Tag Archive | Xuân 75

Trên những tuyến đường ra mặt trận

Ký ức và hiện tại:

Một ngày cuối tháng 3, giữa lúc quân và dân cả nước đang tưng bừng với hàng loạt các hoạt động hướng tới kỷ niệm 35 năm Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, trong ngôi nhà nhỏ ở phường Lê Mao, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, chúng tôi gặp nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Thị Hiền, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 202 – thuộc Tổng đội TNXP Nghệ An.

Nhắc lại những trang sử hào hùng của dân tộc, nữ Anh hùng Hồ Thị Hiền hồi tưởng: Vào đúng dịp sinh nhật lần thứ 79 của Bác Hồ (19-5-1969), đơn vị của chị được lệnh lên đường chi viện cho chiến trường Quảng Trị, Quảng Bình… Ở chiến trường, Đại đội 202 của chị được giao nhiệm vụ gùi hàng. Trên vai mỗi chiến sĩ TNXP ít nhất là 40kg hàng, một ngày hành quân không dưới 35km. Trên các cung đường lúc bấy giờ, máy bay Mỹ bắn phá ác liệt, nên đại đội phải tổ chức vận chuyển hàng hoá, vũ khí, đạn dược vào ban đêm. Đại đội trưởng Hồ Thị Hiền đã có sáng kiến dán giấy trắng vào lưng người đi trước để người đi sau nhìn rõ, bám theo nhau, giữ vững đội hình. Ngày 16-7-1969, trên đường từ Hướng Hoá đi Quảng Trị chuyển hàng, khi trở về, đại đội của chị bị máy bay địch bắn phá ác liệt, 4 chiến sĩ TNXP đã hy sinh… Nén đau thương, toàn đơn vị phát động thi đua, suốt 100 ngày trong chiến dịch, Đại đội 202 đã gùi được 879.600kg hàng vào mặt trận an toàn, góp phần bảo đảm một khối lượng vật chất, vũ khí trang bị khổng lồ dự trữ phục vụ hoạt động tác chiến của Quân Giải phóng sau này.

Ảnh minh họa/tư liệu internet.

Đầu năm 1971, Đại đội 202 của chị vinh dự được tham gia phục vụ Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào. Lần này ngoài nhiệm vụ làm đường, lấp hố bom, đại đội còn được giao nhiệm vụ vận chuyển thương binh. Đường vào trận địa hiểm trở, phải trèo đèo, lội suối, bom đạn địch đánh phá rất ác liệt, có khi lại phải vượt qua bãi mìn. Chị Hiền chỉ huy một tổ cảm tử gồm 8 đồng chí (Hiền, Thịnh, Mận, Tân, Mai, Quý, Hoàng, Khầm) với chiếc đèn pin và tấm bản đồ lần theo đường dây điện thoại để gỡ mìn, mở tuyến. Chỉ tiêu trên giao 6 người cáng một thương binh, riêng đại đội của chị chỉ 3 người đã cáng được 1 thương binh. Đối với những thương binh nhẹ, chị hướng dẫn anh em dùng bao tượng đựng gạo buộc qua nách vai thương binh dìu đi vừa vững vàng, đỡ nhân lực lại dễ đi khi lên dốc, khi qua suối. Có lần, Đại đội TNXP 202 bị địch bao vây từ 7 giờ đến 19 giờ trong thung lũng dưới đồi Tà Cơn, máy bay Mỹ đánh phá ác liệt, bom đạn giội xuống như mưa. Tất cả mọi người đều đói và khát, trong khi bị mất liên lạc với cấp trên. Chị Hiền vẫn bình tĩnh chỉ huy đơn vị và lao xuống từng hầm, từng tiểu đội động viên anh chị em: Dù đói, khát cũng không được đỏ lửa, phải dùng thức ăn khô và một ít nước dung dịch cho từng đồng chí lấy sức để đào hào nối liền các tiểu đội với chỉ huy đại đội. Đồng thời các chiến sĩ trong đơn vị dùng gậy chống, đòn khiêng thương binh vót nhọn và xẻng chuẩn bị sẵn sàng, nếu địch đổ bộ xuống thì phải chiến đấu đến cùng, bảo vệ thương binh…

Cuối năm 1972 đầu năm 1973, đơn vị được giao nhiệm vụ đảm bảo giao thông đoạn qua phà Quán Hàu. Mặc dù đơn vị có nhiều đồng chí bị thương vong trong các trận đánh, nhưng toàn đơn vị đã bảo đảm đường không bị tắc, những đoàn xe nối đuôi nhau chở hàng vào tiền tuyến. Đã 3 lần Đại đội 202 đã làm lễ truy điệu sống cho chị Hiền, trước khi chị trực tiếp phá bom nổ chậm, và cả ba lần chị đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, mạch máu giao thông được thông suốt. Sau những ngày lao động, chị tổ chức, động viên anh chị em học tập văn hoá, luyện tập quân sự. Kết quả, khi chiến tranh kết thúc 100% anh chị em mù chữ trong đại đội đều biết đọc, biết viết, trong đó có 93 đồng chí tốt nghiệp cấp 1 chuyển lên cấp 2.

Tháng 7 năm 1993 khi đã về nghỉ hưu, mặc dù sức khoẻ không được tốt nhưng chị vẫn tham gia hoạt động đoàn thể, hiện chị vẫn giữ cương vị là Trưởng ban liên lạc của Đội TNXP Trường Sơn, Chủ tịch Hội Cựu TNXP phường Lê Mao, Trưởng ban liên lạc truyền thống Đội 241 TNXP, tổ phó tổ dân cư trên địa bàn chị sinh sống. Người chồng thương yêu của chị đã ra đi về cõi vĩnh hằng, giờ chỉ có chị và 1 cô con gái chưa lập gia đình sống cùng, còn 2 người con trai đi lập nghiệp xa nhà. Chị dành tất cả tình yêu thương cho con cái và những người đồng đội cũ. Chị Hiền tâm sự với chúng tôi: “Điều mong mỏi nhất của tôi lúc này là Đại đội 202 – N241 – P31 Tổng đội TNXP Nghệ An được Đảng, Nhà nước xét tặng danh hiệu Đơn vị anh hùng LLVT nhân dân, bởi đó là một đơn vị có bề dày chiến công; là niềm tự hào của một thế hệ chiến sĩ TNXP Nghệ An trên những tuyến đường ra mặt trận, là nơi chúng tôi đã hiến dâng cả tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc”.

Từ nhiệm vụ vận chuyển bảo đảm cơ sở vật chất, vũ khí đạn dược trong khoáng chiến chống Mỹ nói chung, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nói riêng, nữ Anh hùng LLVT nhân dân Hồ Thị Hiền và các cựu TNXP Tổng đội TNXP tỉnh Nghệ An cũng trăn trở nhiều điều về công tác bảo đảm hậu cần trong chiến tranh hiện đại nếu xảy ra. Theo các anh, các chị, khi kẻ thù mạnh hơn ta cả về quân sự, kinh tế, ta muốn giành chiến thắng thì phải chủ động tiến hành công tác chuẩn bị thật chu đáo. Phải động viên, phải huy động được sức mạnh của toàn dân, sức mạnh của cả nước cho nhiệm vụ quan trọng này. Chiến tranh trong tương lai (nếu xảy ra) có thể là chiến tranh không phân tuyến, tiền tuyến – hậu phương không rõ ràng như trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Vì thế, việc xây dựng các căn cứ hậu cần tại chỗ cần được đặc biệt quan tâm. Còn về công tác vận tải, theo chị Hiền và các anh, các chị cựu thanh niên xung phong Đội N241, cùng với xây dựng các đơn vị vận tải hiện đại, vẫn không thể bỏ được lực lượng cơ động vận tải thô sơ. Với đặc điểm địa hình và cách đánh truyền thống của ta, dù phương thức tác chiến có thay đổi như thế nào chăng nữa thì lực lượng gùi thồ vẫn phát huy tốt tác dụng.

Ngô Thị Nga
qdnd.vn

Căng địch ra mà đánh… phối hợp với Tây Nguyên

Trận then chốt thứ nhất, thứ hai…đã diễn ra trên rừng núi Cao Nguyên, BCH chiến dịch chỉ thị cho trinh sát các đơn vị nắm chắc tình hình địch và không bỏ qua một động thái nào của chúng. Tại Tổng hành dinh, cấp trên đã tính toán đến khả năng địch đổ quân phản kích chiếm lại địa bàn. Cấp trên không chỉ có tin hàng giờ về động thái của quân đoàn 2 Nguỵ mà còn “để mắt” đến lực lượng trù bị chiến lược của Quân lực VNCH, là sư đoàn Dù, sư đoàn Thuỷ quân lục chiến đang bị “treo chân” tại Quân khu 1. Liệu hai sư đoàn cơ động chiến lược này có thể điều binh “chữa cháy” cho Vùng 2 chiến thuật được không? Câu chuyện của Thiếu tướng Phan Hàm sau đây cho thấy, Tổng hành dinh đã chỉ đạo Quân Khu Trị -thiên và Binh đoàn Hương Giang phối hợp chiến trường rất kịp thời, khiến cho lực lượng dự bị chiến lược bị “dính chân”, trở thành lực lượng đồn trú, chữa cháy ngay tại Quân khu 1 còn không xong, nói chi đến có thể đi phản kích “giúp người”.

Không chỉ giam chân địch, Chiến trường Trị -Thiên, Huế cũng bùng lửa nơi nơi, khiến cho địch lung túng khắp các vùng . “Căng địch ra mà đánh” đã là một binh pháp được ứng nghiệm rất thành công giữa những ngày tháng 3 nóng bỏng này.

*  *  *

Đầu tháng 3 năm 1975, bầu không khí Trung Bộ đang êm ắng, bỗng trở nên náo nhiệt hẳn lên. Ngày 5 tháng 3 ta đánh sập cầu An Lỗ, tiếp đến phục kích trên đèo Hải Vân, vây ép một số điểm cao ở bắc Quảng Trị: 365-Động Ong Do-235. (Thực hiện đúng chỉ thị của Tổng hành dinh, sớm hoạt động tác chiến, vừa thu hút chú ý của địch, nghi binh chiến lược, vừa giam chân lực lượng hai sư đoàn trù bị, không cho chúng rảnh tay ứng cứu cho nhau, vừa tạo thế chiến lược cho toàn miền…Sập cầu An Lỗ, đồng bằng sông An Lỗ bị uy hiếp, địch rất sợ điều này, bởi đây là khúc dễ chia cắt nhất . Tướng Lê Quang Lưỡng, sư trưởng sư Dù, từ năm 1974, khi phải điều các lữ dù đi cứu Thượng Đức đã sớm nhận ra mối nguy kịch, nếu “ Cộng quân cắt đồng bằng sông An Lỗ-TDB)

Những hoạt động của ta ở bắc Quảng Trị lần này, theo chúng nắm được, hình như đều có bộ binh, xe tăng, bộ đội địa phương tham gia. Hơn nữa, chúng còn phát hiện thêm là mạng thông tin VTĐ ở Ba Lòng vẫn còn nằm nguyên tại chỗ, lên tiếng đều đều. Sự kiện giật gân nhất là tin sư đoàn 308 sẽ vượt sống Thạch Hãn và tiến công thẳng vào thành phố Quảng Trị… Tất cả những bằng chứng ấy đều đi đến một kết luận dứt khoát là: “Rõ ràng Việt Cộng đã lặp lại cái trò chiến dịch Quảng Trị năm 1972 rồi…”!!!

Trong những đêm 5, 6, 7, 8 tháng 3 năm 1975,những ngày đó, mặt trận Tây Nguyên, ta đang nín thở lần lượt tạo các đòn đánh cài thế, chia cắt. Cũng lúc này địch căng mắt ra để theo dõi những hoạt động của các đơn vị chủ lực của ta, thì dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của Thường vụ Quân khu uỷ Khu 5 và Bộ tư lệnh mặt trận, 5 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn đặc công, gần 100 đội công tác và các đôi vũ trang địa phương, cùng với lực lượng chính trị và cơ quan chỉ huy, lãnh đạo các cấp tỉnh, huyện cả thảy hơn 3.000 tay súng, lặng lẽ đột nhập đồng bằng, hướng về các địa bàn trọng điểm. Dưới ánh sáng sao, từng đoàn người lặng lẽ vượt qua đường quốc lộ, băng qua những bãi cát trắng, những cánh đồng lâu ngày bị bỏ hoang, cỏ mọc lút đầu người, rồi chia tay nhau về các khu tập trung, theo sự phân công từ trước. Ngọn lửa cách mạng lâu nay ấp ủ trong lòng người dân Trị Thiên, đang chờ một lần gió nhẹ, để ngùn ngụt bốc lên.

Giữa lúc ấy, thì quang cảnh ở vùng giáp ranh, vùng rừng núi lại khác hẳn. Một tiểu đoàn công binh của trung đoàn 219 và toàn bộ sư đoàn bộ binh 324, ngày đêm dồn dức ra làm đường lên Động Truồi, một cao điểm trên 1 nghìn mét, cố đưa cho được nửa số pháo trong biên chế lên bố trí trên các mỏm, nòng chĩa thẳng vào các vị trí của địch ở phía nam Huế.

Ngày 8 tháng 3, trước khi nam Tây Nguyên nổ súng một ngày, các trung đoàn của Quân khu và Quân đoàn 2 đồng loạt tiến công trên hai hướng: phía bắc là Phong Sơn, phía nam là đường 14. Một bộ phận lực lượng tập trung của Quảng Trị tiến công vào quận lỵ Hải Lăng. Địch hoảng sợ, rút bỏ 11 điểm chốt. Trên đường 14, đúng 5 giờ 45 phút, sư đoàn 324 nổ súng tiến công. Sau 30 phút đánh dồn dập, pháo chuyển làn vào sân bay Phú Bài và các trận địa pháo của địch ở La Sơn, Ấp 5.

Cuộc chiến đẫu diễn ra gay go ngay từ ngày đầu. Đơn vị đảm nhiệm hướng chủ yếu đến chậm, chiếm lĩnh rất khó khăn. Tiểu đoàn 6 ba lần xung phong đều bị đánh bật, phần thì bị pháo bắn chặn, phần thì bị hoả lực súng máy tạt sườn. Ở cao điểm 309, hai tiểu đoàn địch chống trả quyết liệt. Thương vong ngày càng nhiều. Trên hướng thứ yếu, sau một giờ chiến đấu ta dã chiếm được các cao điểm 75, 76 ven theo đường 14. Ngày 10 tháng 3 sư đoàn tổ chức một bộ phận trinh sát tập kích vào cụm xe tăng ở núi Nghệ, bắn 4 phát hoả tiễn, diệt luôn 4 xe. Đến 14 giờ cùng ngày tiểu đoàn 4, trung đoàn 2 đột kích vào cao điểm 204. Bị đánh bất ngờ trong lúc chúng đang ăn cơm, nên chỉ sau 45 phút chiến đấu ta dứt điểm. Trong lúc đó, trung đoàn 3 ở Thượng Đức mới trở về đội hình của sư đoàn đã nhanh chóng triển khai đội hình tiến công và làm chủ cao điểm 273.

Quân đội VNCH chở quân phản kích,
nhưng không cứu vãn được

Chiến sự ở cao điểm 303 ngày càng trở nên ác liệt: địch cố giữ, chúng tăng cường thêm trên hướng này 2 tiểu đoàn 61 và 94 của lữ đoàn 14, tập trung phi cơ ném bom có ngày lên đến 170 lần chiếc. Suốt cả một tuần lễ địch giành đi giật lại với ta từng cao điểm, kiên quyết ngăn chặn ta trên tuyến núi Bông, núi Nghệ ở tây nam Phú Bài.

Mặt trận chủ trương: sư đoàn 324 phải giữ vững các khu vực đã chiếm được, sư đoàn 325 thì gấp rút chuẩn bị để tiến công vào khu vực Kim Sắc, cao điểm 560 để phối hợp, đồng thời bước đầu thực hiện việc chia cắt quốc lộ 1. Vì công tác chuẩn bị có gặp trở ngại, nên thời gian nổ súng phải lùi lại mấy hôm. Địch như phát hiện được lực lượng của ta, phán đoán hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch, nên tập trung các trung đoàn 1, liên đoàn 15 biệt động quân và một tiểu đoàn của trung đoàn 51 liên tục phản kích.

Nhân lúc đồng bằng sơ hở, đêm 8 rạng ngày 9 tháng 3, theo đúng kế hoạch cả tám huyện và vùng ven đô, đồng loạt nổi dậy. Lực lượng chính trị, phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương, đánh vào một số chi khu, 30 phân chi khu, chủ yếu nhằm diệt các bộ máy kìm kẹp, kết hợp với vũ trang tuyên truyền trên một diện rộng có 53 xã, 150 thôn với 20 vạn dân. Ở nam Quảng Trị, ta tiêu diệt chi khu Mai Lĩnh, diệt gọn ba phân chi khu, ở bắc Thừa Thiên, diệt 5 phân chi khu: Phong Chương, Phong Hoà, Phong Bình, Phong Niên và Quảng Phú; ở nam Thừa Thiên, đánh vào 10 phân chi khu; diệt gọn 3. Ở phía bắc, kho xăng Động Toàn bị đánh cháy; ở khu giữa ta bắn pháo vào Mỹ Chánh, Đồng Lâm, Hiệp Khánh và ở phí nam, đèo Hải Vân bị uy hiếp. Cả đồng bằng Trị Thiên, dài trên 100 cây số, đâu đâu cũng vang rền tiếng súng tiến công, tiếng reo hò nổi dậy, Nhân dân như sống lại những ngày tưng bừng của Tết Mậu Thân.

Sự phối hợp tuyệt đẹp giữ đồng bằng và vùng giáp ranh trong những ngày này, đã làm cho đối phương vô cùng hoảng sợ. Bộ máy kìm kẹp mà Mỹ nguỵ đã ra sức xây dựng trong bao nhiêu năm bị tan rã nhanh chóng, chúng bỏ chạy toán loạn, đi đâu cũng bị đánh. Một bầu không khí hoang mang dao động lan tràn trong hàng ngũ tay sai.

Biện pháp đối phó trước tiên là vội vã rút bỏ một số chốt không quan trọng để co về những nơi hiểm yếu hơn ở vùng giáp ranh be bờ, cố thủ. Đến ngày 10 tháng 3, địch bắt đầu phản kích lại trên từng hướng. Ở những nơi có lực lượng của ta trụ lại, thì dùng những phân đội bộ binh nhỏ, có xe tăng yểm hộ, đánh phá quyết liệt và có gây thương vong trong các lực lượng vũ trang địa phương.

Sớm dự kiến tình huống có thể xảy ra, ngày 12 tháng 3, Quân uỷ Trung ương chỉ thị cho các chiến trường: “Địch đang có bước sa sút mới sau thắng lợi của ta ở Tây Nguyên. Ta có khả năng giành thắng lợi to lớn hơn với nhịp độ nhanh hơn dự kiến. Cần phải quán triệt tinh thần khẩn trương, mạnh bạo, kịp thời lợi dụng điều kiện mới, giành thắng lợi to lớn hơn nữa. Tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch trong trong khi chúng rút chạy…”.Được sự chỉ đạo kịp thời của trên, Thường vụ Khu uỷ và Quân khu uỷ đã họp, đánh giá tình hình, khẳng định những thắng lợi bước đầu và đề ra những chỉ thị bổ sung cần thiết, cho các đơn vị. Ngày 13 tháng 3, trung đoàn 6 của tính bắt đầu tiến công trên đường 12, chiếm Chúc Mao, diệt địch ở cao điểm 300, uy hiếp Bình Điền, Động Trạch. Phòng tuyến giữa, ở ngay sát nách Huế có nguy cơ bị chọc thủng. Ngày 15 tháng 3, địch rút bỏ một khu vực lớn từ Đèo Đông đến cao điểm 551

.

Về phía đối phương trong những ngày này, cơn sóng gió không chỉ diễn ra trên chiến trường mà cả trong nội bộ họ nữa. Được hậu thuẫn mạnh mẽ, sau ngày 6 tháng 3, Ngô Quang Trưởng tỏ ra bướng bỉnh không chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tham mưu quân đội Cộng hoà. Ông ta chần chừ mãi đến ngày 13 tháng 3 mới bay về Sài Gòn. Viên gạt nhẹ quả bóng: “Đây là lệnh của Thiệu”. Trưởng báo cáo với Thiệu là không nên rút lui về Đà Nẵng, vì đối phương đang uy hiếp quốc lộ 1. Tốt nhất là nên ở lại Huế và chuẩn bị chiến đấu, may ra còn có thể đem lại cho nhân dân một ít lòng tin. Trưởng thấy còn có các căn cứ phòng thủ khá tốt chung quanh Huế và có thể tập trung quân co cụm vào ba nơi trong phạm vi vùng 1 chiến thuật: Huế, Đà Nẵng, Chu Lai. Kỳ kèo mãi, Thiệu mới đồng ý kéo dài việc rút quân được mấy hôm: dự kiến ngày 17 tháng 3, sẽ rút lữ đoàn dù thứ nhất, ngày 25 tháng 3, rút lữ đoàn thứ hai và đến cuối tháng 3, rút xong lữ đoàn cuối cùng. Khi trưởng hỏi về sư đoàn lính thuỷ đánh bộ, Thiệu trả lời là sẽ đê nguyên ở vùng 1 và sẽ cố thủ Huế. Trưởng cảm thấy hơi an tâm. Nhưng trong lúc ăn cơm, hỏi lại Khiêm, thì Khiêm lại rỉ tai là Thiệu đang nghiên cứu cả việc rút sư đoàn lính thuỷ đánh bộ về, thực hiện chiến lược mới: nhẹ ở đầu, nặng ở đấy. Đầu là vùng 1 và đáy là Sài Gòn. Như vậy có nghĩa là sẽ hy sinh các tỉnh phía bắc và cả Tây Nguyên.

*  *  *

Ngày 17 tháng 3, Quân uỷ Trung ương chỉ thị cho Quân khu và Quân đoàn cụ thể thêm: “Phải táo bạo đưa lực lượng vượt qua tuyến phòng thủ bên ngoài, thọc xuống cắt đứt đường số 1, đánh chiếm Phú Lộc, chuẩn bị hoả lực đánh vào Huế và đôn đốc đánh sớm hơn dự kiến…” (Điện số 517, ngày 17 tháng 3).

Thường vụ Khu uỷ và Thường vụ Đảng uỷ mặt trận lại họp và nhận định: thời cơ thuận lợi mới đã xuất hiện, nên đã hạ quyết tâm, khẩn trương, mạnh bạo tiến công, dùng lực lượng tại chỗ đánh mạnh vào phòng tuyến địch, kết hợp với thọc sâu, chia cắt, phá thế co cụm, giành thắng lợi lớn ở đồng bằng, tiến tới bao vây, cô lập Huế.

Thực hiện các chỉ thị, mệnh lệnh cnói trên, trong ngày hôm ấy Bộ tư lệnh Quân khu dùng toàn bộ lực lượng của tỉnh Quảng Trị đang từ trong thế phòng ngự phía bắc, chuyển sang tiến công trên hai hướng: hướng đông, từ Thành Hội theo trục đường 86; hướng tây từ Tích Tường, Như Lệ, theo đường 1, tiến vào. Các lực lượng đã rút lên vùng giáp ranh để củng cố, phải lập tức quay trở lại đồng bằng, đánh địch, phát động quần chúng nổi dậy. Phía bắc Huế, trung đoàn 4 bộ binh, thọc ra cắt đường quốc lộ 1, hướng nam Huế thì bỏ khu vực đường 14 và các cao điểm đang giành đi giật lại với địch, mà chuyển xuống cắt giao thông ở khu vực Lương Điền, Đá Bạc.

Cũng trong ngày 17, về phía địch, Trưởng ngậm đắng nuốt cay tiễn chân lữ đoàn dù về Nam và triển khai lại lực lượng. Lần thứ hai trong vòng hai tuần lễ, lại một lữ đoàn thuỷ quân lục chiến nữa phải rút khỏi phòng tuyến phía bắc Huế, để co về khu vực đồi núi đèo Hải Vân nhằm tăng cường cho tuyến phòng thủ Đà Nẵng, vì giữa hai thành phố Huế và Đà Nẵng, thì Huế là đầu mà Đà Nẵng là đáy. Lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ cuối cùng còn lại trên đất Quảng Trị, chỉ còn làm nhiệm vụ của một tấm lá chắn bảo vệ cho sư đoàn 1, tức là thực hiện giai đoạn hai trong kế hoạch chiến lược của Trưởng.

3 giờ sáng ngày 19 tháng 3 cờ Mặt trận đã cắm trên Thành cổ Quảng Trị, và đến 15 giờ hôm áy, pháo lớn đã bắt đầu giội bão lửa xuống khu vực Tây Lộc, Mang Cá, trong thành phố Huế. Cái gọi là tuyến tác chiến trì hoãn, thực ra đã không trì hoãn được phút giây nào cả, mà chỉ lo giẫm lên nhau chạy dài. Sau một ngày tiến công, toàn tỉnh Quảng Trị được giải phóng.

( Trích đoạn giao nhiệm vụ nổ súng gấp cho mặt trận Huế- Trị Thiên- Hồi ký Tổng hành dinh trong mùa Xuân đại thắng của đại Tướng Võ Nguyên Giáp)

Ngày 28-2-1975, đồng chí Thanh Quảng, thay mặt Bộ Tư lệnh Quân khu Trị – Thiên và đồng chí Hoàng Đan, thay mặt Bộ Tư lệnh Quân đoàn II ra Bộ báo cáo quyết tâm cuối cùng.

Các đồng chí có mặt rất đúng giờ tại Tổng hành dinh.

Cùng dự nghe báo cáo với tôi, có các anh Lê Trọng Tấn, Lê Hữu Đức. Với tinh thần phấn chấn, các đồng chí trình bày kế hoạch tác chiến với những mục tiêu, nhiệm vụ còn cao hơn cả những mục tiêu, nhiệm vụ được giao.

Nghe báo cáo xong, tôi hỏi:

– Thế nếu thời cơ thuận lợi, các đồng chí đã có kế hoạch phảt triển tiến công giải phóng Trị – Thiên – Huế chưa?

Đang có tâm trạng phấn khởi, hai đồng chí bỗng hoá ra lúng túng. Tôi hỏi thêm:
– Kế hoạch cơ bản như thế này là được. Nhưng các đồng chí phải làm ngay một kế hoạch phát triển tiến công khi thời cơ thuận lợi, mà mục tiêu của nó là giải phóng Trị – Thiên – Huế. Các đồng chí đã rõ chưa?

Sau giây phút ngỡ ngàng, nét mặt hai đồng chí tươi hẳn lên. Cả hai đồng chí đồng thanh trả lời: Rõ!

Về thời gian mở màn chiến dịch, các đồng chí đề nghị cho lui thời gian chuấn bị thêm năm ngày, tức là đến hết ngày 9-3. Vừa nghe mấy tiếng “9-3”, anh Lê Trọng Tấn đứng phắt dậy nói ngay, giọng gay gắt: Trong chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược, hiệp đồng nhiều chiến trường mà các đồng chí muốn bắt đầu tiến công ngày nào cũng được hay sao? Các đồng chí lùi lại thì địch đưa sư dù dự bị chiến lược lên nam Tây Nguyên, hướng chính của ta sẽ bị vỡ, cuộc Tổng tiến công sẽ đi đến đâu?…

Anh Tấn nói với hai đồng chí:

– Tôi cũng biết các đồng chí khó khăn. Nhưng các đồng chí phải biết chiến dịch của các đồng chí là nằm trong chiến cuộc chung của toàn quốc. Vậy thời gian phải hết sức chặt chẽ, không thể ai muốn bắt đầu tiến công ngày nào cũng được.

Hôm sau, tôi gặp lại hai đồng chí nói thêm:

Nhớ rằng chiến dịch này không như các chiến dịch khác. Các đồng chí có thể phát huy sáng kiến đánh thật hay để hoàn thành vượt mức kế hoạch, nhưng cần chú ý những việc Bộ Tổng tư lệnh đã quy định cụ thể thì tuyệt đối không được linh hoạt, phải chấp hành thật nghiêm. Phải tích cực sảng tạo thời cơ và sẵn sàng chớp thời cơ tiến lên giành thắng lợi lớn, kể cả giải phóng Huế. Tiêu diệt sinh lực địch là rất quan trọng, nhưng làm đường cơ động cũng quan trọng không kém, các đồng chí phải huy động mọi lực lượng mở đường cơ động, vì có đường thì mới phát triển tiến công được thuận lợi khi có thời cơ.

Hai đồng chí hứa sẽ hoàn thành tất cả các nhiệm vụ Bộ giao, cả về thời gian, địa điểm và khối lượng.

TDB-sưu tầm

Cũng như ở các nơi khác, dẫn đầu các cuộc di tản bao giờ cũng là các binh sĩ rã ngũ. Cũng không có gì lạ, vì những quân nhân bao giờ cũng “nhạy bén” với tin tức hơn ai. Lại nữa, được bộ máy chiến tranh tâm lý tác động mạnh, nên họ sẵn có ấn tượng rất sâu sắc về những cuộc tắm máu, về cái thuyết Domino mà Mỹ, nguỵ hàng ngày nhồi nhét vào đầu óc họ. Lẽ thứ ba là so sánh với thường dân, họ có phương tiện đây đủ hơn và được giành nhiều ưu tiên hơn. Cùng đi với các quân nhân là gia đình họ. Lý luận của các cấp chỉ huy ở Sài Gòn là quân đội sẽ chiến đấu tốt hơn nếu có vợ con bên cạnh, cho nên đã có quyết định cho gia đình ở cạnh binh lính, dù là Huế, Đà Nẵng, Phú Bài, hay ở một tiền đồn xa xôi. Ngoại lệ duy nhất là các sư đoàn lính thuỷ đánh bộ và lính dù.

Trong trường hợp rút lui, các cấp chỉ huy của quân đôi Cộng hoà, mới nhận thấy đây là một trở ngại khủng khiếp, lính không còn ra lính nữa. Họ đã hoà mình trong làn sóng người đang trôi dạt về phía nam, lôi kéo luôn cả một số thường dân có máu mặt: xe gíp, xe honda, xe buýt chật đường. Trong những ngày này, trên đài Sài Gòn, Thiệu ra rả đổ tội cho các chiến sĩ đặc công của ta, đã tìm cách len lỏi vào giữa đám người di tản, rỉ tai hù dọa, tác động tinh thần. Của đáng tội! Binh chủng đặc công, trong lúc này, làm gì có đủ thì giờ để làm cái việc mà Thiệu suy luận và “phịa” ra này.

(Vào thời điểm này, cuộc triệt thoái Cao Nguyên của Quân đoàn 2, Quân khu 2 của Tướng Trưởng trên đường 7 đã sang hồi kết. Huế rụng rời, hai sư đoàn trù bị có lệnh rút… bị chặn…bối rối, còn tâm sức đâu mà đi ứng cứu. Động thái hạ tuần tháng 3 thấy được là lữ dù 3 được chỉ huy quân lực VNCH xé ra, đi chặn đèo Mađrak, để rồi vào ngày 31 tháng 3 phải bỏ chạy xuống đèo, đúng vào ngày Đà Nẵng tan vỡ -TDB)

TDB –biên tập, giới thiệu
qdnd.vn

Hậu phương vững chắc – một trong những yếu tố quyết định thắng lợi

Ký ức và hiện tại

Cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra trong bối cảnh đất nước tạm thời chia làm hai miền, mỗi miền có một chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc cơ bản đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, miền Nam còn bị đặt dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước, đòi hỏi Đảng phải có chủ trương đúng đắn đưa cách mạng từng bước phát triển. Từ thực tế đó, nhận thức sâu sắc và vận dụng trung thành, sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của hậu phương trong chiến tranh, cũng như mối quan hệ giữa hai giai đoạn cách mạng vô sản, Đảng ta quyết định tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.

Xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương chiến lược, căn cứ địa cách mạng – chỗ dựa vững chắc cho miền Nam đánh Mỹ là một trong những nhân tố quyết định đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đề cập đến mối quan hệ giữa cách mạng hai miền, đồng chí Lê Duẩn khái quát: “Nếu không xây dựng CNXH ở miền Bắc thì không thể đánh thắng Mỹ ở miềnNam. Ngược lại, nếu không đánh Mỹ ở miền Nam thì cũng không thể xây dựng được CNXH ở miền Bắc”. Trong suốt cuộc kháng chiến, nhân dân ta vừa đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh với Mỹ, ngụy ở miền Nam, vừa từng bước xây dựng CNXH ở miền Bắc. Đảng đặc biệt quan tâm chỉ đạo xây dựng củng cố hậu phương căn cứ địa cách mạng, tạo chỗ dựa vững chắc, tạo nguồn sức mạnh to lớn, cung cấp kịp thời sức người, sức của cho miền Nam đánh Mỹ. Ngay sau khi miền Bắc được giải phóng, đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ, nhận thức rõ vai trò của miền Bắc trong đấu tranh thống nhất đất nước, Đảng ta quyết định đưa miền Bắc đi lên xây dựng CNXH. Đây là chủ trương đúng đắn, là cơ sở quan trọng đầu tiên cho xây dựng căn cứ địa cách mạng, hậu phương vững chắc của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Hội nghị lần thứ 12 Ban chấp hành Trung ương Đảng (tháng 12 năm 1965) khẳng định thành tựu của hơn 10 năm khắc phục hậu quả của chiến tranh, cải tạo XHCN và xây dựng CNXH: “Miền Bắc đã trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam trong cả nước, với một chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế và quốc phòng lớn mạnh”. Những thắng lợi trong xây dựng CNXH ở miền Bắc là cơ sở vững chắc cho Đảng củng cố, giữ vững quyết tâm chống Mỹ, cứu nước.

Nhận thấy vai trò của hậu phương lớn miền Bắc đối với chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ xác định đánh phá hậu phương miền Bắc là mục tiêu chiến lược có ý nghĩa quyết định nhằm phá hoại tận gốc tiềm lực mọi mặt của ta, làm cho ta không còn khả năng chiến đấu. Với âm mưu thâm độc đó, Mỹ đã buộc quân và dân miền Bắc phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt chưa từng có của không quân, hải quân Mỹ. Đế quốc Mỹ sử dụng số lượng lớn máy bay và bom đạn hòng đánh hủy diệt miền Bắc, đẩy miền Bắc “trở lại thời kỳ đồ đá”. Tuy Mỹ không đạt được ý định chiến lược, nhưng miền Bắc nước ta đã bị tàn phá nặng nề. Mặc dù chiến tranh ác liệt, miền Bắc vẫn tiếp tục xây dựng CNXH, làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn với tiền tuyến lớn miền Nam. Miền Bắc vừa là hậu phương của miền Nam, vừa là căn cứ địa cách mạng của cả nước… Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, đánh giá về vai trò của hậu phương miền Bắc, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12 năm 1976) khẳng định: “Không thể nào có thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nếu không có miền Bắc XHCN, suốt 16 năm qua luôn cùng một lúc phải làm hai nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt từ năm 1965 trở đi, miền Bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ XHCN và làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước xứng đáng là pháo đài vô địch của CNXH”.

Ở miền Nam, Đảng ta chỉ đạo xây dựng chiến khu trong các vùng tự do và chủ trương mở rộng các vùng giải phóng mà hạt nhân là các căn cứ địa được xây dựng từ trong kháng chiến chống Pháp. Đến cuối cuộc kháng chiến, vùng giải phóng từng bước được mở rộng, nối liền các căn cứ địa từ Trị – Thiên đến Liên khu V, từ Tây Nguyên tới Đông Nam Bộ vây quanh Sài Gòn, nối liền với Đồng bằng sông Cửu Long, trở thành hậu phương chiến lược tại chỗ vững chắc ở miền Nam, tiêu biểu là Chiến khu Dương Minh Châu, Chiến khu Đ.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hậu phương tại chỗ ở miền Nam được Đảng chỉ đạo xây dựng phát triển rất phong phú. Hậu phương tại chỗ không chỉ là vùng giải phóng và các căn cứ vững chắc mà còn bao gồm cả các “căn cứ lõm”, các cơ sở nằm sâu trong vùng địch kiểm soát. Tuy nhiên, trong chỉ đạo xây dựng căn cứ địa cách mạng, thành công lớn nhất của Đảng ta là đã xây dựng được “thế trận trong lòng dân”, “căn cứ trong lòng dân”.

Ngoài những căn cứ được xây dựng ở trong nước, Đảng ta còn phối hợp với hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia xây dựng căn cứ địa, mở rộng vùng giải phóng dựa lưng vào nhau tạo thành hậu phương chiến lược tại chỗ trên chiến trường miền Nam. Đây là một nhân tố quan trọng góp phần quyết định trực tiếp đến thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta chỉ đạo xây dựng hậu phương căn cứ địa cách mạng vững chắc, tạo điều kiện để duy trì, đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị đưa cuộc kháng chiến đến giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Đảng lãnh đạo xây dựng hậu phương căn cứ địa cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn có giá trị hiện thực sâu sắc. Trong tình hình mới, để sẵn sàng ứng phó thắng lợi với các tình huống chiến lược, nhất là tình huống chiến tranh, ngay từ thời bình Đảng và nhân dân ta có nhiều việc phải làm. Đặc biệt Đảng cần có chủ trương, biện pháp đúng đắn chỉ đạo xây dựng các căn cứ hậu phương, nhất là “hậu phương lòng dân”, “thế trận lòng dân” tạo chỗ dựa vững chắc cho chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra) giành thắng lợi.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Bạo
qdnd.vn

Đột phá cửa mở phụ giành thắng lợi

Ký ức và hiện tại

Thiếu tướng Bùi Huy Bổng, sinh năm 1927, tại Ứng Hoà, Hà Tây (nay là Hà Nội). Ông tham gia cách mạng tháng 3 năm 1945, làm liên lạc cho Mặt trận Việt Minh tỉnh Thái Nguyên. Nhập ngũ tháng 7 năm 1945, trong 44 năm chiến đấu và trưởng thành ông gắn cuộc đời mình với cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Đặc biệt cùng với Sư đoàn 320A, ông đã có mặt ở hầu khắp các chiến trường từ nước bạn Lào, đến Quảng Trị, Tây Nguyên, Sài Gòn… Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tháng 4 năm 1975, ông là Chính ủy Sư đoàn 320A, Quân đoàn 3 – sư đoàn được giao nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Liên hợp Đồng Dù, tiêu diệt Sư đoàn 25 ngụy, mở toang cửa ngõ phía tây bắc Sài Gòn cho Quân đoàn đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu ngụy và tiến về dinh Độc Lập…

Nhắc đến những kỷ niệm chỉ huy chiến đấu, Thiếu tướng Bùi Huy Bổng bồi hồi kể: “Đây là một trong những trận tôi được trực tiếp chỉ huy có quy mô hiệp đồng quân binh chủng lớn trong đời. Đồng Dù là một căn cứ liên hợp do Mỹ xây dựng nhằm đàn áp phong trào cách mạng ở Củ Chi (Thành phố Hồ Chí Minh) và khu vực lân cận của Sư đoàn 25 ngụy, do Chuẩn tướng Lý Tòng Bá – một kẻ chống cộng sản khét tiếng chỉ huy. Sư đoàn tôi được tăng cường lực lượng xe tăng, pháo binh, pháo phòng không, đặc công… Chúng tôi sử dụng hai Trung đoàn bộ binh 48 và 52 có xe tăng đi đầu đánh chiếm căn cứ Đồng Dù, còn Trung đoàn 64 phối hợp với Trung đoàn Đặc công 198 chiếm giữ cầu Bông, cầu Sáng và tiến vào Dinh Độc Lập. Theo kế hoạch, lệnh phát hoả vào lúc 5 giờ sáng 29 tháng 4 năm 1975, Trung đoàn 48 từ khu Bến Lức hành tiến thuận lợi, nhưng phá xong cửa mở với 12 hàng rào dây thép gai thì không phát triển được vào tung thâm, vì địch cho 12 xe tăng và nhiều lực lượng kiên quyết ngăn chặn hòng bịt cửa mở. Qua đài kỹ thuật chúng tôi còn nghe Lý Tòng Bá động viên binh lính: “Các chiến hữu cứ yên tâm chiến đấu, để tôi xem bọn Bắc Kỳ, bụng toàn rau muống còn giở được trò gì nữa”.

Trước tình hình trên, nếu cứ tiếp tục đột kích thì sẽ thêm thương vong, chậm thời gian tác chiến và ảnh hưởng đến toàn chiến dịch, vì thế khoảng 10 giờ trưa, chỉ huy Sư đoàn 320A quyết định tổ chức mở cửa mở phụ. Vì địch đang tập trung lực lượng chống đỡ ở cả hai cửa mở chính của Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52, ta mở cửa mở phụ, sẽ gây được bất ngờ, từ đó giành thế chủ động trên chiến trường. Quả đúng như dự định, đến 10 giờ 30 phút trưa hôm đó, Trung đoàn 48 từ cửa mở phụ đột phá chiếm được Sở chỉ huy Sư đoàn 25 ngụy. Quá bất ngờ, Chuẩn tướng Lý Tòng Bá không kịp trở tay vội vàng cởi bỏ quân phục chạy trốn. Khi bị bắt lần thứ nhất, hắn nói dối là dân sự vào thầu xây dựng nên được thả tại chỗ. Sau đó, do phát động nhân dân truy tìm, du kích Củ Chi đã bắt được Lý Tòng Bá khi hắn đang ủ rũ ở bến xe đợi ô tô về Sài Gòn. Thay mặt cho Bộ chỉ huy, tôi đã trao lá cờ “Quyết chiến – Quyết thắng” của Sư đoàn cho Trung đoàn 48 ngay tại nơi Lý Tòng Bá vẫn làm việc… Bài học mà Sư đoàn 320A rút ra qua trận đánh là sự linh hoạt, sáng tạo trong xử trí tình huống. Khi cửa mở chính gặp khó khăn, đội phá bằng mở cửa mở phụ là một quyết định sáng suốt.

Năm 1989, Thiếu tướng Bùi Huy Bổng về nghỉ hưu tại phường Tương Mai, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội. Ông được bầu làm Chủ tịch Hội CCB phường, rồi Phó chủ tịch Hội CCB quận Hai Bà Trưng (1997-2001). Tuổi cao nhưng ông luôn là một đảng viên gương mẫu, một hội viên CCB tích cực đóng góp vào phong trào chung của địa phương. Khi được hỏi về công tác huấn luyện của bộ đội ta hiện nay, Thiếu tướng Bùi Huy Bổng nói: Kinh nghiệm cho thấy khi làm công tác chuẩn bị chiến đấu, ta cần xây dựng nhiều phương án đánh địch. Trong quá trình chiến đấu, người chỉ huy phải mưu trí, linh hoạt, thay đổi cách đánh và tiến công liên tục để giành thắng lợi cuối cùng.

Tô Kiều Thẩm (ghi)
qdnd.vn

Nghệ thuật tạo thế đánh các trận then chốt quyết định

Chiến dịch Tây Nguyên

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, đầu tháng 3-1975, quân và dân ta, nòng cốt là các binh đoàn chủ lực đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mở đầu là chiến dịch Tây Nguyên. Lực lượng của ta tham gia chiến dịch gồm 5 sư đoàn, 4 trung đoàn bộ binh và nhiều đơn vị binh chủng, cùng LLVT trên địa bàn chiến dịch.

Lực lượng địch ở Tây Nguyên có 1 sư đoàn bộ binh, 7 tiểu đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn thiết giáp, 1 sư đoàn không quân… Địch phán đoán, nếu ta đánh Tây Nguyên sẽ đánh phía bắc, nên chúng tập trung lực lượng phòng giữ giữa Plei-cu và Kon Tum, còn tại Đắc Lắc để lực lượng ít hơn trấn giữ. Đối phương cho rằng, trong năm 1975, ta chưa đủ sức đánh thị xã Buôn Ma Thuột, hoặc nếu đánh thắng cũng không thể giữ được khi chúng phản kích chiếm lại. Buôn Ma Thuột là một vị trí trọng yếu, nhưng địch có những sơ hở, càng vào sâu trong thị xã, lực lượng phòng thủ càng mỏng.

Bộ đội Sư đoàn 316 đánh chiếm Buôn Ma Thuột. Ảnh tư liệu

Đối với ta, giải phóng được Buôn Ma Thuột sẽ đập tan hệ thống phòng thủ của địch ở nam Tây Nguyên, tạo thế trận hiểm mới, làm thay đổi cục diện chiến trường trên địa bàn Tây Nguyên và đồng bằng Khu 5. Theo kế hoạch, sau một số trận đánh tạo thế và nghi binh chiến dịch, ngày 10 và 11-3, quân ta mở cuộc tiến công bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng, với 4 cánh quân chủ lực, kết hợp với các đơn vị tinh nhuệ, các tiểu đoàn bộ binh bí mật luồn sâu bố trí sẵn, bỏ qua các đồn bốt ngoại vi, dùng binh lực lớn cơ giới tiến công với tốc độ cao theo các trục đường lớn, tiến thẳng vào giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Đây là trận then chốt mở đầu quyết định của chiến dịch, làm rối loạn sự chỉ đạo chiến lược và đảo lộn thế phòng thủ của địch ở Tây Nguyên. Tiếp đó, từ ngày 14 đến 18-3, quân ta đánh trận then chốt thứ hai, đập tan cuộc phản kích của Sư đoàn bộ binh 23 địch, đánh bại ý đồ tái chiếm Buôn Ma Thuột, góp phần quan trọng thúc đẩy chiến dịch phát triển.

Phát hiện địch có dấu hiệu co cụm lực lượng, chuẩn bị rút chạy từ Tây Nguyên theo đường số 7 về phòng giữ vùng đồng bằng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị Bộ chỉ huy chiến dịch chuẩn bị đánh địch rút chạy. Từ ngày 17 đến 24-3, ta tập trung lực lượng đánh trận then chốt thứ ba, truy kích tiêu diệt quân địch rút chạy trên đường số 7, đập tan ý định bỏ Tây Nguyên về co cụm ở đồng bằng của địch, tạo nên bước ngoặt chiến lược của cuộc chiến tranh. Ta tiêu diệu và làm tan rã Quân đoàn 2, Quân khu 2 ngụy cùng một bộ phận lực lượng cơ động chiến lược, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn và Quảng Đức.

Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đánh dấu bước trưởng thành của quân đội ta về nhiều mặt, trong đó nổi bật một số vấn đề nghệ thuật chiến dịch.

Trước hết, chiến dịch Tây Nguyên thể hiện nét đặc sắc về nghệ thuật chọn hướng và mục tiêu tiến công chủ yếu rất đúng và hiểm. Lựa chọn nam Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu và Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu, ta đã “điểm trúng huyệt”, đánh vào nơi hiểm yếu nhất của địch. Đánh Buôn Ma Thuột, ta có điều kiện triển khai lực lượng tiến công địch bằng sức mạnh binh chủng hợp thành quy mô lớn; đồng thời giải phóng được Buôn Ma Thuột, tạo thuận lợi cho ta phát triển thế tiến công chia cắt địch về chiến dịch và chiến lược, làm đảo lộn thế phòng ngự của địch trên địa bàn Tây Nguyên.

Nghệ thuật nghi binh, tạo thế, giữ vững quyền chủ động chiến dịch cũng là nét nổi bật. Trước khi mở chiến dịch, ta tiến hành hàng loạt các biện pháp nghi binh, thu hút và giam chân đại bộ phận chủ lực địch ở hướng bắc Tây Nguyên, trong khi đó ta bí mật tập trung lực lượng để tiến công hướng nam Tây Nguyên. Vì thế, khi ta tiến công ở nam Tây Nguyên, địch hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp đối phó, dẫn đến thất bại nhanh chóng.

Tạo ưu thế về lực lượng và phương tiện là thành công lớn của ta. Trong chiến dịch này, ta sử dụng lực lượng chủ lực của Bộ (14 tiểu đoàn bộ binh) và chủ lực của Quân khu 5, Đông Nam Bộ tăng cường (10 tiểu đoàn), phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ (28 tiểu đoàn), tạo ưu thế hơn hẳn về lực lượng và phương tiện so với địch. Trong trận Buôn Ma Thuột, lực lượng ta gấp 4 đến 5 lần quân địch, nhưng đến trận đánh Sư đoàn 23 địch phản kích và trận truy kích địch trên đường số 7, lực lượng ta chỉ gần tương đương địch, thậm chí ít hơn, nhưng vẫn thắng do thế ta vững, địch hoang mang, mất sức chiến đấu trước tiến công mạnh mẽ của quân ta.

Vận dụng cách đánh chiến dịch và tổ chức các trận then chốt thể hiện sự sáng tạo, linh hoạt của ta, như đánh cắt giao thông, đánh thị xã, đánh căn cứ, đánh địch phản kích, đánh địch rút chạy. Cách đánh chung là tiến hành nghi binh tạo thế, thu hút, giam chân chủ lực địch ở hướng khác (bắc Tây Nguyên), tạo ưu thế trên hướng chủ yếu và mục tiêu chủ yếu (nam Tây Nguyên) để bao vây, chia cắt, cô lập từng cụm quân địch, kết hợp đột phá, thọc sâu, trong, ngoài cùng đánh. Đặc biệt, ta tổ chức đánh các trận then chốt linh hoạt, hiệu quả, trong đó Buôn Ma Thuột là trận then chốt mở đầu thắng lợi có ý nghĩa quyết định, tạo đột biến về chiến dịch, dẫn đến đột biến về chiến lược, tạo thời cơ thuận lợi để bộ đội ta đánh những trận then chốt tiếp theo nhanh chóng giành thắng lợi, kết thúc chiến dịch, mở đầu thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.

Ngày nay, đặc điểm và tính chất của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đặt ra cho nghệ thuật quân sự Việt Nam, trong đó có nghệ thuật chiến dịch với những nội dung mới. Những kinh nghiệm về nghệ thuật chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, trong chiến dịch Tây Nguyên nói riêng là kết tinh truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, tri thức quân sự của thời đại và đổi bằng biết bao xương máu của bao thế hệ chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Đó là tài sản vô giá cần được tiếp tục nghiên cứu, phát triển sáng tạo, phù hợp với điều kiện mới của đất nước và bối cảnh quốc tế, tạo sức mạnh tổng hợp của nghệ thuật quân sự, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Đại tá, Tiến sĩ Dương Đình Lập
qdnd.vn

“Gió siêu thanh” cũng gãy cánh

Sau Hiệp định Pa-ri 1973, lực lượng không quân ngụy Sài Gòn được Mỹ “hà hơi tiếp sức”, trở thành một lực lượng đông, nhiều chủng loại máy bay, từ máy bay chiến đấu, vận tải, yểm trợ đến máy bay trinh sát, tải thương… Bao gồm 1 bộ tư lệnh quân chủng với đầy đủ các cơ quan và binh sở yểm trợ, 5 sư đoàn không quân tác chiến (20 phi đoàn khu trục cơ, trang bị khoảng 550 phi cơ A1H, A37 và F5, 23 phi đoàn trực thăng, trang bị khoảng 1000 phi cơ UH1 và CH47, 8 phi đoàn quan sát, trang bị khoảng 200 phi cơ O1, 02 và U17), 1 sư đoàn vận tải (9 phi đoàn vận tải, trang bị khoảng 150 phi cơ C7, C47, C119 và C130), 1 không đoàn tân trang chế tạo, 4 phi đoàn hỏa long, trang bị phi cơ AC119, AC130 Spectre Gunship. Ngoài ra còn có Phi đoàn Trắc Giác (tình báo kỹ thuật), Phi đoàn Quan sát RC119L và Biệt đoàn Đặc vụ 314.

Máy bay chiến đấu phản lực F-5 do Mỹ viện trợ được Không quân ngụy Sài Gòn biên chế tại Sư đoàn không quân 3. Máy bay F-5 được ngụy quân tôn sùng và kiêu hãnh đặt tên là “Gió siêu thanh”, biên chế trong các phi đoàn có tên cũng yêng hùng không kém, như Phi đoàn Thần Ưng, Thiên Ưng, Hắc Ưng, Kim Ưng, Hải Ưng… Các phi đoàn này phần lớn thành lập năm 1972. Đến năm 1973-1974, cùng với máy bay dòng F-5AB, Không quân ngụy được bổ sung một số máy bay F-5E, có trang bị tên lửa hàng không…

Vậy mà sau Hiệp định Pa-ri, mỗi khi cất cánh khỏi phi trường, phi công F-5 luôn căng thẳng trước lưới lửa phòng không dày đặc của Quân giải phóng. Trong các chiến dịch năm 1974-1975, chỉ huy Quân giải phóng luôn coi trọng “khóa chặt bầu trời”, nhằm loại trừ tình huống máy bay F-5, A-37 của ngụy ném bom, bắn rốc-két trợ chiến. Riêng Lữ đoàn phòng không 71 của Quân giải phóng trong trận Kà Tum, tháng 9-1973 và trận Ri Nét, tháng 5-1974 và tháng 4-1975 tại Trảng Bom đã bắn rơi nhiều máy bay F-5 khi chúng tới yểm trợ cho bộ binh. Hàng loạt “Gió siêu thanh” gãy cánh.

Dù có nhiều vũ khí hiện đại, Không quân ngụy vẫn thất bại trước nghệ thuật tác chiến của quân ta và mạng lưới phòng không ba thứ quân nhiều tầng, nhiều lớp.

TRẦN DANH
qdnd.vn

Trận mở màn mang tầm chiến lược

2 giờ sáng 10-3-1975, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh chiến dịch, Trung đoàn đặc công 198 bất ngờ nổ súng tiến công khu kho Mai Hắc Đế, sân bay thị xã Buôn Ma Thuột và hậu cứ Trung đoàn 53 ngụy, mở đầu cho Chiến dịch Tây Nguyên. 11 giờ ngày 11-3, Sư đoàn 316 và các lực lượng phối thuộc đã bắt sống Bộ chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy. Ta làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột sau 32 giờ tiến công dũng mãnh… Trong ký ức hai vị tướng, nguyên là những cán bộ trực tiếp chỉ huy, chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên mà chúng tôi đã gặp, khí thế “Thần tốc – Quyết thắng” 35 năm về trước như vẫn chưa hề nguôi.

Ngôi nhà của Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tham mưu trưởng Chiến dịch Tây Nguyên nằm khiêm nhường phía sau đường Hoàng Hoa Thám. Ông đã hơn 80 tuổi. Suốt 35 năm qua ký ức về trận mở màn, về Chiến dịch Tây Nguyên vẫn còn nóng hổi trong ông. Giọng xứ Nghệ rõ ràng, khúc chiết, ông khẳng định:

– Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên mang tầm chiến lược, vượt qua cả ý nghĩa thắng lợi của một chiến dịch bởi nó tạo bước ngoặt quan trọng cho giai đoạn kết thúc chiến tranh. Thế trận phòng ngự của địch bị phá vỡ, tạo sự chia cắt giữa đồng bằng với Tây Nguyên, uy hiếp trực tiếp Nam Bộ. Chính từ thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, ta quyết định chuyển nhanh thời gian Tổng tiến công chiến lược trong mùa khô 1975. Thắng lợi này cho thấy khả năng hạ quyết tấm chiến lược là sự quyết đoán, sáng tạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương…

Quân giải phóng làm chủ sân bay Hòa Bình, thị xã Buôn Ma Thuột

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước nhắc lại những ngày tháng không thể nào quên. Tháng 9-1974, khi đang là Tham mưu phó mặt trận, ông được vinh dự ra Hà Nội trực tiếp gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Văn Tiến Dũng nhận nhiệm vụ chuẩn bị mở chiến dịch. Trở lại Tây Nguyên, ông cùng các đồng chí trong Bộ tư lệnh xây dựng kế hoạch. Nhớ lại những ngày đó, đôi mắt ông dường như ngấn lệ khi nhắc tới các cán bộ lãnh đạo, chỉ huy lúc đó mà ông gọi là “những người thầy, người anh” như Chu Huy Mân, Hoàng Minh Thảo, Vũ Lăng, Đặng Vũ Hiệp… Ông nói: “Ngày ấy chúng tôi chỉ ngủ ngồi, ngày đi trinh sát, đêm về chụm đầu vào nhau dưới hầm bàn bạc công việc chứ không phải “việc của ai người ấy lo”. Ai biết việc gì, giúp đỡ nhau việc ấy, tất cả đều náo nức, tràn đầy quyết tâm cho trận đánh mở màn. Trong tổ chức và thực hành Chiến dịch Tây Nguyên, chúng ta đã kế thừa, phát huy cao độ nghệ thuật tạo thế, nghi binh và lừa địch-điều mà khi đã thất bại, đối phương buộc phải “tâm phục, khẩu phục”.

Ông kể lại: Để tạo bí mật, bất ngờ cho chiến dịch, từ đầu năm 1975, bộ đội chủ lực của ta ở Tây Nguyên đã tiến hành kế hoạch nghi binh rất tài tình. Để thu hút sự chú ý, đối phó của địch ở Bắc Tây Nguyên, Sư đoàn 968 đánh tiêu diệt chốt Mỹ, Đồn Tám và một số cứ điểm ở phía Tây Plei-cu, uy hiếp quận lỵ Thanh An, căn cứ Thanh Bình. Ở phía Đông An Khê, Sư đoàn 3 đánh cắt đường 19 và một số vị trí của địch từ An Khê đến Bình Khê… Vì vậy, cho đến đầu tháng 3-1975, địch chưa phát hiện ta sẽ tấn công Buôn Ma Thuột. Chúng còn đưa Trung đoàn 45 ở Đắc Lắc ra Plei-cu đối phó với chủ lực của ta ở Bắc Tây Nguyên. Thế trận tiến công nhờ vậy gặp thuận lợi… Vào 2 giờ ngày 10-3, quân ta bắt đầu tiến công Buôn Ma Thuột. Ngày 11-3-1975, bộ binh, xe tăng, trọng pháo của ta tập trung đánh mạnh vào Sư đoàn 23 của địch. Chúng chống trả quyết liệt nhưng gần 11 giờ, ta đã làm chủ các mục tiêu, bắt sống tên Tỉnh trưởng Đắc Lắc và tên Sư đoàn phó Sư đoàn 23, làm chủ hoàn toàn thị xã.

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước kể nhiều về những chiến sĩ trực tiếp cầm súng trên chiến trường. Đó là những cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn 316, Sư đoàn 10, Trung đoàn 198, Trung đoàn 25… Họ đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, mưu trí. Được quân và dân các dân tộc trên địa bàn hết lòng giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi, họ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của chiến dịch. Đó là nền tảng để cả dân tộc ta giành thắng lợi trọn vẹn vào ngày 30-4-1975.

Chúng tôi đến căn nhà số 5C, B11 ngõ 34A Trần Phú, Hà Nội gặp và hỏi chuyện Trung tướng Khuất Duy Tiến, nguyên Trưởng phòng Tác chiến Mặt trận Tây Nguyên. Tuổi đã ngoài 80, mái tóc trắng như cước, nhưng vị tướng già vẫn khoẻ mạnh, minh mẫn… Rót chén trà xanh mời khách, rồi ông tâm sự:

– 35 năm đã trôi qua nhưng những kỷ niệm chiến thắng Buôn Ma Thuột trong tôi không lúc nào phai mờ. Tháng 8-1974, tôi đang giữ cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 thuộc Sư đoàn 320 thì được trên điều động về làm Trưởng phòng Tác chiến Mặt trận Tây Nguyên. Cảm giác của tôi lúc đó thật đặc biệt. Tôi vinh dự ở bộ phận xây dựng kế hoạch tác chiến của Chiến dịch Tây Nguyên (mang tên “Kế hoạch chiến dịch 275”) trong đó có kế hoạch nghi binh, lừa địch. Để giữ bí mật tuyệt đối, chỉ có đồng chí Vũ Lăng – Phó tư lệnh Mặt trận Tây nguyên được biết kế hoạch này. Trong khi ta điều 2 sư đoàn chủ lực là Sư đoàn 320 và Sư đoàn 10 từ Bắc Tây Nguyên xuống

Nam Tây Nguyên, điều Sư đoàn 316 từ miền Bắc vào Nam Tây Nguyên để chuẩn bị tiến công Buôn Ma Thuột thì đối phương vẫn tin rằng ta sẽ đánh vào Bắc Tây Nguyên, vì vậy phần lớn quân chủ lực của chúng bị thu hút và giam chân ở đây… Chiến thắng Buôn Ma Thuột là một trận đánh đạt hiệu quả cao. Nguyên nhân thắng lợi, ngoài sự chỉ đạo chiến lược của Trung ương Đảng, còn là do ta áp dụng thành công nghệ thuật nghi binh, lừa địch trên chiến trường. Chúng ta đã rất sáng tạo trong cách đánh, tung ra đòn rất “hiểm”, tập trung lực lượng đột kích mạnh đánh thọc sâu vào sở chỉ huy khiến địch hoàn toàn bất ngờ. Ngoài ra, ta còn có phương án và tổ chức đánh địch phản kích kịp thời.”

Nhớ lại Chiến dịch Tây Nguyên và trận mở màn Buôn Ma Thuột ngày ấy, cả hai vị tướng đều cho rằng: Quyết tâm chiến lược và sự lựa chọn đúng thời cơ lịch sử, chọn đúng điểm quyết chiến chiến lược, tập trung cao độ binh, hỏa lực khi tiến công, có cách đánh linh hoạt, tài tình, chia cắt địch từ xa, hiệp đồng binh chủng chặt chẽ, tấn công địch liên tục bằng các trận then chốt… là những bài học lớn về nghệ thuật quân sự còn nguyên giá trị cho chúng ta hôm nay và mãi mãi về sau.

Nhóm PV Quốc phòng – An ninh
qdnd.vn

Nhớ lại trận then chốt chiến dịch. (Phần 2)

Quân giải phóng đánh chiếm sân bay

Phần 2

Sau khi giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, biết thế nào địch cũng phản kích để định chiếm lại Buôn Ma Thuột, ta đã chủ động điều ngay Sư đoàn 10 (thiếu) về ngay đông bắc Buôn Ma Thuột để đánh địch phản kích, và gạn lọc tình huống đánh địch đi phản kích bằng máy bay lên thẳng. Vì đi phản kích là chữa cháy; phải đi rất nhanh. Mưu kế của địch sau khi mất Buôn Ma Thuột là một mặt đưa Sư đoàn 23 ra phản kích và mặt khác là đưa lữ đoàn 3 dù ra chiếm lĩnh đèo Phượng Hoàng để ngăn chặn ta tiến xuống Nha Trang.

Đánh hậu cứ Trung đoàn 53

Bị mất Buôn Ma Thuột bọn tàn quân địch chạy về căn cứ 45, trường huấn luyện, căn cứ 53, một số tên chạy về ấp Châu Sơn, nhằm co cụm cố giữ những căn cứ còn lại làm bàn đạp chờ quân ở Bản Đôn, Chư Nga kéo về, quân tăng viện tới, hòng cùng nhau phối hợp thực hành phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột.

Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh tổ chức ngay lực lượng, nhanh chóng phát triển tiến công đánh chiếm các mục tiêu còn lại ở ngoài thị xã và truy lùng tàn quân địch lẩn trốn, để ổn định tình hình trong thị xã để sẵn sàng đánh địch phản kích. Trong đó mục tiêu chủ yếu là căn cứ Trung đoàn 53.

Thượng tướng, giáo sư Hoàng Minh Thảo tên thật là Tạ Thái An, sinh năm 1921 tại làng Cao, xã Bảo Khê, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình thợ may, cha là Tạ Quang Khai, mẹ là bà Nguyễn Thị Tành.

Cũng như bao nhiêu thanh niên Việt Nam giác ngộ thời đó, ông rời quê hương đi tham gia cách mạng từ năm 1937, hoạt đông ở Lạng Sơn. Từ năm 1941 đến năm 1944 ông được Bác Hồ cử đi học quân sự tại trường Tây Cán Bang ở Liễu Châu, Trung Quốc. Trở về nước tham gia Cách mạng Tháng Tám rồi trở thành Tư lệnh Chiến khu 3 (1945-1946), Tư lệnh Chiến khu 4 (1948-1950). Năm 1950, ông làm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304, năm 1954 ông được bổ nhiêm làm Hiệu trưởng Trường Quân chính.

Ông là người đam mê đánh giặc bằng mưu kế, thế trận điển hình là chiến dịch Đắc Tô 1 (1967) chiến dịch Đắc Xiêng (1970), chiến dịch Đắc Tô – Tân Cảnh (1972), chiến dịch Tây Nguyên mà ông đều làm tư lệnh là đỉnh cao về nghệ thuật đánh giặc bằng mưu kế của ông. Và, ông luôn tạo ra được niềm tin cho những sĩ quan và chiến sĩ của mình.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuốn “Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng” viết: “Trong một buổi làm việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã nêu khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là một thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi địch sơ hở nhất và có khả năng phát triển xuống đồng bằng. Khó khăn phải vượt qua để tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân, thiếu nước”.

… Nội dung dưới đây trích giai đoạn đầu của trận then chốt chiến dịch

Tây Nguyên, trận Buôn Ma Thuột, theo cuốn “Chiến đấu ở Tây Nguyêncủa cố giáo sư Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên năm 1975.

Căn cứ Trung đoàn 53 nguỵ nằm về đông nam sân bay Hoà Bình, cách trung tâm thị xã khoảng 10km. Căn cứ được thiết bị phòng ngự rất vững chắc. So với các căn cứ khác, căn cứ 53 được bố trí phòng ngự vững chắc hơn cả. Quanh căn cứ có 5 đến 7 lớp rào kẽm gai, xen kẽ giữa các lớp rào là bãi mìn. Lớp tường đất bao quanh căn cứ đắp cao và dày, các lô cốt và các ụ súng cũng được bố trí ngay trong tường đất hướng mũi súng ra ngoài. Hai hầm chỉ huy của Trung đoàn trưởng bằng bê tông xây chìm xuống đất. Trong căn cứ lúc này có Trung đoàn 53 (thiếu), 1 chi đội M113, do viên trung tá đoàn trưởng Võ Ân chỉ huy. Gọi là căn cứ Trung đoàn 53, nhưng đó là hậu cứ của 2 Trung đoàn 44 và 53. Dựa vào hầm ngầm chúng chống trả quyết liệt và làm thất bại các cuộc tiến công của ta.

Khi vạch kế hoạch tác chiến, Bộ Tư lệnh chiến dịch rất quan tâm đến mục tiêu sân bay Hoà Bình và căn cứ Trung đoàn 53. Bởi kinh nghiệm từ năm 1972, khi quân ta đã bao vây thị xã Kon Tum, quân nguỵ chỉ còn một cửa ngõ duy nhất là sân bay Kon Tum. Vậy mà, từ sân bay còn giữ được này, quân nguỵ dùng làm bàn đạp đưa Sư đoàn 23 đến phản kích để giành giật lại được thị xã.

Do vậy, việc đánh chiếm căn cứ Trung đoàn 53 và sân bay Hoà Bình lúc này là rất quan trọng, nhằm đập tan khu vực đầu cầu để phản kích của Sư đoàn 23 hòng chiếm lại thị xã Buôn Ma Thuột.

Trước mắt việc đánh chiếm sân bay Hoà Bình (Phụng Dực) do Trung đoàn đặc công 198 đảm nhiệm. Trung đoàn đặc công 198 được trang bị súng phòng không12,7 mm và tên lửa phòng không vác vai A72 để có thể đủ khả năng trụ bám lại sau khi đánh chiếm được sân bay. Do bảo đảm tính bí mật, bất ngờ, nên Trung đoàn phải hành quân theo đường giao liên xuống Phú Yên rồi mới vòng trở lại. Đường đi mất 12 ngày, đến ngày thứ 9 lương thực đã cạn nên có đơn vị phải đào củ mài để ăn. Do hành quân liên tục, nên nhiều ngày Trung đoàn không giữ được liên lạc với sở chỉ huy chiến dịch.

Tuy vậy, đúng theo hiệp đồng, 2 giờ 10 phút ngày 10 tháng 3 Trung đoàn 198 đã nổ súng và nhanh chóng đánh chiếm được sân bay Hoà Bình. Riêng đội đặc công đánh vào căn cứ 53 gặp nhiều trở ngại. Sau khi đột nhập vào căn cứ, các mũi đã nổ súng đánh được một số mục tiêu, nhưng sau đó lại bị địch đánh bật ra. Quân địch phát hiện được cửa mở xông ra bịt lại. Một số rút được ra ngoài, nhưng một số khác đã bị địch bắt và chúng đã đưa vào căn cứ tra tấn đánh đập, có đồng chí bị chúng thiêu chết rất dã man.

Ngày 12 tháng 3, Phạm Văn Phú bay trực thăng đến vùng trời căn cứ 53. Phú đã cho trung tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 53 biết quân tăng viện đang được đổ xuống Phước An để giải vây tái chiếm lại thị xã và toàn bộ Sư đoàn 23 đang rời Mặt trận Nam Plâyku, trở về Buôn Ma Thuột trong một cuộc hành quân trực thăng vận đại qui mô và động viên tên này cố chống cự đến cùng, chờ Sư đoàn 23 về phản kích đánh chiếm lại Buôn Ma Thuột.

Trực thăng vũ trang sư đoàn 6 không quân, liên tục chở quân và sử dụng hỏa lực chi viện phản kích mà không tái chiếm được

Thực hiện ý định đó, Ân đã chỉ huy Trung đoàn 53 chống cự rất ngoan cố. Y đã ra lệnh cho binh lính: “Kẻ nào ra khỏi công sự sẽ bị bắn tại chỗ”. Được cấp trên khích lệ, Võ Ân càng tỏ ra độc ác, hắn ra lệnh cho binh lính trong căn cứ tăng cường củng cố công sự. Mỗi gia đình binh lính bị lùa vào giữ một lô cốt, hoặc một côngtơnơ được đắp bao cát xung quanh; trong mỗi lô cốt có một khẩu đại liên và một bao lựu đạn to. Khi căn cứ bị tiến công, tên nào rời công sự lập tức bị bắn chết tại chỗ. Theo lệnh của Ân, các tên chỉ huy cấp dưới của hắn đã tàn sát dã man những người rời vị trí, có khi chỉ vì đi xin nước uống, xác chết chỉ được vùi lấp qua loa.

Do các nơi đều bị mất, nên tàn quân địch đợi đến đêm lén chạy trốn vào căn cứ, mặc dù đã bị quân ta vây bên ngoài bắn đuổi theo chúng vẫn cố lao vào căn cứ.

Liên đoàn biệt động quân số 21 (thiếu) sau khi thấy Buôn Ma Thuột bị mất, cũng đã lần mò về phía đông căn cứ 53. Binh lính các nơi khác bị thua cũng đều dồn về căn cứ 53. Lúc này căn cứ 53 như cái túi chứa đủ mọi loại tàn quân của địch.

Căn cứ 53 còn thì sân bay Hoà Bình có nguy cơ sẽ bị địch chiếm lại và đó sẽ là cửa ngõ để địch đưa quân phản kích giành lại thị xã. Do vậy, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định đưa Trung đoàn 149, Sư đoàn 316 vào tiến công căn cứ 53.

Ngày 14 tháng 3 khi tiến công Trung đoàn 149 đã đánh nhầm vào khu điều vận máy bay, vì không nhận rõ được mục tiêu; đến khi tiến sang căn cứ 53 thì đã bị địch biết và chặn lại.

Ngày 15 tháng 3, Trung đoàn 149 tiến công lần thứ hai. Máy bay địch đến đánh vào đội hình gây thương vong nặng cho Trung đoàn, cuộc tiến công vào căn cứ 53 lần này vẫn bị thất bại.

Tuy quân địch vẫn còn giữ được căn cứ 53, nhưng chúng đã hết lương thực, địch phải dùng máy bay thả dù xuống tiếp tế. Vì sợ pháo cao xạ của ta nên máy bay phải bay rất cao để thả dù và dù đã lọt vào tay quân ta. Tình trạng thiếu lương thực, thiếu nước, người chết tăng lên mà không có chỗ chôn cộng với mùi khói đạn làm cho bầu không khí trong căn cứ hết sức căng thẳng và ghê rợn.

Lúc này, Trung đoàn 45, Sư đoàn 23 đã đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống đông bắc căn cứ 53, một đại đội trinh sát của Trung đoàn 45 đã tiến đến gần sát rào căn cứ này. Do vậy Trung đoàn 53 càng chống cự lại ta một cách điên cuồng.

Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng Trung đoàn bộ binh 66 của Sư đoàn 10 vừa từ Đức Lập về, được tăng cường 1 đại đội xe tăng phối thuộc cho Sư đoàn 316 để tiêu diệt căn cứ 53.

Đêm 16 rạng ngày 17 tháng 3 dưới sự chi viện đắc lực của cụm pháo binh chiến dịch, Trung đoàn 66 đã từ hướng tây bắc và Trung đoàn 149 từ hướng tây nam đã đột phá vào căn cứ 53. Quân địch bị tiêu diệt phần lớn, số còn lại tháo chạy về phía đông

.

Căn cứ 53 bị tiêu diệt, bàn đạp triển khai phản kích của Sư đoàn 23 đã bị mất. Niềm hy vọng tái chiếm lại thị xã Buôn Ma Thuột của địch đã bị lung lay.

Trong lúc này trên các hướng khác, bộ độ đã tiến công địch dồn dập.

Ngày 19 tháng 3 Trung đoàn 271 đã chiếm ấp Nhân Cơ Nhơn Hải, áp sát vào sân bay Nhân Cơ.

Trước đó trên các hướng phối hợp.

Ngày 11 tháng 3, Trung đoàn 25 diệt một đoàn xe địch trên đường số 2 1 ở khu vực Chư Cúc và diệt một bộ phận địch từ Khánh Dương lên giải toả đường 21.

Ngày 12 tháng 3, Trung đoàn 19 Sư đoàn 968 đã chiếm thêm 2 vị trí của địch ở nam Plâyku, áp sát vào quận lỵ Thanh Bình 2, uy hiếp Thanh An, tiếp tục bắn pháo vào Plâyku, Kon Tum.

Ngày 13 tháng 3, Trung đoàn 95A tiêu diệt một cụm địch ở ngã ba Plâyku. Tiếp đó, đã tiêu diệt 2 chi đoàn thiết giáp, đánh bại phản kích của địch và phát triển xuống hướng đèo Mang Giang. Ở phía đông, sau khi tiêu diệt 9 chốt của địch, Sư đoàn 3 (thiếu) Quân khu 5 đã phát triển tiến công về hướng Vườn Xoài, đường số 19 vẫn tiếp tục bị cắt đứt hoàn toàn.

Trên các chiến trường bạn, ngày 10 tháng 3 bộ đội Quảng Nam đã đánh chiếm quận lỵ Tiên Phước, Phước Lâm, uy hiếp địch ở Tam Kỳ. Tiếp đó, đã đánh bại các đợt phản kích của Sư đoàn 2 nguỵ.

Ở Thừa Thiên, ngày 10 tháng 3 Sư đoàn 324, Quân đoàn 2 đã tiến công căn cứ 303 và nhiều căn cứ khác trên trục đường số 14 ở khu vực phía tây Truồi.

Ở Nam Bộ, đã đánh mạnh ở Bình Long và Tây Ninh.

Thời gian là lực lượng !

Có điều gì khắc nghiệt mà dễ hiểu hơn chân lý đó của chiến tranh? Tranh thủ được một tiếng đồng hồ, lực lượng có thể tăng gấp đôi, tranh thủ được 24 tiếng đồng hồ, lực lượng có thể tăng gấp mười !

Khi nhận thấy không còn cần thiết, Bộ Tư lệnh đã điều ngay tiểu đoàn làm dự bị Sư đoàn 10 về trong đội hình Trung đoàn 24 và cho lệnh điều tiếp Trung đoàn 66 khi Đức Lập đã chắc thắng, khẩn trương cơ động về vị trí sẵn sàng đánh địch phản kích.

Để tranh lấy yếu tố thời gian, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã huy động tất cả các phương tiện cơ giới có thể có được lúc đó để cơ động bộ đội. Vừa ra khỏi chiến đấu, đẫm mình hơi thuốc súng và bụi đất, nguyên cả âm vang của thắng lợi vừa qua và lòng hăm hở hướng tới, các chiến sĩ Sư đoàn 10 lại lao nhanh trên đường để bước tiếp vào trận chiến đấu mới. Dù kẻ địch có điều đến thêm lực lượng thì Sư đoàn dự bị chiến dịch đã sẵn sàng đối phó. Vấn đề quan trọng nhất lúc này là chúng ta phải tranh thủ được thời gian.

Vừa cơ động đến nơi, từng đơn vị của Sư đoàn 10 đã lao ngay vào trận chiến đấu đánh địch trong hành tiến, và trận chiến đấu quyết định số phận Sư đoàn bộ binh 23, liên đoàn biệt động 21 và thậm chí cho cả chiến dịch nam Tây Nguyên đã đến.

Sau khi ta giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, bọn chỉ huy địch đề ra một số tình huống xử trí như sau:

– Ngăn chặn bước tiến của quân ta từ Buôn Ma Thuột theo đường số 21 về Ninh Hoà và Nha Trang.

– Đối phó với cuộc tiến công của quân ta vào Plâyku

– Có điều kiện thì phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột.

Thế nhưng, trong thế trận lúc bấy giờ, đối với tình huống nào chúng cũng khó xử trí.

Bản thân lực lượng quân đoàn 2 của địch ở Tây Nguyên chỉ có Sư đoàn 23 là đáng kể, còn các liên đoàn biệt động quân thì sức chiến đấu kém. Lực lượng tổng dự bị chiến lược thì bị phân tán ở nhiều nơi và cũng đang bị tiến công. Bọn chỉ huy quân đoàn 2 ngụy giờ đây sống chết phải tự mình lo liệu, không nhờ cậy được gì ở sự chi viện của bọn cầm đầu Mỹ – nguỵ.

Vô cùng bối rối và cay đắng, bọn chúng chỉ có cách tung đứa con cưng là Sư đoàn 23 (thiếu) gồm Trung đoàn 44 và Trung đoàn 45 xuống phía đông Buôn Ma Thuột, trên đường số 21. Mọi đường bộ đều bị quân ta chiếm giữ và cắt đứt. Chúng không có cách nào hơn là đổ quân xuống bằng máy bay lên thẳng. Như vậy, số quân phản kích không thể mang theo xe tăng mà chỉ có một số khẩu pháo, rất ít đạn dược, xăng dầu và các thứ cơ sở vật chất khác.

Rõ ràng, hai Trung đoàn bộ binh đổ bộ bằng máy bay lên thẳng dù có liều lĩnh cũng không thể đối địch được với một đối phương hùng mạnh, có đủ các binh chủng đang tràn đầy khí thế chiến thắng và đang ở trong cao trào của cuộc tiến công mãnh liệt. Mặc dầu có một số máy bay chi viện, song không có xe tăng và pháo binh thì bọn quân phản kích của địch khó có sức chiến đấu mạnh,

Đây là vấn đề gạn lọc tình huống. Địch đi phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột có hai tình huống. Tình huống đi đường bộ và tình huống đi bằng máy bay lên thẳng. Ta cho Sư đoàn 320 ra cắt đường. Địch không có khả năng đi đường bộ. Vì đi phản kích như đi chữa cháy, phải đi bằng máy bay. Ta gạn lọc tình huống đi bằng đường bộ, buộc địch phải đi bằng máy bay ta đánh dễ hơn.

Từ chiều ngày 12 tháng 3 đến hết ngày 13 tháng 3 năm 1975, với tổng số 145 lần chiếc máy bay lên thẳng và 81 lần chiếc các loại máy bay chiến đấu cường kích hoạt động yểm hộ, địch đã đổ Trung đoàn 45 và pháo đội 232 xuống đông Buôn Ma Thuột, từ điểm cao 581 và dọc theo đường số 21 đến Phước An.

Trong ngày 12 tháng 3, ta được tin tên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 23 nguỵ báo cho căn cứ 53 ở sân bay Phụng Dực (Hoà Bình) đang bị quân ta bao vây là: chúng sẽ có lực lượng xuống tăng viện, ứng cứu và sẽ thực hiện phản kích lấy lại thị xã Buôn Ma Thuột. Theo kế hoạch phản kích, chúng lấy khu vực từ căn cứ 45 đến căn cứ 53 và điểm cao 581 làm tuyến bàn đạp, các lực lượng tàn quân phải tập trung về đó, phối hợp với quân đến tăng viện để thực hành phản kích vào đông và đông – nam Buôn Ma Thuột.

Kế hoạch tiêu diệt Sư đoàn 23 nguỵ đã được lập ra kế tiếp ngay sau với kế hoạch đánh thị xã Buôn Ma Thuột. Bởi vì gần như điều tất yếu Buôn Ma Thuột bị tiến công thì đơn vị đầu tiên về ứng cứu sẽ là Sư đoàn 23. Mặt khác, hậu cứ của Sư đoàn này ở Buôn Ma Thuột, nên binh lính càng nóng lòng muốn về chốn cũ. Dự kiến đánh địch phản kích của ta rất chủ động. Ta đã bố trí lực lượng đánh phản kích trước khi địch đổ quân hướng đông bắc Buôn Ma Thuột.

Trong kế hoạch đánh Sư đoàn 23 điều cốt lõi là dự kiến cho đúng thời gian, địa điểm và cách thức trở về của sư đoàn này để điều hành chuyến trở về của nó theo quyết định của ta. Từ việc gạn lọc tình huống ta đã dự kiến, Sư đoàn 23 có thể về sau khi Buôn Ma Thuột bị tiến công 2-3 ngày.

Về địa điểm, ta dự kiến chúng có thể xuống đường số 14, hoặc đường số 21.

Về cách thức đi về thì đường bộ đã bị ta cắt đứt, sân bay ta đã bị khống chế, nên chúng chỉ có thể trở về bằng máy bay lên thẳng, mà loại máy bay này trong biên chế của quân nguỵ chỉ đủ khả năng chở lần lượt từng Trung đoàn và không mang theo được xe tăng và những dàn pháo lớn đi cùng.

Để loại trừ khả năng địch xuống đường 14, ta phải quét sạch địch trên con đường này và chiếm lĩnh ngay các địa hình mà chúng có thể lợi dụng để triển khai phản đột kích vào thị xã. Giải quyết được việc đó thì địch chỉ còn một địa điểm đổ quân là đường số 21 và ở đó còn có sự kháng cự của Trung đoàn 53.

Từ dự kiến trên, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 10 (từ Đức Lập mới về) chuẩn bị tiêu diệt Sư đoàn 23 trên đường số 21.

(Xin lưu ý cùng bạn đọc. Vì các trận được kể ra ở đây có lúc diễn ra gối đầu nhau, nên về mặt thời gian đôi khi phải lặp lại. Mong bạn đọc chú ý theo dõi. Cảm ơn ).

Quân nguỵ thực hành phản kích hòng tái chiếm Buôn Ma Thuột. Diễn biến này được kể lại như sau:

“Cuộc đổ quân tăng viện cho Mặt trận Buôn Ma Thuột trong 2 ngày 12 và 13 tháng 3 năm 1975 được coi là cuộc đổ quân tăng viện bằng trực thăng vĩ đại nhất kể từ khi Hiệp định Pa ri 1973 được ký kết, và cũng là cuối cùng trên chiến trường Cao nguyên.

Những phi đoàn trực thăng của các Sư đoàn 1 và 4 không quân từ Đà Nẵng, Cần Thơ cùng với một số trực thăng cơ hữu của Sư đoàn không quân (Plâyku), với hơn 100 trực thăng đủ loại kể cả những Chinook khổng lồ, đều được tập trung để sử dụng cho cuộc đổ quân tăng viện này.

Từ 8 giờ sáng ngày 12 tháng 3, tại căn cứ Hàm Rồng, bản doanh Bộ Tư lệnh hành quân của Tư lệnh Mặt trận Nam Plâyku, và bộ chỉ huy các Trung đoàn 45 và 44 thuộc Sư đoàn 23, trực thăng bay rợp trời. Những sĩ quan điều khiển và chỉ huy cuộc hành quân này là các Trung đoàn trưởng, trưởng phòng 3 hành quân của quân đoàn 2 và Sư đoàn 23, phi đoàn trưởng phi đoàn trực thăng Sư đoàn 6 không quân.

Đợt bay đầu tiên, đại đội trinh sát của Sư đoàn 23 và 2 tiểu đoàn tác chiến của Trung đoàn 45 được bốc đi trước nhất.
Tiếp đó, những Chinook khổng lồ móc theo những khẩu đại bác 105 ly thả xuống trận địa, Quận lỵ Phước An phía đông Buôn Ma Thuột là địa điểm mà đoàn quân tăng viện nhảy xuống”.

Cũng theo lời kể:

“13 giờ trưa ngày 12 tháng 3, tướng Phạm Văn Phú rời Plâyku bay chỉ huy mặt trận Buôn Ma Thuột trên chiếc phi cơ nhỏ U- 17. Tới Buôn Ma Thuột khoảng 14 giờ 30, tướng Phú đã bay trên trận địa chỉ huy các cánh quân gần 1 giờ liền. Lần lượt tướng Phú đã liên lạc ra lệnh cho tất cả đơn vị trưởng các đơn vị đang chiến đấu phía dưới, như Trung đoàn bộ binh 53, liên đoàn 21 biệt động quân, các tiểu đoàn địa phương quân Đăk Lắc.

Vẫn không có tin tức gì về đại tá Vũ Thế Quang, tư lệnh phó Sư đoàn 23 và đại tá tỉnh trưởng Buôn Ma Thuột, ngoài nguồn tin của các đài phát thanh Việt Cộng loan báo họ đã bắt sống.

Buổi trưa ngày 12 tháng 3, trời trong sáng. Từ trên cao, qua khung cửa sổ nhỏ của chiếc U-17 cả một vùng trời và thị xã Buôn Ma Thuột hiện ra rất rõ. Những phản lực cơ A -37 và khu trục cơ vẫn tiếp tục bay tới đánh bom yểm trợ cho những cánh quân bạn dưới đất. Từng cột khói, và những đám cháy bốc cao. Dân chúng kéo nhau lũ lượt băng rừng chạy về phía Phước An, Khánh Dương.

Tướng Phú trở về Plâyku được tin Tổng thống Thiệu gọi lên lúc 14 giờ, khi ông đang bay thanh sát mặt trận Buôn Ma Thuột, ông đã liên lạc với Sài Gòn và trình Tổng thống Thiệu tình hình sau cùng của trận chiến Buôn Ma Thuột. Cả Tổng thống Thiệu và tướng Phú đều lo ngại về sự cung khai của hai tù binh Bắc Việt do Trung đoàn bộ binh 53 bắt được về nguồn gốc đại đơn vị của chúng: Sư đoàn 316 tổng trù bị Cộng sản Bắc Việt, mà theo tin tức tình báo còn ở ngoài Thanh Hoá tháng trước. Tổng thống Thiệu cũng đã ra lệnh cho tướng Phú phải thâu thập mọi tin tức địch tình chính xác tại Mặt trận Buôn Ma Thuột, và đặc biệt về Sư đoàn 316, đệ trình lại ông trong một buổi họp quan trọng sắp tới mà tướng Phú sẽ được thông báo sau .

Chiều ngày 12 tháng 3, Việt Cộng từ những đỉnh cao phía tây bắc Plâyku quân ta nã hoả tiễn vào phi trường quân sự Cù Hanh, và bộ tư lệnh quân đoàn. Một quân nhân tài xế bị trúng đạn tử thương ngay gần cột cờ trước bộ tư lệnh làm cho tướng Phú nổi cơn thịnh nộ. Người sĩ quan chỉ huy lực lượng thám kích quân đoàn 2, thiếu tá Ngọ được lệnh bằng mọi cách không để cho một hoả tiễn, hay một viên đạn súng cối nào của địch bay tới Bộ Tư lệnh quân đoàn nữa (!) đứng đó chịu trận, và thấy trước mặt những cơn thịnh nộ khác của vị tư lệnh quân đoàn còn tiếp tục đến với ông ta. Bởi vì với núi đồi trùng điệp với đêm tối chỉ cần một vài đặc công cảm tử của Việt Cộng sau khi thoát được những ổ phục kích của lực lượng thám kích quân đoàn 2, đeo ống phóng bò tới gần cho những hoả tiễn bay khỏi nòng rồi bỏ chạy, thì chẳng có cách nào có thể tìm ra tung tích của chúng. Nhưng, trong quân đội, “lệnh là lệnh !”.

Tướng Phú đi trực thăng vào vùng trời Buôn Ma Thuột lần này là để chọn đường về cho Sư đoàn 23. Ý tưởng đó được hình thành ngay sau khi biết tin xe tăng của Việt Cộng đã cán xích trên đường phố Buôn Ma Thuột. Nhưng về bằng con đường nào? và triển khai ở đâu? Tình hình biến chuyển quá nhanh.

Sau khi thị xã Buôn Ma Thuột bị mất, đại tá Quang và đại tá Luật bị bắt. Phần lớn các căn cứ chung quanh Buôn Ma Thuột đã bị đánh chiếm. Hiện chỉ còn căn cứ 53 và quận ly Phước An là những nơi có thể dựa được. Phú quyết định chọn khu vực này để đưa Sư đoàn 23 về đứng chân. Muốn vậy phải giữ được căn cứ 53 bằng mọi giá. Phú bay trên vùng trời căn cứ 53 động viên Võ Ân cố gắng giữ vừng căn cứ và hứa sẽ đưa Sư đoàn 23 về ngay.

Do con đường số 14, con đường bộ duy nhất nối Plâyku với Buôn Ma Thuột đã bị Sư đoàn 320 cắt đứt, nên cách duy nhất để đưa được cả Sư đoàn 23 về là sử dụng máy bay trực thăng chở quân. Tuy vậy, dù có cố gắng đến mấy thì mỗi ngày cũng chỉ đổ quân được một Trung đoàn. Và như vậy phải mất hai, ba ngày mới xong.

Về phía ta, thấy trước âm mưu và khả năng phản kích của địch vào thị xã, ngay sau khi trận Đức Lập vừa kết thúc, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã điều Sư đoàn 10 tới phía đông Buôn Ma Thuột sẵn sàng đánh quân địch phản kích. Như đã dự kiến từ trước về tình huống này, nhằm đánh bại âm mưu dùng các căn cứ còn lại làm bàn đạp đổ quân phản kích hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột. Ngay trong đêm 11 tháng 3, Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Sư đoàn 10 tổ chức tiêu diệt căn cứ 45 và cứ điểm Chư Nga, Trung đoàn 149, Sư đoàn 316 và Trung đoàn đặc công 198 tiêu diệt căn cứ B50.

5 giờ sáng ngày 12 tháng 3 cùng thời gian với các đơn vị đánh căn cứ B50, được sự chi viện của pháo binh Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24, Sư đoàn 10 cùng xe tăng chia thành hai mũi đột kích, thọc thẳng vào trung tâm căn cứ 45.

Thật rủi ro cho quân địch tăng viện. Hồi 9 giờ 30 phút ngày 12 tháng 3, quân ta đã chiếm mất căn cứ 45 rồi. Thế là Trung đoàn 45 và pháo đội 232 của địch không còn chỗ đứng chân ở căn cứ 45 nữa, và chúng cũng chẳng liên lạc được với căn cứ 53. Cuối cùng chúng buộc phải đổ xuống các toạ độ không được xác định trước ở khu vực Nông Trại – Phước An. Bọn tàn quân của liên đoàn biệt động quân số 21 đang tháo chạy tan tác vội xô nhau tới nhờ bọn mới đổ bộ tăng viện che chở.

Nhưng, như ta biết: trong phương án tác chiến chiến dịch, quân ta đã chuẩn bị sẵn sàng đánh quân địch tăng viện bằng đường không. Sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột, ta đã di chuyển các trận địa pháo binh và pháo cao xạ ra phía đông thị xã này. Sau khi tiêu diệt địch và hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Đức Lập, Sư đoàn bộ binh 10 dự bị của chiến dịch, 1 sư đoàn tinh nhuệ do đại tá Hồ Đệ chỉ huy; người có nhiều kinh nghiệm tác chiến binh chủng hợp thành đã tổ chức lực lượng, khẩn trương chuyển đến khu vực tác chiến dự kiến.

Từ ngày 10 tháng 3, các lực lượng của Sư đoàn đã lần lượt hành quân bằng cơ giới qua hơn 100 ki-lô-mét đường quân sự làm gấp tới đông Buôn Ma Thuột. Trung đoàn 24 là đơn vị đầu tiên triển khai lực lượng sẵn ngay tại chỗ. Trung đoàn 45 địch vừa đổ quân xuống, liền bị Trung đoàn 24 của ta đánh luôn một trận phủ đầu và lập tức bị ngăn chặn không liên hệ được với Trung đoàn 53 nguỵ đang bị quân ta bao vây tiến công uy hiếp ở sân bay Phụng Dực. Quân ta liên tục bám đánh và bao vây cô lập quân viện, tạo thế cho các lực lượng của Sư đoàn tiếp sau triển khai đội hình tiến công.

Mưu kế của địch là Trung đoàn 53 cố giữ vững trận địa, đợi Trung đoàn 45 tới cùng hiệp lực để đánh chiếm lại Buôn Ma Thuột.

Chiều ngày 12 đến sáng 13 tháng 3, phát hiện địch cho Trung đoàn 45 của Sư đoàn 23 đổ quân xuống vùng cao điểm 581, Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Sư đoàn 10 tiến công Trung đoàn 45 nguỵ.

Quân địch từ chỗ tăng viện để phản kích của quân ta, giờ đã trở thành kẻ bị bao vây. Chúng hiểu được nguy cơ đó nên chúng rất tích cực đào công sự, rất tích cực “gào” máy bay, pháo binh bắn phá oanh tạc ngăn chặn quân ta.

Suốt đêm 13 tháng 3, địch cho máy bay C.130 liên tục thay nhau thả pháo sáng, bắn đạn 201y quanh cao điểm 581 và dọc đường 21 để trấn an tinh thần bọn lính vừa được đổ xuống. Song địch ngăn sao nổi dòng thác tiến công của quân ta ập tới.

Ngay trong đêm 13 tháng 3, Trung đoàn 24 và các đơn vị tăng cường của quân ta đã vượt mọi địa hình sình lầy, gai góc, đường khúc khuỷu, quanh co dưới làn pháo đạn địch để tiến vào vị trí xuất phát tiến công. Vì gặp khó khăn nên các hướng quân ta không thực hiện được kế hoạch hiệp đồng theo giờ “G” nổ súng vào lúc trời mờ sáng.

Tới 7 giờ ngày 14 tháng 3, pháo binh ta mới bắt đầu bắn được, Trung

đoàn 24 cùng xe tăng của Trung đoàn 273 chia thành 2 mũi đột thẳng lên cao điểm 581. Khi thấy bộ binh ta và xe tăng tiến đến gần, nhiều

tên địch khiếp sợ xin hàng hoặc bỏ chạy. Bị truy ép từ phía sau, lại rơi đúng vào trận địa đón lõng của ta ở phía trước, các lực lượng của tiểu đoàn 2 nguỵ nhanh chóng bị tiêu diệt và tan rã. Thừa thắng các chiến sĩ Trung đoàn 24 cùng xe tăng đánh thẳng ra đường 21.

Mặc dù lực lượng ít, các chiến sĩ ta vẫn táo bạo lao vào giữa đội hình dày đặc của tiểu đoàn 1 nguỵ, dùng hoả lực diệt chúng và tiếp tục phát triển về phía đông. Trên đường tiến công, một chiếc cầu bị đại đội bảo an cho nổ bộc phá rồi bỏ chạy. Các chiến sĩ công binh nhanh chóng làm ngầm cho xe tăng tiếp tục truy kích và phải mất gần hai giờ chiến đấu với địch, bộ binh và xe tăng ta mới làm chủ hoàn toàn được trận địa tới phân chi khu Phước Bình.

Đến 12 giờ ngày 14 tháng 3 Trung đoàn 24 đã tiêu diệt, làm tan rã tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 45 và tiểu đoàn bảo an địch đóng tại khu vực, chiếm điểm cao 581, giải phóng đoạn đường số 21 dài 12 ki-lô-mét. Quân địch còn lại tháo chạy, chiều 14 tháng 3 chúng co cụm vào được khu Nông Trại. Quân ta lập tức tung ngay trinh sát bám sát chúng, đồng thời tổ chức các lực lượng phát triển tiếp theo.

Mưu kế của địch vẫn không thay đổi, chúng chuẩn bị cho Trung đoàn 44 xuống tiếp để cứu Trung đoàn 45 và chi viện cho Trung đoàn 53.

Mưu kế đối phó của ta khi một tiểu đoàn của Sư đoàn 316 và một đội đặc công không đánh được Trung đoàn 53 địch ở căn cứ 53, ta điều Trung đoàn 66, Sư 10 vào tác chiến để phá tan bàn đạp căn cứ 53. Trung đoàn 66 vào tác chiến là ta tiêu diệt được Trung đoàn 53.

Tình thế chiến trường ở khu vực đường số 21 lúc này chuyển biến rất nhanh, một hình thái mới đã xuất hiện: Quân địch tuy vẫn còn khả năng đưa thêm quân đến tăng viện, nhưng bàn đạp để chúng triển khai thực hành phản kích vào Buôn Ma Thuột đã bị đẩy ra xa. . . Xét các yếu tố tinh thần, vật chất của địch, trước mắt chúng không đủ sức phản kích và thời cơ phản kích trực tiếp vào Buôn Ma Thuột cũng không còn nữa.

TDB-thực hiện
qdnd.vn

Nhớ lại trận then chốt chiến dịch. (Phần 1)

Nhớ lại trận then chốt chiến dịch. (Phần 1)

Thượng tướng, giáo sư Hoàng Minh Thảo tên thật là Tạ Thái An, sinh năm 1921 tại làng Cao, xã Bảo Khê, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình thợ may, cha là Tạ Quang Khai, mẹ là bà Nguyễn Thị Tành.

Cũng như bao nhiêu thanh niên Việt Nam giác ngộ thời đó, ông rời quê hương đi tham gia cách mạng từ năm 1937, hoạt đông ở Lạng Sơn. Từ năm 1941 đến năm 1944 ông được Bác Hồ cử đi học quân sự tại trường Tây Cán Bang ở Liễu Châu, Trung Quốc. Trở về nước tham gia Cách mạng Tháng Tám rồi trở thành Tư lệnh Chiến khu 3 (1945-1946), Tư lệnh Chiến khu 4 (1948-1950). Năm 1950, ông làm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304, năm 1954 ông được bổ nhiêm làm Hiệu trưởng Trường Quân chính.

Ông là người đam mê đánh giặc bằng mưu kế, thế trận điển hình là chiến dịch Đắc Tô 1 (1967) chiến dịch Đắc Xiêng (1970), chiến dịch Đắc Tô – Tân Cảnh (1972), chiến dịch Tây Nguyên mà ông đều làm tư lệnh là đỉnh cao về nghệ thuật đánh giặc bằng mưu kế của ông. Và, ông luôn tạo ra được niềm tin cho những sĩ quan và chiến sĩ của mình.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuốn “Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng” viết: “Trong một buổi làm việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã nêu khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là một thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi địch sơ hở nhất và có khả năng phát triển xuống đồng bằng. Khó khăn phải vượt qua để tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân, thiếu nước”.

… Nội dung dưới đây trích giai đoạn đầu của trận then chốt chiến dịch
Tây Nguyên, trận Buôn Ma Thuột, theo cuốn “Chiến đấu ở Tây Nguyên” của cố giáo sư Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên năm 1975

Ông là người đam mê đánh giặc bằng mưu kế, thế trận điển hình là chiến dịch Đắc Tô 1 (1967) chiến dịch Đắc Xiêng (1970), chiến dịch Đắc Tô – Tân Cảnh (1972), chiến dịch Tây Nguyên mà ông đều làm tư lệnh là đỉnh cao về nghệ thuật đánh giặc bằng mưu kế của ông. Và, ông luôn tạo ra được niềm tin cho những sĩ quan và chiến sĩ của mình.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuốn “Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng” viết: “Trong một buổi làm việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã nêu khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là một thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi địch sơ hở nhất và có khả năng phát triển xuống đồng bằng. Khó khăn phải vượt qua để tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân, thiếu nước”.

… Nội dung dưới đây trích giai đoạn đầu của trận then chốt chiến dịch

Tây Nguyên, trận Buôn Ma Thuột, theo cuốn “Chiến đấu ở Tây Nguyêncủa cố giáo sư Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên năm 1975

Phần 1-

Chiều 9 tháng 3, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã hạ quyết tâm: “Tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột”. Và các đồng chí lãnh đạo của địa phương cũng nhận được thông báo về quyết tâm này

Khoảng 16 giờ ngày 9 tháng 3, bộ đội tiến công Buôn Ma Thuột bắt đầu rời khu vực tập kết để chuyển lên tiến công, khoảng cách vận động của các đơn vị không đồng đều, đơn vị xa khoảng 25km, còn đơn vị gần nhất cũng phải 10km. Khó khăn nhất là các đơn vị vượt qua sông Sêpêrốc, nhất là bộ đội pháo binh, phòng không cơ giới và bộ đội xe tăng.

Bộ Tư lệnh chiến dịch đã tổ chức chỉ huy và điều hành chặt chẽ suốt quá trình cơ động và triển khai của bộ đội. Cả mười hai Trung đoàn bộ binh và binh chủng cùng lúc vận động và triển khai trên 5 hướng tiến công trong một giai đoạn rất phức tạp của quá trình chuyển sang tiến công. Để đảm bảo bí mật, từ 2 giờ sáng ta đã cho các đội đặc công và pháo phản lực mang vác đánh trước để thu hút sự chú ý của địch vào đó, đánh lừa chúng và che giấu hành động của ta và bảo đảm cho quân của ta triển khai tiến công.

Đêm nay mồng 9 tháng 3, trên bầu trời Buôn Ma Thuột đầy sao. Ngoài vài loạt súng nổ vu vơ, thị xã vẫn dường như yên tĩnh như mọi đêm. Nhưng với chúng tôi, nó là một đêm dài đáng nhớ, vì hàng vạn anh em cán bộ, chiến sĩ chúng tôi hầu như không ngủ để chuẩn bị vào trận đánh quyết định. Trong sở chỉ huy chiến dịch, mọi người nóng lòng chờ đường dây thông tin bắc qua sông Sê-rê-pốc nối với sở chỉ huy phía trước ở bắc thị xã, để nắm lại tình hình cánh quân phía bắc. Hai mũi đặc công luồn vào thị xã và đặc biệt là Trung đoàn 198 phải vòng sang phía đông để đánh sân bay Hoà Bình vẫn chưa liên lạc được. Trận địa pháo DKB ở phía bắc thị xã đã sẵn sàng chưa. Trong khi đó dốc nam ngầm Kơ Mua vẫn còn chờ súng nổ mới mở được. Các bến phà trên sông Sê-rê-pôc đang chờ tiếng súng mới khai thông.

Không khí làm việc trong sở chỉ huy diễn ra hết sức căng thẳng và sôi động. Các máy điện thoại réo liên hồi, mỗi người mỗi máy liên tục nhận tin, rồi truyền lệnh tới các đầu mối. Các mũi tên trên bản đồ tác chiến nhích dần về hướng thị xã Buôn Ma Thuột theo sự chuyển động của các mũi tiến quân. Chiếc kim đồng hồ đã nhích qua con số 12 và tiến dần sang con số 1.

Việc giữ bí mật để tiến công Buôn Ma Thuột một cách nhịp nhàng theo đúng kế hoạch, đúng thời gian, địa điểm, đúng hướng, đúng mũi, đúng mục tiêu của một lực lượng lớn các binh đoàn binh chủng hợp thành gồm bộ binh, đặc công, công binh, thông tin, pháo binh, xe tăng, vận tải và các đơn vị hậu cần, v..v…là một việc rất phức tạp. Muốn vậy, yêu cầu về tổ chức và chỉ huy phải rất chặt chẽ, yêu cầu về tinh thần trách nhiệm và kỷ luật của từng đơn vị và cá nhân phải rất cao. Nếu không bộ đội không thể hiệp đồng ăn khớp, nhịp nhàng được, kẻ địch sẽ phát hiện sớm và xử trí, đối phó, làm cho ta giảm mất chủ động, bất ngờ. .

Quân ta tập kết cách thị xã Buôn Ma Thuột khoảng từ 15-20 km. Xe tăng ở cách xa 25-35 km, có bộ phận ở xa tới 40 km. Ở cự ly này, bắt đầu từ buổi chiều và trong đêm. Riêng các mũi tiến quân của bộ binh, xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ và hậu cần phải vượt qua sông Sê-rê-pốc ở phía tây và tây- nam gặp nhiều khó khăn, phức tạp hơn do phải vượt sông và đi xa hơn. Nhưng cuối cùng, do tổ chức hiệp đồng và bảo đảm tốt nên nhìn chung, các binh đội phân đội được vận động và triển khai đúng theo kế hoạch đã đề ra.

Ngày 10 tháng 3 đã bắt đầu.

Đúng 2 giờ (có chênh lệch từ 5-10 phút) khi đặc công và pháo binh của ta bắt đầu nổ súng vào giữa lòng thị xã, thì xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ, của ta bắt đầu vượt sông Sê-rê-pốc, cùng các đơn vị, các binh chủng trên các hướng, các mũi theo thứ tự tiến vào vị trí triển khai chiến đấu.

Đúng 2 giờ 03 phút ngày 10 tháng 3 các đội 1, 9, 18 Trung đoàn 198 Đặc công đã nổ súng tiến công sân bay thị xã. 3 giờ 30 đơn vị đã làm chủ phần lớn sân bay. Nhưng ở góc đông bắc sân bay, 1 đại đội biệt kích của địch vẫn còn bám công sự chống trả.

2 giờ 10, Trung đoàn 198 đặc công tiến công và làm chủ sân bay Hoà Bình và đánh vào căn cứ Trung đoàn 53. Quân địch trong căn cứ đã tổ chức phản kích quyết liệt, đánh bật ta ra ngoài.

2 giờ 16, đội 2 Trung đoàn 198 Đặc công đánh chiếm và làm chủ khu kho Mai Hắc Đế.

Tiến công sân bay

Phối hợp với bộ đội đặc công, 2 giờ 10 các trận địa tên lửa H12 và DKB bắt đầu bắn phá hoại căn cứ Sư đoàn bộ 23 và kéo dài từng đợt đến 6 giờ 30 sáng.

Tiếng bộc phá của đặc công và tiếng nổ của đầu đạn tên lửa làm rung chuyển Buôn Ma Thuột. Đèn trong thị xã vụt tắt. Nhiều đám cháy trong thị xã bùng lên.

Sau một lúc bàng hoàng, Vũ Thế Quang đã nhận định tình hình: “Cộng sản chỉ dùng pháo và đặc công đánh thị xã, đến sáng họ sẽ rút”. Và Quang đã ra lệnh cho các đơn vị phải chống cự đến cùng.

Lúc này ở Plâyku, Phạm Văn Phú cũng đã được đánh thức dậy với cái tin sét đánh: “Buôn Ma Thuột đã bị tiến công”.

Về phía ta, lợi dụng tiếng nổ trong thị xã, các đơn vị xe tăng, pháo cơ giới, pháo cao xạ, đã nhanh chóng tiến lên chiếm lĩnh tuyến tiến công.

Theo lệnh của Bộ, tiếng súng tiến công vào Buôn Ma Thuột là hiệu lệnh hiệp đồng về giờ “G” và ngày N của toàn miền Nam. Do vậy, đêm nay cùng với Buôn Ma Thuột, các Mặt trận khác cũng đã tiến công vào nhiều mục tiêu khác của địch khiến cho quân địch cùng bị động lúng túng.

Khi đặc công và pháo binh ta nổ súng đè đầu quân địch xuống và bắt chúng phải đối phó một cách bối rối, thì xe tăng và các binh chủng cơ giới của quân ta bật đèn sáng trong đêm, mở hết tốc lực chạy trên đường quân sự làm gấp và dũng mãnh tiến thẳng, tiến mạnh về các mục tiêu chiến đấu đã được xác định ở vị trí xuất phát tiến công.

Trời dần hửng sáng. Những làn sương mù vẫn còn bao trùm lên thị xã. Các trận địa pháo và xe cơ giới đã sẵn sàng, nhưng các đài quan sát chưa nhận rõ mục tiêu nên phải tạm hoãn giờ pháo bắn chuẩn bị lại.

Đúng 5g30. Cùng lúc với bộ binh và xe tăng chiếm lĩnh các vị trí xuất phát tiến công. Một bất ngờ không phải không đáng kể là lúc đầu trời mù, chúng ta đã không nhìn thấy các mục tiêu để xác định ngay kết quả xạ kích một cách chính xác. Nhưng rồi tầng mù cũng xua nhanh và trời sáng rõ dần.

Trận pháo bắn chuẩn bị thực sự bắt đầu từ 7g00. Tiếng nổ đầu nòng lẫn với tiếng nổ của đạn phá, rồi tất cả đập vào vách núi từ bốn hướng đã tạo nên cả một biển triều không dứt những âm hưởng đặc trưng của chiến tranh. Từ sở chỉ huy chiến dịch cách Buôn Ma Thuột 9km đường chim bay có thể nghe rõ cả tiếng nổ hỗn độn của các kho đạn địch bị cháy và tiếng phản pháo yếu ớt của chúng.

Tôi thấy gì lúc đó? Phải, chưa bao giờ trong hơn ba mươi năm cầm súng – cho đến lúc ấy – tôi đã tham gia một trận đánh mà trong đó lực lượng pháo binh của chúng ta lại hùng hậu và áp đảo như vậy, áp đảo? Đúng thế, tỷ lệ so sánh là gần 5 trên 1 trong trận mở đầu. Nhưng số lượng không nhất thiết là yếu tố quyết định. Ở Điện Biên Phủ, chúng ta chỉ có 24 khẩu pháo mà vẫn giành được ưu thế hoả lực khiến tư lệnh pháo binh Pi-rốt lúc đó phải tìm đường tự vẫn để biểu thị sự bất lực một cách “khảng khái” nhất. Vậy thì vấn đề quyết định bao giờ cũng là ở cách sử dụng.

Trận pháo bắn chuẩn bị kéo dài hơn 2 tiếng đồng hồ đã làm tê liệt quan trọng sức đề kháng của địch. Chưa bao giờ chúng ta có dồi dào đạn pháo đến như vậy, chúng ta có dồi dào đạn pháo không chỉ do sự chi viện của trên mà còn do chúng tôi đã sử dụng tiết kiệm trong những năm 1973, 1974. Hầu hết đạn pháo sử dụng trong thời kỳ đó là cỡ 105mm và 155mm lấy được trong các kho của địch hồi năm 1972 và cả những năm tiếp theo, mà các chiến sĩ pháo binh Tây Nguyên thường gọi đùa là đạn “lương khô”.

Khi các cỡ pháo chuyển sang bắn chi viện, từ các hướng, bộ binh và xe tăng ta dũng mãnh tiến lên xung phong đánh chiếm các mục tiêu đã được hiệp đồng.

Lúc này mà Vũ Thế Quang còn đang ngủ ở nhà riêng. Y thức dậy gọi hỏi khắp nơi rồi tự lái xe đến trung tâm chỉ huy. Tin đầu tiên Võ Ân báo là đơn vị của hắn đang bị đánh mạnh, bộ binh của đối phương đã tràn vào một phần căn cứ B50. Tiếp đó đài quan sát cũng báo về bộ binh, xe tăng đối phương áp sát khu Mai Hắc Đế, sân bay thị xã và nhiều nơi rìa thị xã. Được tin ấy, Quang hốt hoảng, bối rối ra lệnh cho Nguyễn Trọng Luật đưa quân địa phương ra chặn giữ các ngả đường vào thị xã, điều 1 đại đội và 4 xe M113 ra chốt ở Ngã Sáu.

Quang còn nhắc sĩ quan điều không tập trung hướng dẫn cho máy bay oanh tạc ngăn chặn đối phương và yểm trợ cho các mũi phản kích. Quang điện xin Lê Trung Tường chi viện thì Tường cho biết, bộ chỉ huy còn đang tập trung đối phó ở Kon Tum và Plâyku, ý của tư lệnh nhắc Quang ráng giữ thị xã trong vài ngày là tình hình sẽ ổn, Việt Cộng không đủ sức kéo dài cuộc chiến.

Đến 7giờ 15 phút, sương mù tan dần, các mục tiêu đã hiện lên rõ ràng. Hai cụm pháo binh của hai Trung đoàn chiến dịch là Trung đoàn pháo binh 40 và 675 trút bão lửa liên tiếp trong 60 phút xuống ba mục tiêu chính là sở chỉ huy Sư đoàn 23, tiểu khu Đắc Lắk và khu pháo binh, thiết giáp.

Trên không trung, máy bay địch xuất hiện và đánh vào các trận địa pháo của ta. Chúng đã bị hai Trung đoàn cao xạ 234 và 232 nổ súng đánh trả quyết liệt.

Trong khi đó các cụm pháo chiến dịch, các cụm pháo của Sư đoàn tiến

hành hoả lực bắn vào căn cứ sở chỉ huy Sư đoàn 23, tiểu khu, khu pháo binh, thiết giáp. Ngay loạt đạn đầu, ta đã bắn trúng sở chỉ huy tiểu khu. Đại tá Nguyễn Trọng Luật phải tháo chạy về sở chỉ huy của Vũ Thế Quang. Lợi dụng kết quả hoả lực sát thương địch, bộ binh lên chiếm lĩnh tuyến chuyển sang xung phong.

Trên hướng đông bắc thị xã

7giờ 00 ngày 10 tháng 3, lợi dụng đòn đánh của đặc công chiếm sân bay thị xã, Trung đoàn bộ binh 95B được bộ đội đặc công bảo đảm và một đồng chí trong đội công tác dẫn đường thực hành mở cửa đã đưa Tiểu đoàn 5 tiến vào đánh chiếm Ngã Sáu. Ở hướng đông bắc này do Trung đoàn 95B đảm nhiệm, tình hình có khác một chút. Cũng xin nói thêm rằng, đây là đơn vị được tăng cường cuối cùng theo yêu cầu của chúng tôi, một đơn vị có nhiều kinh nghiệm trong trận đánh thị xã Quảng Trị năm 1972, phía địch rất để ý đến Trung đoàn này, đến chiến trường mới được 20 ngày nhưng lại phải phát triển trên hướng chủ yếu của trận mở đầu then chốt. Trung đoàn không gặp nhiều khó khăn khi đột phá, đánh chiếm mục tiêu đầu khá nhanh nhưng phải trụ lại trong nhiều giờ để đánh bại các đợt phản kích địch.

Địch đã chống trả quyết liệt. Máy bay địch ném bom ngăn chặn bộ đội tiến công. Bộ binh địch được xe tăng chi viện đã phản kích đẩy lùi Tiểu đoàn 5 ra khỏi Ngã Sáu. Trung đoàn 95B đưa tiếp Tiểu đoàn 4 có tăng cường 4 xe tăng bước vào chiến đấu. Cuộc tranh chấp ở Ngã Sáu diễn ra gay go, ta bắn cháy xe tăng của địch, bộ binh địch rút chạy. Tiểu đoàn 4 đã chiếm và làm chủ Ngã Sáu.

Tiếp đó, Trung đoàn 95B tiến theo đường 14 liên tục phát triển tiến công đánh chiếm từng góc phố, căn nhà. Đến 15 giờ 30 Trung đoàn 95B ngoan cường tiến đến mục tiêu quan trọng đã được xác định là cơ quan tiểu khu quân sự Đắc Lắc. Và dinh tỉnh trưởng Đắc Lắc. Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt, một xe tăng của ta đã bị địch bắn cháy ngay trước cổng tiểu khu, nhưng ngay sau đó quân ta ào ạt xung phong và đánh chiếm được khu vực này.

Đến 17 giờ 00 theo yêu cầu của đơn vị đặc công. Trung đoàn 95B đã sử dụng 3 xe tăng quay lại tiêu diệt đại đội biệt kích còn lại ở sân bay thị xã.

(Về sau này, vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, Trung đoàn 95B là một mũi thọc sâu đánh địch ở ngã ba Dầu Giây, đánh cao điểm 396 góp phần làm tan rã quân địch ở Xuân Lộc).

Trên hướng tây bắc thị xã, Trung đoàn 148 tiến công từ hướng tây bắc đã phải đột phá qua cả một trung tâm bố phòng của căn cứ Trung đoàn thiết giáp và trận địa pháo binh địch. Bọn chúng tuy bị bất ngờ nhưng đã nhanh chóng củng cố lại trận địa phòng ngự có sẵn. Bộ đội ta gặp nhiều tổn thất nhưng vẫn anh dũng tiến lên.

7 giờ 00, Trung đoàn 148 đã chiếm xong cao điểm Chư Esua, tiêu diệt bộ phận bảo an ở đó. Theo kế hoạch thì cao điểm này được đánh chiếm vào lúc 2 giờ 00, nhưng vì bộ đội đi lạc, nên gần sáng mới đánh chiếm được.

Trung đoàn 148 có nhiệm vụ đánh chiếm khu vực pháo binh, thiết giáp. Nhưng do đưa pháo bắn thẳng vào chậm, nên đến 10 giờ mới bắt đầu đột phá trận địa địch. Quân đích đã kịp tổ chức đối phó, ngăn chặn bộ phận mở cửa. Đội mở cửa bị thương vong, cửa mở không sạch, đội hình bộ đội xung phong bị ùn lại trước của mở. Trước tình hình đó, đồng chí đội trưởng bộc phá đã anh dũng ôm bộc phá vượt qua làn đạn địch xông lên mở thông cửa mở, tạo điều kiện cho bộ binh và xe tăng xung phong đánh chiếm trận địa địch.

Đến 13 giờ 30, Trung đoàn 148 đã chiếm và làm chủ khu pháo binh, khu thiết giáp và hậu cứ Trung đoàn 45 nguỵ. Tiếp đó, Trung đoàn đã phát triển tiến công thao trường Phan Bội Châu, tiêu diệt một bộ phận địch ở chùa Bồ Đề và tiến đến Ngã Sáu bắt liên lạc với Trung đoàn 95B.

Trên hướng tây nam thị xã

Các chiến sĩ tiến giữa một liên hợp kho tàng dài gần 2km được mệnh danh là Mai Hắc Đế mà địch vốn đã triển khai các hình thức bảo vệ chặt chẽ. Bốt canh dày chi chít là những điểm tựa khống chế cả một dải hành lang phát triển của bộ đội ta.

Hồi 7 giờ, địch dùng 2 xe M113 và 2 xe GMC chở đầy lính ra để phản kích hòng chiếm lại khu kho Mai Hắc Đế. Đội 2 đặc công phối hợp với một bộ phận của Trung đoàn 179 đã đánh bại phản kích của địch, giữ vững khu kho.

Cùng lúc, Trung đoàn 174 được phối thuộc đại đội xe tăng tiến công vào thị xã. Tiểu đoàn 2 đã đánh chiếm cao điểm Chư Dluê. Tiểu đoàn 1 đánh vào khu kho xăng của Sư đoàn 23, nhưng địch đã đưa quân ra phản kích. Tiểu đoàn 1 dừng lại. Trung đoàn trưởng đưa tiếp Tiểu đoàn 3 và xe tăng bước vào chiến đấu, chiếm toàn bộ kho xăng và khu vực các đại đội trực thuộc của Sư đoàn 23 ở Nam đường 429.

Trên hướng tây thị xã

Mũi thọc sâu binh chủng hợp thành của Tiểu đoàn 4 theo đường 429 tiến vào sở chỉ huy Sư đoàn 23. Chiếc xe tăng dẫn đầu bị sụp lầy, đội hình bị ùn lại, máy bay địch oanh tạc vào đội hình. Đồng chí tiểu đoàn trưởng đã hy sinh, đồng chí tiểu đoàn phó Bùi Văn Bịn lên thay tiếp tục chỉ huy đơn vị đánh vào khu quân y và khu truyền tin.

Địch tung quân ra phản kích liên tục. Bộ phận thọc sâu đánh trả địch, giữ vững khu đã chiếm. Đồng thời báo cáo nhầm về trên là đơn vị đã chiếm xong sở chỉ huy Sư đoàn 23. Bởi vì qua làn sóng điện, sở chỉ huy chiến dịch biết rõ rằng Vũ Thế Quang, đại tá tư lệnh mặt trận Buôn Ma Thuột còn ở sở chỉ huy và vẫn còn liên lạc thông tin với Phạm Văn Phú.

Để kiểm tra lại, Bộ tham mưu chiến dịch đã phái một số cán bộ đi đến tận nơi để xác minh thì thấy rằng mũi thọc sâu còn ở vòng ngoài, chưa đến trung tâm sở chỉ huy. Sau đó đoàn đã hiệp đồng lại cho trận đánh vào sáng hôm sau.

Mặc dù một phần lực lượng xe tăng tiến trên hướng này phải nằm lại dọc đường, máu đổ nhiều, tiểu đoàn trưởng hy sinh, chính trị viên tiểu đoàn hy sinh, bộ đội thọc sâu vẫn tạo thành một mũi khoan nhanh và hiểm vào gần trung tâm địch.

Trên hướng nam thị xã

Khi đặc công bắt đầu nổ súng trong thị xã, Trung đoàn 149 vẫn cách thị xã khá xa, nên bộ đội phải chạy thật nhanh vào để kịp giờ. Con suối Ea Tam nước lớn và chảy xiết, Trung đoàn phải tổ chức vượt qua. Địa hình phía nam toàn là nương rẫy trống trải, máy bay địch phát hiện đã oanh tạc vào đội hình của Trung đoàn. Một bộ phận đã bám sát đường số 14, địch chống trả quyết liệt, Trung đoàn phải tạm dừng ở đó chưa chiếm được các mục tiêu đã qui định.

Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 174 được đội công tác dẫn đường, hồi 7giờ 30 đã tiến đến quận lỵ Hoà Bình và triển khai tiến công địch. Đến 11 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 9 đã chiếm được quận lỵ. Lợi dụng tiếng súng tiến công của bộ đội, anh em tù nhân đã phá cửa ngục chạy thoát ra ngoài 350 người.

Hoả lực pháo binh địch đã bị hạn chế do hình thái xen kẽ địch, ta trong thành phố, song để bù lại, chúng sử dụng tối đa lực lượng không quân có thể huy động được. Máy bay địch dội bom, vãi đạn cố bịt các đầu cầu, nhất là trên các hướng tây bắc, đông-bắc, đông nam nhưng cũng đã vấp phải hoả lực mãnh liệt của bộ đội phòng không theo sát bộ binh.

Trong ngày, địch đã sử dụng 73 lần chiếc máy bay đánh vào đội hình tiến công của ta và ném bom tràn vào đường phố, khu dân cư, gây thương vong cho một số dân.

Mặc dù rất hốt hoảng nhưng địch vẫn ngoan cố cho rằng, tốc độ tiến công của ta cũng như mùa xuân năm 1968. Nên nếu chúng trụ lại được 3-4 ngày thì chúng có thể đẩy lùi ta ra khỏi thị xã và phôi phục lại phòng ngự.

Còn Phạm Văn Phú đến lúc này đã hiểu rõ chỉ có những binh đoàn chủ lực mới có xe tăng, có xe tăng là đánh lớn rồi. Sau khi nhận được nguồn tin xe tăng của ta xuất hiện ở Ngã Sáu thị xã Buôn Ma Thuột, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Phạm Văn Phú: “Phải tử thủ Buôn Ma Thuột bằng mọi giá và đưa ngay Sư đoàn 23 về cứu nguy”.

Phú đã yêu cầu Vũ Thế Quang cố giữ thị xã 2-3 ngày để chúng đưa Sư đoàn 23 về cứu Buôn Ma Thuột. Vũ Thế Quang ra lệnh điều Liên đoàn biệt động quân 21 từ Đạt Lý về tăng cường phòng thủ cho sở chỉ huy. Nhưng Liên đoàn biệt động quân 21 chỉ về đến đông suối Ea’tam, lẩn quẩn ở đó, rồi sau đó lại chuồn thẳng về phía đông thị xã.

Bộ Tư lệnh chiến dịch trên cả hai sở chỉ huy cơ bản và phía trước đã theo dõi chặt chẽ các tình huống diễn biến. Nhưng chính lúc trận đánh đang diễn ra ác liệt trong thị xã thì nhãn quan chiến dịch đã buộc chúng tôi một mặt vẫn phải hết sức chú ý đến nó, mặt khác bỏ qua nó để nhìn đến toàn cục. Trinh sát cho biết chưa thấy có động tĩnh quan trọng của địch trong phạm vi toàn Quân khu 2. Tôi yêu cầu các đồng chí thông qua bộ phận tham mưu của cơ quan đại diện chiến lược để tìm hiểu thêm tình hình địch ở cả Miền Nam và sự phối hợp tác chiến của các chiến trường bạn.

Riêng trong phạm vi Tây Nguyện, vào hồi 15g00, chúng tôi đã được tin địch quyết định điều liên đoàn biệt động quân số 21 ở ngoại vi đông bắc vào phản kích hòng chiếm lại một số mục tiêu quan trọng đã mất trong thị xã. Nhưng lực lượng ô hợp này, rõ ràng sợ bị chung đòn trước cuộc tiến công như vũ bão của ta, vẫn chần chừ chưa dám tiến.

Ở Plâyku, Trung đoàn bộ binh số 45 được lệnh cấm trại để sẵn sàng đổ bộ trực thăng xuống vùng Buôn Ma Thuột. Nhưng tin tức đó không có gì đặc biệt, địch tất nhiên phải phản ứng như thế, nhưng nó cũng đã khiến chúng tôi quan tâm.

Còn ở trong thị xã Buôn Ma Thuột lúc này, trải qua một ngày đầu chiến đấu quyết liệt (10/3), quân ta đã đánh chiếm được khu doanh trại liên hợp bộ binh, pháo binh, xe tăng, bộ chỉ huy tiểu khu, một phần quan trọng của Sư đoàn bộ 23, và đã tiến sát vào sở chỉ huy hành quân của Sư đoàn 23.

Vào khoảng 16 giờ chiều, chúng tôi liên tiếp nhận được báo cáo là cán bộ thọc sâu tiến công từ hướng tây và sau đó là một mũi của Trung đoàn 174 do thiếu tá Trung đoàn phó Nguyễn Văn Minh dẫn đầu tiến công từ hướng tây nam đã phát triển đến mục tiêu cuối cùng, sở chỉ huy Sư đoàn 23 địch. Đồng chí Đoàn Sinh Hưởng đại đội trưởng xe tăng của tiểu đoàn chọc sâu cũng báo cáo nhầm như thế.

Trong khi đó, các thông tin về tình hình địch do phòng 2 quân báo cung cấp thì lại cho thấy chúng ta chưa đến được mục tiêu chủ yếu này. Lịch sử có lặp lại không đây? Tôi nhớ ngay tình huống tương tự xảy ra năm 1972, khi chúng ta đánh vào thị xã Kon Tum: Bộ đội báo cáo ta đã ở trong sở chỉ huy Sư đoàn 22 địch nhưng quân báo – lại vẫn là quân báo – thì lại khẳng định rằng đó không phải là sào huyệt của chúng, và quân báo đúng. Điều này không có gì lạ: chúng ta chưa quen đánh trong thành phố, việc nhận dạng các vị trí của địch thường có tính ước lệ và nếu có dựa vào bản đồ chiến thuật, ảnh chụp và các vật chuẩn thì những thứ ấy, do không được cập nhật, đã mất tính thời gian. Có sự nhầm lẫn là điều khó tránh khỏi, nhưng điều quan trọng là không để tình trạng mơ hồ kéo dài, tuyệt đối phải xác minh lập tức.

Chỉ huy sở phía trước, do các Đại tá Nguyễn Năng và Phí Triệu Hàm chỉ huy, đã cử ngay Thượng tá Phó tham mưu trưởng Lê Minh và một tổ các sĩ quan tham mưu gồm nhiều thành phần dùng xe “gíp” tiến theo hướng của bộ đội thọc sâu .

. .

Đúng như dự đoán, các chiến sĩ của chúng ta nhầm lẫn. Do hình thái cấu trúc tương tự bên ngoài, bộ đội đã tưởng vị trí của khu thông tin và tiểu đoàn quân y địch mà họ vừa tiến đến là sở chỉ huy Sư đoàn 23. Nhưng như vậy là cũng đã tiến sát mục tiêu cuối cùng.

Và trên tất cả các hướng, chúng ta đã làm chủ đại bộ phận thị xã. Các dấu hiệu chứng tỏ kẻ địch tuyệt vọng, mặc dù chúng không ngừng phản kích.

Chúng tôi lệnh cho Thượng tá Lê Minh bắt liên lạc trực tiếp với năm mũi tiến quân, cho bộ đội dừng lại ban đêm để củng cố, thống nhất các động tác hiệp đồng, chuẩn bị cho đòn tổng công kích ngày hôm sau.

Ngày tiếp theo của trận đánh

Ngày 11 tháng 3

Từ 6 giờ đến 8 giờ, pháo binh ta bắn dồn dập vào sở chỉ huy Sư đoàn 23. Tiếp đó, bộ binh và xe tăng ta hình thành bốn mũi tiến công vào sở chỉ huy sư đoàn 23.

Hướng đông bắc, từ tiểu khu bảo an, 1 đại đội của Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95B và 2 xe tăng theo đường 429 tiến thẳng vào cổng chính, bắn cháy đánh đuổi thiết giáp địch và tiến thẳng vào trung tâm sở chỉ huy.

Các chiến sĩ xe tăng Đoàn Sinh Hưởng, Bùi Mạnh Hồng, Phạm Hồng Vách và đồng chí Bưởi anh dũng cho xe tăng lao thẳng vào thiết giáp địch, mở đường cho bộ binh.

Hướng tây, từ khu thông tin 1 đại đội của mũi thọc sâu và 2 xe tăng vượt qua khu “quân cụ biệt lập” phá rào tiến thẳng vào sở chỉ huy sư đoàn 23.

Hướng nam, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 149 từ khu hành chính, vượt qua nhà thờ, qua khu đại đội tổng hành dinh cũng chọc thẳng vào sở chỉ huy địch.

Cùng lúc đó, từ hướng bắc Trung đoàn 148 cũng phái một đại đội và 2 xe tăng tiến vào sở chỉ huy Sư đoàn 23, nhưng khi đơn vị đến nơi thì bộ đội bạn đã chiếm xong

.

Trước sức áp đảo của bộ đội tiến công, máy bay địch hốt hoảng ném bom tràn xuống khu vực sở chỉ huy. Bom rơi xuống gần khu hầm của Vũ Thế Quang. Trong khói đạn hỗn loạn, Vũ Thế Quang và Nguyễn Trọng Luật cùng bọn sĩ quan tham mưu bỏ sở chỉ huy, tháo chạy. Lúc đó là 8 giờ 15 phút. Quang và Luật chạy trốn ra rừng cà phê ngoài thị xã. Nhưng Luật đã bị các chiến sĩ Tiểu đội 3, đại đội 3, tiểu đoàn 4, Trung đoàn 24 bắt sống, còn tên Quang chạy xuống đến phía nam thị xã cũng bị các chiến sĩ Trung đoàn 174 tóm cổ tại buôn A Lê.

Sau trận pháo như thác giội, bộ binh ào lên từ các hướng. Bộ đội ta tràn vào sở chỉ huy, tiêu diệt bọn tàn quân. Đến 9g05, chiếc xe tăng đầu tiên phá vỡ hầm chỉ huy địch.. Hầu như cùng một lúc các mũi tiến quân đã hội quân ở mục tiêu cuối cùng.

Đến 1 giờ trưa ngày 11 tháng 3, lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã được kéo lên trên cột cờ của sư bộ Sư đoàn 23. Và trận công kích cuối cùng vào căn cứ Sư đoàn 23 sáng ngày 11 tháng 3 đã diễn ra đúng như dự kiến, tuyệt đẹp nữa là khác, sở chỉ huy của chúng tôi lúc ấy đã giống như một ngày hội.

Ngày 11 tháng 3, Quân uỷ Trung ương điện chỉ thị: “ở Buôn Ma Thuột cần nhanh chóng tiêu diệt địch còn lại, vừa phát triển ra xung quanh, vừa sẵn sàng đánh viện của địch, nhanh chóng phát triển về hướng Cheo Reo, hình thành thế bao vây Plâyku để tiến tới tiêu diệt Plâyku, cô lập Kon Tum, mở rộng phạm vi kiểm soát (đường – Sao Vang) số 19, thực hiện chia cắt chiến lược tiến tới tiêu diệt An Khê”.

Theo tinh thần Chỉ thị đó, Bộ Tư lệnh đã nhận định tình hình “Ta đã chiếm hết các mục tiêu quan trọng nhất, làm chủ được thị xã Buôn Ma Thuột, khống chế được sân bay Hoà Bình, nhưng một số căn cứ quan trọng ven thị xã địch vẫn còn chiếm giữ, chúng có thể đổ quân xuống các căn cứ đó để phản kích đánh chiếm lại thị xã.

Từ tình hình trên, Bộ Tư lệnh chiến dịch có quyết tâm: “Nhanh chóng phát triển thắng lợi tiêu diệt địch ở ngoại vi, phụ cận, trọng điểm là căn cứ các Trung đoàn 45 và 53 quét sạch tàn binh địch, củng cố vững chắc khu đã chiếm, sẵn sàng đánh lại phản kích địch”

.

Bộ Tư lệnh đã ra lệnh cho Sư đoàn 10 (thiếu) nhanh chóng cơ động về đông bắc thị xã, sẵn sàng làm dự bị và chuẩn bị đánh địch phản kích lớn.

Thực hiện quyết tâm trên, ngày 12 và 13 tháng 3 ta tiếp tục tiến công và truy quét tàn quân trong thị xã và các vị trí ở ven thị.

Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 95B đánh chiếm khu nhà lao, bắt hơn 100 địch,

giải phóng số tù nhân còn lại.

Từ 6 giờ 25 đến 8 giờ 25 phút ngày 12 tháng 3, Trung đoàn 24 và 1

đại đội xe tăng đánh chiếm hậu cứ Trung đoàn 45 và khu trung tâm

huấn luyện Sư đoàn 23, diệt và bắt 350 tên địch, thu 400 súng.

Chiều 12 tháng 3, Trung đoàn 174 tiến công cụm quân địch ở cầu Sê-rê-pốc bắt 300 tên địch.

Ở phía bắc, Trung đoàn 9 Sư đoàn 320 đã đánh chiếm quận lỵ Buôn Hồ, điểm cao Chư Bao, ấp Đạt Lý. Cùng với tiến công quân sự, các đội công tác và cơ sở tại chỗ tiến hành phát động quần chúng nổi dậy giải tán bộ máy kìm kẹp của địch.
Nhiều buôn làng đồng bào kéo nhau về lại làng cũ. Các cuộc mít tinh quần chúng mừng chiến thắng và ra mắt chính quyền cách mạng ở cơ sở, bước đầu ổn định đời sống cho dân, giữ gìn trật tự an ninh, kêu gọi bọn địch tan rã ra đầu thú.

Ngày 12 tháng 3 Quân uỷ điện cho anh Văn Tiến Dũng, đồng gửi cho tôi và Thường vụ Đảng uỷ Chiến dịch Tây Nguyên có đoạn: ” Địch đang có ý định dựa vào các lực lượng chưa bị tiêu diệt của chúng và các điểm phụ cận, tăng thêm lực lượng phối hợp với không quân tiến hành phản kích hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột…Vì vậy, việc cấp thiết nhất là nhanh chóng tập trung lực lượng hơn nữa, nhanh chóng tiêu diệt các đơn vị và các căn cứ của địch ở chung quanh Buôn Ma Thuột, tiêu diệt viện binh của chúng. Tiêu diệt được bộ phận quan trọng sinh lực của đích chung quanh Buôn Ma Thuột sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của chiến dịch, Đồng thời chỉ đạo mọi công tác hoạt động trên các hướng phát triển đã dự định: Cheo Reo, Plâyku và đường 19, chú ý khai thác tù binh phục vụ cho tác chiến và binh vận. Chúc thắng to. Ký tên: Chiến”.

Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương cũng gửi điện nhiệt liệt khen ngợi quân và dân Tây Nguyên đã giành được thắng lợi to lớn ngay trong những ngày đầu của chiến dịch. Bộ Chính trị chỉ thị: “Cần nhanh chóng nắm lấy thời cơ thuận lợi giành thắng lợi to lớn hơn nữa”.

TDB-thực hiện
qdnd.vn

(Còn tiếp)

—————————-

TỔNG HÀNH DINH TRONG MÙA XUÂN TOÀN THẮNG : Chương 10

ĐÔI DÒNG SUY NGẪM

Tôi muốn aành những trang cuối cửa tập hồi ức này để suy ngẫm về cuộc trường chinh 30 năm giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng. Càng nhìn sâu về quá khứ càng thấy rõ tương lai.

Ngày toàn thắng 30-4-1975 đã đi vào lịch sử.

Trong quá trình cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng, ba “cái mốc chói lọi bằng vàng”: Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Điện Biên Phủ và mùa Xuân 1975 đại thắng mãi mãi sáng ngời trong sử sách. Nhân dân Việt Nam đã làm nên câu chuyện thần kỳ tưởng chừng như không thể làm – được giữa thế kỷ XX. Lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế kém phát triển, đánh thắng những cường quốc đế quốc chủ nghĩa chủ yếu bằng sức của chính mình, nêu một tấm gương anh dũng, bất khuất, trí tuệ, tài năng trước toàn thế giới.

Thiên anh hùng ca thắng Pháp, thắng Mỹ vang vọng mãi trên non sông đất nước ta, trên khắp các châu lục.

Vinh quang đời đời thuộc về nhân dân Việt Nam anh hùng, thuộc về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, bộ tham mưu cách mạng dũng cảm, sáng suốt, dạn dày kinh nghiệm đã lãnh đạo chiến tranh đến ngày toàn thắng.

Tổ quốc Việt Nam ghi công các Anh hùng liệt sĩ, những người con yêu quý xả thân vì dân, vì nước, “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Lịch sử ghi nhận công đầu thuộc về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà chiến lược thiên tài, nhà văn hoá kiệt xuất, người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

Thắng lợi của nhân dân ta cũng là thắng lợi của nhân dân các nước anh em, của loài người tiến bộ trên toàn thế giới đã nhiệt tình ủng hộ, hết lòng giúp đỡ cuộc chiến đấu chính nghĩa của Việt Nam chống chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc.

Từ chiến thắng vĩ đại mùa Xuân 1975 đến nay, ba mươi năm đã trôi qua. Nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI và thiên niên kỷ mới. Ở vào thời điểm quan trọng này, cần nhìn lại quá khứ hào hùng của dân tộc với nền văn hiến Việt Nam và những võ công oanh liệt, ôn lại chặng đường chiến đấu 30 năm dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và của Bác Hồ để rút ra những bài học dựng nước và giữ nước cho ngày nay và mai sau.

Một câu hỏi lâu nay không ít người đã đặt ra: Vì đâu nhân dân Việt Nam, từ không một tấc sắt trong tay, vùng lên bẻ gẫy gông xiềng nô lệ, lại đánh thắng “hai đế quốc to trong một cuộc chiến tranh không cân sức, giành lại non sông đât nước, tiến lên giải phóng xã hội, giải phóng con người?

Sẽ không tìm được câu trả lời cho câu hỏi này nếu không nhìn sâu vào chiều dày lịch sử xa xưa, vào nền văn hoá dân tộc, vào truyền thống và di sản quân sự của tổ tiên, vào đường lối cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Thật vậy, một sự kiện hiếm thấy trong lịch sử thế giới là các bộ tộc người Việt cổ sinh sống trên mảnh đất này đã sớm có một triết lý sống, hình thành và phát triển một nền văn hoá dân tộc mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất để làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, cố kết với nhau, tương thân tương ái, vừa dũng cảm vừa thông minh. Chính nhờ sức mạnh khôn lường của nền văn hoá ấy mà dưới ách đô hộ hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc, dân tộc ta không hề bị đồng hoá và cuối cùng đã vùng lên giành lại nền độc lập. Cho đến khi vị tổ Trung hưng đầu tiên là Anh hùng dân tộc Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, thì kỷ nguyên một nghìn năm độc lập tự chủ đã được mở ra, chỉ gián đoạn bằng 20 năm đô hộ của quân Minh. Suốt trong một nghìn năn ấy, dân tộc ta dưới triều đại của các vị vua yêu nước đã đánh thắng mọi kẻ địch xâm lược lớn mạnh hơn nhiều lần, từ Tống, Nguyên đến Minh, Thanh. Đặc biệt trong thế kỷ XIII, dân tộc ta đã ba lẩn đánh thắng quân Nguyên Mông là đội quân xâm lược khét tiếng đã từng chinh phục nhiều dân tộc từ Âu sang Á, đã chiếm lĩnh cả lục địa Trung Hoa. “Nam quốc sơn hà nam đế cư”. Hễ kẻ thù đụng đến nước ta thì “vua tôi đồng lòng, anh em hoà mục, ca nước chung sức, trăm họ là binh”, giữ vững quê hương bảo vệ xã tắc. Từ Hịch tướng sĩ đến Bình Ngô đại cáo, một học thuyết quân sự Việt Nam đã hình thành và phát triển: “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, “lấy ít địch nhiều”, “lấy nhỏ thắng lớn “. Học thuyết ấy đã biết vận dụng phép biện chứng đổi yếu thành mạnh, kết hợp lực thế, thời, mưu, cuối cùng đạt tới nguyện vọng sâu xa là giành lại và giữ vững chủ quyền dân tộc với những tư tưởng vượt thời đại: “dập tắt muôn đời chiến tranh”, “đem lại thái bình muôn thuở”.

Đến đây, một câu hỏi mới lại được đặt ra: Vậy thì vì sao một dân tộc anh hùng như dân tộc Việt Nam lại phải sống kiếp ngựa trâu hơn 100 năm dưới ách thống trị của thực dân đế quốc phương Tây?

Rõ ràng là có không ít nguyên nhân đưa đến một thời kỳ đen tối trong lịch sử đất nước, trong đó phải kể đến các chính sách sai lầm đi ngược lại lợi ích dân tộc của triều đình nhà Nguyễn. Nhưng suy cho cùng, nguyên nhân chủ yếu là sự khủng hoảng về đường lối vào thời điểm mà tương quan lực lượng giữa ta và địch đã có những thay đổi cơ bản: nước ta đang ở phương thức sản xuất phong kiến, kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quân đội trang bị thô sơ, còn kẻ địch là một nước đã đi vào phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với nền công nghiệp hiện đại và quân đội được trang bị hiện đại.

Trước thực tiễn mới của cuộc đấu tranh, những người yêu nước Việt Nam hồi bấy giờ chưa tìm được kế sách cứu nước. Các phong trào yêu nước từ Nguyễn Trung Trực đến Hoàng Hoa Thám, từ Cần Vương đến Đông Kinh Nghĩa Thục, từ Đông Du đến Duy Tân đều bế tắc, không tìm ra lối thoát. Chính vì thế mà tinh thần anh dũng có thừa, nhưng các phong trào khởi nghĩa và nổi dậy từ Nam chí Bắc đều bị đàn áp dã man. Các lãnh tụ yêu nước chỉ “thành nhân” mà sự nghiệp cứu nước chưa “thành công” được.

Cho đến năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. Mang trong mình hành trang tư tưởng truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh bất khuất của dân tộc Việt Nam cùng với tinh hoa văn hoá phương Đông, Người đi khắp bốn biển năm châu với chí lớn giải phóng những “người cùng khổ”. Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc – nhà yêu nước vĩ đại – đã đến với chủ nghĩa Lênin và Quốc tế thứ ba, tìm ra con đường cứu nước: con đường cách mạng vô sản, và trở thành người Cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Từ đó dân tộc đã gắn liền với giai cấp, quốc gia gắn liền với quốc tế, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ chủ nghĩa Mác-Lêmn, Nguyễn Ái Quốc tiếp thu thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng, tiếp thu và phát triển phương pháp luận Mác – Lênin, phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng.

Với mục tiêu cách mạng mới, cuộc đấu tranh yêu nước không những mang lại độc lập, thống nhất cho Tổ quốc mà còn mang lại tự do và hạnh phúc cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho toàn dân. Cuộc chiến tranh giải phóng đã trở thành cuộc chiến tranh toàn dân, một cuộc chiến tranh chính nghĩa “vì dân” và “do dân” có sức mạnh vô cùng to lớn quật ngã mọi kẻ thù. Với “Chánh cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt” và “Lời kêu gọi nhân ngày thành lập Đảng”, đường lối cứu nước phải là “Đường Kách mệnh”, Đảng tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Trải qua những năm tháng đấu tranh, đường lối cách mạng đã được hoàn chỉnh vào năm 1941, khi Đảng đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên trên hết, đoàn kết mọi lực lượng yêu nước trong mặt trận Việt Minh, phát động vũ trang khởi nghĩa, đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi.

Trên cơ sở đường lối cách mạng của Đảng, học thuyết quân sự Việt Nam đã phát triển vượt bậc, giải quyết thành công trong điều kiện của thời đại mới vấn đề cốt lõi hầu như một nghịch lý: “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy ít địch nhiều.

Học thuyết quân sự Việt Nam luôn nắm vững mục tiêu cách mạng, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ thực tiễn, phân tích tình hình thực tiễn, tìm ra quy luật và hành động theo quy luật, đánh thắng mọi kẻ địch hung bạo. Học thuyết ấy luôn theo dõi diễn biến mau lẹ và so sánh lực lượng giữa địch và ta trên chiến trường, tìm ra và tạo thời cơ có lợi nhất cho ta, tạo thế mạnh của ta, khoét sâu thế yếu của địch, tập trung lực lưọng tiêu diệt địch. Khi tình hình thay đổi thì kịp thời thay đổi quyết sách về chiến lược, chiến thuật, tích cực chủ động, cơ động, linh hoạt, bí mật, bất ngờ, giành được thắng lợi lớn nhất, thường là trong những điều kiện khó khăn nhất.

Phát huy đến mức cao nhất tinh thần “quyết chiến quyết thắng”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, khơi dậy nghị lực sáng tạo và tài thao lược của mỗi người và của toàn dân tộc, phát triển đến đỉnh cao trí tuệ Việt Nam, quân và dân ta đã làm nên những chiến công hiến hách tưởng chừng như huyền thoại.

Kiên định mục tiêu cách mạng, vận dụng thế giới quan, quan điểm thưc tiễn, phuơng pháp luận Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là bài học mang tính cách mạng và khoa học, có ý nghĩa to lớn của học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Làm đúng theo bài học đó thì thành công. Không làm theo bài học đó thì sai lầm, thất bại.

Còn nhớ những ngày đầu tháng 8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ thời cơ lớn đã đến. Người quyết định nhất thiết phải họp Quốc dân Đại hội vào trung tuần tháng 8, dù các đại biểu chưa về đủ. Ngày 13-8-1945, Trung ương Đảng ra lệnh Tổng khởi nghĩa, đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công ở Thủ đô Hà Nội và trong cả nước chỉ trong vòng một tuần lễ. Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời.

Trải qua chín năm kháng chiến lâu dài, gian khổ chống đế quốc Pháp xâm lược, tại mặt trận Điện Biên Phủ, khi thực tiễn chiến trường thay đổi, chúng ta đã hạ quyết tâm chuyển từ phương châm “đánh nhanh thắng nhanh” sang phương châm “đánh chắc tiến chắc”.

Từ kế hoạch tiêu diệt địch trong ba đêm hai ngày sang kế hoạch chiến đấu liên tục trong 56 ngày đêm. Quyết tâm thay đổi phương châm ấy đã được Bác Hồ và Bộ Chính trị phê chuẩn. Cuối cùng, quân và dân ta đã tiêu diệt tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của đế quốc Pháp được Mỹ giúp sức, một pháo đài mà Pháp và Mỹ đều cho là “bất khả xâm phạm”.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài 21 năm trời, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là một điển hình thành công của học thuyết quân sự Việt Nam. Theo dõi sự phát triển cực kỳ mau lẹ của tình hình địch, ta trên chiến trường, Bộ thống soái tối cao đã có những quyết định kịp thời khi thời cơ mới xuất hiện, chuyển kế hoạch cơ bản giải phóng miền Nam từ hai đến ba năm lúc đầu sang kế hoạch thời cơ, rút xuống một năm rồi quyết định kết thúc trước mùa mưa, chỉ trong vòng chưa đầy hai tháng, giành được thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn.

Độc lập và tự chủ, thông minh và sáng tạo, đó là nét nổi bật của học thuyết quân sự Việt Nam.

Trong lịch sử ông cha ta đánh giặc, nhất là từ thời Lý, Trần về sau, các bậc tiền nhân đọc nhiều sách của các nhà chiến lược quân sự Trung Hoa cổ, nhưng không phải lúc nào cũng chủ trương “đánh mau giải quyết mau” hoặc phải có lực lượng gấp địch mười lần mới tiến công. Trong những năm kháng chiến vừa qua, các tướng lĩnh Việt Nam tiếp thu tinh hoa quân sự thế giới, nhưng đánh thì theo cách đánh Việt Nam. Chính vì thế mà chúng ta đã thắng.

Năm 1971, tôi sang Liên Xô khẳng định quyết tâm đánh Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn và đề nghị bạn có sự giúp đỡ đặc biệt. Tại cuộc họp với các đồng chí trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô, đồng chí Côxưghin hỏi: “Tôi xin hỏi đồng chí Giáp. Đồng chí nói Việt Nam đánh thắng Mỹ. Tôi muốn biết các đồng chí có bao nhiêu sư đoàn bộ binh cơ giới và Mỹ có bao nhiêu? Xe tăng, pháo hạng nặng, máy bay chiến đấu, các đồng chí có bao nhiêu và Mỹ có bao nhiêu? Khả năng về phòng không, về tên lửa, về thông tin, rađa của các đồng chí như thế nào? Xin đồng chí nói qua cho tôi biết”. Tôi trả lời: “Tôi hiểu câu hỏi của đồng chí. Đồng chí muốn biết về vấn đề so sánh lực lượng giữa chúng tôi với Mỹ. Theo học thuyết quân sự Xôviết là như vậy. Học thuyết quân sự Xôviết là hết sức ưu việt, đã chiến thắng phát xít Đức. Điều đó rất rõ ràng. Nhưng, tôi xin nói nếu chúng tôi đánh theo cách đánh của các đồng chí thì chúng tôi không đứng nổi được hai tiếng đồng hồ. Chúng tôi đánh theo cách đánh khác, cách đánh của Việt Nam, và chúng tôi sẽ thắng”. Sau ngày, toàn thắng, có dịp trở lại Liên Xô, gặp lại đồng chí Côxưghin, tôi cảm ơn Liên Xô đã nhiệt tình giúp đỡ Việt Nam đánh Mỹ. Đồng chí vui vẻ nói: “Việt Nam thắng to quá, như thế tốt quá! Xin chúc mừng các đồng chí”.

Một vấn đề có tính quy luật của chiến tranh nhân dân Việt Nam là: Toàn dân đánh giặc. Cả nước đánh Pháp, đánh Mỹ, không phân biệt tiền tuyến, hậu phương. Ý chí thống nhất Tổ quốc là thế và lực mạnh trong chiến tranh. Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Chiến trường Việt Nam là một. Cả dân tộc kết thành một khối trong tình đồng bào cùng chung giống nòi Hồng Lạc, không thể cắt chia. Thù nhà nợ nước là chung của cả dân tộc. Cả nước vùng lên đập tan xích xiềng, làm nên Cách mạng Tháng Tám. Giặc Pháp quay lại xâm lược Nam Bộ, miền Bắc, miền Trung xung phong Nam tiến. Bắc Bộ là chiến trường chính, Trung Bộ và Nam Bộ phối hợp hết mình. Miền Nam là tiền tuyến lớn, nơi “trực tiếp quyết định” thắng lợi, miền Bắc là hậu phương lớn, có vai trò “quyết định nhất”. Dưới mưa bom Mỹ, miền Bắc kiên cường đánh trả, chi viện sức người, sức của, tất cả vì miền Nam ruột thịt. Cả nước vì miền Nam, miền Nam vì cả nước. Miền Nam gọi, miền Bắc trả lời. Kẻ thù đụng đến miền Bắc một, miền Nam đánh cho chúng gấp năm, gấp mười lần. Con số hơn một triệu cán bộ, chiến sĩ quê miền Bắc “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, trong đó hàng chục vạn người đã vĩnh viễn nằm lại trên chiến trường là một biều trưng chói lọi.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, cũng đã có lúc, do không nắm vững đường lối quân sự của Đảng và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, không đi sát thực tiễn và không làm theo quy luật, chủ quan, duy ý chí, nên đã hạn chế không ít thắng lợi và chịu nhiều tổn thất.

Đã có một thời gian, mối quan hệ giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy là đề tài tranh luận kéo dài trong các cán bộ quân sự ở chiến trường. Một số đồng chí nhận thức không đúng, chỉ chú trọng đấy mạnh đấu tranh chính trị, chiến tranh du kích, chỉ chăm lo xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang địa phương và dân quân du kích, coi nhẹ xây dựng bộ đội chủ lực. Một số nhà chiến lược nước ngoài nghiên cứu về Việt Nam cũng thường cho rằng chiến tranh nhân dân đồng nghĩa với chiến tranh du kích. Đó là những nhận thức hoàn toàn sai trái. Đảng ta không bao giờ có một chiến lược quân sự thuần tuý, và cũng chưa bao giờ hạn chế chiến tranh ở mức độ chiến tranh du kích. Chiến lược chiến tranh cách mạng của Đảng là một chiến lược tổng hợp, kết hợp đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn. Trong khi đẩy mạnh đấu tranh chính trị, phát triển chiến tranh du kích, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng bộ đội chủ lực thành những binh đoàn mạnh từ tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn đến quân đoàn, trở thành những “quả đấm thép” đủ sức giáng cho địch những đòn tiêu diệt lớn, quyết định chiến trường.

Lại như do không nắm vững quy luật của khởi nghĩa và chiến tranh nên đã có chủ trương kết hợp với tổng công kích, tiến hành tổng khởi nghĩa trong chiến tranh ngay khi trên chiến trường còn hơn nửa triệu quân Mỹ và hơn một triệu quân nguỵ và quân các nước phụ thuộc. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) để lại một bài học sâu sắc về khuyết điểm này.

Trận tổng tiến công bất ngờ và đồng loạt đánh vào các đô thị và hầu hết các căn cứ hậu cần lớn của địch giành thắng lợi vang dội, đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh. Lẽ ra phải chuyển hướng hoạt động về nông thôn, nhưng chúng ta lại chủ trương tiếp tục tiến công vào các đô thị nhằm dấy lên tổng khởi nghĩa, cuối cùng tổng khởi nghĩa vẫn không diễn ra, cách mạng phải chịu nhiều tổn thất.

Một ví dụ khác do làm sai quy luật nên phải trả giá bằng xương máu. Cách mạng là tiến công. Tư tưởng chiến lược của chiến tranh cách mạng bao giờ cũng là tư tưởng tiến công. Còn hình thức tác chiến thì có tác chiến tiến công, tác chiến phòng ngự kể cả về chiến lược chiến địch và chiến đấu. Tuy nhiên, do nhận thức không đúng nên trong một thời gian dài, một số cán bộ cho rằng trong chiến tranh chỉ có đường lối tiến công, phủ nhận phòng ngự, thậm chí coi phòng ngự là điều cấm kỵ. Vì vậy mà trong một số trận đánh, bộ đội bị thương vong.

Trong những năm gần đây, Mỹ và một số cường quốc phát triển vũ khí và trang bị hiện đại. Cuộc chạy đua vũ trang vẫn đang tiếp tục. Đi đôi với sự xuất hiện của một chiến lược mới, đặt “nhân quyền” lên trên “chủ quyền”, một số thế lực hiếu chiến tự cho phép xâm lược một quốc gia độc lập và có chủ quyền, bất chấp luật pháp quốc tế.

Sau chiến tranh vùng Vịnh (1991), vừa qua lại diễn ra cuộc chiến tranh xâm lược Kosovo. Một điều mới đặt ra: Trong điều kiện chiến tranh xâm lược với vũ khí công nghệ cao, thì học thuyết quân sự Việt Nam còn có giá trị hay không?

Chúng ta không bao giờ chủ quan khinh địch, luôn coi trọng đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và kỹ thuật, quân sự, phát triển học thuyết quân sự lên những bước mới. Và chúng ta có thể khẳng định ngay rằng: Học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh hoàn toàn có khả năng giữ vững nền độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược bất kể từ đâu tới.

***

Nền văn hoá Việt Nam, đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng, học thuyết quân sự Việt Nam độc đáo, sáng tạo không ngừng phát triển là, sức mạnh của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Hiểu được điều cơ bản ấy, sẽ giải đáp được các câu hỏi đã đặt ra.

Sau ngày quân và dân ta đập tan cuộc tập kích bằng không quân chiến lược B52 của Mỹ, nhà sử học Pháp Pie Risa Phêray đã nói. rất đúng: “Những tên lửa SAM được sử dụng bởi tư tưởng lấy nhỏ thắng lớn, bởi nền văn hoá Việt Nam, bởi “tư chất Việt Nam” (la Vietnamité) theo chúng tôi chính là chìa khoá mở cửa thắng lợi của Việt Nam”(1).

Không hiểu được điều đó, kẻ thù chuốc lấy thất bại cũng là lẽ tất nhiên.

Kennedy con (J.F.K Junior) khi còn sống đã sang thăm Vìệt Nam với thiện chí tìm hiểu sâu về sai lầm của cha mình đối với đất nước hoà bình và hữu nghị này. Sau khi thăm Pắc Bó về, anh ta băn khoăn không hiểu vì sao trong những ngày gian khổ ấy, sống nơi hang đá hoang sơ mà những người Việt Nam lại có thể tin sẽ có thắng lợi hôm nay? Hơn nữa lại thắng ngay khi Pháp và Mỹ có những cố gắng chiến tranh cao nhất. Khi nghe tôi nói qua về nền văn hoá và lịch sử Việt Nam, anh ta vui mừng thật sự như được vỡ lẽ ra, điều mà Kennedy cha và con trước đây không hề hay biết.

Tháng 11-1995, theo đề nghị của phía Mỹ, tôi đã tiếp ông Rôbớt Mắc Namara, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời hai tổng thống Kennedy và Giônxơn, một trong những kiến trúc sư của chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Trong câu chuyện, tôi nhận xét:

– Trong cuốn hồi tưởng của ngài (2) có một điều mà tôi cho là đúng. Đó là Mỹ đánh Việt Nam mà không hiểu gì về lịch sử, địa lý, văn hoá, phong tục, tập quán, về con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam nói chung và những người lãnh đạo Việt Nam nói riêng. Chúng tôi có một nền văn hoá vững bền, có một học thuyết quân sự độc đáo đã được thử thách trong lịch sử. Vì vậy mà chúng tôi đã thắng.

Ông Mắc Namara đáp:

– Vâng, đúng như vậy.

Cuối cùng thì ông cũng đã nhận ra được một chân lý, rất tiếc là đã quá muộn màng.

***

Trận quyết chiến chiến lược mùa Xuân 1975 đánh dấu bước phát triển mới hết sức rực rỡ của nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong điều kiện hiện đại, đặc biệt là nghệ thuật điều hành chiến tranh ở giai đoạn kết thúc, nghệ thuật tổ chức và chỉ đạo thực hành những trận then chất quyết định, đưa kháng chiến đến toàn thắng.

Trong những nhân tố chủ quan đưa đến thắng lợi, phải kể đến các cơ quan quân sự chiến lược của Tống hành dinh. Suốt 56 ngày đêm, từ thủ trưởng đến cán bộ, nhân viên, mọi người làm việc không tiếc sức mình, phục vụ Bộ thống soái tối cao lãnh đạo, chỉ đạo các chiến trường và hậu phương chiến đấu và chiến thắng.

Thắng lợi của chiến tranh là kết quả của sự hy sinh, nỗ lực to lớn của toàn dân tộc trong cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt lâu dài giữa ta và địch, của sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, chỉ huy ở tầm vĩ mô kết hợp với hoạt động chiến đấu và đấu tranh cụ thể của từng chiến trường, từng đơn vị, không phải chỉ riêng một chiến trường nào, một bộ phận nào, trong đó Bộ Chính trị.

Quân uỷ Trung ương và các cơ quan tham mưu chiến lược giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Mùa Xuân 1975, Bộ thống soái tối cao đã tỏ rõ tài năng mưu lược, hiểu địch, hiểu mình, điều hành toàn diện cuộc chiến tranh trên phạm vi cả nước, khẩn trương, linh hoạt, thận trọng, chắc thắng, giành toàn thắng trong tình hình quốc tế vô cùng phức tạp giữa những năm 70. Các chiến dịch đều diễn ra theo một kế hoạch thống nhất cửa Bộ Tổng tư lệnh, có sự phối hợp với nhau cả về kế hoạch và tình huống chiến dịch, tạo tiền đề cho nhau và cùng tạo ra điều kiện hình thành đòn quyết định chiến lược cuối cùng.

Suy nghĩ về vai trò của cơ quan chiến lược quân sự, tôi xúc động nhớ tới các Anh, những người bạn chiến đấu thân thiết từng làm việc trong Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, trong Bộ Quốc phòng – Tổng tư lệnh suốt những năm dài kháng chiến, đến nay người mất, người còn. Các Anh đã cùng lo cái lo chung của dân, của Đảng, từng vui cái vui hoàn thành nhiệm vụ mà nhân dân và Đảng đã tin cậy giao cho. Mỗi gương mặt là một tình cảm thân thương, một chuỗi dài kỷ niệm đẹp trong cuộc đời chiến đấu vì dân vì nước, mãi mãi in đậm giữa lòng tôi.

***

Từ khi nước nhà giành được độc lập và thống nhất hoàn toàn, toàn dân ta Nam Bắc sum họp một nhà, luôn nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Trong công cuộc xây dựng kinh tế và phát triển văn hoá nay đã trở thành nhiệm vụ trung tâm, sau một thời gian mắc sai lầm chủ quan, rập khuôn và duy ý chí, Đảng ta đã sớm trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ thực tiễn, tìm ra quy luật, đề ra đường lối đổi mới đúng đắn và sáng tạo. Đường lối ấy đã cổ vũ mạnh mẽ giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc giành được những thắng lợi cực kỳ to lớn trên các mặt trận kinh tế, văn hoá và đối ngoại. Đảng ta đã đi đến một kết luận lịch sử: Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành đông. Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng và tiếp tục đi lên trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá với nền kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, dù thắng lợi của đường lối đổi mới to lớn như thế nào, chúng ta cũng dũng cảm nhìn vào sự thật, không chút phạm sai lầm “kiêu ngạo cộng sản”. phải nói rằng hiện nay nước ta đang còn là một trong những nước nghèo trên thế giới, cơ cấu kinh tế phần lớn còn là nông nghiệp, năng suất lao động thấp kém hàng trăm lần, trình độ công nghệ lạc hậu hàng thế kỷ so với các nước phát triển. Như vậy, để thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, mâu thuẫn chủ yếu nhất trong hình thái kinh tế – xã hội nước ta chính là mâu thuẫn giữa yêu cầu rất cao của trình độ phát triển lực lượng sản xuất, giữa yêu cầu cải thiện không ngừng đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân với tình trạng nghèo nàn và lạc hậu hiện đang được khắc phục từng bước, đó là chưa nói đến những sự suy thoái về đạo đức và sự nảy sinh những tệ nạn xã hội mà cơ chế thị trường mang lại.

Trong lúc đó thì cục diện thế giới đáng có những biến đổi to lớn. Một số nước phát triển đang đi vào một thời đại kinh tế – xã hội mới – thời đại kinh tế tri thức của nền văn minh trí tuệ. Ở đó, dịch vụ và trí tuệ đã trở nên lực lượng sản xuất hàng đầu. Trên cơ sở ấy, một trật tự thế giới mới đã xuất hiện với xu thế toàn cầu hoá, lôỉ cuốn cả hành tinh vào một cơn lốc lớn do Mỹ, một số ít siêu cường và các tập đoàn siêu quốc gia chi phối. Đi đôi với nguyện vọng hoà hoãn và hoà bình của phần lớn loài người tiến bộ, thì các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc tôn giáo vẫn tiếp diễn với cuộc chạy đua vũ trang chưa từng có về vũ khí công nghệ cao.

Rõ ràng, khi bước vào thế kỷ XXI và thiên niên kỷ thứ III, Đảng ta, giai cấp công nhân và toàn dân ta đang đứng trước những vận hội lớn, đồng thời phải đối mặt với những thách thức mới chưa từng có. Cũng như trước đây trong những bước ngoặt lớn của đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng ta đã xuất phát từ thực tĩên và đề ra những quyết sách đột phá phù hơp với quy luật vận động của chiến tranh cách mạng, ngày nay, Đảng đã có những quyết sách chiến lược “đoi mới” và sáng tạo.

Đó là quyết sách ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất bởi vì như Mác đã khẳng định “lực lượng sản xuất là tiền đề của mọi tiền đề” của chủ nghĩa xă hội, chủ nghĩa cộng sản, đương nhiên với quan hệ sản xuất thích hợp.

Đó là quyết sách coi giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách số một, bởi vì khoa học và trí tuệ đã trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu, công nghệ tiên tiến là nội dung và động lực của công cuộc hiện đại hoá.

Đó là phát huy đến đỉnh cao nội lực của đất nước, chủ yếu là con người, trên cơ sở đó mà chủ động hội nhập vào khu vực và thế giới: tranh thủ các nguồn vốn, công nghệ và tri thức quan lý của nước ngoài.

Đó là chủ, trương xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, luôn nắm vững lý luận tiền phong, nâng cao đạo đức cách mạng, diệt trừ các tệ nạn xã hội, xứng đáng là lương tâm, danh dự và trí tuệ của giai cấp công nhân và của dân tộc, trên cơ sở đó mà chỉnh đốn Nhà nước của dân, vì dân, do dân, tăng cường và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất.

Đó là luôn luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, giữ vững độc lập chủ quyền, coi trọng việc xây dựng sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ ở mức cao nhất của các phong trào hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới.

Toàn dân ta đoàn kết một lòng, khắc phục mọi tư tưởng chủ quan, bảo thủ, giáo điều máy móc, thực hiện bằng được các quyết sách mà Đảng đề ra.

Dưới ngọn cờ tất thắng của Đảng và của Bác Hồ vĩ đại, với hoài bão lớn, kiên định trong mọi tình huống với nghị lực sáng tạo và trí tuệ Việt Nam trong thời đại mới, nhân dân ta đoàn kết, đại đoàn kết, sẽ biến những ước mơ trở thành hiện thực, tiến lên tiếp tục đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giành những thắng lợi mới, phát triển với nhịp độ nhanh và bền vững, sánh vai với các nước trung bình, rồi từng bước với các nước tiên tiến trên thế giới, như trước đây đã từ một nước thuộc địa trở thành một trong những nước đi tiên phong trong trào lưu giải phóng dân tộc.

Chú thích:

(1) Pie Risa Phêray: Nước Việt Nam từ nguồn gốc xa xưa đến ngày nay, Nhà xuất bản Báo chí Đại học Pháp, 1990, tr. 87.
(2) R. S. Mắc Namara: Nhìn lại quá khứ. Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội, 1995.
Hết

TÁC GIẢ: Võ Nguyên Giáp
vnthuquan.net


Copy Sách Truyện từ Vnthuquan mà không ghi rõ nguồn và người đánh máy là hành động ăn cắp đáng xấu hổ!
Đánh máy : MoHaNoi – NguyenHoc
Nguồn: MoHaNoi
Người đăng: NHDT
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2006

TỔNG HÀNH DINH TRONG MÙA XUÂN TOÀN THẮNG : Chương 9

Thời cơ giành toàn thắng đã đến.

Tại Tổng hành dinh, tấm bản đồ toàn miền Nam nhanh chóng trở thành cũ so với tốc độ phát triển của chiến sự. Các đồng chí cán bộ tham mưu đã thay vào đó một bản đồ Nam Bộ tỷ lệ 1/200.000 chi chít những ký hiệu xanh, đỏ, thể hiện tình hình ta, địch mới nhất trên chiến trường trọng điểm, và một bản đồ Sài Gòn – Gia Định tỷ lệ 1/50.000.

Hàng mấy tháng liên tục chỉ đạo tác chiến kể từ chiến dịch Tây Nguyên, địa hình và thế trận của ta và địch, tôi gần như đã thuộc lòng. Các bản đồ Nam Bộ và thành phố Sài Gòn – Gia Định trải ra trước mắt, ngày đêm gợi lên những suy nghĩ về cách đánh chiến lược trong trận quyết định cuối cùng.

Đi quanh bàn làm việc, nhìn vào tấm bản đồ từ mọi phía, tôi nhớ lại năm xưa đứng trước sa bàn Điện Biên Phủ, suy nghĩ về cách đánh tập đoàn cứ điểm. Hai sự kiện lịch sử có khoảng cách hơn 20 năm, nhưng giống nhau ở sự động não cao độ trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, góp sức tìm ra cách đánh tối ưu nhằm giành thăng lợi lớn nhất với tổn thất ít nhất.

Đã thành thói quen, mỗi lần gặp một bài toán khó và quan trọng trong lãnh đạo, chỉ huy ở tầm vĩ mô, tôi thường tham khảo ý kiến của nhiều cán bộ, nhất là những đồng chí có kinh nghiệm công tác tham mưu và các cán bộ chỉ huy từng trải trong chiến tranh. Dân chủ quân sự bao giờ cũng mang lại những gợi ý tốt, những ý kiến hay. Lúc này, anh Hoàng Văn Thái, Phó Tổng Tham mưu trưởng thứ nhất phụ trách tác chiến và hậu cần phải dành hầu hết thời gían động viên, tổ chức chi viện chiến trường, tình hình lại phát triển rất nhanh, tôi quyết định lập một tổ thường trực giúp tôi chỉ đạo tác chiến. Mỗi ngày bốn lần, sau buổi giao ban, tôi trực tiếp nghe tổ báo cáo, đề đạt ý kiến. Đồng chí Cao Văn Khánh, Phó Tổng Tham mưu trưởng, ở trong tổ này. Là một trí thức yêu nước, tham gia cách mạng từ những ngày Tháng Tám năm 1945, anh Khánh là một cán bộ quân sự chỉ huy Đại đoàn 308 đánh những trận lớn trong kháng chiến chống thực dân Pháp, từng là Tư lệnh Mặt trận B70 (Trị – Thiên) trong kháng chiến chống Mỹ, một con người hăng hái, trung thực, có nhiều kinh nghiệm chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng, được bộ đội tin yêu.

Sau khi phổ biến quyết tâm của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tập trung tất cả cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, tôi yêu cầu các đồng chí trong tổ khẩn trương nghiên cứu đề đạt ý kiến về phương án tác chiến chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định trong tình huống chiến dịch diễn ra nhanh và cả trong tình huống chiến dịch phải kéo dài đến hết mùa mưa.

Tôi gợi ý một số điểm để tổ đi sâu nghiên cứu như phương án hình thành thế bao vây, chia cắt địch về chiến lược, chiến dịch, khả năng tiêu diệt địch ở vòng ngoài không cho chúng co cụm vào nội đô; trận then chốt là ở đâu, thọc sâu vào thành phố từ hướng nào, biện pháp khống chế sông Lòng Tàu, kênh Chợ Gạo, sân bay Biên Hoà, sân bay Tân Sơn Nhất; sử dụng máy bay của địch đánh các mục tiêu trong thành phố và chặn đường địch chạy ra biển.

Phòng họp của tổ thường trực được bố trí ngay tại Sở chỉ huy. Tôi thường xuyên chủ trì các cuộc thảo luận, ghi lại những ý kiến tốt.

Lời khai của Nguyễn Vĩnh Nghi cũng mang lại nhiều thông tin quan trọng. Sau khi bị bắt ngày 16-4 tại Phan Rang, viên trung tướng này được đưa ngay ra miền Bắc.

Trước thái độ đối xử khoan hồng, nhân đạo của cách mạng, Nguyễn Vĩnh Nghi đã tiết lộ nhiều điều, cho thấy lực lượng phòng thủ của địch đã bị căng ra rất mỏng, lực lượng dự bị còn rất ít. Trong nội đô, địch chỉ dựa vào lực lượng cảnh sát và phòng vệ dân sự. Hướng hiểm yếu nhất, theo y, là tiến công từ Gò Dầu Hạ – Trảng Bàng.

Trên hướng đông, địch có thể phá các cầu để chặn bước tiến của quân ta. Địch bố trí các kho đạn chính ở Nhà Bè và Cát Lái. Long Bình chỉ là kho tiếp liệu. Do địch dựa chủ yếu vào lực lượng không quân, nên các sân bay Tân Sơn Nhất, Biên Hoà và Cần Thơ giữ vai trò quan trọng, đặc biệt là sân bay Biên Hoà, nơi đậu các máy bay cường kích F5 và A37.

Khi được hỏi về thất bại của y tại Phan Rang, Nghi đổ lỗi cho binh lính tinh thần sa sút, không chịu chiến đấu. Như còn nuối tiếc một hy vọng đã trở thành ảo tưởng, y nói: “Chúng tôi thiếu tiếp liệu và thiếu thời gian. Nếu các ông đánh chậm một tháng nữa thì chưa biết sẽ ra sao?”

Các thành viên hai phái đoàn quân sự Việt Nam dân chủ cộng hoà và Cộng hoà miền Nam Việt Nam ở trại David trong sân bay Tân Sơn Nhất cũng cung cấp nhiều tình hình đáng chú ý. Thái độ ngoan cố, ngang ngược của địch giảm dần, tỷ lệ nghịch với đà tiến công và nổi dậy của quân và dân ta. Không còn những lời nói cục cằn, thô lỗ, những hành động cắt điện, cắt nước. Thay vào đó đối phương đã hạ giọng, tỏ ra biết điều trong giao tiếp, tìm cách thăm dò thái độ ta, thậm chí ngỏ ý muốn có cuộc nói chuyện để hoãn binh, cố tránh một cuộc tiến công lớn vào Sài Gòn, cứu nguỵ quyền khỏi nguy cơ sụp đổ. Cũng có thể coi đây là một hàn thử biểu báo thời tiết chính trị – quân sự lúc này, đặt ngay trong lòng địch.

Ngây 16-4, sau khi nghe báo cáo tổng hợp các ý kiến thảo luận, tôi gợi ý thêm: Hướng tiến công nào có lợi nhất, bất ngờ nhất? Làm sao có thể bao vây chặt, tiến công tiêu diệt nhanh các sư đoàn địch ở vòng ngoài? Làm sao tổ chức thọc sâu nhanh vào thành phố. Trong trận này, khả năng tan rã của địch có diễn ra như ở Tây Nguyên và Đà Nẵng không? Địch sẽ đối phó như thế nào khi chúng phát hiện lực lượng ta xung quanh Sài Gòn, nhất là trên hướng đông? Nếu căn cứ Biên Hoà và Tân Sơn Nhất bị khống chế, không quân địch còn khả năng hoạt động nữa không? Nếu Mỹ bỏ cuộc hoặc thay Thiệu, ta cần chớp thời cơ giành toàn thắng ra sao. Nếu không dứt điểm được trong tháng, thì ta đánh trong mùa mưa như thế nào?

Tổ thường trực khẩn trương hoàn chỉnh phương án tác chiến vào ngày hôm sau.

Về thế bố trí của địch trên từng hướng, tổ kết luận: Hướng đông và tây – tây bắc là nơi địch có lực lượng mạnh.

Ở các hướng tây và tây nam, địch bố trí phòng thủ yếu hơn. Địch đang dồn lực lượng ra đối phó với ta ở vòng ngoài, nên trong nội đô rất yếu. Riêng ở Sài Gòn – Gia Định, ta có thế mạnh của chiến lược tổng hợp, trong và ngoài cùng đánh, quần chúng bên trong nổi dậy, địch rất khó chống đỡ. Nếu ta đánh cho chúng thiệt hại nặng ở vòng ngoài, thì ở bên trong rất có thể có tình hình đột biến.

Tổ thường trực đề nghị chọn hướng tây bắc là hướng tiến công chủ yếu. Hướng đông là hướng quan trọng.

Hướng đông nam là hướng thọc sâu. Hướng nam là hướng hiểm yếu, cũng cần được tận dụng. Về cách đánh, cần bao vây, chia cắt, tiêu diệt các cụm phòng thủ vòng ngoài, kết hợp tiến công, đột kích thật mạnh từ bên ngoài với tác chiến, phá hoại và nổi dậy từ bên trong, không cho địch co cụm vào nội đô, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế chủ yếu, làm chủ tình hình.

Để thực hiện cách đánh trên, cần đôn đốc các cánh quân vào vị trí tập kết sớm, khoảng từ ngày 20 đến ngày 30-4, nhất là ở những hướng chủ yếu. Cánh quân phía đông phải nhanh chóng đánh chiếm Bà Rịa, phát triển xuống Vũng Tàu, Nhơn Trạch, từ Nhơn Trạch đặt pháo bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Quân đoàn IV đón đánh quân địch ở Xuân Lộc. Đoàn 232 cắt đường số 4 theo kế hoạch. Trên các hướng, bộ đội phải nhanh chóng áp sát pháo kích các mục tiêu quân sự. Ở hướng Khu IX, cần khống chế sân bay Trà Nóc (Cần Thơ), không cho địch sử dụng để chi viện cho Sài Gòn. Bộ đội đặc công phải chiếm giữ các cầu dẫn vào thành phố, tạo điều kiện cho các lực lượng thọc sâu.

Tổ cũng chuẩn bị một phương án tác chiến trong mùa mưa. Trong trường hợp này, cần động viên bộ đội giữ vững quyết tâm, liên tục chiến đấu, tạo điều kiện để dứt điểm trong mùa khô sắp tới. Cần có thêm lực lượng bổ sung, thay thế, chuẩn bị thêm phương án tác chiến và cách đánh trong mùa mưa ở địa hình vùng ven Sài Gòn và miền Tây Nam Bộ. Đẩy mạnh phong trào tiến công và nổi dậy ở đồng bằng sông Cửu Long, phối hợp chặt chẽ với mặt trận Sài Gòn.

Anh Khánh báo cáo xong. Tôi nhất trí về cơ bản với kết quả nghiên cứu của Tổ, và chỉ thị mấy điểm:

1. Tình hình phát triển rất nhanh. Địch đang ở thế thất bại, thế đi xuống và đang đứng trước nguy cơ sụp đổ Các tình huống có thể thay đổi. Phải dự kiến hết những tình hình đột biến khi thời cơ xuất hiện. Phải nhanh chóng bao vây, chia cắt, tập trung lực lượng thật mạnh đánh đòn quyết định, tiêu diệt các sư đoàn của địch ở vòng ngoài, không cho chúng co cụm vào Sài Gòn, đồng thời tổ chức những binh đoàn mạnh nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trong nội đô.

2. Chú trọng công tác binh vận. Cần kịp thời khai thác tù binh, hàng binh để nắm được tình hình mới nhất. Cần nắm thêm tình hình chính trị, xã hội ở Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long.

3. Cần nắm vững chủ trương của Bộ Chính trị là Tổng tiến công và nổi dậy, kết hợp tiến công với nổi dậy.

Dự kiến cho hết sức mạnh nổi dậy của quần chúng và sự tham gia của nhân dân trong tác chiến và cơ động của bộ đội.

4. Tranh thủ giành thắng lợi hoàn toàn trước khi những cơn mưa đầu mùa trút xuống. Đồng thời tính toán thêm về sử dụng lực lượng, về hậu cần chiến lược, chiến dịch nếu phải đánh kéo dài. Trong mọi tình huống đều phải bảo đảm chắc thắng.

5. Dù sao cũng chỉ là những ý kiến nghiên cứu bước đầu. Cần tiếp tục suy nghĩ thêm. Nhược điểm là chưa có được tình hình toàn diện mới nhất của chiến trường, nên ý kiến của tổ là để tham khảo. Quyết định là ở các cấp lãnh đạo, chỉ huy tại chỗ. Bộ Tổng Tham mưu cử ngay cán bộ vào trao đổi với các anh ở mặt trận.

Buổi làm việc kết thúc, nhưng ai cũng thấy công việc chỉ mới bắt đầu. Mọi ý nghĩ đều quay về một hướng: Đánh vào sào huyệt của địch, một nơi đông dân, được phòng thủ vòng trong vòng ngoài. Làm sao giành thắng lợi nhanh nhất, không cho địch co cụm, tiết kiệm được xường máu của bộ đội, tránh thiệt hại cho dân. Những bộ óc tham mưu động não đến cao độ để tìm ra đáp số.

***

Từ sau Hội nghị Bộ Chính trị ngày 31-3-1975, quyết tâm chiến lược của Đảng nhanh chóng biến thành hành động thực tiễn, từ tiền tuyến đến hậu phương.

Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương tập trung chỉ đạo chiến trường trọng điểm. Vấn đề đầu tiên là bảo đảm cho các lực lượng của ta từ phía Bắc đến chiến trường nhanh nhất, đủ nhất, sung sức nhất. Một chiến dịch chi viện chiến trường đã mở màn.

Cág đoàn cán bộ tham mưu, hậu cần được lệnh vào ngay đường Trường Sơn đôn đốc bộ đội hành quân và theo dõi việc vận chuyển đạn lớn cho pháo và xe tăng, đẩy nhanh tốc độ chi viện cho B2, bất luận trong tình huống nào cũng không được vì điều động lực lượng chậm, mà để lỡ thời cơ chiến lược.

Điện vào điện ra tới tấp.

Những câu hỏi hầu như không thay đổi. Tất cả xoay quanh bước chân hành quân của bộ đội: Cánh quân ven biển đã tiến đến đâu? Bao giờ thì Quân đoàn I vào tới nơi? Các sư đoàn 341, 316, các sư đoàn của Tây Nguyên đang ở nơi nào? Đoàn xe chở đạn khi nào đến? Trong khi đó những câu trả lời lại mỗi ngày, mỗi giờ một khác, không câu nào giống câu nào, đẩy nhanh các mũi tên đỏ trên bản đồ tiến dần xuống phía Nam.

Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương rất mừng được biết lực lượng quần chúng đã và đang được phát động.

Thành uỷ Sài Gòn – Gia Định lập các đội tuyên truyền xung phong giải hàng vạn tờ truyền đơn. Các cơ sở của ta trong thành phố đã chuẩn bị hàng trăm xe ô tô, loa phóng thanh, may nhiều cờ và biểu ngữ. Các anh Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt trực tiếp lãnh đạo việc tổ chức, chỉ đạo quần chúng nổi dậy. Lực lượng lãnh đạo của Đảng và chính quyền cách mạng đã về ở ngoại thành, nhiều thành uỷ viên và cán bộ cấp tương đương đã vào hẳn nội đô. Dự kiến ta có khả năng huy động hàng vạn người xuống đường khi cần thiết. Lực lượng vũ trang Sài Gòn – Gia Định với hai trung đoàn Gia Định I, Gia Định II, các đơn vị biệt động thành, được Bộ chỉ huy chiến dịch bổ sung nhiều trung đoàn và một lữ đoàn đặc công thiện chiến.

Đoàn cán bộ Bộ Tổng Tham mưu và các tổng cục có nhiệm vụ giúp Bộ Tư lệnh chiến dịch trên các mặt tổ chức chỉ huy, công tác chính trị, công tác hậu cần, kỹ thuật đã vào đến chiến trường. Các anh điện ra báo cáo đang khẩn trương triển khai công tác. Nhớ lại hôm nào, trước lúc lên đường, thay mặt Quân uỷ Trung ương, tôi giao nhiệm vụ cho đoàn với tất cả sự tin cậy. Tôi yêu cầu các đồng chí nhận rõ tầm quan trọng của chiến dịch sắp tới, một chiến dịch quy mô lớn với lực lượng 4-5 quân đoàn tham chiến, có nhiều binh khí kỹ thuật tiến công địch trong một thành phố lớn, kết hợp với quần chúng nổi dậy từ bên trong, cần có sự phối hợp hiệp đồng rất cao, trên một không gian rất rộng. Nhiều vấn đề mới được đặt ra, phải giải quyết thật tốt trong một thời gian ngắn, không để lỡ thời cơ, giành thắng lợi lớn nhất về chiến lược, chiến dịch. Phải nắm thật vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nắm vững tư tưởng và nghệ thuật quân sự Việt Nam, vận dụng trong từng tình huống, nhiệm vụ cụ thể, từ việc cơ động bộ đội, cơ động vũ khí, khí tài trên địa hình đồng bằng phức tạp, việc chi viện hoả lực pháo binh có hiệu quả mà không gây tổn thất cho dân, đến việc tiếp quản một thành phố mấy triệu dân, quản lý, giáo dục hàng triệu tù binh và nhân viên nguỵ quyền.

Tôi bắt tay từng người, gửi cả niềm tin vào trong ánh mắt các anh Nam Long, người chiến sĩ Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân năm xưa, lúc này là Phó Giám đốc Học viện Quân sự, Doãn Tuế, Tư lệnh pháo binh, Nguyễn Chí Điềm, Tư lệnh đặc công, Lê Xuân Kiện, Phó Tư lệnh thiết giáp, Hoàng Niệm, Phó Tư lệnh thông tin, Phan Khắc Hy, Phó Tư lệnh Đoàn 559. Là những cán bộ chỉ huy đầu ngành, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, các anh hăng hái ra đi, hứa sẽ cố gắng hoàn thành nhiệm vụ ở mức cao nhất.

***

Với sự có mặt đầy đủ các đồng chí trong Đàng uỷ và Bộ Tư lệnh Mặt trận Sài Gòn – Gia Định, trên cơ sở các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, B2 được tăng cường các cán bộ của Đoàn A.75 và đoàn cán bộ của Bộ Tổng tư lệnh, Sở Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh nhanh chóng hình thành.

Thời cơ lúc này đối với ta thuận lợi về nhiều mặt, cho phép nhanh chóng bắt đầu cuộc tổng công kích vào Sài Gòn. Tuy vậy, trong tình hình các đơn vị chủ lực lớn chưa vào hết chiến trường, Bộ Chính trị điện chỉ thị cho Bộ Tư lệnh chiến dịch chùẩn bị thêm trong ít ngày, chờ các quân đoàn vào đủ để có ưu thế tuyệt đối về lực lượng so với địch, bảo đảm đánh chắc thắng. Bức điện do đồng chí Bí thư thứ nhất ký tên, nói rõ: “Tôi đã bàn với anh Văn, nhận thấy cần chuẩn bị thêm mấy ngày nữa, đến khi phần lớn lực lượng của Quân đoàn III và Quân đoàn I (cả bộ binh và binh khí kỹ thuật) đến nơi sẽ bắt đầu cuộc tiến công lớn, chưa nên làm ngay bây giờ.

Dù sao, thời gian mở màn chiến dịch chậm nhất là vào hạ tuần tháng 4-1975. Từ nay đến đó, cần đẩy mạnh hoạt động của các cánh quân, đặc biệt là cánh quân phía tây và tây nam, cắt đường số 4, bao vây chia cắt địch, làm cho chúng hoang mang, rối loạn, tạo điều kiện cho trận quyết định cuối cùng”.

Báo cáo của Bộ Tổng Tham mưu cho biết các anh ở chiến trường đồng ý với những ý kiến đề xuất của tổ thường trực về phương án tác chiến giải phóng Sài Gòn.

Sự nhất trí giữa phía trước và phía sau về vận dụng nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời điểm quyết định của chiến tranh làm tăng thêm niềm tin tất thắng.

Trên tinh thần đó, bức điện của Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Kế hoạch tiến công toàn diện cần bảo đảm một khi đã phát động thì phải tiến công thật mạnh và liên tục, dồn dập đến toàn thắng, vừa phát động tiến công ở ngoại vi, vừa có lực lượng sẵn sàng nắm thời cơ thọc sâu vào trung tâm Sài Gòn từ nhiều hướng, thực hiện từ trong đánh ra, từ ngoài đánh vào, tạo điều kiện cho đồng bào nổi dậy. Trong tình hình hiện nay, thần tốc, táo bạo, bất ngờ là ở chỗ đó. Cần có dự kiến và chuẩn bị đối phó với tình huống cuộc chiến đấu có thể kéo dài một thời gian”.

Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị, Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh khẩn trương hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến trên cơ sở phương án cũ đã được Trung ương Cục thông qua. Tinh thần là tránh những xáo trộn không cần thiết, các lực lượng B2 vốn quen thuộc chiến trường đảm nhiệm các hướng có địa hình phức tạp, dành những hướng gần nhất ở phía bắc và phía đông cho các lực lượng từ xa đến. Mặt khác, lệnh cho các đơn vị của Quân khu 8, Quân khu IX, các đơn vị đặc công, biệt động vùng ven và trong nội thành liên tiếp đánh địch, áp sát thành phố Cần Thơ và các con đường huyết mạch, nhất là đường số 4 từ Sài Gòn xuống đồng bằng sông Cửu Long. Quân và dân Nam Bộ hừng hực khí thế tiến công, phát huy sức mạnh tổng hợp của ba mũi quân sự chính trị và binh vận cùng giáp công, giải phóng một số khu vực quan trọng, nối liền các căn cứ “lõm” ở Long An, Gò Công, Bến Tre, Mỹ Tho, mở ra những hành lang từ Đông Nam Bộ sang Tây Nam Bộ, làm chủ các đường giao thông quan trọng. Vừa tác chiến vừa xây dựng lực lượng, một số tỉnh và huyện thành lập được thêm nhiều tiểu đoàn, đại đội địa phương, nhiều xã đã có đội du kích. Đặc biệt ở phía tây nam Sài Gòn, nơi có địa hình sình lầy, trống trải, bộ đội và nhân dân đã phải vượt qua muôn vàn khó khăn, đánh thông hành lang Tây Ninh – Kiến Tường, làm chủ một phần sông Vàm Cỏ Tây, mở ra một vùng giải phóng, lót sẵn lương thực, đạn dược, tạo thế rất thuận lợi cho một bộ phận của Đoàn 232 tiến công vào Sài Gôn. Ở hướng tây nam, Bộ Tư lệnh quyết định tiến công vào thị trấn Thủ Thừa và thị xã Tân An, không đánh chiếm Mộc Hoá như trong kế hoạch cũ. Trận đánh không thành công vì quân địch đã phòng bị sẵn. Quân ta chuyển sang đánh quân địch phản ứng, quét hệ thống đồn bốt của địch ở bắc đường số 4, gây cho địch nhiều thiệt hại. Ở phía tây bắc, Sư đoàn 25 nguỵ bị đánh mạnh, buộc phải phân tán đối phó, không co được về giữ ven đô.

Thế trận tại chỗ đã bày xong.

Ngày 22-4, lần cuối cùng, kế hoạch tiến công Sài Gòn – Gia Định được Đảng uỷ và Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh thông qua và phê duyệt.

***

Tuyến phòng ngự Xuân Lộc sụp đổ. Tia hy vọng sau chót của nguỵ quân, nguỵ quyền cũng tắt ngấm.

Theo “gợi ý” của Mỹ, Nguyễn Văn Thiệu từ chức tổng thống. Mỹ hy vọng “thay ngựa” để đội cho tay sai một lốt mới, hòng trì hoãn cuộc tiến công của ta vào Sài Gòn.

Đài Sài Gòn trưa ngày 22-4 phát đi tiếng nói buồn bã, rời rạc và cay đắng của Thiệu trách móc quan thầy Mỹ đã bỏ rơi mình: “Mỹ đã yêu cầu chúng ta thực hiện điều không thể làm được. Vì vậy, tôi đã bảo họ: Các ông đòi hỏi chúng tôi làm điều mà các ông đã thất bại với nửa triệu binh lính tinh nhuệ và sĩ quan có tài với gần 300 tỷ đôla chi phí trong sáu năm trời. Nếu tôi không nói rằng các ông bị cộng sản Việt Nam đánh bại, thì tôi cũng phải nói một cách khiêm tốn là các ông cũng không thể chiến thắng. Nhưng các ông đã tìm đường rút lui trong danh dự. Hiện nay, khi quân đội chúng tôi thiếu vũ khí, đạn dược, máy bay trực thăng, máy bay B52, các ông lại đòi hỏi chúng tôi làm một điều không thể làm được giống như việc dùng đá lấp đầy đại dương, giống như các ông đưa cho tôi chỉ có 3 đôla mà thúc giục tôi đi bằng máy bay ghế hạng nhất, mướn phòng 30 đôla một ngày ở khách sạn, ăn 3-4 miếng bíttết và uống 7-8 ly rượu một ngày. Đó là điều kỳ quặc!”.
Thói quen ăn chơi ẩm thực của viên tổng thống nguỵ xen cả vào khẩu khí, ngay cả trong tuyên bố cuối cùng.

***

Hạ tuần tháng 4-1975, các lực lượng lớn của quân ta lần lượt vào vị trí triển khai.

Ở hướng bắc, Quân đoàn I đã có mặt ở khu vực nam sông Bé.

Ở hướng tây bắc, Quân đoàn III tiến đến Dầu Tiếng.

Ở hướng tây, đoàn 232 áp sát tuyến sông Vàm Cỏ

Đông và Hậu Nghĩa.

Ở hướng nam, Trung đoàn 88 và Trung đoàn 24 được tăng cường Trung đoàn 271B đứng chặn ở Cần Giuộc.

Sư đoàn 5, Sư đoàn 8 áp sát đường số 4 từ Tân An đến Cai Lậy, áp sát Mỹ Tho. Đồng chí Lê Đức Anh, Phó Tư lệnh Miền, Phó Tư lệnh Bộ chỉ huy chiến dịch, trực tiếp chỉ huy hướng tây và hướng nam.

Ở hướng đôug, Quân đoàn IV sau khi giải phóng Xuân Lộc, áp sát Trảng Bom. Quân đoàn II, Sư đoàn 3 và Lữ đoàn 52 (Quân khu 5) tiến sát Long Thành, Vũng Tàu, Nước Trong, Bà Rịa. Đồng chí Lê Trọng Tấn, Tư lệnh cánh quân phía đông, nay là Phó Tư lệnh chiến dịch chỉ huy hướng này.

Tất cả sáu trung đoàn đặc công và hàng chục đội biệt động đã sẵn sàng từ vùng ven đến nội thành.

Các phi đội của không quân ta ở sân bay Thành Sơn đã sẵn sàng cất cánh.

Tại Tổng hành dinh, trên tấm bản đồ chiến dịch Hồ Chí Minh, các mũi tên lớn màu đỏ vít chặt lấy hang ổ cuối cùng của địch.

Lúc này, quân và dân Campuchia đã từng bước phá vỡ sức đề kháng của quân đội Lon Non ở ngoại vi thủ đô Phnôm Pênh. Được ta trợ giúp đạn súng lớn, bạn đã nã pháo vào trung tâm thành phố. Ngày 12-4, Mỹ tổ chức cuộc hành quân mang tên “Diều hâu”, di tản cố vấn và binh lính Mỹ ra khỏi thủ đô bằng đường không. Ngày 17-4, Phnôm Pênh được giải phóng.

Các cơ quan Bộ Tổng tư lệnh làm việc ngày đêm. Đặc biệt Phòng 70 thuộc Cục Quân báo, chuyên theo dõi tin địch bằng phương tiện kỹ thuật, bám máy từng phút từng giờ.

Tin về cho biết: Sài Gòn hỗn loạn. Binh lính và nhân viên nguỵ quyền từ các tỉnh phía bắc, nhất là từ Phan Rang, Xuân Lộc chạy về, mang theo tâm trạng hốt hoảng và những điều mắt thấy tai nghe, càng làm cho tình hình thêm bi đát. Dân chúng bắt đầu di tản. Các sứ quán phương Tây ra đi. Trần Văn Hương, một ông già bị bệnh thấp khớp và mù loà, lên thay Thiệu, kêu gào “tử thủ”, nhưng chẳng mấy ai nghe! Ngày 23-4, tại Trường đại học Tulane ở New Orleans, Tổng thống Mỹ Giêrôn Pho tuyên bố. “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ”.

Thời cơ đã đến. Tôi điện cho các cánh quân đôn đốc khẩn trương chuẩn bị tiến công, đặc biệt là cánh quân phía đông phải cố gắng bảo đảm đánh Biên Hoà theo đúng kế hoạch.

Sáng ngày 22-4, Bộ Chính trị hội ý. Có tin Mỹ sẽ loại bỏ Trần Văn Hương bất lực, thay vào đó bằng một người “dễ tiếp xúc” hơn với Mặt trận dân tộc giải phóng, định dùng thủ đoạn ngoại giao để ngăn chặn cuộc Tổng tiến công của ta. Cũng có tin Pháp muốn đứng ra làm trung gian liên lạc với Mặt trận dân tộc giải phóng và Hà Nội hòng cứu vãn tình thế.

Sau khi xem xét tình hình, anh Ba điện khẩn vào chiến trường: “Mỹ nguỵ tìm cách trì hoãn cuộc tiến công của ta vào Sài Gòn, lập chính phủ mới, đưa ra đề nghị ngừng bắn đi đến giải pháp chính trị cứu vãn tình thế khỏi thất bại hoàn toàn. Thời cơ quân sự, chính trị để mở cuộc Tổng tiến công vào Sài Gòn đã chín muồi. Ra chỉ thị ngay cho các hướng hành động kịp thời, kết hợp tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng”.

Quân uỷ Trung ương cũng điện gấp cho anh Văn Tiến Dũng, truyền đạt ý kiến của Thường trực Quân uỷ Trung ương: “Địch không có quyết tâm cố thủ Sài Gòn khi bị tiến công mạnh. Chúng trì hoãn để tìm cách đề nghị ngừng bắn, kéo dài sang mùa mưa. Sài Gòn không giữ nổi thì chúng rút về đồng bằng sông Cửu Long, lấy Cần Thơ làm trọng tâm. Hướng tây nam và đường số 4 sẵn sàng ngăn chặn, tiêu diệt địch trong tình huống chúng rút từ Sài Gòn về Cần Thơ”.

Ngày 23-4, hãng thông tấn Pháp AFP đưa tin Mỹ – nguỵ dùng máy bay C130 ném bom Đêxi Cútlơ (Daisy Cutler) và bom CBU xuống các mục tiêu giữa Biên Hoà và Xuân Lộc, có hàng trăm xác chết. Bom Đêxi Cútlơ chuyên dùng để phá từng mảng cây rừng, dọn mục tiêu làm bãi đậu cho máy bay lên thăng. CBU (Cluster Bomb Units) là loại bom khi nổ gây ra một đám cháy với nhiệt độ lớn, tạo ra một khoảng chân không thiêu huỷ mọi thứ và làm chết ngạt mọi sinh vật trong vùng. Tôi điện ngay vào mặt trận, hồi 19 giờ hôm ấy: “Có thể đây là loại bom ngạt CB 455 mà Uâyen đã đề nghị sử dụng. Cũng có thể địch tung tin để uy hiếp tinh thần. Phải thực sự đề phòng. Anh Ba và Thường trực Quân uỷ có ý kiến: Phát động sớm Tổng tiến công làm cho hình thái ta và địch xen kẽ. Đơn vị ở xa nguỵ trang cho tốt. Chú ý phòng độc. Pháo 130mm và Đ74 đánh mạnh vào Tân Sơn Nhất và căn cứ không quân Biên Hoà, gây tổn thất nặng cho không quân địch. Các sân bay Cần Thơ, Vũng Tàu, dùng pháo cối và đặc công đánh mạnh”.

Ngày 26-4, Bộ Chính trị họp, giữa lúc công việc chuẩn bị mọi mặt từ Bộ thống soái tối cao đến Bộ Tư lệnh và các đơn vị ở chiến trường trọng điểm cơ bản đã hoàn thành. Anh Trường Chinh, vốn rất quan tâm cách đánh chiến lược, theo dõi chặt chẽ trận tổng công kích và nổi dậy cuối cùng mà anh gọi là “coup décisif” (Đòn quyết định).

Bộ Tổng Tham mưu báo cáo: Các binh đoàn chủ lực của ta đã triển khai trên các hướng. Các đơn vị chủ lực tại chỗ của B2 cũng đã vào vị trí, sau khi tác chiến tạo thế ở phía nam và tây nam Sài Gòn. Các lực lượng đặc công, biệt động và lực lượng của Thành đội Sài Gòn đã đứng sẵn ở ven đô, áp sát các mục tiêu được phân công.

Hàng trăm cán bộ và đội viên vũ trang vào đứng chân tại các “lõm” ở vùng ven và nội đô, chuẩn bị phát động quần chúng nổi dậy khi chủ lực tiến công. Quân ta đang ở thế áp đảo. Lực lượng lãnh đạo ở cơ sở và lực lượng chính trị quần chúng đều đã sẵn sàng.

Năm mục tiêu quan trọng đã được Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh xác định là: sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham mưu nguỵ, dinh Tổng thống nguỵ quyền. Biệt khu thủ đô và Tổng nha Cảnh sát.

Về cách đánh, Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trủơng hình thành thế bao vây, cô lập địch trong thành phố, sử dụng lực lượng thích hợp trên từng hướng chia cắt, tiêu diệt địch ở bên ngoài, đồng thời sử dụng một bộ phận quan trọng lực lượng tổ chức thành những mũi đột kích mạnh, thọc sâu đánh thẳng vào trung tâm Sài Gòn, đánh chiếm năm mục tiêu đã được xác định.

Từ đó, toả ra phối hợp với các đơn vị đặc công, biệt động, tự vệ thành phố và quần chúng nổi dậy, đánh chiếm tất cả các mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế trong thành phố. Một số lực lượng đặc công, biệt động và lực lượng vũ trang tại chỗ được giao nhiệm vụ đánh chiếm và làm chủ các cầu, tham gia cùng các đơn vị hoả lực khống chế sân bay và các trận địa pháo của địch.

Phương châm là hiệp đồng chặt chẽ, tiến công nhanh, hạn chế đến mức thấp nhất thương vong của bộ đội và tổn thất về tính mạng, tài sản của nhân dân.

Bộ Chính trị nghe đọc bức điện dài của anh Lê Đức Thọ đề ngày 24-4, nói rõ tình hình ta và địch từ khi đánh Xuân Lộc đến lúc này. Mười sư đoàn đưa vào chiến trường vừa mới tới nơi. Chiến trường có một số khó khăn về hậu cần, nhưng quyết tâm của mặt trận là vừa đánh vừa bổ sung, hết sức cố gắng bảo đảm những điều kiện tối thiểu để mở màn chiến dịch. Địch chưa phán đoán được cách đánh của ta. Chúng bố trí ngăn chặn từ xa, có kế hoạch phá cầu nếu không giữ nổi. Ta đang chuẩn bị khẩn trương cho kế hoạch tiến công và nổi dậy. Dự kiến, trong tình huống xấu, như địch phá cầu, quân ta có kế hoạch khắc phục, làm cầu, hoặc tác chiến trong điều kiện không có xe tăng và pháo binh.

Sau khi kiểm tra lại lần cuối việc chuẩn bị cho trận đánh quyết định, cuộc họp kết thúc trong không khí náo nức, phấn khởi, quyết tâm, sẵn sàng đón tin chiến thắng.

***

Giờ phút quyết định đã điểm.

Chiến trường Nam Bộ bùng lên như một cơn lốc.

Các hãng thông tấn trong nước và nước ngoài hoạt động hết tốc lực. Tin tức dồn dập bay về, dồn hầu hết sự chú ý của dư luận thế giới vào một điểm nóng: Sài Gòn.

Thông tấn xã Việt Nam, Thông tấn xã Giải phóng, các cơ quan thông tin đại chúng của cả hai miền liên tục loan tin chiến thắng. Trên báo và đài, hầu như không còn chỗ cho các vấn đề nào khác ngoài tình hình cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Các cuộc thông báo thời sự lan đến trong từng nhà, từng thôn xóm. Tiền tuyến càng sôi động, hậu phương càng náo nức, đợi chờ.

Ở Hà Nội, các cơ quan Bộ Tổng tư lệnh thường trực 24 trên 24 giờ. Đốì với các cơ quan thông tin, báo chí, Tổng hành dinh ở khu vực “Nhà con rồng” là nơi cung cấp tin chiến sự sốt dẻo nhất, nhanh chóng nhất, chính xác nhất. Cục Tác chiến phải dành riêng một số thời gian hiếm hoi để cùng Cục Tuyên huấn phát tin cho báo và đài. Các đồng chí Tổng Tham mưu phó Hoàng Văn Thái và Cao Văn Khánh cùng tôi thường trực ở Sở chỉ huy.

Anh chị em thông tin, cơ yếu thay phiên nhau làm việc suốt đêm ngày. Cơm nước được mang đến tận nơi.

Tối 27-4, Cục Tác chiến báo cáo tình hình chiến sự vùng ven Sài Gòn. Quân ta cơ bản thực hiện kế hoạch tác chiến chiến dịch trên các hướng.

Hướng bắc, Sư đoàn 312 (Quân đoàn I) chuẩn bị tiến công Bình Cơ, Bình Mỹ, tạo thế cho quân đoàn triển khai lực lượng ở vùng ven.

Hướng tây bắc, anh Vũ Lăng, Tư lệnh Quân đoàn III sử dụng pháo cối diệt các trận địa của địch. Sư đoàn 316 chặn địch ở Phú Mỹ và đông Trảng Bàng.

Hướng tây nam, anh Lê Đức Anh cho quân áp sát đường số 10, chuẩn bị tiến công địch trên đường số 4, chia cắt Sài Gòn với đồng bằng sông Cửu Long, mở đầu cầu vượt sông Vàm Cỏ Đông, chiếm lĩnh vùng ven.

Hướng đông, cánh quân của anh Lê Trọng Tấn tiến công căn cứ Nước Trong, chi khu quân sự Long Thành và thị xã Bà Rịa. Ở Nước Trong, địch chống cự, dùng máy bay bắn phá bừa bãi, phản kích liên tục suốt cả ngày. Sư đoàn 304 mở nhiều đợt tiến công mà vẫn chưa dứt điểm. Quyết tâm của quân ta là phải thực hiện bằng được nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Nước Trong, nhất là việc triển khai trận địa pháo ở Nhơn Trạch để bắn vào căn cứ không quân Tân Sơn Nhất đúng thời điểm đã định.

Qua tình hình diễn biến chiến sự, Bộ Tổng Tham mưu nhận xét: hướng đông, tuy địch chống cự ngoan cố, nhưng nhìn chung có nhiều thuận lợi. Hướng bắc và hướng tây bắc chậm hơn một chút. Hướng tây nam có thể tiến kịp các mũi khác. Hoạt động của quân ta trên đường số 4 đạt hiệu quả tốt, nếu phát triển mạnh hơn, sẽ tạo thêm điều kiện cho hướng bắc và tây bắc phát triển tiến công.

Tôi điện ngay cho anh Tấn: “Cho biết ngay aự kiến thời cơ phát triển vào nội đô, cả trong trường hợp đến mục tiêu sớm hơn thời gian quy định. Khi có thời cơ cụ thể thuận lợi, bảo đảm chắc thắng thì tranh thủ phát triển. Nếu trận địa pháo 130 đặt xong ở Nhơn Trạch và bàn được vào Tân Sơn Nhất thì Sài Gòn sẽ rung động lớn”.

Tối 28-4, các đài phương Tây đưa tin: Hồi 16 giờ 40 phút, 5 chiếc máy bay A37 do Mỹ chế tạo đã dội bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất ở độ cao 5.000 bộ. Một số máy bay của “không lực Việt Nam Cộng hoà” và của Hoa Kỳ bị phá huỷ, trong đó có 3 chiếc AC119 và nhiều chiếc C47. Trận ném bom đã thúc giục Mỹ phải “thực hiện tối đa” việc di tản nhân viên quân sự và dân sự của họ. Hồi 20 giờ cùng ngày, 2 chiếc C130, mỗi chiếc chở180 người, đã mạo hiểm cất cánh ngay trên đường băng vừa bị ném bom.

Sự kiện này nằm trong ý định của Bộ Tổng tư lệnh trong việc dùng không quân chiến đấu trước và trong chiến dịch giải phóng Sài Gòn, đã được trao đổi nhiều lần với các anh ở B2. Thượng tuần tháng 4, anh Lê Ngọc Hiền điện ra báo cáo: ta thu được một số máy bay chiến đấu, và đề nghị cho người vào nghiên cứu sử dụng. Ngay sau đó, lại nhận được tin Nguyễn Thành Trung, cơ sở binh vận của ta hoạt động bí mật trong hàng ngũ địch, sau khi ném bom dinh Tổng thống nguỵ, đã hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long. Bộ Tổng Tham mưu nhất trí đề đạt với Quân uỷ Trung ương cần sử dụng số phi công được Mỹ đào tạo, huấn luyện các sĩ quan lái máy, bay chiến đấu của ta, sử dụng số máy bay vừa thu được tham gia chiến dịch, gây cho địch một bất ngờ lớn.

Anh Văn Tiến Dũng cũng điện ra đề nghị cho không quân ta dùng máy bay vừa thu được của địch ném bom vào sào huyệt quân nguỵ ở Sài Gòn đúng vào ngày 28-4.

Tôi cầm máy trực tiếp báo cáo với đồng chí Bí thư thứ nhất. Anh Ba vui vẻ đồng ý.

Bộ triệu tập ngay anh Lê Văn Tri, Tư lệnh Phòng không – Không quân lên “Nhà con rồng”.

Tôi hỏi:

– Hiện đã thu được bao nhiêm máy bay A37 có thể dùng được?

– Báo cáo: ở Đà Nẵng 1 chiếc, phi công ta đang dùng để học chuyển loại. Ở sân bay Phù Cát, ta thu được 5 chiếc còn nguyên, nhưng chưa bay thử.

– Thế là tốt. Bộ Chính trị đã đồng ý cho không quân ta ném bom Sài Gòn. Giao nhiệm vụ cho đồng chí trực tiếp tổ chức thực hiện trận đánh này thắng lợi. Thời gian đúng vào ngày 28-4 như anh Dũng đã điện ra. Việc chọn thời cơ và mục tiêu cho máy bay tiến công sẽ do anh Dũng chỉ thị trực tiếp. Về cách đánh, sẽ do Bộ Tổng Tham mưu và tiền phương Phòng không – Không quân quyết định.

Chiều 26-4, anh Tri vào tới Phù Cát. Anh Hoàng Ngọc Diêu, Phó Tư lệnh quân chủng cũng đã có mặt.

Việc huấn luyện chuẩn bị người và mày bay được tiến hành rất khẩn trương. Chỉ trong mấy ngày, ta đã có một phi đội A37 sẵn sàng hoạt động. 17 giờ ngày 28-4, phi đội mang tên Quyết Thắng do Nguyễn Thành Trung chỉ huy đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, phá huỷ 20 máy bay địch trên sân bay Tân Sơn Nhất.

Cuộc công kích bất ngờ của ta bằng máy bay của Mỹ đạt hiệu quả chiến đấu lớn, nhưng hiệu quả về tinh thần, tâm lý lại còn lớn hơn nhiều.

***

Sau hai ngày mở màn cuộc tổng công kích, tối 28-4, Bộ Tổng tham mưu tổng hợp và báo cáo tình hình chiến trường trọng điểm:

Bộ đội ta trên các hướng về cơ bản đã thực hiện được kế hoạch tiến công, bao vây cô lập Sài Gòn, chia căt tuyến ngoài thành phố. Ta đã cắt đường số 15 (Sài Gòn – Vũng Tàu) và đường số 4 (Sài Gòn – đồng bằng sông Cửu Long), chiếm được một số mục tiêu quan trọng như Trảng Bom, Long Thành, Đức Thạnh, thị xã Bà Rịa, làm chủ căn cứ Nước Trong. Các sân bay Biên Hoà và Tân Sơn Nhất bị tê liệt. Lực lượng vũ trang và nhân dân vùng ven Sài Gòn phối hợp với bộ đội chủ lực, tiến công và nổi dậy, giải phóng các căn cứ tủa địch ở xung quanh thành phố. Ở hướng đồng bằng sông Cửu Long, bộ đội Quân khu 8 và Quân khu IX áp sát các thị xã Cần Thơ, Mỹ Tho, khống chế sân bay Bình Thuỷ.

Hệ thống chỉ huy của quân nguỵ, từ Bộ Tổng Tham mưu đến các quân đoàn đều rối loạn. Trần Văn Hương phải từ chức để Dương Văn Minh lên thay. Nhiều nhân vật tai to mặt lớn trong nguỵ quyền, nguỵ quân đã chuồn ra nước ngoài. Dương Văn Minh là con bài cuối cùng Mỹ – nguỵ đưa ra dàn xếp với ta để hòng đạt tới “ngừng bắn”.

Như vậy là qua hai ngày chiến đấu, tình hình diễn biến tốt. Ngày hôm sau, 29-4, bộ đội ta trên năm hướng có thể nổ súng tiến công vào nội thành Sài Gòn, theo đúng kế hoạch đã đề ra.

22 giờ đêm hôm ấy, tôi điện gửi các anh Lê Đức Thọ và Phạm Hùng: “Chiến dịch đã bắt đầu thắng lợi giòn giã. Chúng tôi tất cả đều phấn khởi, gửi lời chúc các anh khoẻ và toàn thắng. Nhắc các cơ quan tham mưu, chính trị: đi đôi với mệnh lệnh tác chiến, cần có chỉ thị cụ thể về nhiệm vụ, phạm vi quản lý thành phố của từng đơn vị xúc tiến kế hoạch phát triển thắng lợi, tiêu diệt và làm tan rã quân địch ở đồng bằng sông Cửu Long. Có dự kiến điều chỉnh lực lượng sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng nhất là nhũng việc cần làm trước mùa mưa”.

22 giờ 30 phút, tôi lại điện tiếp, gửi anh Tuấn, anh Tư Nguyễn, đồng điện anh Sáu, anh Bảy: “Chuyển lời Bộ Chính trị và Bộ Tổng tư lệnh gửi lời chào quyết thắng đến toàn thể cán bộ và chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên.

Các đồng chí hãy anh dũng tiến lên giành thắng lợi cho chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại”.

Đêm 28-4-1975, một đêm thức trắng của cơ quan Tổng hành dinh. Các đồng chí trong Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương cũng không ai ngủ được. Những người nắm được kế hoạch cụ thể của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đều cùng thức với chiến trường, đón giờ “G” của trận Tổng công kích vào Sài Gòn như đón phút giao thừa của lịch sử.

Sáng sớm hôm sau, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương họp tại Sở chỉ huy.

Một tấm bản đồ Sài Gòn – Gia Định trải rộng trên bàn. Các đồng chí lãnh đạo ngồi và đứng xung quanh, theo dõi tình hình chiến sự đang diễn biến.

Cơ quan tham mưu chiến lược phát huy hết mọi năng lực của bộ máy chỉ huy, theo dõi sự phát triển của cuộc Tổng công kích và nổi dậy từng phút, từng giờ. Anh Lê Hữu Đức kịp thời báo cáo những tin mới nhận được từ các nguồn khác nhau, không chậm hơn thực tiễn đang diễn ra ở chiến trường là mấy.

Các mũi tên đỏ được tô đậm thêm, kéo dài thêm, tiến về hướng nội đô. Những nét gạch chéo lần lượt đánh dấu các mục tiêu đã bị đánh chiếm. Hầu như mỗi giờ, mỗi khắc đều có tin mới đưa về. Nhiều chức sắc nguỵ quân, nguỵ quyền bỏ chạy ra nước ngoài, gồm nghị sĩ, cựu thủ tướng, Tổng Tham mưu trưởng. Sài Gòn hỗn loạn. Quân địch như rắn mất đầu. Các nhân viên quân sự và dân sự Mỹ tháo chạy bằng máy bay lên thẳng từ sân thượng một số nhà cao tầng trong cuộc hành quân Cơn lốc. Dương Văn Minh ra lệnh ngừng bắn, cử đại diện đến trại David ở Tân Sơn Nhất xin gặp phái đoàn ta trong Ban liên hiệp đình chiến để “thương lượng”!

Không khí phấn khởi, sôi nổi, hào hùng bao trùm cuộc họp. Vừa nghe báo cáo vừa trao đổi ý kiến. Mỗi tin tức là một sự kiện, một tình huống, cần được xử trí kịp thời.

10 giờ, đồng chí Bí thư thứ nhất gửi một điện khẩn vào chiến trường:

“1. Các anh ra lệnh cho quân ta tiếp tục tiến công vào Sài Gòn theo kế hoạch, tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ thành phố, tước vũ khí quân đội địch, giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống cự của chúng.

2. Công bố đặt thành phố Sài Gòn – Gia Định dưới quyền của Uỷ ban quân quản do tướng Trần Văn Trà làm Chủ tịch. Ký tên: Ba”.

Tin về dồn dập. Các cán bộ tác chiến: quân báo, thông tin, cơ yếu, quên nghỉ, quên ăn. Đang làm việc cách Sài Gòn gần 2.000km mà ai cũng thấy mình như đang ở ngay mặt trận, cùng đồng đội, đồng bào tiến công và nổi dậy, góp sức giành toàn thắng.

Tối 29-4-75

Tôi chủ trì buổi giao ban, nghe đồng chí Cục trưởng Tác chiến báo cáo tổng hợp tình hình. Các cánh quân của ta trên năm hướng đã đồng loạt nổ súng, hiệp đồng chiến đấu, đánh chiếm các mục tiêu quan trọng chủ yếu mở cửa thọc sâu vào trung tâm Sài Gòn.

Hướng tây bắc, Quân đoàn III tiêu diệt căn cứ Đồng Dù, bắt sống viên tư lệnh sư đoàn Lý Tòng Bá. Nhân dân vùng đất thép Củ Chi nổi dậy chiếm quận lỵ.

Ở hướng bắc, Quân đoàn I đánh chiếm thị trấn Tân Uyên, bao vây Phú Lộc và tiến xuống Lái Thiêu.

Hướng tây nam, Đoàn 232 chiếm thị xã Hậu Nghĩa, chi khu quân sự Đức Hoà, thị xã Tân An, thị trấn Bến Lức. Nhân dân vùng Hóc Môn, Bà Điểm và xã Phú Thọ Hoà nổi dậy.

Hướng đông, địch ngoan cố chống cự. Quân đoàn IV tiến chậm. Quân đoàn II phát triển thuận lợi hơn. Đơn vị thọc sâu của Quân đoàn II đã vòng qua căn cứ Long Bình; đang phát triển theo xa lộ.

Ở ven đô, các lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng nổi dậy, phối hợp với các binh đoàn chủ lực. Bộ đội phát triển đến đâu, vùng giải phóng mở rộng đến đó.

Nhìn chung, địch đối phó yếu ớt, tan rã nhanh, phần lớn rút chạy hoặc đầu hàng khi bị tiến công.

Theo kế hoạch, 5 giờ 30 phút sáng 30-4-1975, các hướng đồng loạt đánh vào Sài Gòn.

Riêng cánh quân phía đông, anh Lê Trọng Tấn đề nghị cho nổ súng trước từ 18 giờ ngày 29-4. Lý do là các lực lượng ta còn cách vùng ven từ 15 đến 20km, phải vừa đánh địch vừa tiến quân, lại phải vượt sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, nếu cùng nổ súng sẽ không đến kịp.

Điện của anh Tấn đến vào lúc nửa đêm. Cục Tác chiến đánh thức tôi dặy. Nửa giờ sau, tôi và anh Lê Hữu Đức tới nhà anh Ba.

Sau khi anh Đức đọc bức điện, tôi đề nghị chuẩn y cho cánh quân phía đông đánh vào 18 giờ chiều ngày 29-4, sớm hơn giờ G mười hai tiếng.

Anh Ba đồng ý và nói:

– Đánh, đánh, đánh thôi anh ạ! Lúc này, cánh quân nào phát triển thắng lợi là tạo thắng lợi chung cho toàn chiến dịch.
Tôi hỏi:

– Điện ký tên anh chứ?

– Không! Anh là Tổng Tư lệnh, ký tên anh.

Một thoáng sau, anh Ba nói thêm:

– Ký thêm tên tôi cũng được, hoặc nói rõ đã trao đổi với anh Ba và anh Ba nhất trí.

Về tới Tổng hành dinh, tôi viết ngay điện trả lời anh Tấn, đồng điện cho anh Dũng. Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh cũng đồng ý để cánh quân phía đông nổ súng sớm hơn kế hoạch.

Như vậy, trên thực tế từ 18 giờ ngày 29-4-1975, trận tiến công Sài Gòn – Gia Định đã bắt đầu.

Trời đã về khuya. Cục Quân báo vừa nắm được tình hình địch mới nhất. Anh Cao Văn Khánh điện gấp cho các chiến trường: “Có tin địch ra lệnh cho các tàu hải quân ở Cần Thơ, Đồng Tâm và Phú Quốc tập trung ở một địa điểm, và một số tàu đổ bộ chuẩn bị đi sang đảo Guam. 78 máy bay của nguỵ đã chuyển đến Utapao. Theo dõi xem tàu hải quân có chở bộ binh theo không và có kế hoạch đánh cho kịp”.

Lại một đêm nữa, cả Tổng hành dinh cùng thức với chiến trường, vì miền Nam, vì cả nước.

***

Ngày 30-4-1975.

Gần ba mươi năm qua, mà ngày lịch sử ấy vẫn hiện lên đậm nét trong ký ức, như mới hôm nào.

“Nhà con rồng” hôm nay hình như rạng rỡ hơn trong gió xuân ấm áp. Ngôi nhà cũ, thềm sân rộng và cả bốn con rồng đá chầu ở bậc lên xuống như tươi tắn hơn mọi ngày. Những cây ngọc lan tán lá sum suê, toả hương thơm ngát.

Sớm hơn thường lệ, tôi ngồi vào bàn làm việc ở Sở chỉ huy. Trên tấm bản đồ ở mặt bàn, các mũi tên đỏ đã tiến vào trung tâm thành phố. Tôi phác hoạ trong đầu một chương trình cho ngày hôm ấy, với bao nhiêu công việc phái làm: hội ý Bộ Chính trị, nắm thêm phản ứng của Mỹ, dự kiến các hoạt động quân sự, chính trị trong trường hợp chưa dứt điểm được ngay, chỉ đạo tác chiến và nổi dậy ở phần đất còn lại sau khi Sài Gòn giải phóng, điện động viên bộ đội, nhắc nhở chấp hành nghiêm các chính sách vào thành.

Bất giác, tôi nhớ lại ngày toàn thắng ở Điện Biên Phủ, ngày 7-5-1954. Lẽ tất nhiên ở đây có rất nhiều điểm khác. Thế nhưng, cũng cái không khí phấn khởi sôi nổi ở Sở chỉ huy, cũng những giờ phút nao nức đón tin vui từ phía trước điện về, những suy nghĩ về công việc ở cuối và sau chiến dịch. Và nhất là cũng cái cảm giác lâng lâng khó tả, vừa khẩn trương, sôi nổi, vừa đàng hoàng, chủ động, vừa lo lắng chờ đợi, vừa vui sướng, tự hào, lúc này không còn là của riêng ai trong ngày toàn thắng của dân tộc.

Anh Ba, anh Trường Chinh, anh Đồng cũng đến đây sớm hơn thường lệ. Các anh khác trong Bộ Chính trị lần lượt đến sau, đông đủ. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương họp theo dõi tình hình chiến trường Sài Gòn – Gia Định, thảo luận công việc và đón tin toàn thắng. Anh Cao Văn Khánh, trực ban ngày hôm ấy, túc trực tại phòng tác chiến, chốc chốc lại sang báo cáo tình hình mới nhất. Các mũi tiến công của quân ta phát triển rất nhanh về hướng trung tâm thành phố. Mục tiêu cuối cùng của chiến dịch đã tới gần, chỉ còn tính từng giờ. Tin đến thường cắt ngang cuộc họp, đang phát biểu phải dừng lại giữa chừng, nhưng mọi người đều vui vẻ chấp nhận.

Anh Khánh báo cáo: Đại sứ Mỹ Matin chuồn khỏi Sài Gòn lúc 4 giờ 15 phút sáng. Hy vọng của ông ta thoả hiệp, đàm phán với “Việt cộng” tan vỡ như bọt xà phòng.

Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn II trong cánh quân phía đông của anh Lê Trọng Tấn đang vượt cầu xa lộ trên sông Đồng Nai, diệt ổ đề kháng của địch ở Thủ Đức phía bắc cầu Rạch Chiếc. Trận địa pháo của ta ở Nhơn Trạch đã bắn hơn 300 viên đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Các đơn vị đầu tiên đang tiến từ cầu Tân Cảng vào Sài Gòn. Quân đoàn IV tiến về Hố Nai. Địch liều mạng chống giữ. Ta tiêu diệt Hố Nai, đang tiến công sở chỉ huy Quân đoàn III nguỵ, chuẩn bị tiến vào nội đô.

Sư đoàn 10 Quân đoàn III đang tiến vào ngã tư Bảy Hiền.

Quân đoàn I đánh vào Lai Khê, phú Lộc, Lái Thiêu, đang tiến vào Gò Vấp; một cánh quân khác đánh địch từ cầu Bình Phước đến cầu Bình Triệu.

Đoàn 232 đang tiến về hướng Biệt khu thủ đô và Tổng nha cảnh sát nguỵ.

Trên đường số 4, quân ta đã chiếm Thủ Thừa, thị xã Tân An.

Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 Gia Định áp sát bắc sân bay Tân Sơn Nhất, mở hành lang vào ngã tư Bảy Hiền. Bộ đội đặc công chiếm giữ cầu Rạch Chiếc, cầu xa lộ Biên Hoà.

Lực lượng vũ trang Biên Hoà phối hợp với bộ đội chủ lực giải phóng Nhơn Trạch. Thành Tuy Hạ.

Ở vùng ven đô và nội đô, nhân dân nổi dậy phối hợp với bộ đội tiến công địch. Ở nhiều quận, nhiều phường xóm, đồng bào vùng lên chiếm đồn bốt địch, trụ sở nguỵ quyền. Cờ cách mạng đã tung bay ở phường Tây Nhì, quận Phú Nhuận từ trưa ngày 29-4.

Một cảnh tượng điển hình của chiến tranh nhân dân Việt Nam diễn ra hết sức hào hùng. Tiến công kết hợp với nổi dậy. Quân sự, chính trị, binh vận giáp công. Sức mạnh tổng hợp của cách mạng áp đảo nguỵ quân, nguỵ quyền đang tan rã.

Trên hướng đồng bằng sông Cửu Long, các lực lượng vũ trang ta đã ém sẵn quanh các mục tiêu quan trọng.

Ở Bạc Liêu, quân ta đã vào thị xã. Ở Sóc Trăng, ta đang tiến công thị xã và sân bay.

Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương trao đổi về những công việc cấp thiết. Thay mặt Bộ Chính trị, tôi điện vào chiến trường: “Uỷ ban quân quản công bố ngay trên đài phát thanh mệnh lệnh đầu tiên. Nội dung: a) Quân giải phóng tiến vào để giải phóng thành phố Sài Gòn – Gia Định, hoàn thành công cuộc giải phóng miền Nam, b) Quân đội nguỵ quyền Sài Gòn phải lập tức hạ vũ khí đầu hàng, c) Tuyên bố giải tán chính quyền các cấp, d) Kêu gọi đồng bào đứng dậy, cùng Quân giải phóng đập tan mọi sự chống cự của địch, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tính mạng, tài san của nhân dân, hoàn thành công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam thân yêu”.

***

Vừa theo dõi tin kỹ thuật của Cục 2, tôi vừa liên lạc bằng vô tuyến điện thoại tiếp sức với Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh. Các cánh quân của ta đang tiến rất nhanh. Địch đang trong tình trạng vô cùng nguy khốn.

10 giờ sáng. Đồng chí Nguyễn Thanh, trưởng phòng 70 vào báo cáo tin vừa nhận được: Theo Đài phát thanh Nhật Bản, Quân giải phóng miền Nam có xe tăng dẫn đầu đang tiến vào Sài Gòn. Mấy phút sau, có tin thêm: Dương Văn Minh đề nghị ngừng bắn để thương lượng.

Mọi người cùng nói: “Chỉ có đầu hàng vô điều kiện. Còn gì đâu mà thương lượng!”.

Tôi viết ngay một bức điện, lệnh cho các cánh quân tiếp tục tiến công. Nội dung bức điện được đọc lên, tất cả đều nhất trí. Cùng lúc đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh cũng điện cho các quân đoàn và đoàn 232 không vì có tin ấy mà dừng lại.

10 giờ 50 phút. Cục 2 báo cáo quân ta đã vào dinh Tổng thống nguỵ. Ngay sau đó, các đài phát thanh phương Tây cũng đưa tin này.

11giờ 30 phút. Đồng chí Nguyễn Duy Phê, Cục phó Cục cơ yếu mang vào phòng họp một bức điện của anh Lê Trọng Tấn báo cáo: một đơn vị thuộc cánh quân phía đông đã cắm cờ lên dinh Độc Lập.

Mọi người vây quanh tấm bản đồ chiến sự. Tin từ các hướng tới tấp điện về. Năm cánh quân của ta hợp điểm giữa Sài Còn. Quân đoàn II chiếm dinh Tổng thống; Quân đoàn IV chiếm Bộ Quốc phòng, cảng Bạch Đằng và Đài phát thanh; Quân đoàn I chiếm Bộ Tổng Tham mưu và khu vực các bộ tư lệnh các binh chủng; Quân đoàn III chiếm sân bay Tân Sơn Nhất; Đoàn 232 chiếm Biệt khu thủ đô và Tổng nha cảnh sát. Kế hoạch tác chiến chiến dịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành thắng lợi.

Trong không khí hân hoan, hội nghị sôi nổi trao đổi về những biện pháp cuối cùng. Tôi điện ngay vào chiến trường thông báo ý kiến của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương: “Có thể dùng Dương Văn Minh để kêu gọi các đơn vị của địch hạ vũ khí, nhưng không phải với tư cách Tổng thống mà với tư cách một người đã sang hàng ngũ nhân dân. Đã nhận tin ta cắm cờ lên dinh Độc Lập lúc 11 giờ. Các anh trong Bộ Chính trị rất vui, rất vui”.

Bức điện gửi đi lúc 12 giờ 25 phút.

Hội nghị ngừng họp.

Các đồng chí lãnh đạo ra cả ngoài hành lang. Tiếng cười nói rộn ràng, vui vẻ. Phấn khởi, nghẹn ngào, xúc động đến tlào nước mắt.

Anh Ba, các anh trong Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, ai nấy đều nhớ đến Bác Hồ. Ước mơ nước nhà độc lập, thống nhất mà Bác hằng mong đã thành sự thật, nhưng Người đã đi xa! Đồng bào, chiến sĩ miền Nam không còn được đón Bác vào thăm. Mọi người nghĩ đến biết bao đồng chí, đồng đội, đồng bào đã ngã xuống, không được thấy giờ phút khải hoàn. Ngay trong chiến dịch cuối cùng, bao nhiêu cán bộ, chiến sĩ đã vĩnh viễn ra đi trước ngày toàn thắng.

Tôi chỉ thị cho Cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trị điện ngay cho Việt Nam Thông tấn xã và Đài Tiếng nói Việt Nam kịp thời truyền tin thắng lợi, và chuẩn bị viết thông cáo chiến thắng. Chỉ mười lăm phút sau, đài đã ngừng buổi phát thanh thường lệ, phát đi phát lại những dòng tin phấn khởi mà muôn vạn con tim Việt Nam đón đợi: chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Lẫn vào tiếng loa phóng thanh, tiếng reo hò, hoan hô chiến thắng vang dậy khắp phố phường.

12 giờ 50 phút.

Tại Sở chỉ huy, có mặt Thiếu tướng Cao Văn Khánh, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Đại tá Lê Hữu Đức, Cục trưởng Cục tác chiến, Đại tá Nguyễn Trọng Yên và Thượng tá Phạm Chí Nhân, Cục trưởng và Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn. Không ai chú ý đến nghỉ ngơi, cơm nước. Được sống trong giờ phút lịch sử của dân tộc, ai cũng muốn được ghi lại hình ảnh kỷ niệm vô giá này.

Trước tấm bản đồ thành phố Sài Gòn – Gia Định, mọi người đứng dậy, chăm chú nhìn theo hướng tay tôi chỉ.

Thượng uý Nguyễn Tiến Trỗ, cán bộ bảo vệ thường xuyên đi với tôi, nhà nhiếp ảnh nghiệp dư với chiếc máy ảnh hiệu Kiev, đã bấm liền ba kiểu ở góc độ thích hợp nhất.

***

Buổi chiều, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương tiếp tục họp.

Mở đầu, Hội nghị nghe qua dây ghi âm tiếng nói đầu hàng của Tổng thống nguỵ Dương Văn Minh:

“Tôi là Dương Văn Minh, Tổng thống của chính quyền Sài Gòn.

Tôi kêu gọi bỏ vũ khí đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng, giải tán cơ cấu chính quyền từ trung ương đến địa phương và giao quyền cho Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam”.

Tiếp đó là đại biểu Quân giải phóng chấp nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh.

Hội nghị tiếp tục thảo luận về công việc sắp tới và nêu lên những vấn đề sẽ bàn trong cuộc họp Bộ Chính trị ngày 3-5, chuẩn bị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị toàn thể.

Gần cuối buổi họp, mọi người nghe đọc hai bức điện của các anh Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng vừa nhận được, trong đó các anh nói rõ: Dương Văn Minh đã đầu hàng, các cánh quân của ta tiếp tục phát triển theo kế hoạch. Ta kêu gọi quân địch nộp vũ khí.

Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long sôi sục nổi dậy, lật đổ nguỵ quyền, lập chính quyền cách mạng.

Hội nghị nhất trí gửi ra phía trước bức điện khen: “Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhiệt liệt khen ngợi quân và dân Sài Gòn – Gia Định, khen ngợi toàn thể cán bộ và chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên thuộc các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội đặc biệt tinh nhuệ, dân quân tự vệ đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, lập chiến công chói lọi, tiêu diệt và làm tan rã lực lượng lớn quân địch, buộc nguỵ quyền Sài Gòn phải đầu hàng không điều kiện, giải phóng thành phố Sài Gòn – Gia Định, đưa chiến dịch mang tên Bác Hồ vĩ đại đến toàn thắng.

Toàn thể các đồng chí hãy nêu cao tinh thần quyết thắng, cùng đồng bào tiếp tục tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu của Tổ quốc”(1).

Các anh trong Bộ Chính trị ra về. Các đồng chí trong Thường trực Quân uỷ ngồi lại trao đổi, chuẩn bị cho cuộc họp của Quân uỷ Trung ương dự định tiến hành vào ngày 2-5. Tôi nhắc thêm một số công tác cần chú ý làm thật tốt, nhất là việc quản lý vùng mới giải phóng, đặc biệt các thành phố lớn, vừa xây dựng chính quyền cách mạng vừa truy quét tàn binh, bắt giữ bọn phản động đầu sỏ, giữ vững trật tự trị an, bảo vệ tài sản, tính mạng của dân và tài sản công cộng, ổn định đời sống.

Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải!à một cán bộ dân vận, biết phát động nhân dân cùng với bộ đội và các lực lượng cách mạng làm chủ địa bàn. Tôi cũng lưu ý Bộ Tổng Tham mưu giải quyết số quân địch ở đồng bằng sông Cửu Long và các đảo Côn Sơn, Phú Quốc, đón anh chị em tù chính trị trở về. Việc xây dựng và điều chỉnh lực lượng trong điều kiện đất nước thống nhất và số lượng rất lớn trang bị kỹ thuật của địch vừa thu được cũng phải khẩn trương nghiên cứu đề xuất với Bộ Chính trị và Quân uỷ.

Mặt trời đã khuất bóng sau rặng cây xà cừ trên đường Hoàng Diệu. Hà Nội đã lên đèn.

Còn lại một mình trong phòng làm việc với niềm vui náo nức, mà sao nước mắt tôi cứ trào ra.

“Giá như còn Bác”.

Tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự của Bác đã mang về thắng lợi trọn vẹn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Câu thơ xuân “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” đã vạch đường đi nước bước để có thắng lợi hôm nay.

Tôi lên xe đi một vòng quanh Hà Nội. Cả một rừng cờ hoa dậy lên tự lúc nào. Người đi chật phố, chật đường, vui như trảy hội. Đêm nay, Thủ đô đốt pháo hoa mừng toàn thắng. Đêm nay, Hà Nội, cả nước vui với Sài Gòn, vui với miền Nam.

***

Trở lại cửa tây, tôi vào Sở chỉ huy tiếp tục làm việc.

Hình ảnh các anh lãnh đạo, chỉ huy bộ đội ở chiến trường lúc này hiện về rõ nét. Chắc các anh đã nhiều đêm không ngủ. Chắc các anh cũng hân hoan, xúc động như chúng tôi ở ngoài này. Dưới sự chỉ huy của các anh, quân ta đã “tiến vào Sài Gòn!” ca vang câu hát: “Đồng bào ơi, ta đã về đây” của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, như ngày nào bộ đội ta từ năm cửa Ô tiến về giải phóng Thủ đô Hà Nội, ca vang bài hát của nhạc sĩ Văn Cao.

Trong điện gửi anh Văn Tiến Dũng và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, thay mặt Quân uỷ Trung ương, tôi tuyên dương công trạng các lực lượng vũ trang ta đã cùng đồng bào Tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng Sài Gòn – Gia Định, giành thắng lợi vang dội, làm nức lòng quân và dân cả nước và bè bạn năm châu.

Một khuôn mặt trìu mến, thân quen chợt hiện lên trong tôi: Trung tướng Lê Trọng Tấn, người chỉ huy cánh quân đầu tiên tiến vào dinh Tổng thống nguỵ quyền. Tôi viết ngay một bức điện vượt ra ngoài khuôn phép thông thường về quân sự: “18 giờ 30 phút. Anh Tấn ơi! Làm ăn tốt quá! Phấn khởi quá! Chúc các anh rất khoẻ và chuyển lời mừng chiến thắng của mình cho các tướng trong đó. Ký tên: Văn”.

Sau này được biết: Khi nghe báo cáo quân ta đã chiếm dinh Độc Lập, Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng, cả Sở chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh reo mừng trong niềm vui chiến thắng. Không còn là chuyện bất ngờ mà ai nấy đều giàn giụa nước mắt, siết chặt tay nhau, phấn khởi, tự hào. Các anh Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng xúc động ôm hôn mọi người. Anh Đinh Đức Thiện, vui tính là thế, mà giờ lại là người khóc ra tiếng to nhất. Anh Trần Văn Trà, đôi mắt đỏ hoe, nghẹn ngào sung sướng. Riêng anh Phạm Hùng, mở phanh chiếc áo bà ba, vừa cười to vừa bình luận sảng khoái, vừa ra lệnh chuẩn bị tiếp quản Sài Gòn.

***

Sáng ngày 1-5-1975.

Ngày Quốc tế Lao động mang thêm ý nghĩa ngày chiến thắng. Tình giai cấp hoà quyện trong tình dân tộc, làm nổi bật một nét đẹp trong tư tưởng cách mạng của Bác Hồ.

Tại Sở chỉ huy, Bộ Tổng Tham mưu báo cáo tình hình đồng bằng sông Cửu Long và các đảo còn lại. Khi biết tin Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, ở phần lớn các tỉnh, lực lượng vũ trang ta đã kết hợp với quần chúng nổi dậy, số lượng có nơi ước tới hàng vạn người như ở Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, tiến công mạnh vào nguỵ quân, nguỵ quyền ở cơ sở, buộc chúng phải đầu hàng. Ở Cần Thơ, đêm 29-4, Sư đoàn 4 tiến công hai sân bay Bình Thuỷ và Trà Nóc, Tiểu đoàn Tây Đô, Tiểu đoàn 303 kết hợp tác chiến với binh vận tiến công Sở chỉ huy địch trong thành phố. Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Vùng IV chiến thuật tự sát. Chiều 30-4, tỉnh Cần Thơ được giải phóng.

Ở Vĩnh Long, Trà Vinh, mặc dù bị quân và dân ta tiến công, uy hiếp, đêm 29 và sáng 30-4, một bộ phận quân địch ở đây còn chống trả quyết liệt. Đến 17 giờ chiều 30-4, Tỉnh trưởng Vĩnh Long và Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9 nguỵ phải đầu hàng. Với hai tiểu đoàn và lực lượng quần chúng có các sư sãi tham gia rất đông đảo, ta đã giải phóng Trà Vinh trong ngày 30-4.

Sau khi chiếm được các thành phố, thị xã quan trọng, ta đã kịp thời đưa lực lượng tiến sâu vào các vùng đồng bào các tôn giáo như Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc, bức hàng nhiều đồn bốt địch. Ở các vùng nông thôn Nam Bộ, hàng trăm chi khu, phân chi khu quân sự, hàng ngàn đồn bốt của địch tan rã, đầu hàng trước làn sóng tiến công và nổi dậy của quân và dân các địa phương. Cả vùng châu thổ sông Tiền, sông Hậu được giải phóng.

Tại Côn Sơn, ngày 30-4 và 1-5-1975, những người cách mạng bị địch giam cầm ở đây đã nổi dậy phá nhà lao, giải phóng đảo: Các lực lượng tại chỗ ở Phú Quốc kết hợp với anh chị em tù chính trị trong các trại giam tiến công và nổi dậy giải phóng đảo trước khi lực lượng ta từ đất liền ra tới nơi. Cho đến ngày 2-5-1975, trên toàn miền Nam đã sạch bóng quân thù.

Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta toàn thắng.

***

Đại thắng mùa Xuân 1975 là kết quả rực rỡ của việc thực hiện ba đòn chiến lược: Chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế – Đà Nẵng, chiến dịch Hồ Chí Minh, kết hợp với các mũi tiến công quân sự, chính trị, binh vận sôi nổi của quân và dân miền Nam ngay từ đầu và trong cả quá trình Tổng tiến công và nổi dậy. Còn phải kể đến hai mũi tiến công ngoài kế hoạch: Đó là sự hình thành và chiến đấu dũng mãnh, thần tốc của cánh quân phía đông, thúc đẩy tình hình chiến trường phát triển mau lẹ, kịp thời tăng cường lực lượng cho trận chiến đấu quyết định diệt địch ở sào huyệt cuối cùng. Đó là mũi tiến công sắc bén trên vùng lãnh hải, nhanh chóng giải phóng quần đảo Trường Sa và các đảo ven biển, hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ giải phóng miền Nam. Ở đây, các đòn tiến công quân sự mạnh mang ý nghĩa quyết định. Các cuộc nổi dậy của nhân dân sôi nổi, rộng khắp, muôn hình muôn ve là đòn chiến lược hết sức lợi hại, tiến công địch khắp nơi, làm cho thắng lợi đến nhanh.

Một sự trùng hợp lịch sử thú vị đã diễn ra: Hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc trong thế kỷ XX cùng kết thúc bằng cuộc chiến đấu 55 ngày đêm. Nếu như ở Điện Biên Phủ, 56 ngày đêm là thời gian cần thiết cho một trận tiến công dài ngày vào một tập đoàn cứ điểm kiên cố theo phương châm “đánh chắc tiến chắc”, thì 55 ngày đêm Tổng tiến công và nổi dậy ở miền Nam lại là bước kết thúc chiến tranh không ngừng rút ngắn, khẩn trương, “thần tốc”, nhanh đến không ngờ!

Dù ngắn hay dài, thời gian vẫn là lực lượng, chiều 1-5, tôi tranh thủ thăm Cục Tác chiến, cơ quan trực tiếp phục vụ chỉ huy quân sự, trong không khí tưng bừng, phấn khởi. Hầu như tất cả mọi người trong cơ quan đều có mặt. Một tràng pháo dài nổ vang chào mừng tin toàn thắng. Tôi hỏi thăm anh Hoàng Văn Thái, vì bận không đến dự, ôm hôn anh Cao Văn Khánh, các cán bộ tham mưu, các nhân viên mật mã, đánh máy, thông tin. Tôi nói: “Qua 30 năm lãnh đạo, chỉ huy quân đội, lần này tôi thấy công tác tham mưu có tiến bộ vượt bậc. Từ kế hoạch tác chiến đến nắm địch, nắm ta, truyền đạt mệnh lệnh, đều chính xác, kịp thời. Xin cảm ơn tất cả các đồng chí”. Tiếp đó, tôi sang thăm Cục Tuyên huấn, cơ quan giúp Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh trong công tác lãnh đạo, động viên, giáo dục tư tưởng cho bộ đội và tuyên truyền, báo chí. Anh Lê Quang Đạo, thay mặt Tổng cục Chính trị và toàn cơ quan tuyên huấn đón tiếp rất nồng nhiệt. Ở đây, sau khi khen ngợi những kết quả thu được trên mặt trận tư tưởng và dư luận, tôi nhắc lại tinh thần lời dạy của Bác Hồ: Thắng lợi tuy lớn nhưng mới chỉ là một bước trên con đường vạn dặm của cách mạng, tuyệt đối không được tự mãn, chủ quan.

Vì thời gian có hạn, tôi chỉ thăm được hai cơ quan giúp việc thường xuyên cho Bộ Tổng tư lệnh và Quân uỷ Trung ương. Công việc chuẩn bị cho cuộc họp Quân uỷ và cuộc họp của Bộ Chính trị trong các ngày tiếp theo không cho phép đi nhiều. Trong thâm tâm, tôi muốn đến thăm tất cả các cơ quan Tổng hành dinh, vì trong chiến công tập thể vĩ đại này, tổ chức nào, cá nhân nào cũng có phần đóng góp. Tôi muốn ôm tất cả các đồng chí vào lòng.

***

Mấy ngày sau, tôi cùng anh Ba vào thăm miền Nam hoàn toàn giải phóng. Quên sao được niềm vui mừng phấn khởi khi đặt chân trở lại trên thành phố mang tên Bác, xúc cảm trước cảnh hân hoan mừng chiến thắng của đồng bào, đồng chí trên phố phường còn nguyên vẹn, tưởng như được đón Bác trở về từ nơi Người đã ra đi.

Chúng tôi về thăm các cơ sở cách mạng ở Sài Gòn, Biên Hoà, Cần Thơ, Rạch Giá, những chiếc nôi đã nuôi dưỡng, chở che cho bao cán bộ kiên trung đi làm cách mạng không hẹn có ngày về. Vui mừng, xúc động, anh Ba giới thiệu các Ba, các Má đã nuôi anh những ngày hoạt động bí mật trong lòng địch. Trước cảnh cũ người xưa, tôi bồi hồi nhớ lại những lần vào Nam thực hiện các nhiệm vụ cách mạng được giao. Năm 1929, với tư cách phái viên của Tổng bộ Tân Việt và nhóm cộng sản trong Tân Việt, tôi đến Sài Gòn với nhiệm vụ chuyển kỳ bộ Tân Việt sang hàng ngũ cộng sản. Sau đó, năm 1935, tôi lại vào gặp nhóm đảng viên hoạt động nửa công khai, nhận tài liệu của Đông Dương Đại hội mang ra Hà Nội. Tìm đến các cơ sở cũ thì hầu hết đã không còn nữa. Nhiều ân nhân của cách mạng không còn được thấy ngày khải hoàn của dân tộc.

Tiếp đó, tôi đến thăm các binh đoàn chủ lực, các đơn vị đặc công, biệt động, các đơn vị bộ đội địa phương.

Những “Anh bộ đội Cụ Hồ” vừa làm nên kỳ tích, nhưng hết sức gian dị, thân tình. Tôi khen ngợi chiến công của cán bộ, chiến sĩ, lòng bùi ngùi thương tiếc bao đồng chí, đồng đội vừa ngã xuống để Tổ quốc trường tồn.

Tôi cũng đã đến quan sát Bộ Tổng Tham mưu quân đội nguỵ. Tại phòng làm việc của Tổng Tham mưu trưởng, tôi chú ý đến tờ lịch ngày 28 tháng 4 còn bóc dở.

Trong phòng triển lãm vũ khí, nhiều loại vũ khí trang bị hiện đại đều được trưng bày. Trên một tấm bản đồ Đông Dương chi chít những dấu chấm xanh, đỏ, đánh dấu những nơi mà vũ khí, trang bị điện tử phát hiện các căn cứ của ta, nhất là trên đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn. Cảm tưởng sâu sắc nhất của tôi là: vũ khí kỹ thuật Mỹ dù hiện đại đến đâu cũng không thể cứu kẻ thù khỏi thất bại. Quyết định thắng lợi là con người Việt Nam yêu nước, dũng cảm, thông minh.

Chú thích:

(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nhà xuất bản. Sự thật, Hà Nội. 1985, tr. 395.

TÁC GIẢ: Võ Nguyên Giáp
vnthuquan.net


Copy Sách Truyện từ Vnthuquan mà không ghi rõ nguồn và người đánh máy là hành động ăn cắp đáng xấu hổ!
Đánh máy : MoHaNoi – NguyenHoc
Nguồn: MoHaNoi
Người đăng: NHDT
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2006

TỔNG HÀNH DINH TRONG MÙA XUÂN TOÀN THẮNG : Chương 8

GIẢI PHÓNG TRƯỜNG SA

Trong những ngày này, một sự kiện đặc biệt đã diễn ra ngoài kế hoạch chiến lược ban đầu. Đó là sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tống tư lệnh giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa do quân nguỵ Sài Gòn đóng giữ, một vùng lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc có vị trí chiến lược rất quan trọng về kinh tế và quân sự.

Ngay sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, Quân uỷ Trung ương kiến nghị với Bộ Chính trị Trung ương Đảng: “Vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo quân nguỵ đang chiếm giữ”. Kiến nghị này đã được ghi vào Nghị quyết Bộ Chính trị ngày 25-3-1975.

Cũng từ ngày ấy, Quân uỷ điều anh Hoàng Trà, Chính uỷ Hải quân về làm việc cạnh Bộ Tổng Tham mưu, giúp theo dõi tình hình địch trên biển, kiến nghị về nhiệm vụ của Hải quân trong trận tổng giao chiến cuối cùng. Tôi cũng yêu cầu Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Ngoại giao cung cấp tài liệu về các đảo, quần đảo thuộc vùng biển của Việt Nam, đồng thời chỉ thị cho Cục Quân báo nắm tình hình địch ở Biển Đông.

Nhìn vào bản đồ quân sự và hải đồ Việt Nam, Biển Đông là một vùng biển có độ sâu từ 2.000 đến 4.000m, nổi lên hai quần đảo lớn: Hoàng Sa ở phía bắc và Trường Sa ở phía nam.

Từ thế kỷ XVII, Nhà nước phong kiến Việt Nam đã thực hiện chủ quyền một cách liên tục và hoà bình đối với hai quần đảo này, hồi đó được gọi là Đại Trường Sa, không gặp sự tranh chấp của quốc gia nào. Trong Đại Nam nhất thống toàn đồ (bản đồ nước Đại Nam thống nhất) được biên vẽ vào thời Nguyễn sau 1838 là năm quốc hiệu Việt Nam đổi thành Đại Nam, hai quần đảo ở Biển Đông được vẽ thành một dải song song với bờ biển miền Trung Việt Nam, ngang với tỉnh Quảng Nam ở phía bắc và tỉnh Khánh Hoà ở phía nam với tên gọi “Hoàng Sa” và, “Vạn lý Trường Sa”.

Từ 1920, chính quyền Pháp ở Đông Dương đã tuyên bố khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa và tổ chức quản lý về mặt nhà nước trên hai quần đảo.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc tranh chấp chủ quyền diễn ra đối với cả hai quần đảo ở Biển Đông.

Tháng 4-1946, Pháp cho quân ra kiểm soát cụm phía tây quần đảo Hoàng Sa. Tháng 11-1946, quân Tưởng đổ bộ lên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, và tháng 12 năm ấy đổ bộ lên Itu Aba thuộc quần đảo Trường Sa.

Năm 1950, quân Tưởng rút khỏi hai quần đảo. Song năm 1951, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra tuyên bố bảo lưu chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này. Từ 1956, tranh chấp diễn ra giữa Trung Quốc với chính quyền Nam Việt Nam. Năm 1961, chính quyền Sài Gòn sáp nhập các đảo thuộc quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.

Trong khi điều trị tại Liên Xô, tôi được ở nhà điện sang cho biết: Ngày 19 và 20-1-1974, nhân lúc quân nguỵ Sài Gòn đang gặp khó khăn, Trung Quốc dùng hàng chục tàu chiến và một phi đội máy bay tiêm kích tiến công chiếm cụm đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa (còn gọi là Nguyệt Thiềm) do quân Nam Việt Nam đồn trú, bắt các binh sĩ quân đội Sài Gòn làm tù binh.

Nhớ lại đầu những năm 60, khi Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 khẳng định cách mạng miền Nam phải tiến lên bằng con đường bạo lực, cùng với sự ra đời của Đoàn vận tải Trường Sơn (559), Quân uỷ Trung ương đã tổ chức một bộ phận đặc biệt chi viện miền Nam bằng đường biển. Từ năm 1964 trở về trước, ta dùng các tàu nhỏ xuất phát từ Đồ Sơn dọc theo ven biển đi vào Nam.

Từ năm 1965, ta mở đường đi trong hải phận quốc tế, qua Hải Nam, Lôi Châu, Đông Hoàng Sa đến Song Tử Tây rồi qua Na Tu Na vào đến Cà Mau. Ta đã sử dụng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa làm nơi tạm dừng trên “đường mòn Hồ Chí Minh trên biển”, dựa vào chướng ngại thiên nhiên là các bãi san hô ngầm dưới nước.

Tuy gian nan, vất vả, nhưng kết quả vận chuyển vẫn khả quan. Tổng cộng đã đi được 169 chuyến, đến nơi 100 chuyến, 50 chuyến phải quay về, tổn thất 19 chuyến, vận chuyển được 5.677 tấn hàng, mất gần 700 tấn. Ta hy sinh 76 đồng chí, 51 đồng chí bị thương.

Cũng như đối với Đoàn Trường Sơn, công việc vận chuyển trên biển cho miền Nam chiến đấu được Bác Hồ đặc biệt quan tâm khích lệ. Nhớ mãi câu nói vui của Người khen ngợi chiến công độc đáo của thuyền trưởng Bông Văn Dĩa, người thuỷ thủ đi từ Nam ra Bắc bằng thuyền gỗ thô sơ: “Đi biển kiểu ấy thì xưa nay chỉ có Crixtốp Côlông và chú!”. Ôi, ký ức còn tươi rói về những ngày đầu gian khổ ấy. Trong khóe mắt long lanh ướt của Bác, tôi thấy cả miền Nam đau thương, anh dũng đang vẫy gọi, hậu phương đâu tiếc sức mình.

Sự kiện Trung Quốc tiến công quân nguỵ, đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa ở phía bắc ngày 20-1-1974, càng cho thấy tầm chiến lược của những mảnh đất xa xôi, chập chờn trên sóng gió Biển Đông. Nhãn quan chiến lược quân sự của Bộ thống soái tối cao, đã nhìn rõ vấn đề. Cần tổ chức giải phóng kịp thời phấn đất này.

Nếu chậm, để quân đội nước khác xâm chiếm nơi đây, tình hình sẽ rất phức tạp. Khó khăn lớn nhất là phải đánh chiếm các đảo với lực lượng hải quân nhỏ bé lúc bấy giờ. Trên mặt trận Biển Đông, hành động cũng phải “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”.

Ngày 2-4, tại Tổng hành dinh, sau khi nghe báo cáo về trận Đà Nẵng, tôi trực tiếp chỉ thị cho anh Lê Trọng Tấn: Ngoài nhiệm vụ truyền đạt mệnh lệnh cho Quân khu 5 và Bộ Tư lệnh Hải quân, tổ chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa. Vùng này có thể có tàu chiến của Hạm đội 7 và hải quân các nước khác hoạt động. Hải quân nguỵ cũng được trang bị các loại tàu lớn. Do đó, nghệ thuật tác chiến phải kiên quyết, táo bạo, đồng thời phải hết sức mưu trí, sáng tạo, bất ngờ. Các đơn vị có nhiệm vụ sẵn sàng, có thời cơ là đánh được ngay, bảo đảm chắc thắng. Đánh phải đúng lúc. Nếu có hiện tượng chúng rút, phải tranh thủ đánh chiếm ngay. Nếu tình hình chung địch bị nguy khốn, nhất là ở Sài Gòn, Bộ sẽ thông báo để kịp thời đánh chiếm. Nếu quân nước ngoài đã chiếm đảo thì ta kiên quyết chiếm lại. Nếu có khó khăn thì xin chỉ thị của Bộ.

Tôi cũng chỉ thị cho Bộ Tổng Tham mưu điều ngay Sở chỉ huy tiền phương của Bộ Tư lệnh Hải quân vào Đà Nẵng, vừa tiếp quản căn cứ hai quân của địch ở đây, vừa chuẩn bị sẵn sàng phát triển chiến đấu trên mặt biển.

Trước đó, ngày 30-3, Quân uỷ Trung ương điện cho các anh Võ Chí Công và Chu Huy Mân: “Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ giao cho Khu uỷ và Bộ Tư lệnh B1 (1), nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất đánh chiếm các đảo hiện do quân nguỵ miền Nam chiếm đóng thuộc quần đảo Nam Sa (2). Trong việc này, anh Nguyễn Bá Phát, phái viên của Bộ Tổng tham mưu và các cán bộ Hải quân cùng đi sẽ do Khu uỷ và Quân khu uỷ chỉ đạo để thực hiện kế hoạch”.

Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng vì vùng quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Theo thăm dò, triển vọng ở đây có dự trữ dầu lửa lớn. Với tầm nhìn chiến lược, có thể thấy biển và đại dương sẽ là nguồn tài nguyên chủ yếu của nhân loại kể từ thế kỷ XXI.

Chiều 4-4, Quân uỷ Trung ương điện tiếp cho Quân khu 5:

“Thực hiện kịp thời đánh chiếm các hòn đảo ở vùng Nam Hải, đặc biệt là các đảo Nam Sa. Việc này phải chuẩn bị gấp và bí mật, chỉ để cán bộ có trách nhiệm biết”.

Mệnh lệnh được thi hành tức khắc. Quân khu 5 cùng Bộ Tư lệnh Hải quân triển khai kế hoạch tác chiến. Các lực lượng của Quân khu 5 cùng một biên đội tàu và lực lượng đổ bộ của Hải quân được tổ chức lại gồm: Các tàu vận tải của Đoàn 125 vừa từ Hải Phòng vào tiếp quản Đà Nẵng; những con tàu không số này vốn từng quen với “đường mòn Hồ Chí Minh trên biển”, nhiều lần qua lại khu vực quần đảo Trường Sa nên đã quen nhận dạng, phân biệt các đảo, và cũng có kinh nghiệm tránh đá ngầm; Đội 1 Đoàn 126 đặc công là đơn vị có bề dày thành tích với cách đánh bí mật, bất ngờ, đã đánh chìm nhiều tàu địch ở chiến trường Cửa Việt. Chỉ huy trưởng là đồng chí Mai Năng.

Ngày 9-4, Cục Quân báo phát hiện địch rút quân khỏi các đảo ở biển Nam Hải. Quân uỷ Trung ương điện “tối khẩn” cho các anh Võ Chí Công, Chu Huy Mân, đồng điện cho anh Hoàng Hữu Thái, Phó tư lệnh Hải quân ở Đà Nẵng: “Có tin quân nguỵ chuấn bị rút khỏi đảo Nam Sa. Các anh cho kiểm tra lại ngay và chỉ thị cho lực lượng ta hành động kịp thời theo phương án đã định. Nếu để chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước, vì hiện nay một số nước ngoài đang có ý đồ xâm chiếm”.

Ngày 13-4, Quân khu 5 điện về Bộ Tổng Tham mưu báo cáo kế hoạch đánh chiếm các đảo. Tôi điện ngay cho anh Mân: “Các anh đã tích cực tổ chức thực hiện quyết định của Quân uỷ Trung ương về việc đánh chiếm các đảo. Ý kiến của tôi:

1. Việc đánh chiếm các đảo cần làm đúng thời cơ.

Nếu có thời cơ cụ thể mà không kịp đánh chiếm thì các nước ngoài có thể chiếm trước. Nếu địch chưa rút mà ta đã chiếm trước thì tình hình có thể trở nên phức tạp, vì lực lượng ta có hạn và việc tăng viện có gặp khó khăn.

2. Do đó, thời cơ cụ thể đánh chiếm là: a) Nếu địch đã rút toàn bộ hoặc rút đại bộ phận thì đánh chiếm ngay. Nếu quân nước ngoài đánh chiếm trước thì đánh chiếm lại, b) Nếu địch mới có triệu chứng rút hoặc bắt đầu rút thì theo dõi, kịp thời đánh chiếm khi địch rút đại bộ phận, c) Khi tình hình chung của địch nguy khốn, nhất là tình hình địch ở trọng điểm, thì đánh chiếm ngay.

Hai thời cơ cụ thể trên do anh theo dõi và quyết định.

Thời cơ cụ thể thứ ba, tôi sẽ kịp thời báo anh khi xuất hiện”.

Thời cơ đánh chiếm là như vậy, nhưng cách đánh chiếm thì sao, trong tình hình vũ khí, phương tiện của ta còn kém hơn địch cả về số lượng và trình độ hiện đại?

Nhớ lại dịp kỷ niệm 15 năm thành lập Hải quân nhân dân Việt Nam, phát biểu về chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông, biển, tôi đã nhấn mạnh việc đánh địch ở ven biển, ở biển gần và ở các quần đảo của Việt Nam cần được hết sức coi trọng, và căn dặn cán bộ, chiến sĩ cần vận dụng tư tưởng lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít thắng nhiều trong tác chiến của Hải quân. Biểu dương các “con tàu không số” và các đơn vị “đặc công nước”, tôi khái quát nghệ thuật đánh giặc của Hải quân ta là biết lấy số lượng trang bị ít hơn, kém hiện đại hơn địch mà vẫn đánh thắng được địch. Muốn vậy, phải tích cực, chủ động, kiên quyết, linh hoạt, mưu trí, sáng tạo, bí mật, bất ngờ.

Ngày hôm sau, một nguồn đáng tin cậy báo về: Có triệu chứng quân nguỵ chuẩn bị rút khỏi quần đảo Trường Sa.

Sau khi kiểm tra lại nguồn tin, tôi điện tiếp cho Quân khu 5: ” Thời cơ đánh các đảo thuộc khu vục Nam Sa lúc này rất thuận lợi. Chỉ đánh các đảo quân nguỵ miền Nam chiếm đóng. Các anh ra lệnh đánh chiếm ngay.

Theo dõi, đôn đốc kiểm tra chặt chẽ và thường xuyên báo cáo về Bộ”.

Nhận các chỉ thị, mệnh lệnh của Quân uỷ và Bổ Tổng tư lệnh, anh Hoàng Hữu Thái ra lệnh cho các tàu hải quân nguỵ trang giả dạng tàu đánh cá, xuất phát vào lúc trời chưa sáng.

Bằng phương tiện nhỏ và ít, đối mặt với tàu chiến lớn của địch và đại dương mênh mông, quân ta đánh theo kiểu của mình: bí mật tiếp cận, nhanh chóng đổ bộ, bất ngờ đánh chiếm mục tiêu. Đúng 4 giờ 30 phút sáng ngày 14-4, sau hơn 1 giờ tổ chức đổ bộ, ta nổ súng tiến công, nhanh chóng tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, giải phóng đảo Song Tử Tây, kéo lá cờ Tổ quốc lên đỉnh cột cờ trên đảo. Tiếp đó, ngày 25-4, quân ta tiến công đánh chiếm đảo Sơn Ca. Ngày 27-4, ta giải phóng đảo Nam Yết và đảo Sinh Tồn. Ngày 28-4, quân ta giải phóng đảo Trường Sa, đảo An Bang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong vòng nửa tháng với những cố gắng lớn nhất.

Ngay trong ngày 28-4, quân ta trên các đảo, trên các tàu chiến nhận được điện khen: “Quân uỷ Trung ương rất phấn khởi được tin quân ta đã chiếm các đảo thuộc Trường Sa. Nhiệt liệt khen ngợi các đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược”.

Sức mạnh tiến công và nổi dậy của chiến trường trọng điểm cùng với sự chi viện to lớn của hậu phương làm cho thế và lực của quân và dân ta lớn mạnh vượt bậc. Tuyến phòng ngự từ xa của địch đã bị phá vỡ. Một vùng biển rộng lớn giàu tài nguyên với những đảo và quần đáo có vị trí chiến lược hết sức quan trọng đã thuộc chủ quyền của Tổ quốc. Các cánh quân lớn dày dạn kinh nghiệm chiến đấu sẵn sàng đi vào trận tiến công hang ổ cuối cùng của địch.

Chú thích:

(1) tức Quân khu 5.
(2) Trung Quốc và chính quyền Sài Gòn gọi Trường Sa là Nam Sa.

TÁC GIẢ: Võ Nguyên Giáp
vnthuquan.net


Copy Sách Truyện từ Vnthuquan mà không ghi rõ nguồn và người đánh máy là hành động ăn cắp đáng xấu hổ!
Đánh máy : MoHaNoi – NguyenHoc
Nguồn: MoHaNoi
Người đăng: NHDT
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2006