Archive | Tháng Sáu 2011

Hồ Chí Minh, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế

(ĐCSVN) – Thế giới ngày nay có biết bao đổi thay sâu rộng, khó lường, nhưng loài người không bao giờ quên những đóng góp lịch sử vĩ đại của cách mạng vô sản và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Loài người cũng mãi mãi tự hào về những chiến sĩ lỗi lạc, những lãnh tụ kiệt xuất đã từng xuất hiện và trưởng thành từ phong trào cộng sản, phong trào cách mạng sôi động ấy, trong đó có Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969)

Từ khi Đồng minh những người cộng sản ra đời với bản Tuyên ngôn Đảng Cộng sản do Mác và Ăngghen soạn thảo (1848) đến nay, phong trào cộng sản quốc tế đã có lịch sử hơn 160 năm chiến đấu vẻ vang và chiến thắng vĩ đại. Từ chỗ bị các thế lực thù địch sợ hãi xem như một “bóng ma ám ảnh châu Âu”, các lực lượng cộng sản đã ngày càng hiện hữu trong vai trò, vị trí lãnh đạo nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức tiến hành hàng loạt cuộc cách mạng làm rung chuyển thế giới, kết thúc thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản, mở ra một thời đại mới trên thế giới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đi đầu trong đội quân tiên phong ấy là C. Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và tiếp bước họ là những lãnh tụ kiệt xuất, những chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cách mạng, phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, trong đó, ngời sáng tên tuổi và sự nghiệp của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ cách mạng mà ngay từ rất sớm đã được hàng triệu người trên thế giới biết đến. Người được ngưỡng mộ là “nhà mácxít-lêninít khiêm tốn nhất và triệt để nhất của thời đại chúng ta” (Phiđen Caxtrô); là “biểu tượng của sự sáng suốt cộng sản chủ nghĩa ở châu Á” (R.Arixmênđi); là “nhà lãnh đạo vĩ đại và kiên định” (I.Ganđi); là tấm gương lớn nhất về “sự toàn vẹn, lòng nhân ái và tính khiêm tốn” (X.Agienđê)… Nhân dân Liên Xô trước kia quen gọi Hồ Chí Minh là một “chiến sĩ cách mạng lỗi lạc”. Thế giới ngày nay tôn vinh Người là Anh hùng Giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hoá. Tất cả những giá trị cao đẹp ấy hội tụ trong chân dung Hồ Chí Minh: một vị lãnh tụ thiên tài và một người thầy vĩ đại của dân tộc Việt Nam; một chiến sĩ lỗi lạc, một người bạn chiến đấu kiên cường và thân thiết của phong trào cộng sản quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và cả loài người tiến bộ, như Trung ương Đảng ta đã đánh giá trong giờ phút đau thương phải vĩnh biệt Người cách đây hơn 40 năm.

Tư cách chiến sĩ lỗi lạc của Hồ Chí Minh được quyết định bởi sự nghiệp cách mạng vĩ đại, những đóng góp to lớn, chủ nghĩa quốc tế vô sản và những phẩm giá cao đẹp của chính Người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có sự nghiệp cách mạng thật sự vĩ đại, đó là đã lãnh đạo thành công cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á, góp phần to lớn vào phong trào cách mạng, phong trào cộng sản quốc tế. Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh nước nhà bị thực dân đô hộ, người thanh niên Nguyễn Tất Thành sớm nung nấu hoài bão giải phóng dân tộc. Đồng thời, người thanh niên ấy cũng sớm nhận ra những hạn chế lịch sử của hàng loạt phong trào đấu tranh yêu nước ngày ấy và quyết tâm tìm con đường cứu dân, cứu nước tiên tiến, phù hợp. Hoà mình vào phong trào công nhân, phong trào xã hội ở Pháp và nhiều quốc gia phương Tây khác, Nguyễn Ái Quốc đã đến được với ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, đã tìm ra con đường cách mạng duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc mình, đó là con đường cách mạng vô sản. Mùa Xuân năm 1930, Người chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chính đảng tiền phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam. Hội nghị đã đề ra Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt tuyên bố tiến hành tư sản dân quyền cách mạng, thổ địa cách mạng để tiến tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Dưới sự tổ chức và rèn luyện trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, chỉ 15 năm sau, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, lật đổ chế độ thực dân – phong kiến, thành lập nhà nước công – nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở đầu quá trình tan rã của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Bàng hoàng và hoảng sợ trước ngọn đuốc giải phóng dân tộc trong thời đại mới đã được thắp sáng tại Việt Nam, thực dân Pháp và các thế lực phản động quốc tế phiêu lưu xâm lược Đông Dương một lần nữa. Sau nhiều cố gắng thương lượng bất thành, từ tháng 12 năm 1946, lãnh tụ Hồ Chí Minh một lần nữa lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam tiến hành trường kỳ kháng chiến và 9 năm sau kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Tiếp nối Điện Biên Phủ – Việt Nam là hàng chuỗi phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp nổ ra ở không gian Á, Phi và Mỹ La tinh rộng lớn trong suốt các thập kỷ 50, 60 và 70 của thế kỷ XX. Hệ thống thuộc địa thế giới đã từng được chủ nghĩa thực dân đế quốc xây dựng ròng rã trong 500 năm đã nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng chưa đầy 50 năm sau mốc son Việt Nam mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

Sau thất bại của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thế chân, nhảy vào miền Nam, âm mưu chiếm đóng, chia cắt lâu dài đất nước nhằm chống phá chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã lãnh đạo toàn dân tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: hoàn thiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngay trong hoàn cảnh đặc biệt ấy, chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn ngày càng được củng cố, miền Bắc hoàn thành nghĩa vụ cao cả là hậu phương lớn cho miền Nam đánh Mỹ. Quân và dân miền Nam đã lần lượt làm thất bại mọi chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và tiến tới Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Lá cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – lá cờ bách chiến, bách thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn quân và toàn dân giương cao, biến Việt Nam thành lương tâm và khí phách của cả thờì đại. Chiến thắng năm 1975 của Việt Nam là chiến thắng của thời đại Hồ Chí Minh, chiến thắng của dân tộc chống đế quốc, của chủ nghĩa xã hội đối với chủ nghĩa tư bản, của văn minh chống lại bạo tàn, góp phần to lớn vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên toàn thế giới.

Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về sự kiên định, trung thành với mục tiêu lý tưởng cộng sản; đồng thời, đã vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với điều kiện Việt Nam, góp phần xứng đáng vào tăng cường sức sống cho hệ tư tưởng cộng sản trong thời đại mới.  Chính vì vậy, Người không chỉ được kính trọng, ngưỡng mộ, mà còn là một tấm gương cần noi theo, một sự chỉ dẫn không thể thiếu đối với nhân dân Việt Nam và đông đảo lực lượng cách mạng, tiến bộ toàn thế giới trước kia, hiện tại và tương lai.

Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa cộng sản, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người trong một sự nghiệp cách mạng. Lập trường cộng sản của Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở của một nhận thức đúng đắn, một ý chí sắt son với quốc gia dân tộc, một trình độ giác ngộ giai cấp sâu sắc qua thực tiễn hoạt động chính trị – xã hội phong phú của bản thân Người. Bởi vậy, ngay trong hoàn cảnh hoạt động bí mật hiểm nghèo, trong chốn lao tù khắc nghiệt, hay trong những thời điểm bị chính các đồng chí cộng sản hiểu lầm, đánh giá sai…, Người vẫn luôn luôn tự tin, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cộng sản.

Điều hết sức đặc sắc ở Hồ Chí Minh là Người đã duy trì sự kiên định, trung thành bằng cách vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận cộng sản chủ nghĩa một cách kịp thời, đúng đắn và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam cũng như với bối cảnh mới của thời đại. Những luận điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa đế quốc như con đỉa hai vòi; về vai trò, vị trí của cách mạng vô sản ở thuộc địa đối với cách mạng thế giới nói chung và cách mạng vô sản ở chính quốc nói riêng; về khả năng, tiềm năng cách mạng của các lực lượng dân tộc chủ nghĩa ở Đông Dương; về giải quyết mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; về quy luật ra đời của đảng cộng sản ở Việt Nam; về chủ nghĩa xã hội và quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội thuộc địa – phong kiến; về xây dựng nền văn hóa và con người mới xã hội chủ nghĩa; về khối đại đoàn kết toàn dân tộc như động lực của toàn bộ sự nghiệp cách mạng; về xây dựng nền quốc phòng toàn dân với sức mạnh tổng hợp, chiến tranh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân; về xây dựng Nhà nước, xây dựng Đảng như tổ chức của những công bộc, những người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; về nền đối ngoại hòa bình, độc lập tự chủ, hợp tác và hội nhập quốc tế… là những cống hiến vô giá đối với chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới.

Hệ thống lý luận do Mác, Ăngghen và Lênin xây dựng cách đây hàng thế kỷ vẫn có ý nghĩa thời đại sâu sắc một phần rất lớn là nhờ được nhiều lãnh tụ cách mạng, trong đó có Hồ Chí Minh của Việt Nam, bổ sung, phát triển thông qua tổng kết thực tiễn sinh động của quốc gia và thế giới đương thời. Đối với những người cộng sản và nhân dân Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn có giá trị soi sáng con đường cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội trước kia và công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 25 năm đổi mới vừa qua cũng như những đóng góp của đổi mới đối với quá trình phục hồi, phát triển của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, trên ý nghĩa hiện thực của nó, cũng chính là thành công và đóng góp của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh là một chiến sĩ trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản, có đóng góp to lớn cho tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân tất cả các nước, giữa các nước xã hội chủ nghĩa, giữa vô sản và các dân tộc bị áp bức và giữa các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới với nhau. Chủ nghĩa quốc tế của Hồ Chí Minh có nội dung phong phú: Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột; đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu chung, “bốn phương vô sản đều là anh em”; đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội; đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chân chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc…

Năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc đi tìm con đường giải phóng dân tộc. Từ năm 1912 đến năm l917, Người đến nhiều nước châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hòa mình với nhân dân lao động. Thông cảm sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ, sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới và Người đã hoạt động tích cực nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc giành tự do, độc lập.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Vécxây bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa. Tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Năm 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Tháng 4 năm 1922, Hội ra báo Người cùng khổ (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm l925, một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng.

Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, làm việc trong Quốc tế Cộng sản. Tháng 10 năm l923, tại Hội nghị Quốc tế nông dân lần thứ I, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân như đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa. Người tham dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ.  Tại các diễn đàn này, Người kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc.

Hồ Chí Minh là một nhân cách cộng sản mẫu mựcsuốt đời phấn đấu, hy sinh cho độc lập của dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân; sống cuộc đời giản dị, khiêm tốn, ham học hỏi, nói đi đôi với làm; thực hành nghiêm túc các nguyên tắc sinh hoạt của Đảng; gắn bó máu thịt với nhân dân, thường xuyên nhấn mạnh quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Trọn đời, Người chỉ có một mục đích duy nhất là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Người “…chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước nhà được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t4, tr.161).

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, trong đó chứa đựng tinh hoa của đạo đức nhân loại, đạo đức dân tộc và đạo đức cộng sản mà Mác, Ăngghen, Lênin đã đặt nền móng. Nội dung hàng đầu của đạo đức Hồ Chí Minh là trung với nước, hiếu với dân, là tình yêu thương con người. Chữ “trung”, chữ “hiếu” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển lên tầm cao cộng sản, đó là trung thành với lợi ích quốc gia, với độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân, sẵn sàng hy sinh hạnh phúc cá nhân vì nghĩa cả, nghiệp lớn. Chính vì vậy, đạo đức Hồ Chí Minh là biểu tượng của chủ nghĩa nhân văn cao cả nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Người chỉ rõ: Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nước thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t5, tr.252).  Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, dốc trọn tâm can, nhiệt huyết cho dân, cho nước, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, không tơ hào lợi lộc, vinh hoa phú quý là nội dung rất quan trọng trong đạo đức Hồ Chí Minh, được vị lãnh tụ đề cập ngay từ đầu trong tác phẩm Đường cách mạng và nhấn mạnh trong Di chúc để lại cho đồng bào, đồng chí trước lúc đi xa.

Trong mọi hoàn cảnh, dù ở thủ đô hay trong rừng núi, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn giản dị, thanh cao. Hình ảnh vị lãnh tụ với cháo bẹ, rau măng,  lán rạ… trong núi rừng kháng chiến; hay đôi dép cao su, bộ ka ki khiêm tốn, ngôi nhà sàn bé nhỏ, đơn sơ… trên cương vị nguyên thủ quốc gia, mà khi đi vào cõi vĩnh hằng không để lại một chút tài sản riêng tư, đã tạc dấu ấn của một nhân cách cộng sản đích thực vào tinh thần thời đại ngày nay.

Nhân cách cộng sản Hồ Chí Minh còn tỏa sáng một cách mẫu mực từ việc làm, cách ứng xử và cuộc sống hàng ngày của Người. Khi kêu gọi toàn dân xây dựng hũ gạo kháng chiến, vị Chủ tịch nước Hồ Chí Minh cũng mỗi bữa bớt lại một nắm gạo và 10 ngày nhịn ăn một bữa. Khi kêu gọi toàn dân rèn luyện thân thể, Người cũng “tự tôi, ngày nào tôi cũng tập”. Để thực hiện nghiêm túc chủ trương tiết kiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn mang theo cơm nắm, muối vừng trong mỗi chuyến công tác,v.v… Suốt đời, Người thực hiện nói ít, làm nhiều, nói đi đôi với làm, cán bộ làm gương cho quần chúng noi theo, xây đi đôi với chống, lấy xây làm chính và thực hành tu dưỡng đạo đức thường xuyên như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Nhân cách cộng sản Hồ Chí Minh cũng tỏa sáng một cách độc đáo từ quan niệm Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Ngay sau khi thành lập nước, trong điều kiện Đảng trở thành đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, kiên trì đấu tranh phòng chống các căn bệnh, nguy cơ quan liêu, xa rời cuộc sống, xa rời quần chúng nhân dân, đặc quyền đặc lợi, chủ nghĩa cá nhân… Theo Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn và sức mạnh của chủ nghĩa xã hội chưa hẳn là đời sống vật chất cao, mà trước hết ở các giá trị nhân văn, đạo đức của nó, được thể hiện trong từng cán bộ cách mạng và đảng viên. Người nhấn mạnh: “Phong trào cộng sản quốc tế trở thành lực lượng quyết định vận mệnh loài người chẳng những là do chiến lược và sách lược thiên tài của cách mạng vô sản, mà còn do những phẩm chất đạo đức cao quý làm cho chủ nghĩa cộng sản trở thành sức mạnh vô địch” (Hồ Chí Minh: Lênin và Cách mạng tháng Mười. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.160).

Thế giới ngày nay có biết bao đổi thay sâu rộng, khó lường. Sự nghiệp của những người cộng sản đã phải nếm trải không ít đổ vỡ, mất mát nhưng loài người không bao giờ quên, không bao giờ phủ nhận những đóng góp lịch sử vĩ đại của cách mạng vô sản và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới trong suốt thế kỷ XX. Loài người cũng mãi mãi tự hào về những chiến sĩ lỗi lạc, những lãnh tụ kiệt xuất đã từng xuất hiện và trưởng thành từ phong trào cộng sản, phong trào cách mạng sôi động ấy, trong đó có Hồ Chí Minh (Việt Nam).

Ở những thập niên đầu thế kỷ XXI hiện nay, nhân dân lao động toàn thế giới đang nỗ lực và sáng tạo đấu tranh vì một thế giới tốt đẹp hơn: một thế giới của hòa bình, độc lập dân tộc; một thế giới khác với thế giới tư bản chủ nghĩa, không còn áp bức, bóc lột, bất công. Tuy nội dung, hình thức đấu tranh có nhiều điểm khác trước, nhưng mục tiêu đấu tranh vẫn thống nhất với thời kỳ của các thế hệ tiền bối cách mạng. Bởi vậy, lá cờ của C. Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và tấm gương của các chiến sĩ cộng sản lỗi lạc như Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị dẫn đường./.

PGS. TS Nguyễn Viết Thảo (Tổng Biên tập Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam)

dangcongsan.vn

“Tổng tuyển cử là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ, đoàn kết”

(ĐCSVN)Đó là lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết: “Ý nghĩa tổng tuyển cử”[1] , một tuần trước ngày Tổng tuyển cử đầu tiên của dân tộc. Người viết: “Tổng tuyển cử là một dịp để cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, gánh vác công việc nước nhà.” Cho đến nay, điều này vẫn được kiểm chứng và khẳng định qua nhiều lần nhân dân ta đi bầu đại biểu Quốc hội, những người đại diện xứng đáng nhất cho mình để lập ra cơ quan lập pháp tối cao của dân, do dân, vì dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ phiếu bầu cử Quốc hội
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. (Ảnh tư liệu).

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết những dòng trên trong lúc đất nước ta đang ở trong tình thế vô cùng khó khăn, hiểm nghèo. Những ngày sau Cách mạng Tháng Tám 1945, vấn đề giữ vững độc lập dân tộc đặt ra vô cùng cấp bách. Chính quyền cách mạng non trẻ lãnh đạo nhân dân vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa phải đối phó với âm mưu bạo loạn, lật đổ của “thù trong” vừa phải lo chống giặc “ngoài” xâm lược. Trong tình thế nước sôi lửa bỏng đó, Đảng ta – đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh – kêu gọi đoàn kết, đại đoàn kết vì lợi ích tối cao của dân tộc, của Tổ quốc. Mặc dù buộc phải rút vào bí mật, nhưng Đảng vẫn có những chủ trương lãnh đạo kịp thời và sáng suốt, bằng những biện pháp cụ thể, phù hợp và khéo léo nhằm mục đích xây dựng, củng cố và bảo vệ vững chắc hệ thống Chính quyền cách mạng từ trung ương đến địa phương. Chính quyền cách mạng là tiền đề và cơ sở bảo đảm cho cuộc đấu tranh giữ vững Độc lập dân tộc, Trong những năm tháng vô cùng khó khăn đó, Đảng đã huy động đến mức cao nhất nội lực của cả dân tộc Việt Nam cho cuộc đấu tranh bảo vệ những thành quả của Cách mạng Tháng Tám. Trong tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, người Việt Nam nào, dù ở đâu cũng tìm thấy chỗ đứng của mình trong cuộc đấu tranh chung.

Tỷ lệ nhân dân cả nước đi bầu cử trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên trung bình là 89%, nhiều nơi đạt 95%, dù kẻ thù chống phá quyết liệt, đã nói lên sự đúng đắn và hiệu quả của chiến lược đại đoàn kết trong việc nâng cao ý thức và năng lực thực hiện dân chủ của nhân dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người đề xướng từ những bước đầu tiên.

Chính phủ Cách mạng lâm thời được chính thức hoá sau cuộc Tổng tuyển cử ngày 6- 1- 1946, bao gồm nhiều thành phần, đại diện cho các tầng lớp xã hội, đấu tranh cho quyền lợi của cả dân tộc Việt Nam, đã trở thành công cụ mạnh mẽ, sắc bén để đưa cách mạng tiến lên. Những chính sách, đạo luật do Chính phủ ban hành và đặc biệt là bản Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội khoá I thông qua ngày 9- 11- 1946 đã thể hiện rõ tính ưu việt của chế độ mới. Chính phủ Cách mạng được toàn dân bảo vệ vì nó hợp với lòng dân và đã trở thành hạt nhân, là mục tiêu ủng hộ của khối đại đoàn kết dân tộc gồm nhiều tổ chức đoàn thể quần chúng rộng rãi và mạnh mẽ. Sự vững chắc của Chính quyền Cách mạng đã là điều kiện bảo đảm, là công cụ thúc đẩy cuộc kháng chiến chống xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc của nhân dân ta đến thắng lợi cuối cùng.

Tổng tuyển cử là dịp để mỗi người dân thực hiện quyền tự do dân chủ của mình, bầu những người đại diện xứng đáng, đủ đức, đủ tài vào cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân. Quốc hội của dân bầu ra Chính phủ vì dân. Nhân dân thông qua Quốc hội để thực hiện quyền dân chủ của mình, kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả những công việc của Chính phủ.

Nhân dân có ngàn tai vạn mắt, có thể đánh giá chính xác những ưu điểm, khuyết điểm của bộ máy chính quyền cũng như của từng cán bộ. Nhân dân là người có quyền lực cao nhất, nhân dân chính là người có ý kiến tối hậu về hiệu quả mọi công tác của Chính phủ, phẩm chất của mọi cán bộ công chức – thậm chí “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”[2] .

Hồ Chí Minh thường xuyên chú trọng tới việc tạo dựng một môi truờng dân chủ. Người chủ trương: Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta. Đồng thời Người thường xuyên và kiên quyết chống lại những biểu hiện mất dân chủ, xâm phạm tới quyền dân chủ của nhân dân: quan liêu, tham ô, lãng phí, chuyên quyền độc đoán, xa dân… Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân” và “Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ”. Khi xây dựng bộ máy nhà nước dân chủ, khi lập pháp và hành pháp, trong các hoạt động của các cơ quan, đoàn thể từ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan trung ương cho đến các đơn vị cơ sở; từ các đơn vị kinh tế đến các tổ chức quần chúng…, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt vấn đề đem lại và bảo vệ lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Người căn dặn cán bộ làm việc ở các cơ quan, tổ chức: Phải đặt lợi ích cuả dân chúng lên trên hết. Người còn nhấn mạnh: Nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi – lỗi ở đây không chỉ nên hiểu là lỗi trong công tác mà còn là lỗi về mặt đạo lý.

Trước ngày bầu cử Quốc hội khóa XIII, những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về bầu cử cách đây 65 năm vẫn mang nhiều ý nghĩa. Bầu cử Quốc hội khóa XIII là một dịp chúng ta tập trung thực hiện tốt hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ từ cơ sở để nhân dân trực tiếp bầu ra những đại biểu của mình – những người thật sự có đức, có tài và có tâm, những người thật sự vì dân, vì nước. Quốc hội phải thực hiện tốt hơn chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề lớn của đất nước và thực hiện tốt hơn vai trò giám sát tối cao vì lợi ích của nhân dân. Chính phủ cũng như chính quyền các cấp phải hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành pháp, đẩy mạnh cải cách nền hành chính quốc gia (bao gồm thể chế hành chính, tổ chức bộ máy, đội ngũ công chức và tài chính công). Chính quyền các cấp do những đại biểu của dân bầu ra phải thật sự tôn trọng lợi ích của nhân dân.

——————————————————————————–

[1] Báo Cứu quốc số 130, ngày 31- 12- 1945

[2] Hồ Chí Minh – Toàn tập – Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 5, tr 60

Các từ khóa theo tin:

Ngô Vương Anh

dangcongsan.vn

Bối cảnh lịch sử tác động đến hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh

(ĐCSVN)Vừa tròn một thế kỷ, kể từ khi Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc và sau này là Hồ Chí Minh rời bến cảng Nhà Rồng, Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 – 5/6/2011). Đối với Nguyễn Tất Thành, đây không phải là quyết định giản đơn, tình cờ, mà là kết quả tổng hợp của một quá trình phân tích, lý giải khoa học những nhân tố thuận -nghịch của bối cảnh trong nước và thế giới tác động đến cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, để lựa chọn đúng hướng đi và xác định con đường cứu nước thành công.

1. Đối với tiến trình giải phóng dân tộc, đây là sự kiện mang nội dung cách mạng và ý nghĩa lịch sử lớn lao. Bởi lẽ, sự kiện lịch sử này vừa là mốc kết thúc một quá trình tổng hợp những yếu tố chủ quan và khách quan của bối cảnh lịch sử, vừa là bước khởi đầu hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh hồi đầu thế kỷ XX. Vì vậy, ý nghĩa và tầm vóc lớn lao của nó mãi mãi được ghi nhận và phát huy trong suốt hành trình cứu nước của Người trước đây và trên con đường đổi mới đất nước hiện nay.

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội lần thứ XVIII của
Đảng Xã hội Pháp ở Tua, tháng 12/1920 (ảnh tư liệu)

Trước hết, cần hiểu rõ khái niệm “tác động của bối cảnh lịch sử” là gì? Theo chúng tôi: Một là, Không phải toàn bộ bối cảnh lịch sử (trong nước và thế giới) đều tác động đến hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh. Do đó, bài viết này sẽ không nghiên cứu toàn bộ bối cảnh cuộc hành trình, mà chỉ đi sâu nghiên cứu những sự kiện lịch sử được Người biết đến và gây tác động đến quá trình hình thành con đường cứu nước của Người. Hai là, bối cảnh không phải là bức tranh bất động mà nó thường xuyên thay đổi và gây ảnh hưởng đến xu thế phát triển, hoạt động của mỗi tổ chức, con người. Vì vậy, bối cảnh lịch sử tác động đến hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh bao gồm những sự kiện lịch sử mà Người nhận thức, mà trước hết phải kể đến những sự kiện mang ý nghĩa thời đại, gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam…

Điểm khởi đầu hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh là sự kiện ngày 5 tháng 6 năm 1911. Tiếp đó là quá trình vừa lao động, vừa học tập lý luận và hoạt động thực tiễn để tìm ra con đường giải phóng dân tộc thành công. Đó là những năm tháng bôn ba đầy khó khăn của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ở nhiều quốc gia, châu lục. Vì vậy, nghiên cứu tác động của bối cảnh lịch sử đến hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh không chỉ là nghiên cứu những nhân tố hình thành quyết tâm và hướng đi mà còn nghiên cứu làm rõ hàng loạt yếu tố mới Người “bắt gặp”- nhận thức trong quá trình hình thành đường lối cứu nước của mình.

Vì vậy, ở đây không cần thiết phải thống kê đầy đủ tình hình trong nước và thế giới, cũng không phải mô tả kỹ lưỡng những sự kiện lịch sử đã diễn ra vì đó là bối cảnh chung mà bất kỳ con người đương thời nào đều sống trong đó, dù họ có nhận thức được “bối cảnh” ấy hay không.

Vậy bối cảnh lịch sử tác động đến sự hình thành quyết tâm và hướng xuất dương tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh là gì ?

2. Cuối thế kỷ XIX, sự kiện lịch sử tác động mạnh mẽ đến tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam; làm thay đổi kết cấu giai cấp, ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống mọi người dân (trong đó có họ hàng, gia đình và bản thân Hồ Chí Minh) là thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Sau thời kỳ “bình định”, thực dân Pháp thi hành chính sách “khai thác thuộc địa” – thực chất là tăng cường bóc lột, vơ vét thuộc địa. Vì vậy, đời sống nhân dân lao động đã khó khăn, càng thêm khốn đốn. Hậu quả là Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến.

Sang đầu thế kỷ XX, đời sống các tầng lớp nhân dân càng bị bần cùng hoá. Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và chế độ thuộc địa ngày một gay gắt, trở thành mâu thuẫn vừa cơ bản, vừa chủ yếu. Bên cạnh đó, mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ càng gay gắt. Đây là trở lực lớn, kìm hãm sự phát triển của xã hội Việt Nam.

Vì vậy, chỉ có giải quyết thành công những mâu thuẫn trên đây – đồng nghĩa với việc tìm ra con đường cứu nước, giành lại độc lập dân tộc thì xã hội Việt Nam mới tiếp tục phát triển. Đó là đòi hỏi khách quan, cấp bách của cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỷ XX.

Để giải quyết mâu thuẫn trên, nhiều phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi với mục tiêu “Phen này quyết chống cả Triều lẫn Tây”. Đó là phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục… do các sỹ phu yêu nước chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo hay khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân đảng dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài…rồi khởi nghĩa nông dân Yên Thế dưới sự lãnh đạo của Hoàng Hoa Thám kéo dài hơn 30 năm… Đó là trang sử đấu tranh vẻ vang của dân tộc trên con đường đấu tranh giành độc lập. Mặc dù diễn ra sôi nổi, rộng khắp các vùng miền, nhưng tất cả các cuộc đấu tranh cuối cùng đều thất bại. Bối cảnh lịch sử này, sau này, Hồ Chí Minh viết trong bài Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay: “Trong suốt gần một thế kỷ thống trị của thực dân Pháp, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không ngừng phát triển, kẻ trước ngã, người sau đứng dậy. Nhưng tất cả những cuộc khởi nghĩa yêu nước ấy đã bị dìm trong máu. Những đám mây đen lại bao phủ đất nước Việt Nam”[1]

Thực tế thất bại của lớp cha ông đã chỉ ra rằng: sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản trước nhiệm vụ lịch sử đặt ra là lãnh đạo toàn dân chống Pháp, giành lại độc lập dân tộc. Cách mạng Việt Nam khủng hoảng về đường lối, tức là thiếu hệ thống lý luận cách mạng tiên tiến của giai cấp công nhân có khả năng dẫn dắt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam thành công. Câu hỏi của “bài toán thế kỷ” đặt ra cho dân tộc ta: Ai là người lãnh đạo thành công nhiệm vụ giải phóng dân tộc ở Việt Nam ? đến lúc này vẫn chưa có lời giải.

Bối cảnh trên đây, sau này được Hồ Chí Minh nói rõ khi trả lời nhà văn Mỹ Anna Luy Xtơrông: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác lại nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ”[2]!?

Xuất thân từ gia đình trí thức phong kiến có truyền thống yêu nước, trọng nghĩa, Hồ Chí Minh sớm mang trong mình lòng yêu nước, thương dân. Tuổi học đường của Người gắn bó với những năm tháng quan trường ngắn ngủi đầy trắc trở của người cha Nguyễn Sinh Huy. Người đã theo cha đến cả ba miền đất nước, biết được cuộc sống khó khăn của người dân mất nước dù họ ở xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ “bảo hộ” hay Nam Kỳ “thuộc địa”. Người có thời gian sống ở Huế. Đó là điều kiện để Người tìm hiểu, làm quen với cuộc sống quan chức, Hoàng triều. Tuy nhiên, thực tế ấy đã làm cho Người thấy rõ hơn cuộc sống phụ thuộc, thấp hèn của giới quan chức, tay sai. Từ những trải nghiệm đầu đời của mình và cuộc sống lận đận, trắc trở của người cha, Hồ Chí Minh càng thấu hiểu ý nghĩa thực tế của câu chuyện cha mình thường bình giải “Quan trường thị nô lệ, trung chi nô lệ, hựu nô lệ”. Cho nên, đầu năm 1910, sau khi ông Nguyễn Sinh Huy bị bãi chức thì ông vào Nam Kỳ hành nghề bốc thuốc trị bệnh cứu người, còn Hồ Chí Minh thì thấy rõ hơn sự thối nát của chế độ quan trường. Điều này càng thôi thúc Người quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. Trong tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Trần Dân Tiên đã viết: “Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ, Anh đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc”[3].

Tuy nhiên, đi đâu và làm gì để tìm ra con đường cứu nước thành công luôn là công việc hết sức khó khăn. Bởi lẽ, bọn thực dân rất bưng bít tư tưởng mới, ngăn trở sách báo tiến bộ với âm mưu giam hãm dân ta trong vòng nô lệ. Người đã nói với nhà báo Liên Xô Ôxip Manđenxtam: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế…Trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người ta như con vẹt.Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà cả Rútô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài”[4]…

Trong quá trình xác định con đường cứu một dân tộc, lòng căm thù giặc và quyết tâm chưa đủ, mà còn phải lý giải được nguyên nhân thất bại của các bậc tiền bối, hiểu được điều kiện chủ quan và khách quan của bối cảnh lịch sử, trên cơ sở đó mà vạch ra hướng đi của con đường cũng như những yếu tố đảm bảo thắng lợi.

Trước thất bại liên tiếp về con đường cứu nước của các bậc tiền bối, Người nhận xét:

“Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương…Điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương.

Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”.

Cụ Hoàng Hoa Thám còn thực tế hơn, vì còn trực tiếp đấu tranh chống Pháp. Nhưng theo người ta kể thì Cụ còn mang nặng cốt cách phong kiến”[5].

Từ những trải nghiệm cuộc sống và với quyết tâm lớn, Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện ra mâu thuẫn giữa chế độ đàn áp bóc lột dã man của bọn thực dân ở Việt Nam với cái lý tưởng cao đẹp của nước Pháp – quốc gia đã đề xướng ra lý tưởng cao đẹp và hấp dẫn mọi con người ” Tự do – Bình đẳng – Bác ái”, muốn biết cái gì bí mật ẩn náu ở “nước Mẹ” xa xôi ! Người cho rằng “Muốn đánh hổ thì phải vào hang hổ!”. Và chính những nhận thức về bối cảnh đất nước và những tìm hiểu của Hồ Chí Minh về nước Pháp đã thôi thúc Người sang Pháp và các nước khác… Đây không phải là hành động ngẫu nhiên, tự phát mà là sự lựa chọn, trăn trở; một quyết tâm lớn, nhằm đáp ứng đòi hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam.

Quyết định sang phương Tây của Hồ Chí Minh là sự phủ nhận sự tồn tại nhà nước thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam. Đó là đòn tiến công đầu tiên của Hồ Chí Minh đối với nhà nước đương thời, mở cửa ra thế giới để đón nhận những nhân tố mới của thời đại, tiếp thu lý luận tiên tiến, tích hợp tinh hoa văn hoá nhân loại để hình thành con đường cứu nước Việt Nam thông qua Hành trình cứu nước của một con người – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Ngày 3 tháng 6 năm 1911, Người xuống tàu buôn Pháp Amiran Latusơ Tơrêvin( Amiral Latouche Treville) thuộc Hãng Năm sao đang cập cảng Nhà Rồng gặp thuyền trưởng Maixen (Maisen) và được nhận vào làm phụ bếp trên tàu. Ngày 5 tháng 6 năm 1911 tàu Amiran Latusơ Tơrêvin rời bến cảng Nhà Rồng mang theo người thanh niên Việt Nam 21 tuổi với khát vọng cháy bỏng là tìm ra con đường cứu nước Việt Nam khỏi ách thống trị thực dân phong kiến.

3. Khi rời Tổ Quốc, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh có quyết tâm cao, nhưng sự hiểu biết về thế giới còn hạn chế. Sự ra đi ấy khẳng định một quyết tâm lớn, nhưng biết bao câu hỏi còn bỏ ngỏ. Vốn hiểu biết của Người chưa có thể nhận thức được đặc điểm, xu thế của thời đại. Từng bước một, vừa lao động kiếm sống, vừa học tập lý luận và hoạt động xã hội, Hồ Chí Minh dần dần nhìn ra bối cảnh của hành trình tìm đường cứu nước. Từ hoạt động trong nhiều tổ chức chính trị, xã hội, những trải nghiệm cuộc sống trong nhiều quốc gia thập niên 10, 20 thế kỷ XX, Hồ Chí Minh sớm nhìn ra những yếu tố ảnh hưởng đến cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam như con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, tư tưởng Lênin và đường lối giải phóng thuộc địa của Quốc tế Cộng sản (QTCS). Nhiều bài viết, bài nói, báo cáo của Hồ Chí Minh gửi QTCS đã thể hiện quá trình nhận thức của Người về thời cuộc và sự tổng hợp, vận dụng sáng tạo những nhân tố tích cực của bối cảnh lịch sử để hình thành con đường cứu nước của mình.

Điều cần lưu ý ở đây là Hồ Chí Minh rời Tổ quốc hoà nhập vào thế giới trong thời điểm chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Hệ thống thuộc địa đã hình thành trên phạm vi thế giới. Trong Tham luận trình bày tại Đại hội lần thứ V của QTCS (1924), Hồ Chí Minh chỉ rõ: Năm 1876: 1/4 tỷ người dân thuộc địa thì năm 1914: 1/2 tỷ dân thuộc địa. Đến đầu những năm 20, diện tích các nước thuộc địa gấp 5 diện tích các nước chính quốc, còn dân số chính quốc chưa bằng 3/5 số dân các nước thuộc địa. Số dân thuộc địa Anh đông gấp hơn 8,5 số dân nước Anh còn đất đai rộng gấp 252 lần của nước Anh[6]… Cuộc đấu tranh giải phóng của các thuộc địa và phụ thuộc tuy đã được đẩy mạnh ở các nước châu Âu như: Airơlen, Ba Lan nhưng chưa có nước nào giành được độc lập. Còn ở châu Á, tuy đã trỗi dậy một “Châu Á thức tỉnh” nhưng các quốc gia lớn như: Ấn Độ, Trung Quốc, Inđônêxia vẫn đang là thuộc địa của bọn đế quốc. Trên phạm vi toàn thế giới, chưa có một thuộc địa nào được giải phóng. Con đường giải phóng dân tộc chưa có một hình mẫu, tấm gương soi chung!

Vì vậy, hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh lúc này cũng mới chỉ là quyết tâm và định hướng. Người bắt đầu bằng nghề phụ bếp rồi sau đó là công nhân trên tàu buôn Pháp. Nhờ đó, Người có dịp qua nhiều quốc gia như: Xinhgapo, Côlômbô, Aicập, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Angiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Mỹ. Đầu năm 1913, Người từ Mỹ về Lơ Havơrơ sau đó sang Anh. Tại đây, Người làm nghề đốt lò, quét tuyết, phục vụ khách sạn. Bất kỳ hoàn cảnh nào, Người thường xuyên chú ý tìm hiểu đời sống và gần gũi với người lao động. Người rất xúc động trước điều kiện sống cực khổ và bị đàn áp của người da đen[7]. Sau những tháng năm trải nghiệm cuộc sống người dân thuộc địa làm thuê, Người dần dần nhận ra một điều: Ở đâu cũng có người nghèo và sự giàu nghèo không phụ thuộc vào màu da, chủng tộc. Người lao động ở đâu cũng khổ cực và biết thương yêu nhau.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp, vừa tiếp tục lao động kiếm sống, vừa tích cực tham gia hoạt động chính trị xã hội. Người liên hệ chặt chẽ với công nhân Pháp, những đại biểu thuộc địa và những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Đây là thời kỳ hoạt động sôi nổi và có hiệu quả trong hành trình tìm thấy con đường cứu nước Việt Nam. Đầu năm 1919, Người vào Đảng Xã hội Pháp: “Chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái” [8]. Giữa năm 1919, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi “Bản yêu sách tám điểm “của nhân dân An Nam tới Hội nghị các nước đế quốc họp tại Vécxây (Versailles). Mặc dù Yêu sách chỉ nêu những yêu cầu tối thiểu trong khuôn khổ cải cách, nhưng các tác giả của bản Yêu sách ấy đã không nhận được một lời phúc đáp. Từ thực tế ấy, Người kết luận: “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”[9]. Thực tế trên đây đã giúp Hồ Chí Minh hiểu thêm bối cảnh khách quan mà hành trình cứu nước không thể bỏ qua. Hành trình đi tìm con đường cứu nước của Hồ Chí Minh vẫn đang tiếp tục.

Sự kiện cực kỳ quan trọng làm chuyển biến cơ bản nhận thức con đường cứu nước giải phóng dân tộc của Người là được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng trên báo Nhân đạo (L’Humanité) tháng 7-1920. Luận cương đã mang lại cho Người ánh sáng về con đường cách mạng giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa. Khẳng định ý nghĩa to lớn của Luận cương trong hành trình tìm ra con đường cứu nước, sau này Người viết: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”[10]. Cho đến cuối đời, Hồ Chí Minh càng trung thành với con đường độc lập dân tộc bao nhiêu, thì càng trung thành bấy nhiêu với những lý luận Lênin viết trong Sơ thảo Luận cương và đường lối của Quốc tế Cộng sản về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Điều này thể hiện rất rõ khi Người trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp Sáclơ Phuốcniô: “Từ ngày Luận cương của Lênin đã hoàn toàn soi sáng cho tôi, tôi không còn chỉ dự các cuộc họp của Đảng một cách thụ động nữa. Tôi lao vào cuộc chiến đấu, hăng hái bàn cãi, tiến công mạnh mẽ những kẻ chống lại Lênin và Quốc tế thứ ba”[11].

Sự kiện được đọc bản Sơ thảo những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin cùng với những hoạt động sát cánh với công nhân, trí thức Pháp và các đại biểu thuộc địa cùng đồng bào mình trên đất Pháp trước đó đã tạo tiền đề quan trọng để tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp tại thành phố Tua tháng 12 năm 1920, Hồ Chí Minh tích cực thảo luận và sớm quyết định bỏ phiếu ủng hộ Đảng mình gia nhập Quốc tế thứ ba. Người đã tham gia dự thảo Nghị quyết về chủ nghĩa Cộng sản và các thuộc địaLời kêu gọi những người bản xứ ở các thuộc địa tại Đại hội lần thứ nhất (1921) và lần thứ hai (1922) Đảng Cộng sản Pháp. Người đã trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên có nhiều đóng góp tích cực cho vấn đề giải phóng thuộc địa.

Với những sự kiện trên đây, Hồ Chí Minh đã từ người yêu nước trở thành người cộng sản chân chính. Và đây còn là mốc quan trọng đánh dấu việc Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường cứu nước. Người đã hoàn thành sứ mạng Người tìm thấy con đường cứu nước Việt Nam .

Tiếp theo là những hoạt động của Hồ Chí Minh với sứ mạng Người dẫn đường cứu nước đến thắng lợi.

Tìm thấy đường lối, con đường cứu nước đã khó, tiến hành tuyên truyền vận động quần chúng và tổ chức thắng lợi đường lối ấy trên thực tế còn khó hơn nhiều. Vì trong suốt tiến trình thực tế hoá đường lối ấy, người lãnh đạo có quyết tâm chưa đủ mà còn phải đánh giá đúng tình hình, lựa chọn đúng thời điểm, địa bàn”đối nội” và phải tìm được những cộng sự có thực tế và kinh nghiệm vận động tổ chức quần chúng. Tháng 6-1923, trong thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp Người phác họa công việc của mình – Người dẫn đường cứu nước khi trở về Tổ quốc là: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng là trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”[12]. Tuy nhiên con đường ấy còn nhiều gian truân. Người đã trải qua nhiều công việc, hoạt động ở nhiều quốc gia như: Nghiên cứu lý luận tại Đại học Phương Đông, dự nhiều Hội nghị quốc tế tại Liên Xô, làm cán bộ Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản và nhiều năm làm phiên dịch trong Phái bộ Bôrôđin tại Trung Quốc (1924-1927). Cũng trong thời gian này, tại Quảng Châu, Người đã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên – Tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Giữa năm 1927 Người trở lại Liên Xô, thực hiện nhiệm vụ do Quốc tế Cộng sản giao ở Pháp, Bỉ, Đức, Thuỵ Sĩ, Italia rồi về Xiêm, Thái Lan, Trung Quốc.

Đầu năm 1930 tại Hồng Kông (Trung Quốc), Người đã chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Cũng tại đây, từ giữa năm 1931 đến năm 1933, Người bị thực dân Anh bắt giam. Đầu năm 1934 sau khi thoát tù, Người trở lại Liên Xô học Trường Quốc tế Lênin và làm nghiên cứu sinh tại Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa (thuộc Ban Phương Đông, Quốc tế Cộng sản). Thành công nổi bật trong hoạt động cách mạng của Người là nhận thức và giải quyết thoả đáng mối quan hệ dân tộc và giai cấp – vấn đề quan trọng và nhạy cảm mà ngay Quốc tế Cộng sản cũng có lúc mắc sai lầm. Người rất chú ý đặc điểm và truyền thống dân tộc, nhưng không vì thế mà xa rời lập trường giai cấp. Điều này được thể hiện qua luận điểm: “Vậy là màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”[13]. Những luận điểm sáng tạo về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng thuộc địa còn được thể hiện rõ trong nhiều bài báo , đặc biệt trong tham luận của Người được trình bày tại Đại hội V của QTCS năm 1924. Trong bối cảnh QTCS chịu ảnh hưởng sâu sắc của trào lưu “tả” khuynh, biệt phái từ sau khi Lênin qua đời (1924), đặc biệt sau Đại hội VI của QTCS (1928), Người vẫn kiên trì học tập lý luận và thường xuyên lập kế hoạch về nước thực thi con đường cứu nước để bắt liên lạc với Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở trong nước.

Nét đặc sắc nhất cuộc hành trình cứu nước 30 năm là không bao giờ Người xa rời mục đích về nước cứu đồng bào. Khi ở Liên Xô dự Đại hội lần thứ VI Quốc tế Thanh niên, Người nói với nhà văn I. Êrenbua: “Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở và Tổ quốc”[14]. Khi đang hoạt động trong Bát lộ quân Trung Quốc, Người vẫn bí mật liên lạc với Ban lãnh đạo Đảng trong nước chuẩn bị xây dựng căn cứ địa vùng biên giới Việt Trung. Cuối tháng 6 năm 1940, ngay sau khi Pháp đầu hàng phát xít Đức, Người chỉ thị gấp cho đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp không đi học Trường Quân chính của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Diên An nữa mà cùng các đồng chí Phùng Chí Kiên, Vũ Anh đi Quế Lâm, Nam Ninh (Quảng Tây) hướng về Cao Bằng đón thời cơ mới. Đầu năm 1941, sau 30 năm ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh kết thúc Hành trình cứu nước, về vùng rừng núi Cao Bằng – địa đầu Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo dân tộc thực hành đường lối cứu nước mới, mở ra giai đoạn mới trong công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam.

4. Ra đi tìm đường cứu một quốc gia là nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Nhưng tìm thấy con đường ấy và điều quan trọng tiếp theo là bổ sung, hoàn thiện nó cho phù hợp với điều kiện cụ thể rồi đưa về áp dụng trong nước là việc khó gấp bội phần. Sau nhiều lần thất bại của các bậc tiền bối, Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên kết hợp thành công sức mạnh trong nước và quốc tế – dân tộc và thời đại, yếu tố khách quan và chủ quan để tìm ra lời giải cho “Bài toán thế kỷ” đã đặt ra trước dân tộc từ đầu thế kỷ XX. Người đã khảo sát thực tế, nghiên cứu lý luận, tổng kết kinh nghiệm của nhiều thế hệ đã tìm thấy con đường cứu Việt Nam khỏi ách thống trị thực dân phong kiến. Tuy nhiên cần thấy rõ, đây không phải đơn giản là việc lựa chọn một mô hình con đường có sẵn để vận dụng vào Việt Nam. Mặc dù Luận cương của Lênin cũng như những quan điểm của Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Pháp có vị trí quan trọng trong “con đường cứu nước” mà Hồ Chí Minh tìm đến; song chỉ ngần ấy thôi, chưa phải là con đường cứu nước Hồ Chí Minh, bởi lẽ đó chỉ là những nguyên tắc lý luận, định hướng mang tính phổ biến. Con đường cứu nước Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo những nguyên tắc, quan điểm ấy vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam không chỉ được tạo ra bởi tác động mạnh mẽ của bối cảnh lịch sử mà còn bởi những đóng góp đầy sáng tạo của Hồ Chí Minh. Thắng lợi công cuộc giải phóng ở Việt Nam đã mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi thế giới. Đó tác động trở lại của cách mạng Việt Nam với thế giới, dấu ấn của Hồ Chí Minh với thời đại. Do đó, thế giới đã tôn vinh Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá kiệt xuất Việt Nam./.

——————————————————————————–

[1]. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1996,T1,tr.314

[2].Dẫn theo báo Nhân Dân, ngày 18 tháng 5 năm 1965

[3] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb.CTQG-Nxb.TN,H.1994,tr.12

[4] . Hồ Chí Minh Toàn tập,Nxb. CTQG, H.1995,t.1,tr.477

[5] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện…, Sđd,tr.12

[6] Xem: Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb.CTQG,H.1995,t1,tr.273-289

[7]. Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 40-50

[8] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện…Sđd, tr.41-42

[9] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện…Sđd,tr.31

[10] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd,t. 10 tr.127

[11] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd,t12,tr.471

[12] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd,t.1 tr.192

[13] Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd,t.1,tr.266

[14] Hồ Chí Minh-Biên niên tiểu sử, xuất bản lần thứ 2,Nxb.CTQG, H.2006,t.2,tr.63

PGS.TS Lê Văn Tích (Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh)

dangcongsan.vn

Bác Hồ và nước Việt Nam


Bác Hồ là vị lãnh tụ tối cao, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Tìm hiểu về Bác, học tập Bác là một điều phải làm suốt cả cuộc đời và cho cả nhiều thế hệ mai sau. Với một sự hiểu biết rộng lớn, một tâm hồn bao la rộng mở, Bác đã để lại cho mọi người trên toàn thế giới sự ngưỡng mộ và kính phục lớn lao.

Năm 1890, Nguyễn Sinh Cung, chú bé sau này mang tên Hồ Chí Minh, cất tiếng khóc chào đời trên mảnh đất Việt Nam khi đất nước Việt Nam đang bị thực dân Pháp chiếm đóng. Lớn lên, vào tuổi trưởng thành, năm 1911, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi, bôn ba khắp bốn phương trời để mở đầu cho sự nghiệp cứu nhà, cứu nước.

Với một sự hiểu biết rộng lớn, một tâm hồn bao la rộng mở, Bác đã để lại cho mọi người trên toàn thế giới sự ngưỡng mộ và kính phục lớn lao.

Trong thời điểm lịch sử mà cả thế giới loài người đang trong cuộc đối đầu, đối địch lẫn nhau, Hồ Chí Minh đã đi đầu đấu tranh cho sự hòa hợp của các dân tộc trên toàn thế giới. Bác không chỉ mưu cầu cho sự nghiệp cứu nhà, cứu nước, đồng thời còn có lòng mong muốn giải phóng loài người khỏi cuộc sống lầm than.

Hồ Chí Minh là người tiếp thu mọi giá trị tư tưởng của loài người từ Đông sang Tây, từ châu Phi cho đến châu Mỹ. Bác đến với Chủ nghĩa Cộng sản, tiếp cận cả với tinh hoa của cách mạng tư sản và phong trào giải phóng dân tộc. Chủ nghĩa Cộng sản với Bác Hồ là một Chủ nghĩa Cộng sản tôn trọng cá nhân, vì con người đúng nghĩa.

Hồ Chí Minh là một con người kết hợp những tư tưởng duy lý của phương Tây với sự hài hòa của văn hóa phương Đông. Bác tìm hiểu các tư tưởng kinh điển của châu Âu, tư tưởng Mác – Lênin của phương Tây và cả Nho học, Khổng giáo lẫn Lão tử của phương Đông. Theo Bác, Khổng Tử, Mác, Lênin, Đức Phật, Jesus và Tôn Dật Tiên nếu còn sống thì các vị ấy sẽ sống thoải mái với nhau như những người bạn.

Bác là một nhà chính trị lỗi lạc, đồng thời là một nhà báo, nhà văn, một nhà thơ, biết vẽ, biết đóng kịch và thấu hiểu các nền văn hóa kinh điển, lãng mạn và hiện đại, nói được nhiều ngoại ngữ của các dân tộc trên thế giới. Bác luyện cả võ công.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình.

Bác quen biết với tất cả các danh nhân, vĩ nhân trên thế giới. Ai gặp Bác lần đầu cũng đều cảm mến và Bác luôn luôn được coi là con người bình dị giữa mọi người. Sự hiểu biết rộng lớn của Bác không làm lu mờ bản chất văn hóa Việt Nam.

Hồ Chí Minh quan tâm từ việc lớn đến việc nhỏ, từ việc vạch ra đường lối giải phóng dân tộc, lãnh đạo quản lý đất nước cho đến việc đồng áng, trồng rau, nuôi cá và dạy dỗ trẻ con. Cái đặc biệt của Bác Hồ là một con người rất vĩ đại, đồng thời là một con người rất dung dị. Bác có ham muốn tạo dựng cuộc sống tốt đẹp cho mọi người và chỉ muốn có được một cuộc sống bình thường dung dị cho riêng mình.

Chúng ta ai cũng biết nhiều về các hoạt động chính trị của Bác, về vai trò lãnh đạo của Bác, nhưng không phải ai cũng hiểu hết về cuộc sống đời thường của Bác. Cuộc sống đời thường của Bác lại là một bài học lớn cho tất cả mọi người từ già tới trẻ trong cuộc sống của mình.

Bác là một lãnh tụ tối cao, nhưng Bác không cao đạo, không sùng bái cá nhân. Những con người bình thường ở khắp mọi nơi khi được tiếp xúc với Bác đều lưu giữ những kỷ niệm khó quên.

Vào nhà dân, Bác ngồi bệt xuống đất, bế trẻ vào lòng cho bé vuốt râu. Ra đồng, xắn quần lên cùng dân tát nước. Thử hỏi mấy ai trong số những lãnh tụ tối cao trên cõi thế gian này có một cuộc sống hòa đồng với mọi người như Bác.

Cái nhân cách, cái phẩm chất lớn lao nhất của Hồ Chí Minh là ở chỗ đó. Một con người hiếm có ở cõi thế gian.

Phương Đông và phương Tây, Quốc gia và Quốc tế, Lý trí và Tình cảm, Lãnh tụ và Dân thường, tất cả đều hòa nhập làm một trong một con người. Hồ Chí Minh đã giải quyết những mâu thuẫn ấy trong bản thể của mình một cách biện chứng và tuyệt vời. Bác không chỉ vĩ đại khi đứng ở một Cực mà đã nối liền các Cực hòa quyện trong bản thân, Âm Dương hợp nhất trong một bản thể. Một con người có nhân cách lớn, một con người theo đúng nghĩa làm Người. Vì vậy, Bác đã được thế giới tôn vinh là “Danh nhân văn hóa, Anh hùng giải phóng dân tộc”. Bác Hồ là một “Vị Thánh của Cách mạng”. Bác Hồ đồng thời là một Nhà tiên tri.

Trong thế kỷ XX, Bác Hồ là một vị lãnh tụ tối cao đã đem tài đức của mình ra để giải phóng đất nước thoát khỏi sự xâm lăng của nước ngoài.

Bước vào thế kỷ XXI, thế giới đang đứng trước những cơn biến động lớn. Việc xây dựng đất nước trong hòa bình đang đứng trước nhiều khó khăn nan giải. Một số lớn người dân vẫn đang còn sống trong cảnh cơ cực. Một số người đang bị biến chất.

Bác đã ra đi nhưng vẫn đang còn hiện hữu trên cõi đời này. Bác đang theo dõi từng bước đi của mỗi một con người, để vực con người ra khỏi sự mê lầm vấp ngã trước cái thế giới đang chứa đựng rất nhiều hiểm nguy, giả tạo.

Mỗi một con người Việt Nam hiện nay đều đang lắng nghe từ trong tâm khảm của mình tiếng vọng của Bác dội về để mà sống để mà thương yêu, đoàn kết dìu dắt nhau cùng vượt qua bước ngoặt lịch sử này.

Cung cấp nhiều tư liệu quí về Hồ Chủ tịch

Đây là chương trình lớn với nhiều thông tin, tư liệu quý giá về Chủ tịch Hồ Chí Minh, để kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và được truyền hình trực tiếp trên VTV1 lúc 20h ngày 4/6/2011. Chương trình sẽ cung cấp cho khán giả nhiều tư liệu quý giá về Chủ tịch Hồ Chí Minh: Thư của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành gửi Tổng thống và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp xin học trường thuộc địa, chân dung Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và quyết định tìm đường cứu nước lịch sử qua cuộc phỏng vấn với TS. Sophie Quin-Jugde; Nhà sử học, nhà báo, nhà Việt Nam học Evgeny Kobelev; GS sử học Alain Ruscio hay ông Raymond Aubrac, người bạn Pháp thân thiết của nhân dân Việt Nam… Khán giả cũng biết thêm về những quyết sách tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm tháng khó khăn nhất của cách mạng Việt Nam… thông qua cuộc trò chuyện với hai vị khách mời là PGS-TS. Bùi Đình Phong, Học viện chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh và nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Trần Trọng Trung.

Thái Hoàng

cand.com.vn

Bến cảng Sài Gòn – nơi mở đầu hành trình vĩ đại của Người

(Dân trí) – Từ bến cảng Sài Gòn, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước, mở đầu một cuộc hành trình vĩ đại, vô cùng gian lao. Suốt 30 năm bôn ba Người đã tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.

Ngày 31/5, Thành ủy TPHCM đã phối hợp với Ban tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh và Bộ Văn hóa – Thể thao & Du lịch tổ chức hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước”.

Hơn 500 đại biểu là cán bộ lãnh đạo Đảng và nhà nước, cán bộ lão thành cách mạng, đại diện các tầng lớp nhân dân đến tham dự hội thảo

Tham dự hội thảo có ông Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng; ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ; ông Đinh Thế Huynh, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; ông Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy TPHCM; Trung tướng Trần Đại Quang, Thứ trưởng Bộ Công an…

Khai mạc hội thảo, ông Đinh Thế Huynh phát biểu: “Cách đây 100 năm, ngày 5/6/1911, từ bến cảng Sài Gòn, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã ra đi tìm đường cứu nước. Đó là thời điểm sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta bế tắc về đường lối, như trong đêm tối không có đường ra. Biết bao cuộc khởi nghĩa và phong trào yêu nước bị thực dân đàn áp, bị dìm trong bể máu và đều thất bại”.

Trong bối cảnh lịch sử đó, Bác Hồ đã ra đi với đôi bàn tay trắng, ra đi để tìm kiếm một con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Ông Đinh Thế Huynh nhìn nhận: “Đó là sự mở đầu cho một cuộc hành trình vĩ đại, vô cùng gian lao, quả cảm và sáng tạo suốt 30 năm đi tìm chân lý, tìm con đường giải phóng cho cả dân tộc Việt Nam”.

Từ bến cảng Sài Gòn, Người đã ra đi tìm đường cứu nước (ảnh tư liệu)

Phát biểu báo cáo đề dẫn hội thảo, Phó bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Văn Đua cho biết: “Mục đích của hội thảo là nhằm nâng cao nhận thức và tôn vinh công ơn trời biển của Bác Hồ, khẳng định ý nghĩa lịch sử và thời đại của sự kiện Bác Hồ ra đi ngày 5/6/1911 như một mốc son trong lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng; khẳng định lựa chọn sáng suốt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam”.

Ông Trần Trọng Tân, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tương Văn hóa Trung ương cũng đồng tình với ý kiến trên. Theo ông thì ngày 5/6/1911 là ngày có ý nghĩa lịch sử trọng đại, bởi vì “đó là ngày từ cảng Sài Gòn, Người đã ra đi tìm đường cứu nước và đã tìm được con đường đúng”.

Với ý nghĩa quan trọng này, hội thảo đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của các cán bộ lãnh đạo Đảng và nhà nước, các cán bộ lão thành cách mạng, các nhà khoa học… Đến ngày hội thảo khai mạc, ban tổ chức đã nhận được 137 bài tham luận, trong đó có tham luận của nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười và nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu.

Các tham luận xoay quanh 4 nội dung chính là: Bối cảnh lịch sử của đất nước và quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Sự lựa chọn của Người khi Người chọn ra đi từ thành phố Sài Gòn; Hành trình tìm đường cứu nước vĩ đại trong suốt 30 năm của Người; Quyết tâm vững bước theo con đường cách mạng mà Người đã chọn.

Bác bắt đầu ra đi tìm đường cứu nước bằng chính sức lao động của đôi bàn tay mình trên con tàu Amiral Latouche Tre1ville (ảnh tư liệu)

Trong tham luận của mình, nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu nhấn mạnh, chúng ta phải kiên trì đi theo con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân lựa chọn; để kiên định và kiên trì con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn thì trong mọi hoạt động của Đảng, phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam.

Ông cho rằng: “Đi theo con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn là một cuộc đấu tranh để xây dựng cái mới và loại trừ cái cũ không còn phù hợp, là sự nghiệp mãi mãi của các thế hệ Việt Nam. Chúng ta khẳng định quyết tâm không gì lay chuyển nổi, tiếp tục thực hiện con đường cách mạng vinh quang đó tới đích”.

Trong tham luận “Vững bước trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng: “Ngay sau khi cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nếu nước độc lập mà dân không được hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Người khẳng định, đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi dào khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất thật rộng rãi, dùng máy móc trong công nghiệp và trong nông nghiệp… Đó là con đường phải đi của chúng ta, con đường công nghiệp hóa nước nhà”.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trao đổi cùng nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu bên lề hội thảo
Cũng trong tham luận này, Thủ tướng chia sẻ: “Lịch sử có những sự trùng hợp thú vị. Từ thành phố này, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước. Và Thành phố này cũng là một nơi khởi phát mạnh mẽ những tìm tòi con đường đổi mới, đưa nước ta thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ 20, dẫn đến quyết định lịch sử của Đại hội Đảng lần thứ VI. Trong 25 năm qua, TPHCM luôn giữ được vai trò tiên phong trong tiến trình đổi mới theo đường lối của Đảng”.

Và Thủ tướng gửi gắm nhiệm vụ cho lãnh đạo TPHCM: “Cần tập trung phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, thân thiện với môi trường, các dịch vụ có giá trị gia tăng lớn, xây dựng nền nông nghiệp sạch, đi đôi với đầu tư phát triển nhanh kết cấu hạ tầng và tăng cường chất lượng quản lý đô thị, tập trung giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc. Đồng thời, Thành phố phải rất coi trọng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để đi đầu trong việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế tri thức.”.

Thủ tướng tin tưởng từ thành công đó của TPHCM sẽ tạo tác động lan tỏa góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở cả khu vực phía Nam và trong cả nước. Ông cho rằng: “Đây là sứ mệnh rất vẻ vang của Đảng bộ và quân dân Thành phố mang tên Bác. Chúng ta tin tưởng rằng Thành phố Hồ Chí Minh sẽ phát huy truyền thống tốt đẹp, làm tốt hơn nữa vai trò tiên phong của mình trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.

Khi đọc tham luận của mình, Bí thư Thành ủy TPHCM Lê Thanh Hải xúc động: “Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả cuộc đời Người hiến dâng trọn vẹn cho tổ quốc, cho nhân dân. Lúc ra đi tìm đường cứu nước với hai bàn tay trắng, lúc trở về gây dựng cả một giang sơn gấm vóc, nhưng là để lại cho muôn đời con cháu mai sau. Còn đối với người thì “sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức phúng điếu linh đình để lãng phí tiền bạc và thời giờ của nhân dân”. Nguyễn Tất Thành – Nguyển Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người vô cùng bình dị và thật là vĩ đại”.

Ông thay mặt Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP hứa: “TP nguyện xây dựng đảng bộ thật sự trong sạch, vững mạnh để vững bước theo con đường Người đã chọn, để xứng đáng được mãi mãi là thành phố mang tên Hồ Chí Minh”.

Tùng Nguyên
dantri.com.vn