Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế – Phần 2

II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN TỘC
VÀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC CÁC NƯỚC THUỘC ĐỊA, PHỤ THUỘC

Một trong những cống hiến quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức trên thế giới là tư tưởng của Người về dân tộc và giải phóng dân tộc.

1. Nhận thức của Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa, phụ thuộc.

Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước xuất phát từ mong muốn giải phóng đồng bào mình khỏi sự thống trị của thực dân Pháp. Trong cuộc hành trình qua các nước thuộc địa và phụ thuộc, anh đã nhìn thấy cuộc sống và nguyện vọng của các dân tộc này, có nhiều điều giống với nhân dân Việt Nam. ý thức về sự sống còn và phát triển các dân tộc, về giải phóng các dân tộc bị áp bức đã dần dần hình thành ở Nguyễn Tất Thành. Vấn đề “dân tộc” từ lâu đã được đặt ra trong lịch sử xã hội loài người và bao giờ cũng là một trong những vấn đề phức tạp nhất, chưa được giải quyết tốt đẹp. Vì vậy, trong quá trình hình thành chủ nghĩa xã hội khoa học, C. Mác và Ph. Ǎngghen đã chú ý đến vấn đề dân tộc. Tiếp nhận có chọn lọc những quan điểm tiến bộ của các nhà tư tưởng, chính trị trước đó, hai ông đã sử dụng hai thuật ngữ “dân tộc” và “xã hội”, những thuật ngữ này được phổ biến rộng rãi vào đầu thế kỷ XIX theo nghĩa “xã hội công dân”. Thực ra, Mác và Ǎngghen cũng mới chỉ nghiên cứu sự hình thành các hình thức dân tộc trong sự phát triển của xã hội vào thời kỳ tư bản chủ nghĩa, chứ chưa nêu định nghĩa về “dân tộc”.

Nhưng, chính các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội đã nhấn mạnh tính chất lịch sử của các cộng đồng dân tộc, vai trò của nhân tố kinh tế, ảnh hưởng của tư tưởng quốc tế vô sản và dân tộc chủ nghĩa đối với quá trình hình thành và phát triển mối quan hệ giữa các dân tộc. Các ông cũng nêu ý nghĩa quan trọng của việc cộng đồng ngôn ngữ, lãnh thổ, ý thức, tính cách tâm lý trong quá trình hình thành và phát triển của các dân tộc. V.I. Lênin khi nghiên cứu lý luận về “dân tộc” và các “quan hệ dân tộc” đã bổ sung cho nội dung các khái niệm “dân tộc”, “cộng đồng dân tộc”, và khẳng định rằng dân tộc không phải là cái tồn tại từ lâu đời, không thay đổi mà là cộng đồng kinh tế – xã hội của con người được hình thành trong lịch sử. Trong điều kiện “đế quốc Nga là nhà tù của các dân tộc”, V.I. Lênin và Đảng Cộng sản (b) Nga đã đề ra một cương lĩnh dân tộc với các nguyên tắc:

– Bình đẳng và chủ quyền của các dân tộc dù lớn hay nhỏ.

– Quyền tự quyết của các dân tộc, kể cả việc tách khỏi Liên bang để thành lập các quốc gia riêng, độc lập.

– Quyền tự do phát triển về mọi mặt của các dân tộc.

– Sự đoàn kết của giai cấp vô sản, của tất cả các dân tộc. V.I. Lênin chưa nêu định nghĩa về dân tộc, mặc dù ông đã đề cập đến “dân tộc có lãnh thổ” và các “dân tộc không có lãnh thổ”.

Như vây, C. Mác, Ph. Ǎngghen, V.I. Lênin đã đề cập đến các “dân tộc áp bức” và “dân tộc bị áp bức” và cho rằng gần 70% dân cư trên quả đất thuộc về dân tộc bị áp bức. Các ông đã phân chia các nước trên thế giới ra hai loại: “chính quốc” và “thuộc địa”. Ph. Ǎngghen còn nêu luận điểm nổi tiếng “một dân tộc đi áp bức những dân tộc khác thì không thể có tự do”. Trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc, V.I. Lênin đã phát triển khẩu hiệu chiến đấu của C. Mác “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!” thành “Vô sản các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”. Tuy nhiên, các tác giả kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin vẫn chưa đặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đúng vị trí của nó trong phong trào cách mạng thế giới, vì trọng tâm sự chú ý của các ông còn nghiêng về cuộc cách mạng vô sản ở các nước đế quốc chủ nghĩa.

Nguyễn Tất Thành khi ra đi tìm đường cứu nước chưa hề biết một luận điểm nào của C. Mác, V.I. Lênin. Nhưng Người nung nấu ý thức giải phóng dân tộc và đã có hiểu biết cụ thể về tình cảnh, nguyện vọng các dân tộc thuộc địa nên dễ tiếp nhận các quan điểm của Mác, Lênin. Hơn nữa, còn vận dụng sáng tạo và phát triển những quan điểm ấy trong thực tiễn đấu tranh. Như đã nói ở phần I, từ những điều trông thấy ở quê hương, trong nước, với một số hiểu biết ban đầu về thế giới qua các bài học ở nhà trường phổ thông, Nguyễn Tất Thành trong hành trình tìm đường cứu nước đã thấy nhiều nghịch cảnh giữa người giàu và người nghèo không chỉ ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, mà ngay cả ở những nước đế quốc giàu có. Sự phân biệt giữa nhân dân lao động với bọn áp bức bóc lột diễn ra ở khắp nơi, khốn khổ nhất vẫn là tình cảnh các dân tộc thuộc địa. Bức tranh về sự bất công xã hội diễn đi diễn lại nhiều lần, gây một ấn tượng sâu sắc, mạnh mẽ ở Nguyễn Tất Thành và trở thành cơ sở thực tiễn cho việc tiếp thu chủ nghĩa Lênin.

Bước ngoặt lớn trong sự chuyển biến tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc là khi Người đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I. Lênin. Điều này thể hiện trước hết ở nhận thức đúng đắn về những vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc. Đây là vấn đề đã từng gây ra cuộc đấu tranh rất cǎng thẳng giữa những người bônsêvích, do Lênin đứng đầu, với những lãnh tụ của Quốc tế thứ hai trong dự thảo Luận cương. Trong báo cáo trình bày tại Đại hội, V.I. Lênin đã đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc. Điều này không chỉ nhằm mục dích tập trung lực lượng đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc tǎng cường bóc lột nhân dân các nước bị chúng xâm chiếm, mà còn để chống lại những luận điểm của một số người lãnh đạo Quốc tế thứ hai về vấn đề thuộc địa và nhiều khuynh hướng sai lầm khác. V.I. Lênin thừa nhận Quốc tế thứ hai đã đề cập đến vấn đề thuộc địa trong Tuyên bố đại hội Badên, song trên thực tế không có đảng nào của Quốc tế thứ hai hành động thiết thực ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc.

Các Đảng xã hội – dân chủ lại ủng hộ đường lối của giai cấp tư sản nước mình đối với việc thống trị các thuộc địa. Lênin vạch rõ nguyên nhân của hiện tượng này là do tầng lớp tư sản quý tộc – chỗ dựa của các Đảng xã hội – dân chủ, đảng nắm quyền lãnh đạo về tổ chức và chính trị – được hưởng một phần lợi nhuận mà giai cấp tư sản đã bòn rút của nhân dân thuộc địa. Ngoài ra, Lênin còn đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống việc “lấy chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa hoà bình tiểu tư sản thay cho chủ nghĩa đế quốc …, chống những thành kiến dân tộc chủ nghĩa tiểu tư sản thâm cǎn cố đế nhất”.

Những vấn đề nêu trên là những vấn đề “có ý nghĩa trọng đại nhất” và “trở thành bức thiết” lúc bấy giờ, thu hút sự quan tâm của các dân tộc thuộc địa, của nhiều nhà yêu nước, trong đó có Nguyễn ái Quốc. Nội dung của Luận cương… vừa có sức mạnh khái quát trong 12 điểm, vừa rất cụ thể về sự cần thiết phải liên kết chặt chẽ phong trào cách mạng ở chính quốc với phong trào cách mạng ở thuộc địa để đấu tranh chống bọn đế quốc thực dân và phong kiến. Luận cương nhấn mạnh nhiệm vụ của các đảng cộng sản phải giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Toàn vǎn bản Luận cương đã tác động mạnh mẽ đến Nguyễn ái Quốc song những vấn đề sau đây có lẽ gây cho Người ấn tượng sâu đậm nhất. Điểm (3) của Luận cương nêu rõ chiến tranh thế giới thứ nhất, việc ký kết Hoà ước Vécxây của “các nước dân chủ phương Tây” làm cho “tất cả các dân tộc và các giai cấp bị áp bức trên toàn thế giới thấy được một cách hết sức sáng tỏ tính chất giả nhân giả nghĩa trong những lời nói của bọn dân chủ tư sản” và bọn đế quốc.

Những lời chỉ dẫn của V.I.Lênin cùng với kết quả thực tế của việc gửi Bản yêu sách 8 điểm đến Hội nghị Vécxây giúp cho Nguyễn ái Quốc nhận thức đúng đắn bản chất của “chủ nghĩa Uynxơn”. Điểm (4) của Luận cương giúp cho Nguyễn ái Quốc hiểu rõ ý nghĩa của sự đoàn kết giữa “những người vô sản và quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc”. Theo Lênin, đây là điều kiện đảm bảo cho việc thắng lợi của cuộc đấu tranh “thủ tiêu sự áp bức dân tộc và tình trạng bất bình đẳng…”. Có lẽ điểm (5) của Luận cương đã gây cho Nguyễn ái Quốc xúc động mạnh mẽ nhất, bởi vì nó chỉ ra con đường cứu nước đúng đắn mà Người đang mong đợi: “Tình hình chính trị thế giới hiện nay đã đặt vấn đề chuyên chính vô sản thành vấn đề trước mắt… Tất cả các phong trào giải phóng dân tộc trong các thuộc địa và trong các dân tộc bị áp bức mà kinh nghiệm đau đớn đã làm cho họ tin chắc rằng: không có con đường cứu vãn nào ngoài con đường chính quyền xô viết chiến thắng chủ nghĩa đế quốc thế giới”.

Như vậy, những luận điểm quan trọng về vấn đề dân tộc và thuộc địa của chủ nghĩa Lênin – kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác – đã trực tiếp đến với Nguyễn ái Quốc. Nó nâng cao nhận thức tư tưởng của Người trên cơ sở những hiểu biết thực tiễn và suy nghĩ từ lâu Người đã ấp ủ. Kết quả của sự chuyển biến lớn trong tư tưởng của Nguyễn ái Quốc là quyết định chọn con đường giải phóng dân tộc gắn chặt với chủ nghĩa xã hội, với cách mạng vô sản. Sự chuyển biến tư tưởng như vậy không phải dễ dàng đến với những nhà yêu nước lúc bấy giờ ở các nước thuộc địa, chắc chắn Luận cương của Lênin, cũng như tiếng vang của Cách mạng tháng Mười đã đến với nhiều người dân các nước thuộc địa, phụ thuộc lúc bấy giờ, 4 triệu người đã tham dự, chứng kiến Cách mạng tháng Mườ1 , 80.000 binh lính Việt Nam bị bắt sang Pháp … Nhưng có mấy ai tiếp nhận “ánh sáng kỳ diệu” của Luận cương… và “tiếng sấm” của Cách mạng tháng Mười Nga như Nguyễn ái Quốc. Sự chuyển biến tư tưởng ở Hồ Chí Minh sau các sự kiện to lớn có ý nghĩa thế giới chính là khởi điểm của quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải phóng dân tộc, ý nghĩa và tác dụng của điều này không chỉ giới hạn ở Việt Nam, mà còn ở nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc khác.

Trước Cách mạng tháng Mười Nga 1917, nhân dân Việt Nam, cũng như nhân dân các nước thuộc địa đấu tranh rất anh dũng chống lại bọn xâm lược với nhiều hình thức khác nhau (khởi nghĩa vũ trang, bất hợp tác, tẩy chay, khủng bố…). Nhưng, họ vẫn ở trong tình trạng dường như “trong đêm tối không có đường ra”. Những người lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nước lúc bấy giờ chưa thoát khỏi khuôn khổ chật hẹp của con đường cứu nước kiểu Cần Vương. Một số người cố gắng đi theo con đường tư bản chủ nghĩa cũng không thành công, vì giai cấp tư sản dân tộc còn non yếu, không triệt để đấu tranh. Cách mạng tư sản Âu Mỹ không thể là con đường để nhân dân thuộc địa noi theo vì vai trò lịch sử của giai cấp tư sản ở Phương Tây đã chấm dứt rồi: “Khi mà giai cấp tư sản cùng với nhân dân đấu tranh giành tự do thì nó bảo vệ một nền tự do đầy đủ về sự bình đẳng giữa các dân tộc”; nhưng khi “đã nắm mọi quyền tự do hành động, giai cấp tư sản lại phản bội chế độ dân chủ, bảo vệ sự áp bức, sự bất bình đẳng giữa các dân tộc, làm hư hỏng công nhân bằng các khẩu hiệu dân tộc chủ nghĩa”.

Nguyễn ái Quốc tiếp thu chủ nghĩa Lênin nói chung, quan điểm lý luận về dân tộc và giải phóng dân tộc nói riêng, trực tiếp từ chủ nghĩa xã hội khoa học, chứ không thông qua lǎng kính của chủ nghĩa dân tộc tư sản, nên không bị “khúc xạ”. Hơn nữa, việc Nguyễn ái Quốc tiếp thu tư tưởng Lênin về dân tộc và giải phóng dân tộc được tiến hành trên một cơ sở rất vững chắc – thực tiễn đấu tranh, nên Người nhanh chóng nắm được cái bản chất của học thuyết Lênin. Vì vậy, khi đọc xong Luận cương…, Nguyễn ái Quốc đã “rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao”. Sự phấn khởi của Nguyễn ái Quốc không phải chỉ là việc tìm thấy cái “cẩm nang thần kỳ” để làm theo, mà chính là việc “tìm thấy cách giải quyết” một cách sáng tạo nhiệm vụ giải phóng dân tộc cho nhân dân Việt Nam và nhiều dân tộc thuộc địa khác. Người đã xác định cho mình những phương hướng suy nghĩ, phương pháp hành động tốt nhất, có hiệu quả nhất để tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc mình. Đồng thời cũng góp phần vào việc xác định con đường cứu nước đúng cho các dân tộc cùng cảnh ngộ. ý nghĩa của việc Nguyễn ái Quốc tìm ra con đường cứu nước cho nhân dân Việt Nam đối với các dân tộc thuộc địa khác không phải là việc vạch một con đường chung nhằm “áp đặt”, hay “làm thay” cho các dân tộc đang làm nhiệm vụ cứu nước của mình, mà chỉ góp phần “mở đường đi đến ánh sáng” cho nhiều dân tộc trên thế giới. Họ học tập, vận dụng một cách sáng tạo kinh nghiệm Việt Nam vào điều kiện cụ thể của mình.

Thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam cũng như nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc làm cho tư tưởng này của Hồ Chí Minh thêm phong phú và phát huy tác dụng trong cuộc sống. Bản thân Hồ Chí Minh nhận thức rằng vấn đề dân tộc và thuộc địa là một trong những vấn đề lớn nhất của chủ nghĩa Lênin, bởi vì thực chất của nó là đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thống trị, giành độc lập cho các nước bị xâm lược và đô hộ. Cho nên tiếp thu chủ nghĩa Lênin, bằng mọi cách Người làm cho nó tác động mạnh mẽ đến cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân Việt Nam cũng như nhiều dân tộc thuộc địa khác.

2. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải phóng dân tộc.

Nội dung tư tưởng lớn này của Hồ Chí Minh rất phong phú, ở đây chỉ trình bày tập trung vào một số vấn đề cơ bản nhất.

a – Tư tưởng về con đường cứu nước của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc.

Từ thực tế đấu tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã nhận thấy sự bế tắc, sự khủng hoảng trong con đường cứu nước. Biểu hiện của nó là mâu thuẫn giữa phong trào đấu tranh mạnh mẽ, sôi nổi của nhân dân và việc thiếu một giai cấp lãnh đạo, với một đường lối thích hợp, có thể dẫn dắt nhân dân đến chiến thắng. ở đâu Nguyễn Tất Thành cũng nhận thấy, đứng trước sự xâm lược, rồi thống trị của bọn tư bản thực dân cướp nước, giai cấp phong kiến cầm quyền từ chống đỡ yếu ớt dần dần đi đến nhượng bộ, đầu hàng, làm tay sai cho chúng. Ngọn cờ phong kiến trong đấu tranh cứu nước đã ngã gục, con đường tư sản cũng tỏ ra bất lực. Người đã đặt câu hỏi: “Vậy thì con đường cứu nước nào đúng nhất?”.

Qua khảo sát thực tế ở nhiều nước thuộc địa, Hồ Chí Minh bước đầu nhận thấy những đặc điểm riêng về mặt xã hội – chính trị của nhân dân các nước thuộc địa phương Đông khác với các dân tộc phương Tây tư bản chủ nghĩa. Một trong những đặc điểm đó là trong thành phần nhân dân, nông dân chiếm tuyệt đại bộ phận, hơn 90% dân số bị bóc lột thậm tệ nhất. Ngoài ách áp bức phong kiến, họ cũng bị giai cấp tư sản bóc lột chẳng kém gì công nhân. Cho nên hai giai cấp nông dân và công nhân ở các nước thuộc địa là “hai bạn đồng minh tự nhiên”. Nhận định này vô cùng quan trọng để xác định con đường cứu nước phù hợp với dân tộc mình và với nhiều dân tộc cùng có chung hoàn cảnh.

Để xác định con đường cứu nước mới, Nguyễn ái Quốc đã phân tích, nhìn nhận lại những quan điểm, những cách đấu tranh cứu nước trước đó và đương thời. Trước hết, từ thực tế ở nước mình, cũng như ở các thuộc địa khác, cùng với quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về việc nông dân không thể tự mình giải phóng được, vì không đại diện cho một phương thức sản xuất mới trong lịch sử, Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng” Chỉ với lực lượng riêng của chính mình, nông dân không bao giờ có thể trút bỏ được gánh nặng đang đè nén họ” . Đó là một quan điểm tư tưởng quan trọng làm cơ sở cho việc xác định con đường cứu nước đúng đắn. Nhận thức được vai trò lịch sử – xã hội của nông dân, Nguyễn ái Quốc coi trọng sức mạnh nông dân, song Người cũng mạnh mẽ đấu tranh chống “những trào lưu cơ hội chủ nghĩa, nịnh nông dân, coi nông dân là một lực lượng chủ yếu, là động lực duy nhất của cách mạng, là đội ngũ cách mạng nhất, đều chỉ đi tới chủ nghĩa phiêu lưu, chủ nghĩa cực đoan, vô chính phủ”.

Luận điểm tư tưởng này thể hiện tính chiến đấu của Hồ Chí Minh chống lại các khuynh hướng sai lầm, đưa phong trào đấu tranh yêu nước đi vào con đường thất bại. Lý giải về những nguyên nhân thất bại trong phong trào đấu tranh chống đế quốc thực dân của các nước thuộc địa, mà lực lượng chủ yếu là nông dân, Hồ Chí Minh đã vạch ra một trong những hạn chế của họ là luôn luôn tự hãm mình trong sự đơn độc: “Không giống như các dân tộc phương Tây, các dân tộc phương Đông không có những quan hệ và tiếp xúc giữa các lục địa với nhau. Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ, do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau”.

Nhận định này đúng với tình trạng “cô lập” giữa nông dân các nước, thậm chí trong một nước, ở phương Đông, vốn chìm đắm trong chế độ phong kiến hàng nghìn nǎm. Hồ Chí Minh có đầy đủ cơ sở để kết luận rằng chính những nhược điểm nêu trên là “nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông”. Nó là khó khǎn lớn, gây trở ngại cho việc tổ chức, xây dựng lực lượng bản thân, cũng như cho việc đoàn kết quốc tế của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Lúc bấy giờ và sau này, nhiều nhà yêu nước ở các thuộc địa chọn con đường tư bản chủ nghĩa trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Đối với nhân dân Việt Nam, Nguyễn ái Quốc từ chối con đường này. Người đã đi qua và sống ở nhiều nước tư bản, nhất là các nước đế quốc lớn (Pháp, Anh, Mỹ), đã chứng kiến thực trạng, bản chất của xã hội tư bản chủ nghĩa, đã nghiên cứu lịch sử các cuộc cách mạng tư sản Mỹ, Pháp nên hiểu rõ bản chất của các cuộc cách mạng này.

Cách mạng tư sản Mỹ (1775-1783) được tiến hành dưới hình thức một cuộc chiến tranh giành độc lập của nhân dân 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ. Đó là ý nghĩa tích cực của nó trong việc đấu tranh chống chế độ thống trị thuộc địa của thực dân Anh và nhân dân Việt Nam nên “học Mỹ mà làm cách mệnh”. Người đánh giá cao câu mở đầu trong Tuyên ngôn độc lập (1776) của Mỹ. “Giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ǎn cho sung sướng… Hễ chính phủ nào mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đạp đổ chính phủ ấy đi, và gây nên chính phủ khác…”. Người cũng nêu những mặt tiêu cực của cách mạng Mỹ. Giai cấp tư sản huy động nhân dân lật đổ sự thống trị của thực dân Anh, nhưng “lại không muốn cho ai nói đến cách mệnh, ai đụng đến chính phủ!” và “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 nǎm nay (tính đến nǎm 1927 – TG), nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”.

Cách mạng tư sản Pháp nổ ra và thành công vào cuối thế kỷ XVIII, đã “bỏ chế độ phong kiến, giải phóng nông nô” rồi “bỏ vua mà lập ra cộng hoà”. Cuộc cách mạng này và các cuộc cách mạng tiếp theo ở Pháp cũng “làm gương cho chúng ta” nhiều điều: “Cách mạng thì phải tổ chức rất vững bền mới thành công”, “đàn bà trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều”; “dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi”. Nhận định về tính chất của các cuộc cách mạng tư sản, Nguyễn ái Quốc khẳng định rằng: “cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư sản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục (tức bóc lột – TG) công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh Việt Nam nên nhớ những điều ấy”.

Từ phân tích bản chất của hai cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu ở Mỹ và Pháp thế kỷ XVIII, Nguyễn ái Quốc kết luận “chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”6 . Kết luận này thể hiện tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh là không chấp nhận con đường cách mệnh tư sản trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Vậy con đường cứu nước mà Nguyễn ái Quốc chọn cho nhân dân Việt Nam là con đường nào? Tiếp thụ chủ nghĩa Lênin, được sống, học tập và công tác trên đất nước Xôviết, tìm hiểu sâu sắc Cách mạng tháng Mười Nga 1917, Nguyễn ái Quốc khẳng định con đường cứu nước đúng đắn nhất là con đường cách mệnh vô sản: “trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật không phải tự do bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên Việt Nam.

Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đạp đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới. Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”. Việc xác định tư tưởng về con đường cứu nước của Nguyễn ái Quốc đã dựa trên những cơ sở vững chắc: thực tế cuộc sống của nhân dân các nước thuộc địa, lịch sử quá khứ và chủ nghĩa Mác-Lênin. Vì vậy, tư tưởng này đã nhanh chóng trở thành đường lối cứu nước và thấm sâu vào quần chúng nhân dân Việt Nam. Bằng việc tuyên truyền, giáo dục (báo chí, huấn luyện chính trị…) Nguyễn ái Quốc đã làm cho cán bộ và nhân dân Việt Nam thấm nhuần tư tưởng cứu nước mới này. Mácti, thanh tra mật thám Đông Dương lúc bấy giờ, đã nhận xét báo Thanh niên là hình ảnh chân thực của chiến lược mà Nguyễn ái Quốc đã sử dụng. Chiến lược ấy được tiến hành như sau: “Trong những số đầu tiên, Nguyễn ái Quốc nhấn mạnh trước hết đến sức mạnh và sự đoàn kết đã đem lại cho một tập thể, nhấn mạnh đến những lợi ích mà những cá nhân trong tập thể ấy theo được. Nguyễn ái Quốc đã thức tỉnh tinh thần độc lập và tình cảm dân tộc, đặc trưng của khí chất người Annam.

Tiếp đó, ông dần dần cung cấp cho độc giả của mình những hiểu biết về lịch sử Annam, về các tài liệu tư tưởng nước ngoài, về lịch sử các cường quốc thế giới, v.v.. Rồi ông lần lượt đưa ra từng thuật ngữ Hán Việt, tương ứng với nội dung một cuốn từ vựng mới về chủ nghĩa cộng sản và đã nêu một định nghĩa rõ ràng, chính xác về các thuật ngữ ấy. Từng bước, lúc đầu còn ít, và sau thường xuyên hơn, ông công bố một câu hoặc bài báo ngắn thông báo cho độc giả biết về sự tồn tại của Liên Xô và hạnh phúc của nhân dân Xô viết đang được hưởng. Nguyễn ái Quốc cũng không ngần ngại giành đến 60 số báo của mình để chuẩn bị tinh thần cho độc giả trước khi ông nói rõ về ý đồ của mình, khi ông viết rằng: “chỉ có Đảng cộng sản mới có thể bảo đảm hạnh phúc cho An nam” Hồ Chí Minh, nếu không phải là người đầu tiên thì cũng là một trong số rất ít những nhà yêu nước đầu tiên ở các thuộc địa, đã nêu lên tư tưởng về sự nghiệp giải phóng dân tộc phải theo con đường cách mạng vô sản. Đây là một điều rất mới về ý thức gắn liền cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng thế giới, đưa cách mạng giải phóng dân tộc lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Nguyễn ái Quốc cũng góp phần truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin đến nhân dân các nước phương Đông để họ vững tin vào con đường cứu nước đúng. Người đã chứng minh rằng nhân dân các nước thuộc địa có khả nǎng và sẵn sàng tiếp nhận tư tưởng mới, tiến bộ, và “chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”. Có được “cẩm nang thần kỳ” – chủ nghĩa Lênin – Nguyễn ái Quốc dần dần xây dựng đường lối cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam và ở lĩnh vực này Người đã đóng góp cho phong trào đấu tranh của nhân dân thuộc địa không chỉ là những kinh nghiệm và đường lối chiến lược và sách lược, mà còn là những nguyên tắc phương pháp luận Hồ Chí Minh trong lãnh đạo, tổ chức và tiến hành thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nguyên tắc phương pháp luận quan trọng nhất là nhận thức mối quan hệ biện chứng giữa cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Ngay từ đầu thập kỷ 20, khi chủ nghĩa xã hội mới thắng lợi ở một nước, Người đã nhận thức rằng “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hoà thế giới chân chính, xoá bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dày ngǎn cách những người lao động trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau”. Phương hướng này được quán triệt trong toàn bộ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới.

b- Tư tưởng về đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của đảng vô sản trong cách mạng giải phóng dân tộc là một nội dung cơ bản của tư tưởng về dân tộc và giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh.

C. Mác, Ph. Ǎngghen và V.I. Lênin luôn luôn nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa “dân tộc”, “giai cấp” và chỉ rõ việc giải quyết vấn đề dân tộc và giành độc lập dân tộc bao giờ cũng phải đứng trên quan điểm của một giai cấp nhất định – tư sản hoặc vô sản. Không có cái gọi là “dân tộc phi giai cấp”. Thực chất của vấn đề dân tộc ở thuộc địa là vấn đề giai cấp, song đó là hai phạm trù khác nhau, không nên đồng nhất, hoặc lẫn lộn với nhau. Tiếp thụ tư tưởng của C. Mác, Ph. Ǎngghen và V.I. Lênin, Hồ Chí Minh đã nêu quan điểm tư tưởng của mình về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp ở một nước thuộc địa. Như đã nói ở trên, Hồ Chí Minh đã nêu những đặc điểm của các dân tộc phương Đông thuộc địa mà C. Mác, Ph. Ǎngghen chưa đề cập đến. Hai ông mới phê phán chủ nghĩa dân tộc vị kỷ. V.I. Lênin có quan tâm hơn đến các dân tộc phương Đông, nhưng chủ yếu cũng mới nói đến các dân tộc Trung á, Trung Quốc, Nhật bản, Triều Tiên. Xuất phát từ đặc điểm của nước thuộc địa – tuyệt đại đa số dân cư là nông dân và tất cả những tầng lớp nhân dân lao động khác đều bị áp bức, bóc lột, nên trong cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đặt lợi ích dân tộc, nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết và trước hết.

Nhưng, Người không hề coi nhẹ lợi ích của giai cấp và không đi chệch quan điểm của giai cấp vô sản trong đấu tranh cách mạng. Quan điểm của Hồ Chí Minh như vậy không chỉ xuất phát từ đặc điểm của các nước thuộc địa mà còn phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác và Ph.Ǎngghen đã nêu rõ giai cấp vô sản muốn tự giải phóng mình, trước hết phải giải phóng dân tộc, “phải xây dựng thành một giai cấp – dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”1 . Bởi vì giai cấp luôn gắn với một dân tộc nhất định, chịu trách nhiệm trước hết đối với dân tộc mình, qua đó đóng góp cho sự nghiệp chung của giai cấp vô sản thế giới và nhân loại. Quan điểm của Mác rút ra từ nhận thức về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở các nước phương Tây. Đó là việc lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản để xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa, trong đó mọi tầng lớp nhân dân lao động cùng giai cấp vô sản hưởng tự do, hạnh phúc. ở các nước thuộc địa, nhiệm vụ cấp bách trước mắt là phải đấu tranh thoát khỏi ách thống trị của tư bản thực dân để dân tộc được hoàn toàn giải phóng, và con đường giải phóng dân tộc phải là con đường cách mạng của giai cấp vô sản.

Tuy vậy, Hồ Chí Minh vẫn khẳng định rằng cuộc cach mạng ở các nước thuộc địa trước hết là “dân tộc cách mạng”. Người giải thích rằng: “một nước cậy có sức mạnh đến cướp một nước yếu, lấy võ lực cai trị dân nước ấy, và giành hết quyền kinh tế và chính trị. Dân nước ấy đã mất cả tự do độc lập, lại làm ra được bao nhiều thì bị cường quyền nó vơ vét bấy nhiêu. Nó đã cướp hết sản vật, quyền lợi của dân rồi, khi có giặc dã nó lại bắt dân đi lính chết thay cho nó … Đánh được thì nó hưởng lợi quyền, thua thì mình đã chết người lại hại của”. Cho đến khi “dân nô lệ ấy chịu không nổi nữa tỉnh ngộ lên, đoàn kết lại, biết rằng thà chết được tự do hơn sống làm nô lệ, đồng tâm hợp lực đánh đuổi tụi áp bức mình đi, ấy là dân tộc cách mệnh”. Nguyên nhân của cuộc cách mạng này là “vì bị áp bức mà sinh ra”. Trong cuộc cách mạng này, Hồ Chí Minh chỉ rõ lực lượng đấu tranh giải phóng là các tầng lớp nghèo khổ: “Ai mà bị áp bức càng nặng thì lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết”.

Trong đó, “công nông là người chủ cách mệnh”, vì họ “bị áp bức nặng hơn. (…) là đông nhất cho nên sức mạnh hơn hết; (…), là tay không chân rồi, nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc”. Xét cho cùng, cuộc “dân tộc cách mệnh” cũng thể hiện tính chất giai cấp rõ rệt. Đó là cuộc đấu tranh của đông đảo nhân dân lao động mà “công nông là gốc cách mệnh”, nhằm chống lại “cường quyền”, tức chống lại áp bức của tư bản đế quốc”. Cho nên, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, trong thời đại mới, mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười Nga 1917, cuộc “dân tộc cách mệnh” và “thế giới cách mệnh”, do “vô sản giai cấp đứng đầu đi trước”, có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong mối quan hệ này, Hồ Chí Minh khẳng định có tính chiến lược rằng: “chỉ có giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”. Có người đã xem luận điểm này của Hồ Chí Minh là quá “tả”, không hợp với thời đại; bởi vì trên thế giới không ít nước thuộc địa và phụ thuộc giành được độc lập mà không gắn với cách mạng vô sản ở trong nước và trên thế giới.

Chúng ta không phủ nhận cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới có nhiều khuynh hướng khác nhau tuỳ theo tính chất, mục tiêu của giai cấp lãnh đạo, tương quan các giai cấp trong nước. Phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới từ sau Cách mạng tháng Mười Nga, đặc biệt từ 1945 đến nay, bằng nhiều con đường khác nhau, đã thu được nhiều thắng lợi nhất định, các dân tộc thuộc địa lần lượt thoát khỏi ách thống trị. Nhưng chúng ta cũng nhấn mạnh rằng ngoài sự nỗ lực của bản thân các dân tộc ấy, tác động của Cách mạng tháng Mười, sự tồn tại của các nước xã hội chủ nghĩa, sự thắng lợi của phong trào cách mạng vô sản có ảnh hưởng không nhỏ đến sự thành công của nhân dân các nước thuộc địa, buộc bọn đế quốc thực dân phải trao trả độc lập cho họ dưới những hình thức và mức độ khác nhau.

Mặt khác, chúng ta cũng cần thấy rõ rằng, các nước thuộc địa, do giai cấp tư sản dân tộc lãnh đạo đấu tranh giành độc lập đã đi theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, hoặc không giành được độc lập hoàn toàn, không xoá bỏ được bóc lột và như thế cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội ở những nước này chưa thể xem là đã hoàn thành. Khi chọn con đường cách mạng vô sản cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh mong muốn nhân dân Việt Nam đạt được kết quả trọn vẹn của công cuộc giải phóng, tránh được tình trạng là sau cách mạng nhân dân “vẫn cứ cực khổ, vãn lo tính cách mệnh lần thứ hai”. Bằng lý luận và thực tiễn đấu tranh, Người chứng minh rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Đó là sự lựa chọn của bản thân lịch sử.

Cách mạng giải phóng ở thuộc địa và những cuộc cách mạng xã hội nói chung đi theo con đường cách mạng vô sản, hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội là điều hợp quy luật. Bởi vì, theo Hồ Chí Minh, trong thời đại ngày nay lịch sử đã giao cho giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng: “đời sống của xã hội hiện nay phụ thuộc trước hết vào những trung tâm công nghiệp lớn mạnh và vào những đường giao thông. Những kẻ nắm đường sắt, nhà máy, hầm mỏ, những kẻ thống trị trong các thành thị, luôn luôn có thể đè bẹp nông thôn. Hiện nay, chính giai cấp tư sản là kẻ nắm được tất cả những thứ đó, vì chỉ công nhân mới tước được của giai cấp tư sản những phương tiện thống trị mạnh mẽ của nó. Mới có thể chỉ đạo sản xuất và tương lai của nhân loại”. Sự khẳng định mối quan hệ giữa “dân tộc” và “giai cấp”, thể hiện ở mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản ở thuộc địa, là sự xác nhận tính tất yếu của phong trào giải phóng dân tộc trong thời đại chúng ta, nó không phải là một công thức, để vận dụng một cách máy móc, rập khuôn, giáo điều mà phải hết sức linh hoạt, sáng tạo.

Về chiến lược, Hồ Chí Minh đặt công cuộc giải phóng dân tộc trong cách mạng vô sản, nhưng trong chỉ đạo cụ thể lại không bao giờ coi nhẹ nhiệm vụ dân tộc và đặt cao một cách không thực tế nhiệm vụ giai cấp. Tuy nhiên khi đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, Người nhắc nhở không bao giờ Đảng lại hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp nào khác . Hơn nữa, tập trung giải quyết việc giải phóng dân tộc cũng nhằm mục đích góp phần giải quyết nhiệm vụ giai cấp. Bởi vì, “nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi bộ phận, giai cấp đến vạn nǎm cũng không đòi lại được”. Để giải quyết nhiệm vụ dân tộc và giai cấp một cách hài hoà, đúng đắn, Hồ Chí Minh đặt vấn đề “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?” và Người khẳng định “Trước hết phải có đảng cách mệnh”. Nhiệm vụ của đảng là gì? Hồ Chí Minh chỉ rõ: “trong thì vận động và tổ chức quần chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nước”.

Việc đề ra nhiệm vụ của Đảng cũng thể hiện tính chất tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng cách mạng trong và ngoài nước để làm cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thành công, chuẩn bị cho cách mạng tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội. Vậy vai trò của Đảng đối với cách mạng thế nào? Người trả lời: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”. Chủ nghĩa mà Hồ Chí Minh chọn để theo là chủ nghĩa Mác – Lênin. Vì vậy, sau khi tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, công việc trước tiên Hồ Chí Minh làm là chuẩn bị thành lập một chính Đảng cho cách mạng Việt Nam. Cũng trong thời gian này (cuối những nǎm 20), Người cũng góp phần tích cực vào việc thành lập Đảng ở một số nước ở Đông – Nam á. Những nguyên tắc tổ chức và hoạt động đảng kiểu mới của Lênin được nhiều nhà cách mạng trên thế giới nắm vững và vận dụng để thành lập một chính đảng ở nước mình. Nhưng chỉ có Đảng của Hồ Chí Minh mới giành nhiều thắng lợi cho dân tộc như vậy.

Bởi vì Hồ Chí Minh không chỉ tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, với lý tưởng cộng sản, mà còn biết vận dụng một cách sáng tạo vào những điều kiện cụ thể của các nước thuộc địa như Việt Nam. Đây là một nguyên nhân chủ yếu, khiến Đảng cộng sản Việt Nam lớn mạnh để đảm đương được sứ mệnh lịch sử. Việc Hồ Chí Minh chuẩn bị và thành lập Đảng cộng sản Việt Nam cũng đóng góp nhiều kinh nghiệm quý giá cho phong trào cách mạng ở nhiều nước, chủ yếu là các nước thuộc địa và phụ thuộc. Cuối nǎm 1924, Hồ Chí Minh đến Quảng Châu (Trung Quốc) công tác trong phái đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô giúp Chính phủ Quốc dân Đảng Trung Quốc. Người bắt mối liên lạc với Tâm tâm xã và tổ chức yêu nước của người Việt Nam đang hoạt động tại đây. Người chọn số thanh niên trong các tổ chức cách mạng nói trên và một số thanh niên khác ở trong nước ra, mở Trường huấn luyện chính trị để đào tạo họ trở thành những cán bộ cách mạng. Để làm cơ sở cho việc thành lập một chính đảng của giai cấp công nhân, Hồ Chí Minh đã xây dựng Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, trong đó hạt nhân lãnh đạo là Cộng sản Đoàn.

Việc tiến hành thành lập Đảng như vậy rất phù hợp với kinh nghiệm phổ biến của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là phải thông qua những phần tử trí thức cách mạng để đưa chủ nghĩa xã hội vào giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Kinh nghiệm này đã được Đại hội lần thứ VI của Quốc tế cộng sản (tháng 9-1928) xác nhận: “Kinh nghiệm cho thấy ở phần đông các nước thuộc địa, một số lớn, nếu không phải là đa số, cán bộ cộng sản lúc đầu là rút từ giai cấp tiểu tư sản và đặc biệt là trong số những trí thức cách mạng, thường là trong số sinh viên. Thường thường những phần tử ấy gia nhập Đảng vì họ nhận định Đảng là kẻ thù cương quyết nhất của chủ nghĩa đế quốc”. Hồ Chí Minh đã góp phần vào việc xây dựng một nguyên tắc quan trọng của việc xây dựng Đảng: Việc tiếp nhận những người tiên tiến vào Đảng cộng sản không chỉ xét những người xuất thân từ giai cấp vô sản mà còn có những người thuộc các tầng lớp xã hội khác đã giác ngộ, thừa nhận và phấn đấu cho lý tưởng cộng sản. Tư tưởng này vừa đảm bảo tính tổ chức chặt chẽ của Đảng, vừa không rơi vào thành phần chủ nghĩa, tập hợp đông đảo những người tiên tiến trong quần chúng. Tư tưởng này phù hợp với điều kiện các nước thuộc địa nơi mà giai cấp công nhân ít và non yếu, các tầng lớp xã hội khác giàu lòng yêu nước, thiết tha với chủ nghĩa Mác – Lênin.

Thành lập một đảng cộng sản ở nước thuộc địa nửa phong kiến, nơi có số lượng công nhân ít, là một việc làm khó khǎn nhưng vẫn thực hiện được. Kinh nghiệm của Việt Nam đã giúp cho một số nước có điều kiện tương tự như Việt Nam làm được. Nắm vững nguyên lý chung về việc đảng cộng sản ra đời là do sự kết hợp của chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân, Hồ Chí Minh vận dụng vào điều kiện cụ thể của các nước thuộc địa phương Đông, không có những điều kiện như các nước châu Âu. Người đã nêu luận điểm nói rằng chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng cộng sản ở một nước thuộc địa. Nhấn mạnh đến yếu tố “phong trào yêu nước” trong thành lập Đảng ở nước thuộc địa là coi trọng nhân tố “dân tộc” bên cạnh nhân tố giai cấp.

Chủ nghĩa yêu nước ở các nước thuộc địa thể hiện rất mạnh mẽ, quyết liệt trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, mà phong trào công nhân ở một khía cạnh nào đó cũng đang làm nhiệm vụ dân tộc. Trong điều kiện lịch sử như vậy, phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân có đầy đủ khả nǎng để tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp với phong trào công nhân tạo điều kiện cho Đảng ra đời. Luận điểm tư tưởng này của Hồ Chí Minh rất quan trọng đối với nhân dân các nước thuộc địa trong đấu tranh chống đế quốc và xây dựng xã hội mới sau này, vì nó khắc phục được sự tách biệt, thậm chí đối đầu giữa “dân tộc” và “giai cấp” trong sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân.

c- Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải phóng dân tộc trong chiến lược và sách lược đấu tranh cách mạng.

Xác định con đường cứu nước, khẳng định vai trò của Đảng vô sản lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đề cập một số nguyên tắc làm cơ sở cho đường lối chiến lược và sách lược của Đảng của giai cấp công nhân trong cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Theo Hồ Chí Minh vấn đề chiến lược, sách lược đấu tranh được giải quyết trong cách mạng giải phóng dân tộc, trước hết phải đảm bảo được mục tiêu dân tộc độc lập. Do am hiểu tình hình và nguyện vọng của nhân dân thuộc địa, Hồ Chí Minh nêu rõ những quan điểm giành độc lập hoàn toàn và triệt để. Độc lập hoàn toàn và triệt để của các dân tộc thuộc địa gắn liền với việc giữ vững chủ quyền quốc gia về mặt nội trị cũng như ngoại giao, sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, không bị chia cắt.

Quan điểm này được thể hiện trong thực tiễn đấu tranh cách mạng của Việt Nam, đặc biệt từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, chống việc trao trả độc lập giả hiệu và âm mưu chia cắt đất nước của các loại kẻ thù. Quan điểm này cũng được xác nhận trong việc giải quyết hoà bình cuộc đấu tranh giành độc lập của nhiều dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Dân tộc nào tranh thủ được độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia thì sẽ được độc lập trọn vẹn, tránh được sự chia cắt, dẫn tới nội chiến. Với quan điểm này, Hồ Chí Minh còn nêu rõ sự cần thiết phải đem lại hạnh phúc, ấm no, tự do cho nhân dân, bởi vì “… nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Qua thực tiễn và lý luận, Hồ Chí Minh tổng kết, nâng các quan điểm trên thành chân lý của thời đại “Không có gì quý hơn độc lập tự do!” . Khi vạch ra chiến lược sách lược cách mạng, Hồ Chí Minh chú trọng đến quyền dân tộc tự quyết. Về vấn đề này, Lênin đã nêu và giải quyết một cách toàn diện, sâu sắc và bước đầu chỉ đạo thực hiện trên đất nước Xô viết, từ những nǎm sau Cách mạng tháng Mười. Sau khi Lênin qua đời, nguyên tắc dân tộc tự quyết không được các nhà lãnh đạo Xô viết coi trọng đúng mức để đạt được những hiệu quả thực tế. Hơn nữa, nguyên tắc này còn bị vi phạm nghiêm trọng và là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tan vỡ Liên bang Xô viết sau này. Ngay từ khi đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã có ý thức rõ rệt, ngày càng mạnh mẽ, về việc thực hiện những quyền dân tộc cơ bản của các dân tộc, việc nhân dân các nước thuộc địa phải tự quyết định số phận của mình, chống mọi sự can thiệp, áp đặt dưới bất cứ hình thức nào từ bên ngoài.

Trong nhiều bài viết, bài nói, Hồ Chí Minh nhấn mạnh quyền tự quyết của tất cả các dân tộc, đặc biệt các dân tộc nhỏ yếu, phải giành lấy và giữ gìn bằng đấu tranh của bản thân mình và đòi hỏi sự đảm bảo của pháp lý quốc tế. Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc tới “Hiến chương Cựu kim sơn”, “Hiến chương Liên hợp quốc”. Trong Lời kêu gọi gửi nhân dân thế giới, ngày 20-6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trong cuộc thế giới chiến tranh, các nước đã hy sinh bao nhiêu tiền của, xương máu để giữ gìn quyền dân chủ và quyền tự quyết định của các dân tộc, các nước đã trịnh trọng bảo đảm quyền dân chủ và tự quyết đó trong Hiến chương Đại Tây Dương và Cựu kim sơn” Bảo đảm quyền dân tộc tự quyết, theo Hồ Chí Minh, không có nghĩa là các dân tộc tách biệt nhau, cô lập với nhau. Khi chủ trương và ủng hộ quyền dân tộc tự quyết của các nước thuộc địa, việc giành độc lập hoàn toàn, triệt để và thành lập nhà nước độc lập của nhân dân các nước, Hồ Chí Minh chủ trương và ủng hộ một thể thức chính trị nhà nước Liên bang, Liên hiệp, thể hiện đúng đắn các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tự do phát triển.

Điều này xuất phát từ một cơ sở lý luận vững chắc là cuộc đấu tranh giải phóng là do “sự nỗ lực của bản thân”, “cuộc cách mạng giải phóng trong các nước bị áp bức và cuộc cách mạng vô sản trong nước đi áp bức phải ủng hộ lẫn nhau. Trong các nước đi áp bức, trọng tâm của việc giáo dục tinh thần quốc tế là làm cho các người lao động hiểu rõ vấn đề để cho các dân tộc bị áp bức có quyền tự tách ra và lập thành những nước độc lập, còn trong các nước bị áp bức thì trọng tâm việc giáo dục tinh thần quốc tế phải là vấn đề liên minh tự nguyện giữa các dân tộc”. Nguyên tắc liên minh các dân tộc về tổ chức nhà nước mà Hồ Chí Minh nêu lên hoàn toàn xa lạ và đối nghịch với việc thành lập các liên bang mang tính chất áp đặt, bất bình đẳng, xâm phạm quyền dân tộc cơ bản, quyền dân tộc tự quyết. Cùng với việc định ra chiến lược và sách lược cách mạng, hình thành và củng cố việc đoàn kết dân tộc, cần phải xây dựng sự đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Với nguyên tắc tư tưởng này, Hồ Chí Minh không chỉ xây dựng mặt trận đoàn kết dân tộc, mà cả mặt trận đoàn kết quốc tế chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân.

Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở mọi chủ trương, đường lối, chính sách của cách mạng bao giờ cũng phải xuất phát từ chủ nghĩa Mác-Lênin, vận dụng sáng tạo những nguyên lý chung vào điều kiện cụ thể từng nước, tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng vô sản mỗi nước. Đây là một nguyên tắc quan trọng bảo đảm sự trung thành với lý tưởng cách mạng, bảo đảm sự thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân thuộc địa phải tiến hành bằng bạo lực cách mạng với tinh thần đấu tranh kiên quyết, triệt để, song thể hiện lòng yêu chuộng hoà bình, tránh những cuộc xung đột đổ máu vô ích. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) của nhân dân ta đã chứng minh điều này.

Những nguyên tắc mà Hồ Chí Minh nêu trên là cơ sở cho việc xác định một số đường lối chiến lược và sách lược cách mạng, mà sau đây chúng tôi trình bày một số vấn đề cơ bản: Trước hết, xác định vị trí, nhiệm vụ của cách mạng ở thuộc địa. Hồ Chí Minh nêu rõ rằng do nhân dân các nước thuộc địa bị áp bức nên mới đấu tranh giành độc lập, chống lại ách thống trị của chủ nghĩa thực dân. Vì thế, phải làm cho họ nhận diện đúng kẻ thù, tránh sự lừa bịp của bọn thống trị, nhân danh là “người khai hoá vǎn minh” cho các dân tộc nhỏ yếu. Hồ Chí Minh bằng nhiều hình thức, biện pháp phong phú, sinh động đã tố cáo tội ác của bọn đế quốc thực dân, giúp cho nhân dân thuộc địa và chính quốc nhận rõ bộ mặt chủ nghĩa thực dân. Người vạch trần những thủ đoạn có tính chất “quốc sách” cũng như những hành vi mang tính chất cá nhân của những tên cai trị.

Hiểu rõ tội ác của chủ nghĩa thực dân là để nhận thức đúng âm mưu của bọn thống trị đối với các thuộc địa. Trước và đồng thời với Hồ Chí Minh đã có nhiều người nói đến sự lệ thuộc vào chính quốc của thuộc địa. Song, chưa ai nói rõ như Hồ Chí Minh về vận mệnh của chủ nghĩa đế quốc được quyết định một phần không nhỏ ở thuộc địa: “Hiện nay, tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản đế quốc đều lấy ở các xứ thuộc địa. Đó là nơi chủ nghĩa tư bản lấy nguyên liệu cho các nhà máy của nó, nơi nó đầu tư, tiêu thụ hàng, mộ nhân công rẻ mạt cho đạo quân lao động của nó, và nhất là tuyển những binh lính người bản xứ cho các đạo quân phản cách mạng của nó”. Xác định tầm quan trọng của thuộc địa đối với chính quốc, Hồ Chí Minh giải thích vì sao bọn thực dân, đế quốc ra sức nắm lấy thuộc địa.

Điều sâu sắc trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là người đã chứng minh rằng bọn đế quốc thống trị thuộc địa không chỉ áp bức bóc lột nhân dân, mà còn gây ra chiến tranh chống vô sản nước mình, chống lại phong trào cách mạng thế giới. Đây là sự phát triển sáng tạo tư tưởng Lênin về việc các nước đế quốc tranh giành thuộc địa và dẫn tới những cuộc chiến tranh đế quốc. Lò lửa chiến tranh không chỉ nổ ra ở các nước đế quốc, mà Hồ Chí Minh còn khẳng định thêm rằng các nước thuộc địa cũng có thể trở thành lò lửa chiến tranh của các nước đế quốc. Khi chiến tranh đế quốc nổ ra ở các thuộc địa thì mọi hậu quả của nó sẽ đổ dồn cho nhân dân lao động và giai cấp vô sản “phải nai lưng ra gánh”.

Điều quan trọng hơn là chủ nghĩa đế quốc có ý thức và trên thực tế đã biến các nước thuộc địa thành cǎn cứ để đánh phá cách mạng. Lời tiên đoán của Hồ Chí Minh cách đây 70 nǎm (khi viết bài “Đông Dương và Thái Bình Dương”) đã được lịch sử xác nhận là đúng: “Thế nào rồi cũng có ngày nước Nga cách mạng phải đọ sức với chủ nghĩa tư bản đó. Cho nên các đồng chí Nga cần phải biết rõ tất cả lực lượng và tất cả các mánh khoé trực tiếp hay gián tiếp của đối thủ của mình”. Quả là một ý thức cảnh giác và một lời cảnh cáo vô cùng chính xác! Từ việc làm sáng tỏ vị trí của thuộc địa, Nguyễn ái Quốc phê phán sự thờ ơ, lãnh đạm của “một số đông chiến sĩ (cộng sản-TG) vẫn còn tưởng rằng, một thuộc địa chẳng qua chỉ là “một xứ mà trên là mặt trời, dưới là đất, vài cây dừa xanh với mấy người khác màu da, thế thôi. Và họ hoàn toàn không để ý gì đến”.

Người đã đề nghị giai cấp công nhân, những người cộng sản ở chính quốc giúp nhân dân thuộc địa thực hiện nhiệm vụ cứu nước chủ yếu của mình:

– Giải phóng dân tộc mình đồng thời góp phần giải phóng các dân tộc khác, hỗ trợ tích cực cho cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chính quốc và thế giới.

– Phải chọn con đường cách mạng vô sản để đấu tranh giải phóng dân tộc. Thứ hai, thiết lập mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản chính quốc trong chiến lược cách mạng ở thuộc địa. C.Mác và Ph. Ǎngghen đã lưu ý đến mối quan hệ giữa nhân dân thuộc địa và chính quốc trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản. Nhưng do chú trọng đến nhiệm vụ của giai cấp công nhân đối với việc lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, nên có lúc cho rằng việc giải phóng thuộc địa chỉ thành công khi cách mạng vô sản ở chính quốc thắng lợi. Mác đã nhận thấy ngay tính chất hạn chế và sai lầm của quan điểm này và kịp thời sửa chữa. Trong Báo cáo gửi Ban chấp hành Quốc tế thứ nhất (10-12-1869), C.Mác đã thay đổi quan điểm của mình về vấn đề Airơlen như sau: “Đã từ lâu tôi nghĩ rằng có thể đánh đổ chế độ thống trị Airơlen bằng một cuộc nổi dậy mãnh liệt của giai cấp công nhân Anh… Nhưng nghiên cứu sâu hơn tôi lại tin ngược lại. Giai cấp công nhân Anh sẽ không thể làm gì được chừng nào nó chưa dứt bỏ Airơlen. Thế lực phản động Anh trong nước Anh bắt nguồn từ sự nô dịch Airơlen”.

Trên thực tế, C.Mác cũng chưa có dịp giải quyết mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc. V.I.Lênin quan tâm nhiều hơn đến mối quan hệ giữa cách mạng ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc. Trong tác phẩm Vận mệnh lịch sử của học thuyết của Các Mác, Lênin đã viết: “Bọn cơ hội chủ nghĩa chưa dứt lời tán tụng “hoà bình xã hội” và tính không tất yếu của những cơn bão táp dưới “chế độ dân chủ”, thì ở châu á đã bắt đầu phát sinh một nguồn mới những cơn bão táp cực kỳ lớn của thế giới… Chúng ta đang sống chính trong thời đại những cơn bão táp ấy và thời đại mà những cơn bão ấy đang “dội ngược trở lại” châu Âu”.

Do nhận thức được mối quan hệ, nhất là sự “dội ngược trở lại” của cơn bão táp cách mạng ở thuộc địa đối với giai cấp vô sản chính quốc mà Lênin đã mở rộng một cách hợp lý khẩu hiệu chiến đấu của C.Mác và Ph.Ǎngghen nêu trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản thành khẩu hiệu chiến lược: Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!. Người đã khẳng định đường lối đúng đắn của Quốc tế cộng sản đối với cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, được trình bày trong Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa: “Nền tảng của các chính sách quốc tế cộng sản trong các vấn đề dân tộc và thuộc địa là làm cho những người vô sản và quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc và tất cả các nước gần gũi nhau trong cuộc đấu tranh cách mạng chung để lật đổ bọn địa chủ và giai cấp tư sản, nếu không có sự bảo đảm đó thì không thể thủ tiêu sự áp bức dân tộc và tình trạng bất bình đẳng được”.

Tuy nhiên, V.I.Lênin vẫn chưa nêu đầy đủ vai trò của cách mạng thuộc địa, khi cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc giành thắng lợi sau và phụ thuộc vào cách mạng vô sản. Sau C.Mác, Ph.Ǎngghen, V.I.Lênin, trong Quốc tế cộng sản và trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Hồ Chí Minh là người thông hiểu, có quan điểm đúng đắn, sáng tạo về tình hình thuộc địa, về vai trò của các thuộc địa, nhất là về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc. Trước hết, với tinh thần cách mạng thẳng thắn, Nguyễn ái Quốc phê phán đảng cộng sản các nước tư bản đã không thực hiện đúng di huấn của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Người đòi hỏi: “Vì chúng ta tự coi mình là học trò của Lênin, cho nên chúng ta cần phải tập trung tất cả sức lực và nghị lực để thực hiện trên thực tế những lời di huấn quý báu của Lênin đối với chúng ta về vấn đề thuộc địa cũng như các vấn đề khác”.

Từ sự phân tích “tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản đế quốc đều lấy ở các xứ thuộc địa”, Hồ Chí Minh đã xác định sự tất yếu của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, vai trò của các thuộc địa đối với cách mạng vô sản, đối với chủ nghĩa đế quốc. Người khẳng định: hàng trǎm triệu người châu á bị nô dịch và áp bức sẽ thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một nhóm thực dân tham tàn và chính họ sẽ hình thành được một lực lượng đồ sộ vừa có thể thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, vừa giúp đỡ những người anh em ở phương Tây trong sự nghiệp giải phóng. Theo Hồ Chí Minh, cách mạng giải phóng dân tộc là “một bộ phận khǎng khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới”, là “một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”.

Như vậy khác với C.Mác, Ph.Ǎngghen và V.I.Lênin, Hồ Chí Minh không xem cách mạng giải phóng dân tộc phụ thuộc cách mạng vô sản chính quốc, mà đặt hai cuộc cách mạng này ngang hàng nhau, thậm chí còn cho cách mạng giải phóng dân tộc có khả nǎng và điều kiện nổ ra và thành công sớm hơn cách mạng vô sản ở chính quốc và giúp cho cách mạng vô sản ở chính quốc thắng lợi. Phải có sự thuần thục về lý luận và hiểu biết thực tế về các nước thuộc địa, về chủ nghĩa đế quốc, Hồ Chí Minh mới có thể hình tượng hoá mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản ở chính quốc bằng “hai cánh của một con chim” để giết chết “con đỉa tư bản chủ nghĩa có hai vòi: “một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra”.

Từ đường lối chiến lược ấy, Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân các nước thuộc địa và tư bản, đế quốc đoàn kết chống kẻ thù chung, coi cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản là sự nghiệp chung của giai cấp vô sản chính quốc và các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Người đã đề ra một chiến lược như sau: “… trước hết nảy ra khả nǎng và sự cần thiết phải có liên minh chiến đấu chặt chẽ giữa các dân tộc thuộc địa với giai cấp vô sản của các nước đế quốc để thắng kẻ thù chung. Cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân các nước tư bản trực tiếp giúp cho các dân tộc bị áp bức tự giải phóng mình… Trong khi đó, cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa tư bản. Sự nhất trí của cuộc đấu tranh chống đế quốc bảo đảm thắng lợi cho các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa và cho giai cấp vô sản ở các nước tư bản”.

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc vừa thể hiện vai trò của nhân dân các nước thuộc địa đấu tranh để tự giải phóng, tính độc lập, chủ động của cách mạng giải phóng dân tộc, vừa thể hiện sự hợp tác, phối hợp chặt chẽ với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Bởi vì “đứng trước chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, quyền lợi của chúng ta là thống nhất”. Đường lối chiến lược của Hồ Chí Minh nêu trên có ý nghĩa lý luận và giá trị chỉ đạo thực tiễn hết sức to lớn. Nó xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, song lại phát triển, làm phong phú, bổ sung “sự thiếu hiểu biết”, “thiếu kinh nghiệm” về “hậu phương của chủ nghĩa đế quốc” mà Lênin đã nêu ra. Thứ ba, xây dựng mặt trận đoàn kết dân tộc trong mỗi nước và hình thành mặt trận quốc tế chống chủ nghĩa thực dân đế quốc. Đó là đường lối chiến lược quan trọng của Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc.

Hồ Chí Minh đã tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân trong lịch sử và vận dụng vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, trong mỗi dân tộc, với tư cách một quốc gia, lại có những dân tộc với tư cách những tộc người và cũng có những giai cấp xã hội khác nhau. Các dân tộc có những nét riêng về lịch sử, kinh tế, phong tục, tập quán…, đồng thời có những điểm chung của một cộng đồng nhiều dân tộc. Các giai cấp có địa vị xã hội, lợi ích riêng, đồng thời có nghĩa vụ và lợi ích chung. Nhiều người trước đây và hiện nay, không hiểu thấu đáo quan điểm đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin về quan hệ giữa các tộc người trong một cộng đồng dân tộc, cũng như giữa các tầng lớp, giai cấp trong một xã hội, đặc biệt là ở các nước thuộc địa, phụ thuộc.

Vì vậy, ở nhiều nước đã xảy ra tình trạng chia rẽ giữa các tộc người, làm suy yếu lực lượng yêu nước, cách mạng chống đế quốc. Bọn thực dân không bỏ qua những dịp như vậy để chia rẽ các dân tộc khác nhau trên cùng một lãnh thổ nhằm duy trì, củng cố sự thống trị của chúng, gây nên những cảnh “nồi da nấu thịt”, “huynh đệ tương tàn” trong những cuộc xung đột sắc tộc. Cũng do không phân tích đúng tình hình các tầng lớp, giai cấp trong xã hội thuộc địa nên đã xảy ra sự kỳ thị xã hội, nảy sinh những khuynh hướng “tả”, nặng về đấu tranh giai cấp mà nhẹ về đấu tranh cho độc lập dân tộc. Hồ Chí Minh chủ trương phải tiến hành sự đoàn kết dân tộc ở mỗi nước trong một mặt trận thống nhất, mới có đủ lực lượng chống chủ nghĩa thực dân áp bức thống trị cả dân tộc. Đó là yêu cầu quan trọng, cấp thiết bao giờ cũng được Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt.

Trong nhiều bài nói, bài viết, Hồ Chí Minh đã rút ra những bài học về sứ mệnh đoàn kết trong lịch sử. Khi trình bày Lịch sử nước ta, Người đã nhấn mạnh rằng, sở dĩ ông cha ta chống ngoại xâm thắng lợi là: “Vì dân hǎng hái kết đoàn, Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng” Nguyễn Tất Thành thức lừa bịp thể, tư tưởng Hồ Chí Còn thất bại là: “Vì dân đoàn kết chưa sâu, Cho nên thất bại trước sau mấy lần”. Từ kinh nghiệm lịch sử, Người kêu gọi “Dân ta xin nhớ chữ đồng, Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh” Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở rằng, thực hiện đoàn kết các dân tộc trong một quốc gia – dân tộc sẽ là cơ sở xã hội- chính trị để thực hiện đoàn kết giữa các quốc gia – dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất nước.

Đoàn kết dân tộc theo quan điểm của Hồ Chí Minh là một vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của quốc gia – dân tộc, là một đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng mỗi nước. Từ thực tế Việt Nam (cũng là của nhiều nước thuộc địa khác), Hồ Chí Minh đã khái quát ý nghĩa, vai trò của sự đoàn kết bằng một nguyên lý như sau: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công!” Sự đoàn kết các tầng lớp, giai cấp trong xã hội các nước thuộc địa phức tạp, khó khǎn bởi những địa vị, quyền lợi khác nhau. Tuy vậy, Hồ Chí Minh đã nhận thấy mọi tầng lớp, giai cấp trong một nước thuộc địa, ngoài những sự khác biệt về quyền lợi và địa vị, có chung một tổn thất – sự mất nước, một nguyện vọng chung – được độc lập.

Với tấm lòng thương yêu, đồng cảm với đồng bào trong một nước, Hồ Chí Minh cũng tỏ ra bao dung, rộng lượng với những kẻ lầm đường, lạc lối, sau khi thức tỉnh, có thể quay về với đại gia đình tổ quốc. Nhận thức mặt tích cực của những người thuộc tầng lớp trên của xã hội, thuộc giai cấp tư sản dân tộc, trong bộ máy chính quyền thực dân ở thuộc địa, Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết lâu dài, thực tâm với họ để cùng nhau đấu tranh cho độc lập dân tộc. Quan niệm đúng đắn này phù hợp với tình hình xã hội các nước thuộc địa, phụ thuộc. Sự đoàn kết dân tộc, đoàn kết các tầng lớp, giai cấp yêu nước, tiến bộ trong một nước được Hồ Chí Minh thực hiện qua việc thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi.

Tổ chức mặt trận vẫn đảm bảo đầy đủ tính chất giai cấp vô sản của nó; bởi vì Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng trên cơ sở khối liên minh công nông vững chắc, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Về vấn đề này, Hồ Chí Minh lý giải: “Cuộc cách mạng trong các nước thuộc địa và nửa thuộc địa là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ. Để đưa cuộc cách mạng đó đến thắng lợi, có thể và cần phải thành lập một mặt trận dân tộc rộng rãi, đoàn kết tất cả các giai cấp và tầng lớp xã hội mong muốn giải phóng khỏi ách thuộc địa” và “Liên minh của quần chúng nông dân đông đảo với giai cấp công nhân là cơ sở chủ yếu để có thể lập ra một mặt trận dân tộc rộng rãi và vững chắc”.

Đường lối thành lập mặt trận dân tộc không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với nhân dân Việt Nam mà còn có giá trị với tất cả các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc, đấu tranh cho độc lập và xây dựng xã hội mới. Tính giai cấp vô sản của mặt trận dân tộc thống nhất, theo Hồ Chí Minh, không giới hạn ở việc tổ chức giai cấp công nhân và nông dân – “gốc cách mệnh”, mà cả những “bầu bạn cách mệnh của công nông …”. Trong số đó phải kể đến giai cấp tư sản dân tộc. Người chỉ rõ: “một điều phải chú ý đặc biệt là vai trò của giai cấp tư sản nói chung tại các nước thuộc địa và phụ thuộc không giống vai trò của giai cấp tư sản tại các nước tư bản. Giai cấp tư sản dân tộc có thể tham gia tích cực vào cuộc cách mạng dân tộc- dân chủ”. Điều này có ý nghĩa tích cực đối với phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc, do giai cấp tư sản dân tộc lãnh đạo.

Hồ Chí Minh nhận thấy những mặt hạn chế, tiêu cực của giai cấp này, song vẫn thừa nhận mặt tích cực của nó. Vì vậy đã chủ trương mở rộng sự hợp tác, hữu nghị với các dân tộc vừa giành được độc lập, do giai cấp tư sản lãnh đạo. Một nguyên tắc quan trọng mà Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong việc thực hiện mặt trận dân tộc thống nhất trong mỗi nước là phải nhằm vào mục tiêu chung: độc lập, tự do, hạnh phúc. Mặt trận dân tộc thống nhất là vòng trong thì Mặt trận quốc tế là vòng ngoài của sự đoàn kết. Hồ Chí Minh chú trọng cả hai mặt trận này và liên kết chặt chẽ với nhau.

Từ đầu những nǎm 20, Người đã đóng góp vào việc thành lập mặt trận quốc tế đoàn kết nhân dân bị áp bức để hỗ trợ nhau trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Trong các cuộc kháng chiến bảo vệ độc lạp, Người càng mở rộng mặt trận đoàn kết với nhân dân lao động thế giới, kể cả nhân dân các nước đi xâm lược, như nhân dân Pháp, Mỹ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh đã góp phần không chỉ hình thành Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam, mà còn “về tinh thần, mặt trận thống nhất phản đế đã hình thành giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ. Và từ đó, ở Mỹ phong trào chống xâm lược ngày càng lên cao”.

Việc giáo dục chủ nghĩa quốc tế chân chính qua sự đoàn kết các dân tộc chống áp bức được Hồ Chí Minh coi trọng và phát huy tác dụng trong thực tiễn. Sự đoàn kết dân tộc, quốc tế là một đường lối chiến lược tạo nên những yếu tố quan trọng, góp phần vào thắng lợi của nhân dân thuộc địa trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do. Thứ tư, vạch ra đường lối đấu tranh vũ trang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đường lối đấu tranh vũ trang thể hiện của tư tưởng quân sự, tư tưởng về độc lập, giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh. Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin là “dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”, Hồ Chí Minh khẳng định rằng việc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa phải thông qua con đường đấu tranh vũ trang mới giành được độc lập, tự do.

Quan điểm này hoàn toàn không mâu thuẫn, đối lập với tư tưởng yêu chuộng hoà bình, chống chiến tranh, tránh những cuộc xung đột đẫm máu. Người mong muốn bằng con đường hoà bình để giành độc lập, nhưng nếu bọn đế quốc xâm lực buộc nhân dân bị áp bức, thống trị cầm súng thì không thể từ chối. Hơn nữa, chỉ có xây dựng được sức mạnh toàn dân, trong đó có sức mạnh vũ trang thì mới có thế và lực để đối thoại với kẻ thù. Đây là bài học mà nhân dân Việt Nam rút ra từ thực tiễn đấu tranh cách mạng của mình, và cũng để lại cho nhân dân thế giới những kinh nghiệm quý báu về xây dựng lực lượng vũ trang, về quốc phòng toàn dân. Hồ Chí Minh rất coi trọng chiến tranh nhân dân. Người đã vạch ra chiến lược toàn dân kháng chiến. Mọi người chiến đấu với mọi vũ khí trong tay. “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”.

Cuộc kháng chiến toàn dân tiến hành trên tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, vǎn hoá, giáo dục, ngoại giao, trong đó “quân sự là việc chủ chốt”. Vì vậy, trong đường lối quân sự của Hồ Chí Minh việc xây dựng lực lượng vũ trang là điều kiện quan trọng để đấu tranh giành chính quyền, bảo vệ độc lập. Tư tưởng này được thể hiện trong thực tiễn cách mạng của nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, kể từ phong trào cách mạng Xô viết Nghệ Tĩnh. Song Người cũng lưu ý là việc xây dựng vũ trang phải được tiến hành trên nền tảng phong trào cách mạng toàn dân. Tư tưởng này được thể hiện trong việc tổ chức lực lượng vũ trang, bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Cách tổ chức này không chỉ huy động được sức mạnh toàn dân trong đấu tranh chống kẻ thù, mà còn phù hợp với tình hình của các nước thuộc địa không có điều kiện xây dựng một đội quân đông đảo, phải kết hợp chiến đấu với công tác và sản xuất.

Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trong xây dựng lực lượng vũ trang không chỉ nhấn mạnh đến cơ sở nhân dân, lấy “lực lượng là ở dân” mà còn khẳng định sự lãnh đạo của Đảng trên mọi mặt của công tác này, nhất là mặt chính trị. Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đây là một vấn đề có tính nguyên tắc, theo Người: “quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. ở đây cần nhấn mạnh rằng, trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ độc lập, Hồ Chí Minh coi trọng đến “sức mạnh của bản thân” là chính, nên việc tổ chức lực lượng vũ trang toàn dân là yêu cầu vô cùng quan trọng. Nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc đã và đang đấu tranh bảo vệ Tổ quốc tìm thấy ở Hồ Chí Minh một mẫu mực về đường lối quân sự cứu nước. Nó càng chứng tỏ rằng cách mạng giải phóng dân tộc phải là một cuộc cách mạng bạo lực với các hình thức và phương pháp đấu tranh thích hợp, liên tục tấn công, đánh bại từng bước, đánh thắng từng bộ phận, tiến tới giành độc lập hoàn toàn, tiến lên xây dựng xã hội vǎn minh, giàu mạnh.

***

Tư tưởng về dân tộc và giải phóng dân tộc là một bộ phận quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Nó gắn liền với lý tưởng giải phóng xã hội, giải phóng con người, kết thành một hệ thống trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Người. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc quan hệ chặt chẽ, biện chứng với cách mạng xã hội chủ nghĩa ở các nước thuộc địa. Đây là một cống hiến lớn của Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. “Vào thời kỳ ấy, hệ thống luận điểm của Hồ Chí Minh mới mẻ đến kỳ lạ, khó lòng tưởng tượng. Nó nằm trong dòng sáng tạo cách mạng của những con người mà cống hiến lý luận và sự nghiệp đấu tranh vạch đường cho thời đại”. Sự phát triển biện chứng trong con đường từ giải phóng dân tộc lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân thuộc địa chứng tỏ rằng, giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân phong kiến chưa đem lại hạnh phúc, tự do hoàn toàn cho nhân dân; cách mạng xã hội chủ nghĩa không những giữ vững được thành quả cách mạng dân tộc dân chủ mà còn làm cho nước giàu dân mạnh thực sự. Đường lối cách mạng này được thực hiện một cách hài hoà, cân đối, hợp lý ở Việt Nam. Kinh nghiệm Việt Nam thu được trong cuộc đấu tranh dưới ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được nhân dân nhiều nước đánh giá cao và học tập. Trong nửa thế kỷ qua, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải phóng dân tộc không chỉ mang lại thắng lợi cho nhân dân Việt Nam mà cho nhiều nước khác. Điều này càng xác nhận tính cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.

GS. Phan Ngọc Liên (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995)

cpv.org.vn

Advertisements