Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Hồi ức từ những hiện vật bảo tàng về Mậu Thân 1968

(VOV) – Với hơn 300 tư liệu, hình ảnh, hiện vật tiêu biểu có giá trị, triển lãm đã làm sống lại trang sử hào hùng của chiến dịch Mậu Thân.

Nhân dịp kỷ niệm 83 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân 1968, sáng 1/2, Bảo tàng TP HCM khai mạc Triển lãm chuyên đề “45 năm Xuân Mậu Thân – hồi ức từ những hiện vật bảo tàng”.

Quân giải phóng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968 (Ảnh tư liệu)  

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 của quân dân ta là một bước ngoặt  lịch sử, tiêu hao, tiêu diệt phần lớn sinh lực địch, buộc Mỹ xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc, rút dần quân về nước, chấp nhận đàm phán với ta tại Paris.

Với hơn 300 tư liệu, hình ảnh, hiện vật tiêu biểu có giá trị, triển lãm đã làm sống lại trang sử hào hùng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân mậu thân 45 năm về trước. Không chỉ nêu bật lòng anh dũng và chí khí tiến công địch của các lực lượng vũ trang cách mạng, triển lãm còn nói lên  sự mưu trí, quả cảm sáng tạo và khát vọng hòa bình của các gia đình là cơ sở cách mạng, các chiến sĩ giao liên trong những tháng ngày gian nan, ác liệt đó.  Triển lãm kéo dài đến hết tháng 2/2013./.

PV/VOV – TPHCM
vov.vn

Ký ức của những người làm nên chiến dịch Tết Mậu Thân

(VOV) -“Anh thủ trưởng trước khi hy sinh đã trăn trối phải giữ vững trận địa và chúng tôi quyết chiến đấu đến cùng”.

Tiệm Phở Bình nằm trên đường Lý Chính Thắng, quận 3, TP HCM được nhiều khách trong và ngoài nước biết đến không chỉ vì ngon, sạch sẽ, lịch sự mà còn vì đây là di tích lịch sử cấp Quốc gia gắn liền với chiến dịch Mậu Thân 1968.

Cách đây 45 năm, tiệm Phở Bình của ông Ngô Toại được chọn làm Sở chỉ huy Tiền phương – Phân khu 6 (thuộc Đặc khu Sài Gòn – Gia Định) là trụ sở tập kết các chiến sĩ, cán bộ để truyền đạt mệnh lệnh trong Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Nữ tự vệ trong các cơ quan trực thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam sẵn sàng cho Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 (Ảnh: Tư liệu)

Đúng mệnh lệnh, 3h sáng mùng 2 Tết Mậu Thân, lực lượng đặc công biệt động đã đánh trúng 5 mục tiêu quan trọng nhất trong 9 mục tiêu nằm trong danh sách tấn công tại Sài Gòn, đó là: Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ tư lệnh Hải quân, Đài phát thanh và Bộ tổng tham mưu.

Bà Vũ Minh Nghĩa, bí danh Chín Nghĩa, công tác tại đội 5, biệt động Sài Gòn – Gia Định, tham gia đánh vào Dinh Độc Lập năm Mậu Thân cho biết: Để bảo đảm kế hoạch và bí mật, đơn vị bà phải hành quân và nổ súng trước quy định 15 phút. Sau khi chiếm được Dinh Độc Lập, 15 chiến sĩ đặc công biệt động đã anh dũng chiến đấu giữ được trận địa trong 2 ngày 1 đêm.

Bà Chín Nghĩa nhớ lại: “Chúng tôi phải men theo từng bức tường, các bụi cây để chiến đấu chống lại quân tiếp viện của chúng. Đến sáng mùng 2, chúng tôi đành rút vào cao ốc đối diện. Địch tấn công thì chúng tôi lên lầu 1. Lực lượng chúng tôi hy sinh 7 người, 8 người đều bị thương. Anh thủ trưởng trước khi hy sinh đã trăn trối phải giữ vững trận địa, chờ tiếp viện cho đến hơi thở cuối cùng. Cho nên chúng tôi thề thực hiện lời trăn trối của thủ trưởng mình”.

Trong tình thế vô cùng khó khăn, thiếu súng đạn, không thức ăn, nước uống, chỉ còn 8 người nhưng họ đã làm được kỳ tích là đánh chiếm được Dinh Độc Lập và giữ được trong nhiều ngày, nhiều giờ.

Tham gia cùng với lực lượng đặc công biệt động đánh chiếm vào Đài phát thanh năm Mậu Thân 1968, ông Nguyễn Trọng Xuất, tức Sáu Nhân, lúc đó là Phó ban Tuyên huấn Khu Sài Gòn-Gia Định, bồi hồi nhớ lại: “Tôi lúc đó được phân công cùng anh em chiếm Đài phát thanh. Lực lượng chúng tôi là tuyên huấn, nên vũ khí không phải là súng đạn mà là máy ghi âm và lời kêu gọi của mặt trận là phải nằm lòng. Chúng tôi vào ngôi nhà tầng thứ 3 đường Hiền Vương, nay là đường Võ Thị sáu. Ông chủ nhà đón tiếp rất vui vẻ bảo “cho tụi bay nguyên căn nhà đó, khi nào tấn công thì vào Đài phát thanh thôi”.

Trong 5 mục tiêu tấn công tại Sài Gòn, thì Tòa đại sứ Mỹ được xem là mục tiêu quan trọng nhất. 17 chiến sĩ đặc công biệt động đã làm choáng váng, rúng động trên toàn nước Mỹ khi tấn công vào sào huyệt được xem là bất khả xâm phạm này. Các nhà báo Mỹ lúc đó đã viết: chiến tranh đã đi vào phòng ngủ của quân Mỹ. Từ tác động của đợt tấn công này mà phong trào phản chiến ở Mỹ càng mạnh hơn, góp phần làm cho Mỹ phải xuống thang chiến tranh tại Việt Nam.

Ngay những ngày Tết Mậu Thân, giữa vòng vây dày đặc của kẻ thù, 88 cán bộ, chiến sĩ đặc công biệt động Sài Gòn đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, 74 người đã hy sinh hoặc sa vào tay giặc trong tư thế “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Tinh thần chiến đấu anh dũng của họ khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ và tăng thêm lòng khâm phục và niềm tin yêu quân giải phóng của nhân dân Sài Gòn và đồng bào Nam bộ.

Đại tá Võ Văn Tòng, nguyên Chính ủy Sư đoàn 9, chủ lực Miền, người trực tiếp chỉ huy các trận đánh Mậu Thân 1968, kể lại: “Trong trận đánh Mậu Thân đợt 2, các Trung đoàn của Sư 9 đánh vào Sài Gòn. Hai phẩm chất mà dân Sài Gòn nhận được từ quân giải phóng là dũng cảm và kỷ luật. Chiến đấu dũng cảm, bị thương không có chuyện gì lớn. Trong khi đánh giặc thiếu lương thực, quần áo rách rưới nhưng không có lấy một món nào ở cửa hàng lương thực và cửa hàng quần áo mới. Vì vậy mà dân thương. Mình bị thương là người ta chăm sóc và giấu rồi tìm cách cho ra chiến khu sau. Sau khi Sư 9 đánh vô Sài Gòn đợt 2 rồi rút ra, cán bộ dân vận đánh giá là để lại ấn tượng sâu sắc cho nhân dân Sài Gòn, mà tình cảm đó 2, 3 năm làm công tác dân vận cũng không đạt được”.

Chính vì lẽ đó mà nhiều người đã hiểu ra rằng: vì sao trong ngày 30/4/1975, khi quân giải phóng tiến vào Sài Gòn, người dân thành phố không bỏ chạy mà lại ùa ra chào đón nồng nhiệt.

45 năm trôi qua, đất nước đã trải qua bao đổi thay, nhưng chiến dịch Mâu Thân 1968 luôn là trang sử hào hùng của dân tộc. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã góp phần quan trọng buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán đi tới ký kết hiệp định Paris để đến ngày 30/4/1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất, trọn vẹn non sông./.

Cao Thoa/VOV-TP HCM
vov.vn

Khánh thành Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân 1968

Sáng ngày 07/02, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch long trọng tổ chức Lễ khánh thành công trình Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân 1968 tại rạp hát Cao Văn Lầu, thành phố Bạc Liêu.

Dự Lễ có đồng chí Võ Văn Dũng, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND, Ủy MTTQ Việt Nam tỉnh, các cô chú là nhân chứng lịch sử trong sự kiện Mậu thân tại Bạc Liêu cùng đại diện lãnh đạo một số sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh.

Công trình Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân được khởi công xây dựng từ ngày 01/7/2012, hoàn thành sau 90 ngày thi công, được đặt tại rạp hát Cao Văn Lầu, nơi in đậm dấu ấn lịch sử của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968 tại Bạc Liêu.

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh thực hiện nghi thức khánh thành Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân.
Ảnh: www.baclieu.gov.vn

Bia tưởng niệm được thiết kế với hình lá cờ Tổ quốc – tượng trưng cho đất nước Việt Nam với khát vọng được giải phóng, thống nhất nước nhà; phía dưới là hoa văn hình sóng nước – tượng trưng cho trào lưu cách mạng; trên bia có 1 cành hoa mai – tượng trưng cho thời điểm diễn ra sự kiện lịch sử xuân Mậu thân 1968 cùng hình ảnh khẩu súng  AK – tượng trưng cho người chiến sĩ chiến đấu không mệt mỏi trước kẻ thù. Mỗi bên Bia tưởng niệm là bảng đá ghi lại những khoảnh khắc bi hùng của các chiến sĩ Tiểu đội biệt động và Trung đội du kích xã Châu Hưng trong cuộc tử chiến vào Tết Mậu thân 1968 tại rạp Cao Văn Lầu và bảng đá ghi danh những chiến sĩ tham gia trận đánh này.

Công trình Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân 1968 tại rạp hát Cao Văn Lầu. Ảnh: www.baclieu.gov.vn

Công trình Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân hoàn thành đúng vào dịp kỷ niệm 45 năm Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968 – 2013 có ý nghĩa rất to lớn, là tấm lòng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bạc Liêu nhằm tưởng nhớ và tri ân đến các anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong trận đánh Mậu Thân 1968. Ngoài ra, thông qua Công trình Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân 1968 còn giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hôm nay và mai sau của tỉnh nhà về truyền thống đấu tranh cách mạng, tinh thần trách nhiệm, ý thức tự lực tự cường, lòng yêu quê hương đất nước.

Các đại biểu đã đặt cành hoa trước Bia để tưởng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh

Tại buổi lễ, sau khi thực hiện nghi thức khánh thành công trình Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân, các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Việt Nam tỉnh cùng các đại biểu đã đặt cành hoa trước Bia để tưởng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong trận đánh lịch sử hào hùng này.

V.T
bqllang.gov.vn

Bác Hồ với mùa Xuân của Đảng, của dân tộc

1
Ảnh Tư liệu

“Một năm khởi đầu từ mùa Xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ…”, mùa Xuân luôn khiến ta cảm thấy tràn trề nhựa sống, thiên nhiên, vạn vật dường như cũng sinh sôi nảy nở hơn vào mùa Xuân. Với dân tộc ta, mùa Xuân không chỉ thể hiện cho sự giao mùa, sự kết thúc của một năm cũ bước sang năm mới mà mùa Xuân còn gắn với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc. Kể từ mùa Xuân đầu tiên nhân dân ta có Đảng, ngày 3-2-1930 đến nay, đã có rất nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc ta diễn ra.

Từ mùa Xuân Canh Ngọ năm 1930, nhận được liên lạc của Quốc tế Cộng sản, Bác Hồ của chúng ta sau khi bàn bạc với các đồng chí của mình, Bác quyết định tổ chức Hội nghị hợp nhất các Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930 (trùng với ngày 6 đến ngày 8 tháng 1 âm lịch) tại Cửu Long (Trung Quốc). Ngày cuối cùng của Hội nghị, Người xúc động nói: “Các đồng chí! Hôm nay là ngày lịch sử của chúng ta. Lê-nin vĩ đại đã nói: Chỉ Đảng nào có được một lý luận tiên phong, mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong. Bây giờ chúng ta đã có một Đảng như thế rồi – Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Nhân dân ta từ xưa đã có truyền thống anh dũng, nhưng suốt những năm ấy nhân dân ta lại thiếu những người cầm lái sáng suốt. Giờ đây, Đảng của chúng ta phải gắn lấy vai trò này và tôi tin rằng Đảng ta phải dẫn dắt nhân dân ta đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc thân yêu”.Đúng như vậy, từ mùa Xuân năm 1930 cách mạng Việt Nam có Cương lĩnh đúng đắn do Bác Hồ khởi thảo, được Đảng  không ngừng hoàn thiện, đời sống chính trị, tinh thần, khí thế đấu tranh cách mạng của toàn dân ta đã chuyển qua một giai đoạn mới, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua giông bão đi tới bến vinh quang.

Sau gần 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, mùa Xuân năm 1941, Bác Hồ đã trở về Cao Bằng – mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc với bản Nghị quyết lịch sử của Hội nghị Trung ương VIII. Những công việc đầu tiên của Người là chỉ đạo Đảng ta thành lập Mặt trận Việt Minh, tập hợp lực lượng toàn dân đứng lên để “đem sức ta mà giải phóng cho ta”; tổ chức xây dựng căn cứ địa cách mạng làm nơi đứng chân để xây dựng lực lượng, tích lũy lương thực, súng đạn, chuẩn bị tiền đề vật chất cho tổng khởi nghĩa cách mạng giành chính quyền. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ và sự đồng lòng đồng sức của nhân dân, Tổng khởi nghĩa đã thành công. Sự thành công của Cách mạng Tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta: Kỷ nguyên của độc lập, tự do, hạnh phúc.Xuân Bính Tuất năm 1946 là mùa Xuân độc lập đầu tiên của dân tộc và cũng là lần đầu tiên cả nước ta được nghe Thơ chúc Tết của Bác Hồ vào giao thừa năm 1946. Mọi người vẫn còn nhớ lời Bác nhắn gửi các chiến sĩ lúc bấy giờ đang đánh thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam:

Bao giờ kháng chiến thành công
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào.

và chúc Tết toàn thể đồng bào:
Trong năm Bính Tuất mới
Muôn việc đều tiến tới
Kiến quốc mau thành công
Kháng chiến mau thắng lợi.
Việt Nam độc lập muôn năm.

Trong bài “Mừng báo Quốc gia”, nhân Tết độc lập đầu tiên, Người đã chúc:

“Tết này mới thật Tết dân ta
Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia
Độc lập đầy vơi ba cốc rượu
Tự do vàng đỏ một rừng hoa.
Muôn nhà chào đón Xuân dân chủ,
Cả nước vui chung phúc cộng hòa”.

Lời chúc của Bác thật đơn sơ, mộc mạc nhưng thấm đẫm nghĩa tình với triết lý “Tết này mới thật Tết dân ta”, chỉ một câu này thôi đã đủ cho ta thấy được ý nghĩa lớn lao của cái Tết độc lập đầu tiên của dân tộc. Vì từ xưa đến nay  nhân dân ta chưa bao giờ được làm chủ mình, mà trước thì phải nghe lời vua quan, sau thì phải nghe lời thực dân cướp nước, luôn phải sống cuộc sống một cổ hai tròng. Chỉ từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công, dân ta mới biết thế nào là tự do, bình đẳng, bác ái.

Sau mùa Xuân độc lập đầu tiên của dân tộc, mùa Xuân Bính Tuất năm 1946, cả dân tộc ta bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.Trong giai đoạn trường kỳ kháng chiến này vào mỗi độ Xuân về Bác vẫn luôn làm thơ chúc Tết đồng bào cả nước. Những vần thơ chúc Tết, chào đón mùa Xuân của Bác luôn gieo vào lòng mọi người niềm tin thắng lợi của ngày mai. Đó cũng là biểu hiện của tinh thần lạc quan cách mạng của người cộng sản. Khi cách mạng gặp khó khăn hay khi gần thắng lợi, Bác luôn thể hiện một niềm tin mãnh liệt vào tương lai. Vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Bác đã nói:

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi
Thống nhất độc lập nhất định thành công.

Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” cũng bắt đầu từ những ngày đầu mùa Xuân năm 1954. Với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã mở đầu cho sự sụp đổ hoàn toàn của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi toàn thế giới, chấm dứt gần một trăm năm đô hộ của thực dân Pháp trên đất nước ta. Miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lâu dài và vô cùng gian khổ, dân tộc ta đã có biết bao chiến công hiển hách được ghi dấu ấn lịch sử  từ những mùa Xuân. Mở đầu cho những chiến công to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đó là khởi nghĩa Đồng khởi của quân và dân Bến Tre vào mùa Xuân năm 1960, tạo một bước phát triển mới quan trọng của cách mạng miền Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 tạo tiếng vang lớn làm đau đầu cả Lầu Năm Góc, báo hiệu sự sụp đổ không thể nào tránh khỏi của quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai.

Vào giao thừa Mậu Thân chuyển sang Kỷ Dậu (2 năm 1969), đồng bào và chiến sĩ cả nước quây quần bên nhau chăm chú lắng nghe bài thơ chúc Tết của Bác Hồ truyền qua làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam:

Năm qua, thắng lợi vẻ vang,
Năm nay, tiền tuyến chắc càng thắng to !
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
Tiến lên ! chiến sĩ, đồng bào,
Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn !

Đây cũng là lần cuối cùng đồng bào cả nước được nghe thơ của Bác, lời của Người thể hiện một ý chí sắt thép, một nghị lực phi thường. Lời thơ Xuân như hịch truyền cổ vũ cuộc đấu tranh cách mạng ngoan cường mà Hồ Chí Minh là ngọn cờ, là hồn thiêng sông núi.

Từ đó, hằng năm đến giao thừa, ta không còn có cái hạnh phúc được nghe giọng ấm cúng của Bác đọc thơ Xuân mới nữa, nhưng âm vang hào hùng và sâu lắng trong những bài thơ Xuân của Bác vẫn còn rung động lòng ta mãnh liệt. Theo những lời thơ chúc Tết của Bác và cũng là những mệnh lệnh, sự tiên đoán thần kỳ, để rồi cuộc tiến công chiến lược mùa Xuân năm 1972, đặc biệt là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm đó đã làm sụp đổ hoàn toàn uy lực của không lực Hoa Kỳ, buộc chúng phải ký Hiệp định Pa-ri rút quân về nước ngày 27/1/1973. Và cuối cùng là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang ba mươi năm chiến tranh giải phóng giành độc lập, thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong mùa Xuân năm 1975 như một điểm hẹn lịch sử, là sự kết tinh của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn, theo tư tưởng Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Đã trải qua 83 năm, qua nhiều thăng trầm của lịch sử nhưng mỗi năm Tết đến, Xuân về, toàn dân tộc ta vẫn rộn ràng niềm vui, niềm tự hào: “Mừng Đảng, mừng Xuân” và mỗi mùa Xuân mới mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi người dân của dân tộc Việt Nam anh hùng luôn nguyện sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại, phấn đấu thực hiện thành công mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, hiên ngang sánh vai với các cường quốc năm châu như mong ước của Người

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Đọc thơ Bác Hồ mừng Tết Quý Tỵ 60 năm trước

Bác Hồ chúc TếtQuân và dân ta vừa trải qua bảy năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, liên tiếp giành thắng lợi trên khắp các chiến trường, mà gần nhất là chiến thắng Tây Bắc Thu – Đông năm 1952 giải phóng hoàn toàn một vùng rộng lớn, nối liền nước ta với nước bạn Lào. Còn ở hậu phương, chính sách giảm tô, cải cách ruộng đất vừa được Chính phủ ban hành như luồng gió mới làm nức lòng hàng triệu nông dân. Trong bối cảnh ấy, thơ chúc Tết Quý Tỵ 1953 của Bác Hồ cũng hào sảng, phấn chấn và giục giã lòng người hơn năm trước.

Ngay từ câu mở đầu, Bác Hồ như không nén được niềm vui, muốn nói to lên, nhấn mạnh thêm cho mọi người cùng reo mừng một năm cũ vừa qua, năm mới đã tới, nông dân được phát động đứng lên giành ruộng đất về tay mình, biến ước mơ ngàn đời “người cày có ruộng” thành hiện thực, nên cả hậu phương đều tưng bừng phấn khởi; còn tiền tuyến thì toàn quân đang thi đua giết giặc lập công. Như một điệp khúc náo nức niềm vui, liên tiếp năm câu ở đoạn mở đầu bài thơ được bắt đầu bằng từ “mừng”. Quả là năm Nhâm Thìn 1952 qua, năm Quý Tỵ 1953 tới với nhiều niềm vui mừng khôn xiết.

Sau niềm vui lớn là những nhiệm vụ cụ thể của năm mới tới. Khác thơ chúc Tết mừng Xuân của Bác Hồ hai năm Tân Mão 1951, Nhâm Thìn 1952, thường được mở đầu bằng việc điểm lại năm cũ: “Xuân này kháng chiến đã năm Xuân” (1951), hoặc “Kháng chiến vừa sáu năm/ Trường kỳ và gian khổ” (1952), “Thơ mừng Tết Quý Tỵ 1953” của Bác Hồ đi thẳng vào nhiệm vụ lớn của đồng bào, chiến sỹ cả nước. Đó là, ở hậu phương cuộc phát động nông dân đứng lên làm giảm tô, cải cách ruộng đất thắng lợi, tạo ra động lực cách mạng và niềm phấn khởi của hàng triệu nông dân: “Mừng phát động nông dân/ Mừng hậu phương phấn khởi”. Chính cuộc phát động giảm tô, cải cách ruộng đất cũng tiếp thêm sức mạnh cho con em nông dân đang cầm súng chiến đấu ngoài tiền tuyến: “Mừng tiền tuyến toàn quân/ Thi đua chiến thắng mới”. Thơ mừng Tết của Bác Hồ đã nêu bật mối quan hệ máu thịt giữa tiền tuyến-hậu phương trong cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh của dân tộc ta.

Để mối quan hệ ấy thực sự tạo sức mạnh vĩ đại, đưa kháng chiến đến thành công, Bác Hồ một lần nữa nhấn mạnh đến sự đoàn kết: “Mừng toàn dân đoàn kết”. Đoàn kết là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng của Bác Hồ. Mỗi độ Xuân về Tết đến theo truyền thống mọi người có dịp sum họp, thì lại càng cần nhắc nhau giữ gìn sự đoàn kết, cội nguồn sức mạnh. Có lẽ vì thế, thơ chúc Tết mừng xuân của Bác Hồ từ bài đầu tiên (năm 1942) đến năm Quý Tỵ 1953, hầu như bài nào cũng nói tới đoàn kết. Chúng ta nhớ lại, năm 1942 cách mạng còn trong trứng nước, tập hợp quần chúng là nhiệm vụ hàng đầu của Mặt trận Việt Minh, thơ “Mừng xuân 1942” của Bác Hồ đã viết: “Chúc đồng bào ta đoàn kết mau”, đến thơ “Chúc năm mới Đinh Hợi 1947”, Tết đầu tiên của cuộc trường kỳ kháng chiến chín năm chống Pháp thì trong thơ, Bác Hồ lại khẳng định: “Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng”. Sang năm 1948, thơ chúc Tết Mậu Tý của Bác Hồ lại một lần nữa thể hiện sức mạnh đoàn kết không gì lay chuyển được: “Toàn dân đại đoàn kết/ Cả nước dốc một lòng”. Đoàn kết được Bác Hồ nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong thơ chúc Tết mừng Xuân như những điều tốt lành cầu chúc cho nhau mỗi dịp Xuân về Tết đến. Đọc thơ chúc Tết mừng Xuân của Bác Hồ chúng ta càng thấy tấm lòng trời biển của Người chăm lo cho sự đoàn kết toàn dân tộc.

Sau bảy năm trường kỳ kháng chiến, mùa Xuân Quý Tỵ 1953 đến với quân dân ta quả là một mùa Xuân vui. Niềm vui ấy như thấy hiện nên ngay từng câu thơ trong bài “Mừng Tết Quý Tỵ 1953” của Bác Hồ. Bài thơ có 12 câu được viết theo lối tự do, khoáng đạt mà có tới 10 câu được bắt đầu bằng chữ “mừng”. Đúng là niềm vui không thể kìm nén, nên giọng thơ hào sảng, dạt dào cảm xúc.

“Thơ mừng Tết Quý Tỵ 1953” Bác Hồ viết 60 năm về trước, nhưng mùa Xuân Qúy Tỵ này đọc lại vẫn mới, vẫn hợp vô cùng với những lời chúc đầu năm. Chẳng hạn hai câu: “Mừng năm mới, nhiệm vụ mới /Lực lượng mới, thành công mới” thì ngày nay mọi người vẫn chúc nhau như vậy để đón năm mới với bao vui mừng và niềm tin vào tương lại phía trước.

HỒ CHÍ MINH

Thơ mừng Tết Quý Tỵ

Mừng năm Thìn vừa qua,

Mừng Xuân Tỵ đã tới.

Mừng phát động nông dân,

Mừng hậu phương phấn khởi.

Mừng tiền tuyến toàn quân,

Thi đua chiến thắng mới.

Mừng toàn dân đoàn kết,

Mừng kháng chiến thắng lợi.

Mừng năm mới, nhiệm vụ mới,

Lực lượng mới, thành công mới.

Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào,

Mừng phe dân chủ, hòa bình thế giới.

                                              Xuân Quý Tỵ 1953
Theo Báo Hải Dương online

Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Mùa Xuân này Bác về với Tây Nguyên

Gia Lai, những ngày đầu Xuân, trời trong veo. Và nắng, vàng tươi, rực rỡ. Và gió, sao bỗng dịu dàng, thơm mùi cơm mới. Vào bất cứ thời điểm nào trong ngày, nếu có dịp ngang qua Quảng trường Đại Đoàn Kết (TP. Pleiku), lòng tôi cũng lại ngân lên những câu thơ đắm lòng trong trường ca “Theo chân Bác” của nhà thơ Tố Hữu: “Ta hiểu. Miền Nam thương nhớ Bác/ Nóng lòng mong đợi Bác vào thăm/ Ta hiểu. Đêm nằm nghe gió gác/ Bác thường trăn trở, nhớ miền Nam!”. Vậy là, kể từ mùa Xuân Quý Tỵ này, Bác đã về với Tây Nguyên.

Từ nay, công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên sẽ là nơi để đồng bào các dân tộc Tây Nguyên thể hiện lòng tôn kính đối với Bác Hồ; là nơi để chúng ta dâng hoa, báo công với Người và tự sửa mình khi làm những điều chưa tốt, có hại đối với đất nước, đối với nhân dân. Đặc biệt, đây còn là nơi có ý nghĩa giáo dục truyền thống cách mạng đối với các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ”- Bí thư Tỉnh ủy Hà Sơn Nhin khẳng định.

2
Lễ khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên. Ảnh: Đức Thụy

Thỏa niềm mong ước

Một lòng sắt son theo Đảng, theo Bác Hồ suốt từ những năm tháng đói cơm lạt muối trong 2 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm cho đến công cuộc dựng xây và phát triển đất nước, lòng người Tây Nguyên lúc nào cũng khôn nguôi nhớ Bác. Bởi, người Tây Nguyên hiểu rằng, chính Bác Hồ là người yêu quý đồng bào, người luôn khẳng định, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên là anh em ruột thịt, không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Từ ngày Bác đi xa, đã có biết bao người con của núi rừng Tây Nguyên hành hương về nơi Bác ở, mà thưa với Bác rằng: Chúng con khắc ghi và làm theo lời Bác dặn, đoàn kết cùng nhau bảo vệ và xây dựng quê hương; để lại bày tỏ nguyện vọng thiết tha mong được đón Bác về ở mãi với đồng bào Tây Nguyên. Nay thì nguyện vọng ấy đã trở thành hiện thực, khi ngày ngày, đã có biết bao người dân đến với Quảng trường Đại Đoàn Kết lộng gió – đến để ngước nhìn lên tượng Bác, để chiêm ngắm khuôn mặt sáng ngời của cụ già rất phương Đông, quần áo ka-ki, dép cao su, giản dị gần gũi mọi người và đặc biệt là để thấy Bác Hồ cười trong niềm vui mãi mãi. Giữa đất trời Tây Nguyên, Người đứng đó, cao sang mà gần gũi, vĩ đại mà giản dị, như chính cuộc đời của một vị lãnh tụ suốt đời vì nước vì dân.

Còn nhớ, tại lễ khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm xúc động biết bao trái tim – những người dự lễ và xem trực tiếp trên sóng của Đài Truyền hình Việt Nam. Sau khi ôn lại tình cảm đau đáu của Bác Hồ với Tây Nguyên, tình cảm thủy chung, son sắt của đồng bào Tây Nguyên với Bác, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Được biết, hiện nay ở Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum, vẫn đang lưu giữ một tượng Bác bằng đồng, cao 12,5 cm, do đồng bào Jrai đúc thủ công từ những năm đầu của thập niên 60 thế kỷ trước, trong những năm Mỹ – Diệm lê máy chém khắp miền Nam, hòng tiêu diệt những người cách mạng, những chiến sĩ cộng sản.

Bức tượng đã được truyền tay từ người ngã xuống cho thế hệ sau với lời dặn: “Đây là tượng Bác Hồ, các đồng chí hãy giữ lấy làm cách mạng, dù có phải hy sinh cũng quyết giữ gìn”. Cảm động biết bao tình dân với Bác, tình người Tây Nguyên một lòng son sắt với Bác. Và chính đó cũng là một nguồn sức mạnh để đồng bào Tây Nguyên cùng cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và ngày nay đang tiến hành công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần làm cho Tây Nguyên chúng ta ngày càng phát triển, trở nên trù phú, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện…”.

Lời của Tổng Bí thư khiến tôi nhớ đến câu chuyện của ông Siu Yú ở làng Jít Jẻ, xã Ia Lang, huyện Đức Cơ một trong những người cùng các đảng viên và nhân dân trong xã cất giữ tượng Bác Hồ ngày ấy. Trong suốt câu chuyện với chúng tôi, chốc chốc ông Yú lại nghẹn lời, vì xúc động. “Chúng tôi đúc tượng là để tỏ lòng kính yêu với Bác, để ngày ngày anh em đồng chí đồng đội được gần Bác, kể cho Bác nghe câu chuyện chiến đấu đánh Mỹ của đồng bào Tây Nguyên – ông Yú xúc động nói – Ngày ấy, chính sự “có mặt” hàng ngày này của Bác đã giúp quân và dân Tây Nguyên kiên cường đánh Mỹ, là sự động viên khích lệ tinh thần to lớn để chúng tôi vượt qua mọi khó khăn gian khổ, góp sức cho thắng lợi chung”. Và hôm nay, Tượng đài Bác Hồ hiển hiện tại Quảng trường Đại Đoàn Kết, với Siu Ýu là cả niềm vui và tự hào, ông mừng rỡ thốt lên: “Mừng lắm, mừng lắm”, bởi với ông người từ khi còn trai trẻ, đã từng ấp ủ cất giấu tượng Bác nơi trái tim mình.

Muôn triệu tấm lòng hướng về Bác kính yêu

“Công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên mang ý nghĩa sâu sắc về chính trị, tư tưởng, lịch sử và văn hóa, là món quà của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam dành cho Tây Nguyên, thể hiện tấm lòng của Đảng, Bác Hồ đối với Tây Nguyên và tấm lòng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đối với Đảng và Bác Hồ kính yêu (…). Vinh dự, tự hào với công trình văn hóa đầy ý nghĩa này, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Gia Lai trân trọng coi đây là báu vật của tỉnh và xin hứa với Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam sẽ nâng niu, gìn giữ, phát huy hết giá trị, ý nghĩa của công trình…” – Lời phát biểu của Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Thế Dũng tại lễ khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên, ngày 9-12-2012.

Sâu lắng và thiết tha, kể từ khi phát lệnh khởi công xây dựng, đến khi hoàn thành Tượng đài Bác Hồ, không chỉ có cán bộ, đảng viên, quân và dân các dân tộc tỉnh Gia Lai, các nhà khoa học, các nghệ sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc và cán bộ, công nhân viên của các đơn vị thi công… dành nhiều tâm huyết, tình cảm chân thành đón đợi, mà các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng luôn dành nhiều tâm huyết, đặc biệt quan tâm công trình “Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên”.

Thật cảm động và trân trọng biết bao, ngày khởi công công trình tượng Bác, có Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đến dự phát lệnh khởi công, ngày khánh thành được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về chung vui. Nhớ lại, trong suốt thời gian gần 2 năm thi công công trình, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đến thăm, cùng với Hội đồng Nghệ thuật kiểm tra công trình thi công mẫu “Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên” tại Hà Nội. Cũng trong thời gian ấy, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng còn có các chuyến đi về với đảng bộ, quân và dân các dân tộc Gia Lai. Lần nào cũng vậy, ngoài công việc chung, các đồng chí cũng dành thời gian đến kiểm tra tiến độ thi công, góp ý từng chi tiết tại công trình xây dựng Tượng đài Bác ở Quảng trường Đại Đoàn Kết, TP. Pleiku.

…Bây giờ, mỗi khi thấy các thanh, thiếu nhi ngày ngày quây quần bên tượng Bác, thấy khách xa gần về thăm và chụp ảnh lưu niệm bên tượng Bác Hồ, thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum; bên thạch thư của Bác gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam họp tại Pleiku, ngày 19-4-1946. Hay bên tháp đá bazan với 54 cột đá tự nhiên, được hun đúc của tạo hóa hàng triệu triệu năm trên mảnh đất Tây Nguyên này, tượng trưng cho tinh thần đại đoàn kết của 54 dân tộc anh em… chính tại Quảng trường Đại Đoàn Kết, mà lòng ta thấy xốn xang, tự hào. Mới đây, nhà báo Bùi Đức Thịnh-Phó Tổng Biên tập Báo Đak Nông đã dẫn đoàn cán bộ, phóng viên đến TP. Pleiku, việc đầu tiên của Đoàn là đến thăm tượng Bác, anh xúc động: “Đứng bên tượng Bác, ta thấy Bác thật gần gũi, thấy lòng mình ấm áp lạ thường”, rồi anh khoe rằng mình có cả bộ sưu tập ảnh của mình bên tượng Bác, xem đây là kỷ vật về Bác Hồ của cuộc đời mình.

Theo Quốc Ninh/ Báo Gia Lai
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Đòn “điểm huyệt” vào Phan Thiết

QĐND – Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968, thị xã Phan Thiết (Bình Thuận) là một mục tiêu tiến công của quân và dân ta. Phan Thiết là khu đông dân cư, có khu Lao Xá là nơi giam giữ cán bộ, chiến sĩ và đồng bào là cơ sở cách mạng của ta. Khu Lao Xá nằm phía đông nam thị xã, tả ngạn sông Cà Ty, được địch bố trí một trung đội bảo an trang bị súng máy để bảo vệ chặt chẽ. Bên cạnh đó, thị xã Phan Thiết còn có những đơn vị chủ lực mạnh của địch.

Nhiệm vụ đánh vào Phan Thiết, giải phóng khu Lao Xá được giao cho Tiểu đoàn 840 và Đại đội 3 thuộc Tiểu đoàn 841, chủ lực tỉnh Bình Thuận. Phương án tác chiến vạch ra là sử dụng Tiểu đoàn 840 tiến công trên hướng chủ yếu đánh thẳng vào khu Lao Xá và Tòa hành chính tỉnh, tiêu diệt cơ quan chính trị của địch. Các hướng thứ yếu đánh kéo giãn địch, hỗ trợ cho hướng chủ yếu hoàn thành nhiệm vụ.

Chiều 17-2-1968, Tiểu đoàn 841 cơ động lực lượng tiếp cận mục tiêu. Sau khi vào vị trí xuất phát tiến công, ổn định đội hình, đúng 1 giờ ngày 18-2, các mũi tiến công hướng chủ yếu và thứ yếu đồng loạt nổ súng tiêu diệt các mục tiêu đã định. Địch được yểm trợ của hỏa lực, chống trả quyết liệt. Song do các đơn vị hiệp đồng chặt chẽ, đánh địch trên nhiều hướng, nên đã làm cho địch bị thiệt hại nặng. Ta đã giải phóng được khu Lao Xá, phá hủy 6 lô cốt, 12 ổ đề kháng, tiêu diệt nhiều địch, thu hàng trăm khẩu súng các loại.

Trận đánh chiếm Lao Xá và một số mục tiêu quan trọng ở Phan Thiết là trận đánh xuất sắc. Mặc dù chỉ làm chủ thị xã trong thời gian ngắn, song cuộc tiến công vào Phan Thiết có ảnh hưởng chính trị to lớn, cổ vũ tinh thần dũng cảm chiến đấu của quân và dân địa phương.

DƯƠNG HÀ
qdnd.vn

Tấn công Huế trong Tết Mậu thân 1968 diễn ra như thế nào

Trong đêm đầu xuân mưa bay, giá lạnh và sương mù, một đòan người áo đen, quần cộc, dép cao su, từ trong rừng đi ra, vượt qua sông, qua làng, không một tiếng động, lặng lẽ tiến vào thành phố Huế bằng tất cả các ngõ đường, các cửa ô.

Ảnh tư liệu TTXVN

Đó là những hình ảnh đã làm nên sự kiện lịch sử chiến thắng Xuân Mậu Thân 1968. 40 năm trôi qua nhưng chiến công oanh liệt ấy vẫn mãi mãi âm vang như một dấu son của lịch sử quân sự Việt Nam.

Cho đến nay, công việc đánh giá tổng kết về sự kiện Mậu Thân ở Huế vẫn chưa kết thúc. Vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong các lĩnh vực chuyên môn; về khoa học quân sự, chính trị. Nhưng dù thế nào đi nữa thì lịch sử vẫn ghi đậm những hy sinh của cả lực lượng vũ trang và nhân dân thành phố Huế – những người con thành cổ đã cống hiến hết sức mình vì độc lập tự do cho Tổ quốc.

Được giao nhiệm vụ chuẩn bị cho Mậu Thân, chúng tôi đã đưa 200 khẩu súng ngắn và chất nổ C4 vào bên trong thành phố. Nhà của nhiều người dân được dùng để chứa vũ khí, tất nhiên nếu chúng biết được thì gia đình họ chắc chắn phải chịu cảnh “tan nhà, nát cửa”.

Vũ khí được đưa vào bằng xe lam, bằng các gánh hàng trái cây; còn AK thì dấu dưới những chiếc thuyền hai đáy. Tiến vào Mậu Thân, những con thuyền chở vũ khí vào Huế từ nguồn sông Bồ qua ngã Ba Sình, từ Dương Xuân Hạ xuống, từ Phú Vang lên, hoặc từ chợ Tài Ba vào để kịp thời trang bị cho bên trong.

Khâu cuối cùng trong nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường của chúng tôi là chuẩn bị đường hành quân. Người ta có thể hình dung tính chất quan trọng và phức tạp trong cái công việc tưởng chừng như nhẹ nhàng này: Làm sao để đưa được bốn – năm ngàn con người vận động trên một địa hình hẹp và trong đêm tối như mực, vượt qua làng mạc nằm trong vành đai phòng thủ của địch, để tới tận mục tiên chiến đấu.

Việc tổ chức đường hành quân và cả người dẫn đường từ trong rừng ra vùng ráp ranh, từ ráp ranh về đồng bằng, rồi băng qua đồng bằng để tới mục tiêu, tất cả đều phải chia ra nhiều đọan đường. Mỗi đoạn đều có một người dẫn đường riêng, không thể giao cho một người từ đầu đến cuối, vì lỡ trước đó họ bị bắt thì cũng chỉ biết rằng đã dẫn một đoàn cán bộ đi công tác từ làng này qua làng khác.

Mỗi hướng chính lại rẽ ra nhiều mũi, mỗi mũi phải chuẩn bị hai con đường để phòng khi địch chốt đường này thì còn có đường khác. Phải nghiên cứu trước từng đoạn đường hành quân bằng cách đi thử: Chó sủa, lội sông và cố tránh lội ruộng để khỏi hư lúa mới cấy.

Kinh nghiệm cho biết mỗi khi chó sủa rộ lên vùng nào thì địch đều bắn pháo sáng lên và cho máy bay quan sát tới đó. Do đó, việc chuẩn bị đối phó với chó phải hết sức đảm bảo: Suốt bảy đêm đó phải chọc cho chó sủa liên miên suốt từ 11 giờ đêm đến 4 gìơ sáng để địch quen lệ, nhưng đúng đến đêm hành quân thì lại phải thuốc chó để chúng ngủ im.

Tưởng như chỉ là người liên lạc thường thôi, những người dẫn đường trong Mậu Thân 1968 cực kỳ quan trọng. Do đó, chính các Bí thư huyện ủy phải đích thân dẫn đường, các mũi phụ thì do Bí thư bố trí và phải chịu trách nhiệm trước tổ chức.

Một yếu tố có tính chất sống còn để đảm bảo thắng lợi cho chiến dịch Mậu Thân, là một kế hoạch bảo mật hoàn chỉnh đến tuyệt đối, từ đầu cho đến tận giờ nổ súng. Kỷ luật bảo mật chặt chẽ ngay từ trong phòng họp: Cán bộ lãnh đạo ghi chép phát biểu ý kiến xong đều phải để lại sổ sách, không được mang theo một mảnh giấy, tất cả chỉ được ghi nhớ bằng bộ óc mà thôi.

Công việc cận chuyển lương thực cho chiến dịch từ đồng bằng lên rừng đã bắt đầu từ trước Tết hàng tháng, nhưng ta đã đánh lừa được địch bằng một mệnh lệnh nghi trang là “Tích cực chuẩn bị cho bộ đội ăn Tết mừng chiến thắng”.

Các đơn vị tập dượt đánh các mục tiêu ở Huế đều không chọn người địa phương ra, chỉ lấy người ở quê xa tới để họ không biết mục tiêu gì, ở đâu. Mọi người đều phải tập dượt rất công phu, học tập kỹ lưỡng, và tuyệt nhiên không ai có thể biết được rằng sắp “đánh Huế”.

Trong suốt thời gian ta chuẩn bị chiến dịch, chỉ có pháo và máy bay C130 của địch thả bom lải rải tại các bến đò. Rõ ràng là chúng không được thông báo gì. Sau đó, địch có đưa tin trên đài Huế rằng “một cuộc hành quân tảo thanh đã bóp chết âm mưa của V.C trong dịp Tết từ trong trứng nước, đồng bào yên tâm ăn Tết”. Còn mã thám ta theo dõi tất cả các nguồn thông tin khác của địch đều không thấy một dấu hiệu báo động nào cả.

Thế là, trong một thời gian dài, chiến dịch đã đưa về cả ngàn vạn con người, cách trung tâm chỉ huy cách Huế 5 km, mà địch không hề biết một chút tăm hơi gì cả. Kế hoạch bảo mật hoàn chỉnh đến độ không một mảnh giấy hay một con người để lọt vào tay địch và không một bộ phận nào bị rơi vào trạng thái kế hoạch có thể bị lộ. Đi lại nườm nượp ở trên rừng và trên đường hành quân, thế mà cho đến phút chót không một toán quân nào bị đánh vào giữa đội hình, không ai thương vong, không ai bị bắt.

Lịch chung cho toàn quân về Huế là ngày 30 ăn Tết (đúng kỷ niệm lần thứ 180 ngày Tết Quang Trung đi giải phóng Thăng Long, Mậu Thân 1876), đóng gói hành trang, sáng mùng 1 Tết thì ngủ. Nhưng tất cả đều đoán biết việc đêm đó nên người ta không ngủ mà lại hát.

Vào buổi chiều, được thông báo chính thức việc chiếm Huế, mọi người từ cán bộ đến bộ đội, du kích… đều vỗ tay reo hò, vui mừng chưa bao giờ thấy. Đêm đó im lặng hơn tất cả mọi đêm trong chiến tranh, im lặng đến mức không còn nghe thấy cái gì cả.

Lúc 1 giờ sáng thì trung đoàn 6 báo đầu tiên đã chiếm lĩnh trận địa; tiếp theo, cánh nam báo chiếm lĩnh hai mục tiêu ưu tiên; mỗi điện báo đều mật và chỉ 3 chữ. 6 giờ sáng, điện báo chiến thắng về từ khắp mọi nơi, coi như đã chiếm hết thành phố Huế, các huyện ngoại thành cũng chiếm được các xã địa bàn đã quy định. Như vậy, chỉ trong 3 tiếng đồng hồ, thành phố Huế đã bị ta đánh chiếm. Đến 11 giờ sáng mùng 2, lá cờ Mặt trận treo trên đỉnh Kỳ Đài Huế; tất cả bộ đội đều nhảy nhót, vỗ tay hoan hô…

Mậu Thân trong chiến đấu, bộ đội cả chủ lực và địa phương hy sinh lẫn bị thương khỏang 3.000 người. Trong Thành ủy có 2 đồng chí hy sinh. Nhưng ta đã diệt hơn một vạn tên địch trên mặt trận Huế. Toàn bộ căn cứ địch tại thành phố đều bị ta đánh nát; tất cả 36 cơ quan cấp tỉnh và trung phần của chúng đều bị ta chiếm hết, bọn đầu não đều ra hàng.

Thành quả vẻ vang này trước hết biểu hiện phẩm cách anh hùng của cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân. Suốt 26 ngày chiếm giữ thành phố, chiến sĩ ta đương đầu với khó khăn ác liệt chưa từng thấy; thế mà không một đơn vị nào từ Trung đội, Đại đội trở lên bị xóa mất phiên hiệu, không một người nào ra đầu hàng hoặc đào ngũ; sống chung với dân như thế, vẫn giữ vững kỷ luật tác phong, khi xa rồi dân vẫn còn thương nhớ, người nằm xuống đó dân vẫn tiếp tục hương khói phụng thờ.

Phải nói rằng sau khi ta rút lên rừng, nếu có cái gì còn sống lâu trong tâm trí nhân dân thành phố Huế, trước hết đó là hình ảnh tỏa sáng của “người lính cụ Hồ”.

Theo Lê Minh
TTXVN

tienphong.vn

“Giải mã“ chiến thắng Mậu Thân 1968 qua phim

Nhân kỷ niệm 45 năm Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Đài Truyền hình Việt Nam bắt đầu phát sóng bộ phim tài liệu dài 12 tập “Mậu Thân 1968” từ 20h5, ngày 25/1 trên kênh VTV1. Phim do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất.

12 tập phim (thời lượng 30 phút/1 tập), thông qua những số liệu và dữ kiện lịch sử, cùng với lời kể của các nhân chứng và sự phân tích của các học giả, sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Bộ phim bắt đầu từ việc đi tìm câu trả lời tại sao Mỹ – một cường quốc với tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học kĩ thuật gấp 800 lần Việt Nam lại can dự vào công việc nội bộ của một quốc gia nhỏ bé và lạc hậu ở cách xa nửa vòng trái đất, để rồi tạo nên một trong những cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt nhất trong thế kỷ XX.

Tiếp đến, là hành trình lật lại hồ sơ tư liệu về một kế hoạch tuyệt mật đã không được thực hiện từ thời chiến lược chiến tranh đặc biệt. Nó chính là nguồn gốc để hình thành và phát triển nên kế hoạch Tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Đồng thời, lý giải tại sao thời cơ chiến lược lại rơi đúng vào dịp tết Mậu Thân 1968. Và tại sao từ 3 khả năng mà Bộ Chính trị đã xác định lại chuyển dần thành mục tiêu duy nhất – thực hiện trận quyết chiến chiến lược, giành chính quyền về tay nhân dân.

Bên cạnh đó, những so sánh về tương quan lực lượng giữa các bên tham chiến, sự chuẩn bị khẩn trương của tất cả các lực lượng quân giải phóng trước cuộc động binh lịch sử, khí thế của cả một thế hệ ra trận trong lời thề quyết tử cho tổ quốc quyết sinh trước cơ hội ngàn năm có một cũng được tái hiện chân thực và sinh động.

Bộ phim cũng đi vào phân tích bối cảnh, tình hình và tại sao lại có đợt 2, đợt 3 của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy trong mùa hè và mùa thu năm 1968, tiếp nối tinh thần “tiến công và tiến công liên tục” theo chỉ đạo của Bộ Chính trị. Những khó khăn và nỗ lực phi thường của quân và dân ta trong các đợt tấn công sau tết, khi yếu tố bất ngờ không còn và phía Mỹ – Việt Nam cộng hòa đã có sự phòng bị chặt chẽ.

Tiếp đến là việc lý giải có hay không sự nổi dậy của quần chúng nhân dân trong sự kiện Mậu Thân 1968, và tại sao dân tộc Việt Nam lại chấp nhận hy sinh, đặc biệt là trong sự kiện Mậu Thân, để giành lấy độc lập tự do cho Tổ quốc. Đan xen là những câu chuyện kể, những huyền thoại về lòng yêu nước của người Việt Nam.

Cùng với đó, hình ảnh về một nước Mỹ hỗn loạn, bị chia rẽ và phân hóa sâu sắc từ sau sự kiện Mậu Thân 1968 cũng được tái hiện dưới góc nhìn của chính những người Mỹ đã từng sống trong bầu không khí lịch sử đó. Để công chúng Việt Nam cảm nhận rõ ràng hơn về quy mô và tầm vóc của sự kiện Mậu Thân 1968 cũng như ý nghĩa thật sự của nó trong việc thúc đẩy hòa bình, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam vào giai đoạn sau đó.

Sau khi nghiên cứu sự kiện và phác họa ý tưởng thực hiện, để hoàn thành bộ phim tài liệu lịch sử với chủ đề “Mậu Thân 1968”, đạo diễn Lê Phong Lan và êkip đã mất gần 10 năm để thu thập tư liệu, phỏng vấn các nhân chứng, những học giả uy tín trong và ngoài nước.

Đạo diễn và êkip thực hiện cũng rất kỳ công trong việc chuyển tải thông tin về sự kiện có ý nghĩa hết sức đặc biệt trong lịch sử dân tộc này. Tìm một cách kể dễ theo dõi và mạch lạc là điều êkip thực hiện bộ phim tài liệu này luôn trăn trở. Với việc phát sóng bộ phim này, Đài Truyền hình Việt Nam hy vọng mang đến cho khán giả một cái nhìn toàn diện nhất về sự kiện lịch sử vĩ đại và đáng tự hào của dân tộc Việt Nam.

Bảo Châu
anninhthudo.vn

Phim tài liệu “Mậu thân năm 1968”: Mười năm đi tìm sự thật

GiadinhNet – Dành giờ vàng cho bộ phim tài liệu “Mậu thân năm 1968”, VTV muốn khán giả được tiếp cận với cái nhìn lịch sử toàn diện nhất của cuộc chiến này.

Phim tài liệu “Mậu thân năm 1968”: Mười năm đi tìm sự thật 1Đạo diễn Phong Lan phỏng vấn nhà báo, nhà nghiên cứu lịch sử Staley Kanow tại nhà riêng ở  Washington DC (Mỹ) tháng 6/2009. Ảnh: TL.

Định mệnh với phim lịch sử

Trong giới làm phim tài liệu về chiến tranh, nữ đạo diễn Lê Phong Lan từ lâu đã quá quen thuộc với số lượng và hành trình làm phim đáng nể. Từ vị tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn, Đặng Trần Đức, Hiệp định Paris 1973 và bây giờ là 12 tập phim “Mậu Thân năm 1968”, gần như đạo diễn Lê Phong Lan đã dành trọn thời gian để theo đuổi đề tài lịch sử. Bởi bà quan niệm “lịch sử chính là tương lai của con người”.

Từ mối nhân duyên trong cuộc gặp gỡ với nhà tình báo kỳ cựu Phạm Xuân Ẩn 10 năm trước, sự gợi ý của ông “cháu hãy làm về Mậu Thân 1968, không hiểu sao nó lại gây tranh cãi” đã thôi thúc chị khát vọng đi tìm và giải mã những điều mà lịch sử còn chưa đề cập đến.

Chưa biết bộ phim sẽ được giới chuyên môn và khán giả đánh giá ra sao, nhưng nhìn vào hành trình thực hiện, những con số cũng nói lên nhiều điều về sự tâm huyết và lao động hết mình của nữ đạo diễn. “Tôi đã mất gần 10 năm cho quá trình thu thập chứng cứ, gặp gỡ các nhân chứng của Việt Nam và các cựu binh Mỹ, phỏng vấn các sử gia, học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Để có cái nhìn toàn diện và sòng phẳng, tôi đã 4 lần trở lại Mỹ để đối chứng lại thông tin”, đạo diễn Lê Phong Lan tâm sự.

Đánh giá về bộ phim, ông Nguyễn Hà Nam, Trưởng ban Thư ký biên tập, Đài Truyền hình Việt Nam khẳng định: “Đây là bộ phim tài liệu thực sự lôi cuốn và hấp dẫn không thua kém gì các phim tài liệu của nước ngoài. Bên cạnh sự dày công tìm hiểu, phim còn được đầu tư kinh phí lớn nhất so với các bộ phim tài liệu từ trước đến nay”.

Những bí ẩn lần đầu được tiết lộ

Bộ phim là câu chuyện xuyên suốt từ khi hình thành kế hoạch tổng tiến công Mậu Thân 1968 cho đến khi kết thúc chiến dịch. Với độ lùi 45 năm, nhiều tình tiết và câu chuyện liên quan đến sự kiện này đã dần được giải mã. Nói về sự kiện còn gây nhiều tranh cãi này, đạo diễn Lê Phong Lan khẳng định: Xung quanh sự kiện này có những thông tin sai lệch từ các bài viết, nhận định về vụ thảm sát ở Huế. Trong quá trình gặp gỡ nhân chứng từ hai phía, chúng tôi nhận thấy, đó thực chất là vụ dàn dựng tâm lý chiến của Việt Nam Cộng hòa. Thế nhưng trong 45 năm qua, chúng ta không nói lại, không giải thích. Điều đó không công bằng. Các đài nước ngoài đã và đang làm phim về Mậu Thân 1968, còn Việt Nam thì chưa làm”.

Đạo diễn Lê Phong Lan cũng khẳng định rằng, bà không để bất cứ một tư tưởng nào chi phối cái nhìn của mình. Tất cả đều được nhìn nhận một cách sòng phẳng với mục đích duy nhất là sự thật. Chính vì vậy mà bà mới có thể đặt vấn đề phỏng vấn các cựu binh ở chiến tuyến bên kia.

Mười hai tập phim, mỗi tập sẽ là một câu chuyện. Có thể mọi người đã biết và cũng có những thông tin hoàn toàn mới. Mỗi tập chuyển tải ý kiến của các sử gia, nhà nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau về được-mất trong “Mậu Thân năm 1968” và những lý giải tại sao sự kiện này lại gây nhiều tranh cãi trong suốt thời gian dài như thế. Với nhiều lớp lang trong câu chuyện, bộ phim còn mất nhiều công sức trong việc lựa chọn một cách kể dễ theo dõi và mạch lạc, để không chỉ những người đi qua cuộc chiến, hiểu về cuộc chiến mà còn cho thế hệ trẻ bị cuốn hút và yêu thích.

“Mậu Thân năm 1968” sẽ chính thức lên sóng VTV vào lúc 20h từ ngày 25/1/2013.

Thanh Hà
giadinh.net.vn

Tái hiện Mậu Thân 1968

 – Sang Mỹ 4 lần, mất gần 8 năm chỉ để phỏng vấn, tập hợp, đối chiếu tư liệu, phỏng vấn 200 nhân chứng, tất cả để phục vụ cho 12 tập phim tài liệu “Mậu Thân 1968”.

Đạo diễn Phong Lan chia sẻ rằng chính tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn đã cho chị một tiềm ẩn về Tết Mậu thân 1968 khi chị thực hiện một bộ phim về ông. “Ông Ẩn bảo tôi cháu phải làm phim về Mậu Thân 1968 vì đó là sự hy sinh vô cùng lớn lao để giành thắng lợi năm 1975, không hiểu tại sao có người nói đó là vấn đề nhạy cảm của lịch sử nhưng thực ra không có một chút gì nhạy cảm hết” – đạo diễn Phong Lan nói.

Nữ đạo diễn tâm sự qua tìm hiểu thấy trên mạng có quá nhiều thông tin sai lệch về sự kiện lịch sử này dẫn tới việc có nhiều bạn trẻ hiểu sai vì vậy đó là động lực để chị quyết tâm để làm phim. Trong suốt 10 năm, chị sang Mỹ 4 lần gặp và phỏng vấn khoảng 200 nhân chứng cả phía ta, phía Mỹ sau đó gạn lọc, gạn lọc dần để đi tìm sự thật. Để hoàn thành bộ phim, chị mất gần 8 năm chỉ để phỏng vấn, tập hợp, đối chiếu tư liệu.

Đạo diễn Phong Lan đang phỏng vấn 1 nhân chứng.

Trả lời câu hỏi: “Liệu bộ phim có đưa ra sự lý giải các sự kiện một cách sòng phẳng, công bằng, bởi dù sao VN cũng là người trong cuộc?” – đạo diễn thẳng thắn: “Khi làm phim này, Tôi đặt tinh thần độc lập thống nhất và hòa hợp dân tộc của tôi lên hàng đầu. Và lẽ đương nhiên tôi buộc phải công bằng vì đó là nghề nghiệp, là thanh danh của tôi”.

Người phụ nữ yêu lịch sử cho biết những khó khăn trong việc khai thác tư liệu hình ảnh và tốn kém để làm nên “Mậu Thân 1968” khó ai có thể bù đắp nổi cho chị. Ví dụ như trận Lam Sơn không có một phóng viên nào phía ta vào quay phim hay chụp ảnh vì vậy khi làm bộ phim này chị đã phải huy động hết mọi nguồn để tránh cảnh phải làm phim từ hai bàn tay trắng.

Một cảnh trong bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968”, bắt đầu lên sóng VTV1 vào 20h ngày 25/1.

“Tôi không dám chắc rằng phim Mậu Thân 1968 có thể nói hết được những gì đã diễn ra trong quá khứ nhưng có một điều tôi muốn chia sẻ rằng các tập phim nói được một số vấn đề cơ bản. Thực tế nếu có ai đó trả cho tôi 1 hoặc 2 tỷ/tập phim, tôi sẽ phải làm tới 50 tập để nói ra hết những gì mình đã có trong tay, muốn nói” – nữ đạo diễn thẳng thắn.

Sơn Hà
vietnamnet.vn

Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân và vấn đề đặt ra đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

Vào cuối năm 1967, trên cơ sở đánh giá tương quan lực lượng địch – ta và nhận thấy thế “tiến thoái lưỡng nan” về chiến lược của Mỹ khi năm vận động tranh cử Tổng thống Mỹ đang đến gần, Bộ Chính trị quyết định phải tạo một bước nhảy vọt thông qua chọn hướng chiến lược hiểm, dùng cách đánh mới, giáng một đòn bất ngờ, thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh. Thực hiện chủ trương của Đảng, đúng đêm giao thừa Tết Mậu Thân (đêm 30 rạng ngày 31-01-1968), quân và dân ta đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt vào 4/6 thành phố, 37/44 thị xã, hàng trăm thị trấn và các căn cứ quân sự, hậu cần, sở chỉ huy lớn của địch trên toàn miền Nam. Đây là cuộc ra quân với quy mô lớn, đồng loạt, toàn diện và có khí thế cách mạng cao nhất kể từ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến lúc bấy giờ và cũng là lần đầu tiên ta tiến công táo bạo, bất ngờ vào sào huyệt của kẻ thù. Tuy còn một số mặt phải nghiên cứu, nhưng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đánh dấu bước phát triển mới trong học thuyết và nghệ thuật quân sự (NTQS) Việt Nam. Bằng cuộc Tổng tiến công chiến lược này, ta đã giáng một đòn quyết định làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, lung lay ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, buộc chúng phải “phi Mỹ hóa” chiến tranh, chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận đàm phán trực tiếp với ta tại Hội nghị Pa-ri, tạo bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Bác Hồ và Bộ Chính trị họp bàn chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu

45 năm đã trôi qua, nhưng không khí hào hùng của cuộc Tổng tiến công chiến lược Tết Mậu Thân còn vang vọng mãi, với niềm tự hào sâu sắc trong tâm khảm của mỗi chúng ta. Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đang đẩy mạnh thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Bên cạnh thời cơ, thuận lợi là cơ bản, chúng ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” với những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc. Vì thế, hơn bao giờ hết, chúng ta phải đề cao cảnh giác, kết hợp chặt chẽ xây dựng với bảo vệ, bảo vệ với xây dựng, thực hiện BVTQ bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân nói riêng, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung suy nghĩ về một số vấn đề đặt ra đối với sự nghiệp BVTQ hiện nay.

Một là, đánh giá đúng tình hình, quán triệt, nắm vững và thực hiện nghiêm túc quan điểm, đường lối của Đảng để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, một trong những nhân tố dẫn đến thắng lợi là, Đảng ta đã chủ động nghiên cứu, đánh giá đúng tình hình, nhất là đánh giá đúng chỗ mạnh, chỗ yếu của địch và khả năng thực tế của ta… trên cơ sở đó, hoạch định chủ trương, phương pháp và tổ chức chỉ đạo chiến lược, chiến dịch một cách đúng đắn, sáng tạo. Trong đó, nét nổi bật là, quán triệt tư tưởng tiến công, lựa chọn hướng tiến công (địa bàn đô thị – sào huyệt và cũng là chỗ mạnh nhưng sơ hở của địch), mục tiêu và thời điểm tiến công hết sức táo bạo, bất ngờ làm cho chúng bị động, lúng túng trong đối phó. Đặc biệt, cùng lúc ta đồng loạt tiến công trên phạm vi rộng, trọng tâm là các trung tâm đầu não của địch cũng làm chúng hoảng loạn cả về tinh thần và không kịp trở tay (nhất là trong giai đoạn đầu) để phản ứng lại cuộc Tổng tiến công và nổi dậy bằng sức mạnh tổng hợp của quân và dân ta.

Ngày nay, trong sự nghiệp BVTQ, những kinh nghiệm đó vẫn còn nguyên giá trị. Theo đó, chúng ta cần nghiên cứu kỹ, khách quan, toàn diện tình hình thực tế để vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp và có tính khả thi cao. Thực hiện nhiệm vụ BVTQ trong bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều biến động phức tạp, khó lường và trong quan hệ quốc tế có những đặc điểm mới, đan xen giữa hợp tác và đấu tranh, đối tượng với đối tác… nên có cả thuận lợi và khó khăn, với yêu cầu ngày càng cao. Cũng vì thế, việc nghiên cứu, đánh giá đúng tình hình quốc tế và trong nước, nhất là những vấn đề liên quan đến quốc phòng – an ninh (QP-AN); dự báo được xu hướng phát triển và tác động (cả tích cực và tiêu cực) của nó đối với sự nghiệp BVTQ có ý nghĩa hết sức quan trọng. Để thực hiện tốt vấn đề này, cần có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, nhất là Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao… Trên cơ sở đó, tham mưu cho Đảng, Nhà nước về đường lối, chiến lược BVTQ và đối sách xử lý có hiệu quả các tình huống về quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đồng thời, các ngành, các lực lượng phải nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng về BVTQ để cụ thể hóa thành các chiến lược chuyên ngành và các kế hoạch mang tính chiến lược, làm cơ sở để triển khai thực hiện. Trong đó, Kế hoạch phân vùng chiến lược về quốc phòng gắn với phân vùng chiến lược về kinh tế – xã hội; Kế hoạch xây dựng thế trận quân sự khu vực phòng thủ của các địa phương trong thời bình gắn với bổ sung, điều chỉnh phương án phòng thủ chiến lược; Kế hoạch xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân… cần sớm được hoàn thiện và triển khai trong thực tiễn nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, các lực lượng và toàn dân đối với nhiệm vụ BVTQ. Trong quá trình thực hiện, phải giữ vững nguyên tắc: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với LLVT và sự nghiệp quốc phòng.

Hai là, tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân (QPTD), thế trận QPTD gắn với thế trận an ninh nhân dân, đáp ứng yêu cầu BVTQ. Nét nổi bật nhất của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, cũng là bất ngờ lớn nhất đối với kẻ thù, là lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân ta đã bất ngờ tiến công đồng loạt trên cả ba vùng chiến lược, lấy các đô thị làm chiến trường chính, đánh vào sào huyệt, “tim óc” của kẻ thù bằng lực lượng tổng hợp. Trong đó, việc kết hợp chặt chẽ giữa tiến công của bộ đội chủ lực với nổi dậy của quần chúng mà nòng cốt là LLVT địa phương (bộ đội địa phương và dân quân, du kích) trong thế trận được chuẩn bị sẵn đã phát huy cao độ được sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân trong cuộc Tổng tiến công chiến lược. Nhờ đó, quân và dân ta đã thực hiện đánh địch vừa rộng khắp, vừa tập trung, hãm chúng vào thế bị động, lúng túng chống đỡ. Chính nhờ dựa vào nhân dân, vào thế trận chiến tranh nhân dân, nhất là các tổ chức đảng và cơ sở cách mạng địa phương, nhiều đơn vị chủ lực ta đã bí mật đứng vững ngay tại cửa ngõ các đô thị lớn, đánh những trận gây choáng váng giới cầm quyền Mỹ, tạo tiếng vang trên thế giới, như: trận đánh vào tòa Đại sứ Mỹ, dinh Tổng thống và Bộ Tổng Tham mưu ngụy ở Sài Gòn… Thực tiễn đó, một lần nữa khẳng định, sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân là một trong những nét đặc sắc trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân cũng là vấn đề có tính xuyên suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta. Vì vậy, vấn đề quan trọng nhất hiện nay là chúng ta phải chú trọng xây dựng nền QPTD vững mạnh, xây dựng thế trận QPTD gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc trên từng khu vực và địa bàn cả nước, nhất là trên các địa bàn chiến lược.

Xây dựng nền QPTD là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành, các lực lượng và toàn dân; trong đó LLVT nhân dân là nòng cốt, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước. Để đạt được mục tiêu xây dựng nền QPTD vững mạnh, thời gian tới, cần tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 12-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa X) và Nghị định số 116/2007/NĐ-CP của Chính phủ về giáo dục QP-AN. Trong đó, chú trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp với các đối tượng, sát đặc điểm tình hình địa bàn, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục QP-AN lên một bước mới. Trong quá trình xây dựng, cần thấu suốt quan điểm của Đảng về hai nhiệm vụ chiến lược, đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường QP-AN; thực hiện tốt việc bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo; phòng, chống tham nhũng…, nhằm tăng cường “thế trận lòng dân”, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Bên cạnh đó, phải đẩy mạnh xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) về chiều sâu, vững chắc theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW (khóa X) của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 07-CT/TW (khóa XI) của Ban Bí thư và Nghị định 152/NĐ-CP của Chính phủ. Trong quá trình thực hiện, phải phát huy có hiệu quả vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền; năng lực làm tham mưu và tổ chức thực hiện của các ban, ngành, đoàn thể, mà trước hết là của cơ quan quân sự địa phương để tăng cường tiềm lực về mọi mặt cho khu vực phòng thủ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả vận hành cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, phối hợp của các cấp, các ngành, các lực lượng; đồng thời, phát huy vai trò, trách nhiệm của các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương.

Thế trận QP-AN được xây dựng vững chắc sẽ tạo điều kiện cho các lực lượng phối hợp hoạt động xử lý tốt các tình huống, bảo vệ vững chắc địa bàn, làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Yêu cầu đặt ra là, thế trận đó phải đáp ứng tốt nhiệm vụ QP-AN trong thời bình; đồng thời, sẵn sàng chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân khi đất nước bị xâm lược.

Ba là, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của LLVT nhân dân, nhất là Quân đội nhân dân. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân là kết quả của việc xây dựng LLVT nhân dân vững mạnh; thực hiện phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân đúng đắn, sáng tạo. Đó là: kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh chính quy của các đơn vị chủ lực với chiến tranh nhân dân địa phương của LLVT địa phương và nó được biểu hiện cụ thể ở sự kết hợp giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công trong suốt cuộc Tổng tiến công chiến lược, đặc biệt là ở giai đoạn đầu.

Vì thế, trong sự nghiệp BVTQ hiện nay, chúng ta phải tăng cường xây dựng LLVT ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ) vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; có chất lượng tổng hợp ngày càng cao, đủ sức làm nòng cốt cho toàn dân trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ.

Để đạt được mục tiêu trên, cần tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân theo hướng: “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Trước hết, coi trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu. Muốn vậy, các đơn vị phải tiếp tục đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng làm cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, nhiệm vụ của Quân đội; có bản lĩnh chính trị vững vàng để phòng, chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa và “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch; đồng thời, có ý chí, quyết tâm cao để vượt qua khó khăn, thử thách, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; gắn xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp. Trong tình hình hiện nay, để đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội từng bước hiện đại, trong đó có một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, toàn quân phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả các mặt công tác, nhất là công tác giáo dục – đào tạo, huấn luyện, tác chiến điện tử, công nghệ thông tin, hậu cần – kỹ thuật…, bảo đảm cho Quân đội kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và trình độ chiến thuật, kỹ thuật, khả năng tác chiến ngày càng cao, trên cơ sở tinh thông nghiệp vụ, khai thác và làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có và mới được trang bị. Cùng với đó, chú trọng xây dựng, phát triển nền khoa học, NTQS Việt Nam trong điều kiện mới, bảo đảm vừa kế thừa, phát huy truyền thống quân sự của dân tộc, vừa tiếp cận, tiếp thu nền khoa học, NTQS tiên tiến, hiện đại trên thế giới; trong đó, coi trọng nghiên cứu khoa học, NTQS chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao của địch.

Cùng với đó, phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ theo phương châm: “vững mạnh, rộng khắp”, được tổ chức chặt chẽ, có cơ cấu, thành phần hợp lý, chất lượng ngày càng cao, nhất là chất lượng và độ tin cậy về chính trị, bảo đảm phát huy vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và tham gia giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, cơ sở, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ BVTQ trong tình hình mới.

Thượng tướng NGUYỄN THÀNH CUNG
Ủy viên BCHTƯ Đảng, Ủy viên Thường vụ QUTƯ,
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

tapchiqptd.vn