì hẹp, vì An Nam chỉ là miền Trung của nước Việt Nam mà thôi, và nước ta có ba miền : Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ. Do đó từ Việt Nam hợp với cả ba miền và không trái với nguyên lý chủ nghĩa Lê-nin về vấn đề dân tộc”.

Hội nghị đã thông qua các vǎn kiện : Chính cương vắn tắt Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng Đảng và của một số tổ chức quần chúng và Lời kêu gọi… do đồng chí Nguyễn ái Quốc thảo ra.

Chính cương vắn tắt vạch rõ : cách mạng Việt Nam là cách mạng tư sản dân quyền (nay gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Nhiệm vụ của nó là đánh đuổi đế quốc Pháp, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân, thành lập chính phủ công nông binh, thực hiện các quyền tự do dân chủ cho nhân dân và tổ chức ra quân đội công nông…

Về Đảng, Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt nói rằng Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, có đủ nǎng lực lãnh đạo quần chúng. Đảng chủ trương đoàn kết với phong trào giải phóng của các dân tộc bị áp bức trên thế giới, và liên hệ mật thiết với giai cấp công nhân quốc tế, nhất là giai cấp công nhân Pháp.

Chính cương và Sách lược vắt tắt của Đảng đáp ứng đúng nguyện vọng thiết tha của giai cấp công nhân và nhân dân nước ta. Vì vậy, Đảng là đoàn kết được các lực lượng yêu nước và dân chủ xung quanh giai cấp công nhân và nắm được quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Điều lệ tóm tắt của Đảng đã nêu rõ mục đích của Đảng: “Đảng cộng sản Việt Nam tổ chức ra để lãnh đạo cho quân chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu, để tiêu diệt tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”.

Điều lệ tóm tắt của Đảng qui định những điều kiện cần phải có để được kết nạp vào Đảng cộng sản là phải tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa cộng sản, tin theo đường lối và chương trình hành động của Đảng và của Quốc tế cộng sản; hǎng hái, hy sinh tranh đấu cho sự nghiệp cách mạng nước ta và cách mạng thế giới.

Hội nghị cũng đã thảo luận về phương pháp và kế hoạch thống nhất các tổ chức cộng sản ở trong nước…

Nhân dịp thành lập Đảng, đồng chí Nguyễn ái Quốc thay mặt Quốc tế cộng sản và Đảng cộng sản Việt Nam đã ra Lời kêu gọi, gửi công nhân, nông dân, bính lính, thanh niên học sinh và đồng bào bị áp bức bóc lột: Đảng cộng sản Việt Nam đã được thành lập. Đó là đảng của giai cấp công nhân. Đảng sẽ dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng để đấu tranh cho quyền lợi của toàn thể nhân dân bị áp bức bóc lột. Ngay từ bây giờ, chúng ta phải gia nhập Đảng, chúng ta phải giúp đỡ Đảng và đi theo Đảng !…”.

Lời kêu gọi là một vǎn kiện quan trọng đã phân tích đầy đủ và đúng đắn tình hình thế giới, tình hình Việt Nam và nêu lên đường lối, mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Lời kêu gọi có tác động cổ vũ rất lớn đối với toàn Đảng, toàn dân ta.

Hội nghị thành lập Đảng có tầm quan trọng như một Đại hội của Đảng, vì nó đã đề ra đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam và những nguyên tắc về xây dựng Đảng cộng sản Việt Nam.

Sự ra đời của Đảng ta là một tất yếu lịch sử, do những điều kiện trong nước và thế giới lúc ấy quyết định, đồng thời là kết quả rực rỡ của cả một quá trình hoạt động sôi nổi của đồng chí Nguyễn ái Quốc, Người ái Quốc, Người đấu tranh kiên cường trong phong trào công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc, kiên trì học tập tìm tòi nghiên cứu và rèn luyện. Đó là kết quả to lớn của gần 10 nǎm chuẩn bị rất công phu và đầy đủ của Người về các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Sau này, đánh giá việc thành lập Đảng, Người đã viết :

“Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiểu sử và sự nghiệp, NXB Sự thật, 1987

quangbinh.gov.vn

Từ tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công tác giáo dục, nghĩ về nền giáo dục hiện nay

1. Trong tập sách “Hồ Chí Minh bàn về công tác giáo dục” do Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội ấn hành năm 1972 đã tập hợp nhiều bài viết của Người bàn về công tác giáo dục. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tập sách này là tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục. Đây chính là cẩm nang, là cơ sở khoa học để Đảng ta vận dụng, lãnh đạo sự nghiệp giáo dục nước ta trong suốt một phần ba thế kỷ qua.

Về mục tiêu giáo dục, Người căn dặn: Trách nhiệm của người thầy “không phải là gõ đầu trẻ để kiếm cơm” mà phải chăm lo, dạy dỗ, đào tạo các em thành người công dân tốt, người lao động tốt, người cán bộ tốt, người chiến sĩ tốt, trung với nước, hiếu với dân, có lòng yêu nước nồng nàn, có đạo đức trong sáng, cần-kiệm-liêm-chính-chí-công-vô-tư, có tri thức và sức khỏe để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh.

Về nội dung giáo dục, Người chỉ rõ: phải chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, kỹ thuật, lao động sản xuất. Người nhấn mạnh: “Tăng cường hơn nữa việc giáo dục lao động trong nhà trường là một khâu chủ yếu trong toàn bộ sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa, nhằm trang bị cho thế hệ trẻ có những kiến thức khoa học, lại có những kiến thức cơ bản về sản xuất công nghiệp-nông nghiệp, những thói quen lao động, sẵn sàng bước vào xây dựng xã hội chủ nghĩa”. Theo Người, nội dung giáo dục phải chứa đựng tính dân tộc, tính khoa họcvà tính nhân dân; phải làm cho người học hiểu được những truyền thống quý báu của dân tộc như tinh thần yêu nước nồng nàn, đoàn kết, tương thân tương ái, anh hùng trong chống giặc ngoại xâm, cần cù trong lao động sản xuất.

Về phương pháp giáo dục, Người chỉ giáo: cách học phải nhẹ nhàng; không gò ép học sinh vào khuôn khổ người lớn, phải đặc biệt chú trọng đến sức khỏe của các cháu, chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự phát huy nội lực, tư duy biện chứng Mác – Lê nin, óc tư duy lý luận, tư duy kỹ thuật, tư duy kinh tế, óc phê phán và sáng tạo cho người học.

2. Vận dụng tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh về công tác giáo dục, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, ngành Giáo dục – đào tạo đã đào tạo được một đội ngũ trí thức có đức, có tài, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu ấy, giáo dục lại có nhiều mặt làm cho xã hội quan ngại. Tình trạng giáo dục thiên về “dạy chữ” lơi lỏng về “dạy người” vẫn còn phổ biến. Bàn về công tác đào tạo, gần đây, tại diễn đàn Hội nghị giáo dục, Thủ tướng Phan Văn Khải nhận xét: chất lượng đào tạo của ta còn yếu, đào tạo ít gắn với sản xuất và đời sống, với nghiên cứu khoa học. “Giáo dục lao động trong nhà trường là một khâu chủ yếu trong toàn bộ sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa…” như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh giờ đây đã trở thành xa vời đối với nhiều trường phổ thông, thay vào đó là “dạy chay”, “học chay”, dạy thêm, học thêm tràn lan, làm cho học sinh không còn thời gian để nghỉ ngơi, giải trí. Nhu cầu học thêm bị lợi dụng bởi một bộ phận giáo viên với động cơ không trong sáng. Nhiều giáo viên dạy không sâu sát chương trình, thậm chí theo như lời của một cán bộ lâu năm trong ngành Giáo dục thì cách dạy quá hời hợt, cứ y như “chuồn chuồn đạp nước” nhằm ép học sinh đi học thêm, bắt học sinh học thêm để thu tiền thông qua nhu cầu học thêm giả tạo, dưới hình thức “tự nguyện” (?!).

Một thực tế làm nhiều người hết sức lo lắng, đó là phải chăng chất lượng giáo dục hiện nay đang xuống cấp? Liên tiếp trong thời gian qua, các báo, đài đã tốn khá nhiều giấy mực lên tiếng về thực trạng đáng báo động này. Và mới đây tại diễn đàn của kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI, nhiều vị đại biểu Quốc hội đã bày tỏ bức xúc trước yếu kém này của ngành Giáo dục. Còn nhớ, trong kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2003, có tới 5.700 thí sinh có cả ba môn thi bị điểm không; 86% số thí sinh có ba môn dưới 15 điểm. Kết quả này được công bố đã gây “sốc” cho các vị quản lý ngành Giáo dục. Người ta đã hoài nghi: phải chăng có sự sai lệch trong quá trình chấm thi của các trường. Và thanh tra Bộ Giáo dục – Đào tạo đã chọn 1.297 bài bị điểm không để chấm lại, kết quả chỉ có 2 bài được nâng điểm, còn 1.295 bài vẫn giữ nguyên điểm không như kết quả chấm ban đầu. Theo đoàn thanh tra, các bài bị điểm không là do thí sinh hổng kiến thức cơ bản, và họ đã kết luận: trình độ của thí sinh yếu kém thật sự.

Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém này? Điều dễ nhận thấy là phương pháp giáo dục của ta hiện đang còn nhiều bất cập. Báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã chỉ rõ: Phương pháp giáo dục trong các trường học nặng về truyền thụ, áp đặt kiến thức một chiều, thầy giảng trò chép, cách dạy và học nặng về học thuộc lòng, tạo cho học sinh tiếp thu một cách máy móc, chưa khuyến khích tính năng động sáng tạo của người học, chưa coi trọng bồi dưỡng cho học sinh năng lực thực hành… Bên cạnh đó, một yếu tố cũng ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng giáo dục đó là “bệnh thành tích” – một “căn bệnh” đã tồn tại từ nhiều năm nay. Chúng ta đều biết, trong các trường phổ thông có cả một hệ thống quản lý từ hiệu trưởng, hiệu phó, các tổ trưởng bộ môn, thế nhưng giáo viên có ngàn lẻ một cách phù phép để kết quả giảng dạy “đạt cao”. Hơn thế nữa chính cán bộ quản lý nhà trường cũng cần có một “tỷ lệ đẹp” để báo cáo với cấp trên. Chính bệnh thành tích này đã đôn dần học sinh yếu lên lớp. Dư luận đặt câu hỏi: tại sao năm học 2002-2003 tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT cả nước rất cao 92,6% (có tỉnh đạt 99,5%) nhưng trong kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng có quá nhiều thí sinh bị cả 3 môn không điểm như vậy.

Chúng ta phải thừa nhận rằng những bất cập về chất lượng và hiệu quả giáo dục đang là một hiện thực. Cách dạy nhồi nhét, dạy tủ, dạy theo lối cũ truyền thống vẫn đang là sức ỳ lớn, một lực cản cho yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục. Những vấn đề cộm cán như bệnh thành tích, vấn nạn dạy thêm học thêm, nạn sính bằng cấp… đã gây ra nhiều vấn đề phức tạp cho xã hội, làm ảnh hưởng đến uy tín của ngành Giáo dục và thanh danh của người thầy. Điều đó đòi hỏi ngành Giáo dục cần mạnh dạn có một “cuộc phẫu thuật” để loại bỏ những “căn bệnh” này, nếu không chúng ta phải đối mặt với những biến cố, hậu quả lớn hơn nhiều. Hy vọng, trong thời gian tới, ngành Giáo dục – đào tạo sẽ sớm có biện pháp khắc phục những yếu kém, bất cập hiện nay, bảo đảm thực hiện nghiêm túc tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, để giáo dục thật sự là “quốc sách hàng đầu”, phục vụ đắc lực công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Hồ Xuân Ánh
(Báo Bình Định)

sites.google.com

Xây dựng đội ngũ “công bộc của dân” theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Năm 1871, khi viết Dự thảo lần thứ nhất của “Nội chiến Pháp”, C.Mác lần đầu tiên đề cập đến tư tưởng cán bộ là đầy tớ của nhân dân: “Công xã[1] loại bỏ hoàn toàn hệ thống đẳng cấp chính trị và thay thế những ông chủ ngạo mạn của nhân dân bằng những đầy tớ luôn luôn có thể bị bãi miễn; thay thế một trách nhiệm tưởng tượng bằng một trách nhiệm thật sự, vì những người được uỷ nhiệm này luôn luôn hành động dưới sự kiểm soát của nhân dân”[2]. Tuy nhiên, C.Mác chưa có điều kiện thực hành tư tưởng này, chỉ đến khi lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam, Hồ Chí Minh và Đảng ta mới thực sự huấn luyện, giáo dục cán bộ và xây dựng được đội ngũ cán bộ cách mạng xứng đáng là công bộc của nhân dân.

Để có những công bộc của dân thực thụ, Hồ Chí Minh bắt đầu bằng việc xây dựng tiêu chuẩn đức và tài cho đội ngũ cán bộ của Đảng, trong đó Người xem đức là gốc, là cái căn bản của người cán bộ cách mạng, “không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[3]. Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là trung với nước, hiếu với dân, sống nhân ái, có nghĩa, có tình, là thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, là ý thức trách nhiệm trong công việc, tự phê bình và phê bình cao và có tinh thần quốc tế chân chính. Khi đức là gốc, người cán bộ cần có tài, bởi không có tài làm việc gì cũng khó. Tài thể hiện ở trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, phong cách làm việc khoa học, đúng kỷ luật, không quan liêu, có óc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Không chỉ đề ra tiêu chuẩn và yêu cầu cán bộ rèn luyện theo tiêu chuẩn đó, Hồ Chí Minh còn đề cao trách nhiệm của Đảng đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ đạt chuẩn để đảm đương nhiệm vụ công bộc của dân. Người chỉ rõ trong công tác cán bộ, Đảng phải lưu ý 5 việc: “Hiểu biết cán bộ, khéo dùng cán bộ, cất nhắc cán bộ, thương yêu cán bộ, phê bình cán bộ”[4].

Để hiểu cán bộ phải đánh giá đúng cán bộ. Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội, nên đánh giá cán bộ phải “căn cứ theo phẩm chất xã hội của họ, chứ không phải căn cứ theo phẩm chất tư nhân”[5], đồng thời phải đánh giá đúng thực chất. Muốn đánh giá đúng, theo Hồ Chí Minh, không được đối xử theo sự yêu ghét, đem khuôn chật hẹp lắp vào cho tất cả mọi người; nhận xét cán bộ không chỉ xét mặt ngoài, xét một lúc, một việc, mà phải xét kỹ toàn bộ công việc. Đánh giá đúng là cơ sở cho tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ… được chính xác.

Phải biết lựa chọn, bố trí, đề bạt cán bộ đúng. Hồ Chí Minh lưu ý việc tìm nguồn cán bộ là trách nhiệm của lãnh đạo. Phải lăn lộn với phong trào để lựa chọn cán bộ, chú ý tìm nguồn trong trường học, đội ngũ đảng viên. Chú ý nguồn cán bộ xuất thân từ công nhân, nông dân, đồng thời không được quên trí thức là nhân tài của đất nước. Chính Hồ Chí Minh đã trực tiếp mời những nhân sĩ trí thức ra giữ những chức vụ trọng yếu trong Chính phủ sau Cách mạng Tháng Tám như cụ Huỳnh Thúc Kháng (Bộ trưởng Nội vụ), cụ Nguyễn Sơn Hà (Bộ trưởng Kinh tế)… Người còn kêu gọi được những trí thức Việt kiều về tham gia kháng chiến như Đặng Văn Ngữ, Trần Đại Nghĩa, Trần Đức Thảo… Đó là những người luôn trung thành, hăng hái, gắn bó với dân, có khả năng giải quyết vấn đề trong khó khăn, “khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo” và luôn giữ đúng kỷ luật[6].

Việc bố trí, đề bạt cán bộ phải hết sức cân nhắc. Hồ Chí Minh lưu ý việc “khéo” dùng cán bộ. Theo Người “dụng nhân như dụng mộc”, gỗ nhỏ gỗ to, gỗ thẳng gỗ cong, người thợ khéo đều có thể sử dụng được. Dùng đúng là khiến cán bộ có gan nói, đề ra ý kiến, có gan phụ trách. Đề bạt, cất nhắc cán bộ vì công việc, dựa trên tài năng và để cổ động cho người khác thêm hăng hái, tránh “đem người bô lô ba la, chỉ nói mà không biết làm, vào những địa vị lãnh đạo”. Người đưa ra một bài học: “Cất nhắc cán bộ không nên làm như “giã gạo”. Nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ. Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ. Khi họ sai lầm thì đẩy xuống, chờ lúc họ làm khá, lại cất nhắc lên. Một cán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời. Đối với cán bộ, chẳng những phải xem xét rõ ràng trước khi cất nhắc. Mà sau khi cất nhắc phải giúp đỡ họ, khuyên gắng họ, vun trồng lòng tự tin, tự trọng của họ”[7].

Để có cán bộ đáp ứng nhiệm vụ, phải tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng. Hồ Chí Minh yêu cầu: “Đảng phải dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”[8], huấn luyện cán bộ “là công việc gốc của Đảng”[9]. Người chỉ ra 4 nội dung cần huấn luyện là: huấn luyện nghề nghiệp, theo phương châm làm việc gì học việc nấy; huấn luyện chính trị, đặc biệt cho cán bộ tuyên truyền và tổ chức; huấn luyện văn hoá, nhất là đối với cán bộ còn kém về văn hoá; huấn luyện lý luận, tập trung cho cán bộ trung, cao cấp. “Những người lãnh đạo cần phải tham gia việc dạy. Không nên bủn xỉn về các khoản chi tiêu trong việc huấn luyện”[10].

Muốn dùng cán bộ lâu bền phải biết yêu thương, đoàn kết cán bộ. Hồ Chí Minh chỉ rõ yêu thương cán bộ không phải là vỗ về, nuông chiều mà giúp đỡ họ tiến bộ, giúp giải quyết việc gia đình, luôn chú ý đến công tác, vun trồng ưu điểm để họ thêm hăng hái, gắng sức mà phục vụ nhân dân. Yêu quý cán bộ phải chăm nom đến vấn đề đoàn kết trong cán bộ, “phải đoàn kết cán bộ trong Đảng và cán bộ ngoài Đảng”, “giữ gìn sự đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới, giữa cán bộ xuất thân từ công nông và cán bộ xuất thân từ trí thức, tiểu tư sản, giữa cán bộ người kinh và cán bộ các dân tộc ít người, giữa cán bộ người ở địa phương và cán bộ ở địa phương khác đến”[11].

Để bảo vệ cán bộ phải phê bình cán bộ cho đúng, xử phạt cho nghiêm. Muốn phê bình đúng, trước hết dùng thái độ thân thiết, triệt để, thật thà, không mỉa mai, đâm thọc; giải thích rõ ràng để người mắc khuyết điểm tự tìm ra nguyên nhân, thấy được hậu quả và cách sửa chữa; phê bình việc chứ không phê bình người; quán triệt mục đích phê bình là “cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”[12]. Đồng thời với phê bình cán bộ còn phải xử phạt cán bộ vi phạm kỷ luật cho nghiêm để không mở đường cho kẻ phá hoại. Hồ Chủ tịch đã từng tận tay ký bản án tử hình đối với trường hợp cán bộ cao cấp của Đảng tham ô, hủ hoá, gây tổn hại nghiêm trọng cho uy tín của Đảng. Người khẳng định phê bình đúng, kỷ luật nghiêm không làm giảm thể diện, uy tín của cán bộ, của Đảng, mà còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, uy tín và thể diện càng tăng thêm.

Cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng lãnh đạo giành được thắng lợi có đóng góp của đường lối cán bộ đúng đắn được hình thành từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những tư tưởng ấy ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. Nếu mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, biến nó thành phương châm hành động, thành mục tiêu phấn đấu, thành phong cách lãnh đạo trên thực tế thì nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng – những công bộc thực thụ của nhân dân – sẽ đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới.

[1] Tức Công xã Pari
[2] C.Mác-Ph.Ăngghen (1980), Tuyển tập, T1, Nxb ST,H, tr.35.
[3] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.252-253
[4] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.277
[5] C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, T1, Nxb CTQG, 1995, tr 337
[6] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.275.
[7] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.282.
[8] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.273
[9] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.269.
[10] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.273.
[11] Văn kiện Đảng, T21, Nxb CTQG, H, 2002, tr.763
[12] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.232

Ths. Trương Thị Bạch Yến
Khoa Xây dựng Đảng – Học viện Chính trị-Hành chính khu vực III

xaydungdang.org.vn

Một số bút danh, biệt hiệu của Bác Hồ

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ của chúng ta đã sử dụng hơn 100 tên, biệt hiệu, bút danh. Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Bác Hồ ra đi tìm đường cô nước (1911-2006), xin giới thiệu 70 tên gọi, bút danh, bí danh, biệt hiệu Người đã sử dụng trước cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Thời thơ ấu của Bác, ở làng Sen, bà con thường gọi cậu bé Nguyễn Sinh Cung là Cậu Công. Trước khi lên tàu ra đi tìm đường cứu nước, trong phong trào đấu tranh chống sưu cao thuế nặng ở Huế, nổi lên người thanh niên học sinh yêu nước Nguyễn Tất Thành, sau này là thày giáo Nguyễn Tất Thành ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết). Khi làm đầu bếp trên tàu Latouche Tréville, Nguyễn Tất Thành lấy tên là anh Ba hoặc Văn Ba. Trong lá thư gửi từ Niu-oóc về cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ tìm địa chỉ của cụ Nguyễn Sinh Huy, Bác ký tên là Paul Tất Thành. Từ năm 1919, bắt đầu xuất hiện tên Nguyễn Ái Quốc ký dưới Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi đến Hội nghị quốc tế vì hoà bình họp ở Versailles và nhiều thư từ, kiến nghị, bài báo khác. Là một trong những người sáng lập Tờ báo Le Pa-ria của Hội Liên hiệp thuộc địa, chỉ trong năm 1922, Nguyễn Ái Quốc đã viết gần 20 bài phơi bày dã tâm và tội ác của chủ nghĩa thực dân. Đồng thời Nguyễn Ái Quốc cũng viết hàng loạt bài đăng trên báo L’Humanité của Đảng Xã hội Pháp, các báo La Viie Ouvrière, Le Journal du Peuple, Le Libertaire và các tập san La Revue Communiste, Inprekorr dưới các bút danh: Nguyễn A. Q, Ký Viễn, N. A. Q. Tiếp đó, trong những năm 1923-1924, Nguyễn Ái Quốc còn sử dụng thêm một số bút danh và tên gọi khác dưới các bài viết và trong hoạt động cách mạng: Chú Nguyễn, N, S Chon Vang, Cheng Vang, Trần Vương, Ai Qua Que, Nguyễn Hải Khách, Lý Thụy.

Thời gian từ năm 1925 đến năm 1930, hoạt động trên cương vị là Uỷ viên Ban Phương Đông, phụ trách Văn Phòng Phương Nam của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đảm nhận việc truyền bá chủ nghĩa cộng sản vào châu Á nói chung và Đông Dương nói riêng, theo dõi và chỉ đạo phong trào cách mạng ở một số nước, chuẩn bị mọi điều kiện cho việc thành lập chính đảng của giai cấp vô sản ở trong nước. Nhiều bút danh đã được Người sử dụng trong thời kỳ này là: N. A. K ký dưới Lời kêu gọi gửi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên và tất cả đồng bào bị áp bức, Ông Lý dưới Thư gửi đại diện Tổng Liên đoàn Lao động thống nhất Pháp ở Quốc tế Công hội, L. M. Wang dưới Thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Đức ở Quốc tế Cộng sản, Vichto Lơbông dưới Thư gửi đại diện Đảng Cộng sản Pháp ở Quốc tế Cộng sản, Paul dưới Thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Mỹ… Ngoài ra, Người còn dùng nhiều tên, bí danh khác như Nilốpski, Ho Wang, Trương Nhược Tường, Vương Sơn Nhi, Vương Đạt Nhân, Lonis-Berlin, Loa Roi Ta, Thọ biệt hiệu là Nam Sơn.

Tiếp đó là thời gian Bác Hồ của chúng ta từ Trung Quốc qua Thái Lan rồi từ Thái Lan trở lại Trung Quốc để chuẩn bị về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Để đảm bảo bí mật, Nguyễn Ái Quốc nhiều lần cải trang khi là lính hầu, lúc 1à thày địa ký, có khi lại là thầy lang bôn ba đây đó chữa bệnh cứu người. Tên tuổi, bút danh của Người cũng nhiều lần được thay đổi. Những khi tiếp xúc với kiều bào, Người là Chín, Thầu Chín, Chính, Nguyễn Lai, Lý Tín Tống, Trần, Lê, Pan, Ông Lý Hồng Công, Tiết Nguyệt Lâm. Dưới các bài báo Nguyễn Ái Quốc ký nhiều tên khác nhau: Howang T.S, Wang, A.P, N.K, N. Ái Quốc, Nguyễn, H, T, Loa Shing Lan, Victo, Vector Lebm, K.K.V, Line, LW Vương, T.V.Wang, Có khi Người chỉ ký một chữ V dưới bài “Nghệ tĩnh đỏ” viết bằng tiếng Anh; lấy bút danh Quac, E.Wan dưới các bài vạch mặt đế quốc Pháp; ký một chữ K Thư gửi Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Trong bản khai trích ngang dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản(1935), Người ghi “bí danh trong Đảng là Jeng Man Huân”, bí danh dùng trong Đại hội là Lan. Sau này, khi từ Tây An về Quảng Tây (Trung Quốc) hoạt động, Người đã đóng giả lính hầu cho một viên quan Trung Hoa (là người của Đảng Cộng sản Trung Quốc chọn cử), lúc lại là thiếu tá Hồ Quang bên cạnh tướng Diệp Kiếm Anh qua lại Văn phòng Bát lộ quân. Thời gian này Bác Hồ có biệt hiệu là ông Trần, là đồng chí Vương khi gặp gỡ các đại biểu từ Việt Nam sang. Bài viết đăng trên các báo được ký dưới nhiều bút danh mới như P.C.Line, Bình Sơn.

Từ tháng 1-1941, Bác về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Trong thời gian đầu, Bác lấy bí danh là Già Thu và chọn hang Pắc Bó (Cao Bằng) làm cơ sở hoạt động cách mạng bí mật. Những tháng ngày gian khổ ở căn cứ địa Việt Bắc, Bác có bí danh là Thu Sơn, Ông Ké. Trong những ngày Tháng Tám 1945 sục sôi khí thế cách mạng, Bác ký tên Hồ dưới thư viết bằng tiếng Anh gửi Trung uý Charles Fenn, người trực tiếp điều khiển nhóm tình báo Đồng minh hoạt động trên đất Việt Nam khi đó; Ký tên C.M Hồ dưới thư gửi ông Ph. Tan, là người Mỹ gốc Hoa sẽ cùng về Việt Nam với Hồ Chí Minh để thực thi nhiệm vụ do nhóm công tác của Charles Fenn giao cho.

Đó là những biệt hiệu, bút danh gắn với cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi của Bác Hồ trong giai đoạn từ khi rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước mùa hè năm 1911 đến Cách mạng Tháng Tám 1945, căn cứ theo Biên niên tiểu sử và Toàn tập tác phẩm của Người.

quangbinh.gov.vn

Bác Hồ với phóng viên

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong các bậc danh nhân kim cổ của nhân loại. Vị anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa được các sử gia Đông Tây thừa nhận là một trong số nhân vật kiệt xuất làm nên thế kỷ XX. Hội tụ ở Bác Hồ tinh anh dân tộc Việt Nam và tinh hoa nhân loại. Bất kỳ ai, ở phương trời nào đều có thể qua tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tìm được nhiều điều để học tập. Các nhà báo Việt Nam mong có dịp tiếp cận Người, hơn thế được phục vụ Người trong các chuyến đi công tác. Qua mỗi lần đi, thế nào cũng thu nhận được nhiều điều. Từ cách hành xử thường ngày đến từng câu nói tưởng ngẫu nhiên của Bác hầu như đều hàm chứa ý nghĩa nhân văn, do đó có sức truyền cảm.

Xin được kể lại dưới đây đôi điều mắt thấy tai nghe.

Có gì mà viết lắm thế?

Vụ lúa chiêm 1958, miền Bắc hạn to, ruộng đồng khô nẻ. Nhân dân khẩn trương làm thủy lợi, đào mương dẫn nước vào đồng. Bác Hồ về thăm tỉnh Hưng Yên. Hôm ấy, một ngày tháng giêng, trời rét đậm. Bác Hồ rời Hà Nội thật sớm. Đến huyện Tiên Lữ, có mấy vị lãnh đạo tỉnh chờ sẵn ven đường. Bác xuống xe bắt tay, hỏi han mọi người, rồi băng băng đi bộ vào cánh đồng.

Nông dân năm xã đang đào một con sông. Bác Hồ bước rất nhanh giữa cánh đồng khô, đến mỗi nơi có đồng bào làm là Bác dừng lại, thăm hỏi động viên. Bà con hoan hô Bác. Bác xua tay: “Đừng hoan hô Hồ Chủ tịch, hãy hoan hô nước khi nào nước về”. Hễ gặp các vị cao niên là Bác tiến đến thăm hỏi. Có một cụ tên là Đoàn Đình Kiêu, năm ấy 82 tuổi, người thôn Hoàng Xá, xã Trung Dũng cũng tham gia làm thủy lợi. Bác nắm chặt tay cụ, nói: “Tôi cảm ơn cụ đã làm gương cho con cháu”. Rồi Bác quay lại bảo cán bộ địa phương đi theo: “Các cụ cùng chống hạn để làm gương cho con cháu như thế là rất tốt, nhưng phải chú ý sức khỏe các cụ, chớ để các cụ làm quá sức”.

Gặp ông chủ tịch huyện quần áo tinh tươm đang đứng chờ để chào Bác. Bác bảo chủ tịch đưa tay xem. Rồi nói nhỏ: “Tay chú sạch quá. Thi thoảng cán bộ cũng phải cùng lao động với bà con, để cho bà con thấy mình là người của nhân dân”.

Đến xã cuối cùng, Bác Hồ dừng lại, rút trong túi ra một phong bì nhỏ: “Đây là phần thưởng của Bác. Tất cả có bảy chiếc huy hiệu. Năm chiếc tặng bà con năm xã, một chiếc thưởng xã nào thi đua giỏi nhất, còn một chiếc Bác tặng riêng cụ Kiêu”.


Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

Do mỗi xã phụ trách một khúc sông, cho nên bà con tản mác. Bác Hồ đi bộ đến mấy cây số liền. Tôi tất tưởi theo, lắng nghe Bác nói chuyện với ai xong, lại tới hỏi rõ họ tên, người thôn nào xã nào…, để khi viết bài khỏi lẫn lộn, rồi vội vã chạy cho kịp đoàn. Hồi ấy tôi đang sức trai mà mệt phờ, nhưng vui vì nghe và ghi được nhiều điều, thú vị nhất là chuyện Chủ tịch nước đi bộ qua cánh đồng gồ ghề nứt nẻ. Con sông đang đào nới bác về thăm năm ấy sau khi hoàn thành được đồng bào gọi là sông Bác Hồ, nay vẫn giữ nguyên tên ấy.

Tối về Hà Nội, tôi viết bài tường thuật dài đăng báo Nhân dân. Hôm sau, khoảng chín giờ, có điện thoại từ Văn phòng Chủ tịch nước, mời tôi lên ngay. Anh Trần Quý Kiên chờ sẵn. Anh là cán bộ cách mạng lão thành, có thời gian làm Thứ trưởng Thủy lợi. Anh chỉ nói vắn tắt: Bác Hồ cho gọi. Anh vào báo cáo với Bác, rồi dẫn tôi vào.

Bác đang làm việc, ngước mắt hỏi : “Chú Quang à ? Bác đã đọc bài của chú trên báo. Viết thế là được. Nhưng Bác hỏi chú, trong bài mấy lần chú nhắc đi nhắc lại chuyện Hồ Chủ tịch đi bộ giữa cánh đồng. Vậy ra từ trước tới nay, Bác Hồ toàn đi xe, chưa từng lội bộ bao giờ à? Bác Hồ đi bộ, thì có cái gì mà viết lắm thế?”. Tôi bối rối, chỉ còn biết chắp tay lúng búng: “Cháu xin cảm ơn Bác. Cháu đã thấy khuyết điểm. Cháu xin rút kinh nghiệm lần sau.”

Viết cho đúng, cho hay, có nhiều người đọc

Như một sự tình cờ, Tết Bính Thân tôi có vinh dự một mình đón Bác đến báo Nhân dân, đúng vào sáng mồng Một, nhằm ngày (12/01/1956), tôi được phân công trực tòa soạn. Số báo Xuân đã phát hành từ trong năm, báo nghỉ hai ngày để “ăn Tết”. Trực chẳng phải làm việc gì; chẳng qua cần có người, nhỡ có bạn đọc, cộng tác viên nào bất thần tạt vào thăm chăng.

Sáng đầu năm, đúng như dự kiến, có mấy cụ già phố Hàng Trống thay mặt tổ dân phố đến chúc Tết tòa soạn. Tôi đang tiếp mấy cụ ở phòng khách tầng trệt ngôi biệt thự thì người bảo vệ chạy vào, nói không ra hơi: “Bác Hồ! Bác Hồ đến!

Tôi vội chạy ra sân, nhìn về cổng chính không thấy ai. Thì ra, Bác Hồ đi từ Câu lạc bộ Thống Nhất sang, qua một cổng nhỏ vốn thông từ cơ quan báo sang sân chiếu phim của câu lạc bộ. Bác thoăn thoắt bước vào nhà. Theo sau có bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, cùng vài người cận vệ.

Tôi chắp tay rước Bác vào phòng khách. “Chú Tùng đâu?”, Bác hỏi. – “Thưa Bác, anh Hoàng Tùng lên Văn phòng chúc Tết Trung ương. Cháu là cán bộ được phân công trực cơ quan”.

Mấy cụ già lối phố sửng sốt trước vinh dự được gặp Bác Hồ đúng vào sáng tân niên, đứng dậy kính cẩn chắp tay, lúng túng không biết nên làm gì. Tôi giới thiệu với Bác, đây là mấy cụ ở cùng phố sang thăm cơ quan. Bác Hồ vui vẻ nói: “Năm mới, nhân được gặp các cụ, tôi chúc các cụ vạn sự như ý. Nhờ các cụ chuyển lời Hồ Chủ tịch chúc Tết gia đình và đồng bào khu phố”. Mấy ông già vẫn chưa hết ngỡ ngàng, bác sĩ Trần Duy Hưng rỉ tai: “Kìa, các cụ chúc Tết Bác đi”.


Buổi làm việc của Bác Hồ với báo Sự thật ở Việt Bắc

Hôm ấy, Bác Hồ đến thăm cán bộ miền Nam đang tập trung tại Câu lạc bộ mừng năm mới. Không rõ có ai báo tin Bác đến, hay vì trông thấy mấy chiếc xe hơi đỗ ở cổng chính Câu lạc bộ phía đường Lê Thái Tổ, mà chẳng mấy chốc đồng bào tập trung đông nghịt, chờ để được nhìn và hoan hô Bác. Càng lâu càng đông. Hôm ấy Bác Hồ còn có kế hoạch thăm một đơn vị quân đội và mấy nơi khác nữa ở mãi tỉnh Hà Đông. Chắc sợ trễ giờ, bởi đã gặp nhân dân đầu năm mới, thế nào Chủ tịch cũng cho dừng xe lại để thăm hỏi, các đồng chí tổ chức chuyến thăm liền mời Bác theo ngõ tắt, lối thông sang tòa soạn báo; từ đây ra cổng chính phía phố Hàng Trống.

Trong phòng khách, Bác Hồ vẫn đứng mà nói chuyện. Tôi mời Bác ngồi. Bác xua tay: “Chú để mặc Bác. Chú làm gì ở Tòa soạn?”. – “Thưa Bác, cháu làm phóng viên”. Bác nói: “Chú là nhà báo. Vậy năm mới, Bác chúc chú viết báo cho đúng, cho hay, có nhiều người đọc. Chú nói lại với chú Hoàng Tùng và toàn thể các cô, các chú trong cơ quan là Bác Hồ có lời chúc Tết anh chị em”.

Nói xong, Bác bắt tay mọi người, không quên mấy anh bảo vệ cơ quan vừa bỏ luôn nhiệm sở, chạy đến đứng thập thò ngoài cửa. Xong, Bác thoăn thoắt ra sân. Hai chiếc xe hơi vừa đến. Bác Hồ quay lại tươi cười đưa tay vẫy chào mọi người.

Mấy năm sau, tháng 4/1959 tôi lại được nghe Bác Hồ nói chuyện tại Đại hội lần thứ hai Hội Nhà báo Việt Nam. Nhân kể chuyện thời Bác tập làm báo tiếng Nga ở Liên Xô, Bác dẫn lời người hướng dẫn Bác: “Chớ viết khô khan quá. Phải viết cho văn chương. Vì ngày trước khác, người đọc báo chí chỉ muốn biết sự thật. Còn bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc”.

Sao cho giàu nghèo ai cũng có Tết

Đêm cuối năm Bính Thân (1956), tôi được theo Bác đi thăm và chúc Tết đồng bào Hà Nội. Sau khi thăm khu tập thể công nhân nhà máy điện tại bãi Phúc Xá, xe đưa Bác về phố Lò Đúc. Tôi ngồi trên xe, căng mắt nhìn biển đề tên phố ở những ngã tư thiếu ánh sáng để định hướng mình sắp tới đâu. Bác ghé thăm nhà bà Khánh, người Thừa Thiên tập kết ra Bắc, có năm người con đi bộ đội, có người đang ở lại vùng do chế độ Sài Gòn kiểm soát. Bà thuộc diện “chính sách” nên tết nhất cũng tinh tươm. Nhà có hoa đào, hoa cúc. Chiếc bàn phủ tấm khăn mới toanh. Bác Hồ khen: “Nhà bà sang lắm!”. Tôi tò mò nhìn chồng sách đặt trên cái bàn nhỏ bên cạnh, nay còn nhớ rõ đấy là tập truyện phim Liên Xô, văn hóa phẩm thời thượng lúc bấy giờ; người Hà Nội không chỉ nô nức xem phim mà còn tranh nhau mua những tập kể tóm tắt nội dung của tác phẩm ăn khách…

Ra khỏi phòng, Bác Hồ thấy gian nhà bên cạnh tù mù, một bà đứng ngấp nghé ở cửa nhìn sang. Bác bước đến chào hỏi, chúc mừng rồi vào luôn trong căn nhà chật chội, bày trí sơ sài, chỉ treo có một bóng đèn vàng ệch. Đấy là bà Thơm, góa chồng, tần tảo nuôi mấy con dại. Hàng ngày bà kê cái chõng bán nước chè chén ở vỉa hè. Lên xe, Bác nói với Bác sĩ Trần Duy Hưng: “Các chú phải làm sao cho bất cứ nhà nào, giàu cũng như nghèo, cán bộ hay nhân dân, ai cũng có một chút Tết”. Về sau tôi được biết thêm, sau chuyến đi ấy, Bác có nêu lại ý kiến trên tại một cuộc họp Bộ chính trị, nhờ vậy từ đó hình thành chính sách chăm lo cái tết cho mọi gia đình. Từ đấy mới có lệ, ngày Tết mỗi hộ được phân phối thêm gói chè Thanh Hương hoặc Hồng Đào, mấy bao thuốc lá Điện Biên hoặc Tam Đảo, một hai lạng đường, mấy lạng thịt lợn…, tùy theo cấp bậc, chức vụ hoặc số nhân khẩu trong gia đình.

Bác Hồ đã bước một chân lên xe, còn quay lại đưa tay vẫy: “Xin chúc tất cả mọi người!”. Bà Khánh tiễn Bác, ròng ròng nước mắt, miệng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Bác Hồ quay lại, chào bà lần nữa và cười: “Chúc Bác Hồ sống lâu, sao bà lại khóc?”.

Chuyện về Bác Hồ còn dài dài, xin tạm ngừng ở đây, kỳ sau có dịp xin hầu chuyện tiếp.

honvietquochoc.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với nông nghiệp- nông dân – nông thôn

Từ thủa lọt lòng vào mùa hè năm Dần (1890) ở vùng quê Xứ Nghệ, cậu bé Nguyễn Sinh Cung đã sống trong cảnh làng quê với cây đa, giếng nước, luỹ tre xanh… 5 tuổi, bé Cung theo cha mẹ vào Huế, khi cả nhà nghỉ chân trên đỉnh Đèo Ngang, Cung nhìn ra biển thấy những thuyền buồm chạy theo chiều gió, Cung cho đó là những con bò đi trên ao lớn…(1).

Theo cha vào Huế lần thứ 2, đầu thời vua Duy Tân, Nguyễn Tất Thành học ở Quốc học Huế. Khi này tại Kinh đô thường xảy ra nhiều cuộc biểu tình của nông dân tỉnh Thừa Thiên chống sưu, chống thuế, Nguyễn Tất Thành và bạn đồng môn đã làm thông ngôn(2) giúp bà con nói rõ yêu sách với bọn thống trị, bị cảnh sát săn lùng, Nguyễn Tất Thành phải vào học tiếp chương trình tiểu học Pháp – Việt ở Quy Nhơn. Nghe lời cha, Nguyễn Tất Thành đi dần vào phương nam, tháng 6-1911 đã xuất dương tìm đường cứu nước.

Bốn tháng sau khi từ Pháp sang Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc đã tham dự Đại hội lần thứ I Quốc tế Nông dân (giữa tháng l0-1923), đã đọc bài tham luận nói lên tình cảnh nông dân Đông Dương đang bị thực dân Pháp bóc lột. Người nói:

“Quốc tế của các đồng chí chỉ trở thành một Quốc tế khi không những nông dân ở Phương Tây, mà cả nông dân ở Phương Đông, nhất là nông dân ở các nước thuộc địa là những người bị áp bức và bóc lột nhiều hơn các đồng chí đều tham gia Quốc tế của các đồng chí. Nếu đem so sánh người nông dân Nga với người nông dân Việt Nam, người ta có ấn tượng rằng: Khi nông dân Nga đang ngồi thoải mái trên chiếc ghế bành, thì trong lúc đó, người nông dân Việt Nam đang bị treo ngược đầu xuống đất (?!)”(3).

Người đã dịch “Tuyên ngôn của Hội nghị Quốc tế Nông dân” (tháng 4-1924) ra tiếng Việt để gửi về nước.

Trong bài “Tổ chức dân cày” ở cuốn “Đường cách mệnh” Nguyễn Ái Quốc viết: “Vì sao phải tổ chức dân cày?… Tây đồn điền choán ruộng thế nào?… Chính phủ Pháp đãi dân cày An Nam thế nào?… Muốn thoát khỏi vòng vây cay đắng ấy thì phải tổ chức nhau để kiếm đường giải phóng… Có ích cho dân cày, có lợi cho nòi giống”(4).

Sau khi trở về Tổ quốc năm 1941, Bác viết bài thơ lục bát “Dân cày” đăng trên báo Cứu quốc (1-8-1941), lời thơ thống thiết, kêu gọi “Dân cày phải kiếm Việt Minh mà vào… Mai sau thực hiện chương trình: Việt Nam nông dã tất canh kỳ điền” (nghĩa là theo chương trình Việt Minh, nông dân ai cũng có ruộng cày)(5).

Ngày 3-9-1945 tại cuộc họp đầu tiên của Chính phủ, Hồ Chủ tịch đã đề nghị phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất để diệt giặc đói do phát xít Nhật, thực dân Pháp gây nên.

Năm 1949, cuộc kháng chiến chống giặc Pháp đã chuyển sang giai đoạn mới, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh giảm tô 25% để bồi dưỡng sức của nông dân tá điền. Cũng năm đó, trong bài “Dân vận”, Người viết: “Cán bộ canh nông thì hợp tác mật thiết với cán bộ địa phương, đi sát với dân (số đông là nông dân – VAP) thiết thực bày vẽ cho dân cách trồng trọt, chăn nuôi, cách chọn giống, ủ phân, làm cỏ”(6)… để phát triển sản xuất nông nghiệp. Đã có 2 lão nông chi điền được Đảng, Chính phủ và Bác Hồ phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động tại Đại hội “Liên hoan chiến sĩ thi đua, cán bộ gương mẫu toàn quốc” giữa năm 1952 tại chiến khu Việt Bắc. Từ năm 1953 đến 1956 cuộc phát động giảm tô và cải cách ruộng đất được tiến hành từ Liên khu 4 trở ra, khẩu hiệu “Người cày có ruộng” đã trở thành hiện thực.

Không chỉ trong những năm kháng chiến chống giặc Pháp Người mới tổ chức tăng gia sản xuất, có đất ta trồng, có bãi ta chơi, thuận đường sang Bộ Tổng, tiện lối tới Trung ương mà khi về Thủ đô, bên cạnh nhà sàn, Bác cho làm một ao cá lớn, Người nuôi rất nhiều cá, đã có thời gian các địa phương đến đây nhận cá giống về nuôi trong các ao cá Bác Hồ.

Sinh thời, ngay cả khi tuổi đã cao, Hồ Chủ tịch thường xuống nông thôn, gặp gỡ bà con trên đồng ruộng, động viên bà con tích cực tăng gia, chăn nuôi. Bác đã tát nước gầu sòng, đạp guồng đưa nước vào ruộng, hoàn toàn không có sự cách biệt giữa Chủ tịch nước với bà con nông dân địa phương.
Trong những năm chống Mỹ ác liệt, Người đã viết thư khen nhiều xã viên, hợp tác xã nông nghiệp làm ăn giỏi. Người rất quan tâm đến thời vụ sản xuất. Báo Nhân Dân ngày 15-1-1967 đã đăng bài của T.L (Bác Hồ). “Phải cấy chiêm xong trước tết”. Người thưởng huy hiệu cho những nông dân xuất sắc, đồng thời Người cũng phê bình trên báo một số bộ, ngành, một số xã, HTX làm ăn kém cỏi, đùn đẩy trách nhiệm, gây nên hệ quả là “dân cần quan không vội”!

Tại Hội nghị cán bộ nghiên cứu Nghị quyết Trung ương 12 (khoá 3) ngày 16-1-1966, Người nói: “Bác lên thăm nhà máy chè Phú Thọ, các đồng chí chuyên gia nói rất sẵn sàng dạy cho ta 20 cán bộ để làm thí điểm cách trồng chè cho tốt, nhà máy chè nghe như thế rất mừng. Nhà máy gửi báo cáo lên Bộ Nông Lâm. Ông Bộ Nông Lâm nói việc dạy học phải hỏi Bộ Giáo dục, chúng tôi không giải quyết. Lên Bộ Giáo dục, thì Bộ Giáo dục nói đây là việc trồng chè, chúng tôi không giải quyết được. Gần 2 năm không giải quyết. Khi Bác lên thăm tình cờ các chuyên gia nói lại. Khi về Bác gặp ông nông lâm, Bác nói nhất định phải cho 20 cán bộ học cái này; ông nông lâm giải quyết. Thế là học được”(7).

Cuối năm 1959 Bác viết bài “Tết trồng cây” kêu gọi toàn dân hưởng ứng. 10 năm sau trên báo Nhân Dân, 5-2-1969 lại đăng bài “Tết trồng cây” của T.L (Bác Hồ). Người biểu dương thành tích 10 năm nhân dân ta từ miền núi đến đồng bằng, ven biển đã trồng được hàng vạn hecta cây các loại; xã Đô Lương (Lạng Sơn) trong 5 năm (1964-1969) đã trồng được 270 ha rừng, đã bán cho Nhà nước và thị trường 2.000 m3 gỗ và củi. Nhờ có trồng cây, nên thuỷ lợi cũng tiến bộ, hơn 100ha ruộng trước kia bỏ hoá nay đã trở thành ruộng 5 tấn, hai năm 1967-1968 đóng góp nghĩa vụ lương thực được 271 tấn thóc, thu nhập của hợp tác xã năm 1965 được 16.250 đồng, năm 1967 đạt đến 50.240 đồng… Các địa phương phải học tập và thi đua với nơi có phong trào trồng cây khá. Bác còn nhắc chúng ta phải trồng cây cho cả đồng bào miền Nam nữa.

Câu nói: “Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây” của Bác Hồ đã trở thành mục tiêu, phương châm hành động của cả nước.

Ngày 15-5-1965, nhân dịp mừng 75 tuổi, Bác Hồ đã viết xong bản thảo Di chúc đầu tiên, trong đó có đoạn: “Nhân dân lao động ta (chủ yếu là nông dân – VAP chú thích) ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ… Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân…

Sau khi tôi qua đời… tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi… Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn… Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm… Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp”(8).

Tháng 5-1968, Bác lại viết tiếp vào dự thảo bản Di chúc:

“Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta… Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi đẩy mạnh sản xuất”(9).

Lời Di chúc sâu sắc, đầy ý nghĩa với tam nông, nhưng Người rất tôn trọng nguyên tắc, chỉ có ý đề nghị, còn phần quyết định thuộc về Trung ương Đảng và Chính phủ sau này.

Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng khoá 10 năm 2008 đã ra nghị quyết về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, trong đó xác định:

“Nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước…”.

Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, theo tinh thần của nghị quyết này, nông nghiệp Việt Nam sẽ phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, liên minh công nhân, nông dân, trí thức vững mạnh tạo nền tảng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vững mạnh.

_____________________

(1) Theo Búp Sen Xanh của nhà văn Sơn Tùng. (2) Hồ Chí Minh – Cuộc đời và sự nghiệp, NXB Nghệ An 2003, tr.16. (3) Việt Nam-Những sự kiện lịch sử 1919-1945 tr.60, NXB Giáo dục 2-2002. (4) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 2, tr.308-311. (5) Sđd, tập 3, tr.201. (6) Sđd, tập 5, tr.699. (7) Sđd, tập 12, tr.21. (8, 9) Sđd, tập 12, tr.498-504.
Vừ A Páo

xaydungdang.org.vn

Học tiếng Tây để đánh Tây

Nhớ lại những ngày đầu kháng chiến chống Pháp ở miền Bắc, do căm thù thực dân, dân quân tự vệ nhất là ở nơi làng mạc xa xôi, phá hủy bất cứ cái gì liên quan đến Tây tức là Pháp. Các tự vị LAROUSSE đều bị đốt. Vô phúc ai đi đường mang vác gì có màu xanh – trắng – đỏ, cờ Pháp! Có khi bị giam khi qua trạm kiểm soát.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã uốn nắn nhận định sai lầm đó, tuy rằng toàn dân – toàn quân ta kháng chiến chống thực dân Pháp nhưng vẫn coi nhân dân Pháp là bè bạn, vẫn tôn trọng văn hóa Pháp. Do đó, kháng chiến là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, không biến thành chiến tranh hận thù chủng tộc như Algeria. Từ đầu kháng chiến, đại đa số trí thức Tây học đã tham gia “đánh Tây”.

Từ lúc người An Nam buộc phải học tiếng Tây đến khi trí thức Tây đào tạo lại đánh Tây, cuộc hành trình đa dạng và đầy bi hài.

Sau khi chiếm được toàn bộ nước ta, để củng cố chính quyền, thực dân Pháp tạo ra một hệ thống giáo dục Francis – indigène (Pháp – bản xứ) để đào tạo nhân viên cao cấp của bộ máy cai trị và để xóa bớt ảnh hưởng của Trung Quốc ngự trị hàng nghìn năm. Thực hiện ý đồ này, năm 1904, toàn quyền Paul Beau ký nghị định thành lập Sở học chính. Triều đình Huế, theo lệnh Pháp, đã có dụ quyết định bỏ bài thi cử chữ Nho truyền thống vào năm 1919.

Trong hệ thống học đường, chữ Quốc ngữ ở mấy lớp dưới, lên trên là tiếng Tây (Pháp) thay cho chữ Nho. Vì vậy có lời than:

Thôi có ra gì cái chữ Nho,
Ông nghè ông cử cũng nằm co.

Thời buổi nhố nhăng, dù chỉ có nhà Nho biết vài chữ Tây còn làm cả thơ Đường pha lẫn Tây – Tàu – ta.

Ông tôi đỗ tú tài có lẽ vào khoa cuối, hoàn toàn Nho. Bố tôi cũng học chữ Nho trước khi quay sang học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp để làm kế toán cho sở máy điện Hà Nội. Tôi cũng học chữ Nho thầy đồ ở phố Hàng Quạt, Hà Nội rồi mới đi học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Vào những năm 20 thế kỉ XX, ảnh hưởng Nho học còn dai dẳng nên mới có sách Pháp tự diễn âm ca để học tiếng Pháp bằng thơ lục bát, theo kiểu Tam tự kinh học chữ Nho.

Chữ Nho như:

Thiên () trời địa () đất vân () mây

 () mưa phong () gió trú () ngày dạ () đêm

Tiếng Pháp thì:

Pe-rơ (perè) tiếng gọi là cha, me-re (merè) là mẹ, ông bà e-ơ (aïeux).

Trong Đại chiến thế giới thứ I, năm 1916, in đến 25.000 cuốn sách này cho lính thợ An Nam (ONS) đưa sang Pháp phục vụ các nhà máy quân khí.

Lăng nhăng học dăm ba chữ Tây đi làm bồi bếp, thông ngôn nửa mùa thì khối chuyện cười ra nước mắt.

Chuyện nịnh Tây mà cũng không xong. Có một anh bồi đi theo hầu một bà đầm vợ quan lớn. Buổi trưa hè, xe ô tô đỗ nghỉ ở bóng cây bên đường. Nóng như thiêu như đốt, anh ta lấy quạt quạt cho bà đầm và nói: “MADAME, VOUS ÊTES EN CHALEUR”. Liền bị một cái tát trời giáng. Vì CHALEUR là sức nóng, anh ta định nói: “Quý bà nóng quá”. Ai ngờ EN CHALEUR có nghĩa là động đực, thèm của ấy. Bà đầm tưởng anh bồi nói kháy.

Hà Nội những năm 30 đã “sính Tây” lắm. Các cửa hàng đều có biển tiếng Tây, bạn bè gọi nhau là tu (anh) với moi (tôi), nói tiếng Việt phải điểm vài chữ Tây thì mới thời thượng. Nam Xương viết hài kịch Ông Tây An Nam để giễu một anh đi học Tây về nói chuyện với bố bằng tiếng Pháp, phải có thông ngôn dịch. Chuyện này trên thực tế có thực. Trường Bưởi có ông giáo Sáu dạy toán bị học trò đặt biệt hiệu là “sáu lọ” (lọ là lố lăng), chỉ thích xì xồ tiếng Pháp. Khi đi làm đốc học, không nói tiếng Việt, đi đâu cũng có thông ngôn đi kèm. Phản ứng lại sự mất gốc ấy, học trò lập ra những nhóm chỉ nói tiếng Việt thuần túy, rất ghét cậu nào xì xồ theo giọng Pháp…


Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp ở Tua, tháng 12-1920.

Có một tầng lớp trí thức Tây học, có khi du học ở Pháp về, có ý thức dân tộc cao… Họ rất ghét, thậm chí căm thù thực dân Pháp nhưng biết phân biệt thực dân Pháp và văn hóa Pháp.

Trường hợp ông Phạm Duy Khiêm khá đặc biệt. Ông thuộc loại đại trí thức tốt nghiệp đại học Paris, cùng một khóa với tổng thống Pháp Georges Pompidou, tổng thống Senegal Léopold Sédar Senghor. Cứ là chịu ảnh hưởng của nhà xã hội học Pháp Lévy-Bruhl, ông cho tiếng Việt còn ở trình độ sơ khai (sauvage), tiền logic. Ông viết Tập truyện huyền thoại của các miền thanh bình (một số truyện cổ Việt Nam, Trung Quốc) là một tác phẩm tiếng Pháp hay và cộng tác viết về văn phạm Tiếng Việt.

Coi thường tiếng dân tộc thì không nên. Nhưng nếu sử dụng tiếng nước ngoài mà thuận lợi để nói lên tư duy tình cảm của mình và dân tộc mình là điều bình thường. Các cụ ta làm thơ văn chữ Hán khi chống Trung Quốc, thế hệ hiện đại dùng chữ Pháp chống Pháp cũng vậy. Có cả một nền văn học Việt Nam, bằng tiếng Pháp vẫn đang tiếp tục ở Pháp.

Nguyễn Ái Quốc viết tiếng Tây. Cuốn sách lên án thực dân Pháp, Hồ Chí Minh viết thơ chữ Hán những ngày trong tù. Kỹ sư cầu đường Đăng Phúc Thông, thứ trưởng Bộ Giao thông, năm 1947, kẹt ở Hà Nội khi Pháp chiếm đóng. Pháp cho hai nhân vật cao cấp đến thăm dò ý kiến, ông tiếp họ rồi viết báo cáo bằng tiếng Pháp gửi lên chiến khu Việt Bắc.

Trong kháng chiến chống Pháp, GS. Hồ Đắc Di, người Hoàng tộc, khi khánh thành trường Đại học Y ở Chiêm Hóa, đọc một bài diễn văn hùng hồn bằng tiếng Pháp, kêu gọi sinh viên hết lòng vì nước. Trong núi rừng chiến khu, bác sĩ Tôn Thất Tùng nhớ thủ đô Hà Nội làm một bài thơ tiếng Pháp đầy tình cảm ca ngợi anh bộ đội đi chân đất:

Khu rừng đầy ánh nắng, sau đêm giá lạnh
Nói với anh về giang sơn Việt Nam muốn sống
Anh cất tiếng ca và lòng rạo rực
Bay theo hai tiếng thần kì: Tổ quốc và Tự do

(1948)

Ghi chú

Hẳn nhiều độc giả, nhất là những người biết tiếng Pháp và ở Pháp, tìm đọc nguyên văn bài thơ tiếng Pháp của Tôn Thất Tùng. Chúng tôi xin in lại sau đây.

En se souvenant de Hà Nội

BS. Tôn Thất Tùng

Tu ne reverras plus le temps des accordailles,
Les amants enlacés sous les pruniers en fleurs
Les pruniers ne sont plus. Une aube de terreur
Se lève à l’horizon où gronde la mitraille.
Nous avons remisé dans leurs plus beaux cartons
Nos rêves quotidiens et nos joies coutumières,
Nous qui n’avons connu ni su ce qu’est la guerre,
Nous avons tout quitté en nous disant: Partons!
Frère, est-ce toi, héros pur de la délivrance
Qui passes en chantant, les pieds nus sans souliers?
L’azur de notre ciel couleur de liberté
Chante avec ta chanson l’honneur et l’espérance.
La brousse ensoleillée après les soirs glacés
Lui parle chaque fois du Việt Nam qui veut vivre
Il chante sa chanson et son âme s’enivre
Aux mots ensorceleurs: Patrie et Liberté.
O bonheur de bâtir sur une aube nouvelle
Le pays retrouvé à l’heure du destin!
Et voici notre offrande au Việt Nam de demain
Et voici notre sang pour une aube éternelle.
Alors nous reverrons ce tranquille bonheur
De vivre pauvrement dans nos calmes chaumières.
Le riz reverdira sur nes vertes rizières,
Les amants s’en iront sous les pruniers en fleurs.

Ngày 24/3/1948

Dịch thơ

Nhớ về Hà Nội

Em sẽ không còn thấy những ngày mừng cưới;
Bao cặp tình nhân ôm nhau dưới tán mai vàng.
Mai vàng không còn. Chỉ còn một bình minh ghê rợn,
Ló lên phía chân trời, nơi súng máy gầm vang.
Chúng ta cất trong những rương đẹp nhất
Bao ước mơ và niềm vui thường nhật
Chúng ta, những người chưa hiểu biết gì chiến trận,
Bỏ hết mọi thứ, cùng tự nhủ: “Lên đường!”
Bạn ơi, có phải anh, người anh hùng giải phóng
Vừa qua đây hát vang, không dép chân trần?
Bầu trời xanh của chúng ta màu Tự Do
Ca cùng bài ca của anh Quang Vinh và Hy Vọng
Cánh rừng tràn nắng sau những chiều lạnh cóng
Nói với anh mỗi khi, Việt Nam quyết sống
Anh ca bài ca của mình và tâm hồn bay bổng
Theo những từ say mê quyến rũ: Tổ Quốc, Tự Do.
Ôi! hạnh phúc được xây trong bình minh tươi mới
Đất nước hồi sinh vào phút giờ lịch sử!
Và đây hiến dâng của chúng ta cho Việt Nam ngày mai
Và đây dòng máu của chúng ta cho một bình minh vô tận.
Khi ấy, chúng ta sẽ hưởng lại hạnh phúc thanh bình
Được sống nghèo trong những nhà tranh yên tĩnh.
Lúa lại xanh trên những cánh đồng xanh
Và bao cặp người yêu lại bên nhau dưới tán mai vàng.

BS. Trịnh Phúc Nguyên dịch

honvietquochoc.com.vn

Tự phê bình và phê bình phải là vũ khí sắc bén

QĐND – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc giáo dục cán bộ, đảng viên nắm chắc, khéo sử dụng vũ khí tự phê bình – phê bình và sửa chữa để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố chính quyền. Người khuyên: “Ai cũng cần tắm rửa cho mình mẩy sạch sẽ. Thì ai cũng cần tự phê bình cho tư tưởng và hành động đúng đắn”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu vấn đề và tự giải đáp: “Tự phê bình là gì? Là thật thà nhận, công khai nhận trước mặt mọi người những khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nguồn: Internet

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Tự phê bình chính là cuộc cách mạng diễn ra ngay trong bản thân mỗi con người, là cuộc đấu tranh trong nội tâm để tự hoàn thiện mình. Tự xét mình đó là ý thức tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tự phấn đấu, tự răn mình. Một số người sợ mất uy tín và thể diện mình, không dám tự phê bình, lại còn bao biện, nếu phê bình khuyết điểm của mình, của đồng chí mình, của Đảng và Chính phủ, thì địch sẽ lợi dụng mà công kích ta… “Nói như vậy là lầm to. Khuyết điểm cũng như chứng bệnh. Phê bình cũng như uống thuốc. Sợ phê bình, cũng như có bệnh mà giấu bệnh, không dám uống thuốc. Để đến nỗi bệnh ngày càng nặng, không chết cũng la lết quả dưa”. Thực tế cho thấy, những cán bộ không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, thì người đó ngày càng lao vào khuyết điểm, càng giảm sút uy tín dẫn đến hư hỏng. Phê bình công khai có làm “suy giảm bớt uy tín của đoàn thể và chính quyền” không? Dứt khoát là có. Nhưng có “giảm bớt” này là tạm thời để rồi uy tín lại tăng lên, nếu quyết tâm sửa chữa khuyết điểm. Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình là việc làm như cơm “ăn cho khỏi đói”, như “rửa mặt cho khỏi bẩn”. Đó là công việc hằng ngày, hiển nhiên cần thiết. Người đặc biệt phê phán thái độ phê bình không trên tinh thần đồng chí, không có lòng xây dựng, không chân thành giúp đồng chí. Đó là thái độ “đao to búa lớn” “việc bé xé to”, hoặc lợi dụng phê bình, cường điệu nâng quan điểm để hạ bệ nhau, mạt sát nhau… Còn nếu nể nang, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chất chứa lại. Thế thì khác nào tự mình bỏ thuốc độc cho mình! Nói về Đảng, một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình – phê bình thật dễ hiểu và dễ thực hiện. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc giải phóng dân tộc…, tự phê bình – phê bình được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện đúng đắn, nghiêm túc. Đây là vũ khí sắc bén, góp phần quan trọng nâng cao lòng yêu nước, tinh thần và trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trước vận mệnh đất nước, đã làm nên những chiến thắng huy hoàng của dân tộc ta.

Tuy nhiên, hiện nay việc hiểu và thực hiện tự phê bình và phê bình  ở một số địa phương, đơn vị, một số bộ, ngành, đang có những biểu hiện không đúng đắn. Chẳng hạn, có những kẻ, trước các kỳ đại hội, hoặc bổ nhiệm, thì tung tin, dựng chuyện cho “đối thủ”, rồi lợi dụng tự phê bình – phê bình hạ thấp uy tín để tranh chức, đoạt quyền.  Đó đây vẫn còn biểu hiện tự phê bình và phê bình mang tính hình thức, tự phê bình thì nói về thành tích thật to lớn, sâu sắc, nhưng đề cập đến khuyết điểm chỉ kể ra cho gọi là có. Khi phê bình cấp trên, thì toàn nói về những khuyết điểm xét về hình thức có vẻ nghiêm trọng, nhưng thực chất là sự nịnh nọt, tâng bốc lẫn nhau, nhất là những kẻ cơ hội về chính trị… Chính vì vậy, các thế lực thù địch  đã lợi dụng để ra sức tuyên truyền, xuyên tạc một cách hiểm độc về tư tưởng tự phê bình – phê bình của Hồ Chí Minh. Một mặt chúng cho rằng, tự phê bình và phê bình chỉ là công cụ để tranh giành quyền, chức trong bộ máy Đảng và chính quyền các cấp. Mặt khác, chúng tìm mọi cách lôi kéo, móc nối với những kẻ cơ hội trong Đảng sử dụng tự phê bình – phê bình để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước ta, nhằm thực hiện những ý đồ đen tối.

Để góp phần xây dựng Đảng vững mạnh, làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch và phát huy tốt hiệu quả của vũ khí tự phê bình và phê bình, các cấp, các ngành, các địa phương cần tập trung tuyên truyền nâng cao ý thức của cán bộ, đảng viên và hiệu quả tự phê bình – phê bình. Trong đó tập trung vào các giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, phải tổ chức học tập và quán triệt lại một cách nghiêm túc, sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình – phê bình.

Thứ hai, tổ chức hoạt động tự phê bình và phê bình trong các cấp bộ Đảng, chính quyền, nhất là cấp cơ sở một cách thường xuyên, liên tục và hiệu quả. Đây là giải pháp có tầm quan trọng bậc nhất và mang ý nghĩa quyết định đối với việc xây dựng Đảng, Nhà nước và quân đội ta trong sạch, vững mạnh.

Thứ ba, kết hợp chặt chẽ giữa tự phê bình và phê bình với cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham ô, tham nhũng nhằm làm trong sạch bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Thực hiện tốt giải pháp này cùng một lúc đạt được các mục tiêu sau: Giảm thiểu được những thiếu sót, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong bộ máy Đảng và chính quyền các cấp, trong thi hành công vụ: Phát hiện sớm các biểu hiện tham ô, tham nhũng, nhờ đó giảm thiểu tổn thất về tài sản và tiền bạc của Nhà nước và nhân dân, đồng thời, bảo vệ được cán bộ, đảng viên và uy tín của Đảng, Nhà nước: Hạn chế tối đa những kẽ hở, không để các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá.

Tóm lại, tự phê bình – phê bình là hoạt động mang tính tất yếu, thường xuyên, liên tục của một đảng cầm quyền như Đảng ta. Có làm tốt hoạt động này, thì Đảng mới vững mạnh, mới hoàn thành sứ mệnh của một đảng cầm quyền, lãnh đạo cách mạng nước ta đi đến thắng lợi.

Đại tá, PGS, TS Hoàng Minh Thảo

qdnd.vn

Tư duy Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh – đó là chủ nghĩa Mác – Lênin trong cái phần tinh hoa và thực tiễn của nó, ở Việt Nam.

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã dặn rằng, học thuyết của các vị không phải là giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động. Cho nên học Mác không chỉ đơn giản là đọc sách, làm theo sách hay diễn giải sách theo ý riêng mình. Điều cốt tử là nắm lấy linh hồn của học thuyết đó, vận dụng nó vào thực tiễn, lấy thực tiễn kiểm nghiệm và điều chỉnh lý thuyết. Hồ Chí Minh đã làm như vậy. Và Cụ đã từng bị người ta phê phán. Nhưng Cụ đã đúng.

Khi còn trẻ, Cụ đã từng đưa ra một nhận xét táo bạo và sâu sắc, rằng học thuyết Mác chưa bao hàm cả văn hóa – triết học phương Đông. Đúng như vậy thật, và đó cũng là điều dễ hiểu: Mác chưa nghiên cứu phương Đông nhiều, đặc biệt là Trung Hoa; trong khi Nguyễn Ái Quốc là người xuất phát từ nền văn hóa đó, trên đất Việt Nam… Ngày nay, chúng ta thấy nên có một sự tổng hợp mới, Đông – Tây để làm phong phú và toàn diện chủ nghĩa Mác.

“Dĩ bất biến ứng vạn biến” – câu châm ngôn này là vũ khí tư duy của Hồ Chí Minh. Có lẽ, nó xuất phát từ tinh thần của Kinh Dịch và được một triết gia cổ đại nào đó nêu lên. Nhưng một khi nó được Hồ Chí Minh thốt ra, trong bối cảnh của năm 1946 ở nước Việt nam với cụ Huỳnh Thúc Kháng, thì nó có nghĩa là hãy lấy lòng yêu nước, khí phách kiên cường để ứng biến với mọi tình thế phức tạp. Ba mươi năm sau đó, kháng chiến và cách mạng Việt Nam, đã sáng tạo theo phương châm này và đã giành thắng lợi.

Hồ Chí Minh đọc rất nhiều, từ cổ đến kim, bằng nhiều ngoại ngữ. Nhưng người không nệ vào sách, không thích trích dẫn, không thích một sự phân tích dài dòng văn tự. Những người thích làm thế, nhiều khi dựa theo những tiên đề sai của sách, của lý thuyết. Tư duy tư biện hoặc máy móc không có chỗ trong tư duy Hồ Chí Minh. Người nghiên cứu, tìm hiểu, sống với đời sống và nói lên chân lý, theo kiểu của nhà hiền triết hơn là của một nhà lý luận.

Người rất ghét từ chương, sáo ngữ, biện luận dài dòng. Vì thế mà những lời của Người dễ vào lòng người, dễ nhập tâm dân chúng, và ai cũng thấy như Người phát ngôn cho mình. Các mục tiêu định ra là rõ ràng, chân thật, ai cũng tán thành.

Người thích diễn đạt bằng tục ngữ, ca dao, văn vần, thành ngữ, những cách nói dân dã. Người lại thích dẫn những câu thành ngữ Hán học mà vào thời đó các cụ nhà nho, các người có chút vốn học vấn đều thuộc, để diễn đạt ý mình. Sâu xa, đó là thừa kế có chọn lọc kho tàng tri thức Á Đông. Chẳng hạn câu: “Không sợ thiếu (vì nghèo), chỉ sợ không công bằng” (Bất hoạn bần nhi hoạn bất quân) trong kho cổ ngữ Trung Hoa.

Thế cho nên, người ta thấy Cụ Hồ gần mình lắm, tư tưởng của Cụ bình dị và gần gũi như cánh đồng lúa Việt Nam, đi vào lòng triệu triệu người.

Văn hóa, tức là cái đã được lọc, được quên đi và còn lại. Hồ Chí Minh là một bộ lọc vĩ đại đã lọc văn hóa của nhân loại, của phương Đông và Việt Nam. Học theo Người, chúng ta phải học nhân loại, học phương Đông, học Việt Nam và cố gắng tư duy một cách sáng rõ, gần với chân lý nhất, gần với cuộc đời nhất.

Bởi vì phàm đã là chân lý thì nó đơn giản. Các thứ lý thuyết rắc rối, cố làm ra vẻ cao siêu, khó hiểu, thần bí… đều trôi qua. Còn những lời minh triết của Cụ Hồ thì sống mãi.

honvietquochoc.com.vn

Hồ Chí Minh – Chân dung một con người

Hồ Chí Minh – Chân dung một con người là một phim tài liệu của đạo diễn Bùi Đình Hạc và Lê Mạnh Thích được thực hiện năm 1990.

Đây là một bộ phim tài liệu tuyên truyền về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông (1890-1990), một trong những tác phẩm điện ảnh về đề tài Hồ Chí Minh được đánh giá cao, bộ phim thường được Đài Truyền hình Việt Nam phát sóng vào dịp kỉ niệm ngày sinh (19 tháng 5) hoặc ngày mất (2 tháng 9) của Hồ Chí Minh.

Sản xuất

Năm 1980 nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh, đạo diễn Bùi Đình Hạc từng thực hiện bộ phim tài liệu Ðường về Tổ quốc.[1] Mười năm sau đó vào đúng dịp 100 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh, đạo diễn Bùi Đình Hạc đã cho ra đời Hồ Chí Minh – Chân dung một con người.

Để thực hiện bộ phim này, đoàn làm phim đã sang Liên Xô để tìm tư liệu trong các bảo tàng ởMoskva và Leningrad. Trong quá trình tìm tư liệu, đoàn làm phim đã phát hiện và đưa vào phim nhiều tư liệu quý giá về Hồ Chí Minh trước đó chưa từng được sử dụng như hình ảnh ông cởi trần tắm suối hay khăn vắt vai chống gậy mở đường.[1] Kịch bản của Hồ Chí Minh – Chân dung một con người được giao cho nhà biên kịch Bành Bảo, phần lời bình do nhà thơ, nhà văn Nguyễn Đình Thi chấp bút và phần hình ảnh được phụ trách bởi đạo diễn, nhà quay phim Lê Mạnh Thích.[2]

Theo đạo diễn Bùi Đình Hạc, nhà văn Nguyễn Đình Thi ban đầu định từ chối viết lời bình cho bộ phim vì bận nhưng sau đó do yêu thích bản nháp của phim nên ông đã quyết định viết lời bình cho tác phẩm này. Ban đầu Bùi Đình Hạc dự định đặt tên phim là Hồ Chí Minh, một con người nhưng sau đó ông đã đổi lại thành Hồ Chí Minh – Chân dung một con người, đây là một trong ba phim tài liệu của đạo diễn về Hồ Chí Minh, hai tác phẩm còn lại là Đường về tổ quốc và Nguyễn Ái Quốc đến với Lê Nin.[3]

Clip nguồn: nhoNguoicha

Đánh giá

Hồ Chí Minh – Chân dung một con người được coi là một tác phẩm điện ảnh về đề tài Hồ Chí Minh có giá trị cao,[4][5] bộ phim thường được Đài Truyền hình Việt Nam phát sóng vào dịp kỉ niệm ngày sinh (19 tháng 5) hoặc ngày mất (2 tháng 9) của Hồ Chí Minh.[3]

Xem thêm phần hai: Hồ Chí Minh – Chân dung một con người (Phần hai)

vi.wikipedia.org