Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất

Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngọn cờ đầu của giải phóng dân tộc. Người đã dẫn dắt triệu triệu người Việt Nam cùng hàng ngàn triệu người nô lệ hơn 100 nước trên thế giới vùng lên giành độc lập tự do, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Người đã làm nên cuộc đảo lộn thế giới chưa từng có từ sau khi chủ nghĩa tư bản lật đổ đế chế La Mã cổ xưa. Người đã vẽ lại bản đồ thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng đáng là Danh nhân văn hóa thế kỷ 20.

Tại Pa-ri (Pháp), trong kỳ họp lần thứ 24 từ ngày 20-10 đến ngày 20-11-1987, Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã ra Nghị quyết 24C/18.65 công nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam, đồng thời quyết định kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người.

Trong Từ điển “Danh nhân văn hóa thế giới” xuất bản tại Anh và Mỹ, lời nói đầu có nêu: “Thế kỷ 20 có nhiều đảo lộn lớn trong lịch sử nhân loại. Ai làm đảo lộn người đó xứng đáng làm Danh nhân văn hóa”. Trong lĩnh vực Chính trị-xã hội, Từ điển đã dành hai trang 332-333 ghi rõ: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngọn cờ đầu của giải phóng dân tộc. Người đã dẫn dắt triệu triệu người Việt Nam cùng hàng ngàn triệu người nô lệ hơn 100 nước trên thế giới vùng lên giành độc lập tự do, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Người đã làm nên cuộc đảo lộn thế giới chưa từng có từ sau khi chủ nghĩa tư bản lật đổ đế chế La Mã cổ xưa. Người đã vẽ lại bản đồ thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng đáng là Danh nhân văn hóa thế kỷ 20”.

Cống hiến vĩ đại của Người là tìm ra con đường cứu nước đúng đắn. Người xác định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(1). Đó là sự gắn liền chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế chân chính; kết hợp chặt chẽ cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng xã hội chủ nghĩa; kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh quốc tế, sức mạnh thời đại. Đây là sự phá vỡ bế tắc về đường lối cứu nước trong một thời gian khá dài trong lịch sử nước ta. Tuy nhiên, đó mới chỉ là phương hướng. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn cụ thể hóa đường lối cứu nước ấy. Từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: chủ nghĩa đế quốc là một con đỉa hai vòi, một vòi bám vào chính quốc, một vòi bám vào thuộc địa. Muốn đánh bại chủ nghĩa đế quốc, phải đồng thời cắt bỏ cả hai cái vòi của nó đi. Tức là phải kết hợp cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Người cũng nhấn mạnh các nước thuộc địa cần tăng cường đoàn kết và ủng hộ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chung; đồng thời phải dựa vào sức mình là chính để đấu tranh tự giải phóng mình. Đó là một luận điểm có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn rất quan trọng. Cách mạng nước ta từ những năm 20 của thế kỷ trước đã phát triển dưới ánh sáng của tư tưởng ấy. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là thực tế sinh động chứng minh sự đúng đắn của tư tưởng đó.

Tìm được đường lối cách mạng đúng đắn, Người đã trực tiếp lãnh đạo tuyên truyền, tổ chức, đào tạo và rèn luyện cán bộ. Người viết: “Nếu hiện nay nông dân vẫn còn ở trong tình trạng tiêu cực, thì nguyên nhân là vì họ còn thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo. Quốc tế Cộng sản cần phải giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán bộ lãnh đạo cho họ và chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải phóng”(2). Từ năm 1921, bằng ngòi bút sắc sảo của mình, Người đã viết nhiều bài đăng trên một số tờ báo của nước Pháp để tố cáo tội ác của thực dân và thức tỉnh nhân dân các nước thuộc địa. Người rất quan tâm đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt, vì “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(3). Ngay từ lớp cán bộ đầu tiên, Người đã chú ý bồi dưỡng “Tư cách người cách mệnh” và tri thức người cách mệnh, tức là chăm lo cả hai mặt: phẩm chất và năng lực. Về tổ chức, Người xác định: “Trước hết phải có đảng cách mệnh”(4). Tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội là hạt mầm cho sự ra đời Đảng mang bản chất giai cấp công nhân. Người dày công tập hợp lực lượng cách mạng, xây dựng các tổ chức quần chúng. Đó là những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc.

Bác Hồ đòi hỏi lãnh đạo cách mạng là phải nắm được thời cơ. Người ví: “Lạc nước hai xe đành bỏ phí. Gặp thời một tốt cũng thành công”(5). Từ năm 1940, nhất là vào tháng 10-1944, trong thư gửi đồng bào toàn quốc, Người dự báo: “Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp, ta phải làm nhanh!”(6). Tháng Tám 1945, khi thời cơ đến, Bác đã cùng với Trung ương Đảng quyết định Tổng khởi nghĩa và đã giành được thắng lợi nhanh chóng. Sau Cách mạng tháng Tám, Người lại cùng toàn Đảng, toàn dân đưa hai cuộc kháng chiến anh dũng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đi đến thắng lợi hoàn toàn…

Đồng thời với việc công nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Người anh hùng giải phóng dân tộc”, UNESCO còn công nhận Người là nhà văn hóa kiệt xuất. Sở dĩ như vậy là bởi Người có hiểu biết rất sâu rộng. Người đã nghiên cứu, học tập, đọc rất nhiều tác phẩm Đông-Tây, kim-cổ; tiếp thu những tinh hoa của văn minh nhân loại. Người tinh thông lịch sử dân tộc, am hiểu sâu sắc văn hoá dân tộc. Người viết văn, viết báo, làm thơ bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài. Bác đã có nhiều sáng tác thuộc nhiều lĩnh vực: văn, thơ, kịch, họa… Ở Bác, nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, nhà báo, nhà chính trị, người chiến sĩ… kết hợp bền chặt trong nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh. Có ý kiến cho rằng: “Sáng tạo văn hoá của Chủ tịch Hồ Chí Minh có mặt ở nhiều thể loại… Và ở lĩnh vực nào sự sáng tạo đó cũng đạt tới trình độ bậc thầy với tầm nhìn thời đại, vì thế luôn mang tính thời sự và giá trị thực tiễn sâu sắc. Sáng tạo văn hoá của Người thực chất là sự sáng tạo vì cuộc đời và con người, vì hạnh phúc của nhân dân; là làm sao cho mỗi người biết hướng thiện và hoàn lương; biết kết đoàn, chung lưng đẩy lùi cái xấu xa, tàn bạo, phi nhân tính, để cùng nhau xây dựng một đất nước giàu mạnh, một xã hội công bằng, văn minh – một xã hội mà trong đó: “Mọi người vì mỗi người, mỗi người vì mọi người” và “sống để cho nhau”. Sáng tạo văn hoá của Hồ Chí Minh luôn có mặt chủ thể con người với khát vọng tự do, công lý, hoà bình, ấm no, hạnh phúc… điều đó đã làm nên giá trị nhân văn của một nhân cách lớn”(7). Vâng, Người đã từng cho rằng, văn hóa là mục đích cuộc sống, giúp con người tồn tại và phát triển: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng chúng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”(8).

Đi vào từng lĩnh vực cụ thể, ta thấy Người rất quan tâm đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, làm cho tiếng Việt mang tính dân tộc, khoa học và đại chúng. Bác hết lòng chăm lo phát triển ngành giáo dục, chăm lo sự nghiệp mở mang dân trí, xây dựng “Đời sống mới” hình thành trong nhân dân những phong tục, tập quán mới, những sinh hoạt văn hóa mới. Chính Bác là tấm gương sáng về mối quan hệ mới, tốt đẹp giữa người với người. Ở điểm này, chúng ta nhớ đến lời của nhà thơ Osip Mandelstam viết từ năm 1923, đầu thế kỷ trước: “Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải là văn hóa châu Âu mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”(9). Đó là đức hi sinh cao cả, là nghị lực cách mạng phi thường; là tính sáng suốt, nhạy cảm đặc biệt về chính trị, là tình yêu thương sâu sắc con người; là quan hệ bình đẳng, dân chủ, là đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, là lối sống vì mọi người, là tác phong giản dị, khiêm tốn, là con người vĩ đại mà sống gần gũi với mọi người, sống trong sáng trọn vẹn suốt cuộc đời…

Chính vì lẽ đó mà Người đã để lại không chỉ cho nhân dân Việt Nam, mà còn cho nhân loại một di sản tư tưởng văn hoá vô giá, có giá trị bền vững, như Nghị quyết khoá họp lần thứ 24 của tổ chức UNESCO đã viết “… Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau…”. Với tinh thần đó Hồ Chí Minh không chỉ thuộc về dân tộc Việt Nam, mà còn là của nhân loại…

——————-

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.2000, tập 9, tr 314.
(2) Sđd, tập 1, tr 289
(3) Sđd, tập 5, tr 269
(4) Sđd, tập 2, tr 267
(5), (6), (8) Sđd, tập 3 tr 287, 506, 431
(7) Nguyễn Thuý Đức, Hồ Chí Minh – Nhà văn hoá lớn, 2-2010, baotanghochiminh.vn.
(9) Osip Mandenstam, báo Ngọn lửa nhỏ, 1923.

Nguyễn Viết Chính

xaydungdang.org.vn

Bản lĩnh văn hoá Hồ Chí Minh với đội ngũ cán bộ lãnh đạo – quản lý hiện nay

1. Nhận ra chính mình là khó nhất

Phải có bản lĩnh mới nhận ra chính mình, đúng mình. Điều này tưởng dễ nhưng thể hiện nó trong cuộc sống hằng ngày thì rất khó. Mà nếu không nhận ra chính mình thì cũng không thể hiểu đúng người khác. Không nhận ra mình, không làm cho người khác hiểu mình, và không hiểu được người khác là lãnh đao-quản lý không có văn hóa. Đó là một cách tiếp cận văn hóa thông minh và khoa học.

Là lãnh tụ tối cao của Đảng và dân tộc, đứng ở đỉnh cao quyền lực 24 năm liên tục, nhưng Hồ Chí Minh luôn nhận ra chính mình, coi mình là người của nhân dân. Người thường nói với các đồng sự “không có nhân dân thì không có Bác”. Người tự nhận mình là công bộc của dân và thực tế cả cuộc đời Người chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Những khi Người phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo, đều vì mục đích đó. Người xác định chức vụ Chủ tịch nước mà Người đảm trách là do nhân dân ủy thác và vì vậy Người phải gắng sức làm như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận. Dám công khai chức vụ của mình là do dân ủy thác là bản lĩnh. Nhưng bản lĩnh hơn là vui lòng rời khỏi chức vụ đó khi nhân dân không tín nhiệm nữa để về với cuộc sống điền viên, dân giã, câu cá trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi. Chúng ta hiện nay có được cán bộ nào như thế?

Người tự coi mình là một trong những đồng chí già, và có những việc không làm được, rất cần những cán bộ trẻ để làm. Đã già thì theo quy luật, rồi chết. Hoặc là khi tiến lên máy móc, nếu không biết kỹ thuật, có lãnh đạo được không? “Nếu không biết, phải mời anh ra, cho người khác giỏi hơn vào làm… chớ không phải như ngày xưa: “sống lâu lên lão làng”Khi viết thư gửi các đồng chí tỉnh nhà sau ngày nước nhà độc lập, Hồ Chí Minh nói rõ “không dùng danh nghĩa Chủ tịch của Chính phủ, chỉ lấy danh nghĩa của một đồng chí già mà viết để san sẻ ít nhiều kinh nghiệm với các đồng chí”. Trong Thư gửi các phụ lão, Người viết “đây tôi lấy danh nghĩa là một người già mà nói chuyện với các cụ”. Gửi thiếu nhi Việt Nam đêm Trung thu đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người mở đầu “đây là Hồ Chí Minh nói chuyện với các em”. Người xưng hô cháu với cụ Phụng Lục, một phụ lão cứu quốc ở huyện Ứng Hòa, Hà Đông. Trao đổi với phóng viên báo Granma (Cuba) Người nói: “Ở miền Nam, tôi không phải là Chủ tịch Hồ Chí Minh mà là Bác Hồ”. Nói chuyện với cán bộ, đảng viên hoạt động lâu năm ở Nghệ An, Hồ Chí Minh trao đổi một cách thẳng thắn: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học. Việc lớn, việc nhỏ, tôi phải tham gia. Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau. Chúng ta là đảng viên già, hiểu biết của chúng ta hồi 30 tuổi so với sự hiểu biết của lớp trẻ bây giờ, kể cả ở Liên Xô, Trung Quốc, thì chúng mình dốt lắm. Tôi cũng dốt lắm”[1]. [2].

BacHo.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ. Ảnh: Tuấn Anh

Một nét nổi bật trong bản lĩnh văn hóa Hồ Chí Minh là tự phê bình. Chỉ mấy tháng sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, trong bài Tự phê bình, Hồ Chí Minh viết một cách rất thật lòng. Người xác định phận sự của Người như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bờ hạnh phúc của nhân dân. Người đánh giá rất cao cố gắng của đồng bào, trước hoàn cảnh khó khăn đó, người giúp sức, kẻ giúp tiền. “Còn tôi thì lo lắng đêm ngày để làm tròn nhiệm vụ của mình, sao cho khỏi phụ lòng đồng bào toàn quốc. Chỉ vì tôi tài hèn đức mọn, cho nên chưa làm đầy đủ những sự mong muốn của đồng bào”[3]. Thật ra lúc đó, Chính phủ do Người đứng đầu đã làm được rất nhiều việc. Đó là xây dựng nền độc lập của nước nhà; lãnh đạo cuộc kháng chiến miền Nam; ra sức kêu gọi tăng gia sản xuất và tìm mọi cách cứu nạn đói ở miền Bắc; tổ chức cuộc Tổng Tuyển cử đầu tiên ở nước ta, chuẩn bị thành lập Quốc hội. Nhân dân biết và ghi nhận những điều đó nhưng quan trọng hơn là nhân dân thấy rõ sự chân thành của người đứng đầu Chính phủ thật sự muốn đáp ứng khát vọng của lòng dân, vì hạnh phúc của dân. Người đứng đầu Chính phủ dám nhận mình là “tài hèn đức mọn” trong khi đã làm được bao nhiêu điều thể hiện tài cao đức rộng thì đúng là một thái độ “vô tiền khoáng hậu”. Người thẳng thắn chỉ ra “cái tệ tham ô, nhũng lạm chưa quét sạch; nhiều nơi chính trị vẫn chưa vào lề lối”. Chỉ ra ưu, khuyết điểm, Người kết luận: “Tôi phải nói thật: những sự thành công là nhờ đống bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi”.

Những trình bày trên không chỉ là thái độ khiêm nhường, một trong những nét nổi bật của phong cách ứng xử văn hóa Hồ Chí Minh mà điều đó thể hiện bản lĩnh văn hóa, phẩm chất văn hóa theo tinh thần văn hóa Lão Tử: Thánh nhân cao hơn thiên hạ vì biết đứng sau thiên hạ.

Trong cuộc sống hôm nay, chúng ta không thấy một cán bộ lãnh đạo-quản lý nào nhận ra được chính mình theo thái độ, tấm gương Hồ Chí Minh. Chúng ta đang thiếu phẩm chất và bản lĩnh văn hóa Hồ Chí Minh. Không ít cán bộ lãnh đạo-quản lý đang tự huyễn hoặc mình khi có một một chút quyền lực. Họ tưởng rằng cứ ngồi ở ghế lãnh đạo-quản lý thì đương nhiên có lòng cao thượng, có văn hóa. Họ quên mất lời dạy của Bác, rằng “ai giữ được đạo đức thì người đó có lòng cao thượng”. Trớ trêu hơn là không ít người có quyền nhưng đó là chức vụ qua mưu mẹo, thủ đoạn, bằng công nghệ nịnh hót, mua chức, chạy quyền chứ không phải do cán bộ công chức, nhân dân tín nhiệm, không phải do thật sự có đức có tài. Nhưng khi có chức vụ rồi thì lại “lên mặt làm quan cách mạng” như Bác đã chỉ ra. Họ không nhận ra được hay cố tình không nhận ra điểm xuất phát “thường thường bậc trung” của mình, và đi lên từ đâu. Rõ ràng đó là những người tài hèn đức mọn. Nghịch lý đời thường là những kẻ dốt nát lại hay cao ngạo, thích lộng ngôn, lộng hành và say mê quyền lực, những người tài giỏi lại rất khiêm nhường, không thích dùng quyền lực.

Nhiều cán bộ khi có chút chức quyền thì hay thao thao bất tuyệt, nói “hết giờ này qua giờ khác, nhưng điều nhân dân, cán bộ nhân viên cần lại không nói đến”. Đáng phê phán hơn là cách nói vô thưởng vô phạt đang rất phổ biến hiện nay. Những cụm từ như “về cơ bản”, “nhìn chung là”, “một bộ phận không nhỏ”, “chúng ta cũng phải thẳng thắn thừa nhận rằng một số cán bộ chưa thật sự quán triệt”; v.v.. Rõ ràng là chẳng có một chút thẳng thắn, thật sự, thật thà nào trong các cụm từ nói trên. Trong trường hợp người lãnh đạo nhắc tới khuyết điểm của đơn vị thì bộc lộ kiểu tư duy trong cụm từ “chúng ta” không có mặt người đứng đầu.

Bác Hồ đã dạy “Đảng ta là một Đảng chân chính, cách mạng, là đạo đức, là văn minh”. Ngoài vấn đề bản chất của Đảng phải thể hiện điều đó thì mỗi cán bộ, đảng viên phải thể hiện sự văn minh của mình. Văn minh của người cán bộ lãnh đạo-quản lý hoàn toàn xa lạ với cách ứng xử không bao giờ dám nhận khuyết điểm một cách thật lòng về mình; hoặc nhận khuyết điểm một cách chung chung theo kiểu “những khuyết điểm đó lãnh đạo chúng tôi xin nhận trách nhiệm”; “lãnh đạo chúng tôi đã kiểm điểm nghiêm khắc và xin rút kinh nghiệm”…. Cách ứng xử đó là một trò đùa xem khinh dư luận, xem khinh quần chúng, xem thường cán bộ nhân viên cấp dưới. Tại sao trong nhiều trường hợp như nhận thành tích của đơn vị, nhận các hình thức khen thưởng, “cái tôi” lớn thế nhưng khi nói tới khuyết điểm, sai lầm thì lại chẳng thấy “cái tôi” đâu? Tại sao cán bộ lãnh đạo-quản lý hôm nay không soi vào tấm gương Hồ Chí Minh để thấy rằng Người không nhận phần thưởng cao quý do Đảng, Nhà nước trao tặng vì Người cho rằng thành tích là do nhân dân làm nên, còn Người tự cho mình chưa xứng đáng nhận các phần thường cao quý đó, bởi nhiệm vụ nhân dân giao cho chưa hoàn thành. Khi qua đời, trên ngực Người không có một tấm huân chương nào. Mỗi khi nhận phần thưởng cao quý, chúng ta có cầm thấy xấu hổ với Bác Hồ?

Trong khi đánh giá thành tích của đơn vị cũng vậy, chúng ta đang xa rời cách ứng xử của Bác Hồ. Với Hồ Chí Minh, bao giờ Người cũng nhấn mạnh có được thành tích là nhờ đồng bào cố gắng, tức là nhờ sự đóng góp sức người, sức của, trí tuệ của nhân dân, của cán bộ công chức. Còn chúng ta hiện nay thường có cách nói về những kết quả đã đạt được là nhờ sự lãnh đạo của cấp ủy, sự cố gắng nhiệt tình, nhiều kinh nghiệm của các đồng lãnh đạo, nguyên lãnh đạo. Tuy nhiên, cả về mặt lý luận và thực tiễn, thì như Bác Hồ đã chỉ ra “không có Đảng và Chính phủ thì nhân không ai dẫn đường; không có nhân dân thì Đảng và Chính phủ không đủ lực lượng”. Nhưng khi nói Người thường chỉ nhấn mạnh vế sau. Theo tinh thần Hồ Chí Minh thì chất lượng khoa học của tư duy này là ở chỗ phải xác định: Vì ai mà làm? Phụ trách trước ai?. Trong một nước thì Chính phủ và Đảng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước dân. Trong một đơn vị thì cán bộ lãnh đạo-quản lý vì cán bộ nhân viên mà làm và chịu trách nhiệm trước cán bộ công chức.

Chỉ thấy lãnh đạo-quản lý mà không thấy dân; chỉ thấy ưu điểm mà không thấy khuyết điểm, yếu kém; chỉ thích chức này, quyền nọ mà không chịu rèn đức luyện tài; chỉ thích lên mà không thích xuống; thiếu và xa rời tư duy về dân, về cán bộ công chức; không đi đúng đường lối quần chúng theo cách ứng xử của Hồ Chí Minh để chạy theo tư duy quyền lực là một sai lầm lớn, nhất định thất bại. Bài học vô giá mà Bác Hồ dạy chúng ta là gì? Đó là “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sữa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”[4]. Bác nói về Đảng cũng là nói về Chính phủ, về mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo-quản lý. Điều này rất khó, nhưng khó dễ là tại mình. Chúng ta nói học và làm theo tư tưởng, tấm gương Hồ Chí Minh thì không thể lãng tránh. Vì lãng tránh là thất bại.

2. “Phò chính, trừ tà”, đấu tranh chống tiêu cực, bảo vệ nhân tố tích cực

Bản “lĩnh phò chính trừ tà” gắn chặt với bản lĩnh nhận ra chính mình. Chỉ có nhận ra chính mình thì mới có thể phò được chính, trừ được tà, mới dám có tư duy khoa học và cách mạng trong xây và chống. Bởi vì, nếu mình không cần kiệm liêm chính mà bảo người khác làm thì vô lý. Tất nhiên như trên đã nói, hiện nay có tình trạng mình không chính mà vẫn dạy người khác chính, mình không liêm vẫn bảo người khác liêm theo tinh thần “tôi yêu cầu và mong rằng các đồng chí (trừ tôi ra) sẽ thực hiện tốt cần kiệm liêm chính theo tấm gương Hồ Chí Minh”. Đó là một trong những vấn nạn cần phải được loại bỏ ra khỏi đội ngũ cán bộ-lãnh đạo quản lý của chúng ta ngày hôm nay.

Lúc sinh thời, Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về “phò chính trừ tà”. Phải là người thật sự có trí tuệ, bản lĩnh và luôn nhận thức đúng mình trên cái nền, cái gốc vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân thì mới dám “phò chính trừ tà”. Có những vấn đề lớn nhiều người đã biết ở những mức độ khác nhau, bài viết này không có ý định đi sâu, nhưng cũng xin được điểm qua mấy nét nổi bật. Đó là bản lĩnh ra đi một mình, vượt đại dương để tìm đường cứu nước cứu dân. Kiên quyết chống thực dân phương Tây, nhưng Hồ Chí Minh lại không choáng ngợp trước văn minh phương Tây. Ngược lại, Người muốn khám phá, tìm hiểu và khai thác các giá trị của các nền văn minh đó để về giải phóng đồng bào. Nếu nói rằng Hồ Chí Minh có bản lĩnh sử dụng chủ nghĩa tư bản để chống chủ nghĩa thực dân- một kiểu trá hình của chủ nghĩa tư bản- trên đất nước mình thì cũng đúng. Nhưng thật sự khoa học thì lúc đó Hồ Chí Minh đã có nhãn quan sáng suốt, sự nhạy cảm chính trị tuyệt vời khi coi Tự do- Bình đẳng-Bác ái là giá trị chung của nhân loại. và Người muốn tìm hiểu những gì ẩn giấu đằng sau các khái niệm đó, xem các nước tư bản làm thế nào rồi trở về giúp đồng bào tôi. Một người kiên quyết chống thực dân phương Tây xâm lược lại chủ động tìm đến văn hóa phương Tây, hiện thân cho nền văn hóa đó, là một hiện tượng kỳ lạ không chỉ về bản lĩnh văn hóa mà cả bản lĩnh chính trị. Ở Hồ Chí Minh, bản lĩnh cách mạng và bản lĩnh văn hóa hòa quyện vào nhau.

Hồ Chí Minh là con người đề cao tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Trong mọi ứng xử văn hóa ngoại giao, Người luôn luôn lấy lợi ích dân tộc làm trọng. Đứng trước muôn vàn đối thủ, Hồ Chí Minh đều thể hiện bản lĩnh của nhà chính trị- văn hóa-ngoại giao lịch lãm và tự chủ, bình tĩnh và đĩnh đạc, chủ động và tỉnh táo để vượt qua mọi cạm bẫy, đẩy lùi mọi đòn tiến công hiểm độc và mọi thủ đoạn xảo trá của đối phương. Trong các mối quan hệ song phương, đa phương với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là các nước lớn, Người ứng xử theo phong cách Hồ Chí Minh “có lý có tình, hài hòa nhuần nhị”, không làm mất lòng bè bạn và vẫn nhận được sự ủng hộ to lớn của các nước trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược. Người là sứ giả và hiện thân cho nền văn hóa hòa bình.

Trước nay, khi bàn tới xây dựng đội ngũ cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thường chỉ nói tới đức tài một cách chung chung. Hồng chuyên là cần nhưng không thể thiếu phong cách lãnh đạo, bản lĩnh chính trị-văn hóa, nhất là khi công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu. Hiện nay, hằng ngày chúng ta đang phải đối mặt với nhiều cái giả, cái ác, cái xấu, cái sai, cái cũ kỹ, lạc hậu, tiêu cực biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Bên cạnh đó cũng xuất hiện những điển hình tiên tiến, nhân tố tích cực, nhiều tiếng nói thẳng thắn, chân thành chống lại sức ỳ, bảo thủ, loại này thường không giữ chức vụ lãnh đạo-quản lý. Noi theo tấm gương Hồ Chí Minh, công cuộc đổi mới đang rất cần những cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo- quản lý, dám đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, bảo vệ những nhân tố tích cực.

Vì quá say sưa với chức vụ, trong hệ thống quyền lực của chúng ta hầu như đang thiếu vắng những con người có bản lĩnh “phò chính trừ tà” như Hồ Chí Minh. Có chăng thì đó lại là “nhân dân”- những người không có chức quyền lãnh đạo-quản lý. Đáng lên án hơn, không ít cán bộ lãnh đạo-quản lý lại cổ súy, định hướng cho tư tưởng “dĩ hòa vi quý” theo tinh thần “giữ đoàn kết nội bộ”. Nhiều cán bộ lãnh đạo-quản lý xếp những cán bộ hay tìm tòi, phát hiện cái mới, phê phán (chứ chưa nói gì tới đấu tranh) tiêu cực, tư duy bảo thủ, trì trệ vào hàng những người khó hợp tác, không ủng hộ (nặng hơn là chống) lãnh đạo, gây mất đoàn kết (?!). Nếu Hồ Chí Minh dám tự phê bình, động viên và thực hành “phò chính trừ tà” là một hiện tượng hiếm thấy, kỳ lạ thì cũng thật kỳ lạ là trong bối cảnh hiện nay, nhiều cán bộ lãnh đạo-quản lý không có khí khái, không dám chống tiêu cực, không dám bảo vệ những nhân tố tích cực, a dua với với cái giả, cái xấu, cái sai, theo kiểu “thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi”, “theo gió bẻ buồm”. Người ta đang có cách ứng xử khá phổ biến, thiếu văn hóa theo kiểu “ngậm miệng giữ ghế’ tức là ngậm miệng ăn tiền. Người thì hành xử theo tư duy “ăn cây nào rào cây đấy”, kẻ thì nhân danh tổ chức, tập thể để lộng hành, đạt được mục đích cá nhân. Đây đó trong họp hành có những diễn văn, bài phát biểu, nếu suy ngẫm có trách nhiệm thì đó là tư duy cũ kỹ, lạc hậu trước đổi mới. Vẫn theo xu hướng bệnh thành tích, tụng ca nhau, kể lể những việc đã làm được. Có những đơn vị có những hoạt động “yếu kém bền vững” nhưng vẫn được coi là thành tích vì ổn định. Vì thích “ổn định trì trệ”, cán bộ lãnh đạo-quản lý không thích nói tới khuyết điểm, không thích bàn và thực hành dân chủ, không thích nghe những tiếng nói “trái chiều”, không thích có những ý kiến mới mang tính đột phá về tư duy. Cán bộ lãnh đạo-quản lý ở Việt Nam còn quá xa lạ với hai từ “trách nhiệm” và tệ quan liêu, trong lúc đó chính Hồ Chí Minh đã chỉ ra quan liêu đẻ ra tham ô, lãng phí, và muốn trừ sạch tham ô, lãng phí thì trước hết phải tẩy sạch bệnh quan liêu. Người ta ngại đụng chạm, thích “đóng cửa bảo nhau”, “chín bỏ làm mười”, “một sự nhịn chín điều lãnh”. Người ta cần lá phiếu (để cuối cùng là lợi ích) hơn là sự phát triển của đơn vị. Vì vậy, không ít những biểu hiện vuốt ve loại cán bộ vừa vừa, hạng ở giữa- mà theo Hồ Chí Minh thì loại cán bộ này bao giờ cũng nhiều hơn hết- mà không chú ý những nhân tố tích cực, những tiếng nói tâm huyết vì sự phát triển. Đây là loại cán bộ say sưa với chữ “nhẫn” theo kiểu nhẫn nhục chờ thời, vụ lợi, chứ không phải là “kiên trì và nhẫn nại”. Người ta sẵn sàng hy sinh tất cả để đổi lấy chút lợi ích vật chất tầm thường. Đó là loại cán bộ lãnh đạo-quản lý thiếu văn hóa, dưới văn hóa. Bản lĩnh Hồ Chí Minh là trọng dụng người hiền tài, muốn nghe nhiều loại ý kiến khác nhau, tạo bầu không khí dân chủ trong sinh hoạt. Cán bộ lãnh đạo hiện nay thì hầu như thích kẻ khéo ninh hót mình, ghét người chính trực, ghen ghét, đố kỵ, dìm người giỏi để giữ địa vị và danh tiếng của mình (Bác Hồ gọi là “đạo vị”).

Công cuộc đổi mới của đất nước đang đi vào chiều sâu. Trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững, mọi vấn đề đang phát triển theo quy luật. Sau giải phóng miền Nam đến trước đổi mới, sự tồn tại của đất nước cơ bản là do sự áp đặt quyền lực, duy ý chí. Trong bối cảnh lúc đó, nhiều nhận thức ấu trĩ, nhiều sự bằng lòng, thỏa mãn ngây thơ vẫn còn có đất tồn tại. Sau 25 đổi mới, theo xu thế phát triển của thời đại, cuộc sống đang vận động theo quy luật, không có đất cho những kiểu tư duy cũ kỹ, lạc hậu. Những cán bộ lãnh đạo-quản lý thiếu bản lĩnh văn hóa vẫn có thể còn tồn tại một thời gian nữa, nhưng đó chính là nỗi đau cho dân tộc. Bởi vì, mỗi ngày còn tồn tại những loại cán bộ đó là tạo thêm một cản lực, làm chậm con đường phát triển của đất nước. Tất nhiên theo quy luật, họ sẽ phải rời khỏi vị trí. Dưới ánh sáng Đại hội XI của Đảng, sự thắng lợi của công cuộc đổi mới không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh loại bỏ tư duy cũ kỹ, lạc hậu, kém bản lĩnh trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo-quản lý./.


PGS.TS Bùi Đình Phong
Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

[1] Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, H, 1996, t.10, tr.465.
[2] Hồ Chí Minh, Sdd, t.10, tr.469.
[3] Hồ Chí Minh, Sdd, t.4, tr.165.
[4] Hồ Chí Minh, Sdd, t.5, tr.261.

hochiminhhoc.com

Đồng chí Hồ Chí Minh

Có những cuộc gặp đã ghi lại trong ký ức suốt một đời người những dấu ấn không gì sánh nổi. Đó là cuộc gặp gỡ của chúng tôi với đồng chí Hồ Chí Minh.

PhimKMen-02LL.jpgHồ Chí Minh  với  Rôman Cácmen ở  chiến khu Việt  Bắc

Chúng tôi đi men theo một con đường mòn hẹp, men theo một vực thẳm, bên dưới có tiếng thác lũ vang lên. Rồi chúng tôi đi sâu vào trong một rừng tre, rừng cọ và chuối dại… bỗng nhiên chúng tôi nhìn thấy một cái lều tre. Trên bậc thềm, một người trong bộ quần áo nông dân tiến về phía chúng tôi.

Nếu như mấy ngày trước đó chúng tôi gặp vị Chủ tịch trên đường đi, trên cánh đồng, hẳn chúng tôi nghĩ đó là một người nông dân bình thường. Chúng tôi chỉ được làm quen với khuôn mặt gầy gò, chòm râu bạc và nụ cười đôn hậu thân quen của Người qua các bức ảnh chân dung.

– Chào các đồng chí! Các đồng chí có khỏe không? – Người hồ hởi đưa cả hai tay ra đón và mời chúng tôi vào mái lều tre của mình.

Và chúng tôi ngồi xuống bên chiếc bàn ghép bằng các ván gỗ, phe phẩy chiếc quạt làm bằng lá cọ, ngay từ những lời đầu tiên của buổi nói chuyện đã xua tan cảm giác căng thẳng và hồi hộp mà khi tới đây chúng tôi nghĩ sẽ là một cuộc gặp mặt quan trọng với một chiến sĩ cách mạng huyền thoại của Đông Dương – Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ở đây, trong thung lũng Chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí Minh đã trải qua tám năm của cuộc chiến tranh khốc liệt, trong những cuộc hành quân, trong những ngày làm việc căng thẳng. Nhưng không một khó khăn gian khổ nào, không một hiểm nguy, thiếu thốn nào có thể làm nản lòng một con người nguyện cống hiến cả cuộc đời cho cuộc đấu tranh vì tự do, hạnh phúc cho nhân dân mình. Vào năm thứ tám của cuộc kháng chiến, Người đã 64 tuổi, nhưng trước mắt chúng tôi là một con người vẫn tràn đầy sinh lực. Trên gương mặt gầy gò, sạm nắng và vầng trán thanh cao chưa hề có những nếp nhăn. Người luôn nhìn chúng tôi với ánh mắt rạng ngời, tinh anh. Đôi lúc, trên đôi mắt hiền hậu đó thoáng một nét ưu tư. Đó là khi Người nhắc đến những nỗi thống khổ , về những hy sinh, mất mát của nhân dân và về sự tàn bạo của kẻ thù. Suốt cuộc đời mình Hồ Chí Minh luôn có một ước ao cháy bỏng là Việt Nam sẽ giành được tự do và độc lập trong cuộc kháng chiến chống thực dân. Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời cho mục tiêu của cuộc đấu tranh này.

THƯ CỦA GIENEVIEVA GALLARD

Mái nhà tre của Hồ Chí Minh trông không khác gì hàng ngàn ngôi nhà của những người nông dân Việt Nam. Có khác chăng chỉ là trong ngôi nhà đó – ngôi nhà mà lúc tới thăm được gọi là “Phủ Chủ tịch” – có hai tầng. Tầng dưới bậc thềm là phòng làm việc, tầng phía trên là phòng nghỉ. Trên bàn làm việc có một chồng báo mới, chiếc máy chữ nhỏ xách tay Người thường dùng để viết báo, tài liệu, những lời kêu gọi nhân dân và quân đội, rất nhiều sách… Trên tầng hai trải một chiếc chiếu, có một số vật dụng đơn sơ và một chiếc vali mây đã cũ. Trong góc phòng có con mèo vàng cuộn tròn với ba con mèo con. Bao bọc xung quanh khu nhà tre của Chủ tịch là những khóm tre, cây cọ, một không gian thanh bình với những tiếng chim hót và tiếng suối chảy róc rách.

Chúng tôi không thể tả xiết sự ngạc nhiên của mình khi nhìn thấy ngôi nhà lá đơn sơ và cuộc sống bình dị của Người.

– Tôi đã quen sống như thế này rồi – Người nói, – Các đồng chí thấy đấy, bất cứ lúc nào tôi cũng có thể lên đường ngay được. Những năm tháng đấu tranh cách mạng và hoạt động bí mật đã tập cho tôi thói quen như thế. Nhanh nhẹn hệt như một du kích. Chỉ 5 phút đã chuẩn bị xong và có thể hành quân ngay được.

Người ân cần hỏi han về chặng đường chúng tôi đã đi qua:

– Chúng tôi đã rất quan tâm – Người nói – đến chuyến bay đặc biệt để nhanh chóng đưa các đồng chí đến Việt Nam. Nếu không các đồng chí đã phải trải qua một chặng đường dài – qua Thượng Hải, Quảng Châu. Các đồng chí ở lại Bắc Kinh có lâu không? Đây chắc không phải lần đầu tiên các đồng chí đến Bắc Kinh? Các đồng chí đã ở đó nhiều năm dưới thời Tưởng Giới Thạch. Các đồng chí có nhận thấy những thay đổi đang diễn ra không? Chắc các đồng chí đã nhìn thấy một Trung Quốc mới.

Tôi đã kể cho Người nghe về những ấn tượng của mình.

– Các đồng chí có quen được với khí hậu ở đây không? Ở đây rất nóng nực.

– Chúng tôi đã quen rồi, thưa đồng chí Hồ Chí Minh! – Giênia Mukhina nói và phe phẩy chiếc quạt lá cọ, lau những giọt mồ hôi trên trán và đang lăn dài xuống cổ áo.

Câu chuyện chuyển sang những vấn đề liên quan đến công việc.

– Theo tôi chúng ta nên lập kế hoạch quay phim, ghi hình – Hồ Chí Minh nói – Việc này có một đồng chí từ Trung ương sẽ giúp các đồng chí. Các đồng chí chưa gặp đồng chí Trường Chinh phải không? Nhất thiết là phải gặp và nói chuyện với đồng chí ấy. Hãy làm quen cả với một số người làm công tác văn hóa, nghệ thuật của chúng tôi. Rất tiếc là các nhà văn của chúng tôi viết còn ít. Chúng tôi đã được đọc những mẩu chuyện của Bôrit Pôlêvôi viết về những con người bình dị. Không hiểu sao các nhà văn của chúng tôi chưa bắt tay vào đề tài này. Thực tế chúng tôi có rất nhiều anh hùng là những chiến sĩ nông dân thầm lặng, chỉ cần chỉ ra tầm vóc của họ mà thôi. Tất nhiên đó sẽ là việc của các đồng chí trong quá trình làm phim. Nhân thể tôi muốn mời các đồng chí gặp gỡ những chiến sĩ anh hùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ mà chúng tôi sẽ trao phần thưởng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kể cho chúng tôi về chiến dịch vừa kết thúc ở Điện Biên Phủ – đó là một chiến dịch lịch sử mà Quân đội và nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi to lớn. Đã bắt được 17 ngàn binh sĩ và sĩ quan quân đội Pháp làm tù binh. “Đội quân viễn chinh Pháp đã bị tiêu diệt” – Báo chí Pháp thời gian này đã viết như vậy.

Hồ Chí Minh cho chúng tôi xem bức thư của nữ y tá Gienevieva Gallard – là người phụ nữ duy nhất có mặt tại căn cứ địa Điện Biên Phủ và bị bắt làm tù binh. Trong thư cô đã xin Chủ tịch thả cô khỏi trại giam. Cô ta hứa nếu Chính phủ Cộng hòa khoan dung thì hãy thả cô ấy – người phụ nữ duy nhất – cô ấy sẽ hiến dâng toàn bộ sức lực của mình cho cuộc đấu tranh vì hòa bình ở Việt Nam.

– Tôi đã viết cho cô ấy – Hồ Chí Minh nói với nụ cười đôn hậu – rằng thư của cô ta đã đến muộn hơn 2 ngày khi tôi đã ký quyết định trả tự do cho cô ta. Hội Phụ nữ Việt Nam đã đưa ra đề nghị này. Các bạn thấy đấy! Chúng tôi giữ cô ấy trong tù làm gì? Một người phụ nữ yếu đuối, ở trong tù chắc sẽ rất nặng nề. Người ta đã thả cô ấy cách đây không lâu.
Người cho chúng tôi xem tờ báo mới của Pháp – cuộc phỏng vấn đầu tiên của cô ta ở Hà Nội. Cô ấy đã kể rất chân thực về thái độ nhân đạo của Quân đội nhân dân Việt Nam với các tù binh Pháp, về sự quan tâm của các chiến sĩ, sĩ quan và bác sĩ của chúng tôi với các binh sĩ và sĩ quan Pháp bị thương. Ở Pháp cô ấy được nhân dân vinh danh là Anh hùng dân tộc và được ghi vào bảng vàng danh dự. Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng cô ấy trở thành một chiến sĩ tích cực đấu tranh vì hòa bình ở Việt Nam. Cô ấy đã tận mắt chứng kiến những nỗi kinh hoàng và tàn khốc của cuộc chiến tranh thực dân.

CHÚNG TA KHÔNG ĐƠN ĐỘC

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về tướng Đờ Cáxtri bị bắt sống cùng với toàn bộ tập đoàn cứ điểm tại Điện Biên Phủ.

– Đờ Cáxtri lớn tiếng nói về hòa bình. Đó là khi mà ông đã bị bắt làm tù binh. Trước đây ông ta không hề nói đến hòa bình.

Hồ Chí Minh rất bình tĩnh khi nói đến tên tướng xâm lược hiện đang nằm trong trại tù binh. Trong lời nói của vị Chủ tịch già không tỏ ra hả hê với chiến thắng. Người chỉ lắc đầu khi nói đến sự tàn bạo của tên tướng Đờ Cáxtri. Cuốn tạp chí Pháp “Paris Match” trên bàn Chủ tịch có in in ảnh của một người gầy gò, chiếc mũi khoằm giống như mỏ con chim ác điểu.

– Đó là một con người tàn bạo – Hồ Chí Minh nói và lắc đầu. Những người dân Hà Đông, những người mẹ đã khóc cạn nước mắt vì mất những đứa con trai ngoài chiến trận, vì những đứa con gái bị lính lê dương hành hạ, làm nhục. Đó chính là ông ta, tướng Đờ Cáxtri – người đã chỉ huy chiến dịch càn quét ở vùng châu thổ sông Hồng vào tháng 6 năm 1951. Theo lệnh của ông ta, hàng ngàn tấn gạo của nông dân vừa mới thu hoạch được đã bị tẩm xăng thiêu hủy, hoặc bị đổ xuống ruộng lầy, ao chuôm hay vung vãi trên đường. Cũng theo lệnh của ông ta, xe tăng đã ủi sạch cả những cánh đồng lúa đang trổ bông, thiêu trụi 3 ngàn ngôi nhà của nông dân và hàng trăm con người bị tình nghi có tham gia hoạt động du kích đã bị bắn chết. Giờ đây, trong tù, Đờ Cáxtri đã phủ nhận tất cả những hành động dã man đó. Ông ta phủ nhận tất cả, chỉ nói đôi câu:

– Tôi là một người lính, tôi chỉ thực thi mệnh lệnh.

Những từ đó đã quá quen thuộc! Chúng tôi những người dân Xôviết trong suốt 4 năm ở Xmônlen, ở Xtalingrát, ở những vùng quê Ucraina thấm đẫm máu, ở vùng Vôlôcôlamxki, đã từng nghe những từ đó “Tôi là một người lính…”. “Tôi là người lính…”- tên tướng Keitel đã nói khi hắn bị dồn ép đến chân tường tại Tòa án quân sự Nuirembéc.
Đại tá Đờ Cáxtri được hứa sẽ phong hàm cấp tướng ở Việt Nam. Vì chiếc cầu vai cấp tướng mà ông ta đã bị ném vào cuộc nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Và ông ta đã phải đầu hàng khi chưa kịp nhìn thấy chiếc cầu vai đó. Bây giờ trong trại tù binh ông ta nói: “Tôi là người lính…”.

Hồ Chí Minh nói đến Hiệp định Giơnevơ. Lúc đó khó có thể đoán trước được kết quả tại vòng đàm phán tại Giơnevơ. Nhưng không thể không thắng lợi trên bàn đàm phán. Bởi lẽ, lực lượng yêu chuộng hòa bình đang dấy lên mạnh mẽ trên toàn thế giới. Người cho chúng tôi xem một bức thư:

– Các đồng chí hãy xem đây, đó là thư đến từ Giơnevơ. Một trong số thành viên của phái đoàn chúng tôi viết cho người bạn của mình: “Chúng tôi rất thoải mái. Chúng tôi không đơn độc. Bên cạnh chúng tôi có đồng chí Chu Ân Lai, Môlôtốp. Chúng tôi đã đi qua Trung Hoa đại lục. Ngày 1-5, chúng tôi đã có mặt ở Quảng trường Đỏ. Ở đó chúng tôi đã được biết đến thắng lợi vang dội ở Điện Biên Phủ. Chúng ta đã có nhiều thuận lợi hơn và chúng ta dũng cảm hướng tới tương lai…”.

Tôi đã nhận được hàng ngàn bức thư – đến từ mọi miền của đất nước: từ những người lính, những người nông dân, có nhiều thư đến từ vùng địch tạm chiếm. Tất cả những bức thư đó đã được nhân dân Việt Nam gửi đến cho phái đoàn Việt Nam ở Giơnevơ. Những bức thư này là niềm tin vào sức mạnh của mình, niềm tin vào thắng lợi của lực lượng yêu chuộng hòa bình. Ngay cả những người mà trước đây chúng tôi gọi là những “người ngủ trong chăn” cũng đã bắt đầu quan tâm đến tình hình chiến sự. Ở Hà Nội, họ đã ký vào quyết tâm thư bày tỏ sự ủng hộ bài phát biểu mới nhất của đồng chí Phạm Văn Đồng tại Hội nghị Giơnevơ. Một người nông dân đã viết: “Chúng tôi tăng gia sản xuất, những đứa con trai của chúng tôi đang chiến đấu ở Điện Biên Phủ, các đồng chí hãy chiến đấu ở Giơnevơ. Chúng ta cùng trên một trận chiến vì hòa bình”.

Hồ Chí Minh là người rất giản dị và khiêm nhường. Từ chối không cần có thư ký riêng, Người tự đọc qua tất cả các thư tín gửi đến, tự phúc đáp, tự đánh máy các bài viết của mình. Người thường có những buổi đi bộ dài ngày, xuống núi, đơn giản chỉ để gặp gỡ, trò chuyện với những người nông dân trong các bản làng, trên cánh đồng lúa. Người cười vui khi kể cho chúng tôi nghe câu chuyện gặp hổ trong đêm. Hoảng sợ bởi ánh đèn pha ôtô, con hổ đã bỏ chạy. Hồ Chủ tịch nói:

– Con thú đáng sợ nhất – đó là những tên đế quốc thực dân. Vì con hổ chỉ tấn công người khi nó đói, còn chúng thì giết người, cướp của. Những con thú này từ lâu đã biết rằng nô dịch và tiêu diệt một dân tộc đang chiến đấu vì tự do là không thể và phi nghĩa. Đó là sự ngu xuẩn của những kẻ lao đầu vào chỗ chết.

– Chúng ta sẽ phải làm việc khá vất vả đó – Người nói – Chúng tôi sẽ cố gắng bằng tất cả những gì có thể để tạo điều kiện cho các đồng chí, rất tiếc là trong lúc này, khó khăn đang chồng chất khó khăn.

Hồ Chí Minh rất nồng nhiệt khi nói đến những tình cảm của người Việt Nam với Liên Xô.

– Các đồng chí, những người Xôviết đầu tiên đã đến đất nước chúng tôi, các đồng chí sẽ cảm nhận thấy những tình cảm đó trong từng bước đi.

Người xúc động vân vê điếu thuốc bằng những ngón tay gầy guộc, đôi mắt Người rưng rưng xúc động khi chúng tôi kể về những hoạt động thể hiện tình hữu nghị, cảm thông chia sẻ và đoàn kết chiến đấu với nhân dân Việt Nam. Chúng tôi còn kể cho Người nghe về Liên hoan thanh niên và sinh viên toàn thế giới lần thứ tư diễn ra tại Bucarét, mọi người đã công kênh những anh hùng trẻ tuổi của Việt Nam quanh sân vận động như thế nào.
Hồ Chí Minh nói chuyện với chúng tôi bằng tiếng Nga. Chúng tôi hỏi Người:

– Chủ tịch học tiếng Nga có vất vả lắm không?

Người trả lời:

– Người cách mạng cần phải biết tiếng nói của Lênin.

– Chủ tịch làm việc mấy giờ một ngày?

– Chim rừng đánh thức tôi dậy – Người nói – tôi đi nằm lúc trên trời xuất hiện những vì sao.

Sau này chúng tôi mới biết không hoàn toàn là như vậy. Nhiều đêm chúng tôi thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh chống gậy tre, tay áo xắn cao đi theo ánh đuốc của đồng chí cảnh vệ trên con đường hẻm trong rừng, đến một bản xa nào đó trong núi hoặc đi họp Hội đồng Chính phủ về muộn.

Chúng tôi đã làm việc cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh gần trọn một ngày. Đôi lúc, Người xin lỗi chúng tôi trở về bàn làm việc của mình để xem thư hỏa tốc, nói chuyện điện thoại. Những lúc như vậy, Người lại đưa một tập báo mới và họa báo Pháp cho chúng tôi xem hoặc bảo chúng tôi đi tham quan quanh khu “Phủ Chủ tịch” của mình.

Trong buổi gặp của chúng tôi còn có nhà thơ Tố Hữu và đồng chí Hoàng Tùng. Đó là những người bạn mà chúng tôi đã được gặp lần đầu tiên ở Ban Chấp hành Trung ương.

Tiễn chúng tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

– Chúng tôi sẽ gặp các đồng chí thường xuyên hơn. Cứ mạnh dạn yêu cầu tất cả những gì cần thiết cho công việc của các đồng chí.

– Chúng tôi có một thỉnh cầu, thưa Chủ tịch – tôi nói – Đầu tiên và chính yếu nhất đó là chúng tôi muốn được quay cảnh đất nước vào ban ngày. Những cuộc di chuyển vào ban đêm không thể làm được điều đó. Rất mong đồng chí cho phép chúng tôi được đi ôtô vào ban ngày. Đồng chí hãy yên tâm, cả ba chúng tôi đều có đủ kinh nghiệm trong chiến đấu nên sẽ kịp thời tránh được những trận công kích bằng máy bay.

Hồ Chí Minh im lặng một lát rồi nói:

– Không thể được! Chúng tôi đã mất rất nhiều những người con ưu tú của Đảng vì đã bị trúng bom, bị máy bay tập kích. Tôi rất hiểu những khó khăn của các đồng chí, nhưng để các đồng chí gặp nguy hiểm thì tôi không thể. – Nếu các đồng chí muốn đi vào ban ngày, thì các đồng chí nên đi bộ, bằng ngựa hoặc xe đạp. Dứt khoát không được đi bằng ôtô – đó là mệnh lệnh của chúng tôi.

Nhìn nét mặt thất vọng của chúng tôi, Người mỉm cười bắt tay chúng tôi và nói:

– Thế nhé! Đồng ý cả chứ, tất cả đã rõ!…


Rôman Cácmen[1]
Theo Văn hóa Nghệ An

[1]: Đạo diễn phim tài liệu nổi tiếng của Liên Xô. Là một trong những người đầu tiên làm phim tài liệu về Hồ Chí Minh trong vùng giải phóng Việt Bắc năm 1954.

hochiminhhoc.com

“Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”

Đó là lời Bác Hồ trong bài nói ngày 29- 12 tại kỳ họp Hội đồng Chính phủ cuối năm 1966. Lời của Bác không chỉ có ý nghĩa trong công tác lưu thông phân phối mà nhìn rộng ra, có giá trị về mặt văn hóa, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng (GDP) và phát triển bền vững, một khía cạnh của văn hóa chính trị.

179634080573893750000.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tham gia lao động sản xuất. Ảnh: Tuấn Anh

1. Nhận thức về mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển bền vững

Điều đáng mừng là các văn kiện Đại hội XI của Đảng bàn tới phát triển nhanh, bền vững. Tuy nhiên nhận thức có chất lượng khoa học và cách mạng quan điểm này thì phải cần đến các nhà khoa học có tâm huyết, có trách nhiệm với sự sống còn của đất nước, của chế độ bởi vấn đề không phải chỉ là phát triển hay văn hóa, mà là chính trị. Đó là một góc nhìn về văn hóa chính trị.

Điều này không mới. Khổng Tử vĩ đại đã đề cập tới mà có nhà nghiên cứu cho rằng đó là tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng phương Đông. Từ tháng 5-1921, trên Tạp chí Cộng sản, Hồ Chí Minh đã trân trọng dẫn lại lời Khổng Tử. Xin được dẫn nguyên văn: “Khổng Tử vĩ đại (551 trước C.N) khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản. Ông từng nói: thiên hạ sẽ thái bình khi thế giới đại đồng. Người ta không sợ thiếu, chỉ sợ có không đều. Bình đẳng sẽ xóa bỏ nghèo nàn, v.v…

Học trò của Khổng Tử là Mạnh Tử, tiếp tục tư tưởng của thầy và vạch ra một kế hoạch chi tiết để tổ chức sự sản xuất và tiêu thụ. Sự bảo vệ và phát triển lành mạnh của trẻ em, sự giáo dục và lao động cưỡng bức đối với người lớn, sự lên án nghiêm khắc thói ăn bám, sự nghỉ ngơi của người già, không có điều gì đề án của ông không đề cập đến. Việc thủ tiêu bất bình đẳng về hưởng thụ, hạnh phúc không phải cho một số đông mà cho tất cả mọi người, đấy là đường lối kinh tế của vị hiền triết.

Trả lời một câu hỏi của vua, ông đã nói thẳng thắn: dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”(1).

Tư tưởng Khổng, Mạnh như đã nói, có nghiên cứu cho rằng đó là tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng phương Đông, đã được Hồ Chí Minh khai thác, chọn lọc tiếp thu như Các Mác đã tiếp thu tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp thế kỷ XIX của Xanh Ximông, Ôoen, Phuriê.

Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp là tiền đề khoa học và lý luận (cùng với tiền đề kinh tế và tiền đề chính trị-xã hội) để hình thành chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội khoa học. Nhưng một thời gian dài, do không trở lại một cách nghiêm túc những tiền đề đó, nên có lúc chúng ta ngộ nhận, chủ quan, không phác họa được đầy đủ bức tranh phát triển bền vững ở Việt Nam; chúng ta không lường hết được hậu quả khôn lường khi tư duy chỉ nghĩ về tăng trưởng kinh tế.

Tư duy của Việt Nam cũng nằm trong dòng chảy tư duy nhân loại suốt nửa sau thế kỷ XX, coi GDP là cứu cánh, thước đo sự phát triển. Hai nước trên thế giới là ấn Độ và Trung Quốc luôn luôn tự hào là có mức tăng trưởng cao (ấn Độ 8%/năm; Trung Quốc 10%/năm). Trước Đại hội XI, Việt Nam có những năm cũng tự hào có mức tăng trưởng cao sau Trung Quốc, đứng thứ hai thế giới. Gần đây, tháng 3-2011, Quốc vụ viện Trung Quốc đã quyết định chấm dứt chính sách chủ yếu dựa vào cơ sở GDP. Tờ Tạp chí Chính thức của Bắc Kinh đã đăng bài Giã từ sự tôn thờ GDP, coi như bỏ đường lối phát triển lấy tăng lợi tức làm cơ sở. Kế hoạch 5 năm 2011 – 2015 hạ chỉ tiêu xuống còn 7% để tập trung vào phát triển bền vững. Báo ấn Độ The Hindu thì phê phán những người ấn Độ đặt vấn đề bao giờ thì đất nước mình đuổi kịp Trung Quốc (từ 8% lên 10% GDP/ năm). Bài báo viết: “Đặt vấn đề như vậy là ngu ngốc. Không những vì đánh giá tăng trưởng bao giờ cũng sử dụng những yếu tố độc đoán (chủ quan) mà còn vì mức sống của nhân dân chỉ được ảnh hưởng phần nào và gián tiếp của tổng thể tăng trưởng kinh tế”(2).

Như vậy, thế giới đã dần tỉnh giấc và chợt nhận ra sự chệch hướng khi lấy GDP làm thước đo hạnh phúc con người và sự phát triển của quốc gia. Chất lượng khoa học của nhận thức tạo ra giá trị ở chỗ càng ngày người ta càng thấm thía rằng toàn dân không được lợi từ cái bánh GDP. Nhiều nước lạm phát tăng nhanh, tỷ lệ thuận với tăng GDP, giá cả các loại tăng vọt, giá thuê nhà ở tăng… Nhiều nước như Mỹ, Trung Quốc, sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng tăng(3). Như vậy, tăng trưởng mạnh, tổng sản phẩm quốc gia (GDP) cao, nhưng người dân đâu có giàu, chưa nói gì đến sướng và hạnh phúc.

2. Một khía cạnh văn hóa chính trị trong di sản Hồ Chí Minh

Nhận thức như vừa nêu của thế giới chẳng có gì mới so với những gì có trong di sản Hồ Chí Minh. Như đã trình bày, từ năm 1921, Hồ Chí Minh đã nhắc lại lời người thầy là Khổng Tử về hạnh phúc cho tất cả mọi người.

Hồ Chí Minh quan tâm tới hạnh phúc của nhân dân, bàn tới phát triển và phát triển bền vững, một khía cạnh của văn hóa chính trị từ rất sớm. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Người từng bước biến tư tưởng của thầy từ không tưởng đến khoa học. Hồ Chí Minh đi từ học thuyết giải phóng đến học thuyết phát triển, từ nước có độc lập đến dân phải được hạnh phúc, tự do. Người nói rằng “chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ. Chúng ta phải thực hiện ngay: 1- Làm cho dân có ăn. 2- Làm cho dân có mặc. 3- Làm cho dân có chỗ ở. 4- Làm cho dân có học hành”. Muốn có tự do, hạnh phúc phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo Người, mục đích trước sau chỉ có một là chủ nghĩa xã hội, nhưng con đường để đạt mục đích đó thì có nhiều và phải biết vận dụng và phát triển sáng tạo: “Từ cộng sản nguyên thủy, đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản, đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản)- nói chung thì loài người phát triển theo quy luật nhất định như vậy. Nhưng tùy hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau”(4). Người viết: “Ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(5). Đối với Việt Nam đó là con đường qua chế độ dân chủ mới, tức là sự phát triển của Việt Nam trải qua ba giai đoạn: giải phóng dân tộc – dân chủ nhân dân – chủ nghĩa xã hội.

Người luôn hướng tới mục đích “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Người dặn: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu. Người khá giàu thì giàu thêm. Người nào cũng biết chữ. Người nào cũng biết yêu nước và đoàn kết”(6). Cách làm là “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”. Người chăm lo xây dựng một xã hội học tập suốt đời, bởi vì “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu; dốt thì dại, dại thì hèn”. “Trồng người” là chiến lược số một và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh theo tinh thần “vì lợi ích trăm năm phải trồng người”. Một trong những thông điệp đầu tiên của Hồ Chí Minh trong những ngày đầu của nước Việt Nam mới là chống nạn thất học. Người đã có đóng góp to lớn vào sự nghiệp giáo dục cho tất cả mọi người. Quan điểm của Người là “muốn giữ vững nền độc lập, làm cho dân giàu nước mạnh thì mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Những người đã biết chữ dạy cho người chưa biết chữ. Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học. Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn người làm không biết thì chủ nhà bảo…”. Ông Hans D’Orville, Phó Tổng Giám đốc UNESCO nhấn mạnh rằng “Hồ Chí Minh đã đưa ra thông điệp này cách đây 60 năm, nhưng đến nay nó vẫn còn giữ nguyên vẹn giá trị. Đặc biệt, sự chú trọng của Người đối với tình trạng bất bình đẳng về điều kiện sống và về thế giới cho đến nay vẫn mang tính toàn cầu và đúng với mọi lứa tuổi”(7).

Theo bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, “văn hóa đang trở thành một nhân tố chủ chốt của phát triển bền vững”, và chính Hồ Chí Minh, theo ghi nhận của Nghị quyết của Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp lần thứ 24 của cơ quan này tại Pari năm 1987, đã có những đóng góp quan trọng về nhiều mặt trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật. Phát biểu tại Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” tổ chức trong hai ngày 12 và 13-5-2010 tại Hà Nội, bà Katherine nhấn mạnh nhiều mặt về cống hiến của Hồ Chí Minh trong các hoạt động văn hóa như là hướng tới sự phát triển bền vững ở Việt Nam. Bà đánh giá cao đơn vị thống kê theo Sắc lệnh thành lập Bộ Kinh tế quốc gia từ năm 1946 của Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm thống kê các số liệu về dân số, tình hình tài chính, kinh tế, chính trị, các số liệu về văn hóa, vì điều này phù hợp với sự quan tâm của Viện Thống kê UNESCO trong những năm qua để xây dựng một khung hành động dựa vào thực tế cho thống kê văn hóa, phục vụ cho nhiệm vụ phát triển bền vững.

Đối với UNESCO, bình đẳng giới là một quyền cơ bản của con người, một giá trị chung, và cũng là một điều kiện cần thiết để đạt được các mục tiêu phát triển quốc tế, trong đó có tất cả các mục tiêu phát triển của Thiên niên kỷ. Suy cho cùng, việc nâng cao quyền lực của phụ nữ và bình đẳng giới là những vấn đề chính trị cần có sự hưởng ứng và cam kết của các nhà lãnh đạo thế giới và những người làm chính sách. Theo bà Katherine, điều này được Hồ Chí Minh quan tâm trong suốt đời mình đến tận khi viết Di chúc.

Bà Ketherine nhấn mạnh sự quan tâm của Hồ Chí Minh đối với việc trồng cây và bảo vệ môi trường. Theo bà, “việc làm đó đã vượt qua biên giới tới mức, trong các chuyến thăm nước ngoài hoặc mỗi khi tiếp đón khách ngoại quốc, Người hay tổ chức lễ trồng cây và gọi những cây này là “cây hữu nghị”, biểu tượng cho quan hệ giữa Việt Nam và thế giới, cũng thể hiện thái độ tích cực với môi trường. Ngay cả trong Di chúc của mình, Hồ Chí Minh khuyến nghị những người viếng thăm trồng cây tưởng niệm”.

Bà Katherine so sánh quan điểm của Hồ Chí Minh từ năm 1945 về “xóa bỏ nạn mù chữ có nghĩa là tạo nên một phong trào giáo dục đại chúng” với nỗ lực của UNESCO từ năm 1946 nhằm “xóa bỏ nạn mù chữ trên toàn cầu với những chương trình như Giáo dục cho mọi người. Đây là một yếu tố cần thiết cho việc xóa nghèo, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em, kiềm chế sự phát triển dân số, đạt được sự bình đẳng giới và đảm bảo phát triển bền vững, hòa bình và dân chủ. Hơn thế, thật thú vị khi đọc trong Công báo Quốc gia Việt Nam 1945 thấy rằng Bộ Giáo dục được thành lập ngay sau khi Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh có mối tương liên với bốn trụ cột của việc học đã được ủy ban về Giáo dục cho Thế kỷ XXI xác định trong báo cáo của họ trình lên UNESCO trong thập kỷ 1990 như là những nguyên tắc cơ bản định hình lại giáo dục, đó là: Học để biết, học để làm, học để làm người và học để chung sống”(8).

Người quan tâm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Theo Người “Chính phủ là công bộc của dân” và mọi hoạt động của Chính phủ phải “sao cho được lòng dân”. Nói đến Nhà nước là nói đến quyền làm chủ của nhân dân, quyền con người. Cuộc đời hoạt động chính trị của Hồ Chí Minh mang giá trị văn hóa chính trị là thực hành dân chủ với nhân dân, đấu tranh cho quyền con người và quyền các dân tộc. Tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 nhắc đến “quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ “đã nói trước được điều mà 15 năm sau, vào năm 1960, Liên hợp quốc đã đưa vào trong Tuyên bố trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa”(9).

Đất nước ta do Đảng lãnh đạo. Đảng ta là Đảng cầm quyền, lãnh đạo xã hội, lãnh đạo Nhà nước. Hồ Chí Minh quan tâm tới văn hóa cầm quyền của Đảng, trong đó quan trọng nhất là đề ra được đường lối đúng đắn, khoa học, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, từ nguyện vọng lòng dân, gắn liền với xu thế thời đại, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin. Đó là một Đảng biết trọng dân, tin dân, hiểu dân, học dân, gần dân; chăm lo dân quyền, dân sinh, dân trí, dân chủ, dân vận; trọng dụng nhân tài. Đảng không giấu giếm khuyết điểm, dám tự phê bình và phê bình, dám nhận trách nhiệm trước dân. Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, không có ngoại lệ. Tóm lại, đó là một Đảng chân chính cách mạng, đạo đức và văn minh, không phải là một tổ chức làm quan phát tài, ngoài lợi ích của dân tộc và Tổ quốc, Đảng không có lợi ích gì khác. Đảng không lãnh đạo được một đất nước đảm bảo sự công bằng, dân chủ, văn minh, thì dù có những thành tích trước mắt, GDP có thể cao, nhưng vẫn khó giữ được lòng tin của nhân dân, mà mất lòng tin của nhân dân là mất tất cả. Hồ Chí Minh viết: “Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”(10).

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại tài liệu Tuyệt đối bí mật, một văn kiện lịch sử vô giá – Cương lĩnh xây dựng đất nước sau chiến tranh. Người kỳ vọng về một đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”: “Còn non, còn nước, còn người/ Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Người dặn dò Đảng phải không ngừng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Di sản Hồ Chí Minh là bức tranh về một xã hội tương lai. Đó là triết lý phát triển bền vững Việt Nam theo tiêu chí của Liên hợp quốc trong Chương trình nghị sự XXI: (1) Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực; (2) Đạt phổ cập giáo dục tiểu học; (3) Tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ; (4) Giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em; (5) Tăng cường sức khỏe bà mẹ; (6) Phòng chống sốt rét và các bệnh khác; (7) Bảo đảm bền vững môi trường; (8) Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì phát triển(11).

Ông Hans D’Orville, Phó Tổng Giám đốc UNESCO khẳng định trong buổi mít tinh ở Đại sứ quán Việt Nam tại Paris, tối 14-5-2010: “Hồ Chí Minh trở thành một người thầy về cuộc sống tiếp thu trong một thế giới có xu hướng toàn cầu hóa hiện nay… Chúng ta phải công nhận rằng thông điệp của Hồ Chí Minh mang giá trị toàn cầu, và nó luôn có giá trị thời đại, bởi vì nó hướng tới tương lai… Bản tính của Người là luôn lo lắng phấn đấu cho một tương lai được xây dựng trên nền tảng của sự công bằng, bình đẳng, biết truyền thụ và chia sẻ sự đa dạng văn hóa và để các nền văn hóa xích lại gần nhau. Chính vì tầm vóc vĩ đại của con người Hồ Chí Minh mà chúng ta đã vinh danh Người ở UNESCO và trên thế giới”(12).

PGS.TS Bùi Đình Phong
Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

………………………..

(1) Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1995, t.1, tr.35.
(2) Xem Hữu Ngọc: Dân giàu và GDP, Báo Sức khỏe và đời sống, ngày 24-4-2011.
(3) ở Mỹ, 1% dân số người giàu chiếm 1/4 lợi tức quốc gia
(4) Hồ Chí Minh, Sđd, t.7, tr.247
(5) Hồ Chí Minh, Sđd, t.8, tr.227.
(6) Hồ Chí Minh, Sđd, t.5, tr.65.
(7) Hans D’Orville: Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị thời đại, http://www.tuanvietnam.net, ngày 20-5-2010.
(8) Xem Katherine Muller Marin: Những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực hoạt động của UNESCO, Đặc san Thông tin tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh, số 27, tháng 6-2010, tr.14-17.
(9) Hans D’Orville: Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị thời đại, tài liệu đã dẫn.
(10) Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr.293.
(11) Chương trình này còn gọi là Tuyên bố Thiên niên kỷ, được 189 vị đứng đầu Nhà nước và Chính phủ các quốc gia thành viên Liên hợp quốc cam kết thực hiện, tháng 9-2000.
(12) Han D’Orville: Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị thời đại, http://www.tuanvietnam.net, ngày 20-5-2010.

hochiminhhoc.com

Những lời dạy dễ hiểu của Người (Phần 5)

Chúng ta xem phim về Bác thường thấy cảnh Bác Hồ quàng khǎn đỏ cùng nhảy múa vui vầy với đàn cháu nhỏ hay chơi bóng chuyền cùng anh em trong cơ quan hoặc cuốc đất trồng cây trong vườn với mọi người… những sinh hoạt đời thường cùng vui với mọi người là một bộ phận không thể thiếu được trong cuộc đời của con người, nó càng làm giàu thêm đời sống tinh thần, tâm linh trong mối bang giao giữa người với người, ở Bác càng đặc biệt hơn.

Nhớ lần chị Giôhana sang Việt Nam, vào thǎm Bác lúc đó Bác đang câu cá ở ao, chị cùng vui câu cá với Bác, chị nói: “Thưa Bác, ở nhiều nước trên thế giới vì muốn vị nguyên thủ của mình vui lòng nên người ta dồn cá thật nhiều, có khi bí mật mắc cá vào câu, hoặc khi đi sǎn thì dồn thú thật nhiều vào một chỗ để vị nguyên thủ dễ sǎn được thú”. Bác cười vui và bảo: “Bác là người câu cá lành nghề và có đôi chân tay vững vàng, đôi mắt tinh tường nên không phải làm như thế”.

Nǎm 1969, sức khoẻ Bác đã yếu, lúc đó có đoàn làm phim của Đảng cộng sản Nhật Bản sang làm bộ phim “Việt Nam chống Mỹ” yêu cầu kịch bản có nhiều hình ảnh Bác Hồ, mặc dầu sức yếu, Bác không những luôn có mặt ở trường quay đúng giờ để quay những cảnh cần hình ảnh Bác, mà còn động viên các diễn viên tham gia nhiệt tình giúp đỡ đoàn làm phim hoàn thành nhiệm vụ. Giờ nghỉ Bác chuyện trò vui vẻ với mọi người như một diễn viên già yêu nghệ thuật điện ảnh.

Nếp sinh hoạt thường ngày những việc nào làm được, Bác tự làm, không nhờ vả hay ỷ lại cho người khác làm thay mình, việc nào không làm được Bác thường mới nhờ đến những anh em gẫn gũi trong cơ quan, việc cắt tóc cũng vậy. Hồi hoạt động ở nước ngoài, Bác không mấy khi đến tiệm cắt tóc mà nhờ anh em cắt giúp, dành tiền để mua sách báo, khi về nước dù ở chiến khu hay về Hà Nội Bác thường nhờ anh em ai biết cắt tóc thì giúp Bác. Bác không yêu cầu mốt này kiểu nọ. Cắt tóc cho Bác cũng có nhiều kỷ niệm sâu sắc, một lần Bác yêu cầu đồng chí Mẫn, chỗ nào tóc dài cắt ngắn để cho gọn và mát mẻ, thấy chỗ tóc cắt ra quá đẹp, đồng chí giấu đi làm kỷ niệm. Hiện nay đồng chí đã trao lại kỷ vật đó cho phòng trưng bày khu di tích thân phụ Bác ở Cao Lãnh.

Biết đồng chí Thiệt là lính lần đầu đến cắt tóc cho Bác, Bác rất tâm lý, vừa gặp Bác chủ động chuyện trò vui vẻ: “Chú chờ Bác đã lâu chưa? Nhờ chú làm “tổng vệ sinh” giúp Bác”. Bác ân cần hỏi han chuyện gia đình, công tác… không khí tự nhiên ấm cúng, tình người được khơi dậy, tâm trạng lo âu, hồi hộp, chân tay lóng ngóng ở đồng chí tự biến mất. Trong lúc cắt tóc, Bác đùa vui: “Bác thì điều khiển cuộc họp, còn chú và chú thợ ảnh thì điều khiển Bác”. Tóc cắt xong, Bác đứng dậy khoe “Đấy, chú xem hôm nay Bác trông thanh niên chưa”.

Nǎm 1960, Tổng thống và phu nhân một nước châu Phi sang thǎm Việt Nam. Tổng thống rất quý Bác, thường nêu gương giản dị, tiết kiệm của Bác cho vợ nghe ngụ ý phê bình lối ǎn mặc kiểu cách xa hoa của vợ, thế là hai vợ chồng “bất đồng quan điểm”. Bác biết được sự việc, Bác mời hai vợ chồng vào thǎm nơi ở và làm việc của Người. Bác trực tiếp ra đón vợ chồng Tổng thống khi gặp, Bác tươi cười và khen: “ồ hôm nay trông phu nhân mặc đẹp quá, vẻ lộng lẫy của phu nhân làm cho những bông hoa trong vườn cũng phải ghen đấy”. Phu nhân Tổng thống cảm ơn và hỏi: “Thưa Bác, nếu ai đó có vinh dự là người bạn đời của Bác thì người đó ǎn mặc thế nào ạ?”. Bác vui vẻ trả lời: “Tất nhiên phải ǎn mặc đẹp chứ, thật đẹp, đẹp như phu nhân hôm nay”. Mọi người đều vui vẻ, riêng Tổng thống trong ánh mắt nhìn Bác tỏ lòng biết ơn và cảm phục Bác đã giảng hoà cuộc chiến tranh lạnh” giữa hai người.

Sau chiến dịch Biên giới 1950, ta bắt được một số tù binh, nhưng chúng rất ngoan cố, không nhận chúng sang Việt Nam là đi xâm lược biết chuyện Bác cải trang trong vai người lính già biết tiếng Pháp đến ôn tồn hỏi chuyện gia đình, quê hương, vợ con, anh em bạn bè ở bên Pháp, Bác nói cụ thể dễ hiểu là trên đời ai cũng có gia đình quê hương, bạn bè, quê hương người Pháp phải ở bên Pháp chứ còn ở đây, núi rừng, đồng ruộng này là của người Việt, vì sao người Pháp sang đây gây ra chiến tranh chết chóc cho người Việt, cho người Pháp, đây là phi nghĩa hay là chính nghĩa người Pháp là người vǎn minh trên thế giới thì rõ hơn ai hết về việc đó… Nghe Bác nói, những tên cứng cổ nhất cũng phảỉ thừa nhận là “ông già nói đúng” , chứ mấy ông trẻ Việt minh thì cứ bắt chúng phải nghe theo lệnh này, lệnh nọ, nên chúng không nghe, không phục.

Hồi ở chiến khu, đi đâu Bác thường đi ngựa, con ngựa của Bác có tên là Ba Đen, nó nhỏ nhất đàn nhưng nhanh nhẹn và rất khôn; nó ít nghe theo người cưỡi nó, lên yên là nó phóng bạt tử, khi gặp suối nó vùng phi qua, có khi người cưỡi nó rơi xuống suối. Nhưng Bác đến vỗ về âu yếm, nó đứng yên như chờ lệnh. Mỗi lần khi lên xuống yên Bác đều làm động tác vuốt ve âu yếm tỏ thái độ biết ơn chân tình, có lẽ từ tình cảm đó mà giữa Bác và Ba Đen có sự đồng cảm, nó tuân thủ, ngoan ngoãn khi Bác ở trên lưng, nó hiểu ý Bác khi đi chậm, nhanh hoặc nghỉ hoặc đứng yên.

Là Chủ tịch nước, nhưng mỗi lần có dịp gợi lại chuyện xưa, Bác vẫn nhớ những kỷ niệm, những con người Bác đã từng gặp, từng quen, nhiều ký ức không phai mờ trong tâm trí Người. Có lần nhà điện ảnh Hà Lan Giôrít Ivan sang làm phim về Việt Nam, được gặp Bác, trong câu chuyện, nhớ lại ngày xưa, Bác nói: “Bây giờ chú mới biết tôi chứ tôi đã biết chú từ đầu những nǎm hai mươi”, lvan rất cảm động và ngạc nhiên, Bác kể tiếp: “Khi đó chú vừa hoàn thành tác phẩm xuất sắc “Tư bản và tôn giáo” cuốn phim tố cáo bọn tư bản lợi dụng tôn giáo lừa bịp nhân dân. Vua Hà Lan và bọn tư sản rất cǎm tức chú, chúng ra lệnh trục xuất chú ra khỏi Hà Lan, lúc đó tôi viết bài đǎng báo “Nhân đạo” bênh vực cuốn phim và vạch trần luận điệu vu cáo của chúng”. Ivan rất cảm kích trước những lời của một vị Chủ tịch nước nói về mình.

Nhớ lần Bác đến thǎm triển lãm ở Hà Nội, Bác đứng ngắm bức tường của Tiêu Tam (Trung Quốc), Bác bảo: “Bác biết đồng chí ấy, đồng chí ấy là bạn của Bác”. Khi Tiêu Tam sang Việt Nam, Bác mời vào nhà sàn chơi, hai người nhắc lại những kỷ niệm xưa. Hai người đàm luận về thơ vǎn Trung Quốc. Tiêu Tam vừa đi thǎm Vịnh Hạ Long về có bài “Phú Vịnh Hạ Long” Bác vừa ngâm vừa gật gù khen. Đến câu “Thuỷ liên thuỷ, sơn liên sơn” Bác bảo câu này không ổn, xin sửa lại là “Sơn liên thuỷ, thuỷ liên sơn” , Tiêu Tam mừng rỡ tiếp thu.

Nǎm 1961, Nguyên soái Diệp Kiếm Anh sang thǎm Việt Nam, chương trình đón tiếp đưa đến Bác, Bác đọc và nói:”Hồi trước Bác và đồng chí Diệp Kiếm Anh cùng làm việc với nhau, đồng chí là đội trưởng, Bác là bí thư chi bộ, nay đồng chí ấy sang đây mà Bác lại đợi đồng chí ấy đến chào là không nên, Bác sẽ ra đón và mời cơm thân mật, nhưng không công bố trên báo chí vì không tiện về mặt lễ tân”.

Một lần Thượng tướng Culicốp sang ta cùng chuyến hàng viện trợ, đồng chí yêu cầu gặp Bác. Các đồng chí trong Bộ Quốc phòng đề nghị chỉ nên tiếp ở cấp tương đương, Bác phê bình và bảo “Các chú chỉ biết một mà không biết hai, các chú chỉ nghĩ đến việc có tương xứng hay không mà không nghĩ đến tình cảm khách dành cho ta, khách quý lãnh tụ là quý dân tộc ta, Bác đã gặp các đoàn vǎn công, gặp đội bóng đá thì tại sao không gặp một thượng tướng mang vũ khí sang tặng ta, các chú phải nên nhớ rằng: phải làm sao mỗi người dân Xô Viết đến Việt Nam là gần với Việt Nam thêm một Chút”. Nǎm 1966, Bác tiếp nhà báo Mỹ Đêvít Đenlinhgiơ, Bác có nói: “Khi trở về Mỹ ông có thể nói rằng tôi đã đi ở cho người ta ở Bruklin vớl lương tháng 40 đôla, còn bây giờ làm Chủ tịch nước Việt Nam tôi được lĩnh 44 đôla hồi ấy không đến nỗi vất vả lắm, tôi dùng một số thời gian rỗi để học tập và đi thǎm một số nơi trong thành phố, tôi thường tới khu Háclem và rất cảm động trước nỗi khổ của người dân da đen”.

Là Chủ tịch nước, nhưng đối với người nhiều tuổi hơn, Bác luôn tỏ ra cung kính, hàng nǎm Bác thường gửi lụa tặng quà cho các cụ cao niên, khi tiếp các Cụ, Bác thường xưng hô cung kính “các cụ ông, cụ bà”, có khi Bác nhận mình là em, là cháu đối với các Cụ. Nhớ lần Bác về thǎm Trà Cổ, gặp gỡ nói chuyện với nhân dân xứ đạo, Bác gặp và chúc thọ riêng Cụ Thiệm là người cao tuổi, Bác khen cụ đã già nhưng vẫn làm gương cho các cháu, chǎm lo thờ phụng Chúa, thực hiện giới rǎn, thi đua sản xuất công tác Bác nói: “Chúng ta nên kết nghĩa anh em, Cụ nhiều tuổi hơn xin cụ nhận là anh”. Cụ Thiệm luống cuống xua tay. “Không dám, không dám. Cụ làm việc cho cả nước cả dân tộc, Cụ phải là anh, còn tôi chỉ quanh quẩn ở xã không dám nhận vinh dự đó, Cụ nhận tôi là em cũng là phúc lắm rồi”. Bác nói chân tình: “Dẫu sao Cụ là lớp đàn anh đi trước, xin Cụ nhận cho”. Nói rồi Bác thân ái tặng Cụ Thiệm vải và chǎn bông.

Tháng 8-1948, tù chiến khu Việt Bắc, nhân danh Chủ tịch nước Bác gửi cho Cụ Phụng Lục, một hội viên hội phụ lão cứu quốc huyện Ư’ng Hoà, Hà Đông, nhân ngày thượng thọ 90 tuổi, một bức thư “Thưa cụ, những cụ thượng thọ như Cụ là của quý vô giá của dân tộc và nước nhà. Trong ngày chúc thọ Cụ lại miễn tế lễ, đám đình và đem số tiền 500 đồng quyên vào quỹ kháng chiến như vậy là Cụ nêu cái gương hǎng hái kháng chiến và cái gương sửa đổi cổ tục, thực hành đời sống mới cho toàn thể đồng bào noi theo. Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm ơn Cụ và trân trọng chúc Cụ sống lâu và luôn luôn mạnh khoẻ để kêu gọi con cháu ra sức tham gia công việc kháng chiến kiến quốc. Cháu lại kính chúc Cụ lời chào thân ái và quyết thắng. Hồ Chí Minh” .

Nǎm 1965, Bác về thǎm Côn Sơn, sau khi dâng hương và thǎm cảnh quan chùa và đọc từng chữ trên bia đá, Bác yêu cầu đồng chí trong tỉnh dẫn Bác đến thǎm Thạch Bàn (nơi Nguyễn Trãi thường ngồi uống rượu ngâm thơ trên một tảng đá to phảng như một chiếc chiếu), động Thanh Hư rồi Ngũ Nhạc (tức 5 đỉnh cao nhất ở Côn Sơn). Đến nơi Bác nói chuvện thân mật với các cụ già ở đó. Bác nói “nhớ Nguyễn Trãi thì phải nhớ “Lệ chi viên” ở đâu?”. Sau đó Bác đề nghị các cụ ở Chí Linh trồng một vườn vải ở khu Chùa để con cháu và khách thập phương đến đây để nhớ lại nỗi oan “Lệ chi viên”.

quangbinh.gov.vn

Những lời dạy dễ hiểu của Người (Phần 4)

Có lần Bác đến thǎm và nói chuyện với một lớp học, trời nóng, hội trường chật, Bác và các học viên đều ướt đẫm mồ hôi, có đồng chí cán bộ vội lấy chiếc quạt quạt cho Bác, Bác bảo: “Ai nhờ chú quạt cho Bác, anh em ngồi dưới cũng nóng như Bác”. Lần Bác về thǎm tỉnh Thái Bình, các đồng chí chuẩn bị bài phát biểu cho Bác. Bác xem qua trước Bác không nhất trí đoạn nói về việc xoá mù chữ, Bác nói: “Nếu lát nữa Bác phát biểu trước đồng bào, nhỡ còn có người mù chữ, thì họ đánh giá Hồ Chủ tịch cũng mắc bệnh quan liêu thì sao?”.

Đến thǎm một trường học khi nghe báo cáo về nhiều mặt tốt Bác khen ngợi, đến đoạn trồng cây, mỗi người trong nhà trường từ sinh viên đến cán bộ mỗi người đều trồng 3 cây. Bác bảo: “Chỉ nên trồng một cây thôi nhưng phải chǎm sóc cho nó sống”. Nǎm 1961, Bác trở lại thǎm Pắc Bó, khi lên thǎm hang, thấy đường vào hang được phát quang sạch sẽ, dễ đi, Bác bảo: “Các chú làm thế này thế hệ sau tưởng hồi xưa đường đi lối lại cũng dễ dàng, nếu muốn sửa sang để đón khách, nhất là khách quốc tế thì các chú làm con đường bên cạnh, để khách thǎm thấy được đúng hoạt động khó khǎn gian khổ hồi xưa”.

Hồi ở chiến khu khi đến địa điểm mới là Bác bảo với mọi người tǎng gia sản xuất, khi biết cơ quan sắp chuyển đi chỗ khác có đồng chí thưa với Bác là không nên trồng nữa, Bác bảo: “Ta trồng nếu ta không thu hoạch thì để lại cho nhân dân, nếu sau này có trở lại thì đã có rau ǎn rồi”.

Đơn vị thông tin cải thiện được món tươi, cử một đồng chí mang thư dán kín ngoài đề “hoả tốc” đến để mờl Bác cùng dự liên hoan, khi đồng chí trở về mang theo lá thư của Bác vẻn vẹn mấy chữ “Cái gì đáng hoả tốc thì hoả tốc, nếu không thì đi bằng “thuỷ tốc” nhé, chào thân ái, Bác Hồ”.

Một lần các đồng chí thông tin mắc điện thoại cho Bác, Bác mời hút thuốc, có đồng chí rút liền 3 điếu, Bác nói vui: “Sao chú lấy nhiều thế” đồng chí thưa Bác là lấy phần cho đồng chí khác, Bác khen, rồi lấy ra một điếu nữa đưa cho đồng chí và nói: “Ưu tiên biếu chú thêm một điếu nữa vì biết nghĩ đến người khác”.

Khi giặc Mỹ tǎng cường bắn phá ra miền Bắc, Bác tham dự cuộc họp bàn về tình hình cách mạng mới. Có đồng chí phát biểu: “Mỹ ném bom ra miền Bắc thì tình hình cũng không có gì thay đổi cả, chúng ta vẫn tiến công…”. Bác bình tĩnh nói. “Sao chú lại nói tình hình không có gì thay đổi cả. Ta không sợ địch, nhưng Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc tất nhiên gây nhiều khó khǎn cho ta, cần phải thấy hết khó khǎn để có biện pháp khắc phục…”.

Trong vườn Bác có cây đa, một lần chỉ cây đa, Bác hỏi đồng chí phục vụ: “Chú cỏ biết làm cho rễ cây đa theo ý mình cắm xuống đất được không?” Đồng chí trả lời Bác là lâu và khó lắm, Bác bảo: “Ư` nếu lâu và khó thì Bác làm thử”. Bác lấy 3 lọ thuỷ tinh và 3 sợi dây, mỗi rễ Bác cho một lọ và đổ nước, cột sợi dây vào lọ rồi treo lên thân cây, ngày qua ngày Bác theo dõi, khi nào hết nước Bác thêm vào. Rễ trong lọ thuỷ tinh phát triển ngày một dài, dần dần kéo xuống đất vào đúng chỗ theo ý định của Bác, cây rễ tạo nên một thế cảnh độc đáo và đẹp, Bác đặt tên cho là “cây đa kiên trì”.

Bác là tấm gương tiêu biểu tiết kiệm của công, thái độ giữ gìn tài sản chung của nhân dân được Bác luôn luôn chú ý. Bác không những nghiêm khắc đối với bản thân mình, mà Bác không cho phép bất cứ một cán bộ nào, ở bất cứ cấp nào, không được đụng đến của công. Bác rèn luyện cán bộ phải có thói quen tiết kiệm, từ những việc nhỏ nhất trong sinh hoạt hàng ngày đến việc lớn quốc gia đại sự.

Lúc đầu Việt Nam thông tấn xã cung cấp bản tin chỉ in một mặt, Bác đọc thấy lãng phí giấy, Bác phê bình. Những loại giấy tờ nào chỉ mới dùng một mặt Bác để riêng dùng để viết bài ở mặt trắng. Bác đến thǎm một trường cán bộ, được biết khi có lương là anh em tiêu pha thoải mái, được mấy ngày hết tiền lại phải đi vay. Bác vào phòng thấy anh em đông vui, Bác bảo, Bác có trà mời các chú cùng uống, nói rồi tự tay Bác pha trà, mỗi lần pha xong Bác lại rót vào một cái cốc to, Bác làm đến 4 lần như vậy, khi ấy Bác mới rót từ chiếc cốc to ra chén rồi mời anh em uống. Bác bảo: “Trà Bác pha lần thứ 4 mà vẫn thơm ngon, các chú học cách pha trà của Bác vào việc chi tiêu lương hàng tháng nhé”. Mọi người được một bài học nhẹ nhàng mà thấm thía.

Lần khác đến một trường học có hơn 4000 học viên, Bác được biết hàng ngày trường phải thuê xe chở nước từ xa về cho học viên dùng. Khi nói chuyện với mọi người, Bác hỏi: “Các cô các chú mỗi người có thể đào nổi một mét khối đất không?” Cả hội trường đồng thanh là làm được. Bác nói: “Thế thì tại sao không tập trung tổ chức đào giếng để dùng mà phải dùng xe hàng ngày chở nước vừa tốn kém lại dùng không thoải mái”. Khi về thǎm công trình đập nước Suối Hai, thấy có ngôi nhà nghỉ mát của tỉnh uỷ xây to, đẹp Bác bảo: “Sao các chú không lo xây nhà cho dân mà lại lo xây nhà nghỉ cho Tỉnh uỷ?”.

Nǎm 1969, Bác đọc báo thấy Nghị quyết Bộ Chính trị chỉ thị chuẩn bị chào mừng 4 ngày lễ lớn, trong đó có ngày sinh của Bác. Bác cho gọi đồng chí có trách nhiệm lên và hỏi: “Tại sao các chú cho tổ chức sinh nhật Bác linh đình thế, Lênin là bậc thầy của cách mạng thế giới, Bác chỉ là học trò của Lênin sao các chú đặt Bác ngang với Lênin, sao lại đặt việc riêng của Bác ngang với việc chung của Nhà nước, của Đảng?”. Bác chỉ tay lên trang báo nói tiếp; “Vì sao các chú cho in sách của Bác nhiều thế này, nên dành nhiều giấy cho các cháu học sinh, còn việc xây nhà bảo tàng này, nhà lưu niệm nọ là quan trọng nhưng nước ta còn chiến tranh, nên dành vật liệu để làm nhà cho dân ở những nơi họ tự phá nhà mình làm đường cho xe đi, khi nào đời sống sung túc ta sẽ xây dưng bảo tàng, nhà lưu niệm…”.

Bác thích ǎn cà pháo quả nhỏ vùng Nghệ An, đồng bào Nghệ An chở cả một xe quả ra biếu Bác. Bác dặn đồng chí cấp dưỡng, Bác chỉ ǎn một ít, cà thì rất nhlều, chú trừ phần của Bác riêng, phần cà còn lại, ai ǎn thì trả tiền cho đồng bào. Bác về thǎm quê, các đồng chí tỉnh uỷ chiêu đãi Bác đủ các món ǎn sang trọng. Đến bữa ǎn Bác nhắc đồng chí Nguyễn Khai, người cùng đi với Bác: “Cơm của ta đâu, đem ra”, đồng chí mang ra một gói, mở xong lần lá bọc, lộ ra nắm cơm độn ngô và gói thịt bǎm nhỏ, kho khô hạt tiêu, Bác mời mọi người: “Ta ǎn gói cơm này trước rồi ǎn cơm của tỉnh sau”. Nói rồi tự tay Bác chia cơm và thịt kho cho từng người như nhắc nhở mọi người trong lúc toàn dân đang phát động tiết kiệm vì đồng bào miền Nam ruột thịt, thì suất ǎn của ai kể cả Chủ tịch nước cũng phải độn ngô. Đối với các đồng chí tỉnh ủy bài học hôm đó, trong suốt cuộc đời khó có thể quên được.

Có lần Bác vào thǎm vǎn phòng Giao tế thấy có hai chiếc tủ gương to quá cỡ, Bác phê bình vừa lãng phí tiền, lại không hợp, không đẹp. Vào phòng dành riêng cho khách ở, thấy giường to quá Bác bảo nên làm nhỏ vừa, phía dưới lót đệm cỏ cho êm và sạch.

Nǎm 1961, sức khoẻ Bác đã yếu, Bác vẫn yêu cầu đi bỏ phiếu để thực hiện quyền công dân, các đồng chí bố trí Bác đến địa điểm hòm phiếu cạnh Hồ Tây cho thuận tiện việc đi lại và lợi cho công tác bảo vệ. Hôm đó tuy vắng người nhưng đến phòng viết phiếu đang có người, Bác đứng đợi, các đồng chí phụ trách bầu cử ngại Bác đứng lâu bèn mời Bác vào phòng viết trước, Bác bảo: “Bác đi bỏ phiếu thực hiện quyền công dân, người khác cũng vậy, ai đến trước viết trước, Bác đến sau thì phải chờ. Bác là một cử tri”. Bác vào phòng viết phiếu, mấy phóng viên quay phim, chụp ảnh loay hoay ghi hình Bác, đèn chiếu sáng cả phòng Bác đang viết phiếu, Bác vội bảo: “Các chú làm gì thế, đây là phòng viết phiếu kín của cử tri, sao các chú vào đây”. Bỏ phiếu xong Bác nói chuyện với cử tri, thấy em bé được mẹ bế đi bỏ phiếu, Bác đến gần âu yếm em thân thiết như ông cháu. Thấy cử tri không đông như mọi nǎm, Bác biết đây là do các đồng chí bảo vệ bố trí, Bác tỏ vẻ không vui, khi về, Bác bảo đồng chí phụ trách công tác bảo vệ: “Chú có biết vì sao Nguyễn Hải Thần bị dân ghét không? Sau nǎm 1945, Nguyễn Hải Thần đi đâu cũng có binh lính bồng súng chĩa ra hai bên, trên xe gắn một khẩu súng trung liên luôn luôn chực nhả đạn, dân rất ghét, chú nên nhớ rằng nhân dân là người bảo vệ tốt nhất”.

Đời thường của Bác thật bình dị từ câu nói, tác phong đến vật dùng tư trang hàng ngày, từ ǎn uống đến sở thích sống hoà mình với nhân dân. Những nǎm tháng sống ở nước ngoài Bác vẫn thích sống trong không khí đầm ấm tình đồng chí. Hồi ở Pari, Bác thường tham gia sinh hoạt trong các câu lạc bộ, hoạt động vǎn nghệ để tuyên truvền cách mạng. Có lần Bác tham gia đóng kịch mà tiền bồi dưỡng là một cốc cà phê. Trong các trò vui giải trí Bác thường tham gia các trò chơi, góp một chuyện vui, một trò ảo thuật để gây cười. Ơ’ Bác tính vui dí dỏm rất độc đáo. Các bạn nước ngoài thường gọi Bác một cách âu yếm “Người bạn phương Đông”.

Khi làm phụ tá giúp việc phiên dịch đồng chí Bôrôđin bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên, Bác vẫn giữ nếp sống đời thường vui vẻ hoà nhã với mọi người. Chị thư ký của đồng chí Bôrôđin kể lại về người bạn Việt Nam hay cười, hoà nhã, luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác, thường giúp chị học tlếng Trung Quốc, tiếng Việt Nam, chị không ngờ “Người bạn vui tính” đó lại là Chủ tịch nước Việt Nam mới.

Về chiến khu Việt Bắc sống trong cảnh núi rừng chiến khu, công việc nhiều, vật chất thiếu thốn, Bác và các đồng sự vẫn duy trì một cuộc sống tinh thần phong phú. Nhân dịp sau cuộc họp Hội đồng chính phủ, đủ các cụ, các bộ trường, ông Hoàng Đạo Thuý, một hướng đạo sinh hồi xưa tổ chức đêm lửa trại. Lửa trại nổi lên ai cũng tham gia theo “luật chơi” của “trùm lửa” yêu cầu. Lúc đầu ông Hoàng Đạo Thuý làm “trùm lửa”. Lửa bùng lên ông chắp tay: “Xin mời Cụ Chủ tịch hát mở lửa trại” ai cũng lo không biết Bác xử trí ra sao, không chần chừ Bác bước nhanh vừa đi quanh đống lửa vừa cất tiếng hát: “Anh hùng xưa, là thời niên thiếu, dấy binh gậy lau làm cờ…” ai cũng ngạc nhiên vì sao Bác biết được bài hát “tôn chỉ” của hướng đạo lửa trại. Rồi Bác đề cử bác sĩ Trần Duy Hưng làm “trùm lửa” tiếp, bác sĩ đi vòng quanh đống lửa giang hai tay miệng kêu “ù ù” như máy bay rồi gọi loa “A lô, a lô đồng bào chú ý Cụ Chủ tịch vào thǎm đồng bào, Cụ có huấn thị” Bác nhanh trí đứng lên “chơi lại” “trùm lửa”, “A lô, a lô thưa đồng bào, tôi vào thǎm đồng bào nhưng đi tàu bay mệt quá xin để bác sĩ Trần Duy Hưng nói với đồng bào thay tôi”. Bác sĩ bí quá, mọi người cười vui vẻ.

quangbinh.gov.vn

Những lời dạy dễ hiểu của Người (Phần 3)

Một lần đồng chí Nha người dân tộc được phân công bảo vệ Đại hội Đảng, đồng chí đứng gác một vị trí đặc biệt. Thấy một cụ già chân đi dép cao su, đầu đội mũ đã cũ, vai mang một túi vải đang đi vào khu vực đồng chí bảo vệ, đồng chí Nha đến gần và hỏi: “Thưa cụ, cho cháu xem cái giấy ra vào ạ”, đồng chí bảo vệ Bác đến nói: “Bác đấy sao lại hỏi giấy Bác”. Nha lúng túng, rồi trả lời: “Bác cũng phải có cái giấy mà, có giấy mới được vào”. Lúc đó đồng chí cận vệ Bác tỏ thái độ bực mình, Bác ôn tồn bảo: “Chú phải đi tìm chỉ huy của chú ấy mới được. Bác cháu mình quên giấy rồi”. Một lát sau đồng chí chỉ huy vội chạy đến bảo: “Bác Hồ đấy, sao lại không để Bác vào”. Lúc đó đồng chí Nha mới biết ông cụ là Bác Hồ, Nha sung sướng quá, nhưng rồi ân hận đứng đờ ra, Bác vui vẻ bảo Nha: “Chú làm nhiệm vụ bảo vệ như vậy là tốt”. Sáng hôm sau Nha cùng đồng chí chỉ huy được Bác cho gọi vào. Bác lấy ra tấm ảnh và nói: Chú Nha mới vào đơn vị chưa biết Bác, khi thấy người không có giấy không cho vào nơi quy định là đúng, đáng khen, Bác thưởng chú Nha chiếc ảnh này. Còn các chú cán bộ khi giao nhiệm vụ cho chiến sĩ mới chưa giới thiệu về Bác, trở ngại công việc Bác phê bình”.

Được biết một số đồng chí khi tập thể giao công tác cấp dưỡng thì tỏ thái độ không bằng lòng, nhân dịp nói chuvện với đơn vị Bác kể chuyện ngày xưa Bác làm nghề cấp dưỡng ra sao: “Bác phải nấu nướng cho bọn quan lại, tư sản ǎn, không được như các cô các chú cấp dưỡng bây giờ, được phục vụ nuôi nấng cán bộ của cách mạng, cán bộ là vốn quý của cách mạng cán bộ có khoẻ công việc mới chạy đều, nuôi cán bộ là một việc rất quan trọng, là góp công chǎm lo cho sự nghiệp cách mạng”. Nghe Bác nói chuyện, ai cũng thấy an tâm tự hào về công việc cấp dưỡng mình làm, từ đấy không ai kêu ca nữa.

Bác đến thǎm một đơn vị bộ đội, đơn vị chào đón Bác theo điều lệnh quân đội. Bác ân cần đến gần một chiến sĩ rồi cúi xuống sửa lại chiếc áo len chỗ thò ra ngoài quân phục. Khi vào xem nội vụ, Bác đến gần giường của một chiến sĩ thấy phía đầu giường dán hình cô gái đẹp, Bác hỏi: “Thím đấy à?”, đồng chí ấp úng trả lời,”Dạ thưa Bác không ạ, cháu cắt ở hoạ báo ra đấy ạ”. Bác nói: “Sao chú không treo hình thím ấy? Nếu chú về nhà thấy thím ấy treo hình người khác đầu giường thì chú nghĩ thế nào?”, Bác đến thǎm bộ đội thử vũ khí mới, đồng chí sỹ quản trực chỉ huy chạy đến nghiêm chỉnh dõng dạc báo cáo khẩu lệnh, xong Bác nói với đồng chí cán bộ cấp cao của quân đội cùng đi với Bác hôm đó: “Trông chú ấy dữ tợn quá, Bác nghĩ phong thái bộ đội Việt Nam nghiêm nhưng hiếm hơn, Bác muốn bộ đội Việt Nam phải giữ phong cách đặc biệt Việt Nam, điều chú đi học nước ngoài một thời gian đã Âu hoá thiếu.

Có lần Bác đến Bộ Tổng tham mưu nhắc các đồng chí không nên giam giữ giặc lái Mỹ ngoài Hà Nội vì địch có thể đột nhập đường không để giải thoát, theo lời Bác ta bí mật di chuyển giặc lái ngay, quả nhiên sau đó chúng tổ chức đột nhập và bị thất bại.

Sau ngày giải phóng, tình hình tỉnh Quảng Ninh còn rất phức tạp. Bác xuống thǎm, các đồng chí bố trí nơi nghỉ có bảo vệ nghiêm ngặt- Bác bảo ở gần đây có đơn vị bộ đội nào đóng quân không, được biết trên đồi cao có một đơn vị, Bác đề nghị lên đó vì trên đồi cao gió mát, Bác nói: “Bác nằm giường gỗ quen, thoải mái hơn, lên đó với anh em bộ đội cho vui lại bí mật, các chú lại đỡ công tác bảo vệ”. Bác đi đâu Bác không muốn cho mọi người biết rộng ra vì vừa đỡ tốn thời gian đón tiếp, vừa công tác bảo vệ đơn giản hơn, đặc biệt nắm tình hình sâu sát hơn. Đến một địa phương Bác thấy đón Bác quá rờm rà, hình thức. Khi gặp các đồng chí cán bộ có trách nhiệm Bác kể câu chuyện thời Nga hoàng: “Thời đó Nga hoàng đi đâu đều báo trước, một lần đến địa phương để xem dân chúng ra sao, tên quan quản vùng bèn bố trí mọi cách để nịnh hót vua, nó thuê hoạ sĩ vẽ nhiều tranh rực rỡ, sửa sang nhà cửa đường sá nơi bố trí cho vua đi qua, dọc đường bố trí những người béo tốt giả vờ đóng dân địa phương lấp ló đâu đó để cho vua tình cờ trông thấy, nó bố trí một quang cảnh như thật để bịp ông vua vốn cũng rất quan liêu, Nga hoàng thấy thế khen ngợi và trọng thưởng tên quan đó” Bác dặn: “Các chú đừng bắt chước tên quan kia”.

Cuối nǎm 1946, Bác từ Pháp về đến Hải Phòng, để bố trí Bác về Hà Nội cho an toàn các đồng chí đã tìm một người cải trang giống Bác rồi đưa công khai về Hà Nội còn Bác sẽ đi theo con đường bí mật, biết được, Bác không nhất trí: “Lỡ ra có chuyện gì không hay đối với người đóng Bác thì các chú tưởng Bác bằng lòng chǎng, phải tin tưởng ở nhân dân, có nhân dân bảo vệ kẻ xấu không dám làm gì Bác đâu. Các chú đừng làm theo kiểu Hít le đánh lừa nhân dân”. Bác bình thản lên tàu về Hà Nội, dọc đường khi tàu dừng bánh Bác nói chuyện với nhân dân giữa đám đông và không có chuyện gì xẩy ra.

Cách mạng mới thành công, tình hình phức tạp, nhiều người đề nghị Bác cho bắt giam một người để đề phòng hậu hoạ. Bác hỏi: “Các chú bắt người ta để làm gì?”. Có đồng chí trả lời: “Dạ thưa Bác, bắt để cho họ sợ, để…” Bác nghiêm nét mật nhưng giọng ôn tồn: “Thế chú có biết làm cho người ta sợ hơn hay là làm cho người ta kính trọng hơn, người ta yêu mình hơn. Các chú nên nhớ rằng: không sợ người ta không theo mình, mà chỉ sợ lòng mình không rộng”. Khi Bác hỏi về xử trí bọn phỉ ở Kỳ Sơn (Nghệ An) thế nào, đồng chí có trách nhiệm báo cáo Bác là những tên có nợ máu sẽ đem xử tử hình. Bác bảo: “Thế là sai to rồi, các chú giết họ một thì họ sẽ theo giặc mười, giết họ mười thì họ sẽ theo giặc trǎm, các chú phải phân biệt đâu là giặc, đâu là ta, họ lỡ theo giặc ngoại xâm làm việc phi nghĩa, ta phải tìm cách vận động để họ trở về với nhân dân, phải hiểu được âm mưu của giặc ngoại xâm, phân tích cho họ rõ âm mưu chúng là muốn ta “nồi da nấu thịt”, vận động họ, ai trở về với nhân dân sẽ được khoan hồng và có thưởng”. Theo lời Bác, ta mở chiến dịch tuyên truyền vận động nhân dân cô lập tối đa lực lượng kẻ thù, cho nên âm mưu gây rối của chúng bị thất bại.

Khi làm việc gì Bác cũng tôn trọng ý kiến tập thể, tinh thần dân chủ của Bác thể hiện trên nhiều mặt hoạt động. Có lần Bác viết bài đǎng báo. trước khi đǎng báo, đồng chí phụ trách tuyên huấn đến đề nghị Bác đổi lại trật tự đầu đề là “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Bác hỏi thêm ý kiến của đồng chí khác cũng theo ý kiến như đồng chí tuyên huấn. Bác nói: “ý kiến các chú cũng có lý, nhưng theo Bác thì ví như gia đình các chú mua được bàn ghế giường tủ mới, trước khi kê vào phòng các chú phải quét dọn sạch sẽ hay cứ để rác rưởi bẩn thỉu”. Rồi Bác nói luôn: “Vì các chú đều có ý kiến vậy, Bác đồng ý đổi lại trật tự ở đầu bài, còn nội dung cứ giữ nguyên ý Bác là “quét sạch chú nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng” ý và tứ của Bác ở một bài báo dạy về đạo đức cách mạng là vậy.

Biết một đồng chí cán bộ chỉ huy rất nóng tính đối với anh em, cho nên anh em không kính phục, Bác cho gọi lên, trên bàn Bác đặt một cốc nước lạnh, một cốc nước nóng, Bác chỉ vào cốc nước nóng: “Chú uống đi”. Đồng chí thưa là nước đang nóng chưa uống được, Bác nói: “Thế đấy đối với Bác cũng nóng, đối với chú cũng nóng có ai uống được nước nóng đâu, sao chú lại nóng với anh em?”. Sau này mỗi lần khi nóng với anh em đồng chí định quát tháo ầm ĩ nhưng nhớ lời Bác đồng chí lại thôi, dần dần đồng chí bỏ được chứng bệnh nóng. Anh em hay phàn nàn về một đồng chí chỉ huy thường hay vô cớ phê bình anh em. Biết chuyện, hôm ǎn cơm với Bác, Bác hỏi: “Bánh ga-tô ǎn có ngon không?” đồng chí thưa với Bác là rất ngon, Bác hỏi tiếp: “Nhưng khi chú ǎn no rồi, mời chú ǎn bánh chú thấy có ngon không?” đồng chí thưa là sẽ mất ngon, Bác nói ngay: “Chú nhớ phê bình và tự phê bình là cần thiết và đáng quý nhưng không đúng lúc, đúng chỗ mà bắt người ta phải nghe, phải nhận thì người ta không ai chấp nhận được, và khi phê bình phải có tình thương yêu đồng chí, anh em”, từ đó đồng chí hết phê bình bừa bãi.

Một lần có đồng chí cán bộ cao cấp đi tắm biển cùng, Bác biết đồng chí này là người vùng biển. Khi ra đến bãi biển thấy nhân dân kéo lưới đông vui, Bác hỏi đồng chí: “Chú có biết kéo lưới rùng và cầm chèo không?” đồng chí trả lời Bác tuy là dân biển nhưng chỉ làm công việc trên cạn, Bác nói vui:”Có lẽ Ban tổ chức nên thêm mục thành phần lý lịch “ngư dân không biết nghề biển”.

Khi ra thǎm đảo Cô tô, Bác xắn quần lội xuống ruộng thǎm bà con nông dân. Đến ruộng khoai Bác lấy tay đào một gốc khoai giơ lên rồi nói với đồng chí Bí thư đảo: “Khoai rất nhiều củ nhưng vì thiếu phân và thiếu nước nên củ nhỏ”. Bác cǎn dặn nên xây kè, hồ để giữ nước, trồng nhiều cây vừa chống gió lại giữ được nước. Nhìn thấy bà con đi giữa đường cát nóng, Bác bảo đồng chí Bí thư: “Hẹn chú ba nǎm nữa phải có cây xanh, có bóng mát cho dân”.

Lần Bác về thǎm một hợp tác xã, Bác nói chuyện với bà con giữa trời nắng nóng, đồng chí cán bộ xã vội lấy ô che nắng cho Bác, Bác bảo: “Sao chú lại lấy ô của các cụ che cho Bác, trời nắng chú có tìm đủ ô che cho các cụ đang ngồi dưới nắng với Bác không?”.

quangbinh.gov.vn

Những lời dạy dễ hiểu của Người (Phần 2)

Một lần Bác đến dự Hội nghị báo cáo thành tích của dân quân, Bác gọi cô dân quân bé nhất vừa báo cáo thành tích của quê hương, Bác khen thành tích tốt, đến khi cô kết luận: “Có thành tích vì ở địa phương cán bộ thì bám dân, du kích thì bám địch”. Bác cười và sửa lại: “Cán bộ gần dân du kích, còn du kích thì bám địch mà đánh chứ”. Gặp một cô khác, Bác hỏi; “Cháu làm gì?” Cô thưa với Bác: “Dạ thưa Bác cháu là anh nuôi ạ” Bác vui vẻ nói: “Cháu là gái sao lại bảo là anh nuôi?”.

Nǎm 1961 , chị Tuất được cừ đến làm nhiệm vụ bảo vệ Bác và đoàn đại biểu phụ nữ quốc tế. Hôm đó, Bác đến hội trường sớm hơn mọi người, gặp chị Tuất, Bác hỏi về công việc của chị. Chị trả lời là công an giao cảnh Bác hỏi: “Giao cảnh là gì?”. Chị trả lời là công an chỉ đường. Bác cười nói: “Thế thì cháu nói là công an chỉ đường chứ”. Cháu có biết bắn súng không, cháu đến đây làm gì… Chị trả lời Bác chị là xạ thủ, đến đây làm công tác cảnh vệ. Bác sửa lại: “Tiếng ta dễ hiểu các cháu nên dùng tiếng ta từ “xạ thủ”, “cảnh vệ” nên thay bằng “bắn súng” và “bảo vệ”.

Có đồng chí cán bộ lên báo cáo tình hình công tác, Bác quy định chỉ báo cáo trong 30 phút. Hôm đó báo cáo hết 45 phút. Bác nói chân tình: “Sở dĩ kéo dài thời gian vì cháu xin ý kiến Bác nhiều quá, như vậy là chưa chủ động, chưa sáng tạo, lần sau cháu cố gắng làm tốt hơn”.

Đồng chí Aléo, Chủ tịch phong trào dân tộc Tây Nguyên, ra miền Bắc đến báo cáo tình hình Tây Nguyên với Bác. Đồng chí đề nghị Bác tǎng cường thêm nhiều cán bộ giỏi cho Tây Nguyên. Bác cười và hỏi lại “Đồng bào ta có nuôi gà không?”, đồng chí trả lời là nuôi nhiều lắm ạ. Bác bảo: “Đồng bào nuôi gà lúc đầu đẻ 5 trứng sau đẻ mười, rồi hơn nữa, những quả trứng đó sẽ nở thành con. Chính những con gà nở ra trong vùng đó mới thích hợp với hoàn cảnh đó Bác giải thích bồi dưỡng cán bộ tại chỗ là tốt nhất kháng chiến của ta lấy tự lực cánh sinh là chính”.

Thời kỳ đầu thành lập Chính phủ mới, Bác phân công ông Cù Huy Cận về bộ canh nông, vì việc mới sợ làm không được nên đề nghị Bác cho làm việc khác, Bác bảo: “Việc gì mà chẳng mới, thế chú tưởng rằng Bác làm Chủ tịch là việc cũ à? Chú cứ làm đi rồi sẽ tiến bộ”.

Trong thời kỳ kháng chiến, Bác rất quan tâm đến phong trào thi đua ái quốc, thông qua phong trào vận động toàn dân tập trung nhân tài vật lực cho kháng chiến. Khi giao nhiệm vu cho người phụ trách phong trào, Bác tặng chiếc quạt mà nhân dân gửi tặng Bác và dặn, “Bác tặng lại chiếc quạt này để quạt cho phong trào lớn mạnh”.

Khi phát động đẩy mạnh công tác phê bình và tự phê bình trong thời kỳ kháng chiến, có đồng chí sợ phê bình chỉ nói về khuyết điểm của cán bộ, đảng viên thì kẻ địch sẽ lợi dụng phản tuyên truyền. Bác bảo “Muốn thế thì cán bộ phải tránh khuyết điểm, phải nhớ rằng “rừng có vạch, vách có tai” không thể bưng bít khuyết điểm trước quần chúng được, cán bộ sợ khuyết điểm không giám sửa khuyết điểm không xứng là cán bộ”.

Bác đến nói chuyện với lực lượng công an, Bác bảo: “Các chú tuy được tǎng cường mạnh về số lượng, tinh thông về nghiệp vụ, có hàng vạn đôi mắt đôi tai để canh gác biên giới Tổ quốc nhưng không xuể, cho nên phải dựa vào dân, vì dân có hàng triệu đôi mắt đôi tai”. Bác hỏi: “Các cô các chú nhận biết tình hình chung bằng cách nào?” Có đồng chí trả lời Bác là thông qua quần chúng nhân dân Bác nói: “Như thế chưa đủ, cần đọc sách báo hàng ngày để nắm bắt tình hình thêm” rồi Bác dặn: “Không phải vì bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền mà ngǎn cản dân không cho dân tiếp xúc với lãnh đạo, Bác biết có nhà báo đến cuộc mít tinh để đưa tin, chụp ảnh nhưng công an không cho vào kỳ đài, lo bảo vệ an toàn là đúng, nhưng để người khác hỏng việc là không tốt”. Bác cǎn dặn những người thay mặt nhân dân thực hiện “cán cân công lý”, phải luôn luôn nêu cao đạo đức “làm oan một người vô tội không còn lẽ sống của người công an” hoặc gặp trường hợp đối tượng “bắt cũng được không bắt cũng được thì cương quyết không bắt”. Luôn luôn phải quý trọng con người, Bác nói chân tình: “Các chú thử ngồi trong nhà giam xem nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”.

Khi Mỹ dùng thuỷ lôi phong toả cảng sông, cảng biển của ta, Bác biết tin ở Bến Thuỷ các chiến sĩ của ta đã dũng cảm lái ca nô chạy qua bãi thuỷ lôi để tiêu diệt thuỷ lôi, rất nguy hiểm đến tính mạng, Bác gặp cán bộ có trách nhiệm cǎn dặn: “Ta đánh địch ta thừa dũng cảm, nhưng Phải tiết kiệm xương máu, các chú tìm phương pháp để điều khiển ca nô tự động không người lái chạy qua bãi thuỷ lôi, chứ dùng người lái thì quá nguy hiểm. Ngay lúc đó chương trình ca nô tự động điều khiển mang tên T.5 được triển khai nhanh chóng có kết quả. Một lần có đồng chí vào báo cáo Bác tình hình chiến sự miền Nam, báo cáo về trận đánh lớn ta tiêu diệt dược nhiều sinh lực địch, đồng chí hết lời ca ngợi trận đánh rất, đẹp, Bác với vẻ suy nghĩ và hỏi: “Chú hiểu thế nào là trận đánh đẹp”.

Bác quan tâm lo lắng đến sự tiến bộ mọi mặt của cán bộ, nhưng Người kiên quyết đấu tranh chống lại những biểu hiện quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lãng phí của công, tha hoá đạo đức ở cán bộ. Khi được biết ở một đơn vị có một số cán bộ có tệ tham ô, Bác đến nói chuyện, Bác hỏi: “ở đây, có ai có vợ con rồi”, một số người đứng lên, Bác chỉ một đồng chí gần và hỏi: “Bác hỏi thật chú, chú có bao giờ ǎn bớt phần cơm của vợ con không?”, “Dạ thưa Bác không ạ”, cả hội trường lắng xuống khi Bác nghiêm khắc phê bình: “Thế thì tại sao có một số cán bộ, thấy tài sản của nhân dân, tiêu chuẩn của bộ đội cứ hễ sảnh ra một chút là tìm cách bỏ túi”.

Vào mùa nước sông Hồng đang lên, Bác cho gọi đồng chí Thứ trưởng Bộ Thuỷ lợi lên hỏi:”Chú cho Bác biết mực nước sông Hồng lên bao nhiêu?” , “Thưa Bác tối qua mực nước là…” Bác ngắt lời:”Tối qua Bác biết rồi, Bác muốn biết lúc này là bao nhiêu?”. Đồng chí thứ trưởng không trả lời được: Bác nghiêm giọng nói: “Thuỷ-hoả-đạo-tặc, giặc lụt tai hại bao nhiêu chắc chú đã biết rõ, vậy sao chú nắm tình hình không sát, phải như bộ chỉ huy nắm địch”.

Khoảng giữa nǎm 1945, Bác đang nóng lòng chờ đợi tin từ phía lực lượng quân Đồng minh, bỗng đồng chí thông tin viên vội vàng vào báo cáo Bác là 4 giờ có máy bay Đồng Minh tới, Bác hỏi lại: “Chú nói 4 giờ là 4 giờ nào?”, rồi Bác nói thêm: “Báo cáo quân sự là phải chính xác, nếu không sẽ sai lầm nghiêm trọng. Chú cần nói rõ 4 giờ chiều hay 4 giờ sáng mai”.

Lần Bác về thǎm Bắc Cạn, các đồng chí bảo vệ làm một hàng rào dây xung quanh lễ đài, khi Bác đến nhân dân ào lên ai cũng muốn được gần Bác, các đồng chí bảo vệ cứ lo giữ chặt rào dây không cho dân đến gần Bác, thấy vậy Bác bảo: “Các chú dỡ bỏ hàng dây ngǎn này đi”, vừa nói tay Bác vừa nhổ hai chiếc cọc gần rồi Bác tươi cười dang tay ra hiệu cho đồng bào ngồi xuống, thế là hàng trǎm người như một ai cũng ngồi xuống theo hướng dẫn của Bác.

Nhớ lần Bác về thǎm quê, nhân dân đổ ra hai bên đường đông nghịt đón Bác, các đồng chí công an lo quá vì xe chỉ nhích từng tý một, Bác vui vẻ bảo: “Nhân dân có quý Bác mới ra đông thế, các chú phải mừng chứ”, Bác lên nông trường Đông Hiếu, các đồng chí cán bộ nông trường mang mật ong, cà phê, cam ra tặng Bác, Bác hỏi: “Những sản phẩm này là của ai?”, các đồng chí thưa; “Thưa bác do nông trường làm ra, xin biếu Bác làm quà”, Bác liền nói: “Của nông trường mà các chú đem biếu Bác, tham ô à, hãy cất đi”. Bác chỉ lấy 3 quả cam, đến chân cầu thang máy bay Bác tặng cam cho hai đồng chí phi công và nói: “Chú này có vợ Bác biếu 2 quả, chú này chưa vợ Bác biếu một quả”.

Bác vào thǎm cơ quan Tỉnh uỷ, thấy quang cảnh mới dọn dẹp, trước phòng làm vlệc có bồn hoa, có nhiều hoa mới, giờ nghỉ trưa trời nầng Bác ra xem vườn hoa thấy nhiều bông đã héo, Bác liền nhổ mấy bông héo lên xem thì ra là những cành hoa không rễ mới được cắm xuống, Bác phê bình cách làm ǎn chuộng hình thức. Bác xuống nhà ǎn thấy tường mới quét vôi trắng, Bác dùng ngón tay quệt vào tường rồi giơ cao ngón tay đầy vôi mới và nói với mọi người: “Nghe tin Bác về các chú mới làm lại chứ gì?”. Vào thǎm nhà ǎn thấy được quét dọn sạch sẽ, Bác hỏi chị cấp dưỡng: “Hàng ngày có được sạch như thế này không?” Chị trả lời Bác: “Dạ thưa Bác nghe tin Bác về thì chị em quét dọn sạch hơn trước”, Bác khen là nói thật thà. Về thǎm Tỉnh ủy Hà tĩnh, từ chỗ vǎn phòng làm việc đến hội trường một quãng khá xa, các đồng chí mời Bác lên xe, Bác bảo: “Thôi, “cuốc” quen rồi, tất cả “toàn cuốc” cả cho vui”, có đồng chí thợ ảnh chạy lên trước để chụp hình Bác đi bộ, Bác nói vui: “Chú đi lên trước Bác, người khác chụp được khi vào ảnh người ta tưởng chú to hơn Bác, Bác đi đón chú”, tất cả đều cười vui vẻ Bác về thǎm Quảng Ninh, đồng chí Phó Chủ tịch tỉnh trong bộ comlê cổ thắt caravát màu đỏ chói trang trọng ra đón Bác. Khi gặp, Bác nói: “Chú ǎn mặc đẹp đấy chứ, thế chú thắt cái gì đo đỏ trên cổ vậy” mọi người cười, đồng chí mặt đỏ gay bèn trốn đi chỗ khác để tháo caravát. Lần sau Bác xuống thǎm lần này đồng chí Chủ tịch tỉnh ra đón Bác, rút kinh nghiệm đồng chí Phó chủ tịch lần trước, lần này đồng chí chỉ mặc áo sơ mi ngắn tay. Khi gặp Bác hỏi: “Chú làm gì?” đồng chí thưa là Chủ tịch tỉnh, Bác nói ngay: “Thế Chủ tịch tỉnh ra đón Chủ tịch nước mà chỉ ǎn mặc đơn giản thế này thôi à? Cái gì quá thái thì không nên cầu kỳ quá, cẩu thả quá đều sai”.

Nǎm 1963, về thǎm tỉnh Lai Châu, Bác gặp các cán bộ tỉnh, Bác thấy có đồng chí ǎn mặc trau chuốt, sang trọng, khi nói chuyện Bác ân cần hỏi thǎm sức khoẻ gia đình, phong trào quê hương sau Bác nói khẽ: “Chú là người dân tộc, có trình độ mà lại là lãnh đạo thì cần phải giản dị hơn nữa, ta còn nghèo? đặc biệt nhân dân vùng cao còn thiếu thốn nhiều thứ”.

quangbinh.gov.vn

Những lời dạy dễ hiểu của Người (Phần 1)

Bác đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều người, với nhiều nền vǎn hoá khác nhau, Bác tích luỹ được vốn kiến thức uyên thâm, kết tinh tinh hoa trí tuệ loài người, nhưng khi đến với cán bộ, quần chúng nhân dân, những tinh hoa trí tuệ được Bác chuyển hoá tới đối tượng phục vụ một cách nhẹ nhàng dễ hiểu, tầm hiểu biết của Bác luôn ở đỉnh cao của trí tuệ, nghệ thuật, tâm linh trong mối thiên tư giao cảm với con người, cho nên ai cũng ngạc nhiên bởi vì khi tiếp xúc với Bác, Bác không gây nên một sự ngạc nhiên nào cả, rất bình dị, ân cần gần gũi.

Đầu nǎm 1946, có cuộc họp cán bộ từ Trung ương đến các địa phương. Bác đến thǎm và nói chuyện, khi giải thích mối quan hệ giữa chính sách của Chính phủ với nhân dân thông qua đội ngũ cán bộ địa phương, Bác dùng một tấm bìa hình tam giác cân. Bác hướng tấm bìa đáy lên trên, đỉnh xuống dưới mà nói, đây là chủ trương của Chính phủ (vừa nói Bác vừa chỉ tay dọc đáy trên của tấm bìa) có nhiều vấn đề lớn, rồi Bác chỉ tay xuống đỉnh tam giác phía dưới và nói, nhưng những chủ trương đó qua nhiều cấp, nhiều cán bộ yếu kém đến khi xuống dân thì bé lại chỉ còn chừng này. Rồi Bác lật tấm bìa đáy xuống dưới đỉnh lên trên và giải thích, chiều đáy là nguyện vọng của nhân dân, có rất nhiều, rất phong phú được phản ánh từ cơ sở nhưng khi qua nhiều cấp, nhiều cán bộ lên đến Trung ương thì chỉ còn bé chừng này, Bác chỉ tay vào đỉnh trên, xong Bác kết luận: “Vậy thì chúng ta phải làm gì để cho Chính phủ gần dân”. Ai dự họp cũng đều thấm thía lời dạy của Bác và tự tìm ra câu trả lời đúng với công việc của mình.

Trong một cuộc họp Hội đồng Chính phủ ở chiến khu Việt Bắc, Bác tặng mỗi thành viên Chính phủ một cái bút “anh hùng”. Khi miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong một cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Bác lại tặng mỗi thành viên một cái bút “chống quan liêu”. Mỗi loại bút một thời như nhắc nhở nhiệm vụ chính của mỗi thành viên Chính phủ. Một lần có lớp tập huấn cán bộ quân dân chính, Bác đến thǎm và nói chuyện, Bác nói ngắn gọn, so sánh dễ hiểu: “Cuộc kháng chiến như nồi cơm, quân dân chính như ba ông Táo, thiếu một ông, hoặc ba ông không đồng tâm nhất trí thì không bắc được nồi cơm, do vậy kháng chiến muốn thành công thì quân dân chính phải đồng lòng”.

Trong thời kỳ kháng chiến nhiều cán hộ đi tuyên truyền về đường lối “trường kỳ kháng chiến”, khi nhân dân chất vấn “kháng chiến khi nào thành công?” nhiều người không giải thích được bèn về hỏi Bác. Bác bảo: “Các chú biết rằng đồng bào ta phần lớn là nông dân thì pha lấy hình ảnh cụ thể, để đồng bào dễ hiểu, các chú lấy chữ nghĩa, nào là “phụ thuộc”, “khách quan”, “chủ quan” thì dân ít người hiểu, mà phải lấy những ví dụ như muốn có khoai ǎn lúa ǎn cũng phải chờ đến 3 tháng hoặc 6 tháng mới có thu hoạch, người phụ nữ có thai cũng phải hơn 9 tháng mới sinh con.

Có đồng chí khi đọc bài của Bác, đề nghị Bác thay mấy chữ “cần, kiệm, liêm, chính” vì thấy mấy chữ này nó “cũ” quá, Bác bảo? “thế cơm ǎn nước uống xưa nay người ta vẫn dùng sao không thấy cũ”.

Đồng chí Chủ tịch Huyện Thanh Hà, lên gặp Bác, Bác hỏi công việc huyện nhà tiến bộ thế nào kể Bác nghe. Đồng chí báo cáo thành tích nào là phá hết chùa chiền, bao nhiêu tượng Bụt cho hạ xuống hết. Một phút lặng đi, Bác chưa kịp nói, đồng chí kể tiếp: “Thưa Bác, bây giờ muốn tiến bộ nhanh phải phá hết cái cũ đi, xây thay toàn bộ cái mới vào”. Bác nghiêm nét mặt nói: “Thế ông cụ thân sinh chú còn không?”, đồng chí trả lời Bác: “Dạ thưa Bác, cụ vẫn khoẻ ạ”. “Thế chú về xử ông cụ ấy đi, ông ấy cũ lắm đấy, cổ hủ đấy”, Bác nói từng tiếng với thái độ nghiêm khắc, chỉ chừng ấy, không giải thích gì thêm, đồng chí giật mình như sực nhớ ra một lỗi lầm nghiêm trọng.

Nǎm 1946, cách mạng phải đối phó với nhiều kẻ thù trong giặc ngoài, bọn Việt cách Việt quốc gây cho ta bao khó khǎn, gian nan. Nhiều người lên yêu cầu Bác cho quét sạch chúng đi, Bác cười bảo. “Các chú đừng “nồi da nấu thịt” các chú giữ sức đánh Tây?”, rồi Bác giải thích “dòng nước đang chảy có cây gỗ chắn ngang, làm rác rưởi, lá cây đọng lại, các chú cứ vứt từng cái rác, từng cái lá thì không xuể mà phải tìm cách gạt cây gỗ đi thì dòng nước sẽ thông thoát”.

Trước khi sang Pháp đàm phán hoà bình và mở rộng đối ngoại, Cụ Huỳnh Thúc Kháng – người được Bác giao quyền Chủ tịch nước, đến hỏi Bác kế nước nên sao, Bác nói: “dĩ bất biến ứng vạn biến!”.

Trong nội bộ các đảng anh em có thời kỳ xẩy ra bất đồng quan điểm. Đại hội các đảng nhằm thống nhất quan điểm được tiến hành. Trong thời gian Đại hội, đoàn đại biểu nước bạn láng giềng của ta, do không nhất trí với Đại hội nên bỏ ra về. Tình hình trở nên khó xử, nếu bỏ Đại hội về nước thì ảnh hưởng quan hệ với các đảng anh em, nếu tiếp tục tham dự Đại hội thì quan hệ với đảng bạn láng giềng? Bác quyết định không bỏ Đại hội để về nước vẫn ở lại nước sở tại trong thời kỳ Đại hội, viện lý do sức khoẻ, Bác không tham gia tiếp Đại hội mà đi nghỉ ở nơi khác. Nhờ quan điểm đúng, suốt thời kỳ dài ta chống Mỹ, dầu các đảng có mâu thuẫn với nhau, nhưng rất thống nhất và hết lòng ủng hộ ta đánh Mỹ. Có một học giả nước ngoài ví, Bác như một người tài giỏi gánh một gánh nặng đi trên một sợi dây thép luôn luôn giữ một sự thǎng bằng tuyệt đối, nếu chỉ cần một sợi tóc rơi xuống một bên gánh sẽ đổ vỡ hoàn toàn.

Tháng Hai nǎm 1958 Bác sang thǎm hữu nghị ấn Độ, trước đấy 2 tháng, Ngô Đình Diệm cũng đến thǎm ấn Độ, Tổng thống họ Ngô cũng cố gần dân để che đậy bộ mặt độc tài phản dân. Khi Bác sang, thì những hoạt động “nịnh bợ” của họ Ngô bị lột tẩy, mà nhường chỗ cho những tình cảm chân tình của nhân dân Â’n Độ dành cho Bác. Hết lời ca ngợi Bác, là “vị Chủ tịch dân chủ nhất thế giới”, Bác đi tàu hoả, khi tàu dừng bánh, Bác đi bộ đến ôm hôn và cảm ơn người lái tàu. Trong lễ chiêu đãi trọng thể dành cho Bác chiếc ghế sang trọng nhất, Bác từ chối và yêu cầu thay chiếc ghế khác như của mọi người. Biết đoạn đường không xa Bác đi bộ lẫn trong nhân dân đến chỗ họp báo. Trong buổi họp báo, Bác nói chuyện bằng tiếng Anh, Người tự xưng với các nhà báo là “bạn đồng nghiệp”. Khi cần tài liệu Người rời bục nói chuyện xuống để đón từ tay người giúp việc, chứ không chờ sẵn. Khi nhận tấm thảm do nhân dân ấn Độ tặng, Bác không chỉ nhận tượng trưng mà tự cúi xuống vác tấm thảm và nói “Tôi vác cả tình cảm của nhân dân ấn Độ trên vai”. Lúc chiếc máy chữ mang theo của Bác không may rơi vỡ. Bạn định tập trung những người thợ giỏi để sửa. Bác chỉ yêu cầu một người thợ thế rồi Bác cùng người thợ “vật lộn” với chiếc máy chữ mấy giờ đồng hồ.

Có lần ta rất cần vận tải hàng không của một chiến dịch, nước bạn giúp ta cử đội trực thǎng sang. Khi xong chiến dịch đồng chí đội trưởng bạn đề nghị Bác xin Chính phủ bạn số trực thǎng trên, Bác rất cảm ơn và gợi ý nếu như Chính phủ bạn tuyên bố tặng lại Việt Nam, Bác sẽ gửi thư cảm ơn, như vậy về mặt ngoại giao sẽ tốt hơn cho cả hai bên. Việt Nam đã được giúp đỡ bây giờ lại xin số máy bay đó thì bất tiện cho cả hai bên, ý kiến Bác được Chính phủ bạn hoàn toàn ủng hộ. Sách lược đối ngoại của Bác dù hoàn cảnh nào, đối tượng nào cũng mềm dẻo, uyển chuyển nhưng có nguyên tắc, có lý, dựa trên tình cảm trọn vẹn, thuỷ chung.

Khi đến với nhân dân, với đồng chí, Bác ở bên họ như người thân, không có sự cách biệt giữa lãnh tụ với dân, Bác hoà mình cùng vui chung ca múa tập thể, cũng làm “trùm lửa” trong đêm lửa trại của hướng đạo quân, cùng “hái hoa dân chủ” với ngày vui liên hoan vǎn nghệ “cây nhà lá vườn”, cùng lẩy Kiều, làm thơ ứng khẩu, kể chuyện tiếu lâm. Con người Bác, phong cách Bác, tư tưởng Bác toát lên một chân lý dễ hiểu: dân dã mà thanh cao, cụ thể dễ hiểu mà uyên bác, tinh tuý.

Ở Bác lời nói không cầu kỳ, kiểu cách. Lời nói đơn giản, cụ thể nhưng chứa đựng một nội dung giáo dục. Nhớ đợt tập huấn ở Việt Bắc, có nhiều ý kiến thắc mắc hỏi Bác nếu Mỹ can thiệp vào Việt Narn thì thế nào, kháng chiến dài hay ngắn… Bác bảo: “Chú cầm gậy đánh Bác, chú sẽ không thắng được Bác vì Bác sẽ phản công lại, các chú xung quanh sẽ ủng hộ Bác vì Bác là chính nghĩa, chú là phi nghĩa. Mỹ đánh ta ta đánh lại, các nước sẽ ủng hộ ta”. Bác giải thích cuộc kháng chiến dài hay ngắn, Bác cầm một cây gậy, Bác hỏi dài hay ngắn, có người bảo dài, có người bảo ngắn. Bác nói dài hay ngắn tuỳ thuộc từng người Cuộc kháng chiến dài hay ngắn tuỳ thuộc nhân dân ta, tuỳ thuộc ở tất cả mọi người, nhân dân đoàn kết, cán bộ gương mẫu, gần dân, hướng dẫn nhân dân kháng chiến thì kháng chiến sẽ không dài.

Một lần, đến thǎm lớp học cán bộ dân vận, Bác hỏi một học viên: “Ai to nhất việt Nam?”, người học viên trả lời: ” Dạ thưa Bác, Bác to nhất ạ” Bảc ôn tồn giải thích: “Chú thế là đang còn “phong kiến” đấy, này nhé chú nhớ câ”Việt Nam dân chủ cộng hòa” thế ai là chủ đây nào? Dân là chủ, dân là to nhất chứ, Bác cháu ta chỉ là công bộc của dân mà thôi”.

Trước khi đoàn cán bộ vào Nam công tác, Bác đến thǎm, Bác cǎn dận thật dễ hiểu, ngắn, gọn: “Các chú luôn nhớ cách đánh của ông cha ta, phải làm sao bắt chúng đánh theo cách đánh của ta, ví như bắt thằng Tây ngồi cầm đũa ǎn với ta, chắc nó chỉ ngồi mà nhìn ta gắp món này đến món khác. Các chiến sĩ ta rất dũng cảm nhưng các chú phải tiết kiệm xương máu đồng đội mình, tiết kiệm từng hạt gạo, giọt mồ hôi của nhân dân. Ta thắng địch là chỗ đó”.

quangbinh.gov.vn

Sức mạnh của Đảng là sự gắn bó mật thiết với nhân dân

Là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh không ngừng chăm lo xây dựng, rèn luyện Đảng ta thật sự vững mạnh để lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng. Trong hệ thống các quan điểm về xây dựng Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân có tính chất nền tảng.

Bác Hồ đã khẳng định: Nhân dân ta có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh cho độc lập dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh. Trong thời kỳ Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nhân dân luôn là lực lượng che chở cho Đảng, cán bộ của Đảng. Chính vì thế, Đảng muốn tồn tại thì phải ở trong lòng dân, dựa vào nhân dân để đánh đổ ách ngoại xâm. Trong thời kỳ Đảng cầm quyền, quan hệ giữa Đảng với nhân dân càng phải được chú trọng. Cả cuộc đời của Người là một tấm gương gần dân, hiểu dân và vì dân. Không chỉ khẳng định vai trò to lớn của nhân dân, Người còn tôn vinh nhân dân: Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Người chỉ rõ: Nhân dân là người xây dựng, là người đổi mới, làm nên sự nghiệp lớn, mọi quyền hành và lực lượng đều ở nhân dân. Ham muốn tột bậc của Người là làm cho nước ta hoàn toàn được độc lập, dân ta có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Người cho rằng: Nếu nước đã được độc lập mà dân không có tự do thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì. Vì vậy, trong Di chúc, Hồ Chí Minh căn dặn Đảng ta phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Cách mạng Tháng Tám 1945 đã để lại cho chúng ta nhiều bài học vô cùng quý báu. Một trong những bài học đó là: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để lãnh đạo cách mạng thành công, Đảng phải dựa vào nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu và phục vụ, luôn luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, phát huy cao độ sức mạnh của nhân dân. Bài học đó có ý nghĩa sâu sắc không chỉ đối với Cách mạng Tháng Tám 1945 và trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược bảo vệ nền độc lập và thống nhất Tổ quốc, mà còn đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay. Bài học đó nhắc nhở chúng ta: Dễ trăm lần không dân cũng chịu; khó vạn lần dân liệu cũng xong.

Trong sự nghiệp đổi mới mấy chục năm qua, cùng với việc đề ra đường lối và các chính sách đúng đắn, Đảng luôn luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, gắn liền với sức mạnh thời đại, tạo ra nguồn lực to lớn, từng bước đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã ghi: Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chính người dân là người làm nên thắng lợị lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước.

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, giữ gìn mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân là quy luật tồn tại, phát triển của Đảng, là nhân tố quyết định sức mạnh của Đảng. Đây cũng là một trong những vấn đề cốt lõi của công tác xây dựng đảng. Trong xu thế hội nhập, mở cửa, để vượt qua những thử thách, cán bộ, đảng viên của Đảng phải luôn luôn nhận thức sâu sắc, luôn có ý thức gắn bó với nhân dân, tránh bệnh quan liêu, xa rời nhân dân, phả sâu sát cơ sở, lắng nghe tiếng nói, nguyện vọng của quần chúng. Không có sự tham gia giám sát của nhân dân thì cán bộ, đảng viên dễ trở thành “ông quan”, ”bà quan” và khó trở thành ”người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân”. Không có sự giám sát chặt chẽ của nhân dân thì tổ chức đảng khó tránh khỏi quan liêu, lạm quyền. Vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Tiên Lãng (Hải Phòng) xảy ra trong tháng 1-2012 là bài học cụ thể về mối quan hệ Đảng với dân. Khi cán bộ của Đảng hành động không vì lợi ích của dân, lạm quyền sẽ dẫn đến nhiều sai phạm, làm mất uy tín của Đảng với dân, tổn hại niềm tin của dân với Đảng.

Ngày nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có những thuận lợi mới, thời cơ mới, thực lực và sức mạnh mới nhưng cũng không thiếu nhiều thách thức mới. Nhận thức được vấn đề này Đảng ta luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân nhằm tạo nên sức mạnh to lớn thực hiện thắng lợi cách mạng xã hội chủ nghĩa, đạt mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nguyễn Duy Độ
Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Quảng Nam

xaydungdang.org.vn

Mùa xuân năm ấy, Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng

Cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất, khi chủ nghĩa Mác – Lênin được truyền bá vào nước ta bằng các trước tác của C.Mác, Ph.Ăng-ghen, V.I.Lênin và Nguyễn Ái Quốc. Các lớp huấn luyện chủ nghĩa Mác – Lênin cho cán bộ Việt Nam, do Nguyễn Ái Quốc tổ chức và trực tiếp giảng dạy ở Quảng Châu (Trung Quốc), vào những năm giữa thập niên 20 thế kỷ trước, có tác dụng to lớn cho sự ra đời của Đảng.

Khi mới tới Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc gặp những người trong tổ chức Tâm Tâm xã gồm 7 thanh niên yêu nước Việt Nam, lập ra từ năm 1923. Đến năm 1925, trên cơ sở của Tâm Tâm xã, Nguyễn Ái Quốc tổ chức lại thành Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội với mục đích là làm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, sau đó, thực hiện chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Từ khi ra đời cho đến khi kết thúc, “Thanh niên” đã làm được 3 việc quan trọng: tổ chức phong trào cách mạng ở trong nước, đào tạo cán bộ và xuất bản báo Thanh niên, trong đó việc đào tạo cán bộ chiếm vị trí hàng đầu. Số lượng cán bộ được Nguyễn Ái Quốc huấn luyện tại Quảng Châu, theo mật thám Pháp phỏng đoán khoảng 250 người, sách báo của ta ước tính khoảng từ 200 – 300 người.

Khi đã có một đội ngũ cán bộ được huấn luyện về chủ nghĩa cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đưa họ trở về nước hoạt động. Người còn đưa khá nhiều tài liệu, sách báo cách mạng vào Việt Nam theo nhiều đường khác nhau.

Trong lúc công việc của Nguyễn Ái Quốc đang được tiến hành thuận lợi thì ở Trung Quốc xảy ra sự biến: Cánh hữu của Quốc dân Đảng mở cuộc tiến công vào những người cộng sản. Nhiều người Việt Nam đang hoạt động tại Trung Quốc bị bắt. Nguyễn Ái Quốc đành phải rời Quảng Châu để đi Liên Xô. Từ Liên Xô, Người đã có những chỉ thị quan trọng nhằm thúc đẩy việc thành lập Đảng. Và Nguyễn Ái Quốc còn đặc biệt chăm lo giáo dục cán bộ Việt Nam học tại trường Đại học Phương Đông, để sau khi học xong, trở về Tổ quốc, sẽ trở thành những cán bộ nòng cốt của Đảng trong tương lai. Trong số đó, Nguyễn Ái Quốc có chủ trương đào tạo Trần Phú từ lâu.

Trang giai đoạn Đảng chuẩn bị ra đời, mặc dù Nguyễn Ái Quốc không có ở trong nước, nhưng những học trò của Người vẫn tiếp tục xúc tiến công việc mà người thầy đã vạch ra.

Sự ra đời của Chi bộ cộng sản đầu tiên ở trong nước, Chi bộ 5Đ Hàm Long, vào hạ tuần tháng 3-1929, là dấu hiệu về mặt tổ chức cho thấy một đảng cộng sản sắp ra đời. 3 tháng sau đó, Đông Dương Cộng sản Đảng thành lập ngày 17-6-1929, tại nhà số 312, phố Khâm Thiên, Hà Nội. Di sản quan trọng về mặt lý luận mà Đông Dương Cộng sản Đảng để lại là bản Tuyên ngôn. Tuyên ngôn phân tích sâu sắc chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản, đồng thời vạch ra những bước đi của cách mạng Việt Nam, được Quốc tế Cộng sản biết đến và đánh giá cao.

Sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời, tại Việt Nam còn xuất hiện 2 tổ chức cộng sản nữa: An Nam Cộng sản Đảng (7-1929) và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (9-1929). Mục đích hướng tới của 3 tổ chức cộng sản này là giống nhau, nhưng lại khác nhau về phương pháp, cho nên đã dẫn đến chỗ mâu thuẫn và bài xích nhau.

Thời gian này, Nguyễn Ái Quốc đang ở Thái Lan. Từ Thái Lan, Người đến Hương Cảng (Trung Quốc) vào ngày 23-12-1929. Người triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng để bàn việc thống nhất Đảng. Lúc bấy giờ, Nguyễn Ái Quốc chưa nhận được nghị quyết của Quốc tế Cộng sản về việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương đã được soạn thảo từ tháng 10-1929 và đến tháng 11-1929 mới được thông qua. Vì thế, văn bản nghị quyết ấy không thể chuyển kịp tới Nguyễn Ái Quốc trong thời gian Hội nghị thành lập Đảng diễn ra trong căn phòng nhỏ hẹp của xóm thợ thuyền tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) từ ngày 3-2-1930, do Nguyễn Ái Quốc, bí danh Vương, đại diện Quốc tế Cộng sản, chủ trì. Hội nghị tán thành ý kiến chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, thông qua kế hoạch thành lập một đảng lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam và các văn kiện: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo.

Nhân Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc ra Lời kêu gọi nhân dân Việt Nam tham gia cách mạng.

Những văn kiện này là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, các nghị quyết của Quốc tế Cộng sản về phong trào giải phóng dân tộc, đề ra đường lối đúng đắn cho cách mạng Việt Nam phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước.

Đánh giá ý nghĩa của sự kiện thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa xuân năm 1930. Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”.

Ngày 24-2-1930, theo yêu cầu của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng ra quyết định chấp nhận Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam…

Thành công của Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm sáng tỏ thêm tầm cao tư tưởng và phương pháp lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc, Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta.

Nguồn: baobinhduong.org.vn

tuoitrebinhduong.vn

Về cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh

“Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội… sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hoá hàng nghìn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau.”(Nghị quyết của UNESCO)

Chủ tịch Hồ Chí Minh, tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19 tháng 5 nǎm 1890 tại quê ngoại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nhà nho yêu nước.

Thân phụ Người là ông Nguyễn Sinh Sắc, sinh nǎm 1862 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An.Thân mẫu của Người là bà Hoàng Thị Loan sinh năm 1868, là một phụ nữ thông minh, cần cù chịu khó, thương yêu chồng con và giàu lòng nhân ái.

 Ngày 5 tháng 6 nǎm 1911, Người rời Sài Gòn đi Mác-xây (Marseille) Pháp bằng cách phụ bếp cho tàu Amiran Latusơ Tơrêvin (Amiral Latouche Tréville), bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước. Từ nǎm 1911 đến nǎm 1920, Người đã đến nhiều nước ở châu Âu, châu Phi , châu Mỹ, nghiên cứu và học hỏi để quyết định con đường Cứu nước.

Năm 1920, Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tua. Năm 1921, người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp; xuất bản tờ báo Người cùng khổ ở Pháp (1922). Năm 1923, Người được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế Nông dân. Năm 1924, Người tham dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản và được chỉ định là Uỷ viên thường trực Bộ Phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục Phương Nam. Năm 1925, Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Châu Á, Xuất bản hai cuốn sách nổi tiếng: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) và Đường cách mệnh (1927).

Năm 1925, Người thành lập Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội ở Quảng Châu (Trung Quốc) và tổ chức “Cộng sản đoàn” làm nòng cốt cho Hội đó, đào tạo cán bộ Cộng sản để lãnh đạo Hội và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.

Ngày 3-2-1930, Người chủ tọa Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long (gần Hương Cảng). Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ Đảng do chính Người soạn thảo. Người ra lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đổi là Đảng Cộng sản Đông Dương, rồi Đảng Lao động Việt Nam và nay là Đảng Cộng sản Việt Nam ).

Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Véc-xây (Versailles)

Từ năm 1930 đến 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục hoạt động cho sự nghiệp giải phóng của dân tộc Việt Nam của các dân tộc bị áp bức khác trong những điều kiện vô cùng gian khổ và khó khăn.

Ngày 28 tháng 1 nǎm 1941, Người về nước, chọn Cao Bằng làm cǎn cứ địa xây dựng tổ chức, phát động phong trào cách mạng. Vùng Khuổi Nậm Pác Bó là nơi họp Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương (tháng 5 nǎm 1941) do Nguyễn A’i Quốc chủ trì, nơi ra báo Việt Nam độc lập, mở các lớp huấn luyện xây dựng lực lượng cách mạng. Pác Bó có hang Cốc Bó, nơi Bác Hồ chọn làm chỗ ở và làm việc của mình.

Ngày 6 tháng 6 nǎm 1941, Người gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đoàn kết lại đánh đuổi đế quốc ,Việt gian cứu nước.

Tháng 8 nǎm 1942, Người sang Trung Quốc, bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam, bị giải qua gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian này, Người đã viết tác phẩm thơ nổi tiếng “Nhật ký trong tù”, cho đến nay đã được dịch ra hơn 10 thứ tiếng.

Tháng 9 nǎm 1943 Người được trả tự do. Tháng 3 nǎm 1944 tham dự Hội nghị các lực lượng cách mạng Việt Nam ở Liễu Châu (Trung Quốc). Tháng 9 nǎm 1944, Người trở lại Cao Bằng, gửi thư cho đồng bào toàn quốc kêu gọi chuẩn bị triệu tập Quốc dân đại hội. Tháng 12 nǎm 1944, Người quyết định thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của quân đội nhân dânViệt Nam.

Ngày 9 tháng 3 nǎm 1945, phát xít Nhật đảo chính hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương.

Ngày 12 tháng 8 nǎm 1945, Hồ Chí Minh cùng Ban thường vụ Trung ương Đảng quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Ngày 19-8, khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội, ngày 23-8 thắng lợi ở Huế, ngày 25 tháng 8 thắng lợi ở Sài Gòn.

Ngày 2 tháng 9 nǎm 1945, tại Quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Namquyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn dân đấu tranh xây dựng, củng cố và giữ vững chính quyền non trẻ. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời 3-9-1945, Người đề ra những nhiệm vụ cấp bách lúc đó là động viên toàn dân chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.

Trước dã tâm của thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi cả nước. Sáng ngày 20 tháng 12nǎm 1946, trên làn sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam, lời kêu gọi cứu nước của Người đã truyền đi khắp nước: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành được thắng lợi to lớn, kết thúc bằng chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ (1954).

Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (1955) Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) đã nhất trí bầu lại Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Quốc hội khóa II, khóa III đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nǎm 1962, khi tiếp Đoàn đại biểu nhân dân miền Nam ra thǎm miền Bắc, Chủ tịch Hổ Chí Minh nói: “Hình ảnh miền Nam yêu quý luôn luôn ở trong trái tim tôi”.

Tháng 8 nǎm 1964 đế quốc Mỹ gây ra sự kiện “Vịnh Bắc Bộ”, và từ tháng 2 nǎm 1965 đã mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc và ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Trước tình hình đó Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn thể nhân dân ViệtNam đứng lên chống Mỹ cứu nước. Tháng 7 nǎm 1966 Mỹ đã dùng máy bay ném bom Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 nǎm, 10 nǎm, 20 nǎm, hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.

Vào hồi 9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 nǎm 1969, trái tim của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngừng đập, để lại nỗi tiếc thương vô hạn cho toàn thể nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Nhà thơ Tố Hữu đã viết về những ngày tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội:

“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…. “

Ban biên tập     
(Tổng hợp thông tin)

hdnd.dongnai.gov.vn