Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đào tạo nhân tài

“Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”- Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài đối với tiến trình xây dựng và phát triển đất nước. 

Ngay sau cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chủ tịch đặt vấn đề chống nạn dốt là vấn đề cấp bách số hai (sau vấn đề chống nạn đói) trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước lúc bấy giờ. Vì “nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta” và “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, vì bận đánh giặc và sản xuất, nhiều người chưa quan tâm, chú ý đúng mức đến văn hóa và giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sửa khẩu hiệu “Thanh toán nạn mù chữ” thành “Thi đua diệt giặc dốt”. Bác Hồ kêu gọi mọi người thi đua học tập để đưa dân tộc ta trở thành một dân tộc “Thông thái”.

Bác Hồ đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ. Người dặn các cháu “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, đó là nhờ một phần lớn công học tập của các cháu.” Và: Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của nhân loại. Người nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Người chỉ rõ: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Muốn có nhân tài phải “trồng” và dĩ nhiên là rất công phu.

Mục tiêu của nền giáo dục mới, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là đào tạo “những công dân tốt và cán bộ tốt, những người chủ tương lai tốt của nước nhà”. Muốn cho dân giàu, nước mạnh thì dân trí phải cao, phải đa dạng hóa các loại hình đào tạo, mở trường vừa học, vừa làm để tạo điều kiện cho người lao động, cán bộ, chiến sĩ được đi học. Khi dân trí cao sẽ xuất hiện nhiều nhân tài tham gia xây dựng đất nước. Người chỉ cho chúng ta con đường đưa đất nước phồn vinh đó là con đường phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài. Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nền giáo dục, đào tạo nhân tài chính là Người đặt ra mục tiêu giáo dục toàn diện. Người yêu cầu: “Phải chú trọng đủ các mặt, đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất”. Theo Hồ Chủ tịch, nội dung giáo dục phải toàn diện, phải nhằm mục tiêu đào tạo con người lao động mới, phải coi trọng cả tài và đức. Không những phải giàu về tri thức mà còn phải có đạo đức cách mạng. “Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt” mà “phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra, trong thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học kỹ thuật”.

Đối với phương pháp đào tạo nên những người hội đủ tài, đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ coi trọng việc phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài, Người đặc biệt coi trọng chính sách sử dụng nhân tài. Trong bài “Tìm người tài đức”, ngày 20-11-1946, Bác viết: “Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chủ tịch thật sự quan tâm và tin tưởng đội ngũ trí thức – những nhân tài của đất nước, không chỉ bằng lời nói mà bằng việc làm cụ thể. Bác cho rằng, để phát huy sự sáng tạo của trí thức, cần đưa họ vào phong trào cách mạng, đi vào đời sống nhân dân, coi đó là trường học lớn để học tập, rèn luyện và trưởng thành. Người đòi hỏi trí thức cách mạng phải là những người vừa có đức, vừa có tài. Cán bộ lãnh đạo và quản lý phải được đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên để có tri thức sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực mình đang phụ trách, có như vậy mới có thể hoàn thành công việc ngày càng tốt. Chính nhờ tư tưởng sáng suốt của Bác mà đến nay phần lớn con em giai cấp công nhân, nông dân được đào tạo trở thành những cán bộ lãnh đạo, cán bộ khoa học tài năng, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.

Theo Hồ Chủ tịch, vấn đề then chốt quyết định chất lượng giáo dục là xây dựng đội ngũ những người thầy giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Bởi vì “Nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục, phải xây dựng đội ngũ những người thầy giáo tốt – thầy giáo xứng đáng là thầy giáo”. Đó là những người yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu, chăm sóc, giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức cách mạng “khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ”. Phải thường xuyên tự bồi dưỡng, nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn, phương pháp sư phạm để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy “người huấn luyện phải học thêm mãi thì mới làm được công việc huấn luyến của mình”. Người dẫn lại câu của Khổng Tử: “Học không biết chán, dạy không biết mỏi” và lời dạy của V.I Lê Nin: “Học, học nữa, học mãi” để nhấn mạnh rằng người huấn luyện nào tự cho mình là đã biết đủ rồi thì người đó dốt nhất. Giáo dục trực tiếp nâng cao trình độ học vấn, trình độ khoa học, cả khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, trình độ tổ chức quản lý… Giáo dục sẽ giúp cho con người có một vốn liếng về lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam và thế giới, nếu không có nó thì sẽ không giữ vững được nền độc lập dân tộc, không thể tham gia một cách tích cực và có hiệu quả vào công việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục sẽ giúp cho mỗi người dân có kiến thức mới để “biến một nước dốt nát, khổ cực thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc.

Tư tưởng với những nguyên lý giáo dục Hồ Chí Minh về phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài để lại cho chúng ta đến nay vẫn còn nguyên giá trị, vẫn sáng mãi tính khoa học và cách mạng, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đó là những bài học vô cùng quý giá để chúng ta học tập, và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt làm tốt hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ, lựa chọn nhân tài đáp ứng nhu cầu cao của công cuộc đổi mới vì sự phồn vinh của đất nước.

Theo báo Hà Tây điện tử

dangcongsan.vn

Nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn tư tưởng Hồ Chí Minh

Quan điểm cơ bản của Ðảng ta ngày càng được nhận thức rõ hơn là: Chủ nghĩa Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Ðảng và của cách mạng Việt Nam.

Quan điểm này được khẳng định qua nhiều kỳ Ðại hội của Ðảng, đặc biệt là Ðại hội VII (6-1991), Ðại hội IX (4-2001) và gần đây là Chỉ thị 23 của Ban Bí thư Trung ương “Về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới” (ngày 27-3-2003).

Có nhiều cách tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh theo các mảng về tư tưởng chính trị, triết học, kinh tế, văn hóa… Có những công trình tập trung làm rõ Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, v.v. Dù tiếp cận cách nào, cũng phải hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm cách mạng và khoa học. Vì vậy nghiên cứu tư tưởng của Người với tinh thần và thái độ khoa học. Theo chúng tôi để nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn tư tưởng Hồ Chí Minh cần làm rõ:

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một chỉnh thể. Chỉnh thể tư tưởng Hồ Chí Minh tạo ra một hệ giá trị với một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Nói theo tinh thần nhiều nhà khoa học và chính khách trên thế giới thì tư tưởng Hồ Chí Minh được hiểu như một học thuyết, bao gồm một hệ thống những luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của giai cấp công nhân, dân tộc Việt Nam và hiện thân cho khát vọng của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Những quan điểm, quan niệm của Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực phản ánh sự nhất quán, xuyên suốt từ cách mạng giải phóng dân tộc đến cách mạng XHCN, với nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Marx – Lenin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Từ những năm hai mươi đến tận cuối đời, Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh chủ nghĩa Marx – Lenin là chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất; là cái cẩm nang thần kỳ; là mặt trời soi sáng con đường cách mạng của các dân tộc; là vũ khí tư tưởng không thể gì thay thế được… Người khẳng định chúng ta giành được thắng lợi là do nhiều nhân tố, trong đó cần phải nhấn mạnh là “do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lê-nin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo phù hợp với thực tế Việt Nam” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, T12, Tr 476).

Dân tộc Việt Nam ta có một lòng nồng nàn yêu nước, chủ nghĩa yêu nước là một động lực lớn; là tinh thần đoàn kết, tự tôn dân tộc, lòng nhân ái khoan dung, đức tính cần cù, sáng tạo… Việt Nam dưới thời Pháp thống trị là một thuộc địa nửa phong kiến, trong đó mâu thuẫn dân tộc nổi lên hàng đầu. Hồ Chí Minh chỉ rõ, thuộc địa không phải như nhiều người tưởng, đó chẳng qua “chỉ là một xứ dưới đầy cát và trên là mặt trời, vài cây dừa xanh và mấy người khác mầu da”. Ngược lại, “đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Ðông Dương giấu một cái gì đang sục sôi, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến”. Theo Người, “nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở thuộc địa hơn là ở chính quốc” (Sđd, t1, tr 274).

Nhận thức về vấn đề thuộc địa như vậy là một sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh. Trong điều kiện đó, Hồ Chí Minh đã phát triển chủ nghĩa Marx – Lenin, không phải đặt nhiệm vụ giải phóng giai cấp lên trước, mà là giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Người đã phát triển nhận thức từ chỗ làm cách mạng tư sản dân quyền (1930), cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: Phản đế và điền địa, đến chỗ cuộc cách mạng tập trung giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng” (1941). Nghị quyết Trung ương VIII (5-1941) do Người chủ trì khẳng định: “Chưa chủ trương làm cách mạng tư sản dân quyền mà chủ trương làm cách mạng giải phóng dân tộc” (Văn kiện Ðảng toàn tập, t7, Nxb CTQG, 2000, tr119).

Xuất phát từ thực tế Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa có khả năng chủ động giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc và tác động trở lại cách mạng chính quốc. Như vậy, nhận thức và cách giải quyết của Hồ Chí Minh góp phần bổ sung làm phong phú lý luận Marx – Lenin về cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.

Hồ Chí Minh còn có nhiều vận dụng sáng tạo khác như việc thành lập Ðảng Cộng sản ở nước thuộc địa; đại đoàn kết tất cả mọi công dân nước Việt trên cơ sở lực lượng nền tảng là công, nông; dần dần xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện các nước vốn là thuộc địa, kinh tế nông nghiệp lạc hậu, khoa học-kỹ thuật kém phát triển, tiến thẳng lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Hồ Chí Minh xác định rõ phải phát huy nội lực, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” (cả trong sự nghiệp giành độc lập và xây dựng CNXH), đồng thời tranh thủ ngoại lực và kết hợp cả hai loại sức mạnh đó.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, chắt lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt rễ sâu xa từ truyền thống lịch sử, văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, một dân tộc đầy những sự tích kỳ diệu trong cuộc trường kỳ chống thiên tai, địch họa. Trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước, dân tộc Việt Nam lấy nhân nghĩa làm gốc để thắng hung tàn, đề cao bổn phận đối với Tổ quốc; trọng dân, đề cao dân, khoan dung, hòa hợp. Ðó cũng là triết lý phương Ðông mà Hồ Chí Minh đã từng nhắc tới: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Tư tưởng “cầu đồng tồn dị” (tìm nét chung để hạn chế cái khác biệt) là một nét đẹp của văn hóa phương Ðông mà có lúc Hồ Chí Minh đã nhắc nhở đồng bào theo tinh thần đó:

“Dân ta xin nhớ chữ đồng

Ðồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”

Hồ Chí Minh đã chắt lọc từ văn hóa dân tộc, phương Ðông và phương Tây khát vọng hòa bình của con người, xây đắp một nền văn hóa hòa bình: Người hiện thân cho lý tưởng chung của nhân loại: Ðộc lập, tự do, bình đẳng, bác ái, hạnh phúc.

Phương pháp Hồ Chí Minh. Với tư cách là chủ thể, Hồ Chí Minh không những là một nhà tư tưởng lớn, nhà chiến lược thiên tài, nhà tổ chức vĩ đại mà ở Người còn nhuần nhuyễn về phương pháp, đặc biệt là phương pháp cách mạng. Về lĩnh vực này, thế giới coi Người là bậc thầy. Phương pháp Hồ Chí Minh không chỉ là một khoa học, mà còn là một nghệ thuật. Ở Hồ Chí Minh, tư tưởng và phương pháp hòa quyện vào nhau. Từ phương pháp luận, Hồ Chí Minh có những phương pháp hành động cụ thể đạt hiệu quả cao trong mọi tình huống. Phương pháp Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống và thực tiễn Việt Nam dưới ánh sáng chủ nghĩa Marx – Lenin; từ cái tâm, cái đức, trí tuệ, bản lĩnh và niềm tin vào nhân dân, vào thắng lợi của cách mạng không gì lay chuyển được của Người. Hồ Chí Minh là bậc đại trí, đại nhân, đại dũng, luôn kết hợp một cách tài tình lý luận với thực tiễn trên tinh thần “Dĩ bất biến ứng vạn biến”. Do đó Người có khả năng lôi cuốn, quy tụ mọi người Việt Nam, các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Người giải quyết thành công mối quan hệ thời – thế – lực; thiên thời – địa lợi – nhân hòa…

Hồ Chí Minh nổi bật là một anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Chất “anh hùng” và chất “văn hóa” luôn hòa quyện, thống nhất với nhau.

Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với đường lối đúng đắn của Ðảng là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hơn 70 năm qua, là tài sản tinh thần vô giá tiếp tục soi sáng sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, đúng như Mi-ghen Ðê-xtê-pha-nô, giáo sư, cố vấn Viện nghiên cứu Á châu (Cuba) đã viết: “Người không phải là một kỷ niệm của quá khứ. Người là một con người kỳ diệu cho tất cả mọi thời đại. Tất cả những người Cuba, tất cả những người có lương tri trên thế giới nhìn thấy ở Nguyễn Ái Quốc – “Người yêu nước”, ở Hồ Chí Minh – “Người chiếu sáng”, ở Bác Hồ “Vị Chủ tịch kính yêu”.

Trong công cuộc đổi mới, vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần phát huy trí tuệ, bản lĩnh, tinh thần sáng tạo, đổi mới, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, kết hợp chặt chẽ lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm theo nguyên tắc “Dĩ bất biến ứng vạn biến” với ý thức phục vụ nhân dân cao nhất. Triết lý phát triển Hồ Chí Minh cũng chính là triết lý phát triển Việt Nam trên đường hội nhập và phát triển.

sites.google.com

Thày giáo Nguyễn Tất Thành

(ĐCSVN)– Khoảng đầu tháng 9 năm 1910, trước khi ra đi tìm đường cứu nước, trên đường từ Quy Nhơn vào Sài Gòn, Hồ Chí Minh, dưới tên gọi Nguyễn Tất Thành dừng chân ở Phan Thiết. Tại đây, Người đã xin dạy học ở trường Dục Thanh, một trường học tiến bộ, cả nước biết tiếng. Đây là một trường tư thục do các nhân sĩ yêu nước Nguyễn Trọng Lôi và Nguyễn Quý Anh thành lập năm 1907. 

Thời gian đầu, thầy Thành ở nhà cụ Hồ Tá Bang, sau chuyển ra ở cùng với học sinh nội trú của trường tại vườn nhà của ông Nguyễn Quý Anh. Tại trường Dục Thanh, Người được phân công dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ cho học sinh lớp nhì. Thầy dạy rất tận tâm, hết lòng thương yêu, chăm sóc học sinh. Thầy thường phổ biến cho học sinh những bài thơ ca yêu nước, chẳng hạn như bài Á tế á ca, Bài ca hớt tóc. Những ngày nghỉ, thầy Thành đưa học sinh đến thăm các gia đình nghèo ở bến cá Cồn Chà, bãi biển Thương Chánh. Qua những lần đi dã ngoại này, thầy Thành tranh thủ giảng thêm cho các em về địa lý, lịch sử nước nhà, về các anh hùng dân tộc như Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo. Thầy còn phụ trách thể dục buổi sáng của nhà trường, chăm lo xây dựng tủ sách, hướng dẫn học sinh tham quan phong cảnh trong vùng. Với kiến thức uyên thâm, lối sống giản dị, hòa nhã và sự tận tâm trong nghề dạy học, Người được đồng nghiệp kính trọng, học sinh thương yêu, quý mến.

Tháng 02 năm 1911, Nguyễn Tất Thành lưu luyến rời trường Dục Thanh đi vào Sài Gòn. Khi đến thành phố được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông”, Người xin được việc làm trên tàu Amiral Latouche Tréville. Ngày 05/6/1911, từ cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn, Người rời Tổ quốc đi sang Pháp nhằm thực hiện hoài bão từng nung nấu là xem các nước phương Tây “họ làm như thế nào rồi trở về giúp đồng bào chúng ta”.

Trong những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc (tên Bác Hồ lúc ở nước ngoài) đã lớn tiếng tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp là “làm cho dân ngu để dễ bề cai trị” và “gieo rắc một nền giáo dục đồi bại và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát”. Năm 1919, thay mặt Hội người Việt Nam yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội các cường quốc ở Mác-xây bản yêu sách, trong đó có điểm đòi để cho nhân dân Việt Nam được “tự do học tập”, nhà nước phải “mở các trường học, các trường kỹ thuật, nghề nghiệp ở các tỉnh”…

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, một trong những nội dung cơ bản nhất là xây dựng và hoàn thiện con người thông qua hoạt động giáo dục và tự giáo dục. Thật vậy, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Hồ Chí Minh nói với đồng bào cả nước rằng, giặc dốt cũng nguy hại như giặc ngoại xâm và giặc đói. Chính vì thế, Người kêu gọi nhân dân cả nước nỗ lực học tập, bởi vì “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Từ đó, Người xem việc nâng cao dân trí là “một công việc cần phải thực hiện cấp tốc” để làm cho “mọi người Việt Nam, ai cũng đều có kiến thức để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”.

Đồng thời, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến nhiệm vụ có tính chiến lược của sự nghiệp giáo dục là vun trồng và bồi dưỡng thế hệ trẻ nhằm kế tục sự nghiệp của cha ông trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào tháng 9/1945, Người viết: “Non sông có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Câu nói nổi tiếng của Người “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” mãi mãi là kim chỉ nam của đường lối giáo dục cho tất cả các giai đoạn của cách mạng Việt Nam. Đó là trách nhiệm của gia đình, nhà trường và toàn xã hội trong việc chăm lo giáo dục – đào tạo thế hệ trẻ.

Với tầm nhìn xa, trông rộng, bên cạnh phát huy nội lực, cần phải có sự giao lưu hội nhập với các nền văn hóa khác, học tập, tiếp thu những thành quả khoa học kỹ thuật của các nước tiên tiến để áp dụng vào Việt Nam. Muốn vậy, cần gửi nhiều học sinh đi học tập, đào tạo từ các nước tiên tiến trên thế giới. Chủ trương này của Bác đã được Đảng và Nhà nước ta từng bước thực hiện, đưa hàng ngàn học sinh, sinh viên sang Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN khác học tập, nghiên cứu, trở thành những cán bộ chủ chốt, những nhà khoa học đầu đàn của nước ta sau này.

Quán triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – đào tạo, hơn sáu thập kỷ qua, dù hoàn cảnh khó khăn đến đâu, nền giáo dục của nước nhà vẫn tiếp tục được duy trì, phát triển. Ngay như Lai Châu trước đây và Điện Biên ngày nay, một địa phương miền núi khó khăn, nhưng ngay sau ngày được giải phóng (tháng 5/1954), tỉnh đã cho mở nhiều trường học ở khắp các địa phương. Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, Đảng bộ chính quyền tỉnh luôn quán triêt tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Bác Hồ, xác định giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu, coi việc phát triển giáo dục – đào tạo là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, của mỗi gia đình và toàn xã hội.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – đào tạo mãi mãi tỏa sáng bởi tính cách mạng, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Cả đời Hồ Chủ tịch chỉ có một ham muốn, ham muốn tộc bậc là “làm cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Mong muốn của Bác, cũng là lời huấn thị vô cùng quý giá để chúng ta học tập, làm theo, triển khai có hiệu quả các nghị quyết của Đảng và Chính phủ về công tác giáo dục – đào tạo, khắc phục mọi yếu kém, bất cập hiện nay, đưa sự nghiệp giáo dục – đào tạo đạt được nhiều kết quả thiết thực nhằm phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao, đủ đạo đức và tài năng phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Vân Chương
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Điện Biên

dangcongsan.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Ngay từ năm 1941, dưới sự lãnh đạo của Người, chương trình Việt Minh ghi: “Cần khuyến khích nền thể dục quốc dân, làm cho giống nòi ngày càng thêm mạnh”. 

Chương trình hành động này còn chỉ rõ: “Lập thêm nhà thương, nhà đỡ đẻ, nhà dưỡng lão”. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 27-3-1946, Người ký Sắc lệnh số 38/SL thiết lập Nha Thanh niên và Thể thao Trung ương, đồng thời Người viết bài: “Sức khỏe và thể dục”. Từ năm 1947-1967, Người có 25 bài và thư gửi ngành y tế và thương binh, xã hội, chỉ ra những quan điểm cơ bản về điều trị thương, bệnh binh, kết hợp quân dân y, kết hợp đông y và tây y và công tác khác của ngành y tế.

1- Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sức khỏe và mối quan hệ giữa y lý, y thuật và y đạo trong tư tưởng của Người.

Người quan niệm sức khỏe là gồm có sự thoải mái cả về thể xác lẫn tâm hồn. Ðiều đáng chú ý, Người phát biểu quan niệm này từ năm 1946 và tới năm 1978, Tổ chức Y tế thế giới mới đưa ra định nghĩa về sức khỏe. Người định nghĩa: “Khí huyết lưu thông, tinh thần thoải mái, thế là sức khỏe”. Sinh ra tại một vùng “địa linh nhân kiệt” như Nghệ An, nơi cách không xa quê ngoại của Ðại danh y Hải Thượng Lãn Ông (Hương Sơn, Hà Tĩnh), lại lớn lên trong một gia đình nhà Nho có cha đã từng là thầy thuốc đông y làm nghề cắt thuốc trị bệnh cứu người, Chủ tịch Hồ Chí Minh am hiểu sâu sắc về y lý, y thuật và y đạo của Y học phương Ðông. Vì vậy, khi diễn giải về sức khỏe, Người dùng những khái niệm của y học phương Ðông. Theo Y học phương Ðông, huyết là cái xe vận chuyển khí, khí động thì sinh ra tinh, tinh động thì sinh ra thần. Nếu khí không động thì tinh thần tan rã, và như vậy là sinh ra bệnh tật, ốm đau, chết chóc.

Như vậy, chúng ta hiểu định nghĩa về sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh dựa trên y lý của Y học phương Ðông. Ngày nay Y học hiện đại cũng định nghĩa: “Sức khỏe là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải chỉ là một tình trạng không có bệnh tật hay tàn tật”. Khởi đầu là sự tiếp thu y lý của Y học phương Ðông, nhưng khi đã tiếp cận với lý luận của triết học Mác về con người, con người vừa là thực thể tự nhiên vừa là thực thể xã hội, thì trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mặt thể chất và mặt tinh thần lại càng được hòa quyện với nhau trong khái niệm sức khỏe và công tác chăm sóc sức khỏe. Một điều quan trọng khi phân tích và học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về sức khỏe và công tác chăm sóc sức khỏe mà chúng ta cần lĩnh hội, đó là tính khoa học và tính thống nhất giữa y lý, y thuật và y đạo trong tư tưởng của Người. Chính dựa trên khái niệm đúng đắn về sức khỏe, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy chúng ta về y thuật và đặc biệt Người dạy nhiều về y đạo. Những lời dạy về y thuật và y đạo không phải là những ý ngẫu nhiên hoặc lặp lại một cách đơn thuần những ý hoặc lời của các bậc danh nhân hoặc danh y tiền bối. Chính sự hiểu đúng đắn về sức khỏe, hay nói cách khác, xuất phát từ cơ sở y lý đúng đắn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ cho chúng ta những vấn đề y thuật và y đạo. Ðó là tính khoa học và tính thống nhất sâu sắc trong tư tưởng của Người về sức khỏe. Cũng chính từ cơ sở nhận thức đúng đắn về sức khỏe mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến y đạo, tức tính cao cả của nghề thầy thuốc và trọng trách của người thầy thuốc.

2- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí của công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Trên cơ sở hiểu một cách đúng đắn về sức khỏe, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò của sức khỏe và vị trí của công tác chăm sóc sức khỏe trong kháng chiến và kiến quốc: Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe”. “Dân cường thì quốc thịnh”. “Sức khỏe của cán bộ và nhân dân được bảo đảm thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khỏe đầy đủ thì kháng chiến càng nhiều thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công”. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, con người là vị trí trung tâm của mọi hoạt động và quyền được sống là quyền cao nhất của con người. Khi được sống thì sức khỏe là yếu tố quan trọng nhất, nếu không có sức khỏe thì chẳng làm được gì. Chính vì vậy mà Người dạy chúng ta: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công”. Ðó chính là tư tưởng nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của sức khỏe và vị trí của công tác chăm sóc sức khỏe. Có một điều mà chúng ta cần nhận thức sâu sắc, đó là ngay khi cách mạng còn nhiều khó khăn, gian khổ, đời sống của nhân dân còn gian nan, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng vị trí của công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. Người cho rằng: “Sạch sẽ thì ít ốm đau. Sức khỏe thì làm được việc, làm được việc thì có ăn”. Như vậy, không phải chỉ khi nào “có ăn” mới lo giữ sức khỏe. Người còn dạy: “Mình dù nghèo, ai cấm mình ăn ở sạch sẽ”. Ngày nay, khi liên hệ với nhận thức của một số cán bộ lãnh đạo các cấp, đặc biệt ở địa phương, chúng ta có thể thấy tình trạng coi nhẹ công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân trong địa bàn mình quản lý. Họ thường viện lý cần phải phát triển kinh tế trước, lo cái ăn trước và chăm lo văn hóa xã hội sau. Ðành rằng kinh tế có phát triển thì mới có tiền để mua trang thiết bị dùng để nâng cao chất lượng phòng bệnh và chữa bệnh. Nhưng không vì thế mà lãng quên hoặc coi nhẹ mọi hoạt động của công việc chăm sóc sức khỏe ngay khi bắt đầu xây dựng kinh tế. Hơn thế, câu nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn cho thấy: Chăm sóc sức khỏe cũng góp phần tạo ra của cải xã hội chứ không phải là một công việc chỉ tiêu tốn của cải xã hội.

3- Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng trong vấn đề chăm sóc sức khỏe.

Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì sức khỏe của cá nhân và sức khỏe của cộng đồng có quan hệ mật thiết với nhau. Mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng là một nét đặc sắc trong tư tưởng của Người về chăm sóc sức khỏe. Cơ sở sâu xa của tư tưởng này của Người cũng lại chính là sự tiếp cận của Người với tư tưởng triết học của Mác về con người. Con người có nhu cầu chăm sóc sức khỏe và biết cân bằng mối quan hệ cung cầu trong lĩnh vực này. Câu nói của Người: “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe” đã thể hiện rất rõ mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức khỏe không chỉ là tài sản cá nhân mà còn là tài sản chung; tạo nguồn sức khỏe không chỉ là trách nhiệm cá nhân mà còn là trách nhiệm của cộng đồng. Bằng cách gắn nhiệm vụ tự chăm sóc sức khỏe với khái niệm yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cao vị trí của công tác chăm sóc sức khỏe. Theo Người, tự chăm sóc sức khỏe không chỉ vì mục đích cá nhân mà còn có mục đích vì đất nước. Cũng bằng cách đặt vấn đề như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cụ thể hóa khái niệm yêu nước: Yêu nước không phải là một khái niệm chung chung, mà nó được thể hiện bằng các hành động cụ thể trong cuộc sống hằng ngày. Cách đặt vấn đề của Chủ tịch Hồ Chí Minh như một lời hiệu triệu đi vào lòng người, làm cho toàn dân nô nức thực hiện. Ngày nay, chúng ta không chỉ học tập tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn phải học tập cả phương pháp Hồ Chí Minh. Ngoài việc tự chăm sóc sức khỏe, mỗi cá nhân có nghĩa vụ tham gia các hoạt động chăm sóc sức khỏe. Người dạy: “Sạch sẽ tức là một phần đời sống mới. Sạch sẽ thì ít đau ốm, sức khỏe thì làm được việc, làm được việc thì có ăn. Xem đó thì biết rằng ai cũng nên làm đời sống mới”.

Ngoài vai trò cá nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến vai trò của cộng đồng. Người hết sức coi trọng việc phát động phong trào quần chúng thi đua trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. Những ngày đầu sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Người gọi đó là phong trào xây dựng “Ðời sống mới”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phong trào này phải đến với mỗi người và mỗi người phải tham gia. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sức khỏe, vị trí của công tác chăm sóc sức khỏe và mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân mãi mãi là cơ sở lý luận cho mọi hành động đúng đắn của chúng ta trong sự nghiệp bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân.

GS, TSKH Phạm Mạnh Hùng
Phó Trưởng Ban Khoa giáo T.Ư

sites.google.com

Hành trang giản dị

Tư trang của một vị Chủ tịch nước như ở Bác Hồ thật đặc biệt, bởi nó quá giản dị. Có lẽ những thế hệ mai sau khi nghe kể có thể tin được đó là huyền thoại. Đôi dép cao su làm từ lốp cũ xe hơi, Bác dùng đến mòn vẹt phải đóng đinh bao lần mà Bác vẫn dùng, đôi tất vá đến hai, ba lần, cổ áo sờn rách đã mấy lượt lộn lại trong ra ngoài…

Nếp sinh hoạt, cách ǎn mặc của Bác đã thành thói quen, Người luôn có ý thức trước những việc làm đó. Từ những nǎm tháng hoạt động cách mạng ở nước ngoài, lúc ở Thái Lan, khi về Trung Quốc, về nước thời kỳ bí mật ở Cao Bằng hay khi làm Chủ tịch nước. Những nǎm tháng đi kháng chiến, lúc về thǎm nông dân gặt hái hay làm thượng khách ở nước ngoài, Bác luôn luôn với một tư thế giản dị, ung dung, tự tại, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh. Dù ở đâu lúc nào Bác cũng để lại ấn tượng tốt đẹp, một phong cách mẫu mực của một lãnh tụ. Hành trang Bác mang theo tự nói lên một điều chân thực: Làm chức càng cao càng phải giản dị. Làm Chủ tịch nước Bác nhận lấy cho mình được cái quyền sống giản dị, bằng mức sống bình thường của người dân. Các đồng chí được giao việc phục vụ Bác, tìm mọi cách lo cho Bác được chu tất về mọi mặt. Nhưng Bác luôn có cái lý của Bác, thời kỳ chiến khu gian khổ Bác bảo chưa cần thiết, khi làm Chủ tịch nước Bác bảo dân còn nghèo.

Nhớ thời kỳ về nước ở hang Cốc Bó, Bác thường vào các bản làng thǎm đồng bào, với bộ quần áo Chàm, chân đi giày vải, trông như một ông Ké thực thụ. Khi về Thủ đô Hà Nội đọc Tuyên ngôn độc lập, các đồng chí Trung ương may cho Bác bộ quần áo bằng vải Kaki. Thời kỳ kháng chiến, Bác có thêm bộ “quân phục màu xanh” Bác thường mặc lúc hành quân đi lẫn trong đoàn quân ra trận. Bác còn có thêm chiếc áo len cho ấm về mùa đông, chiếc áo khoác tránh mưa là chiến lợi phẩm của một đơn vị bộ đội tặng Bác. Trời nắng Bác thường dùng bộ “gụ Hà Đông”.
Đồ dùng của Bác có chiếc va ly nhỏ đựng sách, tài liệu và cái máy chữ, quần áo tư trang cho vào một túi nhỏ. Các đoàn thể tặng Bác nhiều tư trang, đồ dùng. Bác thường đem làm tặng phẩm cho cá nhân, tập thể có thành tích, hoặc đem bán đấu giá lấy tiền cho cách mạng.

Tư trang của Bác bao giờ cững ở mức cần thiết cho sinh hoạt, nhưng Bác lại luôn luôn lo cho sự thiếu đủ của từng người. Bác đến thǎm thương binh, Bác lo từng chiếc áo ấm cho họ lúc vào trại tù binh thấy tù binh thiếu áo, Bác cũng lo áo cho họ, cử nghĩa đó làm bớt đi sự cǎng thẳng hận thù của con người với con người, của hai dân tộc. Trong gian khổ kháng chiến, Bác cùng chịu đựng đói, no, giá lạnh như người chiến sỹ. Không để lại gì cho riêng mình mà lo cho chiến sỹ trước. Bác là người khởi xướng phong trào “mùa đông binh sỹ”, vận động nhân dân không những lo cái ǎn mà còn lo cái mặc cho chiến sỹ. ở hậu phương ai có thành tích lo cho chiến sỹ mặc ấm Bác đều gửi thư khen ngợi.

Kháng chiến thắng lợi Bác trở về Thủ đô, ǎn mặc của Bác cũng không thay đổi lắm. Bác thường dặn các đồng chí phục vụ khi giặt áo cho Bác thấy chỗ nào rách thì vá lại cho Bác dùng, cho nên việc khâu vá quần áo cho Bác các đồng chí phục vụ cũng tự làm lấy. Khi cần lắm các đồng chí không làm được mới xuống nhà máy nhờ làm giúp. Bác mặc số lượng ít nên phải thay đổi luôn. Bác đi nhiều nơi. Khi xuống đồng ruộng gặt lúa, chống hạn với bà con nông dân, quần áo thường vấy bùn. Khi thǎm nhà máy Bác thường xuống tận nơi làm việc của công nhân nên dầu mỡ, chất xút thường vấy vào quần áo Bác, những chỗ đó dẫu giặt sạch ít lâu sau cũng bị bủng. Thay cái mới Bác không chịu, Bác bảo khâu vá lại cho Bác để Bác dùng. ở những bộ quần áo đó những vết mạng, những miếng vá đều gắn với những kỷ niệm. thời kỳ Bác đi kháng chiến, trong bộ quần áo xanh, trên đường hành quân, Bác như một người lính, vai thắt bao gạo ngang lưng, mũ cài lá nguỵ trang, khǎn vắt ngang vai hoà vào nhịp bước hành quân của bộ đội, dân công đi chiến dịch. Trên đường gặp một ông cụ trong đoàn dân công. Hai người chuyện trò tâm đầu hợp ý. Bác khen ông cụ “Cụ già còn phục vụ tiền tuyền làm gương cho con cháu noi theo”. Cụ kia khen Bác: “Tôi làm sao bì được với Cụ, Cụ râu tóc đã bạc mà vẫn “chiến sỹ Bạch đầu quân”. Hai Cụ vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ. Khi lội qua suối, cụ dân công trượt chân, Bác vội đỡ kịp thời nên cụ không bị ngã, nhưng chiếc đinh ở đầu đòn gánh đã vướng làm rách áo Bác. Cụ dân công vội cảm ơn “thật là em ngã anh nâng”. Cả hai cụ cùng cười vui vẻ. Còn vết mạng ở đầu gối là kỷ niệm ở Ngòi Thia, gần Tân Trào. Hôm đó Bác đi ngựa, khi đến chỗ vòng ngoặt gấp có cây tre chắn ngang lối đi, ngựa phi nhanh Bác chưa kịp ghìm cương, ngựa dừng đột ngột Bác mất đà bị ngã, nhưng may Bác phản xạ nhanh nên chỉ xước đầu gối, vết xước làm rách vải và chảy máu. Khi mọi người chưa kịp đến thì Bác đã đứng dậy, chân đi cà nhắc. Còn vết khâu ở gần gấu áo là lần Bác về chống hạn. Bác cùng đồng chí Tỉnh ủy tát nước gàu dai, nhưng đồng chí Tỉnh uỷ không biết tát nước, cứ lóng ngóng chân tay, làm dây gàu vướng vào làm gấu áo Bác bị rách, sau phải vá lại, Bác bảo: “Làm cán bộ lãnh đạo nông nghiệp thì phải biết cách lao động của nông dân”, rồi Bác tập cho đồng chí tát nước. Có lần Bác đi thǎm một nhà máy, Bác xuống tận tổ công nhân đang cho chạy máy, Bác đến hỏi han công việc: chất xút bắn vào áo, tạo thành nhiều vết khác màu áo, Bác bảo đồng chí phục vụ khắc phục làm cho máu áo và màu vết xút gần giống nhau, và áo lại dùng được bình thường. Tất cả những áo quần đó vì đã mang vết nên không thể giấu Bác để thay cái mới được, thay cái khác lá Bác biết, Bác phê bình ngay.

Đồng chí Cần, chuyên lo ǎn uống, quần áo cho Bác thời kỳ ở Hà Nội. Đồng chí tầm cỡ người như Bác, nên khi may quần áo cho Bác đồng chí mặc vừa là Bác mặc vừa. Quần áo thường ngày Bác thích màu gụ, nên khi may xong đồng chí mang sang xí nghiệp Tô Châu nhuộm gụ. Bộ nào hơi cũ là đồng chí thay bộ khác cùng kiểu cùng màu nên lúc đầu Bác không biết. Một thời gian sau Bác thấy quần áo vẫn mới, Bác bèn đánh dấu rất kín và phát hlện ra là đồng chí đã đổi quần áo của Bác. Bác liền phê bình, từ đó rất khó thay đổi quần áo của Bác. A’o Bác dùng lâu giặt đi giặt lại nhiều lần nên cổ áo bị sờn và rách dần, khi mọi người đề nghị Bác cho thay cái khác~ Bác bảo: “Cả cái áo chỉ sờn chỗ cổ, mà vứt đi thì không được, chú chịu khó tháo rồi lộn trong ra ngoài, may lại vẫn lành “như mới”. Làm theo ý Bác được mấy lần, sau không thể “khắc phục” được nữa Bác mới cho thay cái mới. Đôi bít tất Bác đi cũng vậy, bị thủng ở đầu ngón chân Bác bảo khâu lại cho Bác dùng, vì không biết làm nên phải xuống xí nghiệp may mặc của Bộ Nội vụ nhờ các cô giúp. Các cô đề nghị thay đôi khác cho Bác, nhưng Bác đã dặn là bít tất của Bác chỉ hỏng mũi, còn mọi chỗ vẫn lành nguyên, chỉ nhờ các cô khâu lại, nếu đem đổi đôi khác là Bác không dùng đâu. Khi Bác dùng lại đôi tất, khen các cô khéo tay, Bác nói: “Chú xem, chỉ chịu khó một tý là có đôi bít tất như mới”. Lần sau đôi bít tất đó thủng hai lỗ trước và sau, rồi lại lần nữa, các cô phải khâu vá đôi bít tất đến ba lần. Bác thường dùng khǎn mặt vuông, vì dùng khǎn mặt vuông tiết kiệm hơn khǎn mặt chữ nhật, mỗi khi dùng xong Bác có thói quen phơi lên dây, luôn giữ hai mép dưới bằng nhau. Bác tìm mấy hòn cuội nhỏ xếp vào trong hộp đựng xà phòng, khi dùng xong Bác để xà phòng lên những hòn cuội, xà phòng mau khô, nên tiết kiệm.

Chị Liên là người được đồng chí Cần nhờ may vá giúp Bác. Chị kể lại, khi làm việc này mới thực sự hiểu Bác giản dị và tiết kiệm đến chừng nào. Bác có chiếc áo gối vải màu xanh hoà bình, miếng vá này chồng lên miếng vá kia, mỗi lần cầm chiếc áo gối vá lại cho Bác mà chị không cầm nổi nước mắt, không cầm kim vững để khâu lại được chị nói với đồng chí Cần: “Anh đừng bắt tôi vá áo gối cho Bác nữa. Tôi thương Bác lắm, anh có cách nào thay áo gối khác cho Bác”. Đồng chí Cần nói: “Tôi đã nhiều lần đề nghị Bác cho thay cái khác, nhưng Bác chưa đồng ý Chị chịu khó vá giúp tôi”. Cầm kim mà lòng chị không cầm nổi nước mắt. Những lúc đó chị hình dung Bác như thấu hiểu nỗi lòng người mẹ hiền thôn quê tần tảo lo cho đàn con nhỏ miếng ǎn, manh áo trong cảnh túng thiếu. Bác hiện thân của Người mẹ Việt Nam, đối với ai đó dẫu ở cương vị công tác nào Bác cũng giáo dục tinh thần biết quý trọng con người là ở thái độ đối với tiết kiệm, đó là thước đo đạo đức của cán bộ. Đối với anh em phục vụ Bác chân tình mà nghiêm khắc khi giáo dục tiết kiệm.

Đôi dép cao su của Bác đã đi vào thơ ca nhạc hoạ, hiện thân trong đời sống nhân dân như một huyền thoại, gắn liền với cuộc đời vĩ đại, đức tính giản dị, ý chí kiên cường, bền bỉ cùng với dân tộc trên dặm đường trường chinh vạn dặm vì độc lập tự do của Tổ quốc. Đôi dép của Bác được cắt từ chiếc lốp ôtô quân sự, chiến lợi phẩm của trận phục kích địch tại Việt Bắc, đôi dép được cắt vừa chân Bác, hai quai trước to bản kiểu quai vắt chéo, vừa êm vừa chắc chắn cho khi lội suối, trèo đèo, vượt đường trơn, dốc cao. Thấy tiện, dễ sử dụng lại hiệu quả, Bác cho phổ biến trong toàn mặt trận, thay thế dần giày vải, dép rơm, dép mo cau… Nhân chuyến hành quân đi chiến dịch, Bác thấy ai cũng đi đôi dép cao su vượt suối bǎng đèo thoǎn thoắt, Bác nói vui: “Như vậy Bác cháu chúng ta có đôi hài cao su vạn dặm, chúng ta muốn đi đâu cũng được”.

Về Hà Nội, Bác vẫn dùng dép cao su. Đôi dép Bác dùng lâu ngày vẹt cả đế, quai bị tuột luôn, đóng đinh gǎm quai nhiều lần mà vẫn tuột, có kiên trì và khéo tay mới làm lại được, khi sửa xong thấy vẫn dùng được là Bác cứ dùng. Thấy dép Bác cũ, hỏng nhiều, các đồng chí phục vụ đề nghị thay đôi khác, Bác không chịu. Anh em bàn “kế hoạch” làm một đôi khác thật giống đôi dép Bác đang đi chỉ có khác là chắc, bền hơn, lợi dùng thời cơ thay vào. Hôm đầu Bác đi Bác không nói gì, anh em tưởng việc đã êm, nào ngờ sáng hôm sau Bác hỏi sao lại đổi dép của Bác, anh em đành thưa thật với Bác, Bác ôn tồn bảo:

“Các chú biết lỗi nhận lỗi là tốt, đôi dép cũ của Bác nếu chịu khó sửa vẫn còn dùng được, lần sau mua sắm cái gì cho Bác, các chú phải báo cho Bác biết”. Anh em tưởng Bác nói thế là đã chấp nhận đổi dép, nhưng Bác vẫn giữ đôi dép đó mặc dầu đã sửa nhiều lần, vì nó là kỷ niệm bên Bác từ những ngày gian khổ. Bác còn có một ước mơ duy nhất nữa là cùng đôi dép đó vào thǎm đồng bào miền Nam là Bác thoả mãn ước nguyện. Bác nói thật cảm động. Một lần Bác đến thǎm một đơn vị hải quân, các chiến sĩ lần đầu gặp Bác, ai cũng muốn được gần Bác nên chen chúc nhau làm tuột quai dép của Bác. Bác bảo chú nào khéo tay sửa lại cho Bác. Ai cũng muốn giành lấy để giúp Bác, thế rồi đôi dép được chuyền tay nhau, nhưng không ai sửa được vì dép đã quá vẹt mòn, đã đóng đinh mấy lần rồi, xâu vào nó lại tuột ra. Có người nhanh chân kịp lấy búa và đinh sửa lại giúp Bác, Có người yêu cầu Bác đổi dép khác. Bác bảo: “Dép đã sửa xong khi nào không sửa được hẵng hay, giờ mua chiếc khác không cần thiết, vẫn dùng được sao vứt nó đi, dân ta còn nghèo, mỗi người kể cả Chủ tịch nước cũng phải tiết kiệm”.

Có mẩu chuyện vui về đôi dép của Bác, lần đó xem phim, tất cả đều ngồi bệt xuống nền nhà gỗ, Bác để dép bên cạnh phía trước để khi về cho tiện lấy và không nhầm lẫn. Xem phim xong, Bác cùng mọi người chụp ảnh, cô gái ngồi cạnh Bác, thấy đôi dép đã quá cũ, không biết dép Bác, sợ làm xấu mất ảnh, cô vươn người với tay định cất đi, Bác nhanh tay hơn với trước, vội cất ra sau và nói vui, ờ đúng rồi, phải giấu nó đi, chứ vào ảnh hỏng mất ảnh.

Bác có thói quen, khi đã đi dép là cúi xuống kéo quai hậu cẩn thận, vừa dễ đi, chắc chắn, dép không kêu lẹt bẹt, làm mất tác phong của người đứng đắn, và dép mòn cũng mòn đều, không mòn vẹt một bên, hai quai trước cũng đỡ hỏng. ở Bác đi dép cũng là một nét vǎn hoá.

Đầu nǎm 1958, Bác đi thǎm Â’n Độ, Bác vẫn đi đôi dép thường ngày. Mọi người trong đoàn thấy thế, rất ái ngại nên bàn nhau mang theo một đôi giày vải. Lên máy bay nhân lúc Bác ngủ, thay đôi dép bằng đôi giày vải, khi thức giấc Bác hỏi dép, anh em trả lời Bác là đôi dép đã để dưới khoang máy bay. Khi xuống sân bay, Bác yêu cầu lấy dép để Bác đi. Bác bảo đừng lo gì cả, đất nước Â’n Độ cũng nghèo như mình, mới có độc lập nên nhiều vất vả. Bác đi dép có bít tất thế là tốt, họ không chê mình đâu. Nhân dịp này Bác muốn gần gũi với nhân dân lao động Â’n Độ. Hôm sau trên các trang báo lớn Â’n Độ đều hết lời ca ngợi Bác là vị Chủ tịch nước dân chủ nhất thế giới. Ca ngợi đôi dép Bác Hồ là một huyền thoại của một con người huyền thoại. Hôm Bác đến thǎm một ngôi chùa, Bác vừa cởi dép ở ngoài để vào nhà chùa, các phóng viên được dịp tha hồ quay phim, chụp ảnh đôi dép huyền thoại đó.

Bác lo cho dân không chỉ ngồi ở bàn giấy rồi nghe báo cáo, mà Bác trực tiếp xuống tận cơ sở, đến với từng người lao động để hiểu hơn tình hình thực tế. Đi đâu Bác chỉ dùng một chiếc xe “Pabêđa” do nhân dân Liên Xô gửi tặng. Xe dùng đã lâu ngày nên cũ và hay hỏng vặt, vǎn phòng đề nghị Bác cho đổi xe khác tốt hơn, Bác không đồng ý Bác bảo: “Ai thích đi nhanh, thích êm thì đổi. Còn Bác thì không”. Có hôm đến giờ đi công tác, xe không nổ máy được, Bác ôn tồn bảo đồng chí lái xe: “Máy móc có lúc trục trặc. Chú cứ bình tĩnh sửa, sửa xong Bác cháu đi cũng kịp” mấy phút sau xe mới nổ máy được, Bác cười vui và nói: “Thế là xe vẫn còn tốt”.

ở Bác, tiết kiệm là hành trang trong cuộc đời. Thật cảm động khi biết rằng bản di chúc của Bác đã đi vào lịch sử dân tộc được Bác viết, ở mặt sau tờ tin hàng ngày của Việt Nam Thông tấn xã. Hành trang của Bác – của một vị lãnh tụ, giản dị như hành trang của một người dân bình thường, bởi Bác sống không chỉ cho riêng mình.

quangbinh.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về giáo dục cán bộ, đảng viên

Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng… Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 12, tr.557.

Chỉnh huấn là cốt để giúp cán bộ nâng cao tư tưởng cách mạng, củng cố lập trường, rửa gột khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Muốn có kết quả ấy thì phải:

– Mở rộng dân chủ: thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình.

– Chống thái độ rụt rè, nể nả giữa cấp dưới và cấp trên, giữa công nông và trí thức, giữa cán bộ ngoài Đảng và trong Đảng.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 7, tr.93.

Muốn có nhiều cán bộ, Đảng phải giúp đỡ cho cán bộ tự học tập. Đảng đã giúp, cán bộ phải chịu học.

Sđd, tập 5, tr.552.

Phải luôn luôn dùng lòng thân ái mà giúp đỡ, lãnh đạo cán bộ. Giúp họ sửa chữa những chỗ sai lầm. Khen ngợi họ lúc họ làm được việc. Và phải luôn luôn kiểm soát cán bộ.

Sđd, tập 5, tr.275.

Muốn đảng viên tốt thì chi bộ phải thường xuyên giáo dục mỗi đồng chí. Nhiệm vụ của đảng viên là gì? Tư cách của đảng viên là thế nào? Đồng thời giúp đỡ đảng viên hằng ngày tự kiểm điểm mình.

Sđd, tập 12, tr.80.

… Trong thời kỳ dự bị, Đảng phải dạy dỗ cho họ và trao việc cho họ làm. Đồng thời, Đảng phải xem xét tính nết, công tác và lịch sử của họ.

– Những người giới thiệu phải giúp đỡ họ học tập và công tác.

Sđd, tập 5, tr.266.

Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Sđd, tập 5, tr.249.

… Đảng viên và cán bộ cẩn thận giữ gìn sức khỏe của mình để làm việc. Ham học tập để nâng cao trình độ của mình. Làm đúng cần, kiệm, liêm, chính để cho dân tin, dân phục, dân yêu.

Sđd, tập 5, tr.251.

xaydungdang.org.vn

Phong trào Tết trồng cây

Bác Hồ tham gia tết trồng cây năm 1961

Là phong trào rộng rãi trong nhân dân cả nước, được Hồ Chí Minh phát động dịp Tết năm 1960 nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng. Để chuẩn bị phát động phong trào, ngày 28/11/1959, với bút danh Trần Lực, Hồ Chí Minh viết bài “Tết trồng cây” để phân tích ý nghĩa và lợi ích thiết thực của phong trào này và “đề nghị tổ chức một ngày “Tết trồng cây”, việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”. Nếu tất cả nhân dân miền Bắc, từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng, mỗi người trồng một hoặc vài ba cây vào dịp Tết hằng năm và chăm sóc cho tốt, làm được như thế thì trong năm (từ 1960 – 1965) của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, cả miền Bắc sẽ có được 90 triệu cây. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân. Hồ Chí Minh kêu gọi Bộ Nông Lâm và các địa phương chuẩn bị tốt cho ngày “Tết trồng cây”.

Cuối năm 1959, Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân hưởng ứng một tháng “Tết trồng cây” từ ngày 6/1 – ngày 6/2/1960 và khuyên nhân dân cần duy trì phong trào trong những năm sau. Ngày 11/1/1961, Hồ Chí Minh trồng cây đa ở công viên Bảy Mẫu (nay là công viên Lênin) mở đầu phong trào “Tết trồng cây”. Nói chuyện với một số cán bộ và nhân viên tham gia buổi trồng cây này, Hồ Chí Minh cho rằng: chúng ta làm đây là làm cho bản thân, cho con cháu mình. Hồ Chí Minh theo dõi chặt chẽ việc thực hiện “Tết trồng cây”. Trong bài “Thêm vài ý kiến về “Tết trồng cây” (Báo Nhân dân ngày 25/3/1960), Hồ Chí Minh khen ngợi một số địa phương, đơn vị và cá nhân làm tốt và phê bình một số nơi thiếu chăm sóc cây con, không kiên trì tiếp tục từ phong trào. Hồ Chí Minh kêu gọi mọi người làm đúng khẩu hiệu: “Trồng cây nào, tốt cây ấy”. Đầu năm 1961, Hồ Chí Minh đến thăm nhiều địa phương có phong trào trồng cây tốt như thôn Lạc Trung (Vĩnh Phúc) nay là Vĩnh Phúc (ngày 25/1/1961), Hồ Chí Minh cùng thanh niên Hà Nội tham gia trồng cây ở vườn cây Thanh Niên (5/2/1961). Người viết bài “Tết trồng cây” (đăng trên báo Nhân dân ngày 5/2/1969) để góp phần thúc đẩy toàn dân tham gia thực hiện tốt phong trào Hồ Chí Minh dặn “năm nay, chúng ta thi đua trồng cây cho thật tốt, phải đảm bảo trồng cây nào tốt cây ấy, tổ chức “một Tết trồng cây quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”. Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, từ đó đến nay, mỗi khi xuân đến, nhân dân Việt Nam lại tổ chức “Tết trồng cây”, “Tết trồng cây” đã trở thành một tập quán tốt đẹp của nhân dân Việt Nam, mang lại nhiều lợi ích thiết thực về kinh tế và quốc phòng, góp phần làm giàu đẹp cho Tổ quốc.

quangbinh.gov.vn

Phép dùng người của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong lịch sử nhân loại, từ khi có nhà nước thì việc dùng người luôn luôn được đặt ra, nó quyết định sự thành bại của mọi chế độ chính trị, quyết định sự nghiệp của từng nhà chính trị, tướng lĩnh…Trong hệ thống tư tưởng chính trị và văn hoá Hồ Chí Minh, phép dùng người là một bộ phận đặc sắc và quan trọng nhất. Ta có thể tìm hiểu tư tưởng của Người về dùng người theo một hệ vấn đề sau:

1. “Vô luận việc gì đều do người làm ra” 

Với Hồ Chí Minh, nhân dân, con người không bao giờ là phương tiện của các nhà chính trị mà ngược lại nhà chính trị, đảng chính trị… phải nhất quán trong nhận thức và hành động rằng nhân dân là người chủ sở hữu của quyền lực chính trị, con người vừa là mục đích vừa là động lực và sức mạnh của mọi sự nghiệp chính trị. Hồ Chí Minh đã từng nói: nhiều khi đường lối, chính sách đúng nhưng hoặc chưa làm được, hoặc làm được nửa chừng rồi lại nguội, vì chúng ta quên một lẽ rất giản đơn dễ hiểu, tức là vô luận việc gì đều do người làm ra và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả. Công việc Đảng, Nhà nước bao gồm nhiều lĩnh vực đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ, công chức tốt để thi hành công vụ. Từ quan niệm ”vô luận việc gì đều do người làm ra”, Hồ Chí Minh kết luận: có cán bộ tốt, việc gì cũng xong. muốn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém.

2. Dùng người vì chính lợi ích của mọi người 

Động cơ thôi thúc Hồ Chí Minh là tiến hành sự nghiệp vĩ đại: giải phóng dân tộc, xã hội, con người, trong đó độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào; làm cho mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Chính động cơ ấy đã trở thành triết lý nhân sinh, thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ chính sách dùng người của Hồ Chí Minh. Động cơ mang tính lý tưởng, khắc đậm chủ nghĩa nhân văn Hồ Chi Minh đã gặp gỡ những mong mỏi và lợi ích đời thường của mọi người lao khổ. Ý chí của Lãnh tụ với mong mỏi của đại đa số quần chúng trở nên đồng thuận một cách tự nhiên. Mọi người tập hợp dưới ngọn cờ của Lãnh tụ, phấn khởi tự hào được là lính Cụ Hồ, tuân theo sự điều khiển của Lãnh tụ: ”Bác bảo đi là đi”, bởi họ tin rằng: ”Bác bảo thắng là thắng”.

3. Yêu người, kính cẩn, thành tín và khoan dung

Các Mác từng nói: muốn mọi người đối xử với mình thế nào thì hãy đối xử với mọi người như vậy. Ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới UBND các cấp phê phán thói kiêu ngạo, tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi, coi khinh dân gian, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt ”quan cách mạng” lên; không biết rằng, thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến uy tín của Chính phủ. Người căn dặn cán bộ, công chức các cấp: việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. Hồ Chí Minh là ngọn cờ tập hợp mọi tầng lớp nhân dân; Người không những có sức cảm hoá, thu phục được những người cùng chí hướng, những tầng lớp, giai cấp cách mạng và những người có cảm tình với cách mạng mà còn cả những người không cùng chính kiến, quan điểm, thậm chí cả kẻ thù của mình. Sở dĩ như vậy là bởi vì, ở Người luôn toát lên sự thẳng thắn, trung thực, tôn trọng lẽ phải, tôn trọng con người và luôn ứng xử với ”lý lẽ phân minh, nghĩa tình đầy đủ”, luôn luôn giải quyết công việc ”có lý, có tình”, xuất phát từ đời sống hiện thực.

4. Hiểu mình và hiểu người

Xưa nay các vĩ nhân làm nên sự nghiệp lớn đều có chung một tư tưởng: ”biết mình, biết người”, ”biết địch, biết ta”. Biết, chính là bí quyết của sự thành công” Hồ Chí Minh đã chỉ ra một số căn bệnh cơ bản làm cho người cán bộ không tự biết được mình. Đó là, cậy thế kiêu ngạo, ưa người phỉnh nịnh mình,tư túi, kinh nghiệm chủ nghĩa, máy móc, giáo điều. Người cán bộ lãnh đạo, quản lý mắc những bệnh tật ấy, thì không hiểu được chính cái mạnh, cái yếu của mình do vậy không thể hiểu được người khác, tựa như mắt đã mang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông. Muốn biết rõ cán bộ, muốn đối đãi một cách đúng đắn các hạng người, trước hết phải sửa những khuyết điểm của mình. Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng Trên cơ sở tự hiểu mình, cần phải có phương pháp xem xét để hiểu cán bộ một cách thấu đáo, ”không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc” mà phải xét kỹ cả toàn bộ công việc của cán bộ”.

5. Phải khéo dùng người

Theo Hồ Chí Minh, muốn dùng cán bộ đúng thì người cán bộ lãnh đạo cần phải: một là, mình phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ không bị bỏ rơi. Hai là, phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gũi những người mình không ưa. Ba là, phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ. Bốn là, phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt. Năm là, phải có thái độ vui vẻ thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gũi mình. Khéo dùng cán bộ xuất phát từ việc tập hợp được sức lực và tài năng của mọi người vào việc hoàn thành nhiệm vụ chung. Nếu dùng cán bộ mà để họ hoang mang, sợ hãi, buồn rầu, uất ức hoặc cộng tác không hợp, chắc không thành công được. Vì vậy, muốn cán bộ làm được việc, phải khiến cho họ yên tâm làm việc, vui thú làm việc, phải thực hành những việc sau: làm cho người cán bộ mạnh dạn dám nghĩ, dám nói, dám đề xuất ý kiến; làm cho cán bộ có tinh thần chủ động, dám phụ trách (làm chủ) trong công việc. Phải mạnh dạn cất nhắc cán bộ.

6. Phải nuôi dạy cán bộ

Muốn có cán bộ tốt, thì cơ quan lãnh đạo, quản lý phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Muốn dùng người thì phải quan tâm săn sóc, giúp đỡ, nghĩa là phải “nâng cao” người cán bộ, cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần, làm cho người cán bộ ngày càng ”lớn lên” cùng với sự nghiệp cách mạng. Phải thường xuyên huấn luyện cán bộ để bất cứ cán bộ nào cũng đều ”vững về chính trị, giỏi về chuyên môn”.

7. Phải đổi mới và đan xen các thế hệ cán bộ

Mỗi thế hệ cán bộ sinh ra và trưởng thành trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau, mỗi người đều có những sở trường và sở đoản, cái mạnh và cái yếu nhất định, tuyệt nhiên không ai giống ai. Hồ Chí Minh nhắc nhở: phải thấy cái giới hạn khắc nghiệt của thời gian để tạo nguồn thay thế, bổ sung cho tổ chức những lớp người mới, đủ sức lực và tài năng đảm đương nhiệm vụ theo những yêu cầu mới. Theo Người, cần cán bộ già, đồng thời rất cần nhiều cán bộ trẻ; công việc ngày càng nhiều, càng mới. Một mặt, Đảng phải đào tạo, dìu dắt đồng chí trẻ, mặt khác, đảng viên già phải cố gắng mà học. Việc đổi mới cán bộ phải rất khách quan, công minh, cần lấy việc hoàn thành nhiệm vụ làm căn cứ; phải tổng kết từ phong trào thực tiễn, phát hiện những nhân tố mới, những cán bộ trẻ có đức, có tài để trao nhiệm vụ cho họ. Mặt khác cũng cần tạo điều kiện cho số cán bộ lớn tuổi, đã công tác quá lâu trong các văn phòng có điều kiện thâm nhập thực tế để khỏi lạc hậu với thực tế Vấn đề luân chuyển cán bộ hiện nay là một chủ trương đúng phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh.

8. Vun trồng lòng tự trọng, tự tin cho cán bộ, giúp họ sửa chữa sai lầm, khuyết điểm

Hồ Chí Minh cho rằng: ai cũng có lòng tự trọng, tự tin; không có lòng tự trọng, tự tin là vô dụng. Vì vậy phải xem xét kỹ trước khi cất nhắc; giúp đỡ, vun trồng, khuyên gắng, khích lệ lòng tự tin, tự trọng; kiểm tra, uốn nắn thường xuyên không để ”tích tiểu thành đại”. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp họ sửa chữa ngay, để vun trồng các thói có gan phụ trách, cả gan làm việc của họ. Đồng thời phải nêu rõ những ưu điểm, những thành công của họ. Làm thế không phải làm cho họ kiêu căng mà cốt làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức. Phải vun đắp chí khí của họ, để đi đến chỗ ”bại cũng không nản, thắng cũng không kiêu”.

9. Gương mẫu

Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạng đến vai trò của cán bộ cấp trên. Người đã nhiều lần nhắc nhở đảng viên, cán bộ cấp trên phải làm mực thước cho cán bộ cấp dưới và người ngoài Đảng. “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Nếu cán bộ cấp trên không gương mẫu thì làm sao có thể bảo ban, hướng dẫn được cấp dưới, làm sao duy trì được kỷ luật Đảng và trật tự kỷ cương phép nước. Hồ Chí Minh đã kịch liệt phê phán thói nể nang, bênh che cho nhau. Người đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải ghi nhớ rằng mình làm cách mạng là để phục vụ nhân dân, phải luôn ghi tạc trong lòng: lo toan công việc chung trước mọi người, hưởng thụ sau mọi người. Chỉ có như vậy mới thu phục, cảm hoá giáo dục được cấp dưới và mọi người.

10. Đổi mới cách lãnh đạo để dùng người

Vì việc mà dùng người. Công việc xây dựng và bảo vệ đất nước luôn luôn đổi mới, phát triển. Do đó, phải không ngừng đổi mới cách lãnh đạo để dùng người. Để lãnh đạo được thì phải học hỏi quần chúng. Điều đó có nghĩa là “người lãnh đạo không nên kiêu ngạo mà nên hiểu thấu”, ”một giây, một phút không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng”, ”phải biết lắng nghe ý kiến của những người không quan trọng”. ”Hiểu thấu”, ”biết lắng nghe”, học hỏi quần chúng, nâng cao nhân dân, ”đưa chính trị vào giữa dân gian” đã hợp thành một hệ giá trị của văn hoá chính trị và là vấn đề hàng đầu của đổi mới cách lãnh đạo. Nhân dân phải là người được tham gia vào quá trình ra quyết định. Theo Hồ Chí Minh, người ra quyết định thường chỉ ”phán từ trên xuống”, còn người thi hành quyết định lại chỉ ”nhìn từ dưới lên”. Cả hai đều có hạn chế. ”Vì vậy, muốn giải quyết vấn để cho đúng, ắt phải hợp kinh nghiệm cả hai bên lại”. Kiểm soát là điều bắt buộc của lãnh đạo, muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết có được thi hành không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát. Việc kiểm soát phải có hệ thống, thường xuyên. Người đi kiểm soát phải là những người có uy tín”, ”phải đi tận nơi, xem tận chỗ”, phải kiểm soát bằng hai cách, từ trên xuống và từ dưới lên, ”tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cách sửa chữa sự sai lầm đó”.

Phép dùng người của Hồ Chí Minh đã được thực tiễn lịch sử kiểm nghiệm, khẳng định. Đó là cơ sở lý luận và phương pháp luận của khoa học tổ chức trong tình hình hiện nay.

Nguyễn Văn Cư
(Báo GTVT)

sites.google.com

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về người cán bộ quân đội

Trong công việc xây dựng và phát triển quân đội, chúng ta phải ra sức đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố công tác chính trị và quân sự trong bộ đội ta. Phải nâng cao giác ngộ chính trị, nâng cao chiến thuật và kỹ thuật, nâng cao kỷ luật tự giác của bộ đội ta. Phải làm cho quân đội ta thành một quân đội chân chính của nhân dân.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 6, tr.171.

Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là:

Phải: Trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 5, tr.479.

Người đội trưởng, người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên. Chưa làm được như vậy là chưa hết nhiệm vụ. Cán bộ có thân đội viên như chân tay, thì đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt.

Sđd, tập 6, tr.109.

Đảng viên quân nhân:

– Phải luôn luôn giữ gìn kỷ luật, và quý trọng, tiết kiệm của công.

– Phải ra sức học tập chính trị và quân sự.

– Phải thương yêu anh em trong đội và dân chúng.

– Phải thi đua giết giặc lập công.

Sđd, tập 6, tr.189.

Cán bộ cung cấp như là người mẹ, người chị của người binh nhì…

Phải có kế hoạch đầy đủ, sổ sách rành mạch.

Phải thấy trước, lo trước.

Phải có sáng kiến và phải tháo vát.

Phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính.

Phải khéo áp dụng những điều đã học và những kinh nghiệm đã có và sẽ có.

Sđd, tập 6, tr.296.

Cần, Kiệm, Liêm, Chính của ta là đạo đức của người quân nhân cách mạng.

Sđd, tập 6, tr.321.

Không có dân thì không có bộ đội. Cán bộ phải dạy cho đội viên biết kính trọng dân, thương yêu dân, giúp đỡ dân, làm cho đội viên thành một người tuyên truyền bằng công việc thực tế.

Sđd, tập 6, tr.320.

Phải làm sao cho trong quân đội ta không có tham ô lãng phí.

Sđd, tập 8, tr.430.

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào yêu nước của nhân dân ta phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi sự lãnh đạo đúng đắn của một đảng chân chính của giai cấp công nhân Việt Nam, Trước tình hình đó, sau một thời gian ở lại Liên Xô để nghiên cứu chế độ xô-viết và kinh nghiệm xây dựng đảng theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã về gần Việt Nam để xúc tiến việc chuẩn bị thành lập Đảng. Ngày 11 tháng ll nǎm 1924, Người đến Quảng Châu (Trung Quốc).

Về mặt công khai, lấy tên là Lý Thụy, có khi lấy tên là Vương, Người làm cán bộ phiên dịch cho phải đoàn cố vấn của Chính phủ Liên Xô, do Bô-rô-đin dẫn đầu, đến giúp Chính phủ Quốc dân đảng Trung Quốc, trong khi Chính phủ này đang có chính sách hợp tác với Đảng cộng sản Trung Quốc. Việc đầu tiên của Người là bắt mối liên lạc với Tâm tâm xã và tổ chức yêu nước của cụ Phan Bội Châu đang hoạt động ở Quảng Châu.

Trước đó mấy tháng, Phạm Hồng Thái đã ném bom ở Sa Điện, định giết Méc-lanh, toàn quyền Đông Dương, khi y qua đây. Mới đến Quảng Châu, đồng chí Nguyễn ái Quốc còn cảm thấy tiếng vang của quả bom Phạm Hồng Thái. Tuy không tán thành chủ trương ám sát cá nhân, nhưng Người đánh giá cao sự kiện đó. Sau này, Người viết:

“Tiếng bom của Phạm Hồng Thái đã nhóm lại ngọn lửa chiến đấu… Nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc, như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”.

Lúc này cụ Phan bội Châu đã cải tổ Việt Nam quang phục Hội thành Việt Nam quốc dân đảng, với cương lĩnh và chương trình gần giống như Cương lĩnh và chương trình của Quốc dân đảng Trung Hoa.

Đồng chí Nguyễn ái Quốc viết thư góp ý kiến với cụ Phan Bội Châu về đường lối và phương pháp cách mạng. Cụ tiếp thu những ý kiến đó, nhưng chưa kịp sửa chữa sai lầm của mình thì cụ đã bị đế quốc Pháp bắt đưa về nước vào nǎm 1925.

Đồng chí Nguyễn ái Quốc chọn số thanh niên yêu nước trong các tổ chức cách mạng nói trên và một số thanh niên khác ở trong nước ra, mở Trưòng huấn luyện chính trị để đào tạo họ trở thành những cán bộ cách mạng và đưa họ trở về nước hoạt động trong giai cấp công nhân và nhân dân ta. Trường mở được l0 khóa, mỗi khóa từ một tháng rưỡi đến ba tháng, tổng số học viên có khoảng 200 người.

Mặc dù việc mở trường gặp nhiều khó khǎn, nhất là về tài chính, nhưng Người vẫn dành dụm từng đồng, ra sức đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt đầu tiên cho cách mạng Việt Nam, trong đó có những người tiêu biểu như các đồng chí Trần Phú, Lê Hồng Phong, Ngô Gia Tự…

Đồng chí Nguyễn ái Quốc là người phụ trách trường, vừa là giảng viên chính, có khi kiêm cả cán bộ phiên dịch. Phương pháp giảng dạy của Người là lý luận liên hệ với thực tế, học kết hợp với hành làm cho học viên dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Ngoài học tập lý luận và chính trị, các học viên còn được học thêm vǎn hóa và ngoại ngữ.

Được sự giáo dục trực tiếp của đồng chí Nguyễn ái Quốc sau một thời gian học tập, các học viên trưởng thành nhanh chóng về chính trị và tư tưởng. Trên cơ sở giác ngộ về tinh thần yêu nước, các học viên nhận rõ đường lối và phương pháp đúng đắn của cách mạng Việt Nam và có xu hướng cộng sản chủ nghĩa. Nhiều đồng chí được lần lượt cử về nước xây dựng cơ sở, tuyên truyền, tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng.

Người còn lựa chọn một số cán bộ gửi sang Mát-xcơ- va học tập lý luận ở Trường đại học Phương Đông và một số khác vào học Trường quân sự Hoàng Phố có cố vấn Liên Xô giảng dạy ở Quảng Châu.

Việc đồng chí Nguyễn ái Quốc mở Trường huấn luyện chính trị có ý nghĩa rất to lớn. Người đã đào tạo cho cách mạng Việt Nam những lớp cán bộ đầu tiên đi theo đường lối chủ nghĩa Mác – Lê-nin và góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị thành lập Đảng ta.

Để làm tài liệu giảng dạy tại Trường huấn luyện chính trị, đầu nǎm 1925, đồng chí Nguyễn ái Quốc biên soạn tập đề cương bài giảng. Đầu nǎm 1927, tập đề cương bài giảng đó được bộ tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á Đông á Đông xuất bản thành sách, với nhan đề là Đường cách mệnh.

Trong cuốn sách Đường cách mệnh, trước hết Người nêu lên tư tưởng cách mạng triệt để. Người chỉ rõ rằng, muốn sống thì phải làm cách mạng. Làm cách mạng phải có quyết tâm, hy sinh, bền gan, đoàn kết nhau lại Muốn được như vậy thì trước hết mọi người phải hiểu rõ vì sao phải làm cách mạng. Trong cuốn Đường cách mệnh Người nói về tư cách người cách mạng, tức là đạo đức cách mạng : tự mình phải cần kiệm, chí công vô tư, quả quyết sửa lỗi mình, không hiếu danh, không kiêu ngạo ; nói thì phải làm, phải giữ chủ nghĩa cho vững, hy sinh, ít lòng ham muốn về vật chất v.v., Người coi việc giác ngộ cách mạng và giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ là một trong những yêu cầu hàng đầu để chuẩn bị về tư tưởng và chính trị, tiến tới xây dựng một đảng chân chính của giai cấp công nhân Việt Nam.

Muốn làm cách mạng thành công, người cán bộ không những phải có đạo đức cách mạng mà còn phải hiểu lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, có đường lối và phương pháp cách mạng đúng. Nói về ý nghĩa và tầm quan trọng của lý luận cách mạng, trên trang đầu cuốn Đường cách mệnh Người nêu lên câu nói bất hủ của Lê-nin : “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng… Chỉ có đảng nào có lý luận tiên phong hướng dẫn mới có thể làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong”.

Nhân dân Việt Nam đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh anh dũng chống đế quốc Pháp, nhưng đều bị thất bại, vì chưa có lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, chưa có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, không hiểu tình hình thế giới, không biết so sánh lực lượng ta và lực lượng địch, không có “mưu chước” không hiểu “sách lược”, không biết nắm thời cơ, “chưa nên làm đã làm, khi nên làm lại không làm”. Vì vậy, những người cách mạng phải giảng giải cho nhân dân hiểu lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tình hình và kinh nghiệm cách mạng thế giới.

Đồng chí Nguyễn ái Quốc nêu rõ nhiệm vụ trực tiếp trước mắt của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc đồng thời Người cũng chỉ rõ triển vọng tiến lên và mục tiêu cách mạng lâu dài là cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nắm vững tính chất và đặc điểm xã hội Việt Nam, đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân thấm nhuần học thuyết của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, vận động một cách sáng tạo kinh nghiệm Cách mạng tháng Mười Nga vào điều kiện cụ thể của nước ta, Người đề ra đường lối cách mạng Việt Nam là phải đi từ giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cách mạng giải phóng dân tộc mà Người đã đề ra là cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới (nay gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa không qua giại đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đó là một trong những vấn đề mà Người đã phát triển một cách sáng tạo những luận điểm của Lê-nin về cách mạng ở các nước chậm tiến.

Cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, thì nhiệm vụ trước mắt của nó là đánh đổ đế quốc Pháp và bọn vua quan phong kiến tay sai. Muốn đánh đổ kẻ thù của cách mạng, phải tập hợp được lực lượng cách mạng. Người chỉ rõ lực lượng cách mạng là nhân dân bị đế quốc Pháp áp bức và bóc lột. Người nhấn mạnh công nhân và nông dân là lực lượng chủ yếu của cách mạng vì công nông bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất và công nông là lực lượng đông nhất. Theo quan điểm của Người, giải phóng dân tộc trước hết là giải phóng công nhân và nông dân ; lực lượng chủ yếu của sự nghiệp giải phóng dân tộc là công nhân và nông dân, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.

Người chỉ rõ cách mạng là việc chung của quần chúng nhân dân, không phải là việc của một hai người. Vì đế quốc Pháp dùng chính sách chia rẽ người Việt Nam thành người Trung, Nam, Bắc; lấy tôn giáo và vǎn hóa nô dịch để mê hoặc nhân dân ; lấy sức mạnh để đàn áp nhân dân, cho nên muốn làm cách mạng, trước hết chúng ta phải giác ngộ, tổ chức, đoàn kết và lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đấu tranh. Những người cách mạng phải tổ chức các hội quần chúng như công hội nông hội, phụ nữ, thanh niên v.v..

Người còn nêu rõ cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, theo đường lối của Quốc tế cộng sản, quan hệ mật thiết với cách mạng Pháp và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa khác.

Về kinh nghiệm cách mạng thế giới, Người rút ra nhưng bài học của Cách mạng tháng Mười, kinh nghiệm của cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ. Người nhận định cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ là những cuộc cách mạng tư sản không triệt để. Chỉ có Cách mạng tháng Mười Nga là cuộc cách mạng triệt để nhất, vì nó đem lại tự do, bình đẳng, hạnh phúc thật sự cho nhân dân lao động và còn giúp đỡ cho các dân tộc bị áp bức làm cách mạng để tự giải phóng. Cách mạng tháng Mười Nga dạy cho chúng ta biết rằng muốn làm cách mạng thành công phải dựa vào lực lượng của quần chúng nhân dân, chủ yếu là công nhân và nông dân; phải có đảng theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vững mạnh, thống nhất hy sinh, gan góc.

Muốn tổ chức và đoàn kết được các lực lượng cách mạng, muốn có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, trước hết phải có đảng cách mạng, để trong thì vận động và tổ chức nhân dân, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản các nước, Đảng có vững, cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững, thuyền mời chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm cốt. Trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có kim chỉ nam. “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lê-nin”.

Đường cách mệnh không chỉ vạch ra những vấn đề chiến lược cách mạng, mà còn vạch ra phương pháp cách mạng khoa học, “phải biết làm mới chóng”. Người cǎn dặn các chiến sĩ cách mạng phải biết cách tuyên truyền, vận động và tổ chức quần chúng đấu tranh một cách có tổ chức, có lãnh đạo chặt chẽ. Bộ tham mưu của giai cấp vô sản phải cho cách mạng bừng nở đúng lúc, tức là phải nắm vững thời cơ mới có thể giành được thắng lợi to lớn. Ví như Cách mạng tháng Mười Nga đã nổ ra đúng ngày mồng 7 tháng 11 nǎm 1917 và đã giành được thắng lợi vĩ đại.

Đường cách mệnh nêu lên một chân lý sáng ngời là “muốn sống phải làm cách mạng”, quyết tâm giành độc lập và tự do, “thà chết được tự do còn hơn sống làm nô lệ”, đấu tranh kiên cường bất khuất, kiên trì lâu dài, đời này qua đời khác, không ngại gian khổ, không sợ hy sinh. Tư tưởng nổi bật và bao trùm của cuốn Đường cách mệnh là tư tưởng độc lập, tự do gắn liền với chủ nghĩa xã hội. bó là xu thế cách mạng của thời đại, là quy luật tất yếu của sự phát triển xã hội loài người. bó tư tưởng cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, là tinh thần cách mạng triệt để của giai cấp công nhân được kết hợp một cách nhuần nhuyễn với truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam.

Cuốn Đường cách mệnh có ý nghĩa lịch sử rất to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Đường cách mệnh là ngọn cờ chỉ đạo cách mạng nước ta trong thời kỳ xúc tiến chuẩn bị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam và đặt nền tảng cho cương lĩnh của Đảng ta ra đời vào đầu nǎm 1930. Đường cách mệnh được phát triển hoàn chỉnh thêm đã trở thành nền tảng đường lối của đảng ta về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đó cũng là con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc.

Đường cách mệnh chẳng những có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong thời kỳ đã qua, mà còn soi sáng con đường cho nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong giai đoạn mới.

Để làm cơ sở cho việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, tháng 6 nǎm 1925, tại Quảng Châu, Người đã sáng lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, một tổ chức tiền thân của Đảng do những người cộng sản làm hạt nhân lãnh đạo. Khi thành lập, Hội đã thông qua Điều lệ tóm tắt và chương trình hoạt động của Hội. Tôn chỉ và mục đích của Hội được thể hiện trong cuốn Đường cách mệnh.

Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội là một tổ chức rất chặt chẽ, gần như một đảng cộng sản, theo nguyên tắc tập trung dân chủ, dùng tự phê bình và phê bình để xây dựng Hội.

Nhờ có sự giáo dục của đồng chí Nguyễn ái Quốc về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, đường lối và phương pháp cách mạng, về đạo đức cách mạng; được rèn luyện trong phong, trào đấu tranh của quần chúng cho nên hầu hết các cán bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội sau này đều trở thành nhưng người cộng sản chân chính và những cán bộ cốt cán của Đảng ta. Dưới sự lãnh đạo của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta đã kết hợp chặt chẽ với nhau, tạo thành một làn sóng dân tộc và dân chủ mạnh mẽ khắp cả nước. Phong trào công nhân Việt Nam từ khi tiếp thu được chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã có những chuyển biến mời về ý thức chính trị và về tổ chức đấu tranh. Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội là tổ chức cách mạng đầu tiên ở nước ta có xu hướng chủ nghĩa cộng sản, đi vào quần chúng vận động công nhân và nông dân theo quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và dẫn dắt giai cấp công nhân Việt Nam bước lên vũ đài chính trị.

“Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của các tầng lớp công nông và trí thức cách mạng, bắt đầu thành hình trong Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội lúc bấy giờ, đã có hệ thống thống nhất toàn quốc… “

Để làm cơ sở cho việc thành lập một chính đảng của giai cấp công nhân, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, trong đó có hạt nhân lãnh đạo là Cộng sản đoàn, để bồi dưỡng và phát huy mạnh mẽ tinh thần dân tộc của những người yêu nước trong giai cấp công nhân, nông dân và tiểu tư sản trí thức, kết hợp với việc giáo dục cho họ về chủ nghĩa Mác – Lê-nin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, nhằm đào tạo họ thành những người cộng sản Việt Nam. Hội là một tổ chức quá độ, rất phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam lúc đó. Thành lập Hội là một việc làm đúng đắn, phù hợp với kinh nghiệm phổ biến là phải thông qua những phần tử trí thức cách mạng, đưa chủ nghĩa xã hội khoa học vào giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Kinh nghiệm này đã được Đại hội lần thứ sáu của Quốc tế cộng sản (tháng 9 nǎm 1928) xác nhận :

“Kinh nghiệm cho thấy ở phần đông các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, một số lớn nếu không phải là đa số cán bộ cộng sản lúc đầu là rút từ giai cấp tiểu tư sản và đặc biệt là trong số những người trí thức cách mạng, thường là trong số sinh viên. Thường thường những phần tử ấy gia nhập Đảng vì họ nhận định Đảng là kẻ thù cương quyết nhất của chủ nghĩa đế quốc”.

Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội đã đóng một vai trò lịch sử cực kỳ quan trọng trong việc chuần bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng ta.

Để tuyên truyền tôn chỉ và mục đích của Hội. Người đã xuất bản tuần báo Thanh niên. Báo này vạch trần nhưng tội ác dã man của đế quốc Pháp, khơi sâu lòng cǎm thù đối với chúng. Đưa ra những bằng chứng cụ thể, dùng những lời lẽ đanh thép, báo Thanh niên tiếp tục nhiệm vụ của báo Người cùng khổ, lên án chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Việt Nam trên mọi lĩnh vực ; đồng thời giải thích rõ đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc Pháp và bọn vua quan phong kiến tay sai, giành độc lập và tự do, tiến lên cách mạng vô sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.

Đặc biệt, báo Thanh niên nêu rõ tính chất giai cấp của Đảng cộng sản và nhấn mạnh việc tổ chức đảng phải thật chặt chẽ. Báo còn nói rõ người đảng viên cộng sản phải có phẩm chất cách mạng, điều cốt yếu nhất là phải biết hy sinh. Nhiệm vụ của những người đảng viên cộng sản không phải chỉ đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc và giai cấp mình, mà còn phải đấu tranh góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Là một vũ khí sắc bén trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào giai cấp công nhân và nhân dân ta, tuần báo Thanh niên đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình là người tuyên truyền tập thể, người cổ động tập thể, đồng thời là người tổ chức tập thể.

Cùng với tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, cuốn Đường cách mạng, báo Người cùng khổ và một số vǎn kiện khác, báo Thanh niên đã góp phần quan trọng vào việc xúc tiến chuẩn bị thành lập Đảng ta.

Trong khi chuẩn bị thành lập chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam, nǎm 1926, tại Quảng Châu, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã tổ chức nhóm thiếu niên tiền phong đầu tiên của nước ta, nhằm đào tạo các em trở thành những chiến sĩ cách mạng tương lai. Nhóm này gồm có 8 em, trong đó có Lý Tự Trọng, sau này là người đoàn viên đầu tiên của Đoàn thanh niên cộng sản Việt Nam đã oanh liệt đấu tranh đến hơi thở cuối cùng cho Đảng và cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Trong thời gian này, với trách nhiệm là ủy viên Bộ phương Đông trực thuộc Quốc tế cộng sản và ủy viên đoàn chủ tịch ban chấp hành Quốc tế nông dân, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng phong trào cách mạng nói chung và phong trào nông dân nói riêng ở một số nước châu á. Trong bức thư mật đề ngày 13 tháng 8 nǎm 1925, của Ban chấp hành Quốc tế nông dân gửi cho Người, đã nói rõ :

“Theo quyết định của Đoàn chủ tịch ngày 31 tháng 7, đồng chí được ủy nhiệm làm công tác vận động nông dân ở Trung Quốc, ở các nước thuộc địa mà đồng chí đặt được liên lạc, cụ thể như Đông Dương… Nhiệm vụ trước mắt của đồng chí là tổ chức tiếp xúc với các thuộc địa ấy, liên hệ với các tổ chức nông dân địa phương nếu có, và xây dựng tổ chức nông hội hoặc các nhóm nông dân cốt cán ở những nơi chưa có tổ chức nông dân…”.

Để vận động nông dân Đông Dương nói chung và nông dân Việt Nam nói riêng, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã viết một số bài về tình hình nông dân Việt Nam, nói rõ nguyên nhân bị áp bức, bóc lột của họ, và chỉ cho họ phương hướng đấu tranh… Là một nhà lãnh đạo phong trào nông dân quốc tế, có nhtều kinh nghiệm, Người đã góp phần quan trọng vào phong trào cách mạng của nông dân Trung Quốc. Người đã dịch nhiều tài liệu của ban chấp hành Quốc tế nông dân viết bằng tiếng Anh, tiếng Pháp ra tiếng Trung Quốc, và đã viết nhiều tài liệu về nông dân Trung Quốc nói chung và về phong trào nông dân Hải Lục Phong nói riêng… để tuyên truyền và tổ chức nông dân Trung Quốc. Đầu tháng 5 nǎm 1925, Người đã cùng những người cộng sản Trung Quốc triệu tập Hội nghị đại biểu đầu tiên của 20 vạn nông dân có tổ chức của tỉnh Quảng Đông và Hội nghị đại biểu lần thứ hai của giai cấp công nhân Trung Quốc nhằm mục đích thành lập một mặt trận thống nhất giữa nhưng người bị bóc lột ở thành thị và nhưng người bị bóc lột ở nông thôn.

Cǎn cứ vào nội dung bản báo cáo tóm tắt của Người nói về hai cuộc hội nghị này gửi lên Ban chấp hành Quốc tế nông dân và những bài viết của Người về phong trào nông dân Trung Quốc, có thể rút ra những quan điểm đúng đắn như sau:

Những người cộng sản phải xây dựng liên minh công nông; hoạt động cho giai cấp công nhân ở thành thị không được sao nhãng việc tổ chức những người vô sản ở nông thôn. Giai cấp công nhân và giai cấp nông dân phải liên hiệp lại để chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa quân phiệt và những tên phản bội giai cấp công nhân. Muốn đấu tranh chống lại bọn địa chủ áp bức, bóc lột, nông dân Trung Quốc phải được tổ chức lại dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân công nghiệp có tổ chức. Công cuộc giải phóng nhưng người lao động là sự nghiệp của bản thân những người lao động. Đoàn kết lại, nhưng người lao động sẽ đánh thắng chủ nghĩa đế quốc.

Cùng với việc quan tâm theo dõi phong trào cách mạng Trung Quốc và các nước Đông – Nam á, đồng chí Nguyễn ái Quốc rất chú ý đến phong trào giải phóng dân tộc và dân chủ ở ấn-Độ. Từ nǎm 1921 đến nǎm 1928, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã viết nhiều bài (ký tên là Vương) trên Tạp chí Cộng sản và Thư tín Quốc tế, nhằm phản ánh tình hình đấu tranh cách mạng của nhân dân ấn-Độ.

Nhằm tập hợp và đoàn kết các lực lượng cách mạng ở châu á với những kinh nghiệm và cách tổ chức Hội liên hiệp thuộc địa ở Pháp trước đây, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã tham gia sáng lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á Đông á Đông (7-1925), một hình thức mặt trận thống nhất chống chủ nghĩa đế quốc. Hội này gồm những người yêu nước Việt Nam, Trung Quốc, Triều- Tiên, In-đô-nê-li-a, Ma-lay-xi-a, Thái-Lan, ấn- Độ.., Người được bầu làm bí thư của Hội.

Để phối hợp với phong trào chung chống chủ nghĩa đế quốc Người còn thường xuyên đặt quan hệ với Ban thư ký Tổng hội Thái Bình Dương và Liên đoàn chống chủ nghĩa đế quốc, vì độc lập, tự do, v.v..

Để xây dựng phong trào cách mạng nói chung và vận động nông dân nói riêng ở một số nước châu á, Người rất quan tâm vấn đề đào tạo cán bộ. Người đã lựa chọn một số cán bộ của các nước này, tổ chức đưa họ đến học tập tại Trường đại học phương Đông ở Mát- xcơ-va và đưa họ trở về nước hoạt động cách mạng…

Từ cuối nǎm 1924 đến đầu nǎm 1930, đồng chí Nguyễn ái Quốc vừa đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam, xúc tiến việc chuẩn bị và thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, vừa góp phần rất quan trọng vào việc đào tạo cán bộ và xây dựng phong trào cách mạng ở một số nước châu á… á… Dưới sự chỉ đạo của Ban phương Đông trực thuộc Ban chấp hành Quốc tế cộng sản, Người đã truyền bá chủ nghĩa cộng sản vào châu á nói chung và Đông Dương nói riêng.

Tháng 4 nǎm 1927, sau vụ phản biến của bọn Tưởng Giới Thạch ở Quảng Châu, Người đi Hồng Kông, Thượng Hải, rồi rời Trung Quốc đi Liên Xô. Người làm việc ở Quốc tế cộng sản góp phần tổng kết kinh nghiệm của phong trào cách mạng châu á, đặc biệt là cách mạng Trung Quốc. Người thường xuyên tới Trường đại học phương Đông giúp đỡ các học viên Việt Nam học tập và rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, đóng góp vớỉ nhà trường nhiều ý kiến xây dựng có giá trị.

Được sự giúp đỡ của Ban chấp hành Quốc tế cộng sản, cuối nǎm 1927, Người bí mật trở lại nước Pháp để gặp gỡ và trao đổi ý kiến với ban lãnh đạo Đảng cộng sản Pháp về tình hình hoạt động của Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng. Sau đó, người trở lại Đức và đi dự Hội nghị Quốc tế chống chiến tranh đế quốc họp ở thủ đô nước Bỉ.

Mùa hè nǎm 1928, Người bí mật rời khỏi Đức đi Thụy- sĩ I-ta-li-a rồi từ đó đáp tàu biển đi Thái-Lan vào mùa thu nǎm 1928. ở đây, Người lấy tên là Chín. Kiều bào thân mật và kính trọng gọi Người là Thầu Chín (ông già Chín).

Người chủ trọng giáo dục Việt kiều tinh thần đoàn kết và yêu nước. Người chỉ đạo việc chấn chỉnh nội dung tờ báo cho phù hợp với mục đích, tôn chỉ của Hội thân ái và trình độ của Việt kiều, lấy tên tờ báo là Thân ái thay cho tên Đồng thanh trước đây.

Người giảng giải cho cán bộ hiểu rõ tính chất lâu dài và gian khổ của cách mạng Việt Nam, tin tưởng vào triển vọng và tương lai của cách mạng trong nước và cách mạng thế giới Người đặc biệt quan tâm việc giáo dục thiếu niên, Người luôn luôn nhắc nhở cán bộ phải đề cao tinh thần cảnh giác và giữ gìn bí mật trong công tác. Người khuyến khích cán bộ học tiếng Xiêm. Người tham gia lao động cùng với kiều bào trong hội hợp tác, như đào giếng, làm vườn, gánh gạch xây trường học cho trẻ em v.v..

Được sự lãnh đạo của Người, chỉ trong khoảng một nǎm, công tác vận động Việt kiều ở Xiêm đã có những chuyển biến quan trọng ; tinh thần đoàn kết và yêu nước của kiều bào được củng cố và tǎng cường; trình độ chính trị của cán bộ được nâng cao, tư tưởng kiên trì vận động cách mạng được xác lập, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân Xiêm đối với những hoạt dộng yêu nước của Việt kiều nói riêng và đối với cách mạng Việt Nam nói chung.

Trong những nǎm 1928 – 1929, phong trào cách mạng ở nước ta dâng lên mạnh mẽ. Thực hiện chủ trương “vô sản hóa”, một số cán bộ của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội đã vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để tuyên truyền và tổ chức công nhân. Phong trào công nhân dần dần đã vượt qua giai đoạn tự phát, cục bộ, lẻ tẻ tiến đến giai đoạn tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo, có sự phối hợp giữa các ngành và các địa phương. Từ cuối nǎm 1929, phong trào công nhân Việt Nam đã có tính chất độc lập rõ rệt, trở thành lực lượng nòng cốt của phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào công nhân quốc tế lại bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất, có tinh thần cách mạng triệt để, đại biểu cho phương thức sản xuất tiến bộ nhất, tiêu biểu cho quyền lợi cơ bản và lâu dài của cả dân tộc, phát huy truyền thống quật cường bất khuất của dân tộc, giai cấp công nhân nước ta tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất của nhân dân Việt Nam.

Chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã được Người và những học trò của Người truyền bá vào Đông Dương, nơi nhân dân có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm, có giai cấp công nhân tuy số lượng không đông; nhưng là giai cấp tiên tiến nhất trong xã hội, lại bị ba tầng áp bức, bóc lột của đế quốc phong kiến và tư sản trong nước, cho nên có tinh thần cách mạng triệt để. Đông Dương cũng là nơi có phong trào đấu tranh của nông dân và phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân khác rất sâu rộng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, chân lý cách mạng của thời đại, khi đã thấm sâu vào trái tim, khối óc của những người cách mạng Việt Nam thì sẽ trở thành một sức mạnh to lớn và không có một kẻ thù nào có thể ngǎn cản nổi. Trên mặt trận chính trị và tư tưởng, chủ nghĩa Mác – Lê- nin đã đánh lui tư tưởng cải lương, tư tưởng dân tộc hẹp hòi và đã chiếm ưu thế trong phong trào cách mạng Việt Nam. Phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta đang đòi hỏi sự lãnh đạo của một đảng của giai cấp công nhân. Những điều kiện để thành lập một đảng như thế đã chín muồi. Nhưng khi vấn đề ấy được đặt ra, thì trong nội bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, nhất là ở cơ quan lãnh đạo của nó không nhất trí. Đó là cuộc đấu tranh giữa quan điểm vô sản và quan điểm tiểu tư sản trong Thanh niên cách mạng đồng chí Hội để thành lập đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Việt Nam. Cuộc đấu tranh ấy đã dẫn đến thắng lợi của tư tưởng vô sản và sự ra đời của Đông Dương cộng sản đảng và An Nam cộng sản đảng. Trong tình hình ấy Tân Việt cách mạng Đảng cũng không thể duy trì tổ chức cũ, cho nên đã được cải tổ thành Đông Dương cộng sản liên đoàn. Trong vòng nửa nǎm, ba tổ chức cộng sản đã liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng cộng sản là một tất yếu của sự phát triển phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929.

Nhưng lợi ích của cách mạng, và nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lê-nin không cho phép trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Như thế chỉ làm yếu sự thống nhất về tư tưởng, chính trị, tổ chức, làm giảm sức mạnh của phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Thành lập một đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam là yêu cầu bức thiết của phong trào công nhân và phong trào yêu nước lúc bấy giờ.

Lịch sử đòi hỏi phải có một lãnh tụ có đầy đủ uy tín và nǎng lực để thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đồng chí Nguyễn ái Quốc là người đã đáp ứng yêu cầu đó.

Vào cuối mùa thu nǎm 1929, đang hoạt động ở Thái- lan, được nghe báo cáo về tình hình mâu thuẫn giữa các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, Người đã trở lại Hồng Kông, triệu tập Hội nghị đại biểu các tổ chức cộng sản để thống nhất tổ chức, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Trở lại Hồng Kông lần này với sứ mệnh lịch sử nặng nề, đồng chí Nguyễn ái Quốc phải suy nghĩ và giải quyết hàng loạt vấn đề nóng bỏng và phức tạp trong quá trình chuẩn bị thống nhất Đảng: làm thế nào xóa bỏ những bất đồng giữa các nhóm cộng sản, để đi tới thống nhất các nhóm đó trong một tổ chức duy nhất? Tên Đảng nên đặt như thế nào cho đúng với tính chất đảng của giai cấp công nhân và các nhóm có thể chấp nhận làm sao hoàn thành cho kịp các bản Cương lĩnh, Sách lược Điều lệ của Đảng – Đó là những vǎn kiện cơ bản của Hội nghị hợp nhất. Vấn đề bảo đảm bí mật cho Hội nghị cũng được Người rất quan tâm. Tầt cả những vấn đề trên được tiến hành thận trọng, bí mật và khẩn trương để kịp khai mạc Hội nghị.

Dưới sự chủ tọa của Người, Hội nghị đã họp từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 2 nǎm 1930, trong cǎn phòng nhỏ của một người công nhân ở Cửu Long, gần Hồng Kông. Sau nǎm ngày làm việc khẩn trương trong hoàn cảnh bí mật, Hội nghị đã quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản, thành lập một đảng cộng sản chân chính duy nhất ở Việt Nam lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam, theo đề nghị của đồng chí Nguyễn ái Quốc. Về tên Đảng, các đại biểu được Người giải tbich :

“Cái từ Đông Dương rất rộng, và theo nguyên lý chủ nghĩa Lê-nin, vấn đề dân tộc là một vấn đề rất nghiêm túc người ta không thể bắt buộc các dân tộc khác gia nhập Đảng, làm như thế là trái với nguyên lý chủ nghĩa Lê-nin. Còn cái từ An Nam thì hẹp, vì An Nam chỉ là miền Trung của nước Việt Nam mà thôi, và nước ta có ba miền : Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ. Do đó từ Việt Nam hợp với cả ba miền và không trái với nguyên lý chủ nghĩa Lê-nin về vấn đề dân tộc”.

Hội nghị đã thông qua các vǎn kiện : Chính cương vắn tắt Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng Đảng và của một số tổ chức quần chúng và Lời kêu gọi… do đồng chí Nguyễn ái Quốc thảo ra.

Chính cương vắn tắt vạch rõ : cách mạng Việt Nam là cách mạng tư sản dân quyền (nay gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Nhiệm vụ của nó là đánh đuổi đế quốc Pháp, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân, thành lập chính phủ công nông binh, thực hiện các quyền tự do dân chủ cho nhân dân và tổ chức ra quân đội công nông…

Về Đảng, Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt nói rằng Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, có đủ nǎng lực lãnh đạo quần chúng. Đảng chủ trương đoàn kết với phong trào giải phóng của các dân tộc bị áp bức trên thế giới, và liên hệ mật thiết với giai cấp công nhân quốc tế, nhất là giai cấp công nhân Pháp.

Chính cương và Sách lược vắt tắt của Đảng đáp ứng đúng nguyện vọng thiết tha của giai cấp công nhân và nhân dân nước ta. Vì vậy, Đảng là đoàn kết được các lực lượng yêu nước và dân chủ xung quanh giai cấp công nhân và nắm được quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Điều lệ tóm tắt của Đảng đã nêu rõ mục đích của Đảng: “Đảng cộng sản Việt Nam tổ chức ra để lãnh đạo cho quân chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu, để tiêu diệt tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”.

Điều lệ tóm tắt của Đảng qui định những điều kiện cần phải có để được kết nạp vào Đảng cộng sản là phải tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa cộng sản, tin theo đường lối và chương trình hành động của Đảng và của Quốc tế cộng sản; hǎng hái, hy sinh tranh đấu cho sự nghiệp cách mạng nước ta và cách mạng thế giới.

Hội nghị cũng đã thảo luận về phương pháp và kế hoạch thống nhất các tổ chức cộng sản ở trong nước…

Nhân dịp thành lập Đảng, đồng chí Nguyễn ái Quốc thay mặt Quốc tế cộng sản và Đảng cộng sản Việt Nam đã ra Lời kêu gọi, gửi công nhân, nông dân, bính lính, thanh niên học sinh và đồng bào bị áp bức bóc lột: Đảng cộng sản Việt Nam đã được thành lập. Đó là đảng của giai cấp công nhân. Đảng sẽ dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng để đấu tranh cho quyền lợi của toàn thể nhân dân bị áp bức bóc lột. Ngay từ bây giờ, chúng ta phải gia nhập Đảng, chúng ta phải giúp đỡ Đảng và đi theo Đảng !…”.

Lời kêu gọi là một vǎn kiện quan trọng đã phân tích đầy đủ và đúng đắn tình hình thế giới, tình hình Việt Nam và nêu lên đường lối, mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Lời kêu gọi có tác động cổ vũ rất lớn đối với toàn Đảng, toàn dân ta.

Hội nghị thành lập Đảng có tầm quan trọng như một Đại hội của Đảng, vì nó đã đề ra đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam và những nguyên tắc về xây dựng Đảng cộng sản Việt Nam.

Sự ra đời của Đảng ta là một tất yếu lịch sử, do những điều kiện trong nước và thế giới lúc ấy quyết định, đồng thời là kết quả rực rỡ của cả một quá trình hoạt động sôi nổi của đồng chí Nguyễn ái Quốc, Người ái Quốc, Người đấu tranh kiên cường trong phong trào công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc, kiên trì học tập tìm tòi nghiên cứu và rèn luyện. Đó là kết quả to lớn của gần 10 nǎm chuẩn bị rất công phu và đầy đủ của Người về các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Sau này, đánh giá việc thành lập Đảng, Người đã viết :

“Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiểu sử và sự nghiệp, NXB Sự thật, 1987

quangbinh.gov.vn

Từ tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công tác giáo dục, nghĩ về nền giáo dục hiện nay

1. Trong tập sách “Hồ Chí Minh bàn về công tác giáo dục” do Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội ấn hành năm 1972 đã tập hợp nhiều bài viết của Người bàn về công tác giáo dục. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tập sách này là tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục. Đây chính là cẩm nang, là cơ sở khoa học để Đảng ta vận dụng, lãnh đạo sự nghiệp giáo dục nước ta trong suốt một phần ba thế kỷ qua.

Về mục tiêu giáo dục, Người căn dặn: Trách nhiệm của người thầy “không phải là gõ đầu trẻ để kiếm cơm” mà phải chăm lo, dạy dỗ, đào tạo các em thành người công dân tốt, người lao động tốt, người cán bộ tốt, người chiến sĩ tốt, trung với nước, hiếu với dân, có lòng yêu nước nồng nàn, có đạo đức trong sáng, cần-kiệm-liêm-chính-chí-công-vô-tư, có tri thức và sức khỏe để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh.

Về nội dung giáo dục, Người chỉ rõ: phải chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, kỹ thuật, lao động sản xuất. Người nhấn mạnh: “Tăng cường hơn nữa việc giáo dục lao động trong nhà trường là một khâu chủ yếu trong toàn bộ sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa, nhằm trang bị cho thế hệ trẻ có những kiến thức khoa học, lại có những kiến thức cơ bản về sản xuất công nghiệp-nông nghiệp, những thói quen lao động, sẵn sàng bước vào xây dựng xã hội chủ nghĩa”. Theo Người, nội dung giáo dục phải chứa đựng tính dân tộc, tính khoa họcvà tính nhân dân; phải làm cho người học hiểu được những truyền thống quý báu của dân tộc như tinh thần yêu nước nồng nàn, đoàn kết, tương thân tương ái, anh hùng trong chống giặc ngoại xâm, cần cù trong lao động sản xuất.

Về phương pháp giáo dục, Người chỉ giáo: cách học phải nhẹ nhàng; không gò ép học sinh vào khuôn khổ người lớn, phải đặc biệt chú trọng đến sức khỏe của các cháu, chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự phát huy nội lực, tư duy biện chứng Mác – Lê nin, óc tư duy lý luận, tư duy kỹ thuật, tư duy kinh tế, óc phê phán và sáng tạo cho người học.

2. Vận dụng tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh về công tác giáo dục, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, ngành Giáo dục – đào tạo đã đào tạo được một đội ngũ trí thức có đức, có tài, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu ấy, giáo dục lại có nhiều mặt làm cho xã hội quan ngại. Tình trạng giáo dục thiên về “dạy chữ” lơi lỏng về “dạy người” vẫn còn phổ biến. Bàn về công tác đào tạo, gần đây, tại diễn đàn Hội nghị giáo dục, Thủ tướng Phan Văn Khải nhận xét: chất lượng đào tạo của ta còn yếu, đào tạo ít gắn với sản xuất và đời sống, với nghiên cứu khoa học. “Giáo dục lao động trong nhà trường là một khâu chủ yếu trong toàn bộ sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa…” như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh giờ đây đã trở thành xa vời đối với nhiều trường phổ thông, thay vào đó là “dạy chay”, “học chay”, dạy thêm, học thêm tràn lan, làm cho học sinh không còn thời gian để nghỉ ngơi, giải trí. Nhu cầu học thêm bị lợi dụng bởi một bộ phận giáo viên với động cơ không trong sáng. Nhiều giáo viên dạy không sâu sát chương trình, thậm chí theo như lời của một cán bộ lâu năm trong ngành Giáo dục thì cách dạy quá hời hợt, cứ y như “chuồn chuồn đạp nước” nhằm ép học sinh đi học thêm, bắt học sinh học thêm để thu tiền thông qua nhu cầu học thêm giả tạo, dưới hình thức “tự nguyện” (?!).

Một thực tế làm nhiều người hết sức lo lắng, đó là phải chăng chất lượng giáo dục hiện nay đang xuống cấp? Liên tiếp trong thời gian qua, các báo, đài đã tốn khá nhiều giấy mực lên tiếng về thực trạng đáng báo động này. Và mới đây tại diễn đàn của kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI, nhiều vị đại biểu Quốc hội đã bày tỏ bức xúc trước yếu kém này của ngành Giáo dục. Còn nhớ, trong kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2003, có tới 5.700 thí sinh có cả ba môn thi bị điểm không; 86% số thí sinh có ba môn dưới 15 điểm. Kết quả này được công bố đã gây “sốc” cho các vị quản lý ngành Giáo dục. Người ta đã hoài nghi: phải chăng có sự sai lệch trong quá trình chấm thi của các trường. Và thanh tra Bộ Giáo dục – Đào tạo đã chọn 1.297 bài bị điểm không để chấm lại, kết quả chỉ có 2 bài được nâng điểm, còn 1.295 bài vẫn giữ nguyên điểm không như kết quả chấm ban đầu. Theo đoàn thanh tra, các bài bị điểm không là do thí sinh hổng kiến thức cơ bản, và họ đã kết luận: trình độ của thí sinh yếu kém thật sự.

Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém này? Điều dễ nhận thấy là phương pháp giáo dục của ta hiện đang còn nhiều bất cập. Báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã chỉ rõ: Phương pháp giáo dục trong các trường học nặng về truyền thụ, áp đặt kiến thức một chiều, thầy giảng trò chép, cách dạy và học nặng về học thuộc lòng, tạo cho học sinh tiếp thu một cách máy móc, chưa khuyến khích tính năng động sáng tạo của người học, chưa coi trọng bồi dưỡng cho học sinh năng lực thực hành… Bên cạnh đó, một yếu tố cũng ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng giáo dục đó là “bệnh thành tích” – một “căn bệnh” đã tồn tại từ nhiều năm nay. Chúng ta đều biết, trong các trường phổ thông có cả một hệ thống quản lý từ hiệu trưởng, hiệu phó, các tổ trưởng bộ môn, thế nhưng giáo viên có ngàn lẻ một cách phù phép để kết quả giảng dạy “đạt cao”. Hơn thế nữa chính cán bộ quản lý nhà trường cũng cần có một “tỷ lệ đẹp” để báo cáo với cấp trên. Chính bệnh thành tích này đã đôn dần học sinh yếu lên lớp. Dư luận đặt câu hỏi: tại sao năm học 2002-2003 tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT cả nước rất cao 92,6% (có tỉnh đạt 99,5%) nhưng trong kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng có quá nhiều thí sinh bị cả 3 môn không điểm như vậy.

Chúng ta phải thừa nhận rằng những bất cập về chất lượng và hiệu quả giáo dục đang là một hiện thực. Cách dạy nhồi nhét, dạy tủ, dạy theo lối cũ truyền thống vẫn đang là sức ỳ lớn, một lực cản cho yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục. Những vấn đề cộm cán như bệnh thành tích, vấn nạn dạy thêm học thêm, nạn sính bằng cấp… đã gây ra nhiều vấn đề phức tạp cho xã hội, làm ảnh hưởng đến uy tín của ngành Giáo dục và thanh danh của người thầy. Điều đó đòi hỏi ngành Giáo dục cần mạnh dạn có một “cuộc phẫu thuật” để loại bỏ những “căn bệnh” này, nếu không chúng ta phải đối mặt với những biến cố, hậu quả lớn hơn nhiều. Hy vọng, trong thời gian tới, ngành Giáo dục – đào tạo sẽ sớm có biện pháp khắc phục những yếu kém, bất cập hiện nay, bảo đảm thực hiện nghiêm túc tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, để giáo dục thật sự là “quốc sách hàng đầu”, phục vụ đắc lực công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Hồ Xuân Ánh
(Báo Bình Định)

sites.google.com

Xây dựng đội ngũ “công bộc của dân” theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Năm 1871, khi viết Dự thảo lần thứ nhất của “Nội chiến Pháp”, C.Mác lần đầu tiên đề cập đến tư tưởng cán bộ là đầy tớ của nhân dân: “Công xã[1] loại bỏ hoàn toàn hệ thống đẳng cấp chính trị và thay thế những ông chủ ngạo mạn của nhân dân bằng những đầy tớ luôn luôn có thể bị bãi miễn; thay thế một trách nhiệm tưởng tượng bằng một trách nhiệm thật sự, vì những người được uỷ nhiệm này luôn luôn hành động dưới sự kiểm soát của nhân dân”[2]. Tuy nhiên, C.Mác chưa có điều kiện thực hành tư tưởng này, chỉ đến khi lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam, Hồ Chí Minh và Đảng ta mới thực sự huấn luyện, giáo dục cán bộ và xây dựng được đội ngũ cán bộ cách mạng xứng đáng là công bộc của nhân dân.

Để có những công bộc của dân thực thụ, Hồ Chí Minh bắt đầu bằng việc xây dựng tiêu chuẩn đức và tài cho đội ngũ cán bộ của Đảng, trong đó Người xem đức là gốc, là cái căn bản của người cán bộ cách mạng, “không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[3]. Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là trung với nước, hiếu với dân, sống nhân ái, có nghĩa, có tình, là thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, là ý thức trách nhiệm trong công việc, tự phê bình và phê bình cao và có tinh thần quốc tế chân chính. Khi đức là gốc, người cán bộ cần có tài, bởi không có tài làm việc gì cũng khó. Tài thể hiện ở trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, phong cách làm việc khoa học, đúng kỷ luật, không quan liêu, có óc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Không chỉ đề ra tiêu chuẩn và yêu cầu cán bộ rèn luyện theo tiêu chuẩn đó, Hồ Chí Minh còn đề cao trách nhiệm của Đảng đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ đạt chuẩn để đảm đương nhiệm vụ công bộc của dân. Người chỉ rõ trong công tác cán bộ, Đảng phải lưu ý 5 việc: “Hiểu biết cán bộ, khéo dùng cán bộ, cất nhắc cán bộ, thương yêu cán bộ, phê bình cán bộ”[4].

Để hiểu cán bộ phải đánh giá đúng cán bộ. Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội, nên đánh giá cán bộ phải “căn cứ theo phẩm chất xã hội của họ, chứ không phải căn cứ theo phẩm chất tư nhân”[5], đồng thời phải đánh giá đúng thực chất. Muốn đánh giá đúng, theo Hồ Chí Minh, không được đối xử theo sự yêu ghét, đem khuôn chật hẹp lắp vào cho tất cả mọi người; nhận xét cán bộ không chỉ xét mặt ngoài, xét một lúc, một việc, mà phải xét kỹ toàn bộ công việc. Đánh giá đúng là cơ sở cho tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ… được chính xác.

Phải biết lựa chọn, bố trí, đề bạt cán bộ đúng. Hồ Chí Minh lưu ý việc tìm nguồn cán bộ là trách nhiệm của lãnh đạo. Phải lăn lộn với phong trào để lựa chọn cán bộ, chú ý tìm nguồn trong trường học, đội ngũ đảng viên. Chú ý nguồn cán bộ xuất thân từ công nhân, nông dân, đồng thời không được quên trí thức là nhân tài của đất nước. Chính Hồ Chí Minh đã trực tiếp mời những nhân sĩ trí thức ra giữ những chức vụ trọng yếu trong Chính phủ sau Cách mạng Tháng Tám như cụ Huỳnh Thúc Kháng (Bộ trưởng Nội vụ), cụ Nguyễn Sơn Hà (Bộ trưởng Kinh tế)… Người còn kêu gọi được những trí thức Việt kiều về tham gia kháng chiến như Đặng Văn Ngữ, Trần Đại Nghĩa, Trần Đức Thảo… Đó là những người luôn trung thành, hăng hái, gắn bó với dân, có khả năng giải quyết vấn đề trong khó khăn, “khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo” và luôn giữ đúng kỷ luật[6].

Việc bố trí, đề bạt cán bộ phải hết sức cân nhắc. Hồ Chí Minh lưu ý việc “khéo” dùng cán bộ. Theo Người “dụng nhân như dụng mộc”, gỗ nhỏ gỗ to, gỗ thẳng gỗ cong, người thợ khéo đều có thể sử dụng được. Dùng đúng là khiến cán bộ có gan nói, đề ra ý kiến, có gan phụ trách. Đề bạt, cất nhắc cán bộ vì công việc, dựa trên tài năng và để cổ động cho người khác thêm hăng hái, tránh “đem người bô lô ba la, chỉ nói mà không biết làm, vào những địa vị lãnh đạo”. Người đưa ra một bài học: “Cất nhắc cán bộ không nên làm như “giã gạo”. Nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ. Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ. Khi họ sai lầm thì đẩy xuống, chờ lúc họ làm khá, lại cất nhắc lên. Một cán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời. Đối với cán bộ, chẳng những phải xem xét rõ ràng trước khi cất nhắc. Mà sau khi cất nhắc phải giúp đỡ họ, khuyên gắng họ, vun trồng lòng tự tin, tự trọng của họ”[7].

Để có cán bộ đáp ứng nhiệm vụ, phải tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng. Hồ Chí Minh yêu cầu: “Đảng phải dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”[8], huấn luyện cán bộ “là công việc gốc của Đảng”[9]. Người chỉ ra 4 nội dung cần huấn luyện là: huấn luyện nghề nghiệp, theo phương châm làm việc gì học việc nấy; huấn luyện chính trị, đặc biệt cho cán bộ tuyên truyền và tổ chức; huấn luyện văn hoá, nhất là đối với cán bộ còn kém về văn hoá; huấn luyện lý luận, tập trung cho cán bộ trung, cao cấp. “Những người lãnh đạo cần phải tham gia việc dạy. Không nên bủn xỉn về các khoản chi tiêu trong việc huấn luyện”[10].

Muốn dùng cán bộ lâu bền phải biết yêu thương, đoàn kết cán bộ. Hồ Chí Minh chỉ rõ yêu thương cán bộ không phải là vỗ về, nuông chiều mà giúp đỡ họ tiến bộ, giúp giải quyết việc gia đình, luôn chú ý đến công tác, vun trồng ưu điểm để họ thêm hăng hái, gắng sức mà phục vụ nhân dân. Yêu quý cán bộ phải chăm nom đến vấn đề đoàn kết trong cán bộ, “phải đoàn kết cán bộ trong Đảng và cán bộ ngoài Đảng”, “giữ gìn sự đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới, giữa cán bộ xuất thân từ công nông và cán bộ xuất thân từ trí thức, tiểu tư sản, giữa cán bộ người kinh và cán bộ các dân tộc ít người, giữa cán bộ người ở địa phương và cán bộ ở địa phương khác đến”[11].

Để bảo vệ cán bộ phải phê bình cán bộ cho đúng, xử phạt cho nghiêm. Muốn phê bình đúng, trước hết dùng thái độ thân thiết, triệt để, thật thà, không mỉa mai, đâm thọc; giải thích rõ ràng để người mắc khuyết điểm tự tìm ra nguyên nhân, thấy được hậu quả và cách sửa chữa; phê bình việc chứ không phê bình người; quán triệt mục đích phê bình là “cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”[12]. Đồng thời với phê bình cán bộ còn phải xử phạt cán bộ vi phạm kỷ luật cho nghiêm để không mở đường cho kẻ phá hoại. Hồ Chủ tịch đã từng tận tay ký bản án tử hình đối với trường hợp cán bộ cao cấp của Đảng tham ô, hủ hoá, gây tổn hại nghiêm trọng cho uy tín của Đảng. Người khẳng định phê bình đúng, kỷ luật nghiêm không làm giảm thể diện, uy tín của cán bộ, của Đảng, mà còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, uy tín và thể diện càng tăng thêm.

Cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng lãnh đạo giành được thắng lợi có đóng góp của đường lối cán bộ đúng đắn được hình thành từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những tư tưởng ấy ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. Nếu mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, biến nó thành phương châm hành động, thành mục tiêu phấn đấu, thành phong cách lãnh đạo trên thực tế thì nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng – những công bộc thực thụ của nhân dân – sẽ đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới.

[1] Tức Công xã Pari
[2] C.Mác-Ph.Ăngghen (1980), Tuyển tập, T1, Nxb ST,H, tr.35.
[3] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.252-253
[4] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.277
[5] C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, T1, Nxb CTQG, 1995, tr 337
[6] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.275.
[7] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.282.
[8] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.273
[9] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.269.
[10] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.273.
[11] Văn kiện Đảng, T21, Nxb CTQG, H, 2002, tr.763
[12] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.232

Ths. Trương Thị Bạch Yến
Khoa Xây dựng Đảng – Học viện Chính trị-Hành chính khu vực III

xaydungdang.org.vn