Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Bác Hồ và nhóm “Con Nai”

– Ngày 15/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời bức điện của Đại uý Charles Fenn, một sĩ quan tình báo trong đơn vị OSS đã từng tiếp xúc với Bác Hồ trong thời gian ở Côn Minh.

15-2-1965 HCM đọc văn bia tại chùa Côn Sơn,Hải Dương.jpg

Ngày 15/2/1965, Bác Hồ đọc văn bia tại chùa Côn Sơn, Hải Dương.

Bức thư trả lời bằng tiếng Anh bày tỏ: “Chúng tôi cảm kích vì thiện chí của Ngài muốn giúp Việt Nam. Nếu như Ngài tới đây với tư cách là một nhà báo Mỹ của một tờ báo lớn thì Ngài có thể làm được rất nhiều việc”.

Charles Fenn, trong Đại chiến Thế giới lần thứ II là một trung uý hải quân Hoa Kỳ được phái đến công tác tại AGAS (cơ quan hỗ trợ cho không quân tại mặt đất) lúc này đóng tại Côn Minh (Trung Quốc). Đó cũng là thời điểm Hồ Chí Minh đưa viên trung uý phi công Shaw được Việt Minh cứu sống khi máy bay bị quân Nhật bắn rơi trên chiến trường Bắc Đông Dương, sang Côn Minh để tìm cách trao trả cho Đồng Minh nhằm xác lâp mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít.

Thực thi chức trách của mình, Ch. Fenn đã bố trí cuộc tiếp xúc đầu tiên vào ngày 17/3/1945. Sau này , trong hồi ức của mình Ch.Fenn đã thuật lại: Hồ Chí Minh cùng đi với một người trẻ tuổi tên là  Phạm. Trước đó ông Hồ đã tìm gặp một số người Mỹ nhằm vận động sự công nhận đối với tổ chức Việt Minh như một thành viên trong lực lượng chống phát xít.

Ba ngày sau, hai người gặp lại nhau để nhất trí việc đưa một số thiết bị thông tin và đào tạo các báo vụ viên cho Việt Minh. Tiếp đó, Hồ Chí Minh yêu cầu Ch. Fenn giúp đỡ để trực tiếp gặp Tướng Claire Chennault, tư lệnh một Tập đoàn không quân của Mỹ mang biệt hiệu “Hổ bay” đang đóng bản doanh tại vùng Hoa Nam Trung Quốc, cũng là người dại diện cao nhất của Đồng Minh tại khu vực.

Cuộc gặp đã diễn ra ngày 29/3/1945 và sau cuộc gặp này mối quan hệ giữa Việt Minh và Đồng Minh được xác lập. Phía Mỹ đã cung cấp thiết bị liên lạc, một số vũ khí nhẹ và ngày 17/7 năm đó, một đơn vị đặc biệt mang biệt danh “Con Nai – The Deer” của OSS (Cơ quan tình báo chiến lược) của Mỹ đã nhảy dù xuống Tân Trào, tham gia huấn luyện, xây dựng sân bay dã chiến và thành lập Đại đội Việt – Mỹ… Phía Việt Minh sẽ cung cấp những thông tin tình báo và khí tượng cho không quân Mỹ hoạt động trên chiến trường đánh Nhật ở miền Bắc Đông Dương…

Đơn vị này đã tham gia bao vây quân Nhật ở Thái Nguyên và về Hà Nội sau khi Việt Minh giành được chính quyền. Nhưng ngay sau đó, chính phủ Mỹ yêu cầu các quân nhân Mỹ phải rời khởi Việt Nam…

Sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ những liên hệ với Ch. Fenn với nhiều tình cảm tốt đẹp. Trong thư đề tháng 8/1945 gửi Ch. Fenn, Bác viết: “Chiến tranh đã kết thúc. Đây là điều tốt cho mọi người. Tôi cảm thấy áy náy khi những người bạn Mỹ rời chúng tôi quá nhanh…

Tôi tin rằng ông và nhân dân Mỹ vĩ đại sẽ luôn luôn ủng hộ chúng tôi…Tôi cũng tin rằng sớm hay muộn chúng tôi sẽ đat đựơc mục đích của mình, bởi vì mục đích đó là chính nghĩa. Và đất nước chúng tôi sẽ độc lập. Tôi trông chờ ngày hạnh phúc được gặp ông và những người bạn Mỹ của chúng tôi ở Đông Dương hay trên đất Mỹ”.

Bức thư đề ngày 15/2/1947 giữa lúc nhân dân Việt Nam đang kháng chiến chống thực dân Pháp và vào lúc chính sách của Mỹ ngày càng đồng loã với cuộc chiến tranh xâm lược trở lại Đông Dương, cho thấy quan điểm của Bác luôn tin tưởng vào một bộ phận tiến bộ trong nhân dân Mỹ sẽ đứng về nhân dân Việt Nam.

Sau khi Bác Hồ qua đời, Ch.Fenn đã là người viết cuốn tiểu sử chính trị đầu tiên về Hồ Chí Minh bằng Anh ngữ xuất bản ở phương Tây (1973: “Hồ Chí Minh một tiểu sư chính trị”) và vì thế mà bị chính quyền Mỹ trục xuất khỏi đất nước của mình.

Tháng 8/1995, ngày sau khi quan hệ Việt – Mỹ được bình thường hoá, Ch.Fenn cùng các cựu chiến binh của đơn vị “Con Nai” đã trở lại thăm Việt Nam. Khi đã ngoài 100 tuổi (năm 2004) Charles Fenn còn viết: “Cuộc sống cá nhân mẫu mực, tính kiên định vì nền độc lập và tự do của Việt Nam, những thành quả phi thường của ông bất chấp những khó khăn chồng chất đã có thể đưa Hồ Chí Minh, trong sự phán xét cuối cùng của nhân loại lên hàng đầu danh sách những lãnh tụ của thế kỷ XX”.

X&N
bee.net.vn

Bức điện cuối cùng của Bác Hồ gửi Quốc trưởng Campuchia

 – Ngày 7/2/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Quốc trưởng Vương quốc Campuchia Norodom Sihanouk để cảm ơn sự ủng hộ đối với lập trường của Việt Nam tại cuộc đàm phán với Mỹ ở Paris. Đây cũng là văn kiện cuối cùng trong mối giao tiếp hữu nghị với người đứng đầu Vương quốc láng giềng.

Chỉ hơn nửa năm sau, ngày 2/9/1969 nhà lãnh đạo Việt Nam qua đời. Ngày 9/9/1969, Quốc trưởng Sihanouk đã có mặt tại Hà Nội để dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và sau rất nhiều biến cố lịch sử, trong hồi ký “Từ cuộc chiến chống CIA đến người tù của Khơ me Đỏ” viết sau này, Cựu vương Sihanouk đã bày tỏ:

“Từ buổi dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội, tôi được vinh dự đứng túc trực bên cạnh linh cữu. Tôi sực nhớ đến câu nói của Người mà tôi cho rằng không gì đúng hơn . Đó là câu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Bác Hồ thăm và chúc Tết cán bộ và nhân dân Quảng Ninh(2/1965)Bác Hồ thăm và chúc Tết cán bộ và nhân dân Quảng Ninh (2/1965)

Cụ Hồ là một bậc cách mạng lão thành, xuất thân từ tầng lớp bình dân. Tôi là một nhà quý tộc thuộc dòng dõi quân chủ lâu đời nhất ở Campuchia. Cụ với tôi không chung thế hệ, bởi vì Cụ hơn tôi tới ba chục tuổi. Nhưng Cụ và tôi đều cùng chung nguyện vọng muốn cho nước nhà độc lập. Để đạt mục đích này, Cụ đã chọn con đuờng cách mạng gay go ác liệt. Còn tôi, một con người trẻ tuổi lại rất sợ đổ máu. Nhưng cuối cùng chính Cụ đã dạy cho chúng tôi bài học là tất cả các thế lực đế quốc chỉ cho các dân tộc bị chúng áp bức một con đường duy nhất để giành lại tự do. Đó là con đưòng đấu tranh vũ trang mà Hồ Chí Minh đã xác định”.

Cũng trong tập hồi ký này, Norodom Sihanouk còn viết : “Từ lâu tôi đã rất ngưỡng mộ Bác Hồ. Người không chỉ thuộc về nhân dân Việt Nam mà là cả Đông Dương, cả châu Á và có thể là cả thế giới, bởi vì Người luôn luôn bảo vệ những quyền lợi của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa cũng như quyền lợi của những người da đen ở Mỹ.

Đối với riêng tôi, Người cũng là “đồng chí”. Người đã gửi cho tôi những bức thư trìu mến và tôi cũng luôn mong được gặp Người, nhất là trong những năm gần đây tôi thường đề nghị có cơ hội đi thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội. Nhưng các bạn Việt Nam nói Mỹ đang ném bom miền Bắc Việt Nam, một chuyến đi thăm như vậy là rất nguy hiểm đối với tôi.

Tôi đáp lại: “Thì đây chính là dịp để tôi biểu thị tình đoàn kết với Việt Nam”. Các bạn Việt Nam vẫn khẳng định: ”Ngài là Quốc trưởng Campuchia và cũng là người bạn lớn của Việt Nam. Chúng tôi phải chịu trách nhiệm trước nhân dân nước Ngài vì những trận ném bom của Mỹ”.

Và thế là mãi mãi tôi không bao giờ được gặp Chủ tịch Hồ nữa… Chuyến đi thăm đầu tiên của tôi tới nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lại là để dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

X&N
bee.net.vn

Mùng 1 Tết cách nay 49 năm

– Ngày 6/2/1951 là mồng 1 Tết Tân Mão, trên báo “Cứu Quốc” của Mặt trận Liên Việt ra trước đó 1 ngày đã đăng “Thư chúc Tết” của Bác Hồ mang tinh thần phấn khởi sau chiến thắng của Chiến dịch Biên giới, cuộc kháng chiến bắt đầu có được nguồn lực của bè bạn quốc tế:

“Xuân này kháng chiến đã 5 xuân/ Nhiều xuân kháng chiến càng gần thành công/ Toàn dân hăng hái một lòng/ Thi đua chuẩn bị Tổng phản công kịp thời”.

Bác đến dự liên hoan tại Câu Lạc bộ thiếu nhi đêm giao thừa Nhâm Dần tháng 2/1962Bác đến dự liên hoan tại Câu Lạc bộ thiếu nhi đêm giao thừa Nhâm Dần tháng 2/1962

Nhật ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến ghi lại ngày Tết kháng chiến thứ 5 của Bác: “Mùng Một Tết Tân Mão. Vừa sáng, Hồ Chủ tịch đã dậy và đến phòng các vị bộ trưởng, thứ trưởng bắt tay và chúc Tết từng người một. Riêng Bộ Tài chính, Cụ chúc năm mới “phát tài”. Mọi người đều vui mừng và bắt tay Cụ trong phòng ngủ.

Một vài vị ngủ trưa (dạy muộn) bị Cụ “đột kích” chồm dậy mắt nhắm mắt mở nhảy xuống bắt tay Cụ và bập bẹ một câu nửa mê nửa tỉnh làm ai nấy cười rộ. Ăn sáng xong, Hội đồng Chính phủ họp…”.

Đây là cái Tết thứ hai các thành viên chính phủ ăn Tết chung, lần trước là Tết Đinh Hợi (1947) họp tại Quốc Oai (thuộc tỉnh Hà Đông, gần Hà Nội) lần này trên chiến khu Việt Bắc, lần trước đang đối phó với sự tấn công của giặc, lần này đã khai thông biên giới chuẩn bị Tổng phản công.

Tại kỳ họp Chính phủ này sau khi nghe chúc Tết của đại diện Quốc Hội (cụ linh mục Phạm Bá Trực), đại diện Chính phủ (cụ Phan Kế Toại, bộ trưởng cao niên nhất) và của Quân đội (Đại tướng Võ Nguyên Giáp), “Đến lượt Hồ Chủ tịch cám ơn và chúc mọi người. Cụ cho mang vào một mâm cam và biếu mỗi vị một quả với câu “khổ tận cam lại” (khổ mãi rồi cái sướng sẽ đến)… Cụ lại dặn các vị có gia đình thì đem về làm quà cho gia đình…” Cuộc họp kéo dài đến tối.

Tối hôm đó “Hồ Chủ tịch và các vị bộ trưởng, thứ trưởng chơi lửa trại. Hồ Chủ tịch bắt mỗi người đều có một trò chơi, hoặc làm thơ, hoặc nói chuyện hoặc hát. Bắt đầu là Hồ Chủ tịch rồi đến các vị khác theo thứ tự ABC…”. Ngày hôm sau Chính phủ tiếp tục họp cho đến 1 giờ chiều và mọi người lên đường tới địa điểm chuẩn bị cho cuộc họp trù bị Đại hội lần thứ Hai của Đảng diễn ra vài ngày sau đó.

Cùng trong ngày mùng Một Tết Tân Mão, Bác còn viết nhiều lá thư chúc Tết các đơn vị quân đội và đồng bào miền Trung Du vừa dành thắng lợi trong trên chiến trường và ký vài sắc lệnh liên quan đến việc giúp vốn cho người nghèo tăng gia sản xuất và giảm án tử hình cho một phạm nhân…

Ngày 6/2/1969, 10 giờ 15 phút, tại Phủ Chủ tịch, Bác làm việc với Đài phát thanh để ghi lời chúc mừng năm mới để phát vào phút giao thừa bước sang Xuân Kỷ Dậu, mùa Xuân cuối cùng với câu thơ kết thúc bằng một viễn cảnh tươi sáng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc: “Bắc Nam xum họp Xuân nào vui hơn!”.

X&N
bee.net.vn

Hai bài thơ chúc Tết thời kháng chiến

 Ngày 29/1 ứng với 2 ngày mùng 1 Tết Nguyên đán của năm Kỷ Sửu (1949) và Mậu Thân (1968).

Tết Kỷ Sửu vào thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã vượt qua thách thức của thời kỳ cầm cự, bài “Thơ chúc Tết” của Bác Hồ, người đứng đầu lực lượng kháng chiến mang đầy tinh thần khích lệ và lạc quan: “Kháng chiến lại thêm một năm mới/ Thi đua yêu nước thêm tiến tới/ Động viên lực lượng và tinh thần/ Kháng chiến càng thêm mau thắng lợi/ Người người thi đua/ Ngành ngành thi đua/ Ngày ngày thi đua/ Ta nhất định thắng!/ Địch nhất định thua!”.

Ngày 29/1/1960, Bác Hồ thăm Văn Miếu Quốc Tử Giám. Người xem bia ghi danh các tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam.Ngày 29/1/1960, Bác Hồ thăm Văn Miếu Quốc Tử Giám. Người xem bia ghi danh các tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam.

Cũng nhân ngày Tết Nguyên đán, từ chiến khu Việt Bắc, Bác gửi “Thư chúc Tết đồng bào trong vùng tạm thời bị địch chiếm”. Bằng những lời lẽ thống thiết, thư viết: “… Trong ngày xuân tươi ấm, Tết nhất vui vẻ, đại gia đình Việt Nam ở vùng tự do sum họp vui vầy để tưởng nhớ đến tổ tiên và hân hoan cùng con cháu, tôi ngậm ngùi nghĩ đến đồng bào…

Tôi rất đau lòng thương xót đồng bào tạm lâm vào hoàn cảnh ấy vì lũ thực dân hung ác, nhưng một phần cũng vì tôi, người phụ trách số phận đồng bào chưa lập tức xua đuổi được loài thú dữ và cứu vớt ngay đồng bào ra khỏi địa ngục thực dân…

Nhân dịp năm mới, tôi trịnh trọng tuyên bố với đồng bào rằng: Chính phủ và quân đội ta kiên quyết kháng chiến đến cùng, để tranh lại thống nhất và độc lập cho Tổ quốc, để mau mau giải phóng đồng bào ra khỏi lầm than…”.

19 năm sau, ngày 29/1/1968 chính là ngày “Tết Mậu Thân” ngày nay đã trở thành một thuật ngữ sử học gắn liền với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn bộ chiến trường miền Nam. Theo người thư ký thân cận là ông Vũ Kỳ thì vào thời điểm giao thừa này Bác không có mặt ở trong nước.

Ông viết: “Tối nay từ Bắc Kinh xa xôi, hai bác cháu lại ngồi im lặng bên nhau nghe tin tức, ngâm thơ Tết, chờ đón giao thừa. Chắc Bác đang nhớ về đất nước, nhớ chiến sĩ và đồng bào, nhớ các cháu thiếu nhi… Chỉ có mùa Xuân này Bác phải xa Tổ quốc…

Có tiếng pháo nổ ran tiễn Đinh Mùi và đón Mậu Thân. Cùng lúc, từ chiếc đài bán dẫn, lời chúc Tết của Bác Hồ vang lên sang sảng: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/ Thắng lợi tin vui khắp nước nhà/ Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/ Tiến lên toàn thắng ắt về ta”. Trong căn phòng chỉ có 2 người… khi đài phát xong câu cuối của bài thơ, tôi bỗng nghe Bác nói khẽ “Giờ này, miền Nam đang nổ súng…”.

Giờ đây nhìn lại trận quyết chiến chiến lược này, lịch sử nói đến những hy sinh to lớn và cuộc chiến đấu còn gian khổ phải thêm 7 năm nữa mới tới ngày toàn thắng (1975), nhưng điều có thể khẳng định rằng nó đã tạo nên một bước ngoặt căn bản đánh bại ý chí xâm lược và buộc Mỹ phải bước vào cuộc hội đàm ở Paris.

X&N

bee.net.vn

Kết thúc “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”

– Ngày 12/1/1933 Nguyễn Ái Quốc lúc này mang bí danh là Tống Văn Sơ lên tàu đi Singapore sau khi Toà án Anh ở Hồng Kông đã ra lệnh thả. Nhà cách mạng Việt Nam quyết định đi Anh, nhưng tàu vừa cập bến cảng Singapore thì chính quyền sở tại theo yêu cầu của nhà cầm quyền ở Hồng Kông ra lệnh cho nhà cách mạng Việt Nam không được nhập cảnh và phải quay lại nơi xuất phát.

Tuy nhiên, nhờ sự can thiệp của các luật sư tiến bộ, chính quyền Hồng Kông buộc phải trả tự do để sau đó, trong vai một thương gia khá giả, Nguyễn Ái Quốc lên tàu tới Hạ Môn để rồi từ đó đi Thượng Hải và trở lại nước Nga, kết thúc “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”.

12-1-1967 HCM thăm đại hội thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nướcNgày 12/1/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Đại hội thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước

Ngày 6/6/1931, từ việc bắt một số cán bộ cộng sản ở Sài Gòn và Singapore, địa chỉ của Nguyễn Ái Quốc khi đó đang trú tại Hồng Kông bị lộ, cảnh sát Anh đã bắt được nhà hoạt động cách mạng đã từng bị chính quyền ở Đông Dương kết án tử hình. Lúc này mang bí danh là Tống Văn Sơ, Nguyễn Ái Quốc bị giam tại Sở cảnh sát rồi nhà tù Victoria.

Ngày 24/6/1931, được một đồng chí người Việt Nam nhờ can thiệp, Luật sư Lôdơbi tiếp cận thân chủ của mình. Sau nhiều lần ra văn bản “lệnh bắt giam” và thẩm vấn, ngày 31/7/1931 Toà án tối cao xét xử ra lệnh trục xuất Tống Văn Sơ về Đông Dương có nghĩa là để thụ án tử hình.

Với sự giúp đỡ của ông Lôdơbi và một số luật sư tiến bộ khác, sau 9 phiên xét xử, Toà án Hồng Kông đồng ý cho kháng án lên Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh. Ngày 21/7/1932, phán quyết của Vua Anh và Hội đồng Cơ mật cho phép Tống Văn Sơ đến Anh, nhưng chính quyền Hồng Kông tìm cách gây trắc trở cho đến ngày 28/2/1933 mới được tự do…

Ngay sau khi được tin Nguyễn Ái Quốc bị bắt, chính quyền thực dân Pháp đã tìm mọi cách can thiệp với chính quyền Hồng Kông để bắt giữ và Bộ thuộc địa Pháp đã cảnh báo “Việc trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc chỉ có thể làm trầm trọng thêm những hoạt động có hại của phong trào Đông Dương mà các Sở an ninh Đông Dương đều biết là ông ta đã tập trung tất cả trí thông minh, quyền lực và sự nổi tiếng của mình”. Và sau hơn 2 tháng Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hồng Kông, chính quyền thực dân Pháp mới phát lệnh truy nã thì nhà cách mạng Việt Nam đã trở lại với nước Nga.

Năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời gia đình Luật sư Lôdơbi đến Hà Nội để tạ ơn xưa, và vị luật sư người Anh này đã đáp lại rằng: “Ngài nói rằng tôi đã cứu sống Ngài, điều đó có thể đúng. Nếu vậy thì đó chính là việc làm tốt nhất mà tôi đã từng làm và đó mãi mãi là một việc làm sáng suốt!”.

X&N
bee.net.vn

“Một năm khởi đầu bằng mùa Xuân”

– Nhật ký của Vũ Kỳ, người thư ký gần gũi của Bác Hồ viết:

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945

“Ngày 20/1/1946: Dân Hà Nội năm nay có lẽ nghỉ Tết sớm hơn mọi năm, Tết Bính Tuất sắp tới là Tết Độc lập đầu tiên của cả nước và của từng nhà, còn hơn một tuần nữa mới tới ngày tiễn Ông Táo lên trời mà nhiều nhà đã sửa soạn cả rồi. Bác Hồ đã nghĩ sớm đến Tết, nhưng Bác chẳng có gì để chuẩn bị và cơ quan cũng chưa chuẩn bị gì cả. Công việc ngày càng bận rộn.

Ngay đầu giờ làm việc sáng nay, Bác viết thư kêu gọi đồng bào nhân dịp Tết sắp đến. Chẳng là tối qua, Bác hỏi còn mấy ngày thì tới 23 tháng Chạp. Thư ngắn gọn và cứ tưởng Bác đang nói chuyện với mọi người. Chắc đêm qua Bác nghĩ nhiều đến đồng bào và chiến sĩ .

Thư mở đầu bằng câu: “Dân ta là một dân tộc giàu lòng bác ái…” và kết thúc bằng câu : “…sao cho mọi người đều được hưởng cái thú vui vẻ Tết xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập” (hết nhật ký).

Đọc toàn văn bức thư này trong “Hồ Chí Minh toàn tập” còn có đoạn:

“Vậy qua năm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới”. Đời sống mới là: – Hăng hái kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ – Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm – Việc nên làm (như ủng hộ kháng chiến, tăng gia sản xuất) thì ta không chờ ai nhắc nhủ – Việc nên tránh (như tự tư tự lợi) thì ta không đợi ai ngăn ngừa”.

X&N
bee.net.vn

Việc gì khó có thanh niên!

– Ngày 19/1/1959, trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh nên Lao động Việt Nam, Bác Hồ đã đưa ra khẩu hiệu: “Việc gì khó có thanh niên! Ở đâu khó có thanh niên!” và căn dặn: “Trong mọi việc thanh niên phải làm đầu tàu, xung phong guơng mẫu. Thanh niên hăng hái là tốt, những chớ xa rời quần chúng, xa rời thì không làm được đầu tàu, đầu tàu mà rời toa tàu thì vô dụng”.

Ngày 19/1/1965, bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ hai trong bối cảnh đế quốc Mỹ đã phát động cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Hội nghị phổ biến kế hoạch nhà nước năm 1965.

Tháng 1-1964 HCM thăm khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên nhân dịp lò cao số 1 ra mẻ gang đầu tiên.Tháng 1/1964 HCM thăm khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên nhân dịp lò cao số 1 ra mẻ gang đầu tiên.

Bác đề cập tới một số tư tưởng quan trọng trong chỉ đạo thực hiện kế hoạch: “Đặt kế hoạch thật tốt và thật sát là rất cần, nhưng đó chỉ là bước đầu, Kế hoạch 10 phần thì biện pháp cụ thể là 20 phần, chỉ đạo thực hiện sát sao phải 30 phần.

Có như thế mới chắc chắn hoàn thành kế hoạch. Khi đặt kế hoạch thì phải nhìn xa. Có nhìn xa mới quyết định đúng đắn thời kỳ nào làm công việc gì là chính. Phải thấy rộng. Có thấy rộng thì mới sắp đặt các ngành hoạt động một cách cân đối. Khi đi vào thực hiện thì mỗi ngành, mỗi nghề phải rất tỉ mỉ, chu đáo thật sát với mỗi cơ sở. Đó là “một bộ ba” để hoàn thành tốt kế hoạch”.

Ngày 19/1/1959, nhân chuyến thăm của Đoàn đại biểu Chính phủ CHDC Đức do Thủ tướng Otto Grothewohl dẫn đầu sang thăm Việt Nam, Bác đã mời phu nhân thủ tuớng đến thăm khu nhà sàn trong phủ Chủ tịch.

Trong câu chuyện trao đổi với khách, Bác đã nói : “Cô biết đấy, chúng tôi đã chiến thắng vì trước hết, có một dân tộc yêu nước nồng nàn như vậy. Dân tộc đó sẵn sàng hy sinh tất cả đẻ giành độc lập và tự do!”.

Trả lời câu hỏi thân tình của khách về cuộc sống riêng tư, Bác nói: “Tôi không còn thì giờ để nghĩ đến chuyện riêng nữa. Tôi phải sống vì dân tộc. Cả đất nước Việt Nam này là gia đình tôi”.

X&N
bee.net.vn

Có nên bỏ hết tiền ra mua sắm Tết?

 10 ngày trước Tết Canh Tý, ngày 18/1/1960, trên báo “Nhân Dân”, với bút danh T.L, Bác viết bài “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?” đặt vấn đề có nên biến ngày Xuân thành dịp tiêu pha “có bao nhiêu tiền đều bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù” hay không?

Bác cho rằng “thế là mừng Xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không Xuân! Nên nhớ rằng hiện nay chúng ta phải cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng Chủ nghĩa Xã hội. Không nên vì một cớ gì mà quên nhiệm vụ ấy”.

Tháng 1/1960, Bác thăm thị xã Kíên An đang nhận những bó hoa của các cháu thiếu nhiTháng 1/1960, Bác thăm thị xã Kiến An, đang nhận những bó hoa của các cháu thiếu nhi

Bài báo kết luận: “Các đồng chí cán bộ ta cần phải hướng dẫn đồng bào làm cho Tết Canh Tý thành một cái Tết vui vẻ và tưng bừng, đồng thời là một Tết tiết kiệm và thắng lợi.

“Trăm năm trong cõi người ta
Cần kiệm xây dựng nước nhà mới ngoan
Mừng Xuân, Xuân cả thế gian
Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới Xuân”

Nhắc lại ngay Tết Độc lập đầu tiên (1946) trên báo “Cứu Quốc” vị Chủ tịch của nước Việt Nam mới cũng viết bài báo có nhan đề “Tết” nêu rõ: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái.

Trong lúc này toàn quốc đồng bào từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, ai cũng sửa soạn ăn Tết mừng Xuân. Tôi kêu gọi đồng bào và các đoàn thể làm thế nào để chia sẻ cuộc vui Xuân mừng Tết với: Những chiến sĩ oanh liệt trước mặt trận. Những gia quyến các chiến sĩ. Những đồng bào nghèo nàn. Sao cho mọi người đều được hưởng thú vui về Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam Độc lập”.

Cũng Tết năm đó, Bác còn viết bài “Gương sáng suốt của Đời sống mới ”biểu dương“ các vị kỳ lão Đình Bảng và làng Xuân Tảo đã đem số tiền mừng thọ… ủng hộ vào Quỹ Cứu quốc và ủng hộ chiến sĩ. Các vị ở xã Đông Hội, Gia Khánh, Ninh Bình đem ba phần tư tiền tế Thành hoàng… để giúp chiến sĩ người mặt trận. Họ Nguyễn Thượng của làng Thượng Phúc.. giảm ăn uống cúng giỗ để quyên vào Quỹ chiến sĩ…”.

Bài báo kết luận: “Ba việc đó chẳng những đã tỏ lòng vàng ngọc của đồng bào các làng xã kể trên, đồng thời cũng là một gương sáng trong sự thực hành Đời sống mới cho đồng bào cả nước”.

X&N
bee.net.vn

“Đánh kẻng còn hơn gẩy đàn”

– Ngày 17/1/1926, lúc này Nguyễn Ái Quốc với bí danh là Lý Thuỵ đang hoạt động ở Quảng Châu (Trung Quốc) nhằm tập hợp các thanh niên từ trong nước mới sang. Trên báo “Thanh Niên” do Nguyễn Ái Quốc sáng lập đăng bài “Báo chí bình dân” nhằm đưa ra một quan niệm về báo chí cách mạng. 

Bài báo viết: “Các bạn chúng ta phàn nàn nhiều lần rằng các bài báo của ta thiếu trau chuốt để có thể gây ảnh hưởng đến tâm trí dân chúng. Chúng tôi bất chấp (xem thường) việc sử dụng những từ mỹ miều, văn phong lịch lãm, câu chữ đong đưa, nhịp câu đăng đối song hành, những sự tô vẽ văn chương mà các nhà nho ham chuộng. Nhưng ngựơc lại, chúng tôi gắng sức vì lợi ích của tất cả mọi người, dùng một văn phong sáng sủa, chính xác và dễ hiểu.

Ngày 17/1/1967, Bác Hồ tiếp nhân sĩ trí thức Mỹ phản đối chiến tranh ở VNNgày 17/1/1967, Bác Hồ tiếp nhân sĩ trí thức Mỹ phản đối chiến tranh ở VN

Vì mục đích của chúng tôi là: 1. đánh trả sự tàn bạo của người Pháp, 2. khích lệ dân tộc An Nam liên kết lại, 3. làm cho họ thấy đuợc nguyên nhân những đau khổ, đói nghèo của họ và chỉ ra cho họ làm thế nào để tránh được những điều đó nên bản báo của chúng tôi làm tròn nhiệm vụ là hồi kẻng báo động … Tiếng đàn cầm chắc chắn hay hơn tiếng kẻng, những trước mối hoạ đang đe doạ chúng ta, tốt nhất là đánh kẻng còn hơn gẩy đàn!

Có nhiều cách làm rung động lòng người. Khóc lóc, than vãn, đọc Kiều hay Tam Quốc đều khiến ta mủi lòng. Nhưng đó chỉ là những cảm xúc thoáng qua và hời hợt mà chúng tôi không muốn gợi lên trong lòng độc giả chúng tôi. Ngược lại, chúng tôi muốn rằng văn của chúng tôi gây được cho họ ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài.

Ví dụ, nếu gặp một nông dân An Nam quần áo tả tơi, chúng tôi sẽ bằng một giọng đầy thương cảm, nhưng che giấu đi niềm xúc động và nuốt nước mắt mà nói rằng: Than ôi! Sao mà số phận anh khốn khổ thế này. Anh mua giống hết 2 đồng, mua phân 4 đồng, thuê thợ 5 đồng và nộp thuế 1 đồng. Tiền anh chi đã lên đến 15 đồng, anh bán thóc được 18 đồng. Nhưng vì anh đã phải nộp thuế chợ 1 đồng, nên thực ra anh chỉ được 2 đồng, mà tiền ấy, anh cũng bị Pháp cướp mất. Vì thế tôi mới bảo rằng anh khốn khổ.

Anh nông dân của chúng ta sẽ không khóc, không than. Nhưng anh ta suy nghĩ, hiểu ra và cuối cùng sẽ vùng lên và làm cái việc tuyên truyền chống chủ nghĩa đế quốc. Còn những ai yêu thơ thì họ cứ tự do đắm chìm mà đọc Cung Oán hay Nhị Độ Mai.”

X&N
bee.net.vn

“Kêu gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến”

 Ngày 16/1/1947, hơn một năm sau ngày toàn quốc kháng chiến, sau khi chủ trì một cuộc họp của Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về tình hình các mặt trận trên cả nước, thảo luận về việc tổ chức tản cư nhân dân ra khỏi các vùng chiến sự, vấn đề xây dựng nền giáo dục kháng chiến và chăm sóc thương binh…, Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo “Lời kêu gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến”.

Bác Hồ đọc Thơ Chúc Tết tháng 1/1967

Bác Hồ đọc Thơ Chúc Tết tháng 1/1967

Sau “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” ngày 20/12/1946 thì đây là một văn kiện quan trọng của người đứng đầu Nhà nước kêu gọi dân chúng tiếp tục cuộc kháng chiến bằng những việc làm cụ thể và thiết thực.

Văn kiện viết: “Vì sao ta phải kháng chiến? Vì không kháng chiến, thì Pháp sẽ cướp nước ta lần nữa. Chúng sẽ bắt dân ta làm nô lệ lần nữa. Vì ta không chịu làm trâu ngựa cho Pháp, vì ta phải gìn giữ non sông đất nước ta, cho nên ta phải đánh bọn thực dân Pháp. Đánh thì phải phá hoại. Ta không phá thì Pháp cũng phá…

Vì vậy ta phải phá trước, cho Pháp không dùng được. Bây giờ chúng ta phá đi, để chặn Pháp lại, không cho chúng tiến lên, không cho chúng lợi dụng, ta vì nước hy sinh chịu khổ một lúc. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, ta sẽ cùng nhau kiến thiết sửa sang lại nào có khó gì.

Vậy tôi thiết tha kêu gọi toàn thể đồng bào ở đây, mọi người đều ra sức giúp phá. Phá cho rộng, phá cho sâu, phá sao cho bọn Pháp không lợi dụng được. Một nhát cuốc của đồng bào cũng như một viên đạn của chiến sĩ bắn vào quân địch vậy.

Tôi lại trân trọng hứa với đồng bào rằng: kháng chiến thắng lợi rồi, tôi sẽ ra sức cùng đồng bào sửa sang tu bổ lại hết. Chúng ta sẽ làm những đường sá, cầu cống khéo hơn, những nhà cửa tốt hơn, và xứng đáng một dân tộc tự do, độc lập hơn.”

Cuộc “tiêu thổ kháng chiến” được lịch sử ghi nhận như một “tấn bi kịch lạc quan”. Đó là sự mất mát rất to lớn những di sản vật chất nhưng lai biểu dương một nghĩa khí anh hùng.

Sau này, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đặc biệt là với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ đánh ra miền Bắc, cái tinh thần này tiếp tục được thể hiện trong ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” được nêu lên trong lời kêu gọi ngày 17/7/1966 của Bác Hồ: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và môt số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta to đẹp hơn, đàng hoàng hơn!”.

X&N
bee.net.vn

Một kỳ họp trên Chiến khu

 Ngày 15/1/1948, Bác chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng. Nhật ký của Bộ trưởng Tài chính Lê Văn Hiến thuật lại hội nghị này.

“Ngày 14/8:.. Hôm nay cùng anh em trung uỷ (tức Uỷ viên Trung ương Đảng- X&N) ăn cơm tại nhà Cụ. Bữa cơm vui vẻ quá. Cụ khôi hài tợn.

Cụ cho một cái áo ấm của đồng bào các nơi biếu Cụ nhưng vì sẵn có áo ấm rồi nên Cụ để tặng lại người khác thiếu thốn hơn. Đêm ngủ tại đây, bên cạnh một đống lửa hồng ấm áp quá”.

Bác Hồ đọc thơ chúc Tết tháng 1/1969Bác Hồ đọc thơ chúc Tết tháng 1/1967

Ngày 15/1/1948: Buổi sáng Cụ cặm cụi chế cà phê và cho mỗi người một cốc. Ấm bụng rồi Cụ và các anh em đi đến địa điểm hội nghị. Trong một khoảng rừng khác, một ngôi nhà rộng rãi của đồng bào Mán đã chật cả người. Ai nấy đều ra đón chào Cụ. Anh em gặp nhau sau những ngày vất  vả vì cuộc tấn công của địch (trận tập kích của Pháp lên Bắc Kạn-X&N), vui mừng quá.

Cụ bắt tay mọi người rồi câu chuyện thân mật đậm đà kéo dài chung quanh Cụ trong lúc gió trong rừng hắt vào lạnh thấu xương. Cuộc hội nghị bắt đầu từ 8h30, sau khi làm lễ chào cờ, mặc niệm chiến sĩ vong trận và lễ giới thiệu các trung uỷ và các cán bộ có mặt. Lễ này long trọng quá, trên đỉnh đồi cao và kín…Hội nghị đến tối mò mới nghỉ…”.

Sau Hội nghị Trung ương, Hội đồng Chính phủ họp tiếp dưới sự chủ tọa của Bác cho đến ngày 19/1 bàn nhiều vấn đề quan trọng trong đó có việc phong hàm cấp tướng đầu tiên cho một số cán bộ quân đội và việc phát hành tiền tài chính…

Cũng trong ngày Bác còn viết thư thăm hỏi và động viên một vị quan lang có uy tín của dân tộc Mường là cụ Đinh Công Phủ, trong thư bày tỏ xin biếu một tấm áo trấn thủ do nhân dân gửi biếu nay tặng lại.

X&N
bee.net.vn

“Tôi chẳng sợ chết, cũng chẳng sợ tù đầy”

– “Tôi thích làm chính trị thì tôi chẳng sợ chết cũng chẳng sợ tù đầy. Trong đời này, chúng ta chỉ chết có một lần, tại sao lại sợ? …Tôi vẫn luôn luôn có ý thành lập một tổ chức dưới hình thức hội thân hữu để tất cả những người Đông Dương tại Pháp gặp gỡ nhau, học hỏi về chính trị”.

Ngày 14/1/1920, Nguyễn Ái Quốc lúc này là Thư ký “Nhóm người cách mạng An Nam” tại Pháp, có một cuộc diễn thuyết vào 20h30 tại số 3 đường Chateau, Paris với đề tài: “Sự tiến triển trong xã hội các dân tộc vùng châu Á và những lời yêu cầu của xứ An Nam”.

Ngày 14/1/1961, nhân Tết Tân Sửu, Bác thăm Khu tập thể Nhà máy Rượu Hà Nội tai Thọ Lão, Lò Đúc, Hà Nội

Theo báo cáo của mật thám Pháp, vài ngày hôm sau (19/1), trả lời câu hỏi của một người đồng bào tên là Lâm e ngại việc làm của Nguyễn Ái Quốc là quá mạnh, nhà cách mạng trẻ thẳng thắn trả lời: “Nếu ai hỏi tôi là “Nhóm người cách mạng An Nam” ở đâu, tôi sẽ trả lời là 20 triệu người ở trong nước, họ đã phản đối hàng ngày, nhưng bị đàn áp, bị dìm đi. Nói cho cùng, ai làm gì tôi? Lưu đầy tôi ư? Hoặc cắt đầu tôi? Điều ấy có xảy đến tôi cũng bất cần!”.

Ngày 31/12/1920, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp họp tại thànhn phố Tours, Nguyễn Ái Quốc đã quyết định lựa chọn con đường chính trị của mình là theo Quốc tế III, bởi lẽ đó là tổ chức duy nhất ủng hộ giải phóng các dân tộc thuộc địa.

Ngày 14/1/1921, Nguyễn Ái Quốc vào Bệnh viện Côsanh ở Paris để mổ áp xe ở vai. Ca mổ thực hiện vào ngày 19/1 và Nguyễn Ái Quốc phải điều trị tại đó cho đến 25/3/1921. Trong thời gian này, mật thám Pháp luôn theo dõi sát sao những tiếp xúc của nhân vật đã gây ấn tượng trong Đại hội Tours cuối năm trước. Dưới đây là một đoạn trích trong đối thoại của Nguyễn Ái Quốc với tên mật thám giả danh là khách đến thăm:

“…Tại sao ông lại thích làm chính trị ? Ông không sợ bị theo dõi, không sợ người ta làm hại?

Nguyễn Ái QuốcChẳng hề chi. Tôi thích làm chính trị thì tôi chẳng sợ chết cũng chẳng sợ tù đầy. Trong đời này, chúng ta chỉ chết có một lần, tại sao lại sợ ? …Tôi vẫn luôn luôn có ý thành lập một tổ chức dưới hình thức hội thân hữu để tất cả những người Đông Dương tại Pháp gặp gỡ nhau, học hỏi về chính trị. Không cần đông lắm. Để thành một lực lượng mạnh mẽ, điều cần thiết là phải đồng ý với nhau về quan điểm và có tinh thần yêu nước…”

Cũng trong câu chuyện này, Nguyễn Ái Quốc cho biết mình đã được cả 2 nhân vật cai trị có vai vế là P. Pasquier (người sau này là Toàn quyền Đông Dương thời 1930-1931) và A. Sarraut, lúc này đang là Bộ trưởng Bộ Thuộc địa mời đến tiếp kiến.

Pasquier hỏi ông Nguyễn có cần giúp đỡ gì không, thì nhận được câu trả lời là, nếu ông thực thi “Bản yêu sách 8 điểm gửi Hoà hội Versailles” (1919) thì sẽ nhận được lời biết ơn.

Còn trả lời quan đỉểm của A,Saraut là Đông Dương chưa thể độc lập được vì nó chưa có lực lượng vũ trang, Nguyễn Ái Quốc thẳng thắng nói :

Thưa ông Bộ trưởng, xin ông hãy xem nước Xiêm và nước Nhật. Hai nước này không có nền văn minh lâu đời hơn chúng tôi mà họ được đứng trong số các quốc gia trên thế giới. Nếu nước Pháp trả lại nền độc lập cho chúng tôi, ông sẽ thấy là chúng tôi biết cầm quyền cai trị”.

X&N
bee.net.vn