Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Điện chúc mừng sinh nhật Tổng thống nước Cộng hoà ấn Độ (7-12-1954)

Kính gửi ông Ragiǎngđra, Praxát,
Tổng thống nước Cộng hoà ấn Độ,

Nhân dịp sinh nhật lần thứ 70 của Tổng thống, tôi xin nhân danh nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, gửi Tổng thống lời chúc mừng nhiệt liệt.

Tôi chúc Tổng thống mạnh khoẻ, sống lâu để chỉ đạo công cuộc xây dựng nước Cộng hoà ấn Độ hoà bình, thịnh vượng và góp phần giữ gìn hoà bình châu á và thế giới.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH
cpv.org.vn

Thư gửi các đơn vị miền Nam tập kết (16-12-1954)

Thân ái gửi các chiến sĩ và cán bộ,

Hôm qua đi thǎm bộ đội về, Bác buồn ngủ quá, khuya thức giấc dậy, viết thư này để kịp gửi đồng chí Tổng tư lệnh chuyển cho các chú.

Bác chúc các chú vui vẻ, mạnh khoẻ, và nhắn các chú mấy điều tóm tắt như sau:

– Suốt mấy nǎm kháng chiến, các chú đã thu được nhiều thành tích khá, đó là vì các chú đã luôn luôn cố gắng, đã làm đúng chính sách của Đảng và của Chính phủ, đã gần gũi nhân dân và được nhân dân thương yêu ủng hộ.

– Hiệp định Giơnevơ là một thắng lợi to lớn cho chúng ta: chiến tranh chấm dứt, hoà bình trở lại, quân và dân ta có điều kiện thuận lợi để phát triển và củng cố thắng lợi và một trong những điều kiện có lợi trước mắt, là các chú có dịp gần Trung ương Đảng, gần Chính phủ và gần Tổng quân uỷ, có dịp học tập thêm và tiến bộ thêm.

– Nhưng ở miền Nam, đang có quân Pháp tạm đóng, có bọn đế quốc Mỹ và tay sai của chúng âm mưu phá hoại. Vì vậy, nhân dân ta cần phải cố gắng, nhất là bộ đội ta cần phải cố gắng rất nhiều nữa để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước ta.

– Các chú cần phải đoàn kết hơn nữa, đoàn kết chặt chẽ giữa chiến sĩ với nhau, giữa cán bộ với nhau, giữa chiến sĩ và cán bộ, giữa quân và dân. Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khǎn, giành lấy thắng lợi. Cần phải giữ vững truyền thống anh dũng, tác phong đúng đắn, tinh thần chịu đựng gian khổ, quyết tâm làm tròn nhiệm vụ.

Nói tóm lại: giữ vững và phát triển đạo đức cách mạng của Quân đội nhân dân.

– Chớ chủ quan tưởng rằng trong thời kỳ hoà bình và ở vùng tự do, thì cái gì cũng sẵn sàng, cũng dễ dàng.

– Bác khuyên các chú thi đua học tập. Đơn vị nào và cá nhân nào có thành tích khá nhất, sẽ được ra Thủ đô gặp Bác và gặp Trung ương.

Bác hôn các chú

2 giờ sáng ngày 16 tháng Chạp 1954
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chí Minh: Với các lực lượng vũ trang nhân dân,
Nxb. Quân đội nhân dân,
Hà Nội, 1975, tr.270-271.
cpv.org.vn

Nói chuyện với nam nữ thanh niên học sinh các trường trung học Nguyễn Trãi, Chu Vǎn An và Trưng Vương (Hà Nội) (18-12-1954)

Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc. Dân tộc bị nô lệ thì thanh niên cũng bị nô lệ. Dân tộc được giải phóng, thanh niên mới được tự do. Vì vậy thanh niên phải hǎng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc.

Nhiệm vụ chính của thanh niên học sinh là học. Dưới chế độ thực dân phong kiến, mục đích đi học là cốt được mảnh bằng để làm ông thông, ông phán, lĩnh lương nhiều, ǎn ngon, mặc đẹp. Thế thôi, số phận dân tộc thế nào, tình hình thế giới biến đổi thế nào, không hay, không biết gì hết.

Mục đích giáo dục nô lệ của thực dân phong kiến chỉ để đào tạo ra những trí thức nô lệ để hầu hạ chúng.

Ngày nay, ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà. Muốn xứng đáng vai trò người chủ, thì phải học tập.

Học bây giờ với học dưới chế độ thực dân phong kiến khác hẳn nhau. Bây giờ phải học để:

– Yêu Tổ quốc: cái gì trái với quyền lợi của Tổ quốc, chúng ta kiên quyết chống lại.

– Yêu nhân dân: việc gì hay người nào phạm đến lợi ích chung của nhân dân, chúng ta kiên quyết chống lại.

– Yêu lao động: ai khinh rẻ lao động, chúng ta kiên quyết chống lại.

– Yêu khoa học: cái gì trái với khoa học, chúng ta kiên quyết chống lại.

– Yêu đạo đức: chúng ta phải thực hiện đức tính trong sạch, chất phác, hǎng hái, cần kiệm; xoá bỏ hết những vết tích nô lệ trong tư tưởng và hành động.

Học để phụng sự ai ?

Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh, tức là để làm trọn nhiệm vụ người chủ của nước nhà.

Học phải đi đôi với hành: Khi ở nhà, phải thương yêu cha mẹ, giúp đỡ cha mẹ về công việc, giúp đỡ về tinh thần (học được điều gì về tình hình trong nước và thế giới thì nói lại cho cha mẹ nghe).

– ở trường thì phải đoàn kết, giúp đỡ anh chị em, thi đua học tập. Phải đoàn kết giữa thầy và trò, làm cho trường mình luôn luôn tiến bộ.

– ở xã hội: các cháu có thể giúp được nhiều việc có ích. Thí dụ: tuyên truyền vệ sinh, giúp đỡ các em nhi đồng, xung phong dạy bình dân học vụ, v.v..

Bác khuyên lớp này thi đua với lớp khác, trường này thi đua với trường khác, trong việc học và hành, làm cho nền giáo dục của ta phát triển và tốt đẹp.

Trong mấy nǎm kháng chiến, các anh hùng quân đội, các chiến sĩ kiểu mẫu ở nhà máy, nông thôn, ở công trường (thanh niên xung phong) đại đa số là thanh niên. Bác mong rằng thanh niên học sinh noi gương anh dũng ấy mà làm đúng những lời Bác dặn.

Nói ngày 18-12-1954.
Báo Nhân dân, số 297,
ngày 23-12-1954.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm ngày kháng chiến toàn quốc (19-12-1954)

Cùng toàn thể đồng bào, chiến sĩ, cán bộ và kiều bào ở nước ngoài,

Sau 8, 9 nǎm kháng chiến cực kỳ gian khổ và anh dũng, chúng ta đã thu được thắng lợi vẻ vang: chiến tranh đã chấm dứt, hoà bình đã trở lại, chúng ta có cơ hội để xây dựng lại nước nhà.

Hôm nay, lần đầu tiên chúng ta kỷ niệm kháng chiến trong hoàn cảnh hoà bình. Nhưng chúng ta phải biết rằng: so với đấu tranh vũ trang trong kháng chiến, thì đấu tranh chính trị trong hoà bình cũng phải trường kỳ và gian khổ và còn gay go, phức tạp hơn.

Vì vậy, nhân dân, quân đội và cán bộ ta chớ có chủ quan, tự mãn, mà phải giữ vững chí khí đấu tranh, tinh thần anh dũng.

Chúng ta đã đoàn kết, đấu tranh, cảnh giác và tin tưởng, cho nên chúng ta đã thắng lợi trong kháng chiến. Thì nay chúng ta phải đoàn kết rộng rãi đồng bào cả nước và đoàn kết chặt chẽ với nhân dân các nước bạn cùng nhân dân yêu chuộng hoà bình toàn thế giới, nâng cao chí khí đấu tranh và tinh thần cảnh giác hơn nữa, tin tưởng hơn nữa vào lực lượng mạnh mẽ và tiền đồ vẻ vang của dân tộc ta. Như vậy, chúng ta nhất định thắng lợi trong công cuộc củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước ta.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 293, ngày 19-12-1954.
cpv.org.vn

Điện chúc mừng sinh nhật Chủ tịch nước Cộng hoà Tiệp Khắc (19-12-1954)

Kính gửi đồng chí A. Dapôtốtxki,
Chủ tịch nước Cộng hoà Tiệp Khắc,

Nhân dịp sinh nhật lần thứ 70 của đồng chí Chủ tịch, tôi xin thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, gửi đồng chí Chủ tịch lời chúc mừng nhiệt liệt.

Tôi thành khẩn chúc đồng chí Chủ tịch mạnh khoẻ, sống lâu để lãnh đạo nhân dân Tiệp Khắc đạt được nhiều thắng lợi mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Tiệp Khắc và góp phần bảo vệ hoà bình và dân chủ thế giới.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH
cpv.org.vn

Từ ngày nhân dân ta bắt đầu kháng chiến, đế quốc Mỹ đã nhúng tay vào chiến tranh xâm lược Đông Dương (20-12-1954)

Từ khi hoà bình lập lại, đế quốc Mỹ đã tiến thêm một bước can thiệp sâu vào ba nước Việt, Cao Miên và Lào hòng gỡ lại thất bại thảm hại của chúng ở Hội nghị Giơnevơ, mưu biến Đông Dương thành cǎn cứ quân sự và thuộc địa của Mỹ. Nhân dân Đông Dương trước đây kháng chiến chống kẻ thù chính trước mắt là thực dân Pháp đã nhận rõ đế quốc Mỹ là kẻ thù nguy hiểm của mình.

Chính đế quốc Mỹ là kẻ cổ vũ thực dân Pháp phản bội Hiệp định 6-3-1946 và gây chiến tranh xâm lược trở lại; chúng đã thúc đẩy thực dân Pháp thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt”. Tháng 8 nǎm 1947, một phái viên của Bộ Ngoại giao Mỹ đến gặp Bảo Đại ở Hương Cảng, lôi kéo tên vua bù nhìn thất thế này, lúc ấy đang lang thang ở những hộp đêm, để chuẩn bị đưa lên ngai vàng mục nát một lần nữa. Tháng 12-1947, tên đó xui giục thực dân Pháp dùng con bài “Bảo Đại”. Tên phái viên Mỹ đó tuyên bố: “Nếu Pháp không dùng thì Mỹ sẽ trực tiếp nắm lấy”.

Từ đầu nǎm 1950, đế quốc Mỹ tiến mạnh thêm một bước trong kế hoạch can thiệp vào Đông Dương. Kế hoạch này nằm trong toàn bộ kế hoạch xâm lược châu á của chúng. Ngày 25-6-1950, đế quốc Mỹ gây chiến tranh xâm lược Triều Tiên và chiếm Đài Loan của Trung Quốc.

Ngày 7-2-1950, đế quốc Mỹ chính thức công nhận chính phủ bù nhìn Bảo Đại. Ngày 2-6-1950, Êkixơn, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ lúc bấy giờ, tuyên bố quyết ủng hộ thực dân Pháp và các chính phủ bù nhìn do chúng giật dây để tiếp tục chiến tranh xâm lược do đó tiêu thụ vũ khí, đạn dược của chúng.

Ngày 23-12-1950, tức là sau thất bại của thực dân Pháp ở mặt trận biên giới Việt – Trung, đế quốc Mỹ ký hiệp ước viện trợ quân sự cho thực dân Pháp và bù nhìn. Đồng thời với việc cử một viên tướng thân Mỹ là Đờ Tátxinhi sang Đông Dương, Đế quốc Mỹ ráo riết ngày càng tǎng viện trợ cho thực dân Pháp và bù nhìn hòng mau chóng kết thúc chiến tranh bằng một thắng lợi của chúng.

Nǎm 1952, đế quốc Mỹ chi cho chiến trường Đông Dương mới 314 triệu đôla, nǎm 1953 đã tǎng lên hơn 1.000 triệu, nǎm 1954, thì lên đến 1.113 triệu.

Về vũ khí, theo một cuốn sách của Bộ Ngoại giao Mỹ xuất bản tháng 8-1953 và theo tờ báo Mỹ Thời báo ngày 15-3-1954, đế quốc Mỹ đã viện trợ cho thực dân Pháp:

– 170 triệu viên đạn,

– 17 vạn 5 nghìn súng trường, súng liên thanh và các loại súng khác.

– 1 vạn 6.000 xe hơi,

– 1.400 xe tǎng và xe bọc sắt,

– 350 máy bay quân sự,

– 250 thuỷ phi cơ,

– 390 tàu chiến.

Tính đến cuối nǎm 1953 đã có gần 400 chuyến tàu chở vũ khí Mỹ sang Đông Dương. Sau khi đình chiến, số súng đạn của Mỹ ứ đọng lại ở Đông Dương là 1 triệu 90 vạn tấn.

Đế quốc Mỹ đã từ chỗ can thiệp bằng cách cho thực dân Pháp và bù nhìn tiền và vũ khí, bày mưu tính kế xâm lược cho thực dân Pháp và bù nhìn đến chỗ đã tiến lên cho hẳn cán bộ quân sự sang trực tiếp điều khiển tại chỗ cuộc chiến tranh xâm lược. Những tên tướng Mỹ Brin, Ô.Đanien, đeo danh nghĩa là trưởng phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ nhưng chúng chẳng khác gì tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp và bù nhìn. Các kế hoạch quân sự của Pháp đều phải do đế quốc Mỹ duyệt trước, như kế hoạch Nava, thực dân Pháp phải mang sang tận Hoa Thịnh Đốn xin chỉ thị của Mỹ. Tại Đông Dương thì tên tướng Mỹ Ô. Đanien trực tiếp đôn đốc thực hiện kế hoạch ấy.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trước sự thất bại và nguy khốn của quân đội viễn chinh Pháp, đế quốc Mỹ đã cho máy bay của chúng bay thẳng từ Phi Luật Tân và Nhật Bản tới tiếp tế và trợ chiến cho thực dân Pháp. Theo tờ báo Mỹ Tin tức nước Mỹ và thế giới ngày 12 tháng 2 nǎm nay, hàng ngày 100 chiếc máy bay Mỹ chở từ 200 đến 300 tấn vũ khí sang Đông Dương và thả dù từ 100 đến 150 tấn xuống các nơi quân đội thực dân Pháp đang bị nguy. Đế quốc Mỹ lại cử 250 huấn luyện viên quân sự và nhân viên kỹ thuật (thật ra là nhân viên quân sự) sang trực tiếp nắm quyền chỉ huy chiến tranh Đông Dương.

Đế quốc Mỹ viện trợ cho thực dân Pháp và can thiệp sâu vào chiến tranh Đông Dương nhằm mục đích thay chân Pháp thống trị Đông Dương, vơ vét của cải của nước ta, biến nước ta thành thuộc địa và cǎn cứ quân sự của chúng. Ngày 13 tháng 1 nǎm nay, Đalét, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, đã tuyên bố chầy bửa như sau: “Đứng về chiến lược, quyền lợi của Mỹ ở vùng Viễn Đông gắn chặt với các đảo ở bờ biển vùng đó. Các đảo đó có hai cứ điểm ở trên lục địa: phía bắc là Triều Tiên và phía nam là Đông Dương. Giữa hai cứ điểm đó là các đảo Nhật Bản, Lưu Cầu, Ôkinaoa, Đài Loan, Phi Luật Tân, úc, Tân Tây Lan…”. Thì ra chúng dám nói toạc ra là chúng muốn thôn tính những nước nói trên trong đó có nước ta.

Vũ khí và đôla “viện trợ” của Mỹ mở đường cho chúng xâm nhập về kinh tế, hất cẳng Pháp để tước đoạt những tài nguyên phong phú của nhân dân Đông Dương. Hiệp ước viện trợ quân sự ngày 23 tháng 1 nǎm 1950 ký giữa Mỹ, thực dân Pháp và những chính phủ bù nhìn ở Đông Dương lúc ấy, có ghi rõ một khoản là “phải giao cho Mỹ những nguyên liệu và những sản phẩm mà Mỹ cần, vì trong nguồn tài nguyên của Mỹ không có hay chưa khai thác được”. (Điểm 2, khoản 1 trong hiệp ước đó).

ở Đông Dương hiện nay có những công ty độc quyền lớn của Mỹ như 2 công ty dầu hoả, công ty phốtphát Phlôriđa, công ty thép Bétlem. Hiện nay các hãng độc quyền Mỹ chiếm những vị trí quan trọng trong nền kinh tế Đông Dương (ở vùng quân Pháp tạm đóng), nhất là trong công nghiệp quặng mỏ. Trong các công ty Pháp – Mỹ đã thành lập như “Công ty Đông Dương”, “Công ty đầu tư tại Đông Dương”, “Công ty Nam Hoa”, “Công ty thuỷ điện Nam Hoa”, v.v., tư bản của Mỹ dần dần gạt tư bản của Pháp ra ngoài. Nhiều công ty như: “Công ty mới sản xuất phốtphát Bắc Kỳ”, “Công ty tìm và khai thác quặng Đông Dương”, v.v. phụ thuộc hẳn vào bọn tư bản độc quyền Mỹ. Tại những nơi khai thác bạc và chì trước kia nằm trong những công ty hỗn hợp Pháp – Việt nay đã hoàn toàn rơi vào các công ty Mỹ. Đầu nǎm 1952, công ty cao su Mỹ có 65% cổ phần trong công ty Misơlanh của Pháp. Hiện nay công ty Mỹ đã có những đồn điền cao su rộng 17 nghìn mẫu tây. Những hãng thầu về đường sá, cầu cống của Mỹ dần dần nắm lấy việc thầu đắp đường, xây trường bay và làm cầu. Công ty điện thoại, điện tín Moócgǎng của Mỹ đã hoàn toàn gạt hẳn công ty Pháp “Dụng cụ điện thoại” ra khỏi Đông Dương. ở Lào, các công ty của Mỹ đang tìm và khai thác các mỏ ở tây – bắc Viên Chǎn. Những đồn điền cao su ở Lào và ở Cao Miên trước thuộc nhóm Rivô của Pháp nay đã sang hẳn tay công ty Mỹ “Goócvích”.

Qua những việc nói trên, ta thấy rõ đế quốc Mỹ có âm mưu nham hiểm xâm lược các nước Đông Dương. Những việc nói trên lại nói rõ cái tình nghĩa của đế quốc Mỹ đối với “ông bạn” Pháp của chúng như thế nào…

*
* *

Sự can thiệp của đế quốc Mỹ đã làm cho cuộc chiến đấu của nhân dân Đông Dương kéo dài và gặp thêm nhiều khó khǎn, nhưng chúng không thể ngǎn cản nổi nhân dân Đông Dương đánh cho bọn xâm lược những đòn chí tử, không ngǎn cản nổi nhân dân Đông Dương giành những thắng lợi oanh liệt và nhất định sẽ thu được thắng lợi cuối cùng.

Tuy đã bị thất bại nhục nhã ở Đông Dương, nhưng chứng nào vẫn giữ tật ấy, đế quốc Mỹ chưa chịu bỏ mộng xâm lược Đông Dương.

Nhân dân Việt Nam đoàn kết với nhân dân Khơme và Lào, được nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ, sẽ tiếp tục đập tan những âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ.

T.L.

Báo Nhân dân, số 294, ngày 20-12-1954.
cpv.org.vn

Đế quốc Mỹ ráo riết phá Hội nghị Giơnevơ nhưng chúng đã thất bại nhục nhã (21-12-1954)

Nhờ có những thắng lợi vĩ đại của nhân dân Đông Dương trong hơn 8 nǎm kháng chiến gian khổ, sức đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân Pháp, lực lượng của mặt trận dân chủ hoà bình thế giới do Liên Xô lãnh đạo lớn mạnh không ngừng, nên tại Hội nghị Béclin họp tháng 2 nǎm nay, các đế quốc Mỹ, Anh, Pháp phải nhận triệu tập Hội nghị Giơnevơ bàn về vấn đề thống nhất Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương. Thế bất đắc dĩ, đế quốc Mỹ phải dự Hội nghị nhưng chúng hoạt động gắt gao để cản trở và phá Hội nghị. Tên Níchxơn, Phó Tổng thống Mỹ, tuyên bố không thể đàm phán với ta được. Tờ báo Mỹ Diễn đàn Nữu Ước ngày 2 tháng 3 trâng tráo nói rằng: không thể điều đình ở Đông Dương như ở Triều Tiên được, Việt Nam chỉ là một phong trào phiến loạn (!). Phải dập tắt phong trào ấy… Các giới ở Mỹ rất bi quan về Hội nghị Giơnevơ sắp tới… Đế quốc Mỹ cưỡng bức thực dân Pháp phải kéo dài chiến tranh, phải tung nhiều thanh niên Pháp đi làm bia đỡ đạn cho Mỹ hưởng lợi. Đế quốc Mỹ giao súng tận tay cho thực dân Pháp, và thúc thực dân Pháp phải tiếp tục đánh, không được hoà. Tên Rátpho, Tổng tham mưu trưởng của đế quốc Mỹ, ngày 1 tháng 3 nói trắng ra rằng: “Chúng tôi cung cấp vũ khí và viện trợ kỹ thuật cho người Pháp với hy vọng là họ mở rộng chiến tranh để chiến thắng những lực lượng quân sự của Hồ Chí Minh”.

Đầu tháng 4, Đalét vận động thực dân Anh và thực dân Pháp cùng các nước phe Mỹ đi tới “một hành động chung” để can thiệp trắng trợn hơn nữa vào Đông Dương, cứu nguy cho thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ và chuẩn bị xâm lược Trung Quốc. Cuộc vận động của Đalét thất bại vì các nước phe Mỹ cũng đang gặp nhiều khó khǎn nội bộ.

Về thành phần tham gia Hội nghị Giơnevơ, đế quốc Mỹ và tay sai của chúng là những giới hiếu chiến Pháp Lanien, Biđôn cũng gặp rất nhiều khó khǎn. Đầu tiên chúng khǎng khǎng không chịu mời Chính phủ ta tham gia Hội nghị. Chúng chỉ mời các chính phủ bù nhìn tay sai của chúng. Thái độ ngoan cố và cực kỳ vô lý ấy bị các đoàn đại biểu Liên Xô, Trung Quốc, nhân dân và Chính phủ ta cùng nhân dân thế giới kịch liệt phản đối, nên cuối cùng chúng phải miễn cưỡng đồng ý mời ta tới dự. Vả lại trước những thất bại đau đớn về quân sự nếu không bàn với đại biểu Chính phủ ta thì không sao giải quyết vấn đề gì về Đông Dương được. Phá bĩnh không được, Đalét hậm hực bỏ ra về, chỉ tên Xmít, một tên giữ vai trò thứ yếu ở lại.

Vượt bao nhiêu cản trở do đế quốc Mỹ và tay sai gây nên, ngày 8 tháng 5 (một ngày sau khi ta thắng to ở Điện Biên Phủ), Hội nghị Giơnevơ đã khai mạc. Đó là một thất bại lớn lắm của đế quốc Mỹ về mặt chính trị.

Từ khi Hội nghị Giơnevơ khai mạc đến khi Hội nghị Giơnevơ bế mạc, đế quốc Mỹ không lúc nào ngừng phá hoại. Đế quốc Mỹ và bọn thực dân hiếu chiến Pháp do bọn Biđôn đại diện và bọn bù nhìn đưa ra những điều kiện hết sức vô lý. Chúng biết không khi nào ta thèm đếm xỉa đến những điều kiện ấy nhưng vẫn cứ sống sượng đưa chầy bửa ra cốt để phá đám.

Thỉnh thoảng, Xmít lại cáo “đau bụng” không họp. Nhiều lần hắn đã cùng Hội nghị thoả thuận về một số biện pháp nhưng chỉ một buổi sau hắn lại lật lọng. Thí dụ như trong phiên họp ngày 16 tháng 6, Xmít đã thoả thuận với toàn thể Hội nghị về những biện pháp để giải quyết vấn đề Cao Miên, Lào, Xmít tỏ vẻ hoan nghênh đề nghị của đoàn đại biểu Trung Quốc. Hôm sau, Hội nghị bàn tiếp, Xmít bỏ đi chơi, tên thay mặt Xmít đến cãi chầy cãi cối cho hết giờ.

Hội nghị càng gần đến thắng lợi cuối cùng, đế quốc Mỹ càng ráo riết phá. Đêm 20 tháng 7 đáng lẽ các hiệp định đình chiến ở Việt Nam, Cao Miên và Lào cùng được ký một lúc nhưng đế quốc Mỹ đã giật dây đại biểu Chính phủ nhà vua Cao Miên cố phá đám.

Do sự đấu tranh kiên quyết của đoàn đại biểu ta và các đoàn đại biểu Liên Xô, Trung Quốc, do áp lực của nhân dân Pháp và nhân dân thế giới, Hiệp định đình chiến ở Cao Miên đến 11 giờ ngày 21 thì ký được.

Đế quốc Mỹ phá Hội nghị Giơnevơ rất tợn nhưng cuối cùng Hội nghị vẫn thành công. Trong quá trình Hội nghị, đế quốc Mỹ đi từ thất bại này đến thất bại khác. Chính phủ Biđôn, Lanien, tay sai đắc lực của đế quốc Mỹ, bị lật đổ, là một đòn nặng đánh vào đầu đế quốc Mỹ.

Thành công của Hội nghị Giơnevơ là thắng lợi vĩ đại của nhân dân Đông Dương, nhân dân Pháp và nhân dân thế giới.

Thành công của Hội nghị Giơnevơ chứng tỏ rằng dù đế quốc Mỹ ngoan cố nham hiểm đến đâu nhưng nhân dân Đông Dương và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới có đầy đủ lực lượng và mưu trí để đánh bại chúng.

T.L.

Báo Nhân dân, số 295, ngày 21-12-1954.
cpv.org.vn

Thư gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ nhân dịp kỷ niệm lần thứ 10 ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1954)

Nhân ngày kỷ niệm 10 nǎm thành lập quân đội, thay mặt Đảng và Chính phủ, Bác gửi lời khen ngợi toàn thể cán bộ và chiến sĩ đã luôn luôn cố gắng, làm tròn nhiệm vụ vẻ vang trong 8, 9 nǎm kháng chiến, và đã từ những nhóm du kích bé nhỏ lúc đầu trở nên một quân đội lớn mạnh như ngày nay.

Trước tình hình mới, nhiệm vụ của các chú là phải làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh để củng cố hoà bình, bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc. Cuộc đấu tranh đó phải trải qua nhiều khó khǎn, gian khổ, song nhất định thắng lợi. Nhiệm vụ của các chú là nặng nề nhưng rất vẻ vang.

Bác kêu gọi toàn thể cán bộ và chiến sĩ hãy giữ vững và nâng cao ý chí chiến đấu, ra sức thi đua học tập quân sự và chính trị, làm cho quân đội ta ngày càng mạnh để làm trọn nhiệm vụ vẻ vang đó.

Bác sẽ tặng giải thưởng cho những đơn vị và cá nhân thi đua có nhiều thành tích nhất.

Bác hôn các chú

Ngày 12 tháng 12 nǎm 1954
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 296, ngày 22-12-1954.
cpv.org.vn

Mừng ngày sinh nhật Quân đội nhân dân (22-12-1954)

10 nǎm trước đây, quân đội Nhật Pháp tung hoành, nhân dân Việt Nam khốn khổ. Trong lúc đó ở Lạng Sơn, Cao Bằng, vài nhóm du kích bắt đầu tổ chức. Tuy cái gì cũng thiếu nhưng dũng cảm có thừa. Hồi đó có người nói với một giọng thương hại: “Châu chấu sao đấu nổi ông voi!”

Bác trả lời một cách đanh thép: “Bây giờ chúng ta mới có vài chục người du kích, chắc chắn sau này chúng ta sẽ có hàng chục vạn hùng binh”.

Rất tin tưởng, đồng bào Cao – Lạng trả lời bằng cách khuyên con em tham gia các đội du kích và hết lòng ủng hộ các chiến sĩ như cha mẹ sǎn sóc đàn con cưng.

Đảng giao cho Bác trực tiếp lãnh đạo. Các đồng chí Trường Chinh, Phạm Vǎn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Chu Vǎn Tấn, v.v. thì phụ trách việc tổ chức, huấn luyện chỉ huy.

Thực dân Pháp và quân phiệt Nhật càn quét càng gắt gao, thì lực lượng du kích phát triển càng mau chóng. Phát triển đến đâu, ta thực hiện chính sách dân chủ của Mặt trận Việt Minh đến đó. Non một nǎm, phong trào du kích đã lan khắp cả nước từ Bắc đến Nam và đã trở nên đội quân chủ lực của Cách mạng Tháng Tám. Nhân dân ta lên nắm chính quyền. Việt Nam ta thành một nước độc lập.

Thực dân gây chiến, cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ bắt đầu. Những đội du kích nhỏ bé nǎm kia, đã thành hàng vạn Quân đội nhân dân hùng mạnh. Thực dân hiếu chiến Pháp đã phái những tướng cừ như Lơcléc, Tátxinhi với hơn 18 vạn binh sĩ Pháp cùng với 30 vạn binh sĩ Bảo Đại, do đế quốc Mỹ giúp tiền, giúp súng… Kết quả là quân ta thắng. Vì:

– Quân đội ta anh dũng, quyết tâm.

– Nhân dân ta nồng nàn yêu nước, hết lòng ủng hộ quân đội ta.

– Đảng và Chính phủ lãnh đạo đúng đắn, kiên quyết.

– Cuộc kháng chiến của ta là chính nghĩa, được nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới ủng hộ.

Nay chiến tranh đã chấm dứt, hoà bình đã trở lại, nhiệm vụ của quân đội ta là: Thi đua học tập, củng cố quốc phòng, giữ gìn hoà bình, bảo vệ Tổ quốc, giúp đỡ nhân dân tǎng gia sản xuất, làm lực lượng trụ cột cho công cuộc hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ của nước ta.

Quân ta công trạng lớn lao,

Mười nǎm lịch sử biết bao nhiêu tình!

C.B.

Báo Nhân dân, số 296,
ngày 22-12-1954.
cpv.org.vn

Nói chuyện với cán bộ, công nhân Nhà máy điện Yên Phụ và Nhà máy đèn Bờ Hồ (24-12-1954)

Trong lúc quân Pháp sắp rút lui, các cô, các chú, từ cán bộ đến công nhân, đã ra sức đấu tranh giữ nhà máy tương đối được hoàn toàn. Đấy là một điều rất tốt. Sau khi Chính phủ ta về tiếp quản Thủ đô, các cô. các chú đã cố gắng sản xuất điện đều, làm cho sinh hoạt của đồng bào trong thành phố được tiếp tục như thường. Bác thay mặt Chính phủ khen ngợi và cảm ơn các cô, các chú.

Trong nhà máy có lao động trí óc và lao động chân tay, cán bộ kỹ thuật và công nhân, nam có, nữ có. Tuy khác nhau nhưng cùng chung một mục đích. Ngày trước chúng ta là người nô lệ. Vì muốn thoát vòng nô lệ mà chúng ta kháng chiến. Trước chúng ta làm cho thực dân Pháp, nay chúng ta làm cho nhân dân. Nhà máy này bây giờ là của nhân dân, của Chính phủ, của các cô, các chú. Các cô, các chú là chủ thì phải gìn giữ nhà máy làm cho nó phát triển hơn nữa.

Muốn thế, trước hết phải đoàn kết một lòng. Trong thời kỳ thuộc Pháp, chúng chia nhân viên kỹ thuật ra một hạng, cai xếp một hạng, công nhân một hạng, chia để trị, làm cho ba hạng không đoàn kết và đều phải làm nô lệ. Bây giờ tất cả chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ.

Mỗi người đều có sáng kiến hay, nhưng cũng đều có khuyết điểm. Sáng kiến là tính thần của dân tộc ta, khuyết điểm là kết quả của chế độ cũ. Ai có cái hay thì truyền bá cho nhau học, thấy khuyết điểm gì thì lấy tinh thần đoàn kết, thương yêu nhau mà phê bình, giúp nhau sửa chữa. Phê bình không phải để mỉa mai, nói xấu. Phê bình là để giúp nhau tiến bộ. Học nhau điều hay, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, thế là đoàn kết thật sự.

Chúng ta đoàn kết để thi đua. Thi đua phải có tổ chức, có kế hoạch. Thi đua không phải là ganh đua, giấu nghề. Thi đua có nghĩa là mọi người phát triển tài nǎng, sáng kiến của mình, học hỏi điều hay lẫn nhau, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm để cùng nhau tiến bộ, Thi đua nhằm:

l. Tǎng nǎng suất,

2. Tiết kiệm nguyên ìiệu, vật liệu. Đồng thời phải tuyên truyền cho nhân dân và các cơ quan ý thức tiết kiệm điện.

Người này thi đua với người khác, tổ này thi đua với tổ khác, nhà máy này thi đua với nhà máy khác.

Các cô, các chú giống như một bộ máy. Nếu có một bộ phận, một người nào mắc khuyết điểm mà không sửa chữa thì ảnh hưởng xấu đến cả guồng máy chung. Vì thế, các cô, các chú, lao động trí óc và lao động chân tay, phải đoàn kết chặt chẽ thi đua làm cho nhà máy phát triển.

– Hiện nay nước ta còn nghèo, đời sống của anh chị em công nhân còn chưa được đầy đủ. Đảng, Chính phủ và Bác đều lo nghĩ đến điều đó. Nhưng chúng ta cần nhận rõ giai cấp lao động là giai cấp lãnh đạo, nghĩa là giai cấp chịu khổ trước hết, đấu tranh mạnh hơn hết.

Nay trong hoàn cảnh hoà bình, muốn cải thiện sinh hoạt thì giai cấp lao động ta phải tǎng nǎng suất. ở nhà máy, công nhân phải thi đua chế tạo. ở nông thôn, nông dân phải thi đua sản xuất lúa gạo. Sản xuất tǎng thì mức sống sẽ được nâng cao. Muốn ǎn quả thì trước phải chịu khó trồng cây.

– Hiện nay miền Nam chưa được giải phóng, đế quốc Mỹ còn lǎm le phá hoại hoà bình, chúng ta phải chống đế quốc Mỹ một cách thiết thực bằng thi đua tǎng nǎng suất. Tiết kiệm được một cân than, tǎng được một kilôoát điện là góp thêm một phần lực lượng đánh vào đế quốc Mỹ.

Chúng ta có quyết tâm, chúng ta nhất định khôi phục được kinh tế, nâng cao được đời sống của toàn dân. Chúng ta tin chắc là chúng ta làm được vì dân ta tốt, công nhân ta oanh liệt, đường lối lãnh đạo của Đảng và Chính phủ ta đúng, lại có thêm sự giúp đỡ nhiệt tình, cao cả của nhân dân các nước bạn.

Chúc các cô, các chú mạnh khoẻ, vui vẻ, đoàn kết thi đua cho tốt.

Báo Nhân dân, số 298, ngày 24-12-1954.
cpv.org.vn

Thư chúc mừng đồng bào công giáo nhân dịp Nôen (24-12-1954)

Thân ái gửi đồng bào công giáo,

Trong 8, 9 nǎm chiến tranh, máy bay, xe tǎng đã đốt phá nhiều nhà thờ, giết hại nhiều giáo dân. Lần này là lần đầu tiên, chúng ta làm lễ Nôen trong hoàn cảnh hoà bình.

Đáng lẽ là chúng ta vui mừng, sung sướng. Nhưng sự vui sướng ấy đã bị giảm sút nhiều, vì:

– “Thái độ của một số người phương Tây không học theo thái độ của Chúa Giêsu mà học theo thái độ của những người đã giết Chúa.” (Lời ông Môriắc, hàn lâm học sĩ công giáo).

– Những người phương Tây ấy là đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng như bọn Ngô Đình Diệm; chúng đã lừa bịp, ép buộc một số giáo hữu lìa bỏ quê hương mà di cư vào Nam, để sống một đời lầm than, cực khổ. Thanh niên bị bắt đi lính, phụ nữ phải bán mình vào nhà điếm, người mạnh khoẻ bị đưa làm phu ở các đồn điền, trẻ con nam nữ bị bán làm tôi tớ… (lời 11 vị linh mục Bắc và Nam).

Số phận của những giáo hữu ấy khiến tôi rất đau lòng, và chắc đồng bào cũng thương xót. Tôi rất mong đồng bào cầu Chúa phù hộ những giáo hữu ấy đủ sức đấu tranh, đòi trở về quê cha đất tổ.

Nhân dịp này, tôi xin nhắc lại cho đồng bào rõ: Chính phủ ta thật thà tôn trọng tín ngưỡng tự do. Đối với những giáo hữu đã nhầm di cư vào Nam, Chính phủ đã ra lệnh cho địa phương giữ gìn cẩn thận ruộng vườn, tài sản của những đồng bào ấy và sẽ giao trả lại cho những người trở về.

Nhân dịp lễ Nôen, tôi gửi đồng bào lời chúc mừng thân ái và xin Chúa ban cho đồng bào mọi phúc lành.

Báo Nhân dân, số 298, gày 24-12-1954.
cpv.org.vn

Đáp từ trong buổi lễ nhận quốc thư của Hội đồng Quốc gia nước Cộng hoà Nhân dân Ba Lan (25-12-1954)

Thưa đồng chí Đại sứ,

Tôi rất vui lòng nhận bản quốc thư của Hội đồng Quốc gia nước Cộng hoà Nhân dân Ba Lan uỷ nhiệm đồng chí làm Đặc mệnh toàn quyền Đại sứ ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tôi xin cảm ơn những lời chúc mừng của đồng chí.

Nhân dân Ba Lan đã đấu tranh rất gian khổ và anh dũng hơn một thế kỷ nay chống âm mưu của bọn xâm lược chia cắt đất nước Ba Lan, nô dịch nhân dân Ba Lan. Trong cuộc Đại chiến thứ hai, nhân dân Ba Lan đã chiến đấu chống quân phátxít Hítle để giải phóng đất nước với một tinh thần hy sinh dũng cảm mà toàn thế giới đều khâm phục. Ngày nay, nhân dân Ba Lan đang ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần giữ gìn hoà bình châu Âu và thế giới.

Nhân dân Việt Nam nhận thấy cuộc chiến đấu của nhân dân Ba Lan rất gần gũi với cuộc chiến đấu của mình và rất yêu mến nhân dân Ba Lan.

Trong cuộc kháng chiến trước đây cũng như trong cuộc đấu tranh hiện nay và sắp tới cho hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ của mình, nhân dân Việt Nam luôn luôn được nhân dân Ba Lan đồng tình và ủng hộ. Nhân dân Việt Nam tin chắc rằng từ nay về sau quan hệ về kinh tế, vǎn hoá giữa hai nước chúng ta sẽ ngày càng mở rộng và thắt chặt, giúp cho nhân dân Việt Nam trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế quốc dân, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí lãnh chức Đại sứ ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong công tác của đồng chí, nhân dân Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ ra sức giúp đỡ đồng chí hoàn toàn thành công.

Tôi nhờ đồng chí chuyển lời chào thân ái của chúng tôi cho đồng chí Chủ tịch Hội đồng Quốc gia nước Cộng hoà Nhân dân Ba Lan và nhân dân Ba Lan.

Đọc ngày 25-12-1954.
Báo Nhân dân, số 300,
ngày 26-12-1954.
cpv.org.vn