Tag Archive | Xuân 75

Trận then chốt quyết định (kỳ 4)

Kỳ 4: Gạn lọc tình huống

Tôi xin nhắc lại, chúng tôi đã cố gắng để tạo khả năng đánh địch theo phương án thứ nhất nhưng trong thực tế phải chuẩn bị kế hoạch thật kỹ để chủ động đánh địch theo phương án thứ hai, phương án khó khăn nhất: Đánh địch có dự phòng. Tức là đánh với khả năng chúng có thể tăng cường thêm lực lượng phòng ngự cho Buôn Ma Thuột từ một, hai trung đoàn đến một sư đoàn. Trong phương án này, chúng tôi đã dự kiến hai cách đánh: Thứ nhất, điệu hổ ly sơn, tìm cách kéo địch ra, tốt nhất là ở tây cầu Sê-rê-pốc hoặc tây Cẩm Ga, Thuần Mẫn, dùng các sư đoàn của ta đánh một vài trận lớn, khiến lực lượng địch không còn đáng kể rồi nhanh chóng thọc thẳng vào thị xã. Những kinh nghiệm thú vị của lối đánh kéo địch ra trận địa bày sẵn này ở Đak toh năm 1967 và nhất là ở Sa Thầy năm 1966, vẫn còn đó. Nhưng hồi đó là với quân Mỹ, cái kiêu căng của lính Mỹ lúc mới vào cuộc có khác cái sợ đòn của lính ngụy vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh này. Do đó, chúng tôi đã tính tới cách đánh thứ hai trong trường hợp địch co cụm không chịu thoát ly công sự. Sẽ phải đột phá lần lượt trước khi vào đến tung thâm. Đây là cách đánh kinh điển đối với địch phòng ngự trong công sự vững chắc. Cách đánh này thực tế tuy khó nhưng kế hoạch hiệp đồng dễ, khác với cách đánh trên và cách đánh của phương án thứ nhất (địch không dự phòng) lại phức tạp ở chỗ phải nắm chắc mới dám điều động lực lượng. Ví dụ, muốn đánh theo phương án thứ nhất vào ngày 10 tháng 3 thì ngày 8 tháng 3 Sư đoàn 316 phải có mặt ở vị trí tập kết, ngày 5 tháng 3 phải bắt đầu hành quân chiếm lĩnh và trước đó, ngày 4 tháng 3, Tư lệnh chiến dịch phải hạ được quyết tâm rồi. Vấn đề không đơn giản, phải tạo thế ít nhất trước nổ súng 4, 5 ngày. Tại sao lại như vậy?

Máy bay lên thẳng của Mỹ, ngụy bỏ lại tại căn cứ Buôn Ma Thuột.

Xin nói rõ. Chúng ta muốn đánh địch theo phương án thứ nhất, nhưng hẳn là địch không muốn thế, nếu chúng nắm được ý đồ của ta. Mưu kế là làm sao khi thế trận đã được xác lập rồi, địch chỉ có thể cựa quậy được trong phạm vi thế trận bày sẵn mà thôi. Và bởi vì là sản phẩm của tư duy, thế trận cũng vận động theo yêu cầu chủ quan và thực tế khách quan, tức là vận động theo tình huống. Tình huống liên quan trực tiếp đến tạo thế (lập thế) hay nói cách khác, là nguyên nhân (mà cũng là kết quả) của tạo thế (lập thế). Nó đi từ việc dự kiến, gạn lọc đến tạo lập tình huống theo ý muốn của mình. Bộ tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên đã phải dự kiến rất nhiều tình huống mà dự kiến chính xác là một công việc thật không phải dễ. Chúng tôi quan tâm nhất đến tình huống địch tăng cường lực lượng. Quy luật phát triển tình hình trong chiến đấu (chiến dịch) cho chúng ta một nhận thức là địch luôn luôn phải tăng cường lực lượng cho các mục tiêu bị ta tấn công. Lực lượng này thường lấy ở đâu? Thông thường là biệt động quân dự bị quân khu và các sư đoàn chủ lực quân khu. Sau nữa là lực lượng tổng dự bị chiến lược: Lính dù và thủy quân lục chiến. Bí quá thì huy động lực lượng của các chiến trường (quân khu) kế cận. Ở đây, một cách khách quan, chúng tôi nhìn thấy khó có khả năng địch tăng cường lực lượng tổng dự bị cho Buôn Ma Thuột vì lực lượng này đang bị kìm chân, lính dù ở Thượng Đức, thủy quân lục chiến ở Trị Thiên (cùng lắm là chúng chỉ có thể dứt ra 1, 2 lữ đoàn). Tuy vậy, để loại trừ, chúng tôi đã đề nghị Bộ Tổng tham mưu cho các chiến trường trên phối hợp mạnh để giữ chân bọn này. Còn lại khả năng rõ nhất là địch sẽ tăng cường cho khu vực này bằng chính các lực lượng của Quân khu II, Sư đoàn 22 từ đồng bằng lên, Sư đoàn 23 từ Plei-cu xuống. Thêm vào đó là một vài liên đoàn biệt động quân. Như thế, dự kiến lực lượng được điều động ở mức cao nhất cho Buôn Ma Thuột là khoảng hai sư đoàn. Với lực lượng này, chúng tôi không ngại phải đối phó khi Buôn Ma Thuột đã giải quyết xong, nghĩa là chúng ta đã rảnh tay. Chỉ e rằng chúng tăng cường để phòng ngự dự phòng trước khi ta nổ súng hoặc đến trong lúc trận đánh còn đang tiếp diễn thì sẽ gây nhiều khó khăn cho ta. Bởi vậy phải dự kiến các tình huống có thể để tìm cách đối phó.

Chúng tôi dự kiến và thấy có khả năng loại trừ tình huống địch tăng cường lực lượng bằng máy bay có cánh cố định vì các sân bay xung quanh Buôn Ma Thuột ta đã khống chế bằng nhiều cách trong kế hoạch tác chiến. Địch có thể xuống Plei-cu, nhưng sân bay này không thể hạ cánh được C5A mà chỉ với loại máy bay vận tải quân sự này-có trong biên chế của ngụy- mới mang theo được xe tăng. Chưa nói đến Plei-cu lại không phải là Buôn Ma Thuột!

Chúng tôi cũng dự kiến và loại trừ luôn cả tình huống địch tăng cường bằng đường bộ, bằng cách đưa vào phương án tác chiến việc cắt đứt các đường quốc lộ số 19, 21 và 14. Địch nhạy cảm vô cùng với hai con đường huyết mạch 19 và 21 nối liền Tây Nguyên với đồng bằng, nhất là con đường 19-nguồn sống của Tây Nguyên. Chúng sẽ phải trả bằng mọi giá để giải tỏa con đường này. Lực lượng đưa đến có thể từ 1 đến 2 sư đoàn. Do đó, để bảo đảm cắt đường một cách chắc chắn, ngoài Trung đoàn 95-một đơn vị thiện chiến về đánh giao thông-đã có sẵn ở đây từ cuối năm 1973, chúng tôi đã đề nghị Bộ Tham mưu và Quân khu V cho Sư đoàn 3 đến tham gia. Việc này, chúng tôi cũng đã có bàn trước với Thượng tướng Chu Huy Mân. Yêu cầu được chấp thuận. Chỉ còn vấn đề: Sư đoàn 3 lúc ấy đang đương đầu với Sư đoàn 22 ngụy ở vùng Bồng Sơn, Tam Quan, chống phá kế hoạch bình định của chúng. Ta rút đi, địch sẽ có cơ lấn tới? Không, chúng tôi đã tính là nếu đường 19 bị cắt thì một chứ có đến hai Sư đoàn 22 địch cũng phải tung ra mà giải tỏa và như thế là khu vực Bồng Sơn, Tam Quan sẽ nhẹ gánh hơn (thực tế sau này đã đúng như vậy). Như vậy là sẽ có 4 trung đoàn làm nhiệm vụ cắt giữ đường 19. Năm 1972, chúng ta dùng một lực lượng ít hơn cắt đường 13 (Đông Nam Bộ) và một lực lượng còn ít hơn nữa cắt đường 14 (Tây Nguyên) mà hàng mấy tháng trời địch không qua nổi. Ở đây ta lại chỉ yêu cầu giữ được một thời gian ngắn hơn nhiều. Ở đường 14, nhiệm vụ cắt giữ đường được giao cho Sư đoàn 320 (sư đoàn này còn một nhiệm vụ khác nữa), và ở đường 21 ít quan trọng hơn, Trung đoàn 25… Việc cắt đường cũng loại trừ một tình huống thứ ba nữa là địch rút chạy một cách tự do.

Như thế chỉ còn lại tình huống-hay nói cách khác ta buộc địch phải chấp nhận tình huống tăng cường bằng đổ bộ trực thăng, một tình huống không hấp dẫn lắm đối với địch ở một khía cạnh nào đó nếu không kết hợp được với đường bộ; ít nhất cũng là vì rất dễ làm mồi cho ta và khả năng cơ động tăng, pháo càng hạn chế. Việc phán đoán các khu vực đổ bộ trực thăng không khó và Bộ tư lệnh chiến dịch đã dự kiến sử dụng Sư đoàn 10-ngay sau khi đánh xong Đức Lập-đối phó với tình huống này.

Chưa hết. Bằng cách loại trừ các tình huống trên, chúng tôi đã tạo nên tình huống mới: Địch bị cô lập hoàn toàn. Tây Nguyên cô lập chiến lược với đồng bằng. Buôn Ma Thuột cô lập chiến dịch với cụm binh lực chủ yếu Plei-cu, Kon Tum. Địch bị chia cắt mà ta thì hoàn toàn được tự do, được chủ động, đồng thời triển khai vững chắc các lực lượng khác ở những vị trí cơ động. Vào lúc ấy tức là một thế trận theo ý muốn của ta đã được xác lập và tôi xin trở lại cái ý ban đầu là vấn đề không phải đơn giản là như vậy.

Cuối cùng, tôi muốn nói rằng, nghệ thuật chỉ huy, nói cho đúng, không phải chỉ bắt đầu từ việc tổ chức các đòn tiến công và cũng không phải kết thúc ở đấy. Bản chất của nghệ thuật khó khăn này là mưu kế. Nó được diễn ra trong suốt quá trình chuẩn bị và không dừng lại khi đã giành được thắng lợi (hoặc thất bại), đứng về ý nghĩa đơn thuần một trận đánh (hoặc một chiến dịch). Và bộ phận cấu thành quan trọng nhất của mưu kế là điều mà tôi muốn nhấn mạnh, là chỉ đạo tình huống. Nó gồm: Sự phán đoán (dự kiến), sự loại trừ (gạn lọc) và sự tạo lập những tình huống theo ý định của người chỉ huy. Nó là điều mà chúng ta vẫn quen gọi là đánh (hoặc chỉ huy) có bài bản. Và ý nghĩa triết học của nó được thể hiện trong mối quan hệ biện chứng này: Mưu kế càng sâu, thế trận càng phức tạp thì tình huống diễn ra càng giản đơn và chỉ huy càng chủ động. Lịch sử chiến tranh với những trận đánh hay (và dở) đã chứng tỏ điều đó.

Theo dự kiến của Bộ tư lệnh chiến dịch ngày 4 tháng 3 là mốc để bắt đầu tạo thế chiến dịch. Nhưng thực ra những tình huống được xử trí để dẫn tới thế trận xác lập đã được thực hiện từ cuối tháng 2 nếu không muốn nói là trước đó nữa. Không khó gì mà không nhớ lại sự kiện là Trung đoàn 45-trung đoàn mạnh nhất của Sư đoàn 23-từ những ngày cuối tháng 2 đã tích cực tìm dấu vết của ta ở Thuần Mẫn. Chúng tôi đã đôn đốc Sư đoàn 968 và một loạt những trận đánh của sư đoàn này bắt đầu từ 28 tháng 2 đã buộc trung đoàn ngụy 45, ngày 2 tháng 3, phải rút về Plei-cu để đối phó.

Ngày 4 tháng 3, theo trách nhiệm đã hiệp đồng, các đơn vị lần lượt tiến ra cắt đứt giao thông địch trên các đường 19, 21 và 14, chia cắt chiến lược và chiến dịch. Tiếp theo, ngày 8 ta chiếm quận lỵ Thuần Mẫn ở phía Bắc và ngày 9 tiến công quận lỵ Đức Lập ở phía Nam Buôn Ma Thuột. Cũng trong thời gian đó, trên tất cả các hướng tiến công Buôn Ma Thuột bộ đội ta đã vào vị trí tập kết cuối cùng. Thế trận bày xong.

Suốt cả ngày 9 tháng 3, chúng tôi luôn có mặt ở Sở chỉ huy, theo dõi các động thái của địch và nhất là các hành động của bộ đội ta.

Một mặt, các hành động ấy là cuộc tiến công của Sư đoàn 10 vào Đức Lập, một cuộc tiến công theo kế hoạch sẽ diễn ra nhanh gọn (chúng tôi rất tin khả năng của sư đoàn này) nhưng đã phải chậm lại vì vấp hỏa lực bất ngờ của những xe tăng địch đặt âm dưới mặt đất. Mặc dù trận đánh ở đó vẫn còn đang tiếp diễn, chúng tôi vẫn quyết định điều lực lượng cao xạ ở hướng này về Buôn Ma Thuột để làm nhiệm vụ phòng không cho trận đánh then chốt ngày mai. Ngày mai, nếu Sư đoàn 10 vẫn chưa giải quyết xong Đức Lập thì đương nhiên máy bay địch cũng sẽ tập trung hết về Buôn Ma Thuột, đó là điều thấy trước được.

Mặt khác, các hành động ấy là những bước chuẩn bị cuối cùng của các đơn vị sẽ tiến công thị xã Buôn Ma Thuột. Vào lúc 14 giờ, trực ban tác chiến báo cáo với Bộ tư lệnh về kết quả chuẩn bị của từng đơn vị. Tiểu đoàn 4 trên hướng thọc sâu phía Tây, xong. Trung đoàn 95B trên hướng Đông Bắc, xong. Trung đoàn 149 trên hướng Đông Nam, xong. Trung đoàn 148 trên hướng Tây Bắc, xong. Trung đoàn 174 trên hướng Tây Nam, xong. Xe tăng, pháo binh, cao xạ, xong. Đặc công, xong. Các đơn vị bảo đảm, xong. Dự bị, xong.

Đồng chí trực ban tác chiến vừa báo cáo vừa nhìn tôi từ bên phải như có ý dò hỏi, hay sợ tôi nghe không rõ? Không, tôi vẫn chú ý nghe đồng chí đấy chứ, và tôi biết rằng mọi việc tất nhiên phải như thế, đồng chí hiểu không? Xoay người lại, tôi nói:

– Đồng chí trực ban, đồng chí cho kiểm tra lại phương tiện thông tin đi các hướng. Nhắc giữ nghiêm chế độ liên lạc theo giờ. Và yêu cầu cơ yếu sẵn sàng mã dịch ngay bức điện cho Sư đoàn 316. Hỏi xem phiên liên lạc cuối cùng với sư đoàn là mấy giờ?

Tôi muốn nói phiên liên lạc cuối cùng bằng máy vô tuyến điện 15W trước khi đơn vị này bước vào triển khai chiếm lĩnh. Đúng, chúng tôi đã dành cho Sư đoàn 316 mối quan tâm đặc biệt. Đương nhiên vì nó là đơn vị được giao nhiệm vụ đánh trận mở đầu chiến dịch, lại là trận mở đầu có ý nghĩa then chốt. Hơn nữa, nó còn những nguyên nhân sâu xa để chúng tôi càng phải quan tâm. Sư đoàn 316 là một trong những sư đoàn được thành lập sớm của quân đội ta. Không còn nghi ngờ là nó đã lập được nhiều chiến công vẻ vang qua hai cuộc kháng chiến và hiện nay nằm dưới sự chỉ huy của một Anh hùng LLVT nhân dân, Đại tá Đàm Văn Ngụy. Tên tuổi của nó gắn liền với núi rừng Tây Bắc, Việt Bắc và Thượng Lào. Nhưng đây là lần đầu tiên nó đương đầu với một đối tượng khác hẳn trên chiến trường mới lạ. Đó là điều khiến chúng tôi băn khoăn. Phải thừa nhận rằng lúc đầu cũng đã có ý định để Sư đoàn 316 đánh Đức Lập – một mục tiêu ít khó khăn hơn, và chuyển Sư đoàn 10, một sư đoàn thiện chiến trên chiến trường Tây Nguyên đánh trận then chốt Buôn Ma Thuột. Nhưng bởi vì Sư đoàn 316 được bổ sung cho chiến trường hơi muộn trong khi Sư đoàn 10 đã hoàn thành nhiệm vụ trinh sát vị trí Đức Lập nên sự thay đổi này sẽ khiến ngày mở màn chiến dịch phải lùi sâu hơn nữa. Điều đó không được. Chúng tôi hạ quyết tâm để Sư đoàn 316 đánh Buôn Ma Thuột và tự thấy trách nhiệm phải quan tâm đến đơn vị này nhiều hơn. Sau khi có phương án tác chiến, tôi và Đại tá Nguyễn Năng cùng với Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền ở Cơ quan đại diện Bộ Tổng tư lệnh đã trực tiếp xuống theo dõi và giao nhiệm vụ hiệp đồng cho Sư đoàn 316 trên sa bàn ở khu huấn luyện Đắc Đam. Với một tinh thần hăng hái và nhạy bén “nghề nghiệp”, vượt qua nhiều khó khăn, Sư đoàn 316 đã khiến chúng tôi hoàn toàn tin tưởng. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn phải dành sự quan tâm theo dõi nhiều nhất đến sư đoàn này, đặc biệt là Trung đoàn 149.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Tiến sĩ Vũ Cao Phan (ghi)
qdnd.vn

Trận then chốt quyết định (kỳ 3)
Trận then chốt quyết định (kỳ 2)
Trận then chốt quyết định (kỳ 1)

Kỳ 5: Thời khắc của lịch sử

Trận then chốt quyết định (kỳ 3)

Kỳ 3: Bày trận

Việc bảo đảm để các đơn vị hành quân an toàn về đúng vị trí tập kết là tiền đề để thực hiện một mưu kế rất quan trọng nếu không muốn nói là quan trọng nhất của chiến dịch này: Lập thế. Xác lập được một thế trận tốt là tạo nên được một chiều sâu cả về không gian lẫn thời gian cho chiến dịch, nói khác đi là lắp sẵn các ý đồ của ta để tạo nên chiều sâu chiến dịch ấy. Chúng tôi dự kiến sẽ tạo nên một thế trận kìm địch, vây địch, cắt địch để đi tới tiêu diệt chúng. Nhưng một tiền đề nữa cũng rất cần thiết cho việc lập thế chiến dịch mà chúng tôi đã tính đến hay nói cách khác nó cũng còn là một mưu kế nữa là việc nghi binh lừa địch để giành thế bất ngờ. Chúng ta đã thực hiện việc này hoàn hảo đến mức sau này, một viên đại tá thất trận của quân đội Sài Gòn bị bắt ở Buôn Ma Thuột phải thốt lên: “Thật là một trò ảo thuật!”.

Trong một cuốn sách có tiêu đề Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng, tôi đã có dịp trình bày về ý nghĩa các sự lựa chọn để dẫn tới Nam Tây Nguyên chứ không phải nơi nào khác, Buôn Ma Thuột chứ không phải nơi nào khác cho mùa Xuân năm 1975. Ở đây tôi chỉ muốn nhắc lại một điều: Bắc Tây Nguyên luôn luôn là nơi đối đầu, là nơi tập trung lực lượng mạnh của cả ta và địch. Mùa này quân giải phóng sẽ đánh ở đâu trên chiến trường cao nguyên? Nhắm mắt lại, khỏi cần suy nghĩ, kẻ địch sẽ đặt cuộc 10 ăn một: Phía bắc. Chí ít thì cũng Kon Tum, chí ít cũng là Plei-cu, nếu không muốn nói cả hai. Còn Buôn Ma Thuột? – Không đâu, Việt cộng không có lực lượng. Họ có thể đưa lực lượng đến? – Mạo hiểm, và để làm gì chứ? Tại sao lại không là Kon Tum, nơi mà sự hiểu biết sơ sài về địa lý quân sự cũng thấy cần phải giành lấy, hơn nữa để thanh toán “món nợ” 1972? Tại sao lại không là Plei-cu, căn cứ đầu não quân khu II, nơi khống chế huyết quản đường 19 (mà “làm chủ đường 19 là làm chủ Tây Nguyên”)?

Sở chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên sau khi Buôn Ma Thuột được giải phóng. Ảnh tư liệu.

Từ đầu chí cuối, cả tư lệnh lớn Nguyễn Văn Thiệu lẫn tư lệnh vừa Phạm Văn Phú đều một mực khẳng định Kon Tum – Plei-cu. Nếu có nơi nào khác ở phía nam thì chỉ là những thị xã, thị trấn nhỏ không đáng kể lắm như Gia Nghĩa, Đức Lập nhằm mục đích thông đường. Được lắm, chúng ta sẽ cho điều khẳng định ấy của kẻ địch những bằng chứng mà nó muốn. Bộ tư lệnh Tây Nguyên đã làm tất cả những gì có thể làm được để buộc địch phải tăng cường lực lượng hơn nữa lên hướng bắc rồi kìm giữ chúng ở đây. Có thể nói chúng ta đã thực hiện cả một chiến dịch nghi binh từ tung tin thất thiệt, tạo những cơ sở giả đến việc tiến hành công tác thiết bị chiến trường, điều động lực lượng úp úp mở mở. Thậm chí, vào thời kỳ cuối của giai đoạn chuẩn bị, khi địch đã nắm được một vài bằng chứng thật về ý đồ của ta ở Nam Tây Nguyên, ở Buôn Ma Thuột thì ta lại tìm cách vô hiệu hóa để khiến chúng tin rằng đấy chỉ là động tác giả. Nhưng những “động tác giả” lừa địch có hiệu quả nhất lại chính là những hành động tác chiến thật. Chúng ta đã sử dụng một số đơn vị và thậm chí cả một sư đoàn – Sư đoàn 968 để làm việc này. Tôi xin nói ngay là sư đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ này một cách xuất sắc. Một, từ hạ Lào sang tập kết trên hướng đường 19 kéo dài Tây Plei-cu, sư đoàn đã chứng tỏ cho địch thấy một sự tăng cường lực lượng về phía Plei-cu. Động tác này khá đến nỗi có lúc địch cho rằng thậm chí ta đã tăng cường đến hai sư đoàn chứ không phải một. Chúng vội vã thông báo cho nhau. Hai, khi Sư đoàn 10 chuyển vào phía Nam, một số đơn vị thuộc Sư đoàn 968 được lệnh nghi binh để địch tin rằng sư đoàn này vẫn ở Kon Tum. Các đồng chí đã “chơi trò điện tử” bằng hệ thống thông tin, đến nỗi sau này tên tướng Mỹ Tim-mét, cố vấn trực tiếp của Nguyễn Văn Thiệu phải kêu lên: “Bằng biện pháp nghi binh qua làn sóng điện, Việt cộng đã thành công trong kế hoạch giam chân bộ phận chủ yếu của Quân khu II ở Kon Tum và Plei-cu”. Ba, Sư đoàn 968 đã thực hiện một loạt những trận đánh có bài bản theo kiểu “đột phá lần lượt trước khi tấn công vào mục tiêu chính”. Cách triển khai như là có nhiều sư đoàn sắp đánh vào Plei-cu. Địch hoang mang, khẳng định, rồi hoang mang, khẳng định. Cho đến tận ngày 9 tháng 3, một ngày trước khi ta đánh vào Buôn Ma Thuột, khi các cỡ súng của Sư đoàn 10 đang nổ vào Đức Lập và Sư đoàn 320 đã làm chủ Thuần Mẫn, cái thành phố lớn nhất cao nguyên đã ở trong tình thế cô lập hoàn toàn mà viên tướng Tư lệnh Quân đoàn II – Quân khu II từ Nha Trang bay lên vẫn ở trong một tâm trạng như thế. Đáng “buồn” nhất là cho đến phút ấy y vẫn khẳng định Plei-cu, mặc dù các dấu hiệu về Buôn Ma Thuột đã khá rõ. Các biện pháp đối phó của y chỉ là xác nhận Đại tá Vũ Thế Quang là Tư lệnh lãnh thổ Nam Tây Nguyên (bao gồm Đắc Lắc, Quảng Đức) và hứa (hứa thôi!) sẽ cho Liên đoàn biệt động quân số 21 và một thiết đoàn về cùng với Trung đoàn bộ binh 53 nống ra vòng ngoài ngăn chặn quân giải phóng. Và để cho hết trách nhiệm tư lệnh quân khu, Phú thêm:

– Tổng thống có nói rằng, nơi nào bị đánh thì gắng mà giữ lấy 3 tháng. Ba tháng thôi, vì hiệp định Ba Lê sẽ họp lại, cố giữ mà mặc cả(!), ông Quang?

Xong xuôi, Phú lại bay về Nha Trang (chứ không về nhiệm sở Plei-cu) vì ngày đó nóng bức “phải tắm một cú cho đã” (1).

Bộ tư lệnh chiến dịch đã rất quan tâm và trực tiếp chỉ huy các hành động chiến đấu nghi binh. Chúng tôi coi nó sẽ tạo nên bất ngờ đối với địch, mà bất ngờ là bảo đảm của thắng lợi. Tôi có thể dẫn ra đây bức điện mà Bộ chỉ huy Chiến dịch gửi cho sư đoàn trưởng Thanh Sơn ngày 2 tháng 3, sau khi Sư đoàn 968 đã tiêu diệt các vị trí Đồn Tầm, điểm cao 535:

“…

1- Tổ chức ngay việc vây, diệt 605, uy hiếp quận lỵ Thanh An.

2- Dùng hỏa lực đánh vào Chư Kara kết hợp bộ binh bao vây buộc địch đối phó.

3- Đưa lực lượng ta chiếm giữ ngay dãy Chư Gôi, tổ chức thành trận địa mới trên đông sông Ia Puk.

Trên tuyến đường 5A, 5B:

1- Tích cực bám đánh liên đoàn 4, không cho chúng rút khỏi Chư Sang.

2 -Tiếp tục hoạt động nhỏ trên đường 5B, giam chân Trung đoàn 44 tại đó. Tóm lại: Sư đoàn phải giam chân chủ lực địch trên hướng Plei-cu – Kon Tum và cố gắng thu hút thêm để tạo thuận lợi cho hướng chính….”(2)

Để giành lấy yếu tố bất ngờ, đi liền với các hành động nghi binh lừa địch là việc bảo đảm tuyệt đối giữ bí mật. Rất nhiều biện pháp đã được áp dụng một cách tỉ mỉ để thực hiện điều đó. Chỉ một việc nhỏ là luồn dây điện thoại qua đường cái về sở chỉ huy (liên lạc bằng vô tuyến điện sóng cực ngắn đã được cấm hoàn toàn cho đến khi nổ súng) chúng tôi cũng phải bàn rất kỹ. Và phải mất tới ba ngày thảo luận mới đi đến một giải pháp tối ưu về vấn đề hiệp đồng – một vấn đề rất phức tạp nhưng không khó hiểu. Đó là vì chiến dịch này đã được tiến hành với mức độ hiệp đồng binh chủng rất cao. Các binh chủng kỹ thuật đều đưa vào chiến đấu ở cỡ binh đoàn, nhất là sự xuất hiện lần đầu tiên một trung đoàn xe tăng. Trên tất cả các hướng tấn công ở trận mở đầu then chốt – trận Buôn Ma Thuột – đều có một khối lượng quan trọng các đơn vị pháo binh, pháo cao xạ đi cùng bộ binh. Bốn trên năm hướng có xe tăng. Đặc công đánh độc lập một hướng nhưng cũng hiệp đồng với từng hướng. Nhưng ở đây tôi đang đề cập tới vấn đề giữ bí mật bất ngờ nên chỉ muốn nói về động tác hiệp đồng chiếm lĩnh tuyến xuất phát tiến công làm sao để địch biết được ý định của ta càng muộn càng tốt.

Có thể giải thích vắn tắt như sau: Để khỏi bị lộ, chúng ta buộc phải tạm ngừng việc làm đường (bao gồm cả các bến phà vượt sông) từ các vị trí tạm dừng cuối cùng đến tuyến xuất phát tấn công – khoảng cách này trung bình là 25 đến 30 ki-lô-mét, có nơi đến 40 ki-lô-mét, tổng cộng là hàng trăm ki-lô-mét và hai bến phà phải thi công xong trước giờ nổ súng. Đã huy động vào việc này hai trung đoàn công binh làm đường và cầu phà. Các đồng chí công binh bảo đảm rằng, công việc có thể hoàn thành trong khoảng 4, 5 tiếng đồng hồ bằng các phương pháp khẩn cấp. Chúng tôi dự định (và thực tế đã như vậy) công binh sẽ tác nghiệp vào thời điểm bộ đội bắt đầu tiến lên từ tuyến tạm dừng cuối cùng. Mở đến đâu, tiến đến đó. Vấn đề là phải tính toán làm sao để từ các cự ly khác nhau – trong vài tiếng đồng hồ – bộ binh, xe tăng, pháo binh và các thành phần khác có thể vượt sông Sê-rê-pok (một con sông rộng 200 mét, lưu tốc lớn và… có cả cá sấu) trước 5 giờ sáng đến các vị trí xuất phát tiến công. Đã tính tới khả năng (có đơn vị) sẽ phải tác chiến trong hành tiến. Nhưng điều mà tôi muốn nói là ở chỗ này: Ta mở đường khẩn cấp bằng bộc phá, tiếng nổ của nó cộng với tiếng máy ầm ầm của tăng, pháo khi vận động sẽ khác nào “lạy ông tôi ở bụi này”, giữ được bất ngờ chiến dịch rồi lại để mất bất ngờ chiến đấu. Thế là đi tới quyết định sẽ dùng đặc công và pháo mang vác (Rốc-két, DKB, H12) tiến công các mục tiêu địch vào thời gian công binh tác nghiệp mở đường, từ 2 giờ sáng ngày 10-3. Đây là hành động “một công đôi việc”: Một, yểm hộ cho bộ đội cơ động và dọn bớt các mục tiêu râu ria để tạo bàn đạp. Hai,… như các Đại tá ngụy Vũ Thế Quang, Nguyễn Trọng Luật sau này đã khai: “Vâng, đến lúc đó chúng tôi vẫn khẳng định rằng, đây chỉ là các hoạt động bình thường của đặc công và pháo binh các ông, đến sáng rồi sẽ chấm dứt…”. Tôi có thể lấy một ví dụ nữa. Gần sát những ngày nổ súng, do có những dấu hiệu nghi ngờ, địch cho nống càn lên phía bắc, nơi có bộ đội Sư đoàn 320 đang trú chân và chuẩn bị thiết bị trận địa. Địch càn đến đâu, các chiến sĩ của chúng ta phải lui vào đến đó và phải xóa hết dấu vết những gì đã làm được. Chúng chỉ rút khoảng 40 tiếng đồng hồ trước khi ta nổ súng và các chiến sĩ Sư đoàn 320 lúc ấy mới lại có điều kiện hối hả lao vào các công tác chuẩn bị. Không phát hiện được gì, địch yên tâm và chúng ta lại thêm một lần thắng địch.

Tôi đã nói khá nhiều nhưng cảm thấy vẫn chưa được thỏa đáng về các vấn đề nghi binh lừa địch, giữ bí mật giành yếu tố bất ngờ, một trong các mặt công tác tiến hành có hiệu quả nhất. Những gì là căng thẳng nhất, phải dồn tâm trí nhiều nhất trong giai đoạn trước ngày nổ súng là những vấn đề này. Tôi còn nhớ chiều ngày 5 tháng 3, khi ngày N đã ở ngay trước mặt, rất nhiều tin tức đưa đến chứng tỏ địch có khả năng nắm được các ý đồ của ta đã khiến cả sở chỉ huy chúng tôi như lặng đi. Thiếu tướng Vũ Lăng nói: “Thật là những tin tức có thể làm rụng tim được”. Và chúng tôi đã gửi ngay một bức điện cho các đơn vị nhấn mạnh phải kiên trì giữ bí mật đến cùng. “Phải kiên trì giữ bí mật đến cùng” thà nhận những khó khăn để đánh địch chưa dự phòng còn hơn gấp nhiều lần đánh địch đã sẵn sàng ứng phó”.

Tất cả những công việc trên (mà tôi vừa nhắc đến) là nhằm để hướng đến khả năng được đánh địch theo phương án tác chiến thứ nhất: Phương án địch không dự phòng. Tôi cần nói thêm là ngay sau Tết, chúng tôi đã chỉ định một bộ phận các cán bộ tham mưu bám sát phương án này, do Thượng tá Nguyễn Thế Nguyên, người đã tham gia biên soạn tài liệu đánh địch trong thành phố của Bộ Tổng tham mưu, Phó tham mưu trưởng chiến dịch phụ trách. Trong quá trình chuẩn bị, phương án đã được hoàn chỉnh dần bởi kinh nghiệm Phước Long do các đồng chí Nam Bộ ra phổ biến, bởi thực tiễn nắm địch và địa hình của bộ phận trinh sát do Thiếu tướng Vũ Lăng và Đại tá Nguyễn Năng, các phó tư lệnh chiến dịch dẫn đầu, bởi những ý kiến bổ sung của các đồng chí trong Bộ Tư lệnh mặt trận và nhất là những ý kiến của cơ quan đại diện Bộ Tổng tư lệnh – Tổng tham mưu và cá nhân đồng chí đại diện chiến lược, Đại tướng Văn Tiến Dũng. Đại tướng đã chỉ thị những điều bổ sung cụ thể, sâu sắc, và chính xác cho quyết tâm chiến dịch.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Tiến sĩ Vũ Cao Phan (ghi)
qdnd.vn

Trận then chốt quyết định (kỳ 2)
Trận then chốt quyết định (kỳ 1)

Kỳ 4: Gạn lọc tình huống

(1) Biên bản lời khai của các sĩ quan ngụy – lưu trữ V.C.P
(2) Điện gửi Sư đoàn 968 ngày 2-3-1975 – lưu trữ Sư đoàn 968 và Quân đoàn 3.

Trận then chốt quyết định (kỳ 1)

Kỳ 1: Tại sao Buôn Ma Thuột?

LTS: Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta mùa Xuân 1975, chiến dịch Tây Nguyên với trận mở đầu then chốt giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột đã khiến cho địch hoang mang, rối loạn, tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh. Từ đó quân và dân ta thần tốc xốc tới quét sạch bè lũ Mỹ-ngụy, giải phóng hoàn toàn miền Nam, giành thắng lợi trọn vẹn.

Để ôn lại những ngày lịch sử hào hùng mở đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, chúng tôi trân trọng giới thiệu vệt bài do Tiến sĩ Vũ Cao Phan ghi theo lời thuật của Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo, nguyên Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên. Đây cũng là việc làm mang ý nghĩa thắp nén hương tưởng nhớ nhà chỉ huy quân sự kiệt xuất – Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo – người vĩnh biệt chúng ta cách đây vừa tròn 18 tháng. Loạt bài này từng được công bố nhưng đã được Thượng tướng Hoàng Minh Thảo xem lại, bổ sung, hoàn chỉnh trước lúc đi xa.

Tôi từ Tây Nguyên về công tác ở Quân khu V chưa được bao thời gian để làm quen với mọi việc thì cuối tháng tám, khi tiếng súng vẫn đang nổ giòn giã từ Thượng Đức đến Quế Sơn, có điện triệu tập tôi ra Hà Nội. Lại lên đường.

Tôi đến Thủ đô vào một ngày nắng dịu. Phố xá tràn cờ hoa và người xe trong không khí ngày hội. Mồng 2 tháng 9. Bất giác, ký ức và những sự liên tưởng dâng trào, xáo trộn khiến tôi không thể hình dung được ngay là mình đang xúc động bởi những gì. Tám năm tròn. Đúng rồi, đúng ngày này cách đây 8 năm, tôi đã rời Hà Nội vào chiến trường. Bao nhiêu trận đánh, bao nhiêu nẻo đường, bao nhiêu đồng chí, bao nhiêu chiến thắng và hy sinh… Chỉ biết rằng chúng ta đang tới gần… Tự nhiên cứ vang ngân mãi trong lòng tôi một giai điệu hành khúc từ những xúc cảm dạt dào.

Quân giải phóng tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột.

Ở Hà Nội, tôi còn đang hiệu chỉnh lại các tài liệu để chuẩn bị báo cáo thì nhận được lời mời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến gia đình dự cơm thân mật. Những dịp như vậy chúng tôi vẫn quan niệm như một lần làm việc sơ bộ. Quả nhiên, khi chỉ còn hai chúng tôi, Đại tướng đã cho biết ý định của Bộ chính trị và Bộ tổng tư lệnh – Tổng tham mưu mở một chiến dịch lớn ở Nam Tây Nguyên vào mùa Xuân 1975. Rồi hỏi tôi:

– Ý kiến của các anh?

*

* *

Ý kiến của chúng tôi? Một chiến dịch cho Nam Tây Nguyên!

Đúng là do nhiều yếu tố rất dễ giải thích, các chiến dịch của mặt trận Tây Nguyên đã thường được tổ chức ở phía bắc. Sáu trên bảy đợt hoạt động quân sự có tính chất chiến dịch cho đến trước hiệp định Pa-ri đã diễn ra ở đây. Nhưng cũng có một chiến dịch cho Nam Tây Nguyên, chiến dịch Bu Prăng – Đức Lập vào thời kỳ khó khăn 1969, nhưng đã không thực hiện được. Một chiến dịch ở Nam Tây Nguyên? Xét về mặt địa lý quân sự, đó là một địa bàn có nhiều điều kiện thuận lợi cho đánh tiêu diệt lớn sinh lực địch, nhất là vùng chung quanh Buôn Ma Thuột. Và cũng về mặt ấy, với ý nghĩa chiến lược, đó là vùng tiếp giáp giữa Tây Nguyên và Nam Bộ – giữa mặt trận B3 và B2 – đã luôn luôn là khâu trọng yếu cho việc bảo đảm hậu cần chiến lược. Nhưng khâu trọng yếu ấy vẫn đang còn là một khâu yếu, B2 không với ra, B3 chưa vươn tới. Cái nguyên nhân khiến cho các chiến dịch không thể mở được ở vùng này, oái ăm thay lại chính là cái nguyên nhân buộc phải mở các chiến dịch ấy: Vấn đề hậu cần.

Cần mở chiến dịch để giải quyết vững chắc vấn đề bảo đảm hậu cần chiến lược, nhưng không mở được các chiến dịch lại vì không thể bảo đảm hậu cần chiến đấu cho các trận đánh. Vẫn còn nhớ khi mở ra Bu Prăng – Đức Lập mùa đông 1969, B3 phải tổ chức một tuyến bảo đảm hậu cần dài nhất từ trước tới nay, gian khổ nhất từ trước tới nay: 25 cung vận chuyển gùi thồ dưới bom B52 và mưa lũ. Toàn quân làm công tác vận chuyển, kể cả các đơn vị trực tiếp nổ súng. Nhưng vấn đề hậu cần ở đây đâu chỉ là công việc vận chuyển. Có gì mà vận chuyển, B3 lúc đó không có gạo, các cơ quan, đơn vị phía sau đồng loạt ăn một lạng một ngày, dành gạo cho phía trước. Vẫn không đủ, phải vào tận B2 xin gạo ra với 25 cung gùi thồ như vậy đấy. Mà kết cục chiến dịch vẫn không thực hiện được như kế hoạch.

Từ năm 1973, nếu khả năng bảo đảm hậu cần chiến dịch đã tốt hơn lên rất nhiều thì việc bảo đảm vận chuyển chiến lược Bắc – Nam khi qua khu vực này đã càng phức tạp hơn, khiến cho một chiến dịch tiến công ở Nam Tây Nguyên càng trở nên cấp thiết. Tôi đã có dịp nói đến những quan hệ khó khăn giữa Tây Nguyên và Khơ-me đỏ thời kỳ sau đảo chính của Lon Non. Những khó khăn đó lại càng tăng thêm trong những năm gần đây. Ta trở lại vấn đề trên: Hành lang vận chuyển Bắc-Nam của chúng ta, cho đến thời kỳ này khi đi qua phía bắc Đức Lập (Nam Tây Nguyên) – nơi có địa hình độc đạo rất hiểm nghèo mà địch chiếm giữ – vẫn phải né một chút sang đất đông Cam-pu-chia trước khi vào đến Nam Bộ. Khơ-me đỏ vong ân bội nghĩa lợi dụng điều này, nhất là trên đoạn đường tiếp giáp với Nam Bộ, đã nhiều lần tung lính ngăn chặn xe vận tải của ta, giết người, cướp hàng, đồng thời lại luôn luôn đưa yêu sách đòi ta rút bỏ con đường. Xuất phát từ những nguyên nhân ấy, các cơ quan chiến lược của chúng ta đã nhìn thấy vấn đề trước hết là cần phải có ngay một chiến dịch tiến công ở hướng này, nắn con đường vận tải chiến lược vào lại đất Việt.

Thực ra Bộ tư lệnh Tây Nguyên cũng đã dự kiến một chiến dịch như thế vào cuối năm 1973. Thật là cần thiết. Chúng ta sẽ giải phóng Đức Lập, giữ vững địa bàn này, nối ngay đường vận chuyển chiến lược của bộ đội 559 với đường 14 từ bắc Đức Lập, tạo thành hành lang Bắc – Nam hoàn toàn nằm trên dải Trường Sơn của đất nước chúng ta. Nhưng muốn thế phải có đủ lực lượng, phải có nhiều lực lượng. Bước vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, chúng ta đã ra khỏi yêu cầu tác chiến hầu như duy nhất là tiêu diệt sinh lực địch để coi trọng song song cả mục đích giải phóng đất đai, giải phóng lãnh thổ. Riêng đối với một chiến dịch ở Nam Tây Nguyên – như mục đích xác định ban đầu- ta càng phải giữ vững địa bàn đã giải phóng để bảo đảm sự thông suốt của hành lang vận chuyển chiến lược: “Một lực lượng trực tiếp đánh chiếm mục tiêu và đánh địch phản kích (chúng tôi nhấn mạnh), một lực lượng vòng ngoài để buộc địch phải phân tán đối phó, lực lượng này sức một có thể thành hai (chúng tôi nhấn mạnh), vì không bị câu thúc giữ địa bàn, không bị xé lẻ…” (1).

Khi ở Quân khu V, chúng tôi cũng đã bàn phương án này và đề nghị rằng, nếu có sự tăng cường của Bộ thì nên có hai sư đoàn cho Tây Nguyên, một sư đoàn cho đồng bằng Trung Trung Bộ (Quân khu V). Một chiến dịch như vậy là phải tính tới khả năng đánh địch phản kích cả năm và muốn thế “ngay từ bây giờ (1973) phải lót gạo, đạn cho đến xuân 1975” (2) Nghĩa là – tôi muốn nhắc lại – chiến dịch này mới mang mục đích khai thông và giữ vững hành lang Bắc – Nam và mục tiêu cụ thể của nó là Đức Lập. Nhưng vào lúc nào thì Buôn Ma Thuột được đề cập đến? Tôi còn nhớ, trong những dịp trao đổi thảo luận ở Quân khu V, một lần nữa, chúng tôi đã nhất trí đánh giá tầm quan trọng chiến lược của Tây Nguyên và đã dự kiến một phương án đánh lớn giải phóng thị xã, thị trấn ở khu vực này.

Sau khi nêu ra những số liệu so sánh địch, ta, đồng chí Võ Chí Công có đặt câu hỏi: Chúng ta có thể ngay trong mùa khô này, tập trung lực lượng giải phóng trước hết Buôn Ma Thuột được không?”. Câu trả lời là có thể. Thượng tướng Chu Huy Mân nhấn mạnh, trong trường hợp đó, nhất thiết Khu V phải phối hợp chặt đứt đường 19 và đường 21, chia cắt chiến lược địch ở Tây Nguyên với đồng bằng. Chúng tôi cũng đã có dịp đặt vấn đề giải phóng Buôn Ma Thuột trong Bộ tư lệnh Tây Nguyên. Ta hãy thử nhìn lên bản đồ. Đức Lập cách Buôn Ma Thuột có 30km. Mất Đức Lập, sống chết địch cũng phải phản kích để khôi phục lại và chúng có ngay một căn cứ xuất phát rất tốt cả về mặt chiến dịch lẫn chiến đấu là Buôn Ma Thuột. Khi bàn đến tình huống này, Đại tá Vương Tuấn Kiệt, Tham mưu trưởng Tây Nguyên, đã thốt lên: “Phải chi chúng ta có thêm 2 sư đoàn nữa để đánh ngay Buôn Ma Thuột”. Chúng tôi đã nhìn thấy khả năng này không những sẽ là bảo đảm vững chắc cho sự thông suốt của hành lang Bắc – Nam, là mục đích chiến dịch lúc ấy mà còn tạo được một địa bàn chiến lược rất cơ động hướng tới các ngả. Không, nếu được như thế thì chiến dịch sẽ mang một ý nghĩa và mục đích khác hẳn rồi. Ta lại phải nhìn vào bản đồ. Buôn Ma Thuột giữ một khoảng cách khá đều với Bắc Tây Nguyên, đồng bằng Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ – Sài Gòn. Một trung tâm của một chiến trường vượt ra ngoài phạm vi Tây Nguyên hướng tới toàn cục. Một ngã ba đường, những con đường rất tốt và thuận tiện. Có thể thấy ngay sức chấn động đến đầu não Sài Gòn của một trận đánh vào Buôn Ma Thuột chẳng khác gì những sóng giao thoa mà một hòn đá ném xuống giữa mặt nước tạo nên.

Cố nhiên, vấn đề ở đây vẫn là lực lượng. Tây Nguyên lúc đó chỉ có hai sư đoàn đang ôm lấy mặt trận chính hướng bắc Plei-cu, Kon Tum và một số trung đoàn độc lập hoạt động ở các hướng khác. Cơ sở đâu để hạ quyết tâm? Chính là chiến lược – những người vạch kế hoạch ở Bộ Tổng tư lệnh – Tổng tham mưu và ở cấp cao nhất, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng – vào lúc đã nắm chắc lực lượng trong tay. Và như tôi đã nói những dự kiến của chúng tôi về một chiến dịch ở Nam Tây Nguyên cũng chính là bắt nguồn từ sự gợi ý và chỉ đạo của chiến lược. Nó có mục đích của chiến dịch lúc này gắn chặt với chiến lược. Còn lại vấn đề thời cơ: Khi nào thì có thể? Và thời cơ ấy đã đến vào cái thời điểm mà tất cả chúng ta đều đã biết, khi các điều kiện khác cũng đã chín muồi cho việc hạ quyết tâm.

Để kết thúc phần này, tôi muốn nói thêm: Thực tiễn chiến đấu có nhiều lúc đem đến những kết quả bất ngờ, và thước đo sự thành công là ở đấy. Chúng ta có thể thấy, chiến dịch đã được thiết kế với mục đích ban đầu là tạo một hành lang vận chuyển cơ giới thông suốt Bắc-Nam bằng cách tiêu diệt và giữ vững Đức Lập. Trong quá trình, khi xét tới các dữ kiện, chúng ta đã chuyển mục tiêu sang giải phóng Buôn Ma Thuột, một trung tâm chính trị và đầu mối giao thông quan trọng, khoác lên chiến dịch Nam Tây Nguyên một tầm cỡ chiến lược. Lúc này trận Đức Lập không được coi là mục tiêu chiến dịch nữa mà chỉ là hành động tác chiến mở màn, thậm chí giống như một đòn nghi binh. Nhưng cuối cùng, thực tế là chiến dịch Nam Tây Nguyên đã biến thành chiến dịch Tây Nguyên với những hoạt động tác chiến phát triển cả ra ngoài phạm vi Tây Nguyên, rồi trở thành chương mở đầu đầy ý nghĩa cho cuộc Tổng tiến công như vũ bão mùa Xuân 1975. Sự vận động biện chứng của tư duy và thực tiễn giao tiếp nhau, nâng đỡ nhau để dẫn tới kết cục thần kỳ. Ở đây sự nhạy bén và tầm nhìn xa rộng của Bộ Tham mưu chiến lược của chúng ta là xuất sắc. Tôi muốn nói thế vì vẫn còn có những kẻ ở phía bên kia cho rằng thắng lợi tuyệt đối mà chúng ta giành được có yếu tố ngẫu nhiên. Xin hỏi lại, năm Mậu Thân có phải ngẫu nhiên không? Hiệp định Pa-ri được ký kết có phải ngẫu nhiên không? Quân Mỹ buộc phải rút khỏi chiến trường có phải ngẫu nhiên không? Huống hồ vào năm 1975, tất cả đã rõ ràng là nếu không có Tây Nguyên thì sẽ có một cái gì đó giống như Tây Nguyên, hệ quả trực tiếp của những sự kiện mà tôi vừa đặt thành câu hỏi trên, hệ quả trực tiếp của cuộc kháng chiến lâu dài chống Mỹ, cứu nước. Và thắng lợi trọn vẹn mà chúng ta giành được đã sớm hơn dự kiến thì cũng chỉ chứng tỏ rằng thực tiễn chiến đấu là sự phán quyết cuối cùng.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Tiến sĩ Vũ Cao Phan (ghi)
qdnd.vn

Kỳ 2: Quyết chiến

(1) Điện gửi Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng ngày 12-12-1973. Lưu trữ Bộ Tổng tham mưu.
(2) Điện gửi Phó tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn ngày 6-12-1973. Lưu trữ Bộ Tổng tham mưu.

Bài 1: Chiến trường vẫy gọi

Hùng ca đời đời vang vọng

LTS: Thắng lợi vĩ đại của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước là chiến công hiển hách của dân tộc ta trong thế kỷ XX. Đó chính là sự khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần Việt Nam qua ba mươi năm đấu tranh gian khổ. Ba mươi năm đó đã có mấy thế hệ người ViệtNam “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” (thơ Tố Hữu). Cổ vũ cho khí thế hào hùng ra trận, không thể không kể tới hàng nghìn nghệ sĩ-chiến sĩ đã hiên ngang, oanh liệt tiến ra sa trường. Những nghệ sĩ-chiến sĩ đã viết nên bản hùng ca đời đời vang vọng.

Bài 1: Chiến trường vẫy gọi

Khi những người nghệ sĩ ra trận, họ đã mang cả mùa xuân đến chiến trường khốc liệt. Nghệ sĩ cổ vũ bộ đội, bộ đội thành nghệ sĩ. Trong cuộc đấu tranh 30 năm của dân tộc ta đã có biết bao nghệ sĩ trưởng thành trên chiến trường, bao nghệ sĩ trở thành bộ đội…

“Lính chiến” Tây Nguyên vẫn thường nhắc câu chuyện về hai vợ chồng nhạc sĩ Doãn Nho đi chiến trường. Nhiều cựu chiến binh gặp hai vợ chồng nghệ sĩ vẫn dí dỏm trêu: Quả bom là quả bom to/Nó chui, nó rúc Doãn Nho mất hồn…. Tôi đến nhà thăm vợ chồng nghệ sĩ Doãn Nho-Nguyệt Ánh. Nhạc sĩ Doãn Nho đang đi thu âm trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Tiếp tôi chỉ có nghệ sĩ Nguyệt Ánh. Bà trẻ hơn nhiều so với tuổi 72, ánh mắt vẫn tinh tường hồn hậu. Bà vui vẻ hỏi: “Nhà báo lại đến vì cái chuyện “Quả bom to” phải không? Lính xưa họ tếu lắm. Chuyện nó như thế này…”.

Văn công trước cửa Dinh Độc Lập 30-4-1975. Ảnh tư liệu

Năm 1967, hai vợ chồng nghệ sĩ Nguyệt Ánh đang công tác tại Đoàn văn công Quân đội thì được lệnh lên đường đi B3. Lúc đó, chuyện nghệ sĩ ra chiến trường phục vụ là chuyện bình thường, nhưng vào chiến trường B3 (Mặt trận Tây Nguyên) lại kéo dài trong một năm thì lại là chuyện khác. Lo âu xen lẫn háo hức. Đoàn công tác có 13 người, trong đó có nữ. Nhạc sĩ Doãn Nho đi tiền trạm cùng một đoàn xe vận tải vũ khí. Đoàn xe này bị B52 rải thảm, bộ đội hi sinh rất nhiều. Trong số đó cũng có một chiến sĩ lái xe tên là Nho, nên khi báo về mọi người nhầm tưởng Doãn Nho đã hi sinh. Tình thực trước đó, nhạc sĩ “bị” một người bạn là sĩ quan cao cấp giữ chân ở binh trạm để tâm sự, nên may mắn thoát chết.

Nghe tin nhạc sĩ Doãn Nho – tác giả của ca khúc Tiến bước dưới quân kỳ đã hi sinh, anh em bộ đội thương lắm. Một đồn mười, mười đồn trăm, rồi cả Mặt trận Tây Nguyên đều biết. Tin đồn bay về với đoàn công tác. Lãnh đạo đoàn quyết định giữ kín thông tin để bà Nguyệt Ánh tiếp tục công tác.

Bà Ánh kể: “Mỗi lần tôi hát bài Nguyễn Viết Xuân, trong đó có câu: Nghe tin chúng giết anh rồi… tim sục sôi… Tất cả mọi người lúc đó đều đã nghe tin đồn anh Nho hi sinh. Họ đều khóc thương tôi. Tôi càng hồn nhiên diễn cảm, mọi người lại càng khóc”.

Thế rồi một hôm, khi 3 chị em trong đoàn tắm dưới suối, chợt nghe cậu “anh nuôi” hét gọi: “Chị Nguyệt, chị Tân ơi, anh Nho về rồi!”. Bà Ánh còn ngạc nhiên hỏi: “Anh Nho về thì làm sao?”. Hai chị ôm chầm lấy vai bà mà khóc: “Bọn tao giấu mày tin đồn anh Nho hi sinh cả tháng nay rồi!”. Lúc đó bà Ánh mới tá hỏa, òa lên, quên cả y phục chạy ra tìm chồng. Chuyện đó lại được đồn, lại thành thơ bút tre. Lính Tây Nguyên ai cũng biết.

“Văn công đi mặt trận có được ưu ái gì không?”-Tôi hỏi. Bà Ánh đáp: “Ưu ái nhiều chứ. Trừ khẩu phần thức ăn, quân trang (nặng khoảng 20kg) thì không phải vác thêm gì nữa. Đôi lúc đến trạm giao liên còn được ngủ lán. Thế là quý rồi, đã hơn bộ đội “thật” rất nhiều rồi”.

Vợ chồng nghệ sĩ Doãn Nho tuổi Thất thập. Ảnh: Đông Hà

Cảm động nhất là những lần gặp đồng hương trên mặt trận. Bà Ánh gặp một “cậu em” hàng xóm, hai chị em ríu rít trao đổi thư từ. Bà bùi ngùi nói: “Cậu ấy tên là Thái, nhà ở 32 Yết Kiêu, trẻ hơn tôi mấy tuổi. Trước khi đi tôi chỉ kịp giúi cho cậu ấy túi đường. Sau đó ít lâu đã nghe tin cậu ấy hi sinh tại mặt trận phía Nam”.

Những năm kháng chiến nghệ sĩ cả nước có một phong trào ra trận. Trong số đó có nhiều người không công tác trong quân đội. Họ ra mặt trận như một nhu cầu tự thân, góp sức phục vụ kháng chiến. Nhiều đoàn nghệ sĩ với chiếc xe đạp, túi bánh mì khô, một tờ giấy giới thiệu lên đường ra vùng “cán chảo”, “túi bom”. Văn nghệ sĩ ra trận đã trở thành nguồn động viên bộ đội, và chính họ đã có nhiều tác phẩm để đời: Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Thi, Nguyên Ngọc, Huy Thục, Thu Bồn, Hữu Mai, Vương Trọng, Nguyễn Đức Mậu… và còn nhiều tên tuổi lớn nữa… Sau mỗi chuyến đi là sự ra đời của hàng loạt những tác phẩm ca ngợi bộ đội, cổ vũ kháng chiến. Chính có những cuộc ra đi đó mà giờ đây trong nhạc Việt có một dòng nhạc được gọi là “nhạc đỏ”.

Trường hợp các nghệ sĩ trưởng thành trên mặt trận không phải hiếm gặp. Họa sĩ Trần Lê An là chiến sĩ Thành cổ. Ông có năng khiếu mỹ thuật nên được tham gia lớp đào tạo mỹ thuật cấp tốc do cán bộ trung đoàn tổ chức. Hiện ông còn giữ được rất nhiều tranh ký họa về những trận phòng ngự Cửa Tùng, Cửa Việt, Quảng Trị…

Nhiều cuộc triển lãm tranh ký họa chiến trường được tổ chức gần đây của các họa sĩ Huỳnh Phương Đông, Phạm Ngọc Liệu, Giang Khích, Lê Thiếu Nhơn, Đinh Rú, Lê Duy Ứng… đã khắc họa được hào khí của một thời gian khổ nhưng rất oai hùng.

Hào khí sa trường cuốn đi nhiều nghệ sĩ. Bom đạn cũng cướp đi nhiều tài năng: Tô Ngọc Vân, Hoàng Việt, Chu Cẩm Phong, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Văn Giá…

Xin cảm ơn người nghệ sĩ đã đồng hành cùng bước chân thần tốc của đoàn quân Nam tiến. Họ xứng đáng với danh xưng “Nghệ sĩ-chiến sĩ”!

LÊ ĐÔNG HÀ
qdnd.vn

—————————————–
Bài 2: Những tượng đài kỳ vĩ

Bài 2: Những tượng đài kỳ vĩ

Hùng ca đời đời vang vọng

Xin cảm ơn những người nghệ sĩ đã cho chúng tôi, những thanh niên sinh ra và lớn lên trong hòa bình được cảm nhận những giây phút hào hùng cả nước ra trận, cả nước nhìn về một hướng.

Tôi như bị ám ảnh bởi những câu thơ Chân trời/ Vực thẳm/ Ba lô sấp mặt/ Gió lặng hành quân/ Xơ tước cánh rừng/ Dốc người dựng ngược” (Trường ca Ngày đang mở sáng-Trần Anh Thái). Quả tình, tôi đã bắt gặp khung cảnh đó trong những câu chuyện mà đêm đêm cha tôi – nghệ sĩ Lê Duy Ứng vẫn rì rầm kể về một thời chiến trận. Cảm nhận thật của ông về chiến tranh là đói, rét, mệt lả, sợ hãi, đêm tối mịt mùng, cái chết cận kề… Giữa đêm tôi giật mình đạp chân. Cha hỏi, tôi đáp rằng mơ bước hụt một nấc thang mây.

Nụ cười Thành cổ. Ảnh: Đoàn Công Tính

Rồi cha tôi kể, ông đã vượt Trường Sơn bằng hình ảnh của những ánh sáng lung linh trong bài Đêm trên Cha Lo của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Sau chiến trận, cha tôi đã là thương binh, ánh sáng trong mắt đã mất. Một lần cha tôi được gặp nhạc sĩ Phạm Tuyên. Ông kể với nhạc sĩ: “Ngoài những chớp lửa của đạn pháo trong mắt tôi vẫn còn ánh sáng lung linh trong đêm Cha Lo”. Nhạc sĩ xúc động tặng cha tôi tập sách in nhạc, trong đó có bài Đêm trên Cha Lo.

Tôi nhiều lần được nghe nhạc sĩ Phạm Tuyên kể về hoàn cảnh sáng tác bài Đêm trên Cha Lo. Tôi biết ông đã viết bài hát đó bằng tình cảm rất thật. Chỉ có những người dám đội bom, vượt dốc, băng qua đêm đen giá buốt giữa mịt mùng núi rừng Trường Sơn mới cảm nhận được hơi ấm từ một đốm lửa nhỏ, mới thấy rạng rỡ lung linh ánh sao đêm, ánh sáng từ nụ cười của những em bé Vân Kiều. Tôi bỗng thấy Cha Lo thật gần gũi.

Tôi gặp anh hùng Lê Mã Lương, hỏi vui: “Nhiều người vẫn bảo vì chú mà họ lên đường ra trận đấy”. Anh hùng cười giản dị: “Vẫn có người trách yêu như vậy. Họ nói vì mình mà họ gắn với cuộc đời binh nghiệp. Có người lên cấp tướng, có người thì trở thành thương binh. Nhưng họ đều công nhận rằng đã làm đúng”. Cũng không ít người đã ngã xuống, không một tấm hình, không một dòng địa chỉ!

Hình tượng nghệ thuật lấy cảm hứng từ anh hùng Lê Mã Lương đã được các môn nghệ thuật như sân khấu, hội họa, văn chương, điện ảnh khai thác rất nhiều trong thời chiến. Câu nói bất hủ: “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” thời ấy đã thôi thúc hàng vạn thanh niên xếp bút nghiên lên đường ra trận. Mới đây thôi, ngài đại sứ Hy Lạp Ha-di-mi-cha-lít khi được nhận món quà là bức tranh cổ động có hình ảnh anh hùng Lê Mã Lương đã bày tỏ sự xúc động đặc biệt khi được gặp nguyên mẫu trong tranh. Ông nói đây là cuộc hội ngộ thật mà ngỡ trong mơ.

Họa sĩ Dương Ánh là người đã vẽ bức tranh cổ động có hình ảnh anh hùng Lê Mã Lương. Hai người gặp nhau lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1971. Lần đó anh hùng Lê Mã Lương cùng đoàn anh hùng dũng sĩ miền Nam ra báo cáo tại Hà Nội. Ông kể: “Lúc đến Tạp chí Văn nghệ Quân đội tôi rất hồi hộp. Rồi từ hồi hộp chuyển qua xúc động vì có các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, họa sĩ nổi tiếng đã ngồi chờ sẵn. Ngày còn đi học mình chỉ biết các nhà văn, nhà thơ qua các bài học trên trong sách. Đâu biết rằng sẽ có ngày được ngồi gần họ đến vậy”. Trong lúc Lê Mã Lương kể lại chuyện chiến trường cho các nhà văn, nhà thơ… thì họa sĩ Dương Ánh đã ký họa rất nhiều.

Bẵng đi sau đó chừng hai tháng, anh hùng Lê Mã Lương lần đầu tiên được thấy hình ảnh của mình trên bức tranh cổ động “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” trong một hoàn cảnh rất bất ngờ. Đó là lần máy bay Mỹ ném bom kho xăng Đức Giang, khi khói bom tan hết, nhìn sang bên đường vẫn thấy bức tranh đứng vững mà không bị hơi bom hất đổ, ông lặng người đi xúc động, lòng muốn về ngay đơn vị để được chiến đấu với quân thù.

Đại tá, nhà báo Nguyễn Sĩ Bình kể: “Năm 1971, Đoàn TNCS có phong trào học tập những tấm gương như Lê Mã Lương, Lê Thị Hồng Gấm… Chính họ đã cuốn chúng tôi ra mặt trận. Trên chiến trường, hình ảnh họ giúp chúng tôi có thêm nghị lực, giữ niềm tin chiến thắng”.

Tôi đã gặp những cựu chiến binh Thành cổ, và cả những con người chiến thắng trong ngày 30-4-1975, họ đã lạc quan tin tưởng ngày chiến thắng và rồi niềm tin đó đã thành hiện thực.

Tôi lại nhớ đến những nhân vật trữ tình trong văn học giai đoạn kháng chiến chống Mỹ đã được học trong trường phổ thông, như: Núp (Đất nước đứng lên – Nguyên Ngọc), Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng – Nguyễn Minh Châu), T’nú (Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành)… Họ là hiện thân cho một lối sống đầy trách nhiệm với đất nước. Họ có chung một niềm tin giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Tâm hồn họ trong lành, yêu ghét rõ ràng, thủy chung son sắt. Tôi và bao thế hệ thanh niên sinh ra và lớn lên trong hòa bình được hòa mình trong lý tưởng sống cao đẹp.

Cảm ơn những nghệ sĩ – chiến sĩ đã lao động nghệ thuật hết mình, đã cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam một giai đoạn văn chương chói ngời, hình ảnh cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trở thành lý tưởng, là đích đến cho lớp lớp thanh niên, đó cũng là những tượng đài nghệ thuật kỳ vĩ của dân tộc ta trong thế kỷ hai mươi, muôn đời không khuất lấp.

LÊ ĐÔNG HÀ
qdnd.vn

Bài 1: Chiến trường vẫy gọi

Kiên trì vận động viện trợ quốc tế

Lòng yêu nước, sự anh dũng vô song vốn được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc, và sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam là những nhân tố chính để tạo nên chiến thắng vĩ đại 30-4-1975. Bên cạnh đó, để cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi đến thắng lợi cuối cùng không thể không kể đến sự trợ giúp chí nghĩa, chí tình về cả vật chất lẫn tinh thần của bạn bè quốc tế dành cho Việt Nam.

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương do Tổng bí thư Lê Duẩn trình bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) đã khẳng định: “Bằng những sách lược linh hoạt, khôn khéo và sáng tạo, chúng ta đã gắn kết sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, ra sức tranh thủ sự đoàn kết và ủng hộ quốc tế nhằm xây dựng và bảo vệ miền Bắc XHCN và cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam, tranh thủ được sự giúp đỡ to lớn về tinh thần và vật chất của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN anh em, các lực lượng tiến bộ và yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới”.

Cuộc đọ sức giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ xâm lược là “cuộc đụng đầu lịch sử” giữa một dân tộc yêu chuộng hòa bình với một đế quốc có diện tích, tiềm lực kinh tế, quốc phòng lớn hơn gấp nhiều lần. Để giành thắng lợi, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chúng ta cần nắm vững phương châm dựa vào sức mình là chính, nhưng đồng thời, chúng ta hết sức tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của các nước XHCN, của các dân tộc Á, Phi, Mỹ La-tinh và của nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Mỹ”. Với phương châm đó, chúng ta đã chủ động triển khai từ rất sớm công tác tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các nước trên thế giới, nhất là Liên Xô, Trung Quốc.

“Bối cảnh quốc tế phức tạp lúc bấy giờ khiến công việc ngoại giao nói chung và công tác vận động viện trợ gặp không ít khó khăn. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để tranh thủ được sự ủng hộ của cả hai nước đồng minh lớn nhất?”, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Quang Cơ nói. Dù năm nay đã 83 tuổi, song nhà ngoại giao lão luyện này vẫn nhớ rõ sách lược tài tình của Đảng: “Cách làm khi đó là trung hòa các ý kiến, kiên trì đường lối của ta, là đường lối độc lập tự chủ phải đi đôi với đoàn kết quốc tế. Nếu độc lập tự chủ mà không đi đôi với đoàn kết quốc tế thì cũng không đạt được mục đích. Bởi vì có độc lập tự chủ thì mới theo và giữ đúng định hướng đường lối của ta, và có đoàn kết quốc tế mới tranh thủ được sự giúp đỡ của các nước”.

Phương án vận động viện trợ đã được Trung ương Đảng và Bộ Chính trị thảo luận kỹ càng. Năm 1965, Đoàn công tác vận động viện trợ chính thức được thành lập. Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Lê Thanh Nghị được giao phụ trách chính. Thành phần đoàn tham gia vận động có lãnh đạo Ủy ban Kế hoạch nhà nước, Bộ Ngoại thương, Bộ Quốc phòng… và một số ngành khác.

Công việc của Đoàn là tới các nước cần vận động viện trợ thông báo tình hình chiến sự tại ViệtNam để bạn bè quốc tế hiểu rõ tình hình, giới thiệu đường lối chính sách của Việt Nam để tranh thủ sự đồng tình cao của bạn.

Ông Hồ Văn Nghiêm, nguyên là Trưởng phòng các nước XHCN, Cục Kinh tế-Đối ngoại thuộc Ủy ban Kế hoạch nhà nước, đồng thời là phiên dịch cho đồng chí Lê Thanh Nghị, nhớ lại: “Đoàn thường gặp gỡ đầy đủ lãnh đạo cả bên Đảng và Chính quyền của các nước XHCN. Thời gian đầu việc vận động xin viện trợ tương đối thuận lợi. Tuy nhiên, sau đó không phải không gặp khó khăn. Phía Mỹ cũng tìm cách lôi kéo, sử dụng thủ thuật ngoại giao để ngăn cản các nước bạn bè truyền thống của ta viện trợ cho ta. Công việc của Đoàn là phải đưa ra hình thức thuyết phục nào cho hợp tình hợp lý, đạt được mục tiêu của ta, tranh thủ tối đa sự viện trợ của quốc tế, đặc biệt từ hai nước XHCN lớn là Liên Xô và Trung Quốc”.

Ông Hồ Văn Nghiêm cho hay, để các nước chấp nhận viện trợ cho ta, khâu chuẩn bị nội dung tài liệu trong các báo cáo trình bày các cuộc gặp gỡ, đàm phán là vô cùng quan trọng. Nội dung các bài phát biểu của lãnh đạo đoàn ta vạch rõ âm mưu của Mỹ sẽ tiếp tục mở rộng chiến tranh tại Việt Nam. Khẳng định quyết tâm của ta là sẽ đánh và sẽ thắng Mỹ, nhưng còn gặp nhiều khó khăn nên đề nghị được viện trợ vũ khí.

“Trong các chuyến đi với đồng chí Lê Thanh Nghị, tôi đặc biệt ấn tượng với sự kiên trì, mềm dẻo mà vô cùng linh hoạt của đồng chí để đạt được mục tiêu đề ra. Gặp tình huống khó khăn, phía bạn chưa chấp nhận ở mức viện trợ cao, đồng chí Lê Thanh Nghị kiên trì thuyết phục, nêu rõ tính khoa học, lô-gic trong các đề án xin viện trợ. Khi phía bạn vẫn chưa đồng ý, tôi thấy rõ tâm trạng bồn chồn, sự ưu tư, suy nghĩ của đồng chí Lê Thanh Nghị. Thậm chí, có những hôm, tôi thấy đồng chí Lê Thanh Nghị đã thức trắng đêm để nghĩ cách. Đồng chí Lê Thanh Nghị nói với tôi rằng, cách duy nhất để hóa giải những khó khăn, tìm nguồn viện trợ quý giá về cho đất nước là phải tìm cách thuyết phục họ. Trong quá trình đàm phán với Liên Xô, khi chưa đạt yêu cầu, đồng chí Nghị đã rất linh hoạt đề ra kế “hoãn binh”. Sau khi chưa đạt được kết quả như mong muốn, đồng chí Lê Thanh Nghị đã đề nghị phía Liên Xô tạm hoãn việc ký các điều khoản cho lần viện trợ này và chúng tôi sẽ tranh thủ tới nước khác. Sau khi trở lại, phía bạn đã có thời gian suy nghĩ thấu đáo hơn, chấp nhận đề nghị của ta. Sự kiên trì của đồng chí Lê Thanh Nghị đã trở thành bài học lớn để chúng tôi học tập trong quá trình đàm phán sau này…” – ông Nghiêm nhớ lại.

Các nước dành viện trợ cho Việt Nam cả hàng quốc phòng lẫn kinh tế. Tỉ lệ hàng quốc phòng cao hơn hàng kinh tế. Viện trợ quốc phòng thường không tính tiền, các loại hàng hóa khác được tính theo giá vay ưu đãi. Hàng quốc phòng bao gồm vũ khí, khí tài phục vụ chiến đấu như máy bay chiến đấu, tên lửa, pháo, súng, cối… Liên Xô thường giúp vũ khí hạng nặng, Trung Quốc và các nước khác chủ yếu viện trợ cho ta các loại vũ khí hạng nhẹ như súng ống, nhu yếu phẩm… Ba Lan viện trợ thuốc nổ, Tiệp Khắc là vũ khí hạng nhẹ, Đức viện trợ hàng tiêu dùng, nhu yếu phẩm… Ngoài vũ khí, các nước còn viện trợ phương tiện ô-tô vận tải, các máy ủi làm đường, các loại máy làm đường được dùng nhiều trong đường Trường Sơn (Cu-ba mua của Nhật Bản để viện trợ cho Việt Nam)… Các thiết bị phục vụ như thiết bị làm cầu, làm đường, hàng dân dụng để duy trì phát triển sản xuất như phân bón, bông, lương thực, một số loại thực phẩm…

“Sự thành công của các chuyến công tác vận động viện trợ không thể không kể đến tác động tích cực từ các chiến thắng của ta trên chiến trường. Đó là những minh chứng rõ ràng nhất cho quyết tâm của chúng ta, làm cho lãnh đạo các nước XHCN cũng như người dân các nước sở tại đều tin vào chiến thắng cuối cùng của dân tộc Việt Nam”, ông Hồ Văn Nghiêm nói. Hàng triệu súng bộ binh, hơn 1.000 xe tăng, hơn 8.000 khẩu pháo các loại, hơn 10.000 quả đạn tên lửa, hơn 200 tàu hải quân, hơn 450 máy bay… từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước bạn bè đã tiếp lực giúp quân và dân Việt Nam lập những chiến công hiển hách để đi tới ngày toàn thắng.

Thành quả của cách mạng Việt Nam không tách rời sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc. Và, một điều chắc chắn rằng, sự ủng hộ, giúp đỡ có hiệu quả đó bắt nguồn từ chính nghĩa sáng ngời của cuộc kháng chiến, từ đường lối, chính sách ngoại giao, đường lối quốc tế đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. “Khi đến các nước, đoàn chúng tôi có hỏi người dân là tại sao lại vui vẻ chấp nhận giúp Việt Nam? Có một câu trả lời chung: Đơn giản vì chúng tôi tin rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam là chính nghĩa”, ông Hồ Văn Nghiêm kể.

NGUYỄN HOÀ-BẢO TRUNG
qdnd.vn

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù

Đã 87 tuổi Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh vẫn đau đáu với rừng. Ông yêu rừng như yêu chính cuộc đời ông. Mấy hôm nay ông mệt, ho nhiều, mặc dù khước từ nhiều báo xin đến phỏng vấn, nhưng ông vẫn dành cho phóng viên Báo Quân đội nhân dân cuộc trao đổi rất sâu sắc xoay quanh vị trí quan trọng của rừng trên con đường Trường Sơn huyền thoại, nhân tiến tới kỷ niệm 35 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Tôi theo thơ Tố Hữu vào bộ đội

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên. Ảnh: Internet

Ông hẹn trên máy, tiếp tôi vào 8 giờ 30 phút ngày 23-3. Trước khi đi tôi gọi điện lại xin ý kiến ông. Ông nói:

– Đúng 8 giờ 30 phút đồng chí đến nhé.

Kinh nghiệm nghề nghiệp mách bảo tôi ông là người làm việc rất nguyên tắc, nên 8 giờ 20 phút tôi đã có mặt ở 54 phố Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thành phố Hà Nội (nhà riêng của ông). Cổng vẫn im ỉm khóa, tôi đứng chờ và đúng 8 giờ 30 phút thì cổng mở. Đồng chí cán bộ giúp việc dẫn tôi vào phòng khách, nơi ông chuẩn bị ngồi trao đổi với tôi. Mọi thứ trong nhà giản dị, nhưng ngăn nắp, nổi bật là hai bàn thờ, một bàn thờ ở chính giữa ông thờ mẹ ông và một bàn thờ ở bên phải thờ con trai thứ năm của ông, Liệt sĩ, Thượng úy, sĩ quan Pháo binh Nguyễn Tiến Quân.

Trên bàn, ông đã để sẵn tuyển tập thơ Tố Hữu. Bước từ phòng trong ra, ông nói:

– Từ hôm các đồng chí gọi điện, nhắc đến câu thơ nổi tiếng của Tố Hữu ca ngợi rừng làm tôi không ngủ được. Đúng ra là tôi mong đến ngày được gặp các đồng chí để trao đổi vị trí quan trọng của rừng với cuộc sống chúng ta, chứ không chỉ “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.

Dừng vài khắc, ông nói:

– Ta bắt đầu bằng thơ Tố Hữu nhé?

Quả thực tôi bị lúng túng trước câu nói của ông. Như hiểu ý tôi ông nói:

– Nếu thế hệ trẻ bây giờ không hiểu đầy đủ tầm tư tưởng của thơ Tố Hữu thì lỗi chính có khi lại ở thế hệ chúng tôi. Ngày ấy chúng tôi mới 15, 16 tuổi, đi học đứa nào cũng có trong túi 5,7 bài thơ Tố Hữu và “mê” thơ Tố Hữu như điếu đổ. Tôi theo cách mạng từ năm 1938, gia nhập quân đội tháng 12-1947 chính là nhờ đọc thơ Tố Hữu đấy. Hôm nay không phải bình luận về thơ Tố Hữu, mà tôi cũng không đủ trình độ để làm việc đó. Nhưng tôi phải nói với đồng chí rằng, Tố Hữu đã chuyển tải tư tưởng tiên tiến của thời đại, lòng yêu sâu thẳm đối với nhân dân, với Đảng, với Tổ quốc, với Bác Hồ vĩ đại thông qua nghệ thuật tinh xảo của thơ. Tố Hữu là con chim đầu đàn vạch hướng cho cả nền thơ ca cách mạng. Thơ Tố Hữu là chỗ dựa tâm hồn cho mọi người, nhưng đặc biệt là bộ đội. Tôi còn nhớ khi được nghe câu thơ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ mà lòng phơi phới dậy tương lai” thì bộ đội Trường Sơn chúng tôi như được tiếp thêm một sức mạnh thần kỳ và chỉ sau 3 ngày câu thơ ấy được viết trang trọng trên tất cả các phương tiện của bộ đội Trường Sơn…

Đang đọc cho tôi nghe những câu thơ Tố Hữu viết về bộ đội, ông đột ngột hỏi:

– Này đồng chí, tôi không hiểu sao cho đến nay Hà Nội vẫn chưa có con đường mang tên Tố Hữu nhỉ.

Do công việc mà tôi được gặp ông một số lần, nhưng đây là lần đầu tiên được nghe ông nói về ảnh hưởng của thơ Tố Hữu với bộ đội ta.

– Thôi bây giờ ta chuyển sang đề tài rừng nhé – Ông nhấp một ngụm nước, nói to, rành mạch như nói trong hội nghị.

Nếu không có rừng!

Ông vẫn bắt đầu bằng thơ Tố Hữu:

– Thơ Tố Hữu khái quát: “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”. Có lần ra họp Trung ương Tố Hữu nói với tôi, câu thơ đó ông lấy cảm hứng từ chiến dịch Việt Bắc… Nói là “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” nhưng với điều kiện là ta phải biết giá trị của rừng, biết lợi dụng rừng, vì hai bên (địch, ta – PV) đều muốn có rừng để ngụy trang, cất giấu lực lượng che mắt đối phương. Tôi, hay bất cứ người cầm quân nào cũng có thể chứng minh được điều đó bằng những dẫn chứng rất sinh động qua các trận đánh, chiến dịch lớn trong lịch sử quân sự Việt Nam, nhưng theo yêu cầu của Báo Quân đội nhân dân hôm nay tôi chỉ nói rừng đã che chở bộ đội Trường Sơn như thế nào.

Dường như ông khỏe hơn, thông tuệ hơn, lãng mạn hơn, trẻ trung hơn khi kể cho tôi nghe những sự kiện liên quan đến “rừng” trên con đường Trường Sơn huyền thoại:

– Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào đầu năm 1971, nhờ có rừng, nhất là rừng tầng tầng, lớp lớp bên nước bạn Lào mà ta đã ngụy trang thành công 5 trung đoàn cao xạ, 1 trung đoàn tên lửa bắn hạ 550 máy bay trực thăng mà địch vẫn không phát hiện được nơi cất giấu pháo của quân ta.

Tôi tra cứu trong các tài liệu quân sự thì trận thua này của địch đã gây sự chú ý đặc biệt đến các nhà quân sự trên thế giới, nhất là phe đối phương đều nhận xét một cách hình ảnh: Rừng Việt Nam đã đánh bại Cuộc hành quân “Lam Sơn 719” – Cuộc đổ bộ được chuẩn bị công phu nhất của ngụy quyền Sài Gòn, dưới sự yểm trợ của quân đội Mỹ ở chiến trường miền Nam Việt Nam…

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên rút trong trí nhớ kể cho tôi chiến thuật bắn những tốp máy bay địch đầu tiên của bộ đội ta trong Chiến dịch đã làm Mỹ hoàn toàn bất ngờ và cho đến nay cũng chưa được công bố:

– Biết kế hoạch đổ bộ của địch bằng máy bay trực thăng, chúng tôi đã báo cáo với anh Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng, trực tiếp chỉ huy chiến trường miền Nam lúc đó, để bộ đội ngụy trang leo lên các cây cổ thụ dùng súng trường đặt đúng đường bay để tiêu diệt máy bay địch. Vậy là 36 chiếc trực thăng đầu tiên của địch bay vào đổ quân lên cao điểm 600 phía Nam đường 9 trên đất bạn Lào, đã bị bộ đội ta bắn rơi 35 chiếc, làm cho địch hết sức hoang mang, chọn đường bay khác bay cao hơn thì lại bị cao xạ và tên lửa của ta giấu trong rừng chờ sẵn tiêu diệt.

Ông nhấn mạnh:

– Nếu không có rừng, nhất là nếu không có những cây cổ thụ to, những tán cây 5 tầng lá trong rừng Lào thì bộ đội ta không thể “bám thắt lưng địch mà đánh” được như thế.

Ông cho biết, đối phó với rừng, từ sau thất bại ở Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, địch bỏ hẳn máy bay trực thăng, dùng những loại máy bay hiện đại nhất lúc bấy giờ, đặc biệt là AC-130 (Pháo đài trên không) để vận tải và dùng loại đạn 30 ly, 40 ly bắn từ trên cao xuống đường 12, con đường vận tải chiến lược của ta. Loại máy bay này bay cao, không quay vòng nên các loại pháo của ta bắn rất khó.

… Hai tháng đầu Bộ đội vận tải Trường Sơn bị thiệt hại khá lớn, làm cho ông mất ăn mất ngủ nhiều ngày. Ông nhớ lại ngày đó, có đêm ông thức trắng, nhìn vào rừng Trường Sơn thăm thẳm, nghĩ đến những chiến dịch lớn trong kháng chiến chống Pháp như: Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Trung Du, Điện Biên Phủ… bộ đội ta đều phải tác chiến trong rừng, nhử địch vào rừng để tiêu diệt… Vậy tại sao đóng quân trong rừng Trường Sơn bạt ngàn thế này lại thua địch? Và ông đã quyết định báo cáo với cấp trên dùng 4 trung đoàn công binh cơ động, mở ngay hai con đường dã chiến chạy song song (một đường cho xe vào, một đường cho xe ra) xuyên rừng Trường Sơn dài 850km, nối từ đường 12 đến Ngã ba Biên giới với yêu cầu nghiêm ngặt là tuyệt đối không được chặt hạ bất cứ cây rừng nào. Những đoạn chưa có cây thì trồng ngay tre che kín cuộn lại như đường hầm… Nhờ có rừng che phủ mà trên con đường này các loại xe vận tải của ta chuyển từ chạy ban đêm sang chạy ban ngày, mà địch vẫn không hề phát hiện được, trở thành đường vận tải chính chở quân và hàng hóa vào chi viện cho chiến trường miền Nam. Sau này đường được phát triển nối dài ra các con đường xương cá vào đến tận chiến trường Nam Bộ. Do xe đi được ban ngày nên đã rút thời gian mỗi chuyến vận tải từ 15 đến 20 ngày đêm trước đây xuống chỉ còn 3 ngày, sau đường được củng cố tốt hơn thì chỉ mất 2 ngày.

Vậy là rừng không chỉ “che bộ đội” mà che được cả những đoàn xe hàng trăm chiếc. Rừng không chỉ “vây” mà còn “bịt mắt” quân thù. Đó là chưa nói những khu kho chiến lược, bệnh viện, trạm phẫu thuật dã chiến, những doanh trại của bộ đội ta cũng đều đặt trong rừng rộng hàng trăm héc-ta, cũng đều được rừng bao bọc. Nếu không có rừng thì chắc chắn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của chúng ta sẽ gặp không ít khó khăn.

“Tôi xin nhận khuyết điểm”

Ông thành thực nói với tôi như thế. Ông cho rằng trong đơn vị, hơn ai hết ông là người đã từng được tham gia nhiều chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp, đã từng được thấy, được nghe tổng kết về vị trí lợi hại của rừng, mà ở rừng đại ngàn Trường Sơn ông đã không bám vào rừng mở con đường vận tải sớm hơn. Ông nói:

– Mở đường vận tải dã chiến muộn là điều ân hận nhất của tôi. Nếu lợi dụng được rừng mở đường sớm thì bộ đội ta còn đỡ thiệt hại hơn. Tôi nhận lỗi với Bộ đội Trường Sơn. Bây giờ tôi cũng nghĩ lại nếu ngày đó mình dùng xe công nông loại nhỏ để vận tải thì sẽ đi được cả ban ngày, ban đêm, lại không phải mở đường quá rộng, thậm chí mùa khô lái xe chỉ cần dùng la bàn định hướng là đi được trong những cánh rừng già, địch không tài nào có thể phát hiện ra được.

Tuy nhiên, ông cũng cho rằng tuy muộn, nhưng ngay sau khi con đường vận tải xuyên rừng được mở ra thì phát triển rất nhanh ra cả chiến trường miền Nam, như con đường 46B phục vụ chiến trường Khu 5 cũng hoàn toàn được giấu trong rừng. Nhất là trong Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Hồ Chí Minh… nhờ có rừng, biết lợi dụng rừng mà quân ta đã nghi binh được địch, đã vận chuyển, cất giữ được hàng triệu tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm phục vụ chiến dịch…

Muốn giữ rừng thì phải giữ dân

Còn nhiều dẫn chứng, còn nhiều chuyện xoay quanh vị trí quan trọng của rừng trong chiến tranh, nhưng thôi tôi muốn nói với đồng chí đôi điều về việc bảo vệ rừng hôm nay. Giá trị rừng thời bình còn gấp nhiều lần trong chiến tranh, nhất là địa hình nước ta chiều dọc rất dài, nhưng chiều ngang lại hẹp, nghiêng ra biển với độ dốc cao, nếu không có rừng để bảo vệ thì mưa nước từ núi cao sẽ quét sạch ra biển nhanh hơn khả năng ứng cứu của con người rất nhiều. Năm 2003 tôi đã được chứng kiến trận lũ quét lịch sử ở huyện Sông Cầu (nay là thị xã), tỉnh Phú Yên, chỉ diễn ra có 3 giờ mà lũ quét gọn 10 làng… Tố Hữu còn sống chắc nhà thơ sẽ viết: Rừng bảo vệ nhân dân/ Rừng vây thiên tai, vây môi trường độc hại. Tuy nhiên đáng tiếc là chúng ta lại không thấy hết được giá trị của rừng, cũng có người biết, nhưng vì lợi ích cá nhân, lợi ích của một bộ phận nên đã phá mất quá nhiều rừng, nhất là rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ để làm dự án… Nhất là lại cho người nước ngoài thuê rừng thì lại càng nguy hại. Vừa qua có tỉnh cho thuê hàng nghìn héc-ta rừng, may mà Thủ tướng Chính phủ đã kịp thời ngăn chặn…

– Thưa ông đã từng có 7 năm được cử làm Đặc phái viên bảo vệ rừng của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, theo ông muốn bảo vệ rừng phải làm thế nào?

– Tất nhiên phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, nhưng muốn giải pháp gì thì giải pháp phải giữ được dân. Tôi nhấn mạnh là muốn giữ rừng thì trước hết phải giữ dân. Nghĩa là rừng phải phục vụ dân, rừng nuôi sống dân, rừng làm giàu cho dân. Còn bây giờ có nơi dân bỏ rừng là lỗi trong chính sách của chúng ta chưa hợp lý. Gần đây tôi đã đề nghị với Thủ tướng Chính phủ chuyển chương trình xóa đói giảm nghèo ở miền núi thành chương trình làm giàu cho đồng bào miền núi. Điều kiện làm giàu cho đồng bào miền núi thực ra là nhanh hơn ở đồng bằng, vì theo thống kê gần đây nhất thì vẫn còn bình quân 4ha rừng/hộ (gấp 3 lần diện tích đồng bằng). Nên giao khoán rừng cho dân, chọn mô hình mà ta đã từng làm thành công là: Khoán mỗi héc-ta trồng 600 cây bản địa gỗ quý để phòng hộ lâu dài (thuộc quyền quản lý của Nhà nước) do hộ đó trồng, chăm nom được trả tiền con giống, tiền bảo vệ lâu dài, ngoài ra hộ được trồng xen thêm 1.000 cây kinh tế và dược liệu, chăn nuôi gia cầm…; chân đồi làm nhà vườn để ở lâu dài. Mô hình này đã và đang thành công ở tỉnh Tuyên Quang, ta nên rút kinh nghiệm nhân rộng ra.

Ông còn rất say sưa nói về tầm quan trọng của rừng, tôi còn háo hức muốn nghe nhiều hơn nữa những điều ông nói, nhưng ngoài cổng đã lại có tiếng chuông báo đến giờ ông tiếp đoàn khách khác.

Tiễn tôi ra cổng ông lại hỏi tôi:

– Nếu không có rừng thì sao? Đó là cách hỏi để ông nhấn mạnh vị trí đặc biệt quan trọng của rừng và rõ ràng chúng ta đều hiểu rừng không chỉ quan trọng trong trận mạc./.

Huy Thiêm
qdnd.vn

Chọn hướng tiến công chiến lược – sự sáng suốt của Đảng ta

Ngày này cách đây 38 năm, Chiến dịch Tây Nguyên – chiến dịch mở đầu cuộc tiến công chiến lược đã kết thúc (từ ngày 4 đến 24-3-1975). Thắng lợi của chiến dịch đã tạo ra đột biến về chiến lược và điều kiện thuận lợi để phát triển cuộc tiến công chiến lược thành cuộc Tổng tiến công chiến lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chiến lược đó là sự lựa chọn đúng đắn, sáng suốt của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Để làm rõ hơn vấn đề này, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã có cuộc trò chuyện với Trung tướng Nguyễn Quốc Thước – nguyên Tham mưu trưởng Chiến dịch.

– Thưa Trung tướng, về Chiến dịch Tây Nguyên có rất nhiều điều để nói, nhưng theo Trung tướng điều đáng nói trước hết là gì ?

Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên trước hết là thắng lợi trong việc đánh giá đúng tình hình để chọn đúng hướng tiến công chiến lược. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước một cách khoa học, Đảng ta nhận thấy thời cơ giải phóng miền Nam đã tới. Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đi đến thống nhất giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976. Tuy nhiên, chọn nơi nào làm hướng tiến công chiến lược là vấn đề không hề đơn giản.

Khi bàn đến chọn hướng tiến công chiến lược, lúc đầu có hai luồng ý kiến. Một số ý kiến cho rằng, nên chọn Nam Bộ, đánh thẳng vào Sài Gòn – nơi hiểm yếu và mạnh nhất của địch. Xét về mặt nguyên tắc, nếu đập tan được nơi ấy sẽ làm rung chuyển toàn miền Nam. Làm được như vậy thì quá tuyệt vời, nhưng sức lực của ta khi ấy liệu có đủ khả năng làm việc đó? Một luồng ý kiến cho rằng, nên chọn Tây Nguyên.

– Nhiều nhà quân sự cho rằng, Tây Nguyên là địa bàn địa chính trị, địa chiến lược, địa quân sự quá quan trọng. Ý kiến của Trung tướng thế nào?

Trở lại quá khứ chúng ta sẽ thấy, trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, Tây Nguyên – địa bàn chiến lược quan trọng này được cả phía ta và phía địch đặc biệt quan tâm. Chẳng thế mà khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã từng tuyên bố: Nếu ai chiếm, giữ được Tây Nguyên thì sẽ làm chủ ba nước Đông Dương. Còn với đế quốc Mỹ thì khi chúng trực tiếp đưa quân vào xâm lược miền Nam Việt Nam, cùng với đổ bộ vào Đà Nẵng, chúng cũng nhanh chóng đưa đại quân lên khống chế địa bàn chiến lược Tây Nguyên. Chúng coi Tây Nguyên là mái nhà của bán đảo Đông Dương. Do vậy, Mỹ đã đưa lên Tây Nguyên những lực lượng tinh nhuệ nhất mà chúng có, trong đó phải kể tới là: Sư đoàn Kỵ binh không vận số 1 – “Anh cả đỏ”; Sư đoàn bộ binh tinh nhuệ số 4, Sư đoàn “Tia chớp nhiệt đới” – 25… nhằm quyết chiếm giữ, khống chế toàn bộ khu vực Trung Đông Dương, giữ thế cho chiến trường Trung Trung Bộ và nối liền với chiến trường Trị Thiên ở phía Bắc, chiến trường Nam Trung Bộ ở phía Nam, cùng với chiến trường Trung Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia.

Đối với Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chúng ta đều chọn Tây Nguyên làm chiến trường chính để đối chọi với Mỹ – ngụy. Sở dĩ như vậy là để phát huy tối đa những yếu tố thuận lợi về địa hình, sở trường đánh địch ở địa hình rừng núi của quân ta. Địch quyết giữ, còn ta thì quyết đánh. Chính vì thế Tây Nguyên luôn là chiến trường rất ác liệt. Ở đây đã diễn ra nhiều trận đánh, nhiều chiến dịch. Đặc biệt là tiểu đoàn quân Mỹ đầu tiên bị ta tiêu diệt cũng chính tại Mặt trận Tây Nguyên trong Chiến dịch Plây-me. Những thắng lợi vang dội, liên tiếp từ các trận đánh, các chiến dịch đã từng bước tạo ra thế trận, cục diện có lợi cho quân và dân ta… Với vị trí, ý nghĩa vô cùng quan trọng về chiến lược như thế, nếu ta giải phóng được Tây Nguyên sẽ làm rung chuyển toàn bộ chiến trường Việt Nam.

– Trước chiến dịch Tây Nguyên ta đã có các hoạt động nghi binh, lừa địch và trên thực tế nó đã được thực hiện rất thành công?

– Đúng thế. Nhưng theo tôi đó phải gọi là một “Chiến dịch nghi binh” mới đúng, bởi nó được xây dựng và tổ chức có quy mô và rất bài bản, thành kế hoạch rõ ràng, dùng hẳn một sư đoàn (Sư đoàn 968) để làm nhiệm vụ này chứ không phải chỉ là một vài hoạt động nghi binh mang tính đơn lẻ. Theo đó, Sư đoàn 10 đang đứng chân ở Kon Tum và Sư đoàn 320 đứng chân ở Plei-ku tạo ra các hoạt động làm ra vẻ như vẫn đứng chân tại chỗ. Do đã đụng đầu với 2 sư đoàn này nhiều lần trong các mùa khô trước đó nên quân Mỹ – ngụy ở Tây Nguyên kháo nhau rằng: Muốn biết mùa khô năm nay Việt cộng đánh ở đâu thì hãy xem Sư đoàn 10, Sư đoàn 320 cơ động theo hướng nào. Từ phán đoán mang tính chủ quan như vậy nên khi thấy Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 vẫn đứng nguyên tại chỗ, quân địch yên trí sẽ không có gì đáng lo. Nhưng trên thực tế ta đã dùng một trung đoàn của Sư đoàn 968 bí mật hành quân từ Hạ Lào về Kon Tum thế vào vị trí của Sư đoàn 10 và dùng Sư đoàn 968 (thiếu) cơ động về Plei-ku thế chỗ của Sư đoàn 320. Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 bí mật cơ động về Nam Tây Nguyên. Hệ thống thông tin liên lạc cả vô tuyến (15W), hữu tuyến vẫn giữ nguyên con người và trang bị, phát sóng hoạt động đều đều không một động thái nào khác trước. Trên thực tế một lực lượng thông tin khác đã được thành lập để bảo đảm cho hoạt động chỉ huy tác chiến của 2 sư đoàn này. Mặt khác ta dùng bộ đội công binh và huy động nhân dân mở đường từ phía Tây Plei-ku lên bao lấy Kon Tum. Ta nghi binh giỏi đến mức người dân cũng cứ tưởng bộ đội sắp tiến đánh Kon Tum. Ngay cả khi Bộ tư lệnh Mặt trận giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 968 đánh Đồn Tầm và quận lỵ Thanh An… khi nhận nhiệm vụ đồng chí Thanh Sơn, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 968 còn hỏi lại tôi: “Sư đoàn 968 đánh thật hay đánh giả hả thủ trưởng”. Tôi trả lời: “Anh đánh thật còn tôi thì là giả”… Bằng “chiến dịch nghi binh” ấy quân ta đã lừa được địch điều chuyển lực lượng, tạo ra sự chủ quan, sở hở theo đúng ý đồ của ta, kết hợp với cài thế “trói” địch lại trên các hướng chúng ta đã tạo được ưu thế áp đảo tuyệt đối ở Tây Nguyên.

Trên cơ sở xem xét kỹ tình hình, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã quyết định chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chiến lược. Để bảo đảm chiến dịch chắc thắng, sau khi hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, Bộ tư lệnh Chiến dịch quyết định chọn Buôn Ma Thuột để đánh trận mở đầu – trận then chốt quyết định. Đây là một đòn đánh hiểm, đánh vào chỗ địch khá mạnh nhưng có sơ hở, và đặc biệt là vừa với sức lực của ta. Nếu ta giải phóng được Buôn Ma Thuột thì sẽ phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch, tạo ra thời cơ thuận lợi, nhanh chóng giải phóng Tây Nguyên, chia cắt chiến trường miền Nam thành hai khu (Huế – Đà Nẵng và Sài Gòn). Đồng thời, sẽ tạo thời cơ thuận lợi để ta phát triển lực lượng tiến công xuống giải phóng vùng đồng bằng Khu 5 và các tỉnh miền ĐôngNam Bộ…

– Và mọi sự đã diễn ra đúng như dự kiến, thưa Trung tướng?

– Đúng vậy, thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã làm chuyển biến thế chiến lược có lợi cho quân và dân ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Có thể nói nếu không có chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi thì chưa thể có đòn tiến công chiến lược giải phóng Huế – Đà Nẵng và đặc biệt là chưa thể có cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

– Xin Trung tướng cho biết, bài học về chiến dịch Tây Nguyên có ý nghĩa thế nào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay ?

– Bài học từ chiến dịch Tây Nguyên vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn. Và, bài học sâu sắc nổi bật cho mọi thời kỳ, mọi giai đoạn cách mạng, lúc chiến tranh cũng như trong hoà bình, đó là việc đánh giá đúng vị trí, ý nghĩa chiến lược của địa bàn Tây Nguyên; xác định đúng quyết tâm chiến lược và phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Ngày nay, Tây Nguyên càng trở nên quan trọng. Giá trị của Tây Nguyên không chỉ có hôm qua, hôm nay mà còn mãi mãi về sau. Địa bàn Tây Nguyên là nơi các thế lực thù địch sẽ nhòm ngó tới đầu tiên để thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá Việt Nam. Vì thế có thể xem đây là địa bàn rất nhạy cảm. Việc phát triển kinh tế – xã hội gắn với củng cố quốc phòng – an ninh trên địa bàn Tây Nguyên cần sự nhạy bén, nhưng phải hết sức thận trọng, tính toán trước, sau kỹ lưỡng. Phát triển kinh tế – xã hội phải đi đôi với xây dựng thế trận QP-AN, cũng như xây dựng LLVT nhân dân trên địa bàn chiến lược quan trọng này.

– Xin cảm ơn và kính chúc Trung tướng dồi dào sức khỏe, tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kim Lân (ghi)
qdnd.vn

Lập thế trận kiên trì, chuẩn bị từ trước

Nghệ thuật bảo đảm hậu cần trong Chiến dịch Hồ Chí Minh

Đoàn xe vận tải hùng hậu trên đường Trường Sơn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ảnh tư liệu.

Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, vai trò của công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật rất quan trọng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “… Lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh cách mạng ở nước ta, cuộc tổng tiến công chiến lược đặt ra những yêu cầu mới rất to lớn, rất phức tạp và khẩn trương về bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, bảo đảm cơ động lực lượng, binh khí kỹ thuật. Các lực lượng Hậu cần đã ra sức vươn lên khắc phục khó khăn, phát huy sáng tạo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”. Thành công của công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật trong Chiến dịch Hồ Chí Minh là quá trình chuẩn bị chiến trường về hậu cần chu đáo, rất sáng tạo, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta.

Khi có đường lối giải phóng miền Nam bằng khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, ở miền Nam lực lượng vũ trang từng bước phát triển ngày càng lớn mạnh, căn cứ địa cách mạng được xây dựng tiến dần thành khu giải phóng, các cơ sở hậu cần được xây dựng, phát triển thành các căn cứ hậu cần trên từng khu vực. Trong điều kiện và hoàn cảnh nước ta phải tiến hành chiến tranh chống kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn ta nhiều lần, để bảo đảm hậu cần cho chiến dịch giành thắng lợi trong điều kiện thời gian chuẩn bị trực tiếp ngắn phải có sự chuẩn bị chiến trường về hậu cần kiên trì, toàn diện từ trước.

Từ năm 1959, tuyến đường giao thông vận tải chiến lược Trường Sơn được xây dựng, đến năm 1968 đã vươn tới chiến trường Nam Bộ. Sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, việc chuẩn bị chiến trường và chuẩn bị cho tiến công lớn được đẩy mạnh toàn diện ở hậu cần các cấp; tuyến đường giao thông chiến lược Trường Sơn mở rộng thành hệ thống vận tải cơ giới ở cả phía Tây và phía Đông Trường Sơn, nối liền với các chiến trường miền Nam. Tuyến đường ống xăng dầu dọc theo tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn được xây dựng đã bảo đảm xăng dầu cho các trung đoàn, sư đoàn vận tải ô tô, tăng sức vận tải vật chất, binh khí kỹ thuật và cơ động lực lượng cho các chiến trường. Song cùng với công tác xây dựng đường sá, hậu cần chiến lược đã dồn vật chất, phương tiện kỹ thuật ra phía trước, tổ chức các kho dự trữ chiến lược trên các hướng. Do vậy chỉ hơn hai năm, hậu cần chiến lược đã chuyển tới chiến trường hơn 300.000 tấn vật chất hậu cần-kỹ thuật, vừa bảo đảm cho các lực lượng vũ trang hoạt động tác chiến, vừa dự trữ cho chiến dịch.

Cùng với công tác chuẩn bị của hậu cần chiến lược, trong hai năm 1973-1974, hậu cần Miền cũng ra sức chuẩn bị cho chiến dịch. Các căn cứ hậu cần Miền ngày càng được củng cố, hệ thống đường vận tải cơ giới được mở rộng nối liền các căn cứ hậu cần, tạo thế đứng chân vững chắc trên các hướng, bảo đảm cơ động cao.

Khi có quyết tâm Chiến dịch Hồ Chí Minh, thời gian chuẩn bị trực tiếp cho chiến dịch chỉ có 22 ngày đêm, khối lượng vật chất mới dự trữ được 40.000 tấn trong 60.000 tấn theo nhu cầu, đạn pháo lớn, phương tiện vận tải còn thiếu rất nhiều. Trước tình hình đó hậu cần chiến dịch đã quyết tâm khắc phục khó khăn bằng một số giải pháp: Dựa vào thế trận hậu cần chiến trường đã được chuẩn bị từ trước, nhanh chóng điều chỉnh lực lượng triển khai tiến lên phía trước hình thành thế trận mới liên hoàn vững chắc bao quanh Sài Gòn phù hợp với quyết tâm chiến dịch, có chiều sâu từ hậu phương chiến trường, chiến dịch tới các hướng tác chiến, tiếp cận các quân đoàn, có lực lượng hậu cần cơ động theo các đơn vị thọc sâu. Toàn bộ lực lượng hậu cần quân đội được huy động khẩn trương, kết hợp với động viên sức mạnh của cả nước, ở hậu phương lớn và trên địa bàn chiến dịch, tạo thành sức mạnh tổng hợp của toàn dân làm công tác hậu cần.

Để bảo đảm cầu đường thông suốt từ hậu phương lớn vào chiến trường, Bộ Tổng tư lệnh đã chỉ đạo Đoàn vận tải quân sự Trường Sơn phải bảo đảm tuyến đường giao thông vận tải ở phía Tây Trường Sơn, đồng thời điều động một số trung đoàn công binh sang tuyến quốc lộ 1 sửa chữa cầu đường bị địch đánh phá trong quá trình tháo chạy. Trên địa bàn tác chiến chiến dịch, mạng đường vận tải chiến dịch được tổ chức thành 6 tuyến vận tải từ hậu phương chiến dịch đến các hướng tác chiến xung quanh Sài Gòn, đồng thời tiếp tục mở thêm một số tuyến vượt qua Đồng Tháp Mười sang phía Tây và Nam Sài Gòn. Lần đầu tiên hậu cần chiến dịch kết hợp sử dụng cả đường bộ, đường thủy và đường không để vận chuyển vật chất và cơ động lực lượng. Phục vụ chiến dịch, ngành hậu cần đã huy động số lượng lớn phương tiện vận tải chiến lược, toàn bộ phương tiện vận tải của các quân đoàn, binh chủng, quân chủng, đồng thời huy động thêm phương tiện của các cơ quan Nhà nước và nhân dân vùng mới giải phóng. Kết quả đã huy động được cho chiến dịch khoảng 7.064 xe ô tô các loại, 656 ghe xuồng, 63.432 dân công để vận chuyển vật chất và cơ động lực lượng. Trong đó riêng giai đoạn chuẩn bị trực tiếp, hậu cần chiến dịch đã sử dụng 1.080 xe ô tô (tương đương khoảng 10 tiểu đoàn) để chuyển gấp 4.313 tấn đạn từ hậu phương và các quân khu mới giải phóng vào phục vụ chiến dịch.

Công tác giao thông vận tải trong Chiến dịch Hồ Chí Minh đã phát huy được những kinh nghiệm từ các chiến dịch trước, đồng thời rất linh hoạt, táo bạo, đã kịp thời giải quyết các khó khăn, tình huống đặt ra. Cơ quan tham mưu hậu cần và vận tải đã luôn nắm vững tình hình, bám sát các tình huống tác chiến, có kế hoạch điều chỉnh lực lượng, phương tiện vận tải kịp thời, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm cho chiến dịch tác chiến hiệp đồng quân binh chủng với quy mô lớn, tính cơ động cao, tốc độ nhanh, giành thắng lợi hoàn toàn.

35 năm trôi qua, song bài học chuẩn bị chiến trường về hậu cần và chỉ đạo, chỉ huy giao thông vận tải Chiến dịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị. Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu kế thừa, phát triển vào xây dựng tiềm lực, chuẩn bị thế trận hậu cần trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Đại tá Đỗ Đắc Yên
qdnd.vn

Chuẩn bị nhanh, cơ động gấp, không để mất thời cơ

Trong những ngày cả nước đang hướng tới kỷ niệm 35 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, chúng tôi đã có dịp trò chuyện với Trung tướng Nguyễn Ân ngay tại nhà ông trên phố Âu Cơ, quận Tây Hồ, TP Hà Nội. Trung tướng Nguyễn Ân, nguyên là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304 (Quân đoàn 2) – người trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 304 đánh trận đầu tiên mở cửa trên hướng Đông của Chiến dịch lịch sử mang tên Bác. Ông cũng là người cùng Bộ Tư lệnh Binh đoàn chỉ huy lực lượng thọc sâu gồm Trung đoàn 66 (Sư đoàn 304) và Trung đoàn xe tăng H03, tiến thẳng vào sào huyệt của địch tại dinh Độc Lập, bắt sống Dương Văn Minh – Tổng thống chế độ ngụy quyền Sài Gòn cùng toàn bộ nội các.

Ở tuổi 84, mái tóc của vị tướng già đã bạc trắng, nhưng trí nhớ vẫn minh mẫn lạ thường. Trong không khí thân tình, ấm cúng mà sôi nổi, mắt vị tướng già rực sáng khi gợi lại trận mở màn đầu tiên của chiến dịch năm xưa. Giọng ông quả quyết: Việc chọn đánh căn cứ Nước Trong và Trường Huấn luyện bộ binh trên hướng Đông của Chiến dịch khi đó đã thể hiện sự sáng suốt, tài thao lược của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh. Bởi đánh căn cứ Nước Trong và Trường Huấn luyện bộ binh trước 3 ngày (tức ngày 26-4-1975) là nhằm mục đích thu hút địch ra vòng ngoài, tạo điều kiện thuận lợi để các lực lượng trên hướng chủ yếu của chiến dịch tiến vào giải phóng Sài Gòn. Sáng 23-4-1975, Bộ tư lệnh Quân đoàn triệu tập các sư đoàn trưởng và chính ủy lên ấp Tam Hiệp, xã Xuân Hiệp, tỉnh Long Khánh phổ biến nhiệm vụ tác chiến. Sư đoàn 304 của tôi có nhiệm vụ cùng các đơn vị cánh Đông nổ súng tiến công quân địch vào ngày 26-4-1975, trước Chiến dịch mang tên Bác 3 ngày (tức là ngày 26-4-1975). Thời gian chỉ có 3 ngày chuẩn bị trong khi đơn vị lại vừa từ Bắc vào, trong tay Sư đoàn trưởng chỉ có một tấm bản đồ 1/1.000, không ai biết căn cứ Nước Trong nằm ở đâu trên thực địa. Chỉ biết căn cứ Nước Trong trên bản đồ, dọc trục đường 15, từ ngã ba tổng kho Long Bình đến ngã ba Long Thành. Trên trục đường từ Quân đoàn về đến đồn điền Ông Quế – nơi tập kết của sư đoàn, lòng tôi rối bời bởi chiến trường quá mới, thời gian nổ súng lại quá gấp, người dẫn đường cũng không có như trong hiệp đồng…. Nó không hề giống các chiến dịch trước đây, ít nhiều anh em cũng đã quen thuộc địa hình và thời gian làm công tác chuẩn bị không quá gấp gáp. Nhưng dù gấp cũng phải đánh, bởi nếu không đánh được thì sẽ mất thời cơ, không mở được cánh cửa phía Đông sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ chiến dịch… Chính sự câu thúc về thời gian và những khó khăn về điều kiện tác chiến đã khiến cho công tác chỉ huy và chỉ đạo tiến công của lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn 304 chúng tôi có nhiều bước sáng tạo.

Kể đến đây, mắt vị tướng già bỗng ánh lên sáng quắc. Ông cười, uống một hớp nước rồi tiếp tục: “Thực ra khi ấy chúng mình phải vận dụng kiến thức học trong trường và kinh nghiệm chiến đấu của cha ông. Trong nguyên tắc đã xác định: “Khi có điều kiện thì tổ chức chiến đấu làm thứ tự theo từng bước”. Nhưng khi điều kiện không cho phép thì phải “giắt quân thắt lưng” mang theo. Cùng một lúc phải làm nhiều việc, vừa đi trinh sát, vừa giao nhiệm vụ trực tiếp cho đơn vị luôn… Khi tôi và đồng chí Trần Bình, Chính ủy sư đoàn, đang triệu tập họp Đảng ủy vào hồi 20 giờ ngày 23-4-1975 để bàn biện pháp tháo gỡ khó khăn thì may mắn đã đến với đơn vị. Trong quá trình Quân đoàn 4 đánh vào Xuân Lộc, địch hoảng loạn rút chạy xuống Vũng Tàu qua đồn Ông Quế – nơi đơn vị chúng tôi đang tập kết. Các chiến sĩ trinh sát của đơn vị đã bắt được một tên tù binh. Qua khai thác tên này, chúng tôi đã có khá nhiều thông tin về căn cứ Nước Trong liền kết hợp với tổ chức trinh sát để có thể nổ súng đánh chiếm căn cứ Nước Trong kịp thời, theo đúng kế hoạch tác chiến của trên. Trung đoàn 9 và Trung đoàn 24 cùng với xe tăng sau hơn một giờ đồng hồ đã tiêu diệt, làm chủ căn cứ Nước Trong và Trường Huấn luyện bộ binh của địch (riêng Trung đoàn 66 và Trung đoàn xe tăng 203 làm nhiệm vụ đột kích thọc sâu đánh thẳng vào Dinh Độc Lập). Việc tiến đánh căn cứ Nước Trong trước 3 ngày đã khiến địch rơi vào đúng “bẫy” của ta. Chúng vội vàng điều ngay 2 thiết đoàn ra phản kích và đó là điều kiện để các lực lượng khác của ta đánh vào Sài Gòn và Dinh Độc Lập được thuận lợi…”.

Từ bài học về công tác chuẩn bị chiến đấu trong thời gian gấp gáp để không bị mất thời cơ, không ảnh hưởng đến kế hoạch chiến dịch đã vạch ra, Trung tướng Nguyễn Ân cho rằng: Phương pháp chuẩn bị chiến đấu theo kiểu “vừa cơ động vừa chuẩn bị”, “cùng một lúc làm nhiều việc”… cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả của trận đánh. Trong chiến đấu có rất nhiều tình huống nảy sinh, đột biến không theo quy luật mà người chỉ huy phải xử trí. Nếu không nắm vững nguyên tắc, không tích lũy kinh nghiệm chiến đấu của cha ông, không biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể… thì sẽ khó mà đánh thắng được quân địch đông hơn ta, có trang bị vũ khí hiện đại hơn ta… Yếu tố linh hoạt, sáng tạo, vận dụng hiệu quả nguyên tắc, không để mất thời cơ tiến công địch vẫn rất ý nghĩa đối với mỗi cán bộ, chỉ huy và người chiến sĩ trong chiến tranh công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, để hội tụ được các yếu tố trên thì trong công tác huấn luyện thường ngày ở từng đơn vị phải thật sự được các cấp lãnh đạo, chỉ huy chú trọng. Nếu người lính trên chiến trường không giỏi bắn súng; không mưu trí diệt được nhiều địch, tiết kiệm được đạn dược; không biết làm công sự để hạn chế những ảnh hưởng của vũ khí đối phương thì sẽ khó có thể chiến thắng địch. Vì thế, theo Trung tướng Nguyễn Ân, người chiến sĩ hiện nay cần phải được huấn luyện thật sự bài bản, kỹ lưỡng để họ không chỉ giỏi về sử dụng vũ khí trang bị mà phải giỏi cả về chiến thuật đánh địch. Còn đối với người chỉ huy thì phải thật tinh thông binh pháp, giỏi không chỉ về kiến thức chuyên môn và còn phải giỏi về các kiến thức quân sự, biết lợi dụng yếu tố địa hình thời tiết; nắm vững nguyên tắc trong chiến đấu nhưng lại phải biết vận dụng sáng tạo kinh nghiệm đánh giặc của cha ông. Trong binh pháp đã từng nói: “Bình rèn binh mã, loạn đọc binh thư”. Nếu làm được đúng theo nguyên tắc ấy, chắc chắn trong chiến đấu chúng ta sẽ chiến thắng.

Gia Minh – Thanh Tuấn
qdnd.vn

Cuộc tháo chạy kinh hoàng và một huyền thoại mới

Bị “điểm đúng huyệt”, hơn 15 nghìn tàn quân của chế độ Sài Gòn ở Tây Nguyên buộc phải rút xuống đồng bằng qua con đường duy nhất là Đường 7 (nay là quốc lộ 25). Trong cuộc tháo chạy hoảng loạn này, chúng đã ép hàng nghìn đồng bào di tản. 35 năm sau, những người dân ở TP Pleiku, thị xã Ayun Pa vẫn chưa quên được những ngày hè đỏ lửa đau thương…

Cuộc di tản kinh hoàng

35 năm sau, người dân phố núi Pleiku và thị xã Ayun Pa (tên mới của địa danh Cheo Reo, Phú Bổn) vẫn chưa thể quên được những giây phút kinh hoàng trong cuộc tháo chạy khỏi Tây Nguyên của đám tàn quân ngụy. Hàng nghìn người dân ở đây đã bị cưỡng ép phải di tản, bị dồn lại ở sông Bờ, Cheo Reo, Phú Bổn, phải ăn lá rừng, uống nước sông để tồn tại.

Bà Nguyễn Thị Lệ, bán hàng ở 22B Lê Đại Hành (TP Pleiku) năm nay đã 69 tuổi nhớ lại thời khắc ấy. Chiều 16-3-1975, khi đám tàn quân ép tất cả bà con tiểu thương phải bỏ cửa bỏ nhà theo chúng rút chạy. Bà Lệ lúc đó ngoài 30 tuổi cũng chỉ kịp cùng chồng dắt mấy đứa con, bị dòng người cuốn đi, rồi bị lùa lên những chiếc xe đò, xe lam chạy miết theo hướng Chư Sê (Đường 7). Sau đó, cả đoàn người kẹt cứng tại Phú Bổn và may mắn được bộ đội giải phóng cứu thoát. Cùng hoàn cảnh như bà Lệ, ông Phan Chánh ở phố Wừu (TP Pleiku) cho biết: Bữa ấy cả nhà ông ở Phú Bổn gồm bố mẹ và 8 anh em đang quây quần ăn cơm, bất ngờ một đám lính ngụy ùa vào, ép phải di tản cùng dòng người và xe ken đặc trên đường.

Khi địch co cụm về Cheo Reo, Phú Bổn, Tư lệnh chiến trường Tây Nguyên Hoàng Minh Thảo đã phát lệnh vừa đánh địch, vừa tách dân và bảo vệ dân. Ngay lập tức, đơn vị bộ đội địa phương H11 được lệnh làm công tác dân vận. Chiến sỹ ta tiếp cận với dân chúng đang kẹt lại dọc Đường 7, bắc loa kêu gọi đồng bào ra xe Quân giải phóng đón về nhà. Ông Lê Tăng Binh đang sống tại đường Cách Mạng (TP Pleiku), một trong những cán bộ binh vận thuộc H11 kể lại, cùng đơn vị với ông có không ít cán bộ đã hy sinh khi bị lính ngụy trà trộn trong dân nổ súng…

Những câu chuyện đậm chất nhân văn

Bà Nguyễn Thị Lệ rân rấn nước mắt khi kể về hoàn cảnh gia đình cô em gái: Bốn mẹ con lạc gia đình vào rừng phải ăn lá cây cầm cự, không biết ngày mai ra sao thì may gặp 3 chiến sỹ Quân giải phóng theo đội hình chiến đấu truy kích địch. Chính những người lính cách mạng này đã chia khẩu phần ăn cho họ rồi chỉ đường cho mọi người tìm ra chỗ xe ô tô của Quân giải phóng đưa dân quay về nhà.

Ông Vũ Xuân Mân, nguyên Chính trị viên Huyện đội H11 (huyện Phú Thiện, Ia Pa thuộc tỉnh Gia Lai bây giờ) trực tiếp tham gia chiến dịch Đường 7 kể: “Ác liệt nhất là trận truy kích địch trên đoạn đường dài chừng 10km từ cầu sông Bờ đến chân đèo Tôna thuộc địa phận huyện lỵ Phú Bổn. Đây là đoạn đường độc đạo, một bên là vách núi cao, một bên là vực sâu hun hút. Quá đông người dân, binh lính và phương tiện quân sự địch ào ạt tháo chạy làm cho đoạn đường tắc nghẽn. Từ sáng 15-3-1975, địch cho máy bay trực thăng rải truyền đơn xúi giục nhân dân di tản. Là chỉ huy lực lượng bộ đội địa phương, vừa phải tham gia với Trung đoàn 95 và Sư đoàn 320 đánh địch, vừa làm công tác dân vận nên theo ông Mân, nhiệm vụ của H11 khá căng. Chiều 18-3, khi đang hối hả chỉ huy anh em tiến quân ven Đường 7, ông Mân như sững lại trước hình ảnh người phụ nữ cùng 4 đứa nhỏ mệt lả, bị bỏ lại ven đường. Hỏi ra mới biết đó là vợ con của một đại úy quân đội Sài Gòn. Ông Mân đã cùng người chiến sỹ liên lạc san sẻ những phong lương khô là khẩu phần ăn của mình cho các cháu nhỏ và tìm xe để họ trở lại tuyến sau…

Còn thầy giáo Phạm Công Thỉnh, giảng viên ĐH Mỏ – Địa chất Hà Nội, từng là bộ đội Trung đoàn 95, Sư đoàn 325 tham gia truy kích địch tại Cheo Reo, Phú Bổn thì chưa thể quên được câu chuyện đầy tính nhân văn trong khói lửa cuộc chiến. Trưa 18-3, bộ đội ta tiến vào Phú Bổn. Lúc mặt trận im tiếng súng, anh cùng đồng đội đi dọc thị xã vừa bị quân địch tàn phá tìm kiếm để cứu những người dân bị thương còn sót lại trong từng ngôi nhà. Khi vào một ngôi nhà còn tương đối nguyên vẹn, Thỉnh như sững lại khi thấy thấp thoáng bóng một sắc lính ngụy còn ẩn nấp phía sau. Sau tiếng quát đanh thép “Đứng im!”, Thỉnh và đồng đội thấy người lính ngụy tỏ ra lúng túng với một bọc nhỏ trong tay. Thì ra đây chính là cháu nhỏ mà vợ anh ta mới sinh được có vài ngày cũng bị lùa tham gia vào cuộc tháo chạy. Thỉnh và đồng đội đã góp lại từ trong những chiếc ba lô của quân giải phóng ra các khẩu phần cá nhân đường sữa ít ỏi để đưa cho người lính phía bên kia chiến tuyến và khuyên anh ta sớm ra trình diện chính quyền cách mạng…

Theo ông Vũ Xuân Mân, cuộc truy kích địch tại Cheo Reo, Phú Bổn từng được Đại tướng Văn Tiến Dũng đánh giá mang tầm nghệ thuật quân sự trong lịch sử chiến tranh Đông Dương. Cụ thể, lực lượng bộ đội địa phương H11 vừa chiến đấu cùng các cánh quân chủ lực vừa trực tiếp tham gia giải phóng cho 3.000 người dân ở TP Pleiku, thị xã Phú Bổn và nhiều nơi khác.

Sức sống mới trên vùng đất cũ

…”Nhiều cựu chiến binh trong Nam ngoài Bắc là đồng đội của chúng tôi năm xưa, giờ trở lại nơi này đã không thể ngờ rằng cán bộ và đồng bào các dân tộc địa phương ở đây đã và đang viết lên một huyền thoại mới của thời kỳ hội nhập” – Ông Phan Cự Hảo, Chủ tịch Hội CCB thị xã Ayun Pa bộc bạch. Theo lời ông, Ayun Pa hôm nay đổi thay rất nhiều. Dự án cải tạo, nâng cấp QL25 từ Gia Lai đi Phú Yên vừa được Cục Đường bộ Việt Nam hoàn chỉnh báo cáo đầu tư với tổng chiều dài gần 100km, tổng mức đầu tư 2.076 tỷ đồng bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ. Rồi QL25 sẽ được nâng cấp theo tiêu chuẩn đường cấp III miền núi, nền đường rộng 9m, mặt đường rộng 6m. Khi toàn tuyến hoàn thành, ngoài việc rút ngắn gần nửa chặng đường so với QL19, QL25 cũng đỡ phần đèo dốc nguy hiểm. Và mai này, cảng Vũng Rô (tỉnh Phú Yên) được hoàn thiện đầu tư nâng cấp có thể tiếp nhận tàu có trọng tải 10.000 tấn, khu kinh tế Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa) đi vào hoạt động, lúc đó việc vận chuyển hàng hóa lên Tây Nguyên và ngược lại trên QL25 sẽ vô cùng thuận tiện và kinh tế. QL25 cũng sẽ kết nối vùng nguyên liệu cây công nghiệp và nông sản rộng lớn của Bắc Tây Nguyên với khu vực duyên hải Nam Trung bộ.

Đoạn khởi đầu của QL25 sẽ đi qua thị trấn Chư Sê (huyện Chư Sê) – đây là “thủ phủ hồ tiêu” của cả nước, với diện tích trên 3.000ha, năng suất 40 tạ/ha. Các tỷ phú trồng tiêu mỗi năm thu nhập dăm trăm triệu đồng trở lên ngày càng nhiều. Phía dưới đèo Chư Sê, công trình đại thủy nông Ayun Hạ hoàn thành từ năm 1992, có sức tưới 13.500ha. Hệ thống kênh chính Bắc, Nam và mạng lưới kênh mương nội đồng ngày càng vươn xa, đất đai ở Phú Thiện, Ia Pa, Ayun Pa như vỡ ra, cây cối nứt mầm, xanh tốt báo hiệu những vụ mùa bội thu. Bí thư Thị ủy Ayun Pa Châu Ngọc Tuấn khẳng định: “Trong tương lai gần, thị xã Ayun Pa sẽ là điểm nhấn về kinh tế dọc theo QL25”. Tháng ba Tây Nguyên đầy nắng và gió, dù đang là mùa khô nhưng những cánh đồng Yaun Hạ dưới chân đèo Tuna lúa tốt bời bời…

Theo: HNMo-Dương Hiệp
qdnd.vn

Bài học về xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho quân đội

Ký ức và hiện tại

Xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho quân đội là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần to lớn nâng cao sức mạnh tổng hợp của quân đội, đảm bảo cho quân đội chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn cán bộ, chiến sĩ ta: “Phải nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, có quyết tâm thì làm việc gì cũng được” và “Có quyết tâm, có sáng kiến thì khó khăn mấy cũng giải quyết được; và nhiều khi chuyển thế bại thành thế thắng”. Thực hiện lời dạy của Người, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã nêu cao ý chí quyết tâm chiến đấu trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy hy sinh gian khổ làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975.

Thực tế lịch sử đương thời chỉ rõ đế quốc Mỹ là kẻ thù rất nguy hiểm, có sức mạnh gấp nhiều lần những kẻ thù mà nhân dân ta đã gặp. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nước Mỹ nổi lên thành cường quốc số một, làm “chúa tể” thế giới tư bản. Trên thế giới lúc bấy giờ tư tưởng phục Mỹ, sợ Mỹ lan tràn ở nhiều nơi. Khi ta bắt đầu tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, có nhiều người đồng tình ủng hộ, song cũng không ít kẻ cho ta là phiêu lưu mạo hiểm, “lấy trứng chọi đá”. Đặc biệt, khi Mỹ đưa quân viễn chinh ào ạt vào xâm lược miền Nam và dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc, rất nhiều người có thiện chí đã tỏ ra lo ngại rằng đất nước ta sẽ bị sức mạnh của Mỹ đè bẹp. Trước một kẻ thù có ưu thế vượt trội so với ta cả về kinh tế, khoa học và công nghệ, vũ khí và trang bị kỹ thuật quân sự, vấn đề lớn bức bách nhất đặt ra trước dân tộc ta là: “Ta có dám đánh Mỹ và thắng Mỹ để giải phóng nửa nước còn lại, thống nhất Tổ quốc không?”. Ngay từ đầu Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyết tâm đánh Mỹ, không mơ hồ, ảo tưởng về bản chất và âm mưu xâm lược của Mỹ. Nhờ có quyết tâm đó, ta đã vượt qua những khó khăn, trở ngại ở trong nước và quốc tế lúc bấy giờ để tìm ra biện pháp thích hợp khởi đầu cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam kịp với đòi hỏi của tình hình thực tiễn.

Quyết đánh, quyết thắng đế quốc Mỹ là quyết tâm của Đảng, cũng là quyết tâm của toàn quân và toàn dân, của cả dân tộc Việt Nam, với ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi là “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá nhưng nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ được bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường bất khuất, ý thức làm chủ vận mệnh đất nước của người Việt Nam, được hun đúc tự ngàn xưa. Mỗi khi Tổ quốc lâm nguy, dân tộc ta triệu người như một, sẵn sàng đứng lên chống giặc, cứu nước. Quyết tâm ấy được thể hiện rõ nét trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng tình hình lực lượng so sánh giữa ta và địch. Đảng ta xem xét so sánh lực lượng theo quan điểm tổng hợp, phân tích tình hình của ta và địch một cách toàn diện trong quá trình vận động phát triển. Chúng ta xem xét cả chính trị và quân sự, kinh tế và văn hoá xã hội, vật chất và tinh thần, số lượng và chất lượng, thế, lực và thời cơ, điều kiện khách quan và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, nghệ thuật tác chiến, tình hình trong nước ở cả hai miền Nam, Bắc; tình hình khu vực và thế giới… Chính nhờ quyết tâm đánh thắng Mỹ, ngụy được xây dựng trên cơ sở khoa học mà nó đã trở thành phương châm chỉ đạo đúng đắn, bảo đảm cho quân đội ta càng đánh, càng mạnh và giành thắng lợi to lớn.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang sản xuất, sử dụng các loại vũ khí công nghệ cao với tính chất ác liệt và hủy diệt ngày càng lớn trong các cuộc chiến tranh, gây ra tư tưởng, tâm lý lo lắng trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ quân đội. Phát huy tinh thần của Đại thắng mùa Xuân 1975 trong việc xây dựng ý chí quyết tâm của quân đội và nhân dân đảm bảo đánh thắng chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trước hết, lãnh đạo, chỉ huy và cơ quan chức năng các cấp trong quân đội cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị làm cho cán bộ, chiến sĩ có giác ngộ sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mình trong thực hiện nhiệm vụ.

Công tác giáo dục chính trị, cần chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của dân tộc, truyền thống quyết chiến, quyết thắng của quân đội ta; xây dựng lòng tự hào, ý thức tự tôn dân tộc. Đồng thời, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta. Trong tình hình hiện nay, công tác giáo dục chính trị cần đi sâu nghiên cứu và làm cho bộ đội nhận thức sâu sắc bản chất, đặc điểm tính chất của cuộc chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao và ảnh hưởng của nó tới ý chí quyết tâm chiến đấu của quân đội ta. Giáo dục cho bộ đội có quan điểm biện chứng trong xem xét, đánh giá tình hình, thấy được những điểm mạnh, những hạn chế của vũ khí công nghệ cao và cách đánh của ta, trên cơ sở đó củng cố quyết tâm, xây dựng niềm tin chiến thắng, làm cho bộ đội tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp đổi mới đất nước; tin vào sức mạnh của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, tin vào lực lượng, vũ khí trang bị và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Cùng với đổi mới công tác giáo dục chính trị, phải nâng cao chất lượng công tác huấn luyện quân sự, diễn tập tổng hợp làm cho bộ đội có trình độ tác chiến giỏi và khả năng sử dụng thành thạo các loại vũ khí trang bị, phương tiện kỹ thuật quân sự. Xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu bao giờ cũng đặt trong mối quan hệ biện chứng với các yếu tố khác. Nếu cán bộ, chiến sĩ không có kỹ năng chiến đấu, không có trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự hiện đại, không có sức khỏe tốt… thì ý chí quyết tâm của họ không thể duy trì thường xuyên, liên tục và đạt hiệu quả cao. Hồ Chí Minh khẳng định: “Phải có quyết tâm đánh, mà đã đánh phải có quyết tâm đánh thắng” và Người chỉ rõ: “Vấn đề là ở chỗ tinh thần của con người phải truyền qua súng, tức là làm sao phải có kỹ thuật giỏi” Hiện nay cần không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, thực hiện đúng phương châm, phương hướng huấn luyện. Đặc biệt, trong huấn luyện phải tập trung làm cho bộ đội nắm vững tính năng, tác dụng, sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị hiện có, nhất là những vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại. Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật tìm ra nhiều cách đánh hay, phù hợp, có hiệu quả. Tích cực đưa bộ đội vào hoạt động thực tiễn, huấn luyện, diễn tập sát thực tế chiến đấu. Trong thời bình cần phải tăng cường tạo ra nhiều tình huống khó khăn, gian khổ để bộ đội có điều kiện thử thách lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm của mình. Kiên quyết đấu tranh chống bệnh “thành tích”, bệnh “hình thức”, chất lượng huấn luyện không thực chất, không sát tình huống chiến đấu.

Tiến sĩ ĐẶNG SỸ LỘC
qdnd.vn