Archive | Tháng Một 2012

Bác Hồ kính yêu và những năm Thìn đầy dấu ấn

(GD&TĐ) – Trong cuộc đời 79 mùa xuân của mình, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã có 7 lần đón Tết năm Thìn cổ truyền của dân tộc. Đó là những năm Thìn thật đáng nhớ, những năm Thìn đánh dấu những mốc quan trọng trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng vì nước, vì dân của Người.

Bác Hồ chúc tết. Ảnh: Tuấn Anh

Bác Hồ chúc Tết. (Ảnh: Tuấn Anh, nguồn: Internet)

Còn nhớ, lúc vừa tròn hai tuổi, dưới tên gọi Nguyễn Sinh Cung, Người đã được đón cái Tết Nhâm Thìn (1892) đầu tiên trên quê nhà xứ Nghệ. Một cái Tết trong vòng tay của cha mẹ và ông bà ngoại tại làng Hoàng Trù, Nam Đàn, Nghệ An. 12 năm sau, Người tiếp tục được đón cái Tết năm Giáp Thìn (1904) cũng tại quê nhà. Năm này, Người 14 tuổi và đang theo học chữ Hán với những thầy đồ nổi tiếng hay chữ và giàu lòng yêu nước ở vùng đất Nghệ Tĩnh và bước đầu tiếp xúc với khẩu hiệu : Tự do-Bình đẳng-Bác ái.

Ngày 5-6-1911, với lòng yêu nước nồng nàn và lòng căm thù bọn thực dân xâm lược sâu sắc, Người đã đi ra nước ngoài để tìm con đường cứu nước, cứu dân. Không theo phái Đông du sang Nhật, Người hướng sang các nước phương Tây, nơi có phong trào đấu tranh cho tự do, dân quyền, dân chủ và có nền khoa học, kĩ thuật hiện đại. Và thế là với 30 năm bôn ba đi tìm hình của nước, Người đã có ba lần đón những cái Tết năm Thìn trên xứ người.

Năm Bính Thìn (1916), Người đón Tết ở xứ sở đảo quốc sương mù. Tại đây, Người đã ra sức hoạt động trong phong trào công nhân Anh và tiếp tục học tập lý luận cách mạng với tinh thần kiên trì cố gắng rất lớn. Trong thời gian này, tuy không tán thành chủ trương cải cách của cụ Phan Châu Trinh, nhưng Người vẫn thường trao đổi thư từ với Cụ để bàn bạc về con đường cứu nước, giải phóng đồng bào. Đây cũng là thời gian mà phong trào cách mạng trong nước đang ngày càng dâng cao. 12 năm sau, vào mùa thu năm Mậu Thìn (1928), Người về Thái Lan, đến ở Bản-đông, Phi-chít (miền Trung Thái Lan) với biệt hiệu là Nam Sơn. Sau hai tuần, Người đến U-đon (miền Đông Bắc Thái Lan), rồi đi Xa-côn, Nông-khai, Mục-đa-hán, Băng-cố v.v…

Đi đến đâu, Người cũng mở lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ cách mạng; nói chuyện tình hình thế giới, trong nước, tuyên truyền giác ngộ kiều bào. Tại đây, Người chủ trương đổi tên báo Đồng Thanh (của Hội Thân Ái, phát hành năm 1927) thành báo Thân Ái và tiếp tục thông qua tờ báo này đẩy mạnh công tác tuyên truyền. Nhận thấy kiều bào nơi đây rất hay đi lễ Đức Thánh Trần, Người liền soạn “Bài ca Trần Hưng Đạo” ca ngợi tinh thần yêu nước của Đức Thánh Trần và của tổ tiên ta, khích lệ ý chí quật cường, tinh thần đánh giặc, cứu nước của kiều bào : “Một người Việt hãy đương còn/ Thì non sông Việt vẫn non sông nhà”. “Bài ca Trần Hưng Đạo” được truyền bá nhanh chóng và có hiệu quả lớn. Nhiều “đệ tử Đức Thánh Trần” trước chuyên đi lễ, đã dần dần giác ngộ tham gia Hội Thân Ái và những hoạt động yêu nước khác.

Trong thời gian này, Người còn dịch cuốn “Nhân loại tiến hóa sử” và cuốn “Cộng sản ABC” để làm tài liệu huấn luyện cho cán bộ. Đến đâu, Người cũng nhanh chóng hòa mình vào cuộc sống lao động của kiều bào. Người ăn mặc như kiều bào và tham gia lao động từ nhẹ đến nặng cùng kiều bào. Chính vì thế, Người được kiều bào kính trọng, yêu mến gọi là Thầu Chín.

Có thể nói, trong những thắng lợi của cách mạng sau này, kiều bào ta ở Xiêm đã có sự đống góp xứng đáng. Hai năm sau, bằng bãn lĩnh và uy tín của mình, Người đã đứng ra hợp nhất các tổ chức Đảng, thành lập ra một chính Đảng duy nhất với tên gọi là Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930). Từ khi Đảng ra đời, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Người và của Đảng, cách mạng Việt Nam ngày càng trào dâng.

Đầu năm Canh Thìn (1940), từ Thái Lan, Người về Côn Minh (thủ phủ của tỉnh Vân Nam-Trung Quốc) và bắt liên lạc được với bộ phận ở ngoài nước của Đảng ta. Sau khi tìm hiểu tình hình tổ chức của ta ở đây, Người nêu ra một số ý kiến chỉ đạo cụ thể : Đối với tờ báo Đồng Thanh, Người đề nghị đặt tên là “Đ.T” để có thể ngầm hiểu là “Đồng thanh”, “Đồng Tâm”, “Đấu tranh”, “Đánh Tây” …

Đối với Hội nhân dân Việt Nam ủng hộ Trung Quốc chống giặc (một tổ chức của ta được thành lập ở Vân Nam từ trước và được chính quyền Quốc dân Đảng cho phép hoạt động), thì Người căn dặn phải củng cố và duy trì Hội để dễ dàng hoạt động và lấy giấy tờ hợp lệ đi lại. Bản thân Người dùng giấy tờ của Hội để đi kiểm tra các cơ sở của Đảng ta ở Vân Nam.

Tháng 6-1940, Đức tấn công nước Pháp, Chính phủ Pháp đầu hàng. Trước tình hình đó, Người quyết định : Các đồng chí cán bộ của ta đang hoạt động ở Trung Quốc khẩn trương chuẩn bị về nước và nắm lấy phong trào cách mạng. Bản thân Người cùng một số cán bộ chuyển về Quảng Tây, sát biên giới Việt – Trung để tìm đường về nước. Đầu tháng 12-1940, Người về đến Tĩnh Tây. Ở đây, Người đã họp với đồng chí Hoàng Văn Thụ (người thay mặt Trung ương Đảng ở trong nước).

Đầu năm 1941, sau 30 năm xa nước, Người đặt chân về với mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu. 4 năm sau ngày Người trở về, Cách mạng Việt Nam đã có bước ngoặt lớn. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.

Nước Việt Nam mới còn trong trứng nước, thực dân Pháp đã âm mưu thôn tính nước ta lần nữa. Tháng 12-1946, Người lại phải ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Cuộc kháng chiến bước sang năm thứ 6 cũng là lúc cả dân tộc ta cùng Người đón cái Tết năm Nhâm Thìn (1952). Năm này, sau một năm Đảng ra công khai hoạt động với tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác, cả dân tộc ta đã tiếp tục phát huy được những thành quả của mình trên nhiều mặt- nhất là trên mặt trận quân sự.

Trong bài viết “Sau lũy tre xanh”, Người đã nêu rõ : “Sau lũy tre xanh/ Trước lũy tre xanh/ Ta đánh cho giặc Pháp tan tành tả tơi” (C.B- Báo Nhân dân số 40, ngày 10-1-1952). Quả thực, chúng ta sẽ là những người chiến thắng hiện tại cũng như trong tương lai, vì con đường đi của chúng ta được học thuyết vĩ đại của chủ nghĩa Mác-Lênin soi sáng. Chính với niềm tin đó, bước vào năm 1952, nhân dịp Tết Nhâm Thìn, Người có lời Thơ chúc Tết đầy phấn khởi, tự hào; có tác dụng động viên, kêu gọi, thôi thúc lớn :“Xuân này, Xuân năm Thìn/ Kháng chiến vừa 6 năm/ Trường kỳ và gian khổ/ Chắc chắn trăm phần trăm/ Chiến sĩ thi giết giặc/ Đồng bào thi tăng gia/ Năm mới thi đua mới/ Thắng lợi ắt về ta/ Mấy câu thành thật nôm na/ Vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân” (Báo Nhân dân, số 42, ngày 24-1-1952). Lời thơ thật giản dị, ấm cúng mà tràn đầy sự tin tưởng, quyết tâm.

Những vần thơ Tết kháng chiến đó đã ăn sâu vào tình cảm nhân dân. Vì vậy, từ những năm ấy, trong dân gian đã truyền tụng những câu ca dao: “Cụ Hồ ở giữa lòng dân/ Tuy xa xa lắm, nhưng gần gần ghê/ Mỗi khi thư Cụ gửi về/ Rộn ràng khắp chợ cùng quê đón mừng/ Ai ngoài muôn dặm trùng dương/ Cũng thường nhận được tình thương Cụ Hồ”. Quả đúng như sự khẳng định của Người, hai năm sau, vào tháng 5-1954, Nghe theo lời Đảng, làm theo lời Bác, cả dân tộc ta đã đoàn kết một lòng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Sau chiến thắng này, thực dân Pháp đã phải cuốn gói cút khỏi nước ta.

Không rút kinh nghiệm từ những thất bại cay đặng của Thực dân Pháp, tên sen đầm đế quốc Mỹ nhảy vào xâm chiếm nước ta. Chúng gây nên những tội ác tày trời. Bác Hồ kính yêu cùng với Đảng ta lại tiếp tục lãnh đạo toàn quân, toàn dân ta kháng chiến chống Mỹ.

Đặc biệt, bước vào năm Giáp Thìn (1964), đế quốc Mỹ đã có những hành vi leo thang ra ném bom đánh phá miền Bắc nước ta. Nhưng dân tộc ta vẫn nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Năm này, Bác của chúng ta cũng đã bước sang tuổi 74. Thế nhưng, với tinh thần thân dân, Tết năm đó, Bác đã có những chuyến vi hành đáng suy ngẫm.

Tối 30 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết cán bộ công nhân tại Khu tập thể Nhà máy cao su, Nhà máy xà phòng, Nhà máy thuốc lá; Khu tập thể cán bộ miền Nam tập kết ở phố Phan Đình Phùng và một số gia đình ở Hà Nội… Sáng mồng 1 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết Huyện uỷ, Uỷ ban hành chính huyện Đông Anh; thăm và chúc Tết cán bộ, công nhân trạm biến thế điện và hợp tác xã nông nghiệp Lỗ Khê, xã Liên Hà, huyện Đông Anh, là đơn vị có nhiều thành tích trong phong trào sản xuất và tiết kiệm. Nói chuyện với bà con nông dân hợp tác xã Lỗ Khê, Bác căn dặn phải chú ý phát triển hoa màu, chăn nuôi, trồng nhiều cây và chăm sóc cây tốt, đẩy mạnh vệ sinh phòng bệnh. Bác khen câu khẩu hiện bằng thơ ở trên đình làng: “Đón Xuân mở hội làm giàu/ Mừng Xuân cần kiệm lúa màu tốt tươi”.

Sau đó, Bác thăm và chúc Tết cán bộ chiến sỹ Sở công an Hà Nội. Đặc biệt, vào lúc giao thừa, qua Đài Tiếng nói Việt Nam, Người đọc Thư chúc mừng năm mới gửi đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào nước ngoài, trong đó có lời thơ ấm áp : “Bắc Nam như cội với cành/ Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng/ Rồi đây thống nhất thành công/ Bắc Nam ta lại vui chung một nhà/ Mấy lời thân ái nôm na/ Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân”. Trong năm này, nhằm tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt tại Hà Nội (3-1964) với 325 đại biểu thay mặt cho các đảng phái, dân tộc, tôn giáo và nhân sĩ trí thức, biểu thị ý chí đoàn kết thực hiện mục tiêu xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc với tinh thần “mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”.

Tình cảm, ý chí đó của Người đã được toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ra sức dốc lòng thực hiện. Cả ba miền Bắc-Trung-Nam dậy lên những chiến công vang dội dẫn đến sự phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Có thể nói, đây là thời gian mà Người luôn đau đáu nỗi niềm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Năm 1969, Người đi vào cõi vĩnh hằng. Năm 1975, nỗi niềm đau đáu của Người đã được thực hiện. Bắc-Nam liền một biển. Năm Bính Thìn (1976) đất nước trọn niềm vui khi nước nhà mang tên gọi mới : Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

…Ôi ! Vĩ đại thay, một con Người luôn nghĩ tới nhân dân, suốt đời cống hiến và hi sinh cho dân, cho nước ! Tự hào thay, một con người mà “một đời thanh bạch chẳng vàng son” và luôn biết “nâng niu tất cả, chỉ quên mình !”.

Nguyễn Thị Thọ

gdtd.vn

Hai Tết với Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng cán bộ - nhân viên Văn phòng Phủ chủ tịch - Tết 1963. Ảnh: Tư liệu

Bà Lê Tâm là một cán bộ hoạt động công đoàn chuyên nghiệp. Suốt cuộc đời tham gia cách mạng, bà đã vinh dự 2 lần được đến chúc Tết và ăn Tết cùng với Bác Hồ. Kỷ niệm về hai sự kiện này đã ghi sâu trong tâm khảm của bà. Khi chạm tới niềm sâu thẳm đó, bà rưng rưng tâm sự.

Tết Độc lập đầu tiên năm 1946, tôi công tác ở Hội Công nhân cứu quốc, trụ sở tại 51 Hàng Bồ (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) được cơ quan cử tham gia đoàn đại diện cho các đoàn thể đi chúc tết Bác Hồ và ông Vĩnh Thụy.

Đoàn đến 51 Trần Hưng Đạo – nơi ở của ông Vĩnh Thụy. Ông mặc bộ comlê vải đũi, đầu chải bóng loáng ra tiếp. Chị Hải đại diện cho đoàn cầm hoa tặng, ông Vĩnh Thụy cảm ơn nhận hoa và tỏ ra xúc động lắm. Sau đó, đoàn về nhà khách Chính phủ chúc Tết Bác. Các đồng chí văn phòng bảo đoàn chờ tại phòng khách. Bác mặc bộ đồ kaki màu vàng đã bạc, giày vải, nhanh nhẹn đi ra phòng khách tươi cười chào mọi người.

Nhìn Bác gầy, đôi mắt trũng sâu nhưng ánh mắt vẫn sáng, ai cũng xúc động và thương Bác quá. Chúng tôi kính tặng Bác bó hoa layơn trắng rồi vây quanh Bác như đàn con cháu tíu tít bên người cha, người ông trong ngày Tết cổ truyền. Bác vui lắm cảm ơn cả đoàn. Bác chúc Tết mọi người rồi căn dặn, chúng ta vừa giành chính quyền, dân còn khổ, các cô các chú phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Ai nấy đều thắc mắc, ở thành phố lấy đâu ra đất để tăng gia. Bác nói: “Phải tận dụng mọi chỗ nếu tận dụng được… phải chống mù chữ… Lần sau đến chúc Tết Bác, chỉ cần báo cáo cho Bác biết trồng được bao nhiêu rau, giúp được bao nhiêu người biết chữ”. Rồi Bác hỏi thăm và gửi lời chúc Tết gia đình, thăm hỏi bà con. Khi về cơ quan, tôi đã đi vận động nữ công nhân trồng rau ở bãi Phúc Tân, Phúc Xá, vận động nhau học chữ. Công việc tăng gia và học chữ quốc ngữ được mọi người thực hiện tốt cho đến khi Hà Nội cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 9 năm gian khổ.

Đầu năm 1952, đồng chí Trần Danh Tuyên cho phép 2 đại biểu đến ăn Tết ở trung ương. Đại diện cho nam giới là đồng chí Trần Bảo, còn tôi đại diện cho phụ nữ. Hai anh em, sáng 30 Tết khăn gói lên đường từ cơ quan Tổng Liên đoàn (Sơn Dương – Tuyên Quang) đến trưa tới đèo De thì mở cơm nắm ra ăn, chiều đến chiến khu gặp anh Hoàng Quốc Việt – Thường vụ Trung ương Đảng phụ trách dân vận trực tiếp phụ trách công vận.

Anh Việt đưa đến thăm anh Thận (đồng chí Trường Chinh), anh Thận mời ở lại ăn Tết với vợ anh vừa ở khu Ba lên. Buổi chiều, chúng tôi trở về chỗ anh Hoàng Quốc Việt. Thời gian này chị Thục Chinh chuẩn bị tổ chức đám cưới với anh Nguyễn Lương Bằng; nhưng có việc đột xuất ở biên giới, anh Bằng đi công tác ở đó nên hoãn đám cưới lại. Chị Thục Chinh đang ở chỗ Bác. Các anh cho phép tôi lên cùng chị Thục Chinh ăn Tết với Bác. Vừa tới nơi, Bác quan tâm hỏi:“ Cháu có mệt không?”. Tôi phấn khởi quá trả lời: “Thưa Bác, cháu không thấy mệt ạ!”.

Tối 30 Tết, Bác ngồi đọc tài liệu. Tài liệu rất nhiều, nhiều nhất là thư của công nhân, nông dân, bộ đội, thiếu nhi gửi Bác. Bác bảo tôi đọc những bức thư đó cho Bác nghe, chỗ nào lưu ý Bác bảo dừng lại, Bác đánh dấu để dễ tìm khi cần đọc lại. Khuya Bác bảo tôi đi ngủ, còn Bác vẫn chong đèn đọc tiếp. Bác ở nhà sàn, còn chúng tôi ở nhà ngang, đêm ấy chúng tôi không ngủ được vì thấy Bác vẫn thỉnh thoảng ho nên lo cho sức khỏe của Bác. Bảo vệ giục Bác đi ngủ nhiều lần nhưng Bác vẫn thức.

Sáng mùng 1 Tết, tỉnh dậy chúng tôi xuống bếp đã thấy Bác ở đấy, chúng tôi ùa vào chúc Bác mạnh khỏe sống lâu muôn tuổi. Bác nói, muốn Bác mạnh khỏe sống lâu, các cô cần làm việc tăng gấp 2 – 3 lần… Một lúc sau, các cháu thiếu nhi con em của các đồng chí lãnh đạo đến chúc Tết, Bác đưa các cháu lên nhà sàn bắt nhịp cho các cháu hát rồi chia kẹo, chia quà. Gần trưa, gia đình các đồng chí Trường Chinh, Lê Văn Lương, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt… đến chúc Tết Bác, không khí lúc này rất vui và quá đầm ấm.

Tất cả quây quần bên Bác như một gia đình lớn có nhiều thế hệ. Bữa cơm trưa mùng 1 Tết có một đĩa thịt lợn kho tàu, cá kho, trứng rán, dưa chua và một bát canh tôm nấu với rau cải xoong. Rau cải xoong do tự tay Bác trồng. Đến đâu Bác cũng ở gần suối. Dưới suối Bác thả bè rau cải xoong, ở trên đồi Bác trồng rau cải, rau muống. Tôi hỏi đồng chí phụ trách bếp, Tết của Bác sao lại không có bánh chưng.

Đồng chí đó nói đồng bào gửi biếu Bác nhiều thứ, bánh chưng, giò, còn có cả con bò, bà con vùng kháng chiến cũng gửi quà cho Bác nhưng Bác bảo mang cho bộ đội, thiếu nhi… Thức ăn mỗi bữa, Bác bảo chia nhau ăn hết không được lãng phí. Đang ăn, anh Cù Huy Cận đến, một lúc sau bác sĩ Chánh là bác sĩ phục vụ Bác cũng tới. Mọi người cười nói, chuyện trò rôm rả. Sau bữa ăn là tiết mục sinh hoạt văn nghệ, có người lấy soong nồi lên gõ đệm cho người khác hát, anh Huy Cận đọc thơ, có người hát chèo, tôi và chị Thục Chinh rụt rè e ngại. Bác động viên mãi, tôi đọc bài thơ của anh Tố Hữu:

“Em là con gái Bắc Giang, rét thời mặc rét nước làng em lo…”. “Nhà em con bế con bồng, em cũng theo chồng đi phá đường quan”… Bác cười, bây giờ không được vận động bà con phá đường mà vận động bà con đắp đường để bộ đội, dân công có đường đi đánh giặc. Bác cháu sinh hoạt văn nghệ vui quá, vui đến tận chiều….Tối hôm đó khi Bác cháu cơm nước xong, Bác bảo hai chị em đi xem phim do Văn phòng Trung ương Đảng tổ chức. Ở chỗ chiếu phim, hai chị em gặp anh Trường Chinh, anh Hoàng Quốc Việt,… phim hay thích xem, nhưng hai chị sốt ruột muốn về.

Các anh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt cũng đốt đuốc về cùng. Tới nhà, thấy Bác vẫn chăm chú đọc tài liệu. Mấy anh chị em trước cảnh tượng Bác ngồi làm việc áo đại cán khoác hờ trên vai, quên cả cái rét cắt thịt cắt da ở miền núi mà thấy nao lòng. Chúng tôi ăn Tết với Bác hết ngày mùng 3, hàng ngày hai chị em xuống bếp giúp các đồng chí phục vụ làm bữa…Bác bận tiếp khách ban ngày, ban đêm đọc tài liệu, đọc sách.

Sáng mùng 4, chúng tôi chào Bác để trở về cơ quan công tác. Bác cho mỗi chị em một gói cơm nếp lạc và dặn chúng tôi lúc chia tay: “Các cháu đi đâu cũng phải gần gũi dân mới được dân giúp đỡ… Công tác tốt sang năm lại lên ăn Tết với Bác”.

Theo laodong.com.vn
Huyền Trang (st)

vov.vn

Da diết tình cảm đồng bào miền Trung với Bác

(VOV) – Một mùa xuân mới lại về. Năm tháng sẽ đi qua nhưng hình ảnh của Bác Hồ mãi mãi sâu đâm trong trái tim người dân miền Trung.

Trong tâm tưởng của người dân Việt Nam, Hồ chí Minh là người anh hùng dân tộc vĩ đại. Với người dân miền Trung, nguyện một lòng sắt son với Đảng, Bác Hồ mãi mãi là tấm gương cao đẹp về đạo đức và tâm hồn. Trong niềm vui xuân mới Nhâm Thìn, tấm lòng của bà con miền Trung với Bác thêm sâu đậm.

Suốt 50 năm theo cách mạng, vận động đồng bào dân tộc ít người theo Đảng và Bác Hồ, ông Ma Luê, dân tộc Ê Đê từng giữ nhiều cương vị lãnh đạo ở huyện miền núi Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Nay ông trở về làng cũ sống cùng bà con xã Ea Trôn. Suốt cuộc đời cách mạng Ma Luê được dân làng tin và gọi là “cán bộ của Bác Hồ”.

Ông bảo rằng, khi chưa có Đảng, chưa có Bác Hồ, người dân không có cơm ăn, áo mặc, sống du canh, du cư dẫn đến đau ốm, bệnh tật. Ông Ma Luê khẳng định: đồng bào luôn tin tưởng vào Đảng và Bác Hồ, đóng góp lúa gạo, bò, heo, đưa con em đi bộ đội, làm dân công, đóng góp cho kháng chiến. Nghe lời Bác Hồ dạy, tôi luôn luôn cố gắng làm được những việc tốt, góp phần nhỏ của mình cho cách mạng. Về sống với dân làng, bằng sự hiểu biết mình, tôi thường xuyên vận động nhân dân nghe theo lời dạy của Đảng của Bác. Bà con đã hiểu, rất kính trọng Bác Hồ  và làm theo những chủ trương của Đảng, lời dạy của Bác. Nhờ đó mà cuốc sống của dân làng đã có nhiều khởi sắc. Dân làng luôn biết ơn Bác Hồ- Ma Luê rưng rưng.

Nhờ ơn Đảng , Bác Hồ Xuân này gia đình mí Jol Dê có Tết cổ truyền thêm ấm cúng

Những năm chiến tranh gian khổ, dù đói cơm, lạt muối, đồng bào miền Trung vẫn hướng về Bác Hồ với cả tấm lòng tôn kính. Già La Văn Lung, ở làng Ba Ba Xí Thoại cho biết: Ngày bà con làng Xí Thoại ở trong rừng nghe tin  Bác Hồ qua đời cả làng đều khóc và để tưởng nhớ Bác, bà con lập bàn thờ Bác ngay giữa rừng để hàng ngày thờ cúng Bác. Nhớ Bác, nhà nào ở buôn Xí Thoại cũng có bàn thờ Bác, treo ảnh Bác. Già La Văn Lung nhớ lại: Dân làng mình phải thờ Bác Hồ vì đất nước mình chỉ nhờ có Bác. Từ khi có Bác lãnh đạo, Đảng ta có những chủ trương đường lối đúng đắn để giải phóng dân tộc. Bác là người luôn chăm lo cho đồng bào dân tộc, Bác đã đem lợi ích đến cho cả người Kinh, dân tộc, không phân biệt đâu. Tôi rất tin tưởng đường lối Bác đã chọn. Chỉ có Bác, có Đảng bà con mới có nhà ở, có đất sản xuất, con cháu được học hành, đồng bào chúng ta mới có cuộc sống hạnh phúc như ngày hôm nay.

Những ngày gần Tết, trong căn nhà nhỏ ở thành phố Đà Nẵng, bà Trần Thị Cúc bài trí lại tấm ảnh Bác Hồ được in trên lụa, rồi cùng con cháu sắp đặt bàn thờ gia tiên chuẩn bị đón Tết.

Cứ mỗi dịp Xuân về bà Cúc lại lần những trang nhật ký... nhớ Bác

Bà kể, tấm ảnh của Bác là món quà của Đảng tặng khi bà đứng vào hàng ngũ những người cộng sản những năm 60 của thế kỷ trước. Đó là báu vật bà dành tặng lại cho cháu con. Đã 8 lần được gặp Bác Hồ, nữ biệt động ở Đà Thành năm xưa vẫn rưng rưng khi nhớ lại gương mặt, cử chỉ âu yếm của Người dành cho thiếu nhi miền Nam:Cứ mỗi mùa Xuân đến, cái Tết này thêm nhớ Bác. Trời chuyển lạnh càng thấm thía nhớ Bác. Tưởng tượng Bác ở trên cao vẫy tay nói cháu hãy cố gắng lên…

Nhìn thấy Bác, nhớ tới Bác người dễ chịu lại. Nguyện trong tâm làm sao giữ phẩm chất của mình trong sáng để trên tiên cảnh Bác được vui- Bà Cúc bồi hồi.

Nhớ Bác, nghe theo lời dạy của Người, đồng bào ở miền Trung cùng nhau đoàn kết chung sức xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.

Mùa Xuân này, dải đất miền Trung đầy nắng gió đã có thêm nhiều chồi non, lộc biếc để báo công dân Bác./.

Hải Sơn/VOV-miền Trung

vov.vn

Xây khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thái Lan

(VOV) – Khu tưởng niệm sẽ được xây dựng trên khu đất rộng trên 10.000 m2 tại làng Ban May, thị xã của tỉnh Nakhon Phanom.

Từ ngày 21 – 26/9, đoàn công tác liên ngành của Việt Nam gồm đại diện Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du Lịch, Bộ Ngoại giao đã sang thăm và làm việc với chính quyền tỉnh và Ban chấp hành Hội người Việt Nam tỉnh Nakhon Phanom về quy hoạch chi tiết bố trí không gian trong khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại tỉnh Nakhon Phanom.

Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ được xây dựng trên khu đất rộng trên 10.000m2 tại làng Ban May, thị xã của tỉnh Nakhon Phanom. Khu đất này được  chính quyền tỉnh Nakhon Phanom cấp.

Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thúy Đức, cho biết: “Khu tưởng niệm cơ bản nhất là Gian tưởng niệm để bà con Việt kiều dâng hương lên Bác trong dịp lễ, Tết.  Nhà di tích mô phỏng khắc họa thời kỳ Bác đến Thái Lan hoạt động và sống ở đó năm 1928 – 1929, và đầu năm 1930 Bác cũng quay lại khu vực này. Bên cạnh đó, phục dựng khung cảnh thiên nhiên như cây khế, cây dừa Bác đã trồng. Tạo không gian để nhớ lại hình ảnh ngôi nhà Bác từng sống và làm việc”.

Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh được nối với làng hữu nghị Thái – Việt bằng một con đường ngắn, tạo thành một quần thể du lịch văn hóa, lịch sử. Sau khi dâng hưởng tưởng niệm Bác Hồ, thăm quan nhà di tích mô phỏng, khách du lịch sẽ theo con đường này thăm quan làng hữu nghị Thái – Việt, trong đó trưng bày tiểu sử của Bác Hồ bằng mối quan hệ Việt –  Thái.

Bà Đức cho biết thêm, sau khi Khu tưởng niệm được xây xong, Bảo tàng Hồ Chí Minh cùng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du Lịch, Bộ Ngoại giao sẽ giúp trưng bày, bổ sung thông tin, đặc tả hiện vật trong ngôi nhà di tích của Bác được mô phỏng lại, cung cấp thêm thông tin trong lĩnh vực văn hóa và hoạt động trong các lĩnh vực để trưng bày giới thiệu mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan trước đây, hiện nay và xu hướng phát triển trong tương lai.

Trước tiên, chính quyền tỉnh Nakhon Phanom đã quyết định xây dựng ngay Nhà mô phỏng di tích của Bác để kịp khai trương vào dịp khánh thành cây cầu thứ 3 bắc qua sông Mekong nối tỉnh Nakhon Phanom và tỉnh Khammuon của Lào. Dự kiến lễ khánh thành cây cầu này sẽ tổ chức vào tháng 11 tới.

Khi cây cầu thứ ba được đưa vào sử dụng sẽ rút ngắn con đường  từ các tỉnh đông Bắc sang Việt Nam, đặc biệt sang Hà Nội chỉ có 800km, xa hơn từ các tỉnh này vào Bangkok có 100 km. Nó sẽ mở ra một tuyến du lịch theo chân Bác từ quê Bác làng Sen sang khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bản Xiêng Vang, tỉnh Khammuon của Lào đến Nakhon Phanom thăm khu tưởng niệm, và thăm Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, tỉnh Udon Thani của Thái Lan và ngược lại.

Việc xây dựng khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại tỉnh Nakhon Phanom đáp ứng nguyện vọng của  bà con Việt kiều tại Thái Lan, mong ước có được một không gian thắp hương tưởng nhớ Bác trong những dịp lễ quan trọng của đất nước, ngày sinh nhật và ngày giỗ của Bác cũng như mong muốn của người dân Thái Lan, du khách nước ngoài muốn tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của lãnh tụ vĩ đại của Việt Nam, đặc biệt là quãng thời gian hoạt động của Người tại Thái Lan 1928 – 1929./.

Thanh Huyền  từ Thái Lan

vov.vn

Cách ăn Tết của Bác Hồ

QĐND – Về thăm Pác Bó (Cao Bằng) vào những ngày giáp Tết Nguyên đán Tân Mão-2011, lại đúng dịp kỷ niệm 70 năm Ngày Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tôi được nghe nhiều cụ lão thành cách mạng nhắc đến cách ăn Tết của Bác Hồ thời kỳ Người ở Pác Bó.

Ngày Bác về nước cũng là ngày Tết (mồng 2 Tết Tân Tỵ, tức ngày 28-1-1941). Trước đó, Bác mở lớp huấn luyện cho hơn 40 cán bộ trong nước học tập, đợi đúng đến ngày 30 Tết, Bác mới bế mạc lớp học và nói với các học viên nên nhân cơ hội bọn quan Tây, lính dõng đóng đồn dọc biên giới đang lơ là hưởng thụ, chúng ta trở về trong nước hoạt động. Còn Bác, khi trở về Pác Bó cũng lập tức bắt tay vào hàng trăm công việc nhằm củng cố căn cứ địa; biên soạn tài liệu huấn luyện cán bộ; soạn thảo đường lối cứu nước theo hướng chuyển sang đấu tranh vũ trang; xây dựng Điều lệ của Mặt trận Việt Minh… Các đồng chí cán bộ đi cùng Bác như: Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp, Lê Quảng Ba… ngỏ ý mời Bác nghỉ ngơi, vui Tết, đón Xuân cùng nhân dân, nhưng Người nói (đại ý): Người cách mạng thì phải “dĩ công vi thượng”, nay thời cơ cách mạng đang đến, đã là cán bộ thì không nên nghĩ đến Tết mà nên chuẩn bị lực lượng sẵn sàng để đón “mùa xuân hồi sinh” dân tộc.

Bác không cho phép mình nghỉ Tết nhưng lại yêu cầu đội ngũ cán bộ phải chăm lo cho đồng bào đón Tết thật vui vẻ, để đồng bào thấy được sự khác biệt giữa cái Tết khổ đau, buồn bã dưới hai tầng áp bức, bóc lột của bọn thực dân, phong kiến với không khí Tết trong vùng Việt Minh. Đồng chí Vũ Anh kể rằng, đồng bào vùng căn cứ địa Cao Bằng biết Bác không nghỉ Tết nên cử đoàn đại biểu các tổ chức cứu quốc đến tặng quà. Bác tìm hiểu, biết đồng bào có phong tục tặng lì xì (tặng tiền) đầu năm mới, nên đã phát động phong trào mỗi người tặng nhau một xu. Một xu lúc đó chỉ mua được tờ báo Việt Nam Độc lập. Từ đó, phong trào đọc báo và tuyên truyền các nội dung của báo Việt Nam Độc lập phát triển rộng khắp căn cứ địa.

Ảnh: internet

Ngẫm lại mới thấy, Bác làm gì cũng chỉ nghĩ đến một điều, mà Người gọi là “ham muốn tột bậc”: Độc lập, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân.

Sau này, khi đã là Chủ tịch nước, làm việc tại Thủ đô Hà Nội, Bác Hồ vẫn giữ thói quen ăn Tết như hồi ở căn cứ địa. Ngày Tết, Bác không hề nghỉ ngơi mà thường cùng một vài cán bộ thân cận, khi thì đi thăm bộ đội, khi lại đến thăm những gia đình nghèo khó, cũng có khi Người đóng cửa để chuẩn bị các văn bản lãnh đạo quan trọng. Cách đi thăm bộ đội, nhân dân trong dịp Tết của Bác thường là bí mật, không báo trước nên bao giờ, Người cũng biết được thực chất tình hình, từ đó lại có những chỉ đạo sâu sát, giải quyết những khó khăn, vướng mắc do thực tiễn cách mạng đặt ra.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ, từ ngày có Đảng đến nay, đã có hàng vạn, hàng triệu cán bộ, đảng viên đề cao tinh thần “dĩ công vi thượng”; quên mình vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Năm 1968, cả dân tộc lấy đêm Giao thừa làm thời gian hợp đồng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, buộc kẻ thù xâm lược phải ngồi vào bàn đàm phán, tạo nên sự chuyển biến chiến lược về thế và lực, từng bước hiện thực hóa mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Mùa xuân năm 2011, cái Tết Tân Mão đã cận kề nhưng trên địa bàn cả nước vẫn đang sôi nổi các hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. 1.377 đại biểu dự Đại hội XI đang là 1.377 báo cáo viên, nhanh chóng thông báo đến mọi đảng viên và nhân dân về tinh thần đổi mới toàn diện đất nước. Tất cả đang hối hả, hòa mình vào dòng chảy sôi động của sự nghiệp CNH, HĐH nước nhà. Tất cả đang hướng tới một mục tiêu duy nhất: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Thiết nghĩ, Tết này, kỷ niệm 70 năm ngày Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, 3,6 triệu đảng viên trên cả nước cũng nên có kế hoạch thực hiện một việc làm cụ thể nhằm thể hiện tinh thần “dĩ công vi thượng”. Đó là cách thể hiện tình yêu và lòng kính trọng sâu sắc đối với Bác Hồ kính yêu.

Hồng Hải

qdnd.vn

Xuân năm Thìn, Bác Hồ chúc Tết

Mùa Xuân Độc lập đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám 1945 – mùa Xuân Bính Tuất – là một mùa Xuân không thể nào quên được. Lần đầu tiên, cả nước được nghe Thơ chúc Tết của Bác Hồ là vào giao thừa năm 1946. Mọi người vẫn còn nhớ lời Bác nhắn gửi các chiến sĩ lúc bấy giờ đang chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam nước ta:

bacho1.jpgBác Hồ với các cháu thiếu nhi Hà Bắc khi Người về thăm và chúc tết đồng bào và bộ đội – Tết Đinh Mùi – tháng 2/1967

Bao giờ kháng chiến thành công.
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào.

Từ đó cho đến lúc Bác đi xa, đều đặn năm nào, Bác cũng có Thơ chúc Tết đồng bào. Và đã thành một tập quán mới, mỗi năm Xuân đến, mọi nhà, mọi người náo nức đón Thơ Xuân của Người.

Năm 1952, với 4 câu đầu trong Thơ chúc Tết Nhâm Thìn Bác đã củng cố niềm tin của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vào thắng lợi cuối cùng:

Xuân này, Xuân năm Thìn
Kháng chiến vừa 6 năm
Trường kỳ và gian khổ
Chắc thắng trăm phần trăm.

Bài Thơ chúc Tết được kết thúc bằng những lời dung dị, gần gũi với cái chất dân gian, dân tộc đã làm cho những vần thơ Xuân của Bác dễ dàng đi vào lòng người một cách tự nhiên:

Mấy câu thành thật nôm na
Vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân.

Xuân Giáp Thìn (1964), trong Thơ chúc mừng năm mới, Người nhắc nhở, giao nhiệm vụ cho nhân dân miền Nam, miền Bắc đoàn kết chiến đấu:

Nam Bắc như cội với cành,
Anh em ruột thịt đấu tranh một lòng.

Tiếp đến, Người khẳng định:

Rồi đây thống nhất thành công,
Bắc Nam ta lại vui chung một nhà…

Không ai ngờ chỉ năm năm sau, vào giao thừa Mậu Thân chuyển sang Kỷ Dậu (2/1969), đồng bào và chiến sĩ cả nước quây quần bên nhau chăm chú lắng nghe bài Thơ chúc Tết cuối cùng của Người truyền qua làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam:

Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay, tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do.
Đánh cho mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào.
Bắc – Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!

Năm ấy, Bác đã 79 tuổi, song lời thơ của Người vẫn thể hiện một ý chí sắt thép, một nghị lực phi thường. Lời thơ Xuân như hịch truyền cổ vũ cuộc đấu tranh cách mạng ngoan cường mà Hồ Chí Minh là ngọn cờ, là hồn thiêng sông núi.

Từ đó, hằng năm, đến giao thừa, ta không còn cái hạnh phúc được nghe giọng ấm cúng của Bác đọc Thơ Xuân mới nữa, nhưng âm vang hào hùng và sâu lắng trong những bài Thơ Xuân của Người vẫn rung động lòng ta mãnh liệt.

Cảm xúc khi nghe Thơ chúc Tết, mừng Xuân của Bác, nhà thơ Tố Hữu đã viết:

“Giọng của Người không phải sấm trên cao
Thấm từng tiếng, ấm vào lòng mong ước.
Con nghe Bác, tưởng nghe lời non nước
Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau…”

Bác đã sống mãi cùng với Thơ Xuân của Người. Và cứ mỗi khi Xuân về, Tết đến, những vần Thơ Xuân của Bác như vẫn còn văng vẳng bên tai chúng ta và mỗi chúng ta không khỏi bùi ngùi nhớ Người và thầm đọc:

“Bác ơi! Tết đến giao thừa đó
Vẫn đón nghe thơ Bác mọi lần.
Ríu rít đàn em vui pháo nổ
Tưởng nghìn tay Bác vỗ sang xuân”.

(Tố Hữu – Theo chân Bác)

 

* Đảng ta cần, cần người liêm khiết, nghĩa nhân, sáng tạo, siêng năng, chung thủy vì Dân xây sự nghiệp

* Dân ta trọng, trọng bậc hiền tài, đức độ, chuyên cần, năng nổ, sắt son tin Đảng dựng tương lai.

LÊ VĂN THƠM

baophuyen.com.vn

Thơ chúc Tết với tư tưởng đoàn kết của Bác Hồ

Những năm đất nước còn chiến tranh, những đêm giao thừa, giây phút thiêng liêng giao hòa của trời đất, mọi người mong đợi, lắng nghe Bác Hồ chúc tết qua vần thơ xuân. Thói quen ấy đến hôm nay, nhiều người vẫn muốn được tĩnh lặng để cảm nhận, như còn phảng phất vương quyện trong hương xuân ngày tết của toàn dân tộc.

Tính ra từ xuân 1947, toàn quốc kháng chiến tròn một năm đến xuân 1969 cả thảy là 18 lần nghe Bác đọc thơ chúc tết trên Đài tiếng nói Việt Nam kêu gọi đoàn kết kháng chiến của Bác với lời thơ mộc mạc, dễ hiểu, dễ nhớ:

Mấy lời thành thật nôm na
Vừa kêu gọi, vừa là mừng xuân

(Xuân 1964)

Hay là :

Năm mới quân dân ta có hai nhiệm vụ rành rành
Đẩy mạnh kháng chiến để dành độc lập tự do
Cải cách ruộng đất là công việc rất to
Dần dần làm cho người cày có ruộng, khỏi lo nghèo nàn

(Xuân 1954)

Càng ngẫm càng thấy cái mà Bác gọi là “nôm na”, “kêu gọi” ấy, ý tứ rất sâu xa, vừa là lời chúc, vừa chỉ ra nhiệm vụ cần tập trung thực hiện và bao giờ Bác cũng nhắc đến khối đại đoàn kết bởi đoàn kết là sức mạnh làm nên mọi thắng lợi.

Đoàn kết – đoàn kết – đại đoàn kết
Thành công –thành công -đại thành công ”
Tiến gần đến ngày khởi nghĩa giành chính quyền Bác chúc:
“ Chúc đồng bào ta đoàn kết mau
Chúc Việt Minh ta càng tiến tới

(Xuân 1942)

Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp vô cùng khó khăn gian khổ, Thơ Tết của Bác luôn động viên:

Chí ta đã quyết lòng ta đã đồng
Tiến lên chiến sĩ, tiến lên đồng bào

(Xuân Mậu Tý 1947)

Tết Quý Tỵ 1953, Bác chúc mừng:

Mừng toàn dân đoàn kết
Mừng kháng chiến thắng lợi

Những năm miền Bắc hòa bình xây dựng Chủ nghĩa xã hội làm hậu phương vững chắc cho miền Nam đẩy mạnh đấu tranh thống nhất, thơ chúc tết của Bác luôn động viên hai miền đoàn kết thi đua.

Chúc miền Bắc thi đua phấn khởi
Bốn mùa hoa Duyên hải -Đại Phong
Chúc miền Nam đấu tranh tiến tới
Sức triệu người hơn sóng biển Đông

(Xuân 1962)

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vô cùng khốc liệt, hơn nửa triệu quân Mỹ ồ ạt kéo vào miền Nam, máy bay, tàu chiến Mỹ hùng hổ đánh phá miền Bắc định đưa nhân dân ta trở về thời đồ đá- thơ chúc tết của Bác đều đặn, cổ vũ nhân dân hai miền quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược – ngay cuộc thử sức đầu tiên, chúng ta đã thắng to, Bác khen:

Mừng miền Nam rực rỡ chiến công
Nhiều Dầu Tiếng, Bầu Bàng, Plây me, Đà Nẵng …
Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng
Giặc Mỹ leo thang, ngày càng thua nặng”.

(Xuân 1966)

Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, hai miền Nam -Bắc đã được thể hiện rõ nét ở cuộc tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968 ngay sau lời chúc tết của Bác:

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên toàn thắng ắt về ta

Đặc biệt bài thơ chúc tết cuối cùng của Bác năm 1969 sẽ còn âm vang mãi trong lòng của những người đang sống và các thế hệ mai sau về lời tiên tri, lời dặn dò của Bác trước lúc đi xa:

Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào
Tiến lên chiến sĩ đồng bào
Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn

Đại thắng mùa xuân năm 1975, quân dân ta đã thực hiện trọn vẹn di chúc của Bác, Mỹ phải cút, Ngụy đã sụp đổ, một dải non sông đã thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà.

Học tập tấm gương đạo đức của Người qua những lời thơ chúc Tết, mừng Xuân, lời kêu gọi đại đoàn kết trong các vần thơ xuân, chúng ta càng thấy nhớ thương Bác và xin hứa với Bác:

Tết này vắng Bác đi xa
Chúng con vẫn hát bài ca kết đoàn
Bài ca vang vọng núi sông
Tay Bác bắt nhịp muôn lòng hòa theo./.

Phan Kế Toán

lagi.gov.vn

Những ngày Tết dân tộc của Bác Hồ

Mỗi khi Tết đến, xuân về, không một người Việt Nam nào lại không nhớ đến Bác Hồ – lãnh tụ vĩ đại của Cách mạng Việt Nam, Danh nhân văn hóa thế giới, Anh hùng giải phóng dân tộc đã suốt đời hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Vào những ngày Tết dân tộc, Người vẫn dành trọn các ngày nghỉ của mình để đi thăm và chúc Tết đồng bào, chiến sỹ.

Một bài thơ chúc tết của Bác Hồ

Đối với Bác, việc đi thăm và chúc Tết này đã thành nền nếp bởi Người cho rằng, đây là cơ hội tốt để hiểu được đầy đủ đời sống của người lao động, là niềm vui, hạnh phúc lớn của người “đầy tớ của nhân dân” khi được tiếp xúc và nghe họ nói về mơ ước, khát vọng và niềm tin của mình về một năm mới đang gõ cửa từng nhà. Đã không ít lần Bác tâm sự, là người dân của một nước bị thực dân đô hộ, Người phải ra đi tìm đường cứu nước từ những năm còn niên thiếu và bắt đầu từ làm phụ bếp trên tầu Latusơ Trêvin, đến làm vườn ở Xanh Ađretro và cào tuyết ở Luân Đôn… không biết đến ngày nghỉ lễ, tết, nên khi nước nhà đã độc lập càng thấy quý trọng những ngày Tết dân tộc. Tuy vậy, với Bác, hạnh phúc lớn nhất trong những ngày Tết này lại ở chỗ được chứng kiến không khí mọi người, mọi nhà đoàn tụ và tận hưởng niềm vui trước những thành quả lao động sau một năm làm việc vất vả.

Vì quan niệm về hạnh phúc đơn giản, nhưng sâu sắc ấy mà kể từ ngày Bác đọc Tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (trừ những năm ở chiến khu Việt Bắc) đến trước khi đi vào cõi vĩnh hằng, hầu như năm nào, Người cũng đi thăm và chúc Tết đồng bào, chiến sỹ. Chương trình này được Bác chỉ thị cho Văn phòng chuẩn bị ngay từ khi kết thúc năm Dương lịch và được Người đôn đốc, kiểm tra rất kỹ trong những ngày giáp Tết. Có những Tết, mặc dù sức khỏe rất yếu, nhưng Bác vẫn muốn được đi thăm nhiều nơi làm cho Văn phòng phải lúng túng khi sắp xếp chương trình và cuối cùng phải nhờ đến Thủ tướng Phạm Văn Đồng thuyết phục, Người mới chấp nhận một chương trình phù hợp với mình. Bác đến với các gia đình công nhân, viên chức: Nguyễn Đình Kỳ, Mai Đình Cường, Nguyễn Phú Lộc, Giáo sư Tôn Thất Tùng, cụ Phạm Văn Hoan (92 tuổi)… ngay trong thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới; đến với công nhân các nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo, Dệt kim Đông Xuân, nông dân các HTXNN Lỗ Khê (ngoại thành Hà Nội), Văn Phú (Hà Tây), cán bộ và chiến sỹ bộ đội phòng không và không quân ở sân bay Bạch Mai… ngay trong buổi sáng của ngày mồng một Tết. Bác mang theo mùa xuân của đất trời đến với mọi người, truyền thêm sức mạnh và lòng tin cho từng tập thể, người lao động vững bước vào năm mới với năng suất và hiệu quả mới.

Nhiều cuộc gặp gỡ giữa Bác với những người lao động, nhất là lao động nghèo, đã diễn ra đầy xúc động trong giờ phút đáng nhớ của năm mới. Đó là vào đêm giao thừa của Tết đầu tiên sau ngày Độc lập, Bác và đồng chí Thư ký cùng dò dẫm trong một ngõ tối của phố Sinh Từ đến thăm một người từ tỉnh khác về Hà Nội kéo xe không đủ tiền về quê ăn Tết. Bác đứng nhìn người kéo xe đang lên cơn sốt với tất cả sự thương cảm. Bác lặng lẽ đi ra và dặn Thư ký hôm sau mang thuốc, quà của Người đến thăm hỏi. Xe đi được một đoạn, Bác nói: “30 Tết mà không có Tết” như để nhắc nhở mình về trách nhiệm chăm lo Tết cho những người nghèo. Ngay sáng mồng một, Bác đã mời đồng chí Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội lên phê bình không thực hiện thư của Người về tổ chức Tết, làm cho nhiều gia đình không có Tết và yêu cầu đồng chí Chủ tịch phải sửa chữa ngay khuyết điểm này. Và Tết năm sau, hầu hết các gia đình nghèo đều được hưởng Tết do các đội tuyên truyền phối hợp với nhân dân đường phố vận động tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau.


Bác Hồ chúc tết. Ảnh: Tuấn Anh

Đêm giao thừa Tết Đinh Dậu (1957), Bác cùng đón Tết với gia đình anh Nguyễn Văn Tảo và 5 gia đình công nhân khác của nhà máy điện Yên Phụ tại khu lao động vừa được xây dựng trên bãi rác Nghĩa Dũng cũ. Đêm giao thừa, cả khu lao động như trong ngày hội với hai niềm vui lớn: được đón Tết trong các căn hộ mới ở khu lao động do nhà máy xây, có đủ điện, nước sinh hoạt và được vinh dự đón Bác đến thăm. Bác chỉ vào nồi bánh chưng đang sôi của gia đình anh Tảo và hỏi cụ thể số lượng bánh, thịt mà từng hộ đã lo được trong Tết này và cả những khó khăn về đời sống, việc làm hiện nay. Bác rất vui trước những tiến bộ về đời sống, nhất là nhà ở của công nhân nhà máy và thân mật nhắc nhở mọi người: “Thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Cố gắng thi đua làm việc và thực hành tiết kiệm”. Những điều Người căn dặn đã trở thành những câu chuyện có ý nghĩa cả trong các bữa ăn của từng gia đình.

Cảm động nhất là cuộc gặp giữa Bác với chị Nguyễn Thị Tín, một người gánh nước thuê ở ngõ 16 Lý Thái Tổ trong đêm 30 giá rét và mưa phùn của Tết Nhâm Dần năm 1962. Chồng mất sớm, một mình chị Tín gánh nước thuê lấy tiền nuôi 4 con còn nhỏ (đứa lớn nhất mới trên 10 tuổi) và đêm 30 này chị vẫn chưa được nghỉ. Với đôi thùng trên vai, chị vừa ra đến ngõ thì gặp Bác. Quá bất ngờ trước sự xuất hiện của Bác, đôi thùng trên vai chị rơi xuống đất. Tay chị run run nắm lấy bàn tay Bác và nói trong sự xúc động chen lẫn tiếng nấc nghẹn ngào:

– Cháu không ngờ lại được Bác đến thăm.

Bác vỗ vai an ủi chị:

– Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai…

Bước vào nhà, Bác nhìn căn phòng trống tuềnh toàng và trên bàn thờ tổ tiên chỉ có nải chuối xanh, trong khi 4 đứa con của chị đang chia nhau một gói kẹo, một nét buồn hiện lên trên khuôn mặt hiền từ của Người. Bác lấy kẹo chia cho các cháu và lấy chiếc bánh chưng được chuẩn bị sẵn đặt lên bàn thờ. Chị Tín đứng nhìn Bác trong khi hai hàng nước mắt vẫn lăn trên hai gò má xanh xao. Đối với chị, đây thật sự là hạnh phúc lớn và không gì có thể so sánh được mà Bác đã dành cho gia đình mình.

Hình ảnh gia đình chị Tín giữa Thủ đô Hà Nội sau những năm kháng chiến thắng lợi nay vẫn nghèo khổ gợi cho Bác nhớ lại người phu kéo xe đã gặp trong đêm giao thừa của Tết độc lập đầu tiên, làm cho nỗi buồn không vơi và theo Người suốt cả đêm giao thừa ấy.

Bác đến với những tập thể lao động không những chỉ mang ý nghĩa thăm hỏi, động viên, mà còn là dịp để Người chỉ ra phương hướng lớn về hành động của một năm mới vì mục tiêu phát triển của ngành và mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước. Những câu chuyện thân tình, cởi mở giữa Bác và công nhân các nhà máy: Cơ khí Hà Nội, Cơ khí Trần Hưng Đạo, Dệt kim Đông Xuân và Rượu Hà Nội vào đúng sáng mồng một Tết Tân Sửu (1961) đã làm cho Người rất vui khi được biết đời sống của công nhân ít nhiều đã được cải thiện. Tết này gia đình nào cũng có bánh chưng, có thịt và những người bám máy sản xuất được lãnh đạo nhà máy lo chu đáo về vật chất. Bác khuyến khích mọi người năm mới cố gắng hơn nữa, thi đua tăng năng suất và nâng cao chất lượng sản phẩm để năm tới công nhân và nhân dân ta ăn Tết vui hơn, phấn khởi hơn.

Đến với công nhân khu gang thép Thái Nguyên – công trình lớn đầu tiên của ngành công nghiệp gang thép non trẻ nước ta vào dịp Tết Giáp Thìn (1964), Bác hài lòng khi được chứng kiến không khí vui tươi, phấn khởi đón năm mới và mừng thành tích một năm lao động hết mình của những người lao động trên công trường. Bác khẳng định: “Cán bộ và công nhân có thể tự hào rằng sau hơn 3 năm lao động cần cù, tự tay mình đã ngăn sông, xẻ núi, xây dựng một khu gang thép to lớn đầu tiên của nước ta. Mọi người đã góp phần mình vào công nghiệp hóa XHCN…”. Bác nhấn mạnh: “Để làm ra gang thép tốt thì mỗi người công nhân và cán bộ phải tôi luyện tinh thần cách mạng, lập trường giai cấp và ý thức làm chủ phải cứng rắn như thép, như gang…”. Sâu sắc và chân lý biết nhường nào về những lời dạy của Bác trong những giờ phút thiêng liêng của năm mới đối với công nhân gang thép trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước hiện nay.

Đến Tết này là hơn 40 cái tết, những người lao động không được đón Bác đến thăm và chúc Tết, nhưng hình ảnh Bác cùng những lời dạy của Người từ những mùa xuân ấy vẫn sống mãi trong lòng những người thợ như những điều kỳ diệu của lòng tin, sự biết ơn làm nên sức mạnh để chúng ta cùng Người bước vào một năm mới tràn đầy sức xuân./.

baotanghochiminh.vn

Bài viết đầu tiên của Bác Hồ về Tết trồng cây

Cuối năm 1959, trong phong trào thi đua toàn dân lập thành tích mừng Đảng ta 30 tuổi vào Mùa xuân 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị tổ chức “Tết trồng cây” cùng với phong trào thi đua đó.

Bac_ho_trong_cay_OK

Ngày 28-11-1959, báo Nhân Dân số 2082 đã đăng bài viết “Tết trồng cây” của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh Trần Lực. Hơn một tháng sau, ngày 19-1-1960 báo Nhân Dân ra số 2133 lại đăng tiếp bài “Tết trồng cây đã thắng lợi bước đầu” với bút danh T.L. Đó là những bài viết đầu tiên của Người nhằm động viên toàn dân tham gia vào phong trào bảo vệ môi trường sống của con người. Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết rất nhiều bài động viên phong trào trồng cây của nhân dân ta. Tuy nhiên, ngay ở hai bài báo đầu tiên chúng ta cũng có thể hiểu tư tưởng của Người về việc con người phải ứng xử có văn hóa với thiên nhiên, để thiên nhiên tiếp tục phục vụ lợi ích cho con người. Một trong những biểu hiện văn hóa ấy là việc trồng cây, bao gồm cả cây hoa, cây ăn quả, cây lấy gỗ.

Ở bài viết đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích lợi ích trước mặt của việc trồng cây. Người viết: “…Mấy lâu nay các xí nghiệp, công trường, cơ quan, trường học, đơn vị bộ đội, hợp tác xã nông nghiệp… đang thi đua sôi nổi để lấy thành tích chúc mừng Đảng 30 tuổi… Bên đợt thi đua ấy, chúng tôi đề nghị tổ chức một ngày “Tết trồng cây”. Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều. Ý kiến của chúng tôi tóm tắt thế này: tất cả nhân dân miền Bắc mỗi người phụ trách trồng một hoặc vài cây và chăm sóc cho tốt. Miền Bắc ta có độ 14 triệu, trong số đó 3 triệu là trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ 8 tuổi trở lên đều có thể trồng cây. Mỗi Tết trồng được độ 15 triệu cây. Từ năm 1960 đến 1965 (là năm cuối cùng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất) chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa cây ăn quả, cây có hoa, vừa cây làm cột nhà… Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta…”.

Kêu gọi toàn dân tham gia trồng cây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã là người thực hiện trước. Ngày 11-1-1960, Người đã đến trồng cây doi tại Công viên Bảy Mẫu (nay là Công viên Thống Nhất). Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với nhân dân và cán bộ tham gia lao động, Người căn dặn phải trông nom, chăm sóc, bảo vệ cây trồng. Thủ đô Hà Nội tự hào là địa phương mở đầu phong trào “Tết trồng cây” trong cả nước.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trồng cây là biểu hiện cụ thể, thiết thực nhất của tấm lòng yêu thiên nhiên. Sinh thời, ở những nơi Người sống và làm việc, bất kỳ trong hoàn cảnh nào, thời chiến hay thời bình, ở nơi đó đất không bao giờ bị bỏ hoang mà luôn có rau xanh, hoa trái bốn mùa tươi tốt. Chúng ta có không ít những hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trồng rau, chăm sóc nương ngô ở Chiến khu Việt Bắc, Người cuốc đất trồng rau trong vườn Phủ Chủ tịch ở Hà Nội, Người trồng cây ở nhiều địa phương trên đất nước ta.

Cũng ở trong bài viết đầu tiên về “Tết trồng cây”, chúng ta thấy rõ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã là người đi trước thời đại, trong việc con người phải chủ động tác động để điều hòa khí hậu của thiên nhiên. Người nói rằng, chính việc trồng cây cũng sẽ làm cho nước ta “phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hòa hơn”. Lời nói của Người từ vấn đề bảo vệ môi sinh và môi trường đang là vấn đề không chỉ riêng đối với một quốc gia nào.

Mọi người đều biết thế giới hiện tại đang đứng trước một thảm họa sinh thái do sự phát triển các hệ thống kinh tế theo chiều rộng, do tác động độc hại của các chất thải công nghiệp, do sự khai thác có tính chất hủy diệt các tài nguyên thiên nhiên và do sự thoái hóa về đạo đức của một xã hội tiêu thụ. Chính trong bối cảnh cuộc đấu tranh chống thiên tai, cuộc chiến đối phó với sự biến đổi của khí hậu hiện nay chúng ta càng thấy giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về sự tác động của con người đối với thiên nhiên. Phong trào trồng cây mà Người phát động từ hơn nửa thế kỷ trước suy cho cùng đó chính là biểu hiện cụ thể tình yêu của con người đối với thiên nhiên, cũng là trách nhiệm của con người đối với nền văn hóa, văn minh của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng, phát động phong trào và là người tích cực tham gia phong trào trồng cây. Người còn luôn quan tâm theo dõi, động viên, duy trì phong trào đạt hiệu quả thiết thực; đồng thời kịp thời uốn nắn để phong trào trồng cây không “đầu voi đuôi chuột”, không chạy theo hình thức, không chạy theo số lượng. Trong bài viết “Tết trồng cây đã thắng lợi bước đầu” đăng trên báo Nhân Dân ngày 19-1-1960, Người đã nêu gương một số địa phương làm tốt việc vận động nhân dân tham gia phong trào, bên cạnh đó Người không quên nhắc nhở phải “xem trọng chất lượng” tức là trồng cây nào ăn chắc cây ấy, không nên tham trồng quá nhiều mà không ra sức bảo vệ và trông nom cây. Trong bài viết này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị phải duy trì phong trào trồng cây cùng với kế hoạch trồng cây rừng của Nhà nước một cách “liên tục, bền bỉ và vững chắc”.

Tết Nguyên Đán Canh Tý 1960 là Tết đầu tiên nhân dân ta hưởng ứng lời kêu gọi “Tết trồng cây” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó cũng là Tết mở đầu một tập quán tốt đẹp của nhân dân ta trong mỗi dịp vui Tết đón xuân. Chúng ta đã có các phong trào “Tết trồng cây”, “Tết trồng cây vì miền Nam ruột thịt”, “Tết trồng cây đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, rồi đến ngày nay chúng ra có “Tết trồng cây làm theo lời Bác”, “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” là những dấu ấn đậm nét về quyết tâm làm theo lời Bác của nhân dân ta.

Lúc sinh thời, năm nào Bác Hồ cũng tham gia “Tết trồng cây”, Người viết nhiều bài động viên phong trào và Người đã thưởng hàng trăm huy hiệu của Người cho những tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào trồng cây nói chung, và “Tết trồng cây” nói riêng. Cây đa Bác Hồ trồng vào mùa xuân cuối cùng của cuộc đời năm 1969 ở đồi Vật Lại, huyện Ba Vì, Hà Nội và hàng chục cây đa Người đã trồng ở nhiều địa phương trên miền Bắc không chỉ là những kỷ niệm thiêng liêng, mà còn là những dấu ấn sâu sắc về tư tưởng của một Nhà Văn hóa kiệt xuất.

Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân

Câu thơ ấy đã đi vào lòng mỗi người dân Việt Nam. Mỗi độ xuân về, nhân dân cả nước lại nô nức cùng nhau đi trồng cây để bảo vệ thiên nhiên, môi trường sống và để tưởng nhớ về một con người vĩ đại – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

TS Nguyễn Thị Tình – Nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

hoidisan.vn

Những bài thơ chúc Tết của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh có lẽ là vị lãnh tụ của một đất nước duy nhất trên thế giới thường xuyên có thơ Xuân, thơ chúc Tết vào mỗi dịp Tết cổ truyền của dân tộc.

Những bài thơ chúc Tết của Bác Hồ Bác Hồ nói chuyện với các cháu thiếu nhi trong dịp Người về thăm, chúc Tết đồng bào Hà Tĩnh (Xuân Đinh Mùi – 1967). (Ảnh: Tư liệu)

Kể từ bài thơ chúc Tết đầu tiên khi Người trở về nước sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước năm 1942 cho đến lúc ra đi, Người đã sáng tác tổng cộng 24 bài thơ chúc Tết. Dễ nhớ, dễ thuộc là điều dễ nhận thấy trong các bài thơ chúc Tết của Bác, nhưng điều khiến cho mỗi bài thơ Tết của Bác trở lên đặc biệt hơn những lời chúc Tết thông thường là bởi đó không chỉ là tấm lòng của Bác với nhân dân, đất nước mà còn là lời hiệu triệu, cổ vũ, động viên và cả sự tiên đoán thần kỳ tiền đồ tươi sáng của cách mạng.

Có một món quà luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh dành tặng đồng bào mình vào mỗi dịp Tết cổ truyền, đó là những bài thơ chúc Tết giản dị nhưng rất đỗi thân thương của Người. Mỗi bài thơ không chỉ là sự tổng kết thành quả của cách mạng trong năm cũ mà còn là chỉ dẫn cho những chặng đường tiếp theo của cách mạng. Bài thơ chúc Tết năm 1969 cũng là bài thơ chúc Tết Người đã tự đọc – món quà cuối cùng cũng lời tiên đoán thần kỳ về con đường giải phóng đất nước trước lúc Người đi xa.

Nghệ sỹ Linh Nhâm, nguyên diễn viên đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị, người từng ngâm thơ Bác xúc động nhớ lại, kỷ niệm lớn nhất trong cuộc đời của bà chính là được ngâm những bài thơ chúc Tết của Bác. Ở vào cái tuổi xưa nay hiếm, người nghệ sỹ gạo cội vẫn không thể giấu được xúc động khi nhớ đến giây phút ngâm bài thơ chúc Tết cuối cùng của Bác trên sóng phát thanh Đài Tiếng nói Việt Nam Tết năm ấy.

“Bài thơ Xuân 1969 của Bác là bài thơ gắn với kỷ niệm rất sâu sắc mà tôi đang biểu diễn ở Hải Phòng được triệu về để ngâm bài thơ cuối cùng của Bác. Tất cả các bài thơ mà tôi đã được ngâm thơ của Bác tôi đều rất trân trọng, từng câu, từng chữ của Bác đều là những hiệu lệnh, những lời kêu gọi của Bác với Tổ quốc”, nghệ sỹ Linh Nhâm nói.

Từ bài thơ chúc Tết đầu tiên viết trên chiếc bàn đá ở Hang Pắc Pó (Cao Bằng) cho đến lúc về cõi vĩnh hằng, Người đã viết tổng cộng 24 bài thơ Xuân, thơ chúc Tết. Những bản thảo còn lưu giữ tại bảo tàng Hồ Chí Minh cho thấy, viết mỗi bài thơ Người cũng dày công và kỹ lưỡng như thế nào. Có thể vì thế, những bài thơ chúc Tết của Người luôn vượt qua khuôn khổ những bài thơ chúc Tết đơn thuần.

Bà Nguyễn Thúy Đức, Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh chia sẻ: “Tôi có nhớ câu nói của một nhà cách mạng Cuba về Bác là: Bác Hồ lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chính bằng thơ. Tiếc thay, kẻ thù của dân tộc Việt Nam lại không đọc những vần thơ đó. Đấy là điều có lẽ rất đặc biệt, đặc biệt chính là lãnh đạo bằng thơ. Nếu như chúng ta phân tích và hiểu thì thấy rằng lãnh đạo bằng thơ không chỉ là chất thép của người chiến sỹ, mà còn là cái gì đó rất đỗi dung dị, nhân văn của một con người, của một dân tộc”.

Những mùa xuân kháng chiến của dân tộc dường như luôn có sự khởi đầu bằng những vần thơ chúc Tết của Bác… Thành quả cuối cùng của sự nghiệp giải phóng dân tộc đã không nằm ngoài sự tiên đoán trong bài thơ chúc Tết cuối cùng của Người. Đó là khi Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn!

Tác giả : Quang Đông

vtv.vn

Nhớ Tết cuối cùng của Bác Hồ

Năm nay, tròn 40 năm Bác Hồ đi xa. Tết cuối cùng của Bác cũng là cái Tết Bác làm bài thơ Xuân cuối cùng.,. TS giới thiệu bài viết của TS Trần Viết Hoàn, nguyên là cảnh vệ của Người.

Theo truyền thống dân tộc, mỗi khi Xuân về, trong phút giao thừa của năm cũ và năm mới, ta cảm ơn trời đất Việt Nam đã cho ta tiết trời xuân tươi đẹp. Ta đón Xuân, mời Xuân, mừng Xuân, đưa Xuân vào tâm hồn ta để thêm ấm tình yêu thương đồng bào, quê hương, bạn bè, bà con láng giềng…

Từ Xuân năm 1942, ta cảm ơn Bác Hồ đã cho ta những phút giây thiêng liêng nhưng đầy tình thân ái: nhân năm mới, nhân Tết cổ truyền của dân tộc, Bác Hồ gửi tới mỗi người, mỗi gia đình những vần thơ chúc Tết với những tư tưởng, tình cảm sâu sắc. Và, cũng bắt đầu từ đây, vào ngày cuối cùng của năm cũ, ai nấy đều mong phút giao thừa tới để được nghe thơ chúc Tết của Bác – những vần thơ rung động mọi con tim.

Ngày 16/2/1969 (mồng 1 Tết), Bác Hồ trồng cây ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) nhân Tết Kỷ Dậu.

Thơ chúc Tết của Bác Hồ được viết rất giản dị nhưng hàm súc, thể hiện rõ ràng đường lối cách mạng, bộc lộ sâu sắc lòng yêu nước, yêu dân, tin dân, tin cách mạng, tin vào thắng lợi, mang tính thời sự nóng hổi, bức thiết, rất giàu tình cảm và đậm đà bản sắc dân tộc. Những vần thơ chúc Tết năm 1969 của Bác cho chúng ta được hưởng lại những tình cảm ấy của Người.

Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào.
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,
Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn“.

Ngày 28/2/1969, tiếp đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc, Người nói:

“Thưa các cụ, các cô, các chú, trong thơ chúc Tết năm nay, tôi có nói là:

Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào
Bắc – Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!

Trong lúc viết thì như thế, tôi cũng không chắc là câu thơ đó được thực hiện sớm trong năm nay. Hôm nay, bác sĩ Phùng Văn Cung cùng phái đoàn ra đây, đồng bào miền Bắc rất sung sướng. Để hoan nghênh phái đoàn miền Nam ruột thịt, thì nói mấy trăm câu, mấy nghìn câu, mấy vạn câu cũng không thể hết được. Tôi xin phép chỉ nói một câu thôi:

Bao giờ Nam Bắc một nhà,
Việt Nam đại thắng chúng ta vui mừng”.

Mỗi độ Xuân về, Tết đến, Bác Hồ chẳng những gửi thơ chúc Tết đến toàn dân, mà Người còn đi thăm, chúc Tết đồng bào, chiến sĩ ta. Từ Tết Đinh Mùi (1967), do sức khỏe có phần giảm, Bác Hồ đề nghị Bác Tôn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng thay Bác đi thăm, chúc Tết nhân dân.

9h45 ngày 6/2/1969, trong phòng khách nhỏ ở Phủ Chủ tịch, Bác Hồ đọc lời chúc mừng năm mới. Đài Tiếng nói Việt Nam đến thu thanh

Đến Tết Kỷ Dậu (1969), có lẽ linh cảm đây là cái Tết cuối cùng của mình nên dù sức khỏe giảm sút nhiều, Bác Hồ vẫn đặt chương trình đi thăm, chúc Tết nhiều nơi và đi trồng cây.

Để không ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của Bác, các đồng chí ở văn phòng phục vụ Bác đã khéo sắp xếp theo mong muốn của Bác là đi thăm, chúc Tết và trồng cây. Sáng ngày 16/2/1969 (tức ngày mồng 1 Tết Kỷ Dậu), Bác đi thăm bộ đội Quân chủng Phòng không – Không quân ở Bạch Mai và đến đồi trồng cây “Đón Bác Hồ” và trồng cây đa ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì.

Nói chuyện và chúc Tết nhân dân địa phương, Bác nói: “Các cụ thì biết chuyện cũ, chuyện mới nhưng các cháu ngày nay chỉ biết chế độ dân chủ cộng hòa. Đất nước bây giờ là của ta, cho nên cần phải thi đua sản xuất giỏi, trồng cây giỏi“.

Những người trực tiếp phục vụ Bác Hồ có kể lại rằng, hôm ấy, trồng cây xong đã gần trưa, đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã đã xin mời bác ăn bữa cơm Tết cùng địa phương. Bác bảo, Bác cảm ơn, vì những người giúp việc đã chuẩn bị cơm cho Bác rồi. Và Bác mời đồng chí Bí thư, Chủ tịch, chị Phó Chủ tịch xã sang ăn cơm cùng Bác.

Việc Bác không ăn cơm với xã có nguyên do. Chả là lần Bác về thăm tỉnh Hưng Yên, lãnh đạo tỉnh mời Bác ăn cơm, Bác nhận lời. Nhưng rồi sau đó tỉnh có làm bản thanh toán tài chính ghi rõ: “Thịt một con bò”.

Từ đó mỗi khi về địa phương làm việc, Bác thường ăn cơm từ nhà mang theo để tránh tiếng, như Bác đã nói: Hôm đó về thăm, Bác ăn có vài miếng thịt bò mà họ quyết toán chiêu đãi Bác cả con bò; Hay, Bác Hồ về thăm cũng làm một bữa cơm sang, cũng điều người này người khác từ giao tế sang, chuẩn bị cả buổi, như thế Bác Hồ bao che cho cái chuyện xôi thịt. Và sáng mồng 1 tết Kỷ Dậu năm 1969, Bác cũng không để có ngoại lệ.

Đây là lần cuối cùng và là cây cuối cùng Bác trồng để gieo mầm cho sự sống đời sau, và cũng là bữa cơm ngày tết cuối cùng của Bác khi về địa phương.

Cũng trong dịp Tết trồng cây năm Kỷ Dậu ấy, Bác Hồ đã thưởng huy hiệu của Người cho những cụ già có thành tích xuất sắc trong phong trào trồng cây gây rừng. Đây là những người cuối cùng được nhận huy hiệu của Bác về phong trào Tết trồng cây: cụ Trần Văn Cựu, xã Đức Lập, Đức Thọ, Hà Tĩnh; cụ Kiều xã Tứ Mỹ, Quảng Bình; cụ Trương Đình Gióng, xã Yên Tiến, Ý Yên, Nam Định; cụ Dương Thị Na, hợp tác xã Ức Sơn, xã Hương Sơn, Phú Bình, Thái Nguyên.

Xuân mới, lịch mới năm Kỷ Sửu 2009 tới, ôn lại những vần thơ chúc Tết năm Kỷ Dậu 1969 của Bác, những việc làm, tình cảm ở những ngày xuân cuối cùng của Người dành cho mỗi chúng ta, để mỗi chúng ta “sắp đặt kế hoạch hoạt động sống còn cho cả năm” với khẩu hiệu “Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, đó là kế hoạch vừa là thực hiện cuộc vận động lớn của Đảng “Học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, vừa là hành động thiết thực kỷ niệm 40 năm thực hiện di chúc của Bác Hồ (1969-2009).

Thế là “năm mới thì người ta có những cuộc vui vẻ sung sướng cho xứng đáng với Xuân và để mừng Xuân” đúng như điều “Chào Xuân” của Bác.

TS. Trần Viết Hoàn (nguyên Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch)
Việt Báo (Theo_VietNamNet)

Những đêm giao thừa Bác đến với người nghèo

Xuân Tân Tỵ, năm 1941, Bác mới được đặt chân trở về giữa lòng Tổ quốc thân yêu sau đúng 30 năm trời ra đi tìm đường cứu nước (1911-1941). Hành trang theo Bác trở về vẻn vẹn chỉ có một chiếc va ly xách tay bằng mây, trong đựng hai bộ quần áo đã cũ và tập tài liệu Con đường giải phóng tập hợp những bài giảng trong lớp huấn luyện ở Nậm Quang (Quảng Tây, Trung Quốc) do Bác phụ trách vừa mới kết thúc trước Tết mấy hôm.

Tấm thiệp chúc tết cuối cùng của Bác Hồ

Mùa Xuân năm ấy, từ hang Pác Bó đã ra đời một bài thơ xuân tuyệt đẹp của Bác Hồ:

“Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lênin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà”

Chỉ hơn bốn năm sau, ngày 2-9-1945, sơn hà của Tổ quốc đã được thu về một mối, từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau. Hồ Chí Minh trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Và mùa Xuân độc lập đầu tiên, Xuân Bính Tuất năm 1946 đã trở về trên toàn cõi đất nước với một sắc màu khác lạ làm gợi nhớ đến một thời Nghiêu Thuấn xa xưa. Vào thời khắc mọi gia đình quây quần bên nhau chuẩn bị đón giao thừa thì vị Chủ tịch nước xắn quần, bước thấp bước cao đến các ngõ hẻm ở phố Sinh Từ, phố Hàng Lọng… để được chính mắt nhìn thấy cảnh Tết vừa, Tết nghèo của bà con lao động Hà Nội mới vừa thoát khỏi ách thực dân phong kiến.

Chính trong cuộc “vi hành” đêm Ba mươi Tết của mùa Xuân độc lập đầu tiên đó, Bác Hồ đã chứng kiến cảnh gia đình một người đạp xích lô “Tết mà không có Tết” ngoài một nén hương đang cháy dở trên bàn, còn chủ nhà thì đang đắp chiếu nằm mê mệt vì ốm. Bác đã xúc động lấy khăn lau nước mắt, lặng lẽ bước ra khỏi nhà, bảo đồng chí thư ký ghi lại địa chỉ để hôm sau báo cáo cho đồng chí Chủ tịch Hà Nội biết.

Cũng đêm Ba mươi Tết Bính Tuất đó, đúng giờ giao thừa, khi Đài Tiếng nói Việt Nam truyền khi khắp đất nước lời chúc mừng năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì chính Người lại đang vui Xuân cùng nhân dân ở đền Ngọc Sơn, trong vai một cụ già cùng cháu đi hái lộc.

Lần đầu tiên nhân dân Hà Nội, nhân dân cả nước, được hưởng một mùa Xuân mới mẻ, giao thừa nghe đọc thư chúc Tết của Bác Hồ:

“Hỡi đồng bào cả nước!

Hôm nay là mùng một Tết năm Bính Tuất, ngày Tết đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tôi thay mặt Chính phủ chúc đồng bào năm mới muôn sự tốt lành” .

Cuối thư là một bài thơ ngắn:

Trong năm Bính Tuất mới
Muôn việc đều tiến tới
Kiến quốc chóng thành công
Kháng chiến mau thắng lợi

Kể từ mùa Xuân đầu tiên đó, suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, mỗi lần Tết đến, Xuân về, Bác lại nghĩ đến dân, lo sao cho dân có một mùa xuân ấm no, hạnh phúc. Thường thì trước Tết ba tháng, Bác đã nhắc các cơ quan, các ngành chuẩn bị Tết cho dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc. Tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới, nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp “Chúc Mừng Năm Mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo xa xôi và cán bộ công tác ở nước ngoài.

Và cuối cùng là một chương trình đi thăm dân không thể thiếu đối với Bác, một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

Tối Ba mươi Tết năm 1960, Bác đến thăm gia đình mẹ con chị Tín, một lao động nghèo ở phố Hàng Chĩnh, Hà Nội. Chiều mùng hai Tết năm 1961, Bác đến Văn Miếu dự buổi bình thơ Xuân của các cụ. Mùng hai Tết năm 1962, Bác đến thăm các cháu học sinh miền Nam ở Hải Phòng. Chiều 29 Tết năm 1963, Bác cải trang thành một cụ già theo cháu đi chợ hoa và chợ Đồng Xuân… Tất cả đều bí mật bất ngờ và do đó bao giờ cũng tạo hiệu quả lớn.

Như Tết năm 1960, nếu Bác chỉ đến thăm các gia đình theo chương trình của các cơ quan đã bố trí thì làm sao Chủ tịch nước biết được gần đến giao thừa rồi mà chị Tín vẫn còn phải đi gánh nước thuê đổi gạo để sáng mai mùng một Tết có cơm ăn cho bốn đưa con của mình. Gặp Bác, chị Tín xúc động để rơi cả đôi thùng gánh nước xuống đất, run run cầm lấy bàn tay của Bác:

– Cháu không ngờ lại được Bác đến thăm…

Chỉ nói được vậy, chị đã oà lên khóc nức nở.

Vị Chủ tịch nước đã an ủi chị:

– Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai…

Và Bác đã vào nhà thăm hỏi khá lâu năm mẹ con chị Tín. Gọi là nhà nhưng đâu có phải là nhà mà là một cái chái như một túp lều. Chồng chị Tín là công nhân khuân vác ở bến Phà Đen đã mất cách đó bốn năm, còn chị thì cho đến lúc này vẫn chưa có việc làm ổn định. Cảnh nghèo của gia đình đã phũ phàng hiện ra trước mắt Bác. Trên chiếc bàn gỗ mục chỉ có một nải chuối xanh và một gói kẹo. Đúng là “Ba mươi Tết mà không có Tết”. Cách đây 15 năm, Tết độc lập đầu tiên, Bác đã đau lòng chứng kiến cảnh một gia đình “Tết mà không có Tết” ở ngõ hẻm Sinh Từ. Đó là khi đất nước mới thoát khỏi vòng nô lệ. Còn bây giờ, kháng chiến đã thắng lợi, hoà bình đã sáu năm, mà lại còn cái cảnh này sao? Không phải ở đâu xa mà ở ngay Thủ đô Hà Nội… Vậy còn bao nhiêu gia đình như thế này ở khắp mọi miền đất nước? Cứ ngồi nghe báo cáo thì đâu cũng là no ấm, tươi vui…

Đêm ấy, trên đường về, ngồi trên xe, Bác Hồ trầm ngâm suy nghĩ. Vẻ đăm chiêu thoáng hiện trên gương mặt của Người. Bác đã từng tâm sự với các đồng chí phục vụ: “Một ngày dân chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, các cháu chưa được học hành, mọi người còn khổ thì Bác ăn không ngon, ngủ không yên”.

Về đến nhà, các đồng chí Bộ Chính trị đang chờ Bác để chúc mừng năm mới. Mọi người băn khoăn khi thấy Bác không vui. Bác kể lại hoàn cảnh gia đình chị Tín cho mọi người nghe. Cuối câu chuyện Bác nói “Ta có chính quyền trong tay, nhưng chính quyền đó chưa thực sự là do dân, vì dân. Một số lãnh đạo các địa phương còn quan liêu và nặng về hình thức. Họ không chịu đi sâu, đi sát quần chúng, nên phục vụ quần chúng chưa tốt. Nếu chúng ta chỉ nghe báo cáo của họ thì sẽ không bao giờ nắm được chính xác tình hình để có chủ trương, nghị quyết đúng đắn. Đảng quan liêu, chính quyền quan liêu, thực sự là một nguy cơ đối với đất nước chúng ta.

Vũ Kỳ – Thư ký Bác Hồ kể chuyện.

VIỆT NAM – HỒ CHÍ MINH