Tag Archive | Xuân 75

Nghệ thuật tạo và nắm thời cơ

Ký ức và hiện tại

Cách đây 35 năm, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh đã ghi một mốc son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1975 đánh đấu bước phát triển vượt bậc nghệ thuật quân sự Việt Nam, đặc biệt là nghệ thuật tạo thời cơ và nắm thời cơ.

Thực hiện quyết tâm của Đảng, trong 2 năm 1973-1974, quân và dân ta tích cực làm mọi công tác chuẩn bị, nhanh chóng thành lập các quân đoàn chủ lực, đưa hàng vạn thanh niên, nhân viên kỹ thuật miền Bắc vào tăng cường cho miền Nam. Đẩy mạnh tiến công địch ở địa bàn Tây Nguyên, Khu 5, Nam Bộ, giải phóng nhiều vùng chiến lược quan trọng. Đặc biệt sau giải phóng Phước Long (6-1-1975), thấy rõ khả năng suy giảm của quân ngụy và khả năng khó quay lại của quân Mỹ, chớp thời cơ thuận lợi đó, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc Tổng tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Mở đầu cuộc tổng tiến công, ta mở Chiến dịch Tây Nguyên, được sự chỉ đạo đúng đắn của Bộ Tổng tư lệnh, ta đã chủ động tạo ra được nhiều thời cơ thuận lợi.

Trước hết, là thời cơ đánh trận mở màn then chốt chiến dịch, trận Buôn Ma Thuột, để giữ vững quyền chủ động, ta thực hiện nghi binh, cắt toàn bộ các con đường 19, 7, 21, 14, cô lập địch ở Buôn Ma Thuột, vây chặt tập đoàn chủ yếu của địch ở bắc Tây Nguyên, không cho chúng tăng cường, ứng cứu Buôn Ma Thuột một cách dễ dàng, mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho ta triển khai lực lượng. Sau khi tạo ra thời cơ mới, rạng sáng 10-3-1975, ta nổ súng tiến công Buôn Ma Thuột. Địch chưa kịp trở tay, phán đoán, hành động, thì trưa 11-3 ta đã giải phóng Buôn Ma Thuột.

Thứ hai, nắm vững thời cơ đánh đòn thứ nhất giành thắng lợi tốt đẹp, ta chủ động tạo ra thời cơ mới, gây cho địch khó khăn mới, buộc chúng phải phạm sai lầm mới. Chính những sai lầm mới của địch lại tạo ra thời cơ mới cho ta. Do đó, nghệ thuật tạo và nắm thời cơ lúc này là: phán đoán, hạ quyết tâm, xử lý đúng đắn, kịp thời để khỏi bỏ lỡ thời cơ, củng cố và phát triển thắng lợi vừa mới giành được, đó là đánh địch phản kích.

Trong Chiến dịch Tây Nguyên, tình huống và thời cơ đánh địch phản kích đã được dự kiến trong kế hoạch chiến dịch và xuất hiện đúng như ta đã dự kiến. Vì vậy, ta đã biến thời cơ thuận lợi đó thành kết quả thắng lợi giòn giã, đánh bại hoàn toàn cuộc phản kích của Sư đoàn bộ binh 23(-) và Liên đoàn biệt động 21 (từ ngày 12 đến 18-3) đập tan hy vọng giành lại Buôn Ma Thuột, đẩy địch vào những sai lầm nghiêm trọng hơn, đó là rút bỏ Tây Nguyên vào ngày 15-3-1975. Tình huống mới, thời cơ mới lại xuất hiện, lực lượng rút chạy là lực lượng lớn nhất, đông nhất của Quân đoàn 2 ngụy, gồm phần lớn các đơn vị chủ lực của địch. Nắm thời cơ đó, từ ngày 16 đến 24-3, ta mở cuộc truy kích thần tốc tiêu diệt toàn bộ địch rút chạy trên đường số 7, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên.

Đồng thời với Chiến dịch Tây Nguyên, Quân khu Trị Thiên, Quân khu 5, Quân đoàn 2 nhanh chóng tiến công địch trong hành tiến, giải phóng Trị Thiên và Nam Ngãi. Thời cơ mới tiếp tục xuất hiện ở Trị Thiên và Nam Ngãi. Khi phát hiện ra thời cơ, Bộ Tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu đã kịp thời chỉ đạo các đơn vị thực hiện chia cắt chiến lược, cô lập Huế – Đà Nẵng, tập trung lực lượng, tiêu diệt địch ở Trị Thiên – Huế và Quảng Ngãi – Quảng Nam, không cho địch co cụm về Đà Nẵng.

Trên địa bàn Trị Thiên-Huế, trên cơ sở phương án đã chuẩn bị, nắm vững thời cơ, các đơn vị của Quân đoàn 2, Quân khu Trị Thiên, nhanh chóng phát triển tiến công tiêu diệt Sư đoàn bộ binh 1 ngụy, Lữ đoàn thủy quân lục chiến 147 và các đơn vị bộ binh, binh chủng của địch, giải phóng thành phố Huế (10 giờ ngày 25-3) và toàn bộ tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Trên địa bàn Quân khu 5, các đơn vị Quân khu đồng loạt tiến công địch ở Quảng Nam-Đà Nẵng, tiêu diệt Sư đoàn bộ binh 2 ngụy, giải phóng thị xã Tam Kỳ, toàn bộ tỉnh Quảng Ngãi, căn cứ Chu Lai, cắt đường 1 ở phía nam từ Tam Kỳ đi Đà Nẵng, tạo ra thời cơ thuận lợi cho giải phóng Đà Nẵng. Nắm thời cơ đó, ngày 27-3, các binh đoàn thọc sâu của ta bỏ qua các mục tiêu vòng ngoài, tiến thẳng vào thành phố Đà Nẵng.

Sau thắng lợi Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế – Đà Nẵng, thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam đã đến, ta đã chủ động tạo thế và thời cơ cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, với tinh thần “một ngày bằng 20 năm”. Các sư đoàn chủ lực của ta phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến về giải phóng các tỉnh ven biển miền Trung…

Đến ngày 26-4, các quân đoàn chủ lực của ta đã triển khai trên 5 hướng theo thế bao vây, chia cắt. Đúng 17 giờ ngày 26-4, cuộc tiến công Sài Gòn bắt đầu, với thế trận bao vây và sức mạnh áp đảo, tư tưởng chỉ đạo là: thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng. Chiều 28-4, các sư đoàn địch phòng ngự ở vòng ngoài đã bị ta tiêu diệt và làm tan rã. Từ sáng 29 đến 30-4, các cánh quân ta trên các hướng đồng loạt tiến công vào nội đô. Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30-4, Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã đưa cách mạng Việt Nambước sang một giai đoạn mới, giai đoạn cả nước tiến lên xây dựng CNXH. Đã 35 năm trôi qua trên đất nước ta, khí thế hào hùng của ngày đại thắng, cũng như bài học về nghệ thuật tạo thời cơ, nắm thời cơ vẫn còn nguyên giá trị, là tài sản vô giá trong kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, chúng ta tiếp tục nghiên cứu, bổ sung phát triển nền nghệ thuật quân sự Việt Nam lên một tầm cao mới, triệt để tận dụng thời cơ thuận lợi mà Đảng, Nhà nước, nhân dân tạo ra, để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Đại tá ĐÀO VĂN ĐỆ
qdnd.vn

Hậu phương tiếp sức chiến trường

“Hậu phương lớn và vững mạnh là miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã tạo nên sức mạnh chính trị – tinh thần của quân và dân ta, cho phép chúng ta có thể động viên sức người, sức của tối đa cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, góp phần quan trọng làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975”- Đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu, Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ đã khẳng định với chúng tôi như vậy.

Từ “Thóc không thiếu một cân,…”

Đã bước sang tuổi 85 nhưng trên cương vị Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam, đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu vẫn trèo đèo, lội suối đến với bà con các dân tộc, khi ở phía Bắc, khi ở phía Nam. Là người con của “Quê hương 5 tấn Thái Bình”, cán bộ chủ chốt của tỉnh khởi xướng phong trào “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” trong thời kỳ chống Mỹ, đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu đã say sưa kể về những năm tháng hào hùng của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

“Năm 1963, tôi được bầu giữ chức Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Thái Bình, lúc đó cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt, nhu cầu lương thực, thực phẩm cho chiến trường rất lớn. Để đáp ứng yêu cầu của chiến trường, Thái Bình đưa ra ba mũi tiến công trên mặt trận kinh tế. Mũi thứ nhất, lấn biển: “Đẩy sóng ra xa, kéo chân trời gần lại”. Mũi thứ hai, thâm canh tăng vụ: “Chín tháng cho người, ba tháng cho chăn nuôi”. Mũi thứ ba là đưa nhân dân đi xây dựng kinh tế mới ở miền núi: “Tổ quốc ta giàu đẹp, đâu cũng là quê hương”- Đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu nhớ lại.

Đoàn xe từ hậu phương miền Bắc vào chi viện cho chiến trường miền Nam. Ảnh tư liệu của TTXVN

Khi hỏi về khởi nguồn của phong trào “5 tấn thóc để góp phần đánh Mỹ”, đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu kể: “Để tăng năng suất lúa, Thái Bình tiến hành cải tạo đồng ruộng, làm thủy lợi và phân bón và thay đổi giống lúa. Vụ lúa xuân khởi đầu từ Thái Bình trở thành vụ lúa xuân chính vụ và nhân rộng toàn miền Bắc. Để cải tạo đất nhiễm mặn chua phèn, chúng tôi phải vào Ninh Bình, ra Hải Phòng xin tổ chức công trường khai thác đá chở về nung vôi. Lúc bấy giờ, phân hóa học rất ít, nhằm tiết kiệm phân hóa học, chúng tôi đã dùng đất ruộng phơi ải, đập nhuyễn ra, trộn với phân đạm, phân lân, ka-li thành một chất dẻo, rồi viên thành từng viên. Các viên này được các xã viên đút vào gốc khóm lúa… Nhờ có các giải pháp tổng hợp này mà năng suất lúa của Thái Bình đã tăng dần từ 2,5 tấn/ha tăng lên 3 tấn, 4 tấn rồi 5 tấn/ha. Giữa hai cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt nhất, Thái Bình đã đạt năng suất bình quân 6 tấn rồi 7 tấn/ha vào các năm 1972, 1974. Chỉ tính từ 1965 đến 1974, Thái Bình đã huy động cho Nhà nước hơn một triệu tấn lương thực, hàng chục vạn tấn thịt lợn, cá, muối…, góp phần cùng với cả miền Bắc chi viện, tiếp sức cho tiền tuyến lớn miền Nam”.

Đến “…quân không thiếu một người”

Hào hứng kể về quê lúa Thái Bình, đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu khẳng định với chúng tôi: Mỗi mốc son lịch sử của dân tộc đều có dấu ấn của mảnh đất và những người con ưu tú quê ở Thái Bình. Riêng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước (từ 1955 đến 1975), Thái Bình đã tiễn đưa 22 vạn con em lên đường chi viện cho chiến trường miền Nam và là tỉnh có tỷ lệ dân số đi bộ đội cao nhất toàn quốc. Trong đó có hơn 34 nghìn người con ưu tú đã ngã xuống trên các chiến trường miền Nam và hai nước bạn Lào, Cam-pu-chia.

Sở dĩ có thể huy động được một lực lượng lớn như vậy cho tiền tuyến, theo đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu, công tác tuyên truyền giáo dục có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là sự nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đồng chí kể rằng: “Giữa lúc cuộc chiến tranh chống Mỹ ác liệt nhất, tôi đã động viên con trai đầu của tôi khi ấy mới 17 tuổi, đang học lớp 10, ốm yếu gầy gò, xung phong đi bộ đội để làm gương. Cháu đã được vào chiến đấu ở chiến trường Bình Trị Thiên. Thấy con của đồng chí Chủ tịch tỉnh xung phong vào bộ đội, nhiều gia đình khác đã động viên con em của họ tòng quân”.

Bài học quý cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Từ 1959 đến 1975, hậu phương miền Bắc đã tiếp tế cho chiến trường miền Nam gần 700.000 tấn vật chất, trong đó có hơn 180.000 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật; cung cấp và tổ chức cơ động hàng triệu lượt người vào chiến đấu và công tác trên các chiến trường. Vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, tại các chiến trường miền Nam, hơn 80% quân số của lực lượng vũ trang, 81% vũ khí và đạn, 60% xăng dầu, 65% thuốc men, 85% xe vận tải… là do hậu phương miền Bắc chi viện.

Nguồn: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

Theo đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu, chiến tranh dù đã lùi xa 35 năm, nhưng những bài học quý giá từ sự chi viện, tiếp sức của hậu phương cho tiền tuyến vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mặc dù “trình độ sản xuất” của nền kinh tế nước ta lạc hậu xa so với “trình độ sản xuất” của nước Mỹ, nhưng chúng ta đã chiến thắng. Chiến thắng đó không phải ở trình độ sản xuất của nền kinh tế mà là tính ưu việt của chế độ kinh tế ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Tính ưu việt của chế độ được thể hiện ở mối quan hệ giữa người với người, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, chăm lo tốt các đối tượng chính sách; tạo sự đồng thuận của các tầng lớp dân cư trong việc huy động sức người, sức của cho cuộc kháng chiến. Đặc biệt là sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ đảng viên.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, chúng ta cũng đang phải đương đầu với những kẻ thù nội xâm, ngoại xâm như tình trạng tham nhũng, lãng phí, âm mưu “diễn biến hòa bình”, xâm phạm lãnh thổ… Để xây dựng và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cũng cần thiết phải kết hợp tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, chăm lo các đối tượng chính sách, tạo sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh và ngược lại; gắn việc thực hiện quốc phòng, an ninh, kinh tế với hoạt động đối ngoại… Sự gương mẫu, tiên phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên vẫn là bài học trong giai đoạn sau này.

Đỗ Phú Thọ
qdnd.vn

Ký ức qua trận đánh

QĐND Online – Một ngày tháng 4 lịch sử, tôi gặp Trung tướng Dương Công Sửu, người con của quê hương Bắc Sơn, Lạng Sơn hiện là Phó Tư lệnh Quân khu 1, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Bằng giọng nói ấm áp, ông đã kể cho tôi nghe ký ức về một thời khói lửa, đầy bom rơi, đạn nổ trên chiến trường năm xưa…

Với ánh mắt xa xăm, thoáng buồn ông chầm chậm nói: “Chuyện chiến trường kể mãi cũng không hết, nhưng tôi nhớ nhất trận chiến đấu ngày 28-3-1971. …Hồi ấy, quan điểm của Đảng ta là “Cả nước là một chiến hào, 3 nước Đông Dương là chiến trường” nên bộ đội chủ lực của ta luôn cơ động nhanh, lúc ở miền Nam, khi sang Cam-pu-chia. Năm 1971, địch tổ chức càn quyét lớn vào tỉnh Công-pông-chàm, thuộc vùng Đông Bắc Cam-pu-chia, nhằm tiêu diệt căn cứ của ta. Địch tấn công theo trục đường số 22, từ miền Nam đến giáp sông Mê Công và một đoàn quân ngụy đã lọt vào trận địa của ta. Để tiêu diệt quân địch, ta phải vây hãm, chốt chặn đánh địch từ phía sau lên ứng cứu, đồng thời khóa chặt đường rút lui của chúng. Ngày 26-3-1971, tôi trên cương vị Đại đội trưởng Đại đội 25 đặc công, Trung đoàn 209, Sư đoàn 7, cùng Đại đội nhận lệnh lên đường làm nhiệm vụ tuyệt mật. Chúng tôi mải miết hành quân hai ngày hai đêm, vượt qua núi cao, vực sâu và những cánh rừng nguyên sinh trên đất bạn. Gần sáng, chúng tôi tới thị trấn Suông Chúp. Đồng chí Vũ Việt Hồng, Phó Trung đoàn trưởng giao nhiệm vụ: “Phải chốt cứng, chặn đứng không cho giặc tiến công và rút chạy qua đây“.

Trung tướng Dương Công Sửu, Phó Tư lệnh quân khu 1.

Quân ta xây dựng trận địa chiến đấu trên cánh đồng rộng lớn, trống trải. Đơn vị tiến hành xây dựng công sự trên khoảng diện tích chiều dài 50m, rộng gần 40m. Trước đây, chúng tôi chủ yếu đánh giặc đêm, nhưng nhiệm vụ hôm ấy là phải giao chiến ban ngày, thế nên tâm lý bộ đội cũng có nhiều băn khoăn, trăn trở và hồi hộp. Có đồng chí hỏi “Giữa đồng không, mông quạnh” thì tác chiến thế nào cho hợp lý? Chỗ này quân ta bị lộ thì không có đường rút lui, dễ thương vong nhiều…”. Tôi động viên: “Các đồng chí yên tâm, chúng ta không tác chiến độc lập, cùng “chia lửa” còn có Tiểu đoàn 9, đánh chặn không cho địch rút chạy“.

7 giờ sáng ngày 28-3 cách trận địa của ta 2km, xe tăng và bộ binh địch ào ạt tiến công vào trận địa “mai phục” của ta. Các chiến sĩ trong đơn vị sẵn sàng nổ súng. Khi 3 xe tăng địch cách trận địa khoảng 30m, súng B40, B41 “khạc lửa” tiêu diệt xe tăng địch, những tiếng nổ lớn vang lên, 3 chiếc bốc cháy ngùn ngụt. Bị đánh bất ngờ, bộ binh địch hoảng loạn tháo chạy. Xe tăng địch phía sau dùng súng 12,7 ly và M79 nhả đạn xối xả, đồng thời pháo kích oanh tạc dữ dội. Trên trời, từng tốp máy bay L19 của địch quần đảo chỉ thị cho máy bay khác trút bom, trời đất rung chuyển, ngùn ngụt khói. Trận địa ta như “rang” trên chảo lửa. Để tránh chiến sĩ ta thương vong, đơn vị đã nhanh chóng cơ động ra ngoài trận địa, lợi dụng địa hình, địa vật như: Bờ ruộng, đống rơm, cây cối lúp xúp để ẩn náu. Khi máy bay địch ngừng trút bom, bộ đội ta nhanh chóng cơ động trở lại chiếm lĩnh lại trận địa chiến đấu. Tưởng ta đã bị hủy diệt sau trận bom, xe tăng, bộ binh địch chia làm 2 mũi tấn công vào trận địa của ta. Chờ địch vào tầm bắn hiệu quả, bộ đội ta nổ súng tiêu diệt, chúng lại bị đánh bật ra. Cứ thế, trận chiến giằng co ác liệt hơn ba tiếng đồng hồ, địch không sao vượt qua được trận địa ta để lên ứng cứu cho đội quân phía sau. Lúc này, cả đơn vị đã bị thương và hy sinh gần hết, chỉ còn 4 đồng chí lành lặn, trong đó có tôi.

Tôi nhìn đồng đội mà lòng đau như cắt, lòng quyết tâm giết địch càng trỗi dậy… Đúng thời điểm này, chúng tôi được lệnh rời trận địa để trên bắn pháp yểm trợ. Trên trời, máy bay địch bay rất thấp, quần thảo dữ dội nhằm ngăn chặn ta lui quân. Tình thế thật cấp bách, không ngại hiểm nguy, tôi cùng y tá Vũ Hy Vọng, quê ở Lạng Giang, Bắc Giang, băng qua vùng đất trống, đánh lạc hướng, thu hút hỏa lực địch để chính trị viên đưa anh em thương binh về phía sau an toàn. Sau khi chạy được một đoạn, y tá Vọng trúng mảnh bom địch, bị thương nặng. Tôi vừa cõng đồng đội, vừa tìm nơi ẩn nấp. Sau 2 ngày băng rừng, nhịn đói chúng tôi tìm về đến trạm phẫu tiền phương, tôi giao anh Vọng cho trạm phẫu tiền phương và tìm đường về đơn vị.

Dẫu rằng, quân ta cũng có thương vong, mất mát, nhưng đơn vị tôi đã đánh trả và ngăn chặn 3 tiểu đoàn bộ binh địch có máy bay và xe tăng yểm trợ, tiêu diệt 55 tên, làm bị thương hàng trăm tên khác, phá hủy 5 xe tăng. Chặn đứng cuộc hành quân của địch, tạo điều kiện cho các đơn vị trong trung đoàn chia cắt, xé lẻ và tiêu diệt địch ở nhiều địa điểm khác nhau. Sau này tổng kết, trận đánh ấy chúng tôi được cấp trên khen ngợi rất nhiều”…

Khi chúng tôi tạm biệt ông ra về, mắt ông nhìn xa xăm đầy hoài niệm. Ông khẽ nói: “Dù thời gian có thể xóa nhòa đi nhiều thứ, nhưng những ký ức về các trận đánh mà tôi cùng đồng đội vào sinh ra tử thì mãi vẹn nguyên“. Biết bao kỷ niệm về chiến trường khói lửa năm xưa của một thời gian khổ, nhưng rất đỗi hào hùng đã góp phần làm nên chiến thắng lịch sử mùa xuân năm 1975 của dân tộc.

Bài, ảnh: Sầm Thạch
qdnd.vn

Bộ đội Pháo binh N72 trong 3 chiến dịch có tính quyết định trên chiến trường Khu 5

QĐND Online – Đoàn Pháo binh N72 được thành lập ngày 26-5-1972 tại Thạch Bích, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam. Vừa ổn định biên chế, đơn vị đã ra quân chiến đấu, góp sức làm nên chiến thắng vang đội của 3 chiến dịch lớn có tính quyết định trên chiến trường Khu 5.

Đó là chiến dịch giải phóng Cấm Dơi, quận lỵ Quế Sơn và quận lỵ Tiên Phước. N72 đánh 161 trận, phá hủy 22 xe tăng và xe thiết giáp (có 2 xe tăng phun lửa), 45 khẩu pháo cối, 12 kho đạn, bắn rơi 1 máy bay A37, chi viện hỏa lực cho bộ binh đánh thiệt hại nặng các trung đoàn 4, 5, 6 của địch, đập tan 1 tuyến phòng ngự quan trọng án ngữ phía tây nam khu căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng và 1 cụm cứ điểm khống chế phía tây mặt trận Quảng Đà. Chiến thắng đã tạo nên niềm tin tưởng phấn khởi trong toàn mặt trận, lần đầu tiên pháo binh tham gia chiến đấu hợp đồng binh chủng thành công, góp phần cùng quân và dân Khu 5 giải phóng nhiều vùng địch chiếm đóng, mở rộng hậu cứ tạo tiền đề vững chắc cho việc củng cố xây dựng lực lượng ta ngày càng lớn mạnh.

Trong chiến dịch Nông Sơn, Trung Phước, sau 39 ngày đêm chiến đấu, N72 sử dụng 18 khẩu pháo các loại, phối hợp với Sư đoàn H đánh hiệp đồng binh chủng 57 trận, phá hủy hơn 60 lô cốt, công sự hầm ngầm, 11 pháo, 4 kho đạn, 1 kho dầu, 2 sở chỉ huy địch, thu 2 pháo 105mm, 24 xe GMC. Bộ Tư lệnh chiến dịch Quân khu xác định đây là trận then chốt quyết định, bởi nó phá vỡ tuyến phòng ngự cơ bản, kiên cố phía tây mặt trận Quảng Đà của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội chủ lực cơ động từ đường mòn Hồ Chí Minh tiến công giải phóng Quảng Đà, Đà Nẵng. Với tinh thần tất cả cho trận đánh, bộ đội N72 đưa pháo lên cao, vào gần bắn trực tiếp, ngay từ loạt đạn đầu đã bắn trúng sở chỉ huy, trận địch pháo địch làm cho chúng hoang mang, khiếp sợ. Chiến thắng này đã góp phần thay đổi so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch, làm thay đổi cục diện chiến trường, mở rộng khu giải phóng. Tình thế của quân xâm lược Mỹ và tay sai trên chiến trường tiếp tục xấu đi nhanh chóng, không gì có thể đảo ngược được. Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” bị thiệt hại nghiêm trong, buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán ký Hiệp định Pa-ri chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam.

Chiến dịch giải phóng quận lỵ Phước Lâm, thị xã Tam Kỳ và thành phố Đà Nẵng, N72 đã phá 32 mục tiêu, trong đó có 7 mục tiêu chốt điểm, 6 chi khu, thị xã, thành phố, 3 mục tiêu bến cảng, 3 sân bay, 4 trận địa pháo, 4 sở chỉ huy địch từ trung đoàn đến quân đoàn, 5 mục tiêu đội hình địch trên đường tháo chạy, phá hủy 28 lô cốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện hỏa lực đánh trận mở màn chiến dịch, chế áp và kiềm chế 4 trận địa pháo địch, 1 trận địa cối, bắn hỏng 3 xe tăng, 1 máy bay, bắn rơi 1 chiếc A37, bắn chìm 1 tàu chiến, thu 16 khẩu pháo, 42 xe các loại và nhiều phương tiện khí tài khác. Thắng lợi của chiến dịch đã củng cố niềm tin vào cách đánh mới của pháo binh Khu 5 “hỏa khí phân tán, hỏa lực tập trung” mang lại hiệu quả cao, góp phần cùng LLVT Quân khu giải phóng Quảng Đà, Đà Nẵng, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ, Đoàn Pháo Binh N72 vừa được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Đơn vị anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Đỗ Thị Ngọc Diệp
qdnd.vn

Nghệ thuật sử dụng lực lượng phòng không trong Tổng tiến công mùa Xuân 1975

Ký ức và hiện tại

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là thắng lợi của toàn dân tộc. Trong lĩnh vực quân sự đây là thắng lợi của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân, nghệ thuật tổ chức sử dụng lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng phòng không đi cùng bộ đội binh chủng hợp thành của Đảng ta.

Trong một thời gian ngắn chúng ta đã tổ chức một lực lượng lớn phòng không cho các binh đoàn tác chiến binh chủng hợp thành. Quân chủng PK-KQ đã chuyển giao hơn 50% số trung đoàn pháo phòng không (PPK); 243 xe phục vụ; 134 khẩu pháo; 68 cơ cấu phóng tên lửa tầm thấp A-72 và 794 đạn cho các quân đoàn chủ lực. Trong đội hình mỗi sư đoàn bộ binh được biên chế 1 tiểu đoàn PPK 37-2mm; 1 đến 3 phân đội tên lửa tầm thấp A-72. Các trung đoàn bộ binh có 1 đại đội súng máy phòng không (SMPK) 12,7mm. Các sư đoàn, trung đoàn phòng không được biên chế vào đội hình các quân khu, quân đoàn. Đây là một bước phát triển mới, quan trọng trong nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng phòng không tác chiến đi cùng đội hình binh chủng hợp thành, là nghệ thuật chuyển hóa thế trận phù hợp với tác chiến chiến dịch của binh chủng hợp thành.

Một đơn vị pháo phòng không tham gia chiến dịch giải phóng Huế-Đà Nẵng. Ảnh tư liệu

Đầu năm 1975, lực lượng không quân nguỵ trên chiến trường rất mạnh với tổng số 1852 máy bay các loại, trong biên chế của 6 sư đoàn không quân. Về số lượng, không quân địch được đánh giá là “đứng hàng thứ 3” trên thế giới. Đây là một thách thức lớn đối với toàn bộ các đơn vị và các hoạt động của ta, cũng như với lực lượng PKLQ. Để tập trung lực lượng và xây dựng thế tiến công kịp thời, bảo đảm cho chiến dịch, bộ đội phòng không đã cơ động hàng nghìn ki-lô-mét với đội hình xe, pháo nặng nề, cồng kềnh, dễ lộ bí mật, đã vượt qua nhiều địa hình phức tạp, khó khăn và đã đánh hàng trăm trận. Nhiều trận đánh địch của lực lượng phòng không có công sự, ngụy trang chu đáo, có trận địa chính thức, trận địa dự bị, nhưng đa số các trận đánh diễn ra trong điều kiện hành tiến, không có đầy đủ công sự, ngụy trang; các trận “tao ngộ chiến” với cả địch trên không và địch mặt đất, mặt nước. Lực lượng PKLQ đã tiêu diệt và làm tan rã 6 sư đoàn không quân; thu và phá hủy hơn 1000 máy bay; bắn rơi, bắn hỏng hàng trăm máy bay; bắn chìm, bắn cháy nhiều tàu chiến địch, phá hủy nhiều hỏa điểm, lô cốt, ổ đề kháng, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bảo đảm cho tác chiến chiến dịch thắng lợi.

Đi cùng và chiến đấu trực tiếp bảo vệ đội hình quân đoàn (và tương đương quân đoàn) là các sư đoàn phòng không (hoặc các trung đoàn phòng không tăng cường). Trên các hướng tiến công chủ yếu, các mũi thọc sâu của các sư đoàn bộ binh, thường ta tập trung lực lượng từ 1 đến 2 trung đoàn phòng không. Đặc biệt nhất là chúng ta tập trung toàn bộ lực lượng A-72 cho các đơn vị binh chủng hợp thành. Tên lửa tầm thấp A-72 đi cùng các đơn vị đặc công, các mũi đột kích, thọc sâu của xe tăng, bộ binh đã đánh địch có hiệu quả, quân địch rất khiếp sợ khi quan sát thấy cảnh tượng tên lửa ta đuổi hạ máy bay địch, chúng kinh hoàng kêu lên “hỏa tiễn tìm nhiệt Việt Cộng hạ phi cơ rồi”. Tinh thần binh lính địch hoảng loạn, sa sút, các ổ đề kháng bị tiêu diệt, tạo điều kiện cho bộ binh, xe tăng ta phát triển tiến công. Lực lượng A-72 đã luôn theo sát bước chân thần tốc của bộ đội ta, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, cách đánh cũng rất táo bạo, linh hoạt, bất ngờ.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tên lửa tầm thấp A-72 đã bắn rơi tại chỗ 34 máy bay địch. Ngay trên hướng Tây Bắc Sài Gòn trong ngày 29-4, tên lửa A-72 đã bắn rơi 9 máy bay địch ở Phú Lâm, Tân Tạo, Ngã tư Bảy Hiền. Cũng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh chúng ta đã tổ chức thành công hiệp đồng tác chiến giữa lực lượng phòng không với bộ binh, xe tăng và các tổ, đội bộ binh bắn máy bay bay thấp. Phát huy hỏa lực của các loại vũ khí trang bị PPK 57mm, 37mm, 23mm và súng máy phòng không 12,7mm được sử dụng đánh cả địch trên không và địch mặt đất, mặt nước. Riêng 2 trung đoàn phòng không 234 và 284 đã bắn cháy, bắn chìm 10 tàu chiến địch trên sông Đồng Nai. Và ngược lại bằng các loại vũ khí có trong tay như súng bộ binh, súng máy 12,7mm các đơn vị xe tăng, bộ binh đã chiến đấu quyết liệt với máy bay địch, kết hợp các phương tiện, trang bị từ súng bộ binh, súng máy phòng không, pháo phòng không, tên lủa tầm thấp, cả tên lửa và không quân chúng ta đã tạo ra một lưới lửa vừa tập trung, vừa rộng khắp, đánh địch liên tục trong suốt quá trình chiến dịch.

Từ tác chiến phòng không của lực lượng đi cùng binh chủng hợp thành trong Chiến dịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm. Trước hết để bảo vệ trực tiếp cho các đơn vị binh chủng hợp thành, cần sử dụng phương tiện phòng không có sức cơ động nhanh, chiến đấu có hiệu quả với máy bay bay thấp và máy bay trực thăng vũ trang, chi viện hỏa lực của địch. Đó là các loại pháo phòng không tự hành, pháo phòng không có xe kéo, súng máy phòng không, tên lửa vác vai kết hợp với sự chuẩn bị sẵn kế hoạch bắn máy bay bằng súng bộ binh của các đơn vị binh chủng hợp thành. Tên lửa tầm thấp (A-72, A-87) có thể bố trí ngay trên các xe tăng, xe chiến đấu bộ binh và ở hướng dự kiến địch đánh phá. Trong quá trình phát triển của chiến dịch tiến công, căn cứ vào tình hình địch trên không, vị trí của các đơn vị được bảo vệ, các lực lượng và phương tiện phòng không phải thường xuyên sẵn sàng và di chuyển nhanh chóng bảo vệ bộ đội binh chủng hợp thành. Khi bộ đội binh chủng hợp thành vượt qua những đầu mối giao thông, cầu phà, bến vượt, ngầm… các phân đội phòng không phải ở tư thế SSCĐ cao nhất. Khi bị địch tập trung đánh phá ở độ cao thấp, các đơn vị phòng không nhanh chóng bắn trong tư thế hành tiến hay từ vị trí tạm dừng. Đồng thời sử dụng triệt để hỏa lực súng bộ binh, súng máy, đại liên… để tiêu diệt địch.

Mặt khác, trong tác chiến hiệp đồng với bộ đội binh chủng hợp thành, điều quan trọng nhất của người chỉ huy phòng không là phải nắm chắc nhiệm vụ, ý định, quyết tâm của người chỉ huy binh chủng hợp thành, nắm chắc nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ tiếp theo của chiến dịch và của các đợt, các trận chiến đấu của binh chủng hợp thành. Để đánh địch mặt đất, mặt nước, người chỉ huy các cấp nhất là từ tiểu đoàn trở xuống phải có kế hoạch cụ thể, chuẩn bị chu đáo, hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị bạn để hỗ trợ nhau tiêu diệt địch và bảo toàn lực lượng ta.

Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là cuộc chiến tranh nhân dân, bằng sức mạnh của toàn dân tộc, của lực lượng vũ trang ba thứ quân. Đây sẽ là cuộc chiến tranh lớn bằng vũ khí công nghệ cao hiện đại kết hợp với vũ khí công nghệ chưa cao, chưa hiện đại, thậm chí cả vũ khí thô sơ cũng được sử dụng để đánh địch. Do đó, lực lượng PKLQ, phòng không địa phương và dân quân tự vệ cần có số lượng đông, tổ chức tác chiến rộng khắp, tạo nên hỏa lực ở độ cao thấp là lực lượng xử lý và đánh địch tại chỗ nhanh nhất, đánh máy bay bay thấp, tên lửa hành trình, đổ bộ đường không, đường biển và tham gia các chiến dịch phản công, tiến công, các trận đánh trong các khu vực phòng thủ tỉnh, thành.

Lực lượng PKLQ, phòng không địa phương và dân quân tự vệ phải được tổ chức thành các cụm hỏa lực phòng không đủ mạnh, để bảo vệ trực tiếp các mục tiêu quan trọng trong khu vực phòng thủ, có nhiệm vụ tiêu hao, tiêu diệt địch, buộc địch phải phân tán, đối phó, đánh bại âm mưu dùng hỏa lực mạnh, đánh nhanh, thắng nhanh của địch. Đồng thời tham gia trực tiếp bảo vệ các khu vực phòng thủ tỉnh (thành), chiến đấu tạo thế cho bộ đội PK-KQ tác chiến với chiến dịch phòng không lớn.

Thiếu tướng NGUYỄN VĂN CHƯƠNG
Cục trưởng Cục Phòng không Lục quân
qdnd.vn

Ký ức về cầu Rạch Chiếc

Thao trường huấn luyện của Trường Sĩ quan Lục quân 2 một ngày đầu xuân. Thượng tá Nguyễn Xuân Liễu, Phó trưởng khoa Trinh sát đang say sưa hướng dẫn học viên luyện tập những thế võ tấn công chớp nhoáng. Dù đã ở tuổi ngoại ngũ tuần nhưng những động tác võ thuật của ông vẫn rất nhanh nhẹn, mạnh mẽ, dứt khoát. Tranh thủ giờ giải lao, chúng tôi hỏi chuyện ông về trận đánh oanh liệt, khai thông cửa ngõ tiến vào Sài Gòn từ hướng Đông ngày 30-4-1975. Ngày ấy ông là Trung sĩ, Tổ trưởng Đặc công nước thuộc Trung đội 1, Đại đội 1, Z23, Lữ đoàn 316 (Bộ Tham mưu Miền).

Ký ức cầu Rạch Chiếc…

Những chiến sĩ tham gia trận đánh cầu Rạch Chiếc năm xưa (Thượng tá Liễu đứng thứ 2 từ phải qua).

Ông kể: Khoảng 6 giờ sáng 27-4-1975, ông cùng đồng đội được lệnh bí mật rời khu trú ẩn đi chiến đấu. Mặc dù đã hơn 3 tuổi quân, tham gia nhiều trận đánh ở địa hình sông nước miền Đông Nam Bộ, nhưng lần này ông cảm thấy hồi hộp, bởi nhiệm vụ được giao gấp rút, lại chưa biết rõ mục tiêu tiến công. Vượt qua nhiều kênh rạch, khi đi bộ, lúc bơi ghe, 4 giờ chiều đơn vị ông dừng lại ém quân tại đầm Bưng thuộc xã Thủ Đức (quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay). Đồng chí Z trưởng Z23 sơ bộ thông báo nhiệm vụ cho toàn đơn vị, trong đêm 27-4 phải tiêu diệt lực lượng địch chốt giữ cầu Rạch Chiếc, mở đường cho đại quân của ta tiến vào nội đô Sài Gòn từ hướng Đông. Đây là nhiệm vụ quan trọng, khó khăn bởi quân địch quyết “tử thủ” để khống chế khu vực trung tâm. Chúng bố trí lực lượng khá đông, vũ khí trang bị mạnh, tổ chức tuần tra nghiêm ngặt suốt ngày, đêm. Nhưng với ý chí quyết tâm và lòng dũng cảm, bộ đội đặc công Z23 đã phối hợp chặt chẽ với Z22 và D81 nhanh chóng triển khai thành nhiều hướng, mũi, tiếp cận mục tiêu thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch. Đơn vị ông chia thành 5 tổ. Ông cùng 4 đồng chí khác, trong đó có Lê Trọng Việt (quê ở Tĩnh Gia, Thanh Hóa), được giao nhiệm vụ bí mật áp sát chân cầu, dùng B40, thủ pháo tiêu diệt địch trong lô cốt phía Nam cầu Rạch Chiếc. Sau khi nhận nhiệm vụ, ngay đêm 27-4 tổ của ông vận dụng các phương pháp bơi ếch, bơi cá chép, ngậm ống thở vượt sông Đồng Nai tiếp cận mục tiêu…

Thượng tá Nguyễn Xuân Liễu chợt dừng lại, hỏi chúng tôi: “Các cậu có biết thế nào là bơi cá chép không”? Đưa mắt nhìn những gương mặt chiến sĩ trẻ đang ngơ ngác, ông cười, giải thích: “Muốn vượt sông lớn trong đêm tối không bị lộ, lại giữ được sức bền, lính đặc công thường bơi ngửa, dùng kẹp bướm kẹp chặt mũi lại cho nước khỏi tràn vào rồi há miệng để thở, giống như con cá chép bị nhược, ngáp ngáp trong chậu nước ấy”. Ông vừa nói vừa làm động tác giúp chúng tôi hình dung ra tư thế bơi khá kỳ quặc mà ông và đồng đội đã thực hiện để vượt sông.

Ông kể tiếp: Trận đánh cầu Rạch Chiếc diễn ra ác liệt trong đêm. Bọn địch chốt cầu bị đánh bất ngờ phải dùng xuồng rút chạy ra xa nhưng vẫn bắn phá khu vực xung quanh. Đến gần sáng, cả tổ chỉ còn lại ông và đồng chí Lê Trọng Việt. Số đạn, thủ pháo mang theo đã hết, cả hai phải cơ động ẩn nấp sau một lùm cây nhỏ sát mép nước chờ trời sáng mới xác định được hướng về đơn vị. Đúng thời điểm đó pháo sáng của địch rọi tới. Lúc ông chưa kịp nhoài người xuống nước thì một loạt đạn AR15 vang lên. Một viên đạn địch đã găm trúng ngực làm Việt té nhào. Địch tập hợp lực lượng phản kích dữ dội buộc quân ta phải rút khỏi khu vực cầu. Cả ngày ngâm mình trong bùn nước, đói rét, mệt lả, tối 28-4, sau khi đưa thi hài đồng đội vào bờ, lợi dụng hố bom cách mép sông chừng 2 mét chôn tạm, ông mới tìm về điểm hẹn, gặp lại đồng đội ở đầm Bưng. Ngay đêm đó, tất cả lại nhận lệnh bằng mọi giá phải làm chủ và bảo vệ cầu Rạch Chiếc, bảo đảm an toàn cho các đơn vị tiến vào giải phóng Sài Gòn. Thế là, suốt 2 đêm 1 ngày liên tục bám địch chiến đấu, đến 5 giờ ngày 30-4, cầu Rạch Chiếc đã hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của quân ta.

Sau trận đánh đó, Trung sĩ Nguyễn Xuân Liễu được tặng thưởng huân chương Chiến công hạng ba và được cử đi đào tạo Sĩ quan trinh sát tại Trường Sĩ quan Lục quân 1.

Tận nghĩa với đồng đội

Chiến tranh kết thúc, Nguyễn Xuân Liễu đã trở lại cầu Rạch Chiếc nơi Lê Trọng Việt hy sinh để tìm lại mộ phần nhưng không thấy. Những năm gần đây ông tìm gặp lại những đồng đội cùng chiến đấu năm xưa, trao đổi thông tin, liên lạc và đã tìm được khá nhiều mộ liệt sĩ đặc công hy sinh ngày đó. Cách đây vài năm, nhờ thông tin từ một người dân từng sống gần cầu Rạch Chiếc, ông đã tìm được mộ phần của liệt sĩ Lê Trọng Việt và thông báo, phối hợp với người nhà của liệt sĩ đến nhận. Nhìn cảnh “trở về” muộn màng của đồng đội, trong lòng ông lẫn lộn buồn vui…

Hiện ông Liễu đang tích cực tìm kiếm thông tin để xác nhận mộ phần liệt sĩ Phạm Văn Giảng (quê Thạch Hà, Hà Tĩnh), Phan Văn Phòng (quê Quảng Xương, Thanh Hóa), cùng trung đội với ông, hy sinh trong trận đánh đồn Long Hiệu (xã Long Phước, Nhơn Trạch, Đồng Nai), tháng 3-1974. Những ngày nghỉ ông thường trở lại chiến trường xưa, gặp gỡ, hỏi thăm những người cao tuổi trong khu vực để biết thêm tin tức, phục vụ cho việc tìm kiếm hài cốt đồng đội. Hằng năm, cứ vào dịp kỷ niệm chiến thắng cầu Rạch Chiếc, ông lại cùng những cựu chiến binh ngày trước tụ họp tại Nhà văn hóa quận 2 (Thành phố Hồ Chí Minh) để ôn lại ký ức năm xưa, dâng hương tưởng nhớ những đồng đội đã anh dũng hy sinh ngay dưới chân cầu. Chính trong những lần gặp mặt ấy ông đã thu thập được nhiều thông tin cùng đồng đội xác minh, chứng thực, giúp đỡ nhiều gia đình tìm thấy hài cốt liệt sĩ.

Thượng tá Nguyễn Xuân Liễu hướng dẫn học viên trinh sát luyện tập võ thuật.

Mới đây, Thượng tá Nguyễn Xuân Liễu vừa tìm được mộ phần liệt sĩ Phạm Văn Lai (quê Quảng Xương, Thanh Hóa). Hiện ông đang làm đơn đề nghị Phòng Lao động-Thương binh-Xã hội huyện Nhơn Trạch (Đồng Nai) phối hợp giúp đỡ và báo tin cho gia đình để đưa hài cốt liệt sĩ Lai về quê an táng.

Bài giảng hôm nay

Năm 1981, Nguyễn Xuân Liễu trở thành giáo viên Trường Sĩ quan Lục quân 2 với quân hàm trung úy. Bằng kiến thức, kinh nghiệm tích lũy trong chiến đấu và học tập, ông luôn tận tình dồn hết tâm sức vào từng bài giảng vì sự tiến bộ của các thế hệ học viên. Một trong những kinh nghiệm mà ông truyền đạt cho học viên trinh sát, đó là phương pháp làm lán trên đất bùn không lún, vận dụng hiệu quả trong diễn tập, dã ngoại vùng sông nước. Ngày ấy đơn vị ông thường xuyên phải tác chiến trên địa hình sình lầy nhiều cây đước, chà là, su su. Để bố trí được chòi canh, lán trại cho vài người ở là điều hết sức khó khăn. Một lần được giao nhiệm vụ dựng chòi canh ngay phía bìa đầm, ông đã nảy ra sáng kiến đặt nằm mấy cây đước xuống bùn để giảm độ lún rồi chọn cây có nhiều chạc buộc chống phía trên. Cứ thế, chỉ vài giờ sau chòi canh khá chắc chắn đã hoàn thành trước sự ngỡ ngàng của đồng đội. Hay kinh nghiệm hứng nước mưa từ lá cây đước tích trữ trong mùa khô; hành quân qua đầm nghỉ giải lao bằng cách người nọ ngồi lên đầu gối người kia… Tất cả những kinh nghiệm thực tiễn, sinh động và bổ ích ấy được Thượng tá Nguyễn Xuân Liễu gửi gắm vào nội dung bài giảng, làm tăng tính thuyết phục đối với học viên. Thượng sĩ Danh Hoàng Hường, học viên Phân đội 6 (Trường SQLQ2), tâm đắc: “Những tiết học sôi nổi, đầy nhiệt huyết của thầy Liễu đã tạo ấn tượng sâu sắc giúp chúng tôi dễ hiểu, dễ tiếp thu và thêm tự hào, tin tưởng ở nghệ thuật đánh giặc tài tình của cha ông ngày trước”.

Gần 30 năm giảng dạy, chất lính đặc công kiên cường, quả cảm vẫn vẹn nguyên, giúp Nguyễn Xuân Liễu vượt mọi khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ, vừa truyền dạy kiến thức chuyên môn, vừa “truyền lửa” hun đúc ý chí, niềm tin cho học viên trưởng thành.

Bài và ảnh: Hoàng Thành
qdnd.vn

Nghệ thuật xây dựng thế trận chiến lược

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975

Bộ đội ta tiến vào giải phóng Huế. Ảnh tư liệu

Thời cơ để quân và dân ta mở cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1975 là trên cơ sở thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 ở chiến trường miền Nam, bước đầu ta đã tiêu diệt lực lượng lớn quân địch và giải phóng một số vùng đất đai cùng với đòn đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của địch ra miền Bắc, buộc Mỹ phải ngồi vào đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri (27-1-1973). Sau thất bại nặng nề đó, địch đã suy yếu toàn diện cả về lực l­ượng, thế trận và tinh thần. So sánh lực lượng trên chiến trư­ờng có lợi cho ta và bất lợi cho địch, như­ng ngụy quân Sài Gòn vẫn còn có sự viện trợ về vũ khí và giúp đỡ của cố vấn quân sự dưới dạng cố vấn hành chính của Mỹ. Chính quyền ngụy Sài Gòn ra sức phá hoại Hiệp định Pa-ri, tăng cường mở các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của ta.

Trư­ớc tình hình đó, Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng hạ quyết tâm lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam trong 2 năm 1975-1976, nếu thời cơ đến sớm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975. Đồng thời, nhất trí phê chuẩn ph­ương án của Bộ Tổng tham m­ưu là chọn Nam Tây Nguyên làm hướng tiến công chiến lược chủ yếu, đây là hướng địch tuy mạnh nhưng có nhiều sơ hở và là nơi có tính chất hiểm yếu, sẽ gây bất ngờ lớn, cắt đôi chiến trường toàn miền Nam, làm đảo lộn thế chiến l­ược của địch. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, ta tiến hành 3 chiến dịch lớn. Đây là ba đòn tiến công chiến lược, thể hiện rõ nghệ thuật chỉ đạo tác chiến chiến l­ược, đặc biệt là nghệ thuật xây dựng thế trận chiến lược.

Trước hết, là thế trận đứng chân của các binh đoàn chủ lực. Thế trận của ta là thế trận của chiến tranh nhân dân đã đ­ược xây dựng từ đầu cuộc chiến tranh, do chiến tranh nhân dân phát triển cao, nên các binh đoàn chủ lực của ta đã đứng chân ở phía Nam vĩ tuyến 17, lập thế tiến công ở phía tây chiến tuyến của địch, từ vĩ tuyến 17 đến Sài Gòn, đến đồng bằng sông Cửu Long. Các binh đoàn chủ lực của ta không tiến công địch từ phía Bắc vĩ tuyến 17, không đánh vào chiều dọc chiến tuyến của địch. Bởi vì, nếu ta mở cuộc tổng tiến công từ phía Bắc vĩ tuyến 17 đánh theo chiều dọc chiến tuyến của địch, có độ dày và chiều sâu lớn từ Quảng Trị đến Huế – Đà Nẵng – Nha Trang thì khả năng và sức đột phá không đủ mạnh để tiêu diệt địch, phá vỡ các tuyến phòng ngự của chúng. Do đó, các binh đoàn chủ lực của ta triển khai đứng chân ở phía tây chiến tuyến của địch, chỉ cách Huế – Đà Nẵng khoảng từ 30 đến 40km, thậm chí cũng đứng chân ở sát nách Sài Gòn, chỉ cách phía Tây Bắc Sài Gòn khoảng 60km, thực hành tiến công địch là hợp lý, dễ chọc thủng và chia cắt các tuyến phòng ngự của địch, giành thắng lợi nhanh chóng.

Thế trận triển khai từ phía tây đánh vào chiều ngang đội hình mỏng yếu của địch, không có chiều sâu, thì ta có thể nhanh chóng đánh chiếm chiến tuyến phòng ngự cơ bản của địch trên đ­ường số 1. Ở Huế, Đà Nẵng và Tam Kỳ, ta chỉ cần một lần đột phá chiến dịch là có thể đạt tới chiều sâu chiến l­ược. Thực tế ta đánh từ phía Tây các thành phố Huế, Đà Nẵng và thị xã Tam Kỳ thì tuyến phòng ngự của địch không có chiều sâu chiến l­ược mà chỉ có chiều sâu chiến dịch. Vì các binh đoàn chủ lực của ta đứng sẵn ở phía Bắc Sài Gòn, nên Sài Gòn gần như­ không còn chiều sâu chiến lược, tạo điều kiện cho ta nhanh chóng phá vỡ chiến tuyến, làm sụp đổ nhanh chóng thế trận chiến l­ược của địch.

Thế trận chiến l­ược mà ta tạo đ­ược đã chia cắt thế trận, phá đư­ợc thế liên hoàn chiến l­ược của địch, cô lập và chia cắt các tập đoàn lực l­ượng của địch ra từng cụm, khó có thể ứng cứu đ­ược nhau, ta tiến công vào đâu cũng dễ giành đ­ược thắng lợi, dễ phát triển tiến công, khuếch tr­ương thắng lợi trước để giành thắng lợi sau lớn hơn, thắng lợi sau tạo cho ta một thế trận vững chắc hơn để tiến công đè bẹp địch nhanh chóng. Đây là nét đặc sắc trong xây dựng thế trận chiến l­ược của ta. Trong chiến dịch Tây Nguyên, trận Buôn Ma Thuột là trận then chốt đầu tiên có ý nghĩa quyết định vì, giáng một đòn sấm sét rất nhanh vào trận địa-tuyến phòng ngự của địch, mở ra và thúc đẩy sự phát triển lớn về thế chiến l­ược của ta, phá vỡ thế chiến lược của địch. Trận thứ 2 ở Huế-Đà Nẵng, ta đã giáng một đòn rất mạnh, rất nhanh cũng có ý nghĩa then chốt quyết định, làm đảo lộn thế chiến lư­ợc của địch, tạo ra cục diện chiến tranh mới, gây ra đột biến chiến tranh, tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho đòn thứ 3 là chiến dịch Hồ Chí Minh thành một trận then chốt quyết định, kết thúc chiến tranh.

Thế trận của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là một thế trận chiến tranh nhân dân, triển khai từ Quảng Trị qua Tây Nguyên đến Sài Gòn, là một thế trận đánh từ phía tây sang phía đông, đánh cắt giao thông, thế kết hợp các vùng, miền và sự nổi dậy của quần chúng. Xây dựng thế trận chiến lư­ợc nh­ư thế, buộc địch phải phân tán đối phó để ta có điều kiện tập trung lực lư­ợng đánh các đòn chiến l­ược quyết định ở Tây Nguyên, Huế-Đà Nẵng, rồi phát triển thắng lợi giải phóng Nam Trung Bộ. Trên đà thắng lợi, ta dùng tất cả lực l­ượng, cả quân đoàn tổng dự bị chiến l­ược và lực lượng ở Đồng bằng sông Cửu Long, cùng tập đoàn chiến lư­ợc phía Nam đã đứng chân sẵn ở ngoại vi Sài Gòn thực hiện đòn chiến l­ược then chốt quyết định giải phóng Sài Gòn một cách nhanh gọn.

Nghệ thuật xây dựng thế trận chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là một nghệ thuật độc đáo tài tình, đầy sáng tạo của chiến tranh nhân dân Việt Nam, là bư­ớc phát triển rực rỡ, là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đó là biểu tượng sáng ngời của nghệ thuật chỉ đạo tác chiến chiến l­ược tài giỏi của Đảng và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Đại tá Đào Văn Đệ
qdnd.vn

Đập tan “cánh cửa thép” Xuân Lộc (kỳ 2)

Kỳ 2: Chuyển hóa thế trận, đập tan “cánh cửa thép” bằng binh pháp cô lập, cắt rời

QĐND Online – Ngày 13-4, Thượng tướng Trần Văn Trà, Phó Tư lệnh Bộ chỉ huy Chiến dịch đã đến sở chỉ huy, cùng Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 nghiên cứu diễn biến trận đánh, quyết định tổ chức lại lực lượng, thay đổi cách đánh.

Xuất phát từ nhận định: đối với toàn tuyến phòng thủ Sài Gòn của địch, Xuân Lộc chỉ có giá trị khi được nối liền với Biên Hòa, nên Bộ chỉ huy Chiến dịch và Quân đoàn chủ trương lập thế trận mới, cô lập và cắt rời Xuân Lộc ra khỏi Biên Hòa bằng cách đánh chiếm ngã ba Dầu Giây, cắt đường số 1, chặn quân địch từ Biên Hòa, Trảng Bom lên phản kích và đánh chiếm Tân Phong; cắt đường số 2 đi Bà Rịa.

Lựa chọn cách đánh trên còn xuất phát từ nhận định là trong khi địch còn đang hoang mang, dao động về chiến lược, ta không nhất thiết phải tập trung lực lượng lớn đánh vào một khu vực có lực lượng địch đông và mạnh, mà có thể chuyển hoá thế trận, dùng “thế” để giải phóng Xuân Lộc. Do đó, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 quyết định ngừng tiến công các vị trí địch đang cố thủ trong thị xã. Trung đoàn 165 (Sư đoàn 7) và Trung đoàn 266 (Sư đoàn 341) giữ vững những bàn đạp đã chiếm được, duy trì áp lực thường xuyên lên quân địch trong thị xã, thực hiện biện pháp nghi binh, làm địch tin rằng ta đang chuẩn bị tiến đánh tiếp.

Bộ binh, xe tăng Quân đoàn 4 tiến công thị xã Xuân Lộc.

Sư đoàn 6 (Quân khu 7) và Trung đoàn 95B (thuộc Sư đoàn 325, Quân đoàn 2) mới từ Tây Nguyên vào tăng cường cho Quân đoàn 4 sẽ đánh chiếm Dầu Giây và Núi Thị, giải phóng thêm một đoạn đường số 1 và đoạn đường số 20 còn lại, thực hiện chốt chặn chiến dịch, diệt quân địch từ Biên Hòa, Trảng Bom lên phản kích.

Trung đoàn 209 (Sư đoàn 7) triển khai lực lượng trên dải vòng cung Đông Bắc chi khu Tân Phong, chặn đánh Lữ đoàn 1 dù, không cho chúng vượt qua cầu Gia Liên để bắt liên lạc với Chiến đoàn 43 trong thị xã; Trung đoàn 141 (Sư đoàn 7) và hai trung đoàn còn lại của Sư đoàn 341 củng cố tại chỗ làm lực lượng dự bị cơ động.

Trong khi ta chuyển thế trận và cách đánh, địch lầm tưởng đã đẩy lùi được cuộc tiến công của ta. Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu tuyên truyền rùm beng về “Chiến thắng Xuân Lộc”, về “khả năng chiến đấu của quân lực Việt Nam cộng hòa đã được phục hồi”. Lê Minh Đảo, Tư lệnh Sư đoàn 18 ngụy thì huênh hoang tuyên bố: “Việt cộng dù có thêm mấy sư đoàn nữa cũng không thể chiếm được Long Khánh…Việt cộng muốn qua Long Khánh phải bước qua xác của Đảo này”.

Rạng sáng 15-4, pháo 130 ly của ta bắt đầu bắn phá sân bay Biên Hòa, chặn khả năng địch tiếp ứng bằng không lực. Cùng lúc đó, bằng 5 trận vận động tập kích, Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B đã tiêu diệt sinh lực của Chiến đoàn 52 ngụy, thu 12 khẩu pháo và toàn bộ xe tăng của Chi đoàn 3 thiết giáp, tại sở chỉ huy dã chiến của Chiến đoàn 52. Đường số 1 từ Xuân Lộc tới Bàu Cá bị cắt. Đoạn đường 20 cuối cùng từ Túc Trưng đến ngã ba Dầu Giây do ta làm chủ.

Trong hai ngày tiếp theo (16 và 17), sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 3 ngụy ở Trảng Bom tổ chức phản kích với lực lượng Lữ đoàn 3 thiết giáp có 200 xe tăng, xe bọc thép và Chiến đoàn 8 (Sư đoàn 5 ngụy). Chúng còn được hơn 100 khẩu pháo ở các căn cứ Nước Trong, Hốc Bà Thức, Long Bình, Đại An và 125 lần chiếc máy bay chiến đấu chi viện hỏa lực mỗi ngày. Trận chiến đã diễn ra ác liệt ở Hưng Nghĩa và cao điểm 122. Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B đã diệt gọn 1 tiểu đoàn địch, bắt sống hơn 100 tên, đẩy lùi địch xuống Bàu Cá. Trước thất bại không cưỡng nổi, Quân đoàn 3 ngụy buộc buộc phải ngừng phản kích.

Cùng thời gian đó, sau khi giải phóng Nha Trang, Cam Ranh, cánh quân Duyên hải, mà nòng cốt là Quân đoàn 2 đã tiến quân thần tốc theo hướng đường 1, đập tan tuyến phòng thủ của Quân đoàn 3 ngụy ở Phan Rang; tiếp đó giải phóng Phan Thiết, Hàm Tân và ngày 18-4 đã tiến tới Rừng Lá.

Ở khu vực Xuân Lộc, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 341 liên tục quần nhau với địch, đánh tan tác hai chiến đoàn còn lại (43 và 48) của Sư đoàn 18 và diệt một bộ phận quân dù.

Trước nguy cơ bị tiêu diệt và xét thấy không còn giá trị phòng thủ, ngày 18-4, Lê Minh Đảo đề nghị rút khỏi Xuân Lộc, vì theo Đảo: “mất Dầu Giây là mất tụ điểm về sức sống ở Long Khánh”. Bộ Tổng tham mưu ngụy đồng ý và chỉ thị cho Đảo phải giữ bí mật kế hoạch rút chạy kẻo bị tiêu diệt.

Chiều tối 20-4, lực lượng còn lại của địch ở Xuân Lộc tháo chạy dưới trời mưa tầm tã. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 ra lệnh cho tất cả các đơn vị truy kích, diệt địch. Sư đoàn 341 nhanh chóng đánh chiếm Núi Thị và các mục tiêu còn lại trong thị xã, phát triển xuống đồn điền cao su Ông Quế. Sư đoàn 7 đánh chiếm nam Tân Phong, chặn đường số 2. Tiểu đoàn bộ đội địa phương Bà Rịa chốt chặn và truy kích địch trên đường số 2. Tên đại tá Tỉnh trưởng Long Khánh đã bị bắt trên đường tháo chạy.

Ngày 21-4, thị xã Xuân Lộc và tỉnh Long Khánh được giải phóng. Khi “cánh cửa thép” Xuân Lộc bị đánh sập, cự ly và bàn đạp tập kết để quân ta tiến vào Sài Gòn từ hơn 100km, rút xuống còn 50km.

Tiến công Xuân Lộc được coi là một chuỗi các trận đánh ác liệt nhất và cũng là một trong những thử thách ngặt nghèo nhất của Quân đoàn 4, kể từ ngày thành lập. Trong hơn 10 ngày chiến đấu, Quân đoàn đã cùng các lực lượng vũ trang địa phương đã tiêu hao và tiêu diệt một lực lượng lớn của địch, gồm những đơn vị mạnh nhất, được tin cậy nhất như Sư đoàn 18, Trung đoàn 5 và Lữ đoàn 3 thiết giáp, Lữ đoàn 1 dù. Trong trận này, ta đã tiêu diệt 2.056 tên địch, bắt 2.785 tên, diệt và đánh thiệt hại nặng 3 chiến đoàn bộ binh, hai chi đoàn bọc thép, một số đơn vị pháo binh, biệt động, quân dù… Ta thu 48 ô tô, 1.499 súng (có 14 khẩu pháo 105 ly và 155 ly), 100.000 viên đạn các loại, phá hủy 16 ô tô, 42 xe tăng, xe bọc thép.

Tướng Lê Minh Đảo bối rối trước
tin các cứ điểm bị đối phương chốt chặn tấn công chia cắt

Đánh sập “cánh cửa thép” Xuân Lộc, Quân đoàn 4 cùng với lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ đã góp phần tạo được một thế trận chung rất thuận lợi cho trận đánh cuối cùng…

Phạm Hoàng Hà (Lược thuật theo lịch sử Quân đoàn 4)
qdnd.vn

Đập tan “cánh cửa thép” Xuân Lộc (kỳ 1)

Đập tan “cánh cửa thép” Xuân Lộc (kỳ 1)

QĐND Online – 5 giờ 40 phút ngày 9-4-1975, Quân đoàn 4 và các lực lượng phối thuộc đã nổ súng tiến công Xuân Lộc, một trong những khu vực phòng thủ mạnh nhất trên tuyến phòng thủ Sài Gòn của địch. Phá được “cánh cửa thép” Xuân Lộc, đồng nghĩa với việc ta sẽ mở rộng thêm cánh cửa phía Đông và làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ còn lại của địch ở xung quanh Sài Gòn, tạo thêm thế và lực mới cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng…

Kỳ 1: Thế trận giằng co

Thị xã Xuân Lộc (tỉnh Long Khánh) nằm trên đường số 1, cách Sài Gòn 60 km về phía Đông Bắc, là một cụm mục tiêu kiên cố, gồm tiểu khu Long Khánh liên hoàn với căn cứ Sư đoàn 18 ngụy.

Sau khi thành phố Đà Nẵng bị quân ta tiến đánh và làm chủ, tướng Uây-en, Tham mưu trưởng lục quân Mỹ đã trực tiếp đôn đốc quân ngụy tổ chức một tuyến phòng thủ mới, kéo dài từ Phan Rang qua Xuân Lộc đến Tây Ninh, trong đó Xuân Lộc là điểm trọng tâm, nhằm ngăn chặn quân ta tiến theo đường số 1 và đường số 20 đánh vào Biên Hòa và Sài Gòn. Khi đó, Uây-en đã nói với Nguyễn Văn Thiệu và các tướng ngụy là phải giữ cho được Xuân Lộc, mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn.

Do vậy, tại Xuân Lộc, địch đã tập trung một lực lượng lớn, bao gồm: Sư đoàn 18 (còn đủ 3 chiến đoàn), Trung đoàn 5 thiết giáp, 8 tiểu đoàn bảo an, 20 đại đội địa phương quân, hàng nghìn cảnh sát và phòng vệ dân sự. Lực lượng ứng cứu trực tiếp có Lữ đoàn thiết giáp 3 ở Biên Hòa, Lữ đoàn dù 1 ở Sài Gòn; ngoài ra còn có các sư đoàn bộ binh và lực lượng binh chủng của hai quân khu 3 và 4.

Cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 4 phát triển tiến công chỉ huy sở Sư đoàn 18 ngụy tại núi Thị-Xuân Lộc (tháng 4-1975). Ảnh tư liệu

Được giao nhiệm vụ đánh chiếm Xuân Lộc, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 xác định đây là một khu vực phòng thủ mạnh của địch ở cửa ngõ Sài Gòn, nên phải lấy diệt địch bên ngoài là chính, tạo thế bao vây cô lập, khi có thời cơ sẽ tiến công cứ điểm. Do đó, Đảng ủy đề ra phương châm “Đánh chắc, tiến chắc”. Nhưng trước tình hình thực tế là quân địch đang hoang mang, dao động, cần phải “khẩn trương, táo bạo”, sử dụng một bộ phận bộ binh, tập trung toàn bộ xe tăng, pháo binh tiến công thẳng vào sở chỉ huy tiểu khu và sư đoàn 18, nếu địch tan vỡ thì nhanh chóng đánh chiếm Xuân Lộc.

Sư đoàn 7 được giao nhiệm vụ tiến công hướng chủ yếu, từ phía Đông đánh chiếm căn cứ Sư đoàn 18.

Sư đoàn 341 đảm nhận hướng thứ yếu, từ phía Bắc đánh xuống, chiếm tiểu khu Long Khánh và các mục tiêu trong thị xã.

5 giờ 40 phút ngày 9-4-1975, Quân đoàn 4 nổ súng tiến công Xuân Lộc. Các trận địa pháo Quân đoàn, sư đoàn đồng loạt nhả đạn. Một giờ sau, bộ binh bắt đầu xung phong.

Hướng Bắc, Trung đoàn 266 (Sư đoàn 341) do sư đoàn trưởng Trần Văn Trân và Chính ủy Trần Nguyên Độ trực tiếp chỉ huy nhanh chóng thọc sâu chiếm khu thông tin, khu cố vấn Mỹ, khu cảnh sát…các mũi đều phát triển thuận lợi vì trước trận đánh mấy ngày, công tác trinh sát nắm tình hình tại khu vực tác chiến được ta tiến hành khá kỹ.

Đến 9 giờ 30 phút, các chiến sĩ Phạm Lê Canh, Nguyễn Văn Trọng (Tiểu đoàn 5) và Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Minh Đức (Tiểu đoàn 7) cùng đồng đội mang lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” tiến về dinh Tỉnh trưởng Long Khánh. Địch tập trung phản kích quyết liệt, buộc lực lượng của Trung đoàn 266 phải dừng lại bên ngoài sở chỉ huy Tiểu khu.

Ở hướng Đông, 8 chiếc xe tăng dẫn đầu Trung đoàn 165 (Sư đoàn 7) tiến công dũng mãnh. Khi còn cách cổng căn cứ Sư đoàn 18 ngụy chưa đầy 200 mét thì 3 chiếc xe tăng của ta bị bắn hỏng , buộc phải dừng lại. Tiểu đoàn trưởng Lèo Viết Cường và Chính trị viên Nguyễn Văn Tạo (Tiểu đoàn 5) bị thương nặng. Phó Tiểu đoàn trưởng tiếp tục chỉ huy đơn vị chiếm được một phần hậu cứ Chiến đoàn 52 ngụy.

Ở vòng ngoài, Trung đoàn 270 (Sư đoàn 341) và Trung đoàn 209 (Sư đoàn 7) đánh bại 2 tiểu đoàn, diệt 7 xe tăng của hai chiến đoàn 43 và 48 từ Tân Phong và Núi Thị vào cứu viện, giải phóng ấp Bảo Toàn trên đường số 1 (Đông Nam thị xã 4 km).

Ở khu vực ngã ba Dầu Giây, Sư đoàn 6 (thuộc Quân khu 7, được phối thuộc cho Quân đoàn 4) diệt 5 chốt địch trên đường 1, đoạn từ Hưng Nghĩa đến đèo Mẹ Bồng Con, thu 2 khẩu pháo 105, buộc Chiến đoàn 52 ngụy phải bỏ Túc Trưng chạy về ngã ba Dầu Giây.

Trong ngày chiến đấu đầu tiên, ta đã chiếm được 1/2 thị xã, toàn bộ khu hành chính tiểu khu, đưa được 3 tiểu đoàn vào chốt trong thị xã và thực hiện chia cắt từ ngã ba Dầu Giây đến đèo Mẹ Bồng Con. Bộ Tư lệnh Quân đoàn quyết định tiếp tục tiến công, tiêu diệt Sư đoàn 18 và giải phóng thị xã.

Ngày 10-4, Sư đoàn 7 đưa lực lượng dự bị là Trung đoàn 141 và 1 tiểu đoàn cao xạ 37 ly và 57 ly hỗn hợp, đột phá từ hướng Bắc xuống, cùng với Trung đoàn 165 tiến đánh căn cứ Sư đoàn 18. Bị chiến đoàn 52 và Trung đoàn 5 thiết giáp phản kích quyết liệt, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 141) không mở được cửa đột phá. Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 141 cũng chỉ chiếm được ngã tư ở ĐôngNam hậu cứ Chiến đoàn 52. Trung đoàn 165 chiếm được khu gia binh và tiến đến sân bay Cáp Rang. Trung đoàn 209 tiến công thị xã từ phía Nam, gặp tuyến phòng thủ của địch ở Nam sân bay nên phải dừng lại để củng cố bàn đạp.

Sư đoàn 341 đưa thêm Trung đoàn 270 vào thị xã, cùng Trung đoàn 266 đánh địch phản kích, giữ các mục tiêu đã chiếm. Hai tiểu đoàn 5 và 7 (Trung đoàn 266) bốn lần đột phá sân bay Cáp Rang đều bị đánh hất trở lại. Các mũi tiến công trại Lê Lợi, căn cứ Chiến đoàn 43…chiến đấu giằng co với địch dưới tầm hỏa lực bom pháo.

Ngày 11-4, chiến sự tiếp tục diễn ra giằng co, ác liệt ở trong và ngoại vi thị xã Xuân Lộc.

Nhằm tăng cường lực lượng phòng giữ Xuân Lộc, ngày 12-4, địch đổ Lữ đoàn 1 dù từ Sài Gòn xuống ngã ba Tân Phong. Ba ngày sau, chúng tăng cường thêm 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến, 1 liên đoàn biệt động quân, 1 trung đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh và 2 chi đoàn xe tăng, đưa số lượng tăng thiết giáp lên 300 chiếc. Như vậy, tính cả Sư đoàn 18 và các lực lượng đã được bố trí trước ngày ta nổ súng, tại Xuân Lộc, địch đã tập trung 50% bộ binh, 60% pháo binh, hầu hết xe tăng của Quân đoàn 3 và lực lượng tổng dự bị tương đương một sư đoàn. Như vậy, lực lượng địch ở Xuân Lộc tham gia tác chiến quy mô tới cấp quân đoàn.

Ngoài ra, từ sân bay Biên Hòa và Tân Sơn Nhất, mỗi ngày địch huy động 80 lần chiếc máy bay ném bom, cao nhất là 125 lần chiếc, nhằm chi viện cho các mũi phản kích của bộ binh, xe tăng địch và đánh vào đội hình tiến công của ta.

Sau 3 ngày chiến đấu, ta đã chiếm được một số mục tiêu, diệt một bộ phận sinh lực địch, song chiến sự vẫn diễn biến hết sức phức tạp. Tuy rối loạn, đổ vỡ lớn, nhưng biết được vị trí quan trọng của Xuân Lộc, lại có công sự vững chắc và được tăng cường lực lượng, nên địch vẫn chống trả quyết liệt, gây cho ta tổn thất và tạm thời ngăn được sức tiến công của ta…

Phạm Hoàng Hà (Lược thuật , theo lịch sử Quân đoàn 4)
qdnd.vn

Kỳ 2: Chuyển hoá thế trận, đập tan “cánh cửa thép” bằng binh pháp cô lập, cắt rời

Trận then chốt quyết định (Tiếp theo và hết)

Kỳ 7: Bùng nổ chiến lược

Sư đoàn 23 bị tiêu diệt hoàn toàn. Trong những ngày đó, chúng tôi đã không thể hiểu được kẻ địch lại có thể tổ chức phản kích ốm yếu đến như vậy. Thứ nhất, Sư đoàn 23 được tung vào trận không hề đúng lúc. Nếu chúng đưa lực lượng đến trong ngày 10 hay thậm chí trong ngày 11 tháng 3 thì chúng ta sẽ gặp khó khăn, trận đánh chiếm thị xã có thể kéo dài hơn và như vậy các tình huống tiếp theo sẽ khác. Nhưng chúng lại đến sau khi ta đã rảnh tay, và kết cục… Thứ hai, cái lối ném lần lượt từng trung đoàn xuống để… chúng ta có điều kiện lần lượt tập trung tiêu diệt. Tại sao chúng làm như thế? Bây giờ nhìn lại, có thể thấy rõ hơn: Đúng là chúng đã chỉ huy tồi trước đòn choáng Buôn Ma Thuột, nhưng chúng đã muốn làm một đòn nghi binh: Vào lúc ấy, Thiệu đã quyết định bỏ Plei-ku, Kon Tum, thực hiện một cuộc rút lui chiến lược của Quân đoàn 2. Bỏ cao nguyên? Còn có thể nói gì hơn nữa: Đột biến chiến dịch, một kết cục nằm ngoài dự kiến.

* * *

Các tư liệu lịch sử và nhiều cuốn sách khác nhau nói về thời kỳ còn nóng hổi tính thời sự này đều coi bước ngoặt của chiến tranh đã được quyết định vào những ngày giữa tháng 3 Tây Nguyên năm 1975.

Xuất phát từ sự kiện là, lần đầu tiên một quân đoàn địch đã bị giập xương sống trên một địa bàn chiến lược rất trọng yếu. Nhưng đã khác nhau căn bản ở cách tìm đến nguyên nhân. Không ít tác giả phương Tây – tôi muốn nói đến ngay cả nhiều sĩ quan của ngụy quyền Sài Gòn – đã có xu hướng quy mọi thất bại lên đầu tên tổng tư lệnh tồi Nguyễn Văn Thiệu mà họ cho rằng quyết định rút bỏ Tây Nguyên của y là một sai lầm “chết điếng” đã dẫn đến sự tháo chạy chiến lược của cả Việt Nam cộng hòa. “Vậy thì trong trường hợp cụ thể đó, bộ chỉ huy chiến lược của các anh cần xử trí như thế nào thì hợp lý”. Đáp lại câu hỏi đó của chúng tôi (trong cuộc phỏng vấn được thực hiện năm 1978 mà tôi đã nói đến), lạ thay, không ít sĩ quan cao cấp cũ của quân đội Sài Gòn lại tỏ ra khá lúng túng. Ít kẻ có thể đưa ra ngay một giải pháp rõ ràng. Thậm chí, có viên sĩ quan nọ lúc đầu cho rằng nên như thế này, về sau lại “à…” rồi đưa ra một kế hoạch khác. Và thậm chí nữa, có kẻ còn xin “để tôi suy nghĩ thêm rồi trả lời sau” (chết nỗi, ba năm qua rồi mà ngài chỉ huy vẫn lúng túng, để mất cả thời cơ chiến lược lẫn chiến thuật!). Nhưng đáng chú ý là tất cả những kẻ có nhãn quan chiến lược một chút đều cho rằng trong hoàn cảnh đó không có cách nào hơn, chỉ có thể “tẩu vi thượng sách”! Nghĩa là, “tướng Thiệu đã quyết định đúng khi rút bỏ cao nguyên, nhưng ông ta đã thiết kế hành quân quá vội vã…” – Nói như thế thì còn khả dĩ. Sai lầm của chúng là ở chỗ ấy nhưng rõ ràng sự thất bại đã không phải là sai lầm chủ quan của một cá nhân (điều đó nếu có cũng chỉ thứ yếu). Sự thất bại nằm trong tồn tại khách quan là, đối phương đã đẩy đến tình trạng không còn cách lựa chọn nào khác. Sẽ là đi quá xa phạm vi một hồi ký thông thường nếu tôi đưa thêm những ý kiến phân tích, cho nên chỉ có thể tóm tắt: Rút bỏ, khó mà lựa chọn cách nào khác. Giữ nguyên hiện trạng lúc đó? Lực lượng đối phương đang dồi dào trong thế chẻ tre, Tây Nguyên đằng nào cũng không thể giữ và Quân đoàn 2 sẽ bị tiêu diệt. Thiệu biết rõ điều đó. Tung lực lượng ứng cứu giải tỏa đến cùng? Trong trường hợp đó không có thể trông vào quân Mỹ, bị bó tay nhất định bởi Hiệp định Pa-ri và cũng khó mà dám liều lĩnh “thử thời vận” một lần nữa. Thiệu biết rõ điều đó. Cũng không thể trông vào lực lượng tổng dự bị chiến lược, đang bị căng ra đối phó ở các chiến trường khác, chưa nói tới nếu như tất cả các quân đoàn chủ lực của đối phương – đang sẵn sàng – đều nhất loạt vào trận thì… Thiệu biết rõ điều đó. Còn lực lượng của chính Quân đoàn 2, Quân khu 2? Cạn rồi! Cần khẩn trương gom lại nếu còn muốn có một đòn phản công tái chiếm Buôn Ma Thuột, nơi có vị trí chiến lược quan trọng hơn cả trên cao nguyên. Gom lại, co hẹp phòng tuyến lại nếu còn muốn giữ lấy đồng bằng hậu phương, nhân tố thường xuyên quyết định trong chiến tranh. Và thế là việc rút bỏ cao nguyên được quyết định và thi hành ngay.

Trụ sở Ủy ban Quân quản thị xã Buôn Ma Thuột. Ảnh: Trần Ngọc (Phóng viên Báo Quân đội nhân dân chụp tháng 4-1975).

Tôi nhớ đến những cuộc họp của chiến lược chuẩn bị cho năm 1975 mà tôi được tham dự ở Hà Nội. Khi bàn đến hướng phát triển tiếp theo của chiến dịch Nam Tây Nguyên, đồng chí Lê Duẩn đã nói: “Địch sợ nhất một đòn chia cắt chiến lược toàn miền Nam. Giải quyết xong nam Tây Nguyên, thì cần phát triển xuống đồng bằng duyên hải Phú Yên, Khánh Hòa cắt đôi miền Namra”. Tình hình phát triển vào những ngày giữa tháng 3 đó đã tạo cơ hội cho quyết sách chiến lược ấy.

Nếu trận Buôn Ma Thuột đã quyết định Chiến dịch Tây Nguyên thì trận đường số 7 tiêu diệu Quân đoàn 2 tháo chạy, đẩy bộ tham mưu địch vào thế hoàn toàn bị động đã tạo nên bước ngoặt chiến lược.

Từ những ngày giữa tháng 3, thời gian đối với chúng tôi đã là một dòng chảy xiết đến chóng mặt các sự kiện chiến đấu, chảy xiết cho đến tận ngày cuối cùng của chiến tranh.

Chiều 15, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã gọi điện trực tiếp cho tôi nói rằng địch có khả năng rút chạy khỏi Plei-ku, Kon Tum. Thông tin ấy đến khá đột ngột vì chúng tôi chưa dự kiến tình huống lại có thể chuyển biến nhanh chóng đến như thế. Nhưng sau khi triển khai nắm lại các tin tức, quả nhiên có những hiện tượng để phán đoán khả năng này. Đêm 15, chúng tôi điện báo cáo về Bộ tổng tư lệnh, trong đó có đề cập đến chiều hướng địch rút chạy. Và ngay ngày đó, đã đề nghị với Thượng tướng Chu Huy Mân cho lực lượng Quân khu 5 sẵn sàng đón đánh địch ở Củng Sơn. Trong khi chúng tôi khẩn trương chuẩn bị các phương án đánh địch trên cơ sở những tin tức đang được sáng tỏ, vào lúc 20 giờ ngày 16, khi cả Bộ tư lệnh Chiến dịch lẫn các sĩ quan tham mưu đang có mặt bên tấm bản đồ chỉ huy thì chuông điện thoại réo vang. Tôi nhấc tổ hợp lên, và tiếng nói rành rọt của Đại tướng Văn Tiến Dũng vang từ đầu bên kia, cả hầm chỉ huy đều nghe rõ:

– Truy kích ngay! Địch đã rút chạy theo đường 7.

Sự điều động lực lượng tiếp theo là cả một cơn lốc. Những mệnh lệnh ngắn, gọn được khẩn trương phát đi. Kế hoạch tác chiến hình thành trong chốc lát. Chúng ta kiên quyết giành lại quyền chủ động thời gian!
Suốt đêm 16, chạy dưới ánh đuốc bập bùng do chính mình đốt lên (còn cách nào tốt hơn nữa!), Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64 nhận lệnh xuyên rừng ra chốt chặn đường 7, làm bức tường chặn đứng cuộc tháo loạn ô hợp của cả vạn tên địch để lực lượng lớn phía sau có thể kịp vận động đến tiêu diệt. Và nhiệm vụ ấy đã được hoàn thành xuất sắc, mặc dù bộ đội ta phòng ngự trong hình thái dã ngoại không công sự. Chúng tôi được báo cáo về tấm gương của người chiến sĩ dũng cảm Nguyễn Vy Hợi và tiểu đội của đồng chí. Các đồng chí đã chốt giữ một đoạn đường đầu cầu diệt hàng chục xe tăng địch với một tinh thần anh dũng ngoan cường. Nhiệm vụ tiêu diệt những lực lượng tháo chạy của Quân đoàn 2 được giao cho Sư đoàn 320 lúc đó đang là lực lượng dự bị chiến dịch đứng chân ở đường 14. Hành quân thần tốc bằng mọi phương tiện, Sư đoàn đã triển khai ngay thành ba mũi bao vây đội hình mấy chục km của địch trên đường số 7. Mũi phía bắc do Trung đoàn 9, mũi phía nam do Trung đoàn 64, và hình thành một tay dao chém vào giữa cụm lực lượng chủ yếu của địch ở thị xã Phú Bổn (Cheo Reo) là Trung đoàn 48. Tiểu đoàn 2 của trung đoàn này, do Trung tá Tham mưu trưởng sư đoàn Ngô Huy Phát trực tiếp nắm lúc đó, đã kiên quyết táo bạo đánh bại một lực lượng địch đông gấp bội từ thị xã nống sục về phía tây, buộc chúng phải co về để trung đoàn từ phía sau kịp đến hình thành thế bao vây.

Tiếp cận địch trong ngày 17, Sư đoàn 320 lao ngay vào cuộc chiến đấu không một giây ngừng nghỉ. Truy kích, tập kích vào các cụm phòng ngự, đánh chặn giao thông, đánh gặp gỡ, vận động bao vây tiến công liên tục… Tất cả các hình thức tác chiến đã được cán bộ và chiến sĩ trong sư đoàn vận dụng trong từng trường hợp đánh địch cụ thể, quyết giành thắng lợi về mình. Và thắng lợi ấy đã đến vào ngày 19 khi sư đoàn giải phóng thị xã Cheo Reo, quét sạch địch trên đường số 7, diệt và bắt hàng vạn tên cùng rất nhiều trang bị kỹ thuật. Một bộ phận địch chạy thoát trước đó về Phú Yên đã bị hai tiểu đoàn bộ đội địa phương và du kích Phú Yên được lệnh của Bộ tư lệnh Quân khu 5, bỏ hết các mục tiêu khác, ra chặn đứng ở Củng Sơn, rồi cùng với Trung đoàn 64 vận động xuống tiêu diệt nốt.

Cùng thời gian đó, phối hợp với bộ đội địa phương và các lực lượng nổi dậy của nhân dân, Trung đoàn 29 tiến vào Kon Tum, Trung đoàn 95A tiến vào Plei-ku, Trung đoàn 19 tiến vào Thanh Bình ở hướng bắc Tây Nguyên.

Phía cực nam mặt trận, thị xã Gia Nghĩa nằm trên đường 14, hướng được dự kiến phát triển ban đầu của chiến dịch nam Tây Nguyên cuối cùng cũng đã được giải phóng bởi Trung đoàn 271.

Trong suốt những ngày tháng 3 ấy, khi thời gian được đếm không phải bằng ngày giờ mà bằng các sự kiện chiến đấu diễn ra liên tiếp, có một phút chúng tôi để cho lòng mình được thư thái. Ấy là cái phút chúng tôi nhìn vào bản đồ Tây Nguyên – 70.000km2 của bình sơn nguyên bao la – và lần đầu tiên bất chợt nhận thấy các sĩ quan tham mưu không còn tác nghiệp lên đó những lá cờ xanh nữa. Chúng ta đã qua một chớp mắt hay một thế kỷ? Hay bốn mươi thế kỷ để đến ngày hôm nay!

Một cái gì cay cay nơi mắt dễ mềm lòng người lính khiến tôi bước ra khỏi hầm chỉ huy. Chúng tôi vốn vẫn nhận ra Tây Nguyên ở những rừng khộp, những rừng già tán lá kín bưng, những sườn đá cheo leo mà mỗi “quăng dao” là một buổi đi đường cật lực. Ở đây, tại Sở chỉ huy Chiến dịch phía tây Thuần Mẫn, tôi lại bất chợt nhận thấy một Tây Nguyên nữa. Bình nguyên đất đỏ chạy đến chân trời. Đất tốt quá! Tây Nguyên giải phóng rồi, đồng bào các dân tộc sẽ thoát khỏi cảnh đói khổ. Với đất này, với bàn tay lao động cần cù của mình, đồng bào sẽ cùng cả nước đi lên ấm no, hạnh phúc. Có gì khác đâu, đấy là mục đích mà chúng ta cầm súng.

Ngày 27 tháng 3, đã chính thức tuyên bố thành lập Quân đoàn 3 rút ra từ những lực lượng chủ yếu của bộ đội Tây Nguyên, do Thiếu tướng Vũ Lăng làm Tư lệnh và Đại tá Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy. Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Bộ tổng tư lệnh đã hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn ngay trước mùa mưa, và Quân đoàn 3 được giao nhiệm vụ sẽ đảm nhiệm một hướng tiến công quan trọng. Nhưng ngay bây giờ, các chiến sĩ Tây Nguyên ấy còn phải hoàn thành trách nhiệm tiến xuống đồng bằng, cùng với bộ đội bạn giải phóng vùng duyên hải. Cánh cửa lớn đã bật tung, ba cánh quân tràn xuống theo ba con đường của Tây Nguyên: Sư đoàn 968 và Trung đoàn 95 trên đường 19, Sư đoàn 320 trên đường số 7, Sư đoàn 10 và Trung đoàn 25 trên đường số 21. Các đòn chiến đấu tiếp tục.

Tôi lại từ giã Tây Nguyên vào một ngày cuối tháng 3 để cùng các đơn vị Tây Nguyên tiến xuống vùng đồng bằng duyên hải miền Trung. Các hướng chiến trường đang phát triển, công việc trước mắt còn biết bao nhiêu! Tôi muốn nói với các bạn chiến đấu thân thiết của tôi rất nhiều mà hầu như không nói được gì cả. Vừa ký vào tấm bản đồ Quyết tâm Chiến dịch nam Tây Nguyên mà các đồng chí vừa xây dựng lại để giữ làm lưu niệm, tôi vừa nói:

– Xin hẹn giữa thành phố Sài Gòn giải phóng! Tạm biệt…

Tiến sĩ Vũ Cao Phan (ghi)
Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
qdnd.vn

Trận then chốt quyết định (kỳ 6)
Trận then chốt quyết định (kỳ 5)
Trận then chốt quyết định (kỳ 4)
Trận then chốt quyết định (kỳ 3)
Trận then chốt quyết định (kỳ 2)
Trận then chốt quyết định (kỳ 1)

Trận then chốt quyết định (kỳ 6)

Kỳ 6: Đột biến chiến dịch

Một lực lượng dự bị chiến dịch như thế là quá mỏng. Để khắc phục tình trạng này, đã có dự kiến đưa Sư đoàn 10, ngay sau khi giải quyết xong Đức Lập ngày 9 tháng 3, về đứng chân phía đông bắc Buôn Ma Thuột làm dự bị. Nhưng như tôi đã nói, tình huống chiến đấu không suôn sẻ đã khiến sư đoàn này cho đến sáng hôm nay, ngày 10 mới dứt điểm Đức Lập và hiện đang phát triển vào mục tiêu cuối cùng là ngã ba Dak Sak.

Thời gian là lực lượng! Có điều gì khắc nghiệt mà dễ hiểu hơn chân lý đó của chiến tranh. Tranh thủ được một tiếng đồng hồ, lực lượng có thể tăng gấp đôi. Tranh thủ được 24 tiếng đồng hồ lực lượng có thể tăng gấp mười. Ngay sáng hôm qua, khi nhận thấy không còn cần thiết, Bộ tư lệnh đã điều tiểu đoàn dự bị của Sư đoàn 10 về trong đội hình Trung đoàn 24 và hôm nay, cho lệnh điều tiếp Trung đoàn 66 khi Đức Lập đã chắc thắng. Tôi lưu ý cơ quan tham mưu nắm tình hình cơ động của Trung đoàn 66 là vì thế. Và phải đôn đốc Sư đoàn 10 dứt điểm Dak Sak ngay trong chiều nay để có thể đưa nốt Trung đoàn 28 về trong đội hình sư đoàn ở phía đông bắc Buôn Ma Thuột. Thời gian là lực lượng! Để tranh lấy yếu tố thời gian, Bộ tư lệnh Chiến dịch đã huy động tất cả các phương tiện cơ giới có thể có được lúc đó để cơ động bộ đội. Vừa ra khỏi chiến đấu, đẫm mình hơi thuốc súng và bụi đất, nguyên cả âm vang của thắng lợi vừa qua và lòng hăm hở hướng tới, các chiến sĩ lao nhanh trên ô tô để bước tiếp vào trận chiến đấu mới. Dù kẻ địch có điều đến thêm lực lượng thì ngày mai hoặc chậm lắm là ngày kia, sư đoàn dự bị chiến dịch đã sẵn sàng đối phó. Và tôi có thể nói trước là, chúng ta đã tranh thủ được thời gian. Vừa cơ động đến nơi, từng đơn vị của Sư đoàn 10 đã lao ngay vào trận chiến đấu đánh địch trong hành tiến, trận chiến đấu quyết định số phận Sư đoàn bộ binh 23 và Liên đoàn biệt động 21 mà tôi sẽ đề cập đến.

Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nô nức trở về thị xã Buôn Ma Thuột sau khi được giải phóng.

Trở lại những diễn biến ở Buôn Ma Thuột trong ngày 10 tháng 3. Đến cuối ngày do những nỗ lực rất lớn của bộ đội, chúng ta đã giành được nhiều thắng lợi trên các hướng tiến quân. Vào khoảng 4 giờ chiều, chúng tôi liên tiếp nhận được báo cáo là bộ đội thọc sâu tiến công từ hướng tây và sau đó là một mũi của Trung đoàn 174 do Thiếu tá, Trung đoàn phó Nguyễn Văn Minh dẫn đầu tiến công từ hướng tây nam đã phát triển đến mục tiêu cuối cùng, sở chỉ huy Sư đoàn 23 của địch. Trong khi đó, các thông tin về tình hình địch do phòng 2 quân báo cung cấp thì lại cho thấy chúng ta chưa đến được mục tiêu chủ yếu này. Lịch sử có lặp lại không đấy? Tôi nhớ ngay một tình huống tương tự xảy ra năm 1972 khi chúng ta đánh vào thị xã Kon Tum: Bộ đội báo cáo là đã ở trong sở chỉ huy Sư đoàn 22 địch nhưng quân báo-lại vẫn là quân báo – thì khẳng định rằng, đó chưa phải là sào huyệt của chúng và quân báo đúng. Điều này không có gì lạ: Chúng ta chưa quen đánh trong thành phố, việc nhận dạng các vị trí địch thường có tính chất ước lệ và nếu có dựa vào bản đồ chiến thuật, ảnh chụp và các vật chuẩn thì những thứ ấy nhiều khi đã mất hiệu lực thời gian. Có sự nhầm lẫn là điều khó tránh khỏi. Nhưng điều quan trọng là tuyệt đối không để tình trạng mơ hồ đó kéo dài, tuyệt đối. Phải xác minh lập tức. Chỉ huy sở phía trước, do các Đại tá Nguyễn Năng và Phí Triệu Hàm chỉ huy, đã cử ngay Thượng tá, Phó tham mưu trưởng Lê Minh và một tổ các sĩ quan tham mưu gồm nhiều thành phần dùng xe “gíp” tiến theo hướng của bộ đội thọc sâu…

Đúng như dự đoán, các chiến sĩ của chúng ta đã nhầm lẫn. Do hình thái cấu trúc tương tự bên ngoài, bộ đội đã tưởng vị trí của khu thông tin và tiểu đoàn quân y địch mà họ vừa tiến đến là căn cứ của Sư đoàn 23. Nhưng như vậy là cũng đã tiến sát mục tiêu cuối cùng. Và trên tất cả các hướng, chúng ta đã làm chủ đại bộ phận thị xã. Các dấu hiệu chứng tỏ kẻ địch tuyệt vọng, mặc dù chúng không ngừng phản kích. Chúng tôi lệnh cho Thượng tá Lê Minh bắt liên lạc trực tiếp với 5 mũi tiến quân, cho bộ đội dừng lại ban đêm để củng cố, thống nhất các động tác hiệp đồng, chuẩn bị cho đòn tiến công ngày hôm sau.

Và trận công kích cuối cùng vào căn cứ Sư đoàn 23 sáng ngày 11 tháng 3 đã diễn ra đúng như dự kiến, tuyệt đẹp nữa là khác: sau trận pháo như thác giội, bộ binh ào lên từ các hướng và đến 9 giờ 5 phút, chiếc xe tăng đầu tiên phá vỡ hầm chỉ huy địch. Hầu như cùng một lúc các mũi tiến công đã hội quân ở mục tiêu cuối cùng. Sở chỉ huy của chúng tôi lúc ấy đã giống như một ngày hội.
Đến đây, tôi lại nhớ đến biên bản về cuộc thẩm vấn các sĩ quan ngụy do Đại úy Vũ Cao Phan thực hiện mà tôi đã đề cập tới ở trên. Chúng tôi đã đặt ra với họ câu hỏi này theo lối trắc nghiệm: “Trận tiêu diệt Quân đoàn II tháo chạy trên đường 7 đã có ý nghĩa theo chốt quyết định chiến dịch Tây Nguyên? Hay trận tiến công giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột rồi sau đó tiêu diệt Sư đoàn 23?”. Hai trong số các ý kiến trả lời xác định trận truy kích trên đường số 7, còn tất cả-80%-xác định trận Buôn Ma Thuột. Có thể phải nói thêm điều gì nữa? Đòn điểm trúng huyệt! Nhìn lại trận đánh ấy từ góc độ lịch sử, chúng ta thấy điều đó đúng với cả ý nghĩa chiến thuật, chiến dịch lẫn chiến lược.

Chúng tôi vào thành phố 12 vạn dân vừa mới được giải phóng ít ngày sau đó. Tôi nhận ra một điều khá lạ lùng là để “Việt cộng khỏi có chỗ ẩn núp”, tất cả các đồn điền cà phê kế cận Buôn Ma Thuột trong vòng 10km đều đã bị đốn sạch từ lâu, vậy mà trên đường đi của chúng tôi, sát ngay cửa ngõ thị xã, cà phê vẫn mặc sức trải thành rừng. Hỏi ra mới rõ là ông chủ của lô rừng cà phê này là mấy tay tư bản Pháp. Họ có nhiều tiền và tiền nhiều đã giúp họ thoát khỏi cái lệnh tai ác trên của những tướng tá ngụy và “giúp” luôn cho “mấy ông giải phóng”. Bộ đội ta đã tìm được vị trí triển khai tuyến xuất phát tiến công kín đáo trong những lô cà phê này. Đi giữa thị xã, chúng tôi mừng nhất là mặc dù trận đánh diễn ra ác liệt như vậy, sự thiệt hại của nhân dân là không đáng kể cả về người lẫn vật chất. Điều đó chứng tỏ là bộ binh, pháo binh, xe tăng của chúng ta đã đánh rất trúng mục tiêu. Và bộ đội phòng không đã hoạt động có hiệu quả chống lại các hoạt động oanh tạc của máy bay địch. Đại tá Yblok Eban, dân tộc Ê Đê, Chủ tịch Ủy ban Quân quản đã báo cáo với tôi về tình hình thị xã. Đồng chí cho biết rằng dân cư có vẻ thưa thớt là vì đã có lệnh cho sơ tán triệt để tránh máy bay địch oanh tạc, tuyệt đại bộ phận nhân dân vẫn ở lại với cách mạng mà không chạy đi. Đây là một vấn đề quan trọng mà chúng tôi đã chú ý nhiều trong giai đoạn chuẩn bị. Đã có nhiều cuộc thảo luận về việc phối hợp tác chiến của bộ đội với nổi dậy của quần chúng trong thị xã giữa các đồng chí đại diện Khu ủy, Tỉnh ủy và Chính ủy Chiến dịch, đồng chí Đặng Vũ Hiệp.

Ngày 6 tháng 3, ba ngày trước nổ súng, tại Sở chỉ huy Chiến dịch, đã tiến hành cuộc họp đề ra sự phối hợp cụ thể giữa các đồng chí Đặng Vũ Hiệp, Bùi San, Huỳnh Văn Mẫn, Yblok Eban và nhiều đồng chí khác. Trước đây, Buôn Ma Thuột vốn là nơi có các cơ sở cách mạng khá hơn cả ở Tây Nguyên. Và cũng chính nơi đây đã nổ phát súng lệnh cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của cả miền Nam Tết Mậu Thân. Nhưng phong trào đã sút kém đi từ đầu những năm 70 vì bị đứt mối cơ sở. Đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai là chúng tôi không thể thông báo sớm các ý định tác chiến để có thể bàn ngay một cách cụ thể, vì bí mật quân sự, cố nhiên, của một chiến dịch rất cần yếu tố bất ngờ. Bởi các lẽ đó, khó mà đặt vấn đề tổ chức cho nhân dân nổi dậy như cách hiểu thông thường được. Chúng tôi nhất trí với quan niệm của Khu ủy là, nổi dậy trong tình hình này trước hết là phát động làm sao để dân tin tưởng ở lại ủng hộ Quân giải phóng khi chúng ta tiến vào thị xã. Điều đó cũng đúng với khái niệm mà thuật ngữ cách mạng này bao hàm. Hiểu theo cách đó, chúng ta đã vượt yêu cầu. Các mũi tiến quân đều có các cơ sở quần chúng dẫn đường. Nhân dân đã tham gia tiếp tế và chỉ hướng cho bộ đội truy quét địch. Các công sở, xí nghiệp dân dụng giữ được nguyên vẹn và trở lại hoạt động bình thường ngay. Sự đoàn kết Kinh, Thượng được giữ vững và bước đầu củng cố. Trong việc bảo vệ nhà máy thủy điện Đray-H’ling, có công của các công nhân người Ê Đê phối hợp với các công nhân người Kinh. Chúng tôi lưu ý thêm Bộ chỉ huy quân quản về vấn đề bảo đảm đời sống cho nhân dân.

Vào đến Sở chỉ huy Sư đoàn 23, giữa ngổn ngang gạch đá và miểng pháo, Thiếu tá Nguyễn Xuân Yêm nhặt lên và đưa cho tôi xem một cuốn sách. Đó là cuốn hồi ký của một viên đại tá ngụy nào đó viết khá huênh hoang dưới tiêu đề: “Từ Điện Biên Phủ đến Kon Tum”. Tôi lật qua vài tờ và nhìn thấy tên mình được nhắc tới ở một đôi chỗ. Thì ra, viên sĩ quan này muốn chứng tỏ y biết rõ đối phương từ những chi tiết sinh hoạt nhỏ nhặt nhất, nhưng y đã chẳng biết cái gì cả: Tôi chỉ dùng cà phê khi thật cần thiết chứ không phải là ham thích thứ đồ uống này.

*

* *

Đòn phản kích tiếp liền sau đó do Bộ chỉ huy Quân khu 2 địch tung ra đã tiêu nốt những lực lượng còn lại của Sư đoàn 23 khiến sư đoàn này hoàn toàn bị xóa sổ (1).

Ngay sau khi cơ động lực lượng từ Đức Lập sang phía đông thị xã, như tôi đã đề cập ở phần trên, từ ngày 11 tháng 3, những đơn vị đến trước của Sư đoàn 10 đã lập tức tiến công các căn cứ ngoại vi còn lại rồi bước vào đánh địch phản kích. Từ ngày 12 đến ngày 18 tháng 3, bằng vận động bao vây tiến công liên tục đánh địch trong hành tiến – một hình thức tác chiến mới mẻ có trình độ đánh tiêu diệt cao-các Trung đoàn 24 và 28 của Sư đoàn bộ binh 10 và Trung đoàn bộ binh độc lập 25, đã lần lượt tiêu diệt các trung đoàn 45, 44, 21 và các đơn vị tăng phái đổ bộ xuống. Còn cần phải nhắc đến ở đây trận tiêu diệt Trung đoàn 53 địch ở sân bay Phượng Dực (đông thị xã Buôn Ma Thuột), ngày 17 tháng 3, một trận đánh góp phần xóa sổ Sư đoàn 23 và cắt đứt bàn đạp mà địch hy vọng sử dụng để phản kích đánh chiếm lại Buôn Ma Thuột. Nhiệm vụ thực hiện trận đánh này, theo quyết tâm, được giao cho Trung đoàn 149 thuộc Sư đoàn 316. Nhưng do trung đoàn, một phần thấm mệt vì trận tấn công vào thị xã trước đó, và chủ yếu là vì nắm địch chưa chắc, nên trận đánh đã qua ba ngày mà vẫn chưa ngã ngũ. Một tình hình như thế bao giờ cũng cho thấy phải tăng cường lực lượng. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định đưa thêm vào trung đoàn 66 của sư đoàn 10. Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh đồng chí chiến sĩ cảnh vệ ốm yếu gầy gò sau một cơn sốt rét ác tính đã nằng nặc không chịu về tuyến sau trong năm Mậu Thân. Bây giờ chính đồng chí ấy đấy, Thiếu tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66 Nguyễn Đình Kiệp. Nhận được lệnh, đồng chí lập tức dẫn ngay các cán bộ của mình vượt lên trước để nhận nhiệm vụ hiệp đồng. Không gặp người chỉ huy sư đoàn tại tọa độ xác định, các đồng chí đã chủ động đi tìm suốt một đêm ròng với lòng nôn nóng được lao vào trận đánh. 8 giờ sáng hôm sau gặp được chỉ huy, lập tức quay ra đưa bộ đội vào chiếm lĩnh. 14 giờ giao nhiệm vụ cho các tiểu đoàn tại trận địa, 17 giờ nổ súng tấn công, 8 giờ sáng ngày 17 tháng 3, cùng với trung đoàn 149, các đồng chí cắm cờ chiến thắng lên vị trí địch. Chúng tôi rất cần những chiến sĩ, những cán bộ như thế trong chiến đấu và nhận thấy rằng quân đội của chúng ta đã không bao giờ thiếu.

Tiến sĩ Vũ Cao Phan (ghi)
Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
qdnd.vn

Trận then chốt quyết định (kỳ 5)
Trận then chốt quyết định (kỳ 4)
Trận then chốt quyết định (kỳ 3)
Trận then chốt quyết định (kỳ 2)
Trận then chốt quyết định (kỳ 1)

Kỳ 7: Bùng nổ chiến lược

(1) Khi xảy ra trận đánh Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 23 chỉ có sở chỉ huy hành quân sư đoàn và một trung đoàn bộ binh nằm trong tổng số hơn 8.000 tên địch trong thị xã. Hai trung đoàn khác của nó lúc ấy ở Plei-cu.

Trận then chốt quyết định (kỳ 5)

Kỳ 5: Thời khắc của lịch sử

Đảm nhiệm hướng luồn sâu tạo yếu tố bất ngờ nhiều nhất đối với địch, trung đoàn phải hành quân trên một cung đường xa nhất – hai ngày hai đêm để đến vị trí tập kết cuối cùng. Và lát nữa, trung đoàn, do chính sư đoàn trưởng dẫn đầu sẽ lại hành quân vào vị trí triển khai chiếm lĩnh.

– Báo cáo, phiên điện cuối cùng với đồng chí Đàm Văn Ngụy là 15giờ 30 phút – Đồng chí trực ban chợt xuất hiện trở lại làm gián đoạn dòng suy tưởng của tôi. Tôi nhìn đồng hồ: 14 giờ 40 phút.

– Được, đồng chí ghi bức điện sau đây:

“Gửi anh Ba Đàm (biệt danh 316 – T.G)

Đêm 9 tháng 3, chiếm lĩnh trận địa đúng thời gian quy định.

Sáng 10 tháng 3, nổ súng đúng thời gian quy định.

Nắm chắc đơn vị, hiệp đồng chặt chẽ.

Bắt đầu hành quân, báo cáo.

Triển khai chiếm lĩnh, báo cáo.

Nổ súng xung phong, báo cáo” (*).

Tôi nhắc thêm: “Ký điện tên tôi và Chính ủy Nguyễn Hùng” (Đặng Vũ Hiệp).

*

* *

Tôi xin phép đi trước thời gian một chút. Ba năm sau, mùa Xuân 1978, người giúp việc của tôi – Đại úy Vũ Cao Phan – đã thực hiện một cuộc phỏng vấn các nhân chứng ở phía bên kia của các sự kiện mà tôi đang đề cập đến:

Trụ sở Ủy ban quân quản thị xã Buôn Ma Thuột sau giải phóng. Ảnh: Trần Ngọc

Tướng Phạm Duy Tất, phụ tá Chỉ huy trưởng Quân khu II đặc trách biệt động quân; tướng Lê Văn Thân, Phó chỉ huy trưởng Quân khu II đặc trách lãnh thổ; tướng Lê Trung Tường, Tư lệnh Sư đoàn bộ binh 23; Đại tá Phùng Văn Quang, Trung đoàn 53; Đại tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 53, Sư đoàn 23; tướng Trần Văn Cẩm, phụ tá Chỉ huy trưởng Quân khu II đặc trách hành quân; tướng Phạm Ngọc Sang, Tư lệnh Sư đoàn 6 không quân đặc trách cao nguyên (sở chỉ huy Plei-cu) và Đại tá Vũ Thế Quang, Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 23 kiêm Tư lệnh lãnh thổ Nam Tây Nguyên. Nghĩa là tất cả những kẻ chịu trách nhiệm chủ yếu ở Tây Nguyên năm 1975, trừ viên tư lệnh của nó – tướng Phạm Văn Phú đã trốn chạy sự thật bằng một viên đạn tự kết liễu vào phút hấp hối của ngụy quyền Sài Gòn. Cộng vào các “khuôn mặt cao nguyên” ấy còn có tướng Nguyễn Hữu Có, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng của một thời “tam hùng” Thiệu – Kỳ – Có, người có quan điểm gần cận với Dương Văn Minh, và tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư lệnh Mặt trận phòng thủ Phan Rang vào phút cuối cùng, kẻ luôn luôn nhận sự che chở của Nguyễn Văn Thiệu.

Chúng tôi đã nêu ra một loạt vấn đề và để họ được phát biểu ý kiến một cách độc lập. Về vấn đề đầu tiên và cũng là vấn đề then chốt: “Anh hãy phát biểu một cách khái quát nhất về chiến dịch Tây Nguyên”, hầu như tất cả bọn họ, diễn đạt dưới những cách tiếp cận vấn đề khác nhau, đều cho rằng đây là một đòn thối động chiến lược đã tạo nên khúc quanh của chiến tranh.

– Bước ngoặt của chiến tranh, đúng thế- Tướng Có còn đưa thêm ý kiến có vẻ tiên tri-ngay khi hay tin Quân đoàn 2 bị gục, tôi đã nói với ông Dương Văn Minh: Đừng mong gì hơn, đây không phải là cái kết cục mà chỉ là cú mở màn, thưa Đại tướng…

Không, tôi không muốn khẳng định một điều gì, nhất là với cương vị là người đã chứng kiến và tham gia vào các sự kiện ấy. Hơn nữa, đấy là những ý kiến từ phía bên kia và rốt cục họ lại cũng là những kẻ trong cuộc. “Thua trong một trận quyết định cũng là điều vinh hạnh”, phải chăng châm ngôn ấy đã khiến họ đưa ra ý kiến chủ quan? Không, quả là tôi chưa muốn khẳng định một điều gì khi bản thân lịch sử-sự khách quan tuyệt đối – có thể chưa đủ sức nặng thời gian để khẳng định. Chỉ biết rằng, cho đến tận hôm nay và có lẽ suốt cả quãng đời còn lại của người lính, tôi vẫn còn xúc động sâu sắc về thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên cùng với những hệ quả của nó, cũng như buổi sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, tôi đã xúc động như thế nào khi nghe tiếng những giàn pháo nổ như chưa bao giờ nổ trên chiến trường quen thuộc này.

Lúc đó là 5 giờ 30 phút, giờ G. Cùng lúc với bộ binh và xe tăng chiếm lĩnh các vị trí xuất phát tiến công, pháo binh chiến dịch, pháo binh sư đoàn và các đơn vị pháo binh khác trút xuống đầu địch những loạt đạn đầu tiên. Một bất ngờ không phải không đáng kể là lúc đầu trời mù, chúng ta đã không nhìn thấy các mục tiêu để xác định ngay kết quả xạ kích một cách chính xác. Nhưng rồi tầng mù cũng xua nhanh và trời sáng rõ dần. Trận pháo bắn chuẩn bị thực sự bắt đầu từ 6 giờ 30 phút. Tiếng nổ đầu nòng lẫn với tiếng nổ của đạn phá, rồi tất cả đập vào vách núi từ bốn hướng đã tạo nên cả một biển triều không dứt những âm hưởng đặc trưng của chiến tranh. Từ sở chỉ huy chiến dịch cách Buôn Ma Thuột 9km đường chim bay có thể nghe rõ cả tiếng nổ hỗn độn của các kho đạn địch bị cháy và tiếng phản pháo yếu ớt của chúng. Tôi thấy gì lúc đó? Phải, chưa bao giờ trong hơn ba mươi năm cầm súng-cho đến lúc ấy – tôi đã tham gia một trận đánh mà trong đó lực lượng pháo binh của chúng ta lại hùng hậu và áp đảo đến như vậy. Áp đảo? Đúng thế, tỷ lệ so sánh là gần 5 trên 1 trong trận mở đầu. Nhưng số lượng không nhất thiết là yếu tố quyết định. Ở Điện Biên Phủ, chúng ta chỉ có 24 khẩu pháo mà vẫn giành được ưu thế hỏa lực khiến Tư lệnh Pháo binh Pi-rốt lúc đó phải tìm đường tự vẫn để biểu thị sự bất lực một cách “khẳng khái” nhất. Vậy thì vấn đề quyết định bao giờ cũng là ở cách sử dụng.

Trận pháo bắn chuẩn bị kéo dài hơn 2 tiếng đồng hồ đã làm tê liệt quan trọng sức đề kháng của địch. Chúng ta có dồi dào đạn pháo không chỉ do sự chi viện của trên mà còn do chúng tôi đã sử dụng tiết kiệm trong những năm 1973, 1974. Hầu hết đạn pháo sử dụng trong thời kỳ đó là cỡ 105mm và 155mm lấy được trong các kho của địch hồi năm 1972 và cả những năm tiếp theo, mà các chiến sĩ pháo binh Tây Nguyên thường gọi đùa là đạn “lương khô”.

Khi các cỡ pháo chuyển sang bắn chi viện, từ các hướng, bộ binh và xe tăng ta dũng mãnh tiến lên xung phong đánh chiếm các mục tiêu đã được hiệp đồng. Cuộc tiến công có ít nhiều thuận lợi ban đầu ở hướng Trung đoàn 149 nhưng đã diễn ra khá ác liệt ở các hướng khác vì địch đã kịp thời tổ chức kháng cự. Trung đoàn 148 tiến công từ hướng tây bắc đã phải đột phá qua cả một tung thâm bố phòng của căn cứ trung đoàn thiết giáp và trận địa pháo binh địch. Bọn chúng tuy bị bất ngờ nhưng đã nhanh chóng củng cố lại các trận địa phòng ngự có sẵn. Bộ đội ta gặp nhiều tổn thất nhưng vẫn anh dũng tiến lên. Đến buổi trưa cửa đột phá được mở tung nhờ hành động dũng cảm của đồng chí tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn chủ công đã đích thân lao lên chỉ huy mở cửa, sau nhiều lần mở không có kết quả vì hỏa lực dày đặc từ trận địa pháo binh địch. Ở hướng thọc sâu của tiểu đoàn 4 bộ binh và tiểu đoàn 3 xe tăng cũng vậy. Các chiến sĩ tiến giữa một liên hợp kho tàng dài gần 2km được mệnh danh là Mai Hắc Đế mà địch vốn đã triển khai các hình thức bảo vệ chặt chẽ. Bốt canh dày chi chít là những điểm tựa khống chế cả một dải hành lang phát triển của bộ đội ta. Mặc dù một phần lực lượng xe tăng tiến trên hướng này phải nằm lại dọc đường, máu đổ nhiều, tiểu đoàn trưởng hy sinh, chính trị viên tiểu đoàn hy sinh, bộ đội thọc sâu vẫn tạo thành một mũi khoan nhanh và hiểm vào tung thâm địch. Ở hướng đông bắc do Trung đoàn 95B đảm nhiệm, tình hình có khác một chút. Tôi xin mở ngoặc để nói thêm, đây là đơn vị được tăng cường cuối cùng theo yêu cầu của chúng tôi, một đơn vị có nhiều kinh nghiệm trong trận đánh thị xã Quảng Trị năm 1972, đến chiến trường mới được 20 ngày nhưng lại phải phát triển trên hướng chủ yếu của trận mở đầu then chốt. Trung đoàn không gặp nhiều khó khăn khi đột phá, đánh chiếm mục tiêu đầu khá nhanh nhưng phải trụ lại trong nhiều giờ để đánh bại các đợt phản kích địch, rồi ngoan cường tiến đến mục tiêu quan trọng đã được xác định là cơ quan tiểu khu quân sự Đắc Lắc. Hỏa lực pháo binh địch đã bị hạn chế do hình thái xen kẽ địch, ta trong thành phố, song để bù lại, chúng sử dụng tối đa lực lượng không quân có thể huy động được. Máy bay địch giội bom, vãi đạn cố bịt các đầu cầu, nhất là trên các hướng tây bắc, đông bắc, đông nam, nhưng cũng đã vấp phải hỏa lực mãnh liệt của bộ đội phòng không theo sát bộ binh.

Bộ tư lệnh Chiến dịch, trên cả hai sở chỉ huy cơ bản và phía trước đã theo dõi chặt chẽ các tình huống diễn biến. Nhưng chính lúc trận đánh đang diễn ra ác liệt trong thị xã thì nhãn quan chiến dịch đã buộc chúng tôi, một mặt vẫn phải hết sức chú ý đến nó, mặt khác bỏ qua nó để nhìn đến toàn cục. Trinh sát cho biết chưa thấy có động tĩnh quan trọng của địch trong phạm vi toàn Quân khu II. Tôi yêu cầu các đồng chí thông qua bộ phận tham mưu của Đại diện chiến lược để tìm hiểu thêm tình hình địch ở cả miền Nam và sự phối hợp tác chiến của các chiến trường bạn. Riêng trong phạm vi Tây Nguyên, vào hồi 15 giờ, chúng tôi đã được tin địch quyết định điều liên đoàn biệt động quân số 21 ở ngoại vi đông bắc vào phản kích hòng chiếm lại một số mục tiêu quan trọng đã mất trong thị xã. Nhưng lực lượng ô hợp này, rõ ràng sợ bị chung đòn trước cuộc tiến công như vũ bão của ta, vẫn chần chừ chưa dám tiến. Ở Plei-cu, Trung đoàn bộ binh số 45 được lệnh cấm trại để sẵn sàng đổ bộ trực thăng xuống vùng Buôn Ma Thuột. Những tin tức đó không có gì đặc biệt, địch tất nhiên phải phản ứng như thế, nhưng nó cũng đã khiến chúng tôi quan tâm. Tôi nhắc Tham mưu trưởng Nguyễn Quốc Thước:

– Nắm chắc lại tình hình cơ động của Trung đoàn 66. Đôn đốc Sư đoàn 10 khẩn trương dứt điểm Dak Sak ngay.

Trận đánh của Sư đoàn 10 ở Đức Lập – Dak Sak có quan hệ mật thiết đến trận đánh Buôn Ma Thuột và tình hình địch mà tôi vừa nói đến. Phải nhìn rộng ra một chút để thấy rõ vấn đề. Chúng ta có một lực lượng lớn ở Tây Nguyên nhưng trước ngày nổ súng, toàn bộ lực lượng này đã được đưa vào cài thế chiến dịch với các nhiệm vụ: Nghi binh (Sư đoàn 968), chia cắt (Sư đoàn 320, Trung đoàn 95A, Trung đoàn 25), sẵn sàng bước vào chiến đấu (Sư đoàn 320, Sư đoàn 316, Sư đoàn 10, Trung đoàn 95B, Trung đoàn 271). Khi chiến dịch bắt đầu thì ba sư đoàn và ba trung đoàn độc lập phải đảm nhiệm một chính diện tiến công 200km và một chiều sâu phát triển 10km (theo dự kiến ban đầu) ở hướng Nam Tây Nguyên, hướng chủ yếu của chiến dịch; còn một sư đoàn cùng với một trung đoàn độc lập phải đảm nhiệm một chính diện 300km ở hướng bắc, vừa để bảo vệ vùng giải phóng rộng lớn vừa tham gia tiến công phối hợp. Guồng máy đã được sử dụng hết công suất. Vào lúc đó, lực lượng dự bị có trong tay chúng tôi chỉ còn một trung đoàn (Trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn bộ binh 10), nhưng cũng chỉ là trên danh nghĩa vì trung đoàn này đã phải rút ra một tiểu đoàn đảm nhiệm mũi thọc sâu trong trận Buôn Ma Thuột và một tiểu đoàn nữa làm dự bị cho Sư đoàn 10.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Tiến sĩ Vũ Cao Phan (ghi)
qdnd.vn

Trận then chốt quyết định (kỳ 4)
Trận then chốt quyết định (kỳ 3)
Trận then chốt quyết định (kỳ 2)
Trận then chốt quyết định (kỳ 1)

Kỳ 6: Đột biến chiến dịch

(*) Điện gửi Sư đoàn 316 ngày 9 tháng 3 năm 1975 – lưu trữ Sư đoàn 316