Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó

Việt Nam - Hồ Chí MinhHơn 40 năm làm công tác dân vận – Mặt trận, với trách nhiệm được giao, tôi có hạnh phúc lớn là được tiếp xúc với nhiều chính khách, nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng, các vị tiêu biểu của các dân tộc, các tôn giáo, trong đó không ít người đã được Bác Hồ cảm hóa, trở thành cộng sự thân thiết của Bác, tiếp thu tư tưởng của Người và đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất.

Mỗi lần kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại một lần anh chị em làm công tác Mặt trận chúng tôi có dịp được nghe chính những người trong cuộc kể lại những câu chuyện đầy xúc động về tầm nhìn xa, trông rộng, lòng bao dung, độ lượng, sức hút kỳ diệu và tài cảm hóa lạ thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những câu chuyện đó được anh em chúng tôi ghi chép đầy đủ. Nhân dịp kỷ niệm 66 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tôi trích đăng chuyện kể của Luật sư Phan Anh, Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa III, tại buổi họp mặt của Mặt trận ngày 10-5-1990 kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Bác Hồ. Không ai nghĩ rằng đây là buổi nói chuyện cuối cùng của Luật sư tại cơ quan Mặt trận vì chỉ sau đó hơn một tháng, ngày 28-6-1990 luật sư Phan Anh đã vĩnh biệt chúng ta. Tiêu đề bài viết này chính là câu kết bài nói của Luật sư.

Ông kể: Theo tôi nhớ, từ trung tuần tháng 7 đến trung tuần tháng 8-1945, những cuộc thương lượng giữa Chính phủ Trần Trọng Kim với Việt Minh diễn ra dồn dập tại Hà Nội. Mở đầu là việc ông Lê Trọng Nghĩa với vai giáo sư Lê Ngọc đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Khâm sai đại thần Phan Kế Toại ngay tại Phủ khâm sai trong giờ hành chính. Tiếp đó là cuối tháng 7, Thủ tướng Trần Trọng Kim ra Bắc Bộ để thị sát thực địa và điều đình với Nhật cũng đã được ông Phan Kế Toại bố trí tiếp xúc với đại diện Việt Minh ở Hà Nội.

Trước tình hình chuyển biến mau lẹ, ngày 18-8 Khâm sai Phan Kế Toại lại gặp các ông Nguyễn Khang, Lê Trọng Nghĩa, Trần Đình Long tại Phủ khâm sai, chính thức mời Việt Minh cộng tác với Chính phủ Trần Trọng Kim và sẵn sàng chờ Mặt trận cử người tham gia Chính phủ. Cùng ngày, Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn cũng xin gặp Việt Minh, mời Việt Minh tham gia Chính phủ mở rộng và đề nghị trong tình hình quân Đồng minh đang trên đường vào Việt Nam mong cuộc thương lượng tiếp tục, Việt Minh nên nắm vùng nông thôn, Chính phủ lâm thời quản lý các thành phố để có danh nghĩa nói chuyện với Đồng minh.

Tất cả các cuộc thương lượng đều không có kết quả. Ông Trần Trọng Kim giao tôi làm thuyết khách cuối cùng với hy vọng: Với “tài hùng biện của Phan Anh” may ra còn cứu vãn được tình thế.

Nể lời Thủ tướng Trần Trọng Kim, tôi nhận lời và chuẩn bị kỹ cho cuộc gặp.

Tôi còn nhớ, ngày 25-8 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tân Trào về Hà Nội. Ngày 26, Người chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Ngày 28, báo chí Hà Nội công bố danh sách 15 thành viên của Chính phủ cách mạng do Bác làm Chủ tịch. Cũng ngày đó, tôi đến gặp lại giáo sư Hoàng Minh Giám – một trí thức tiêu biểu của nước ta, thầy Hiệu trưởng Trường Thăng Long xưa mà tôi đã một thời dạy học ở đó. Ông lúc này là Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ và được Giáo sư cho biết Cụ sẽ tiếp tôi vào 9 giờ sáng hôm sau. Hay tin tôi ra “đấu tranh” với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chú Phan Mỹ – em tôi, một cán bộ cách mạng, vội gặp tôi can ngăn:

– Từ trước đến nay, tôi vẫn phục anh, coi anh là thần tượng. Nhưng với việc anh định “đấu tranh” với Cụ thì anh mê muội quá chừng. Anh muốn “đội đá, vá trời” chăng? – Tôi chỉ mỉm cười, chẳng phản đối, cũng chẳng thanh minh.

Đúng giờ, tôi đến địa điểm hẹn. Tôi quá bất ngờ và đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Đón tôi là một ông Tiên thực thụ. Cụ vận bộ kaki bạc màu, đi đôi bata của đồng bào dân tộc Tày. Cụ không chờ tôi lên mà dáng nhanh nhẹn, Cụ vội bước xuống ngang chỗ tôi đứng bắt tay:

– Tôi đã chờ chú từ lâu. Người nói – Trước khi ra Bắc, chú đã về quê choa chưa?

Tôi bối rối và thực sự xúc động. Những điều lâu nay tôi chuẩn bị công phu nay tan biến cả trước một con người cao sang nhưng không xa cách, một vĩ nhân xa quê hương, đất nước hơn một phần ba thế kỷ nhưng vẫn không quên thổ ngữ thân thương. Tôi ấp úng trả lời:

– Thưa Cụ, con chưa kịp về quê nhà.

Cụ ôm eo tôi cùng bước lên, đưa tôi vào phòng khách. Đồng chí Đàm Quang Trung lúc đó là Đội trưởng Đội bảo vệ Bác vào định rót nước mời khách.

Cụ ngăn:

– Chú Phan Anh là khách của Bác, để Bác tiếp. Chú cứ lo việc của chú. Chính tay Bác rót nước mời tôi, thân mật như cha con lâu ngày gặp lại.

Vừa uống nước, Cụ vừa giải thích cho tôi hiểu tình hình thời cuộc và đời sống cùng cực của dân ta hiện nay. Cụ nói ý:

– Dân ta bao năm một cổ đôi tròng, sống dưới chế độ áp bức của thực dân, phong kiến và phát xít Nhật. Nay ta đã giành được độc lập, phải mau chóng tái thiết quốc gia để dân có cơm ăn, áo mặc, được học hành. Chú là người tài cao, học rộng, tôi đề nghị chú ra gánh vác việc nước và trực tiếp làm Chủ tịch Ủy ban Kiến thiết quốc gia.

Tôi ngỡ ngàng trước một sự việc mà mình chưa bao giờ nghĩ tới, liền thưa:

– Thưa Cụ, con chỉ được đào tạo về luật chứ chưa được đào tạo về kiến thiết xây dựng.

– Thế tôi có được ai đào tạo để làm Chủ tịch nước đâu? Dân giao thì mình phải làm, phải vừa làm, vừa học và làm cho tốt, cho thật tốt.

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó. Ngày 29-8-1945 là ngày mà Bác Hồ đổi đời cho tôi, cho gia đình tôi.

45 năm đã trôi qua, tôi lớn lên theo cách mạng, lớn lên theo sự dìu dắt, bảo ban của Người, của Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Con đường mà Luật sư đi theo cách mạng là như vậy. Luật sư Phan Anh là Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Kiến thiết quốc gia của nước ta.

Ngày 2-3-1946 Chính phủ liên hiệp quốc gia được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, ông được mời giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Tháng 7-1946 ông được Chính phủ giao trọng trách Tổng Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi dự Hội nghị Fontainbleau đàm phán với Chính phủ Pháp.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông từng đảm nhiệm các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Kinh tế (1948), Bộ trưởng Bộ Công thương (1954). Tháng 7-1954, ông là phái viên Phái đoàn Việt Nam đàm phán tại Hội nghị Giơnevơ.

Sau Hiệp định Giơnevơ, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao ông đảm nhận nhiều trọng trách: Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại thương.

Luật sư Phan Anh là đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VIII, là Phó Chủ tịch Quốc hội khóa VII. Ông cùng luật sư Nguyễn Mạnh Tường sáng lập Hội Luật gia Việt Nam và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của Hội và là Ủy viên Thường vụ của Hội Luật gia dân chủ thế giới.

Đối với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và hoạt động của Mặt trận Dân tộc thống nhất, luật sư Phan Anh là thành viên của Ban Vận động thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Ngày 29-5-1946 khi Hội chính thức được thành lập, ông được cử làm Ủy viên Thường vụ.

Ngày 10-9-1955 MTTQ Việt Nam ra đời, ông tiếp tục được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam cho đến khi Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận trong phạm vi cả nước vào tháng 2-1977.

Tại Đại hội I và Đại hội II MTTQ Việt Nam, luật sư Phan Anh được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch. Và tại Đại hội III ông được cử làm Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam.

Luật sư Phan Anh là một trí thức tiêu biểu, tài năng và đức độ, một nhà hùng biện nổi tiếng, một trong những nhân vật đã từng được cộng tác mật thiết bên cạnh Bác Hồ trong nhiều năm và đã có những cống hiến to lớn vào việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và Mặt trận Dân tộc thống nhất.

Nguyễn Túc

(Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam)

  1. (1)Sau này là Thượng tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước

Theo daidoanket.vn

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ với kế sách nghi binh Xuân Mậu Thân

45 năm Cuộc Tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968-2013)

QĐND – Từ năm 2000 tới ngày về với Bác Hồ (16-4-2005), ông Vũ Kỳ đã dành cho tôi diễm phúc cứ 3 giờ chiều, tuần vài buổi sang nhà ông bên ngõ nhỏ phố Trần Quang Diệu (Đống Đa – Hà Nội), giúp ông ít việc. Ông kể bao nhiêu chuyện hay, bổ ích về Bác Hồ.

Thuật nghi binh bậc thầy

Chiều 29-11-2001, tôi thưa với ông Vũ Kỳ về sự kiện lịch sử Tết Mậu Thân 1968 hiện có những thông tin không rõ ràng, cách giải thích không thỏa đáng, dư luận đang mong đợi những tiếng nói xác thực từ phía các nhân chứng như ông. Ông cười hiền từ, gật đầu nhè nhẹ dáng vẻ như cân nhắc: “Xin lỗi, các cụ ta dạy: Nói có sách, mách có chứng. Đợi chút…”. Ông đứng dậy, vào phía trong lấy ra đưa tôi tập thơ chúc Tết của Bác mới in của TS Trần Viết Hoàn, Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch, bảo tôi tranh thủ xem lấy tư liệu. Ông lên gác hai lấy cuốn sổ nhỏ ghi ngày tháng mỗi sự kiện…

Được gần Vũ Kỳ nhiều, tôi nhận ra những chuyện ông kể, dù ai nghe, ông cũng rất vui. Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ đã đến đỉnh cao qua mùa khô 1966-1967 với các chiến dịch càn quét lớn đều đã thất bại. Phải bồi thêm đòn quyết định vào mưu đồ đeo bám chiến tranh của các thế lực diều hâu, đồng thời trợ sức cho một số lực lượng chủ hòa đã manh nha ngay trong chính giới Mỹ, có thể chấm dứt cuộc chiến bằng tinh thần “hòa hiếu” mà Bác Hồ từng tuyên bố: Hà Nội sẵn sàng trải thảm đỏ nghênh đón Tổng thống Mỹ Giôn-xơn…

– Thưa anh, Bác đã bắt đầu viết Di chúc từ năm 1965 và hè năm sau, sau chuyến về Thái Bình, Bác bị cảm lạnh, liệt nhẹ…? – Tôi hỏi.

Bác Hồ thăm một đơn vị quân đội chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi (1969). Ảnh tư liệu.

– Đúng, Bác cố gắng lắm mà không giấu được sức khỏe giảm sút, đi lại khó khăn, lại tha thiết muốn được vào Nam thăm đồng bào, chiến sĩ. Bác đành phải chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị sang nước bạn dưỡng bệnh. Từ đầu năm 1967, Bác đã thông qua các phương án đánh lớn trong năm, rồi ngày 5-9-1967 mới sang Trung Quốc chữa bệnh…

– Vậy mà ta vẫn giữ kín được sự biến ảo của động thái đó, vô hiệu hóa toàn bộ mạng lưới do thám trên trời, dưới đất của quân địch?

– Bác Hồ luôn nhắc chúng ta bài học cảnh giác.

Về chuyện “đánh đòn nghi binh”, ông nghe tôi kể thêm, gật đầu: “Hay đấy, biết nhiều chuyện đấy…”.

Chúng tôi thật khoái chí khi nghe những chuyện như có lần Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang đi kiểm tra trận địa giữa “đất lửa”, mà Đài ta lại “tường thuật trực tiếp” tướng sĩ quân dân gặp gỡ vỗ tay rầm trời tại Ninh Bình…

– Hưm! Chuyện! Đòn bất ngờ Tết Mậu Thân giới tình báo Mỹ và mấy nước chư hầu thì ví ngang với trận Trân Châu Cảng trong thế chiến II. Hưm! “ngang” thế nào được! Mậu Thân ta là nhiều trận, là vào tận sào huyệt của địch. Khắp miền Nam…

– Thưa anh, trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, Bác Hồ, anh Văn đi dưỡng bệnh là thuật “dương đông kích tây” cho tâm điểm Mậu Thân?

– Thế này nhé! Tới tháng 6-1967, Hội nghị Trung ương 14 khóa III họp tại Kim Bôi thông qua mọi hướng chuẩn bị đại quy mô từ Bắc chí Nam. Trước ngày sang Trung Quốc 5-9-1967, Bác vẫn còn duyệt kế hoạch nhử địch dãn ra xa Sài Gòn theo gợi ý của anh Văn. Mỹ điều 4 sư đoàn ra bảo vệ Đường 9: Dốc Miếu, A Sầu, A Lưới… Giôn-xơn thì lệnh: Phải tử thủ Khe Sanh…

– Bác với anh Văn xuất ngoại có kín, hở gì không ạ? – Tôi hỏi.

– Không kín cũng chẳng hở. Ông Văn và bà Hà nghỉ bên hồ Ba-ra-tông, Hung-ga-ri thì giấu được ai? Bác Hồ ở Bắc Kinh có đôi lần đi dạo Di Hòa Viên.

Ngày 21-12-1967, Bộ Chính trị mời Bác về chọn phương án tối ưu và quyết định chọn ngày N, giờ G nổ súng cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Anh Cả Nguyễn Lương Bằng đề nghị bác sĩ Trần Hữu Tước chỉ trong mười hôm chăm sóc sao cho giọng nói của Bác thật khỏe mạnh để Bác đọc thơ chúc Tết thu thanh. Ai cũng mừng: Bác rất vui. Mọi năm, thường Bác chỉ cho thu thanh trước một tuần. Ông Trần Lâm, Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam nhớ lại, năm đó Bác cho thu trước 3 tuần – sáng 31-12-1967. Chiều 1-1-1968, Bác trở lại Trung Quốc.

Vài hôm sau đã thấy báo chí Anh, Mỹ, Pháp… đăng tin, ảnh Bác ở Bắc Kinh, ông Giáp ở Bu-ca-rét. Tin từ nội đô Sài Gòn cho biết: Có nơi, trong các đồn bốt bọn sĩ quan kháo nhau: Cụ Hồ, tướng Giáp còn chưa về thì… yên trí lớn đi mấy ông nội! Vợ chồng Nguyễn Văn Thiệu về ăn Tết ở Mỹ Tho. Đại sứ Mỹ Bân-cơ không có mặt trong Đại sứ quán vào giờ ta nổ súng…

Mỹ cút – sách hòa hiếu

Ông Vũ Kỳ dự báo trong sách “Thư ký Bác Hồ kể chuyện”, rằng rồi đây các nhà nghiên cứu sẽ còn tốn nhiều giấy mực cho cuộc “về thăm” Nguyễn Trãi của Bác Hồ tại Côn Sơn vào dịp rằm ra Tết Ất Tỵ – 1965. Hẳn Người thấy trước, cần thỉnh giáo tiền nhân về bài học 10 năm chống triều Minh với “Hội thề Đông Quan” năm 1428 để vận dụng cho cuộc chống Mỹ – “Mỹ cút” thì “ngụy nhào”, non sông sẽ thu về một mối cũng 10 năm: 1965 đến 1975?…

Ông Hoàng Tùng cũng kể tinh thần Đông Quan trong Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 và Pa-ri 1973. Trước đó, Bác luôn nhắc: Tuyên truyền tránh sỉ nhục kẻ bại trận, dễ kích động lòng tự tôn dân tộc của người ta. Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự nghe Trung tá Xăm-mơ (Summers), sĩ quan liên lạc trong Phái đoàn quân sự bốn bên nói rất nghiêm chỉnh: “Mỹ đã chịu thua các ông rồi. Đề nghị ông báo cáo với Chính phủ đừng làm nhục Mỹ…”. Thời đó, ta vẫn nói: Tạo lối thoát cho đối phương “rút lui trong danh dự”…

Chiều 20-1-1968, ông Lê Đức Thọ sang báo cáo với Bác đã hoàn tất các công việc chuẩn bị. Sáng 25-1-1968, tức 26 Tết, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên đường về Hà Nội ghé qua Trung Quốc, Bác dặn thêm:

Kế hoạch phải thật tỉ mỉ

Hợp đồng phải thật ăn khớp

Bí mật phải thật tuyệt đối

Hành động phải thật kiên quyết

Cán bộ phải thật gương mẫu!…

Tối đầu tiên trong căn phòng Bác và Vũ Kỳ ngồi đón Giao thừa xa Tổ quốc, ngoài trời tuyết rơi dày đặc, trắng xóa. Chiếc đài bán dẫn phát ra tiếng nói quê hương thân yêu sao gắn bó mà cách biệt lạ! Tin thời sự. Câu chuyện vui. Ca nhạc. Ngâm thơ. Thời gian đi chầm chậm. Bác trầm ngâm, đượm vẻ buồn. Ông Vũ Kỳ thú thực với Bác rất nhớ vợ, nhớ con…

Bỗng, Bác như giật mình, mắt sáng khi tiếng loa đài phát ra.

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,

Thắng trận tin vui khắp nước nhà.

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên!

Toàn thắng ắt về ta!

Ông Vũ Kỳ đã nghe, đã thuộc từng câu chữ, vậy mà trong giây phút thiêng liêng này của đất trời, của dân tộc, trong lòng ông vẫn cứ trào dâng, trào dâng niềm xúc động, hạnh phúc khó tả!

Tiến lên, toàn thắng…

Mãi sau này ông mới biết: Thì ra, “Tiến lên” là hiệu lệnh Bác phát ra để khắp các mặt trận nổ súng hệt như lệnh Tắt đèn – nổ súng lúc 20 giờ ngày 19-12-1946 bắt đầu cuộc Toàn quốc kháng chiến khi Đài phát thanh phát đi tiếng nói của Người. Thảo nào, sau lời Bác: “Tiến lên”, thì pháo nổ và Bác nói một mình: Miền Nam nổ súng rồi! Đó là giờ G, ngày N đã điểm.

Bác dặn, từ giờ phút này, ông phải theo dõi chặt chẽ tin chiến sự từ các đài, các nước. Và ông Vũ Kỳ vội đi lấy chậu hoa thủy tiên buộc dải lụa đỏ, Bộ Chính trị gửi sang chúc Tết Người…

Từ đà thắng Xuân Mậu Thân – 1968, một năm sau, trước ngày đi xa, Bác nhắc khẩn trương mở “Hội thề”… Pa-ri cho Mỹ cút thì ngụy phải nhào để Bắc Nam sum họp, còn Xuân nào vui hơn – Xuân 1975!

TRỊNH TỐ LONG
qdnd.vn

Quyết chiến đấu tới viên đạn cuối cùng

QĐND OnlineCứ vào dịp lễ tết, nữ chiến sĩ biệt động Chính Nghĩa và các đồng đội lại đến thắp hương tại ngôi miếu nhỏ nằm đối diện cổng sau dinh Độc Lập. Chính tại đây, 45 năm trước trong chiến dịch Tết Mậu Thân, bà và các chiến sĩ biệt động thuộc Đội 5 đã anh dũng chiến đấu tới viên đạn cuối cùng. Trong trận đánh đó, bà là nữ biệt động thành duy nhất và mới bước sang tuổi 19

Rạng sáng mùng 2 Tết Mậu Thân, lực lượng biệt động Sài Gòn được chia thành nhiều đội (mỗi đội không quá 20 người) đánh vào các mục tiêu quan trọng trong thành phố như Bộ Tổng tham mưu, Biệt khu thủ đô, khám Chí Hòa, sân bay Tân Sơn Nhất, Đài phát thanh, Tổng nha cảnh sát, Bộ Tư lệnh hải quân và dinh Độc Lập. Nữ biệt động Chính Nghĩa, tên thật là Vũ Minh Nghĩa, nằm trong đội hình Đội 5 gồm 15 người có nhiệm vụ tấn công dinh Độc Lập.

Nữ biệt động Chính Nghĩa thời trẻ (ảnh chụp lại)

Thiếu nữ tuổi 19, sinh ra và lớn lên tại vùng đất thép Củ Chi, rất háo hức với nhiệm vụ quan trọng nhưng vô cùng nguy hiểm này. “Đã đứng trước lá cờ của Đảng tuyên thệ rồi thì dù khó khăn như thế nào người đảng viên cũng phải hoàn thành nhiệm vụ. Đây là lần đầu tiên tôi trực tiếp cầm súng chiến đấu với quân địch, dù nguy hiểm nhưng tôi quyết chiến đấu tới cùng”, nữ biệt động thành tâm sự.

Trước đó, Chính Nghĩa được giao nhiều nhiệm vụ như làm liên lạc, vận chuyển thư từ, vũ khí trong nội và ngoại thành. Bà tự nhủ rằng nếu bị bắt thì phải giữ được khí tiết, hoàn thành nhiệm vụ thì mang về, còn chẳng may lọt vào tay giặc thì chấp nhận hy sinh. Có những ngày, bà đi lại như con thoi theo lộ trình Sài Gòn – Thủ Đức – Củ Chi trong khi đồn bốt địch bủa khắp nơi. Nhanh nhẹn và gan dạ bà được anh em trong Đội 5 khi đó gọi là “chiến sĩ tên lửa”.

Bà Nghĩa kể lại, lực lượng biệt động rất ít khi trực tiếp cầm súng chiến đấu với quân thù, phần lớn là đánh theo kiểu nổ chậm như đặt bom, mìn rồi bỏ đi nên không căng thẳng thần kinh như người chiến sĩ ôm súng ở chiến trường. Trước trận đánh lớn, bà đã chuẩn bị tinh thần quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ dù phải hy sinh thân mình.

Theo kế hoạch, đội biệt động của bà do đồng chí Tô Hoài Thanh (Ba Thanh, đội trưởng Đội 5) chỉ huy đánh vào dinh Độc Lập và giữ trận địa trong khoảng 20 đến 30 phút chờ quân chi viện tới. Đây là một mục tiêu quan trọng, nằm trong nội đô và được bảo vệ nghiêm ngặt. Mỗi động thái khác thường quanh mục tiêu sẽ bị địch kiểm tra và sẵn sàng bắn hạ.

Rạng sáng mùng 2 Tết Mậu Thân, 15 chiến sĩ biệt động đi trên ba chiếc xe tải nhỏ và hai chiếc xe máy tiến vào cổng sau dinh Độc Lập. Chiếc xe tải đi đầu nhanh chóng tiêu diệt chốt gác, tạo điều kiện đặt thuốc nổ phá cổng. Tuy nhiên, khối thuốc không nổ, lực lượng biệt động bị mắc kẹt ở cổng. 5 chiến sĩ của ta hy sinh ngay khi trèo qua tường rào vào trong dinh.

Không thể tiến công vào trong, các chiến sĩ biệt động chiến đấu ngay bên ngoài cổng. Gần 40 phút cầm cự vẫn chưa thấy có quân ta tiếp viện, cả Đội 5 dồn lực quyết chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Trận đánh đó mãi là một ký ức không thể nào quên với Chính Nghĩa bởi hôm đó bà chứng kiến những đồng đội thân thương của mình ngã xuống, trong đó người đội trưởng Tô Hoài Thanh hy sinh ngay trên cánh tay bà.

Cuộc chiến đấu không cân sức giữa hơn 10 chiến sĩ biệt động với hàng trăm tên địch diễn ra trong 2 đêm 1 ngày. 8 chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Số còn lại trong đó có bà đều bị thương, chiến đấu tới viên đạn cuối cùng. Chính Nghĩa bị bắt và bị tra tấn dã man trong các nhà tù của Tổng nha Cảnh sát, Thủ Đức, Chí Hòa và cuối cùng là Côn Đảo. Năm 1974, bà Nghĩa được trao trả tự do.

Bà Nghĩa bên miếu thờ các chiến sĩ biệt động đánh dinh Độc Lập

Tại nơi các chiến sĩ biệt động chiến đấu và hy sinh anh dũng được nhân dân lập miếu thờ từ năm 1969. Ngôi miếu nhỏ nằm trên đường Nguyễn Du, đối diện cổng sau dinh Độc Lập, vẫn là nơi thường xuyên lui tới của các chiến sĩ biệt động năm xưa và những cựu chiến binh tóc đã điểm bạc.

Bà Nghĩa không giấu nổi xúc động mỗi khi đến thăm và thắp những nén hương thơm cho đồng đội cũ. “Đau lòng nhất là ngôi miếu nhỏ thờ các chiến sĩ biệt động hy sinh tại đây từ năm 1969 vẫn vậy. Không có nhiều người biết đến, chỉ có anh em nhớ đến anh em”, nữ biệt động năm xưa giọng trầm xuống.

Mong ước lớn nhất của bà và nhiều đồng đội là chính quyền địa phương sẽ sớm xây dựng Bia tưởng niệm chiến sĩ biệt động Sài Gòn tại đây để ghi nhận công lao của các đồng đội và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ.

Bài, ảnh: MINH NGUYỄN
qdnd.vn

Nữ du kích diệt quân thiện chiến trong Tết Mậu Thân 1968

QĐND Online – Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 đã mở ra bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30-4-1975. Tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy cách đây đã 45 năm tại Thành phố Huế, có Tiểu đội du kích 11 cô gái sông Hương. Trong những ngày tháng ác liệt đó, các chị mới ở độ tuổi mười tám, đôi mươi, đảm đương nhiệm vụ tải thương, dẫn đường cho bộ đội chủ lực đánh vào thành phố. Dù là “thân gái”, với vũ khí trang bị gọn nhẹ, song các chị đã chiến đấu kiên cường, đẩy lùi một tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ được trang bị vũ khí hiện đại, có xe tăng, máy bay yểm trợ ngay giữa thành phố Huế.

Tiểu đội 11 Cô gái Sông Hương anh hùng. Ảnh tư liệu

Những ngày cận Tết Qúy Tỵ 2013, chúng tôi tìm đến căn nhà cấp 4 thuộc ngõ 40, đường Duy Tân, thành phố Huế. Đây là nơi chị Nguyễn Thị Hao, thành viên của Tiểu đội du kích 11 cô gái sông Hương năm xưa đang sinh sống. Qúa khứ như thước phim quay chậm trong trí nhớ và chị Hao xúc động nhớ lại: “11 đứa con gái chúng tôi lấy dòng sông Hương đặt làm tên chung vì chúng tôi đều sinh ra và lớn lên bên dòng sông Hương. Trước cuộc tổng tiến công và nổi dậy nổ ra khoảng hai tháng, chúng tôi được các đồng chí lãnh đạo Thành ủy Huế giao nhiệm vụ nắm tình hình tại các địa điểm đóng quân của quân địch trong nội thành; chuẩn bị dẫn đường và tải thương khi bộ đội ta từ vùng ven đồng loạt tấn công vào thành phố. Triển khai nhiệm vụ, chúng tôi vào vai con gái làng nón đưa sản phẩm làng nghề đi bán dạo cho người dân khắp khu vực phía Nam thành phố để thu thập tình hình và nắm chắc đường đi lối về dẫn đến các mục tiêu”.

Đêm ngày 11 rạng sáng ngày 12-2-1968, sau 10 ngày đảm nhiệm xuất sắc nhiệm vụ dẫn đường, tải thương, giúp bộ đội ta mở đợt tấn công địch tại thành phố Huế, Tiểu đội du kích 11 cô gái sông Hương được đồng chí Hoàng Lanh, lúc đó là Bí thư Thành ủy Huế, giao nhiệm vụ phối hợp với bộ đội chủ lực đánh bại đợt phản công của địch từ thị trấn Phú Bài lên thành phố Huế theo quốc lộ 1A. Trước một tiểu đoàn thủy quân lục chiến thiện chiến của Mỹ, có xe tăng và máy bay yểm trợ, các nữ du kích, do chị Phạm Thị Liên chỉ huy, đã lên quyết tâm chiến đấu và nhận định: “Bọn Mỹ cao to, có hỏa lực mạnh nhưng chúng không thông thạo địa hình, trong khi tiểu đội có sự phối hợp của bộ đội chủ lực và sự che chở của nhân dân, nhất định sẽ đánh bại kẻ địch”. Từ quyết tâm và nhận định đó, với súng AK và một số mìn, lựu đạn, các nữ du kích sông Hương lợi dụng địa hình, dàn trận tại các địa điểm như phường Phú Hội, phường Xuân Phú, khách sạn Hương Giang, Đại học Sư phạm Huế, chợ Cống… để tiêu diệt địch.

Bia ghi chiến công của các nữ du kích sông Hương ở đường Bà Triệu, thành phố Huế.

Đêm đó, khi bọn địch vừa kéo đến, đang ngơ ngác quan sát thì chị Phạm Thị Liên hạ lệnh tiêu diệt địch. Ngay lập tức, những loạt đạn được nã chính xác vào đội hình địch, tiêu diệt tại chỗ những tên trong tốp đi đầu, ghìm chân cả tiểu đoàn quân Mỹ tại chỗ. Bọn địch xô nhau nằm xuống và bắn như vãi đạn lên trời, một giờ sau chúng mới dám phản kích.

Với tinh thần gan dạ, dũng cảm, trong trận đánh này, tiểu đội nữ du kích sông Hương đã tiêu diệt hàng chục lính Mỹ, 4 xe tăng và cản bước tiến của quân địch, góp phần cùng với quân ta làm chủ thành phố Huế trong suốt 26 ngày đêm liên tục của đợt tập kích đầu tiên trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Trong trận quyết chiến hôm đó, bốn nữ du kích sông Hương đã anh dũng hy sinh là các chị: Đỗ Thị Hoa, Hoàng Thị Sau, Hoàng Thị Hết, Nguyễn Thị Diên.

Với chiến công đánh tan một tiểu đoàn quân Mỹ, Tiểu đội du kích 11 cô gái sông Hương đã vinh dự được Bác Hồ tặng bài thơ khen ngợi chiến công: “Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường/Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường/Bác khen các cháu dân quân gái/Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”. Sau này, tỉnh Thừa Thiên- Huế đã quyết định dựng bia ghi chiến công của các nữ du kích sông Hương tại phường Xuân Phú, nơi gắn với chiến công của họ 45 năm về trước. Đặc biệt, ngày 2-9-2008, Tiểu đội du kích 11 cô gái sông Hương đã vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân vì những chiến công xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Bài, ảnh: TRẦN ĐÌNH THĂNG
qdnd.vn

Ba ngày Tết thắng ba trận giòn giã

QĐND Online – Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ở nơi cực Nam Tổ quốc, có một người con ưu tú của quê hương Cà Mau mà tên tuổi ông gắn liền với những chiến tích oai hùng của một đơn vị bám trụ đánh giặc trên tuyến đường Vòng Cung (Cần Thơ). Ông là Đại úy, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Hồng Phước (thường gọi là Hai Thành), nguyên Đại đội trưởng Đại đội “gang thép”, hiện ngụ tại huyện Trần Văn Thời (Cà Mau).

Một ngày cuối năm, chúng tôi có dịp nghe ông, người cựu chiến binh tuổi ngoại “bát tuần”, kể về những trận đánh đầu xuân năm ấy…

– Giáp Tết năm 1968, tôi cùng anh em trong Đại đội “gang thép” (Tiểu đoàn 303, Trung đoàn 1, Quân khu 9) đang trực sẵn sàng chiến đấu. Mặc dù chỉ còn vài ngày nữa là đến Tết Nguyên đán nhưng chiến sự ác liệt nên chẳng ai còn nghĩ đến bánh chưng, bánh tét. Dù vậy, chiều 30 Tết, cảm giác đau đáu nhớ hơi ấm gia đình vẫn khiến chúng tôi thoáng chút bùi ngùi. Đúng thời điểm đó, tôi nhận lệnh gấp rút chỉ huy đơn vị ứng cứu giải vây cho Tiểu đoàn 307 đang thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm Đài phát thanh Cần Thơ. Lập tức, tôi thống nhất phương án rồi chỉ huy đại đội cơ động ngay trong đêm. Vào đúng thời điểm thiêng liêng nhất, lắng đọng nhất của một năm thì chúng tôi lại ba lô, súng ống ra đi trên những con thuyền lướt dọc bờ kênh. Phía xa xa, câu vè ai đó vẳng trong đêm thanh vắng: “Má ơi, bộ đội của mình/ Đánh Tây cũng giỏi, lội sình cũng hay” như tiếp thêm sức mạnh cho đơn vị hành quân. Phút giao thừa, trong cái mênh mông thăm thẳm của đêm Ba mươi, giữa thời khắc trời đất giao hòa, cả đơn vị bừng bừng khí thế khi nghe lời thơ của Bác: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua…”.

Ông Phước đang kể lại trận đánh năm xưa

Ông Phước đọc hết bài thơ chúc Tết của Bác Hồ đầu Xuân 1968, rồi bất chợt ngừng lời như để hình dung đầy đủ gương mặt những người đồng đội cùng hành quân giữa mùa xuân năm ấy. Giây lát, ông kể tiếp:

– Cơ động đến nơi chúng tôi được giao nhiệm vụ án ngữ ngã ba Cần Thơ chặn đứng mũi phản công của địch để mở đường cho Tiểu đoàn 307 chuyển sang thế tiến công. Sớm mồng 2 Tết, sau khi đơn vị triển khai xong đội hình ngăn chặn địch thì lực lượng của chúng cũng vừa tới nơi. Đợi chúng vào đúng phạm vi phục kích, tôi ra lệnh nổ súng tiêu diệt chiếc xe tăng đi đầu. Bị bất ngờ, đội hình cơ động của địch hoảng loạn. Theo hiệp đồng, cả đại đội đồng loạt tiến công dũng mãnh tiêu diệt hơn 100 tên, giữ vững khu vực ngã ba, không cho quân địch cơ động vây ép Tiểu đoàn 307. Đó là trận thắng đầu tiên của Đại đội “gang thép” trong dịp Tết cổ truyền 1968, nhưng chúng tôi vẫn thấy không vui bởi đạn bom đã át tiếng pháo Xuân, niềm vui của đồng bào chưa trọn vẹn…

Ngay sau đó, Đại đội “gang thép” lại nhận lệnh bàn giao trận địa, cơ động chiến đấu trong đội hình Tiểu đoàn 303, phục kích chặn đánh đoàn xe của địch trên tỉnh lộ 4. Trận đánh này, Đại đội trưởng Nguyễn Hồng Phước đã thể hiện rõ kinh nghiệm của người chỉ huy dạn dày trận mạc. Ông Phước nhớ lại:

– Tối mồng 2 Tết, khi đâu đó vẫn đì, đoàng tiếng pháo đón xuân thì anh em chúng tôi lại vội vã lên đường không kịp ăn cơm. Mỗi người chỉ mang theo một ít cơm cháy, cơ động đến khu vực tác chiến của Tiểu đoàn 303. Sáng mồng 3, trong khi đơn vị đang nằm phục kích chờ đoàn xe địch, thì bất ngờ chúng cho trực thăng đổ bộ một tiểu đoàn biệt kích ngay sát đội hình đại đội tôi. Chậm trễ sẽ mất thời cơ, nguy hiểm cho đơn vị, không kịp báo cáo lên trên, tôi trực tiếp chỉ huy đại đội đánh lướt bên sườn đội hình đổ quân của chúng khi vừa chạm đất, nhằm thu hút hỏa lực tạo điều kiện cho tiểu đoàn ta triển khai đội hình tiêu diệt quân địch. Trận đánh thắng lợi. Do mất liên lạc, đoàn xe của chúng vẫn cơ động theo hướng cũ nên bị lực lượng của ta bắn cháy và phá hủy 70 chiếc. Số còn lại buộc phải rút về nơi xuất phát.

Ông Nguyễn Hồng Phước (giữa) nhận Danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân (ảnh nhân vật cung cấp)

Sau trận phục kích, tối mùng 3, Đại đội “gang thép” rút về hậu cứ. Nhưng ở đó lại diễn ra trận đánh thứ 3 khi một sư đoàn lính da đen và quân chư hầu tổ chức thành nhiều mũi tiến công vào khu vực đóng quân đơn vị. Một lần nữa, Đại đội trưởng Phước lại thể hiện rõ khả năng chỉ huy tác chiến, anh lệnh cho một tiểu đội triển khai cách xa đơn vị, nổ súng vào đội hình địch, đánh lạc hướng tiến công của chúng. Đồng thời, anh đề nghị hỏa lực pháo binh chi viện dồn dập vào mục tiêu chừng 30 phút, đủ thời gian bố trí đội hình. Chiều mồng 4, khi pháo vừa ngưng, anh ra lệnh cho toàn đơn vị khép chặt gọng kìm bẻ gãy mũi tiến công của địch, buộc chúng phải rút lui. Chiến thắng đầy mưu trí, sáng tạo của Đại đội “gang thép” đã được Trung đoàn 1 biểu dương khen ngợi.

– Vậy là, chỉ trong 3 ngày Tết, các chú đã liên tiếp cơ động chiến đấu 3 trận giành thắng lợi. Đúng là kỳ tích của Đại đội “gang thép” – Tôi bày tỏ lòng ngưỡng mộ. Ông Phước gật gù:

– Chúng tôi chiến đấu trên địa bàn “nóng” của miền Tây Nam bộ, nhiều đơn vị đã bị thương vong nghiêm trọng. Riêng đại đội tôi vẫn bám trụ kiên cường lại còn khiến quân thù khiếp sợ. Bởi vậy mới có tên là Đại đội “gang thép”! Chúng tôi luôn sẵn sàng cơ động đánh địch bất kể gian khổ, hiểm nguy. Ngay cả những ngày Tết, mọi người sum họp gia đình, nhưng chúng tôi không có thời gian để nghĩ đến cảm giác quây quần bên mâm cơm ấm cúng; thậm chí bụng đói cồn cào, thèm một miếng bánh chưng, bánh tét cũng chỉ biết nén lòng vì nhiệm vụ… Mãi đến chiều mùng 8, khi tiếng súng tạm ngưng chúng tôi mới tự thưởng cho mình một bữa liên hoan bằng cách chế biến lại các món ăn trong khẩu phần và một ít thịt heo do các má, các cháu mang cho. Nhìn chúng tôi ai nấy phờ phạc, lặng ngồi bên mấy chiếc bát bỏ không “chờ” đồng đội, các má bật khóc òa…

Bữa cơm đón xuân, mừng thắng lợi sau mấy ngày vất vả, tuy muộn mằn, đạm bạc nhưng với mỗi thành viên Đại đội “gang thép” nó thật ý nghĩa, không thể nào quên.

Bài và ảnh: HOÀNG THÀNH
qdnd.vn

Gặp nữ du kích sông Hương tham gia chiến đấu trong Tết Mậu Thân 1968

QĐND Online – Chúng tôi tìm về ngôi nhà nhỏ xinh xắn nằm trong ngõ 131/1 đường Bà Triệu, thành phố Huế, để gặp chị Hoàng Thị Nở, một nữ du kích trong tiểu đội 11 cô gái Sông Hương, từng tham gia chiến đấu trong Chiến dịch Tết Mậu Thân 1986.

Tiếp chúng tôi là người phụ nữ có gương mặt phúc hậu, giọng nói nhỏ nhẹ, chân tình và cởi mở. Bên ly trà Cung Đình Huế, chị kể: Sinh ra tại làng Vân Thê, xã Thủy Thanh, huyện Hương Thủy, trong một gia đình nông dân nghèo có bảy chị em, chị là con thứ tư. Năm 1966, khi vừa tròn 17 tuổi, chứng kiến sự đau thương mất mát quá lớn do tội ác của bọn Mỹ, ngụy gây ra cho những người thân trên mảnh đất quê hương, chị đã tình nguyện vào du kích xã. Chưa đầy một năm sau chị được tuyển chọn vào Tiểu đội nữ du kích 11 cô gái sông Hương.

“Mười một chị em ngày ấy mỗi người một hoàn cảnh, một tính cách nhưng có một điểm chung là đều rất nghèo và đều tình nguyện tham gia cách mạng bằng tất cả niềm khát khao cháy bỏng và trái tim nhiệt huyết của tuổi trẻ”, chị Nở bồi hồi.

Chị Hoàng Thị Nở trò chuyện cùng tác giả.

Nhớ lại những ngày trực tiếp cầm súng tham gia các trận đánh Tết Mậu Thân năm 1968, chị kể: Ngày 11-2-1968, đồng chí Hoàng Lanh, Bí thư Thành ủy Huế xuống trao đổi với chúng tôi rằng, các đơn vị chủ lực của ta đã đánh vào trong lòng thành phố Huế. Cấp trên cho biết, ngày 12-2, tiểu đoàn thủy quân lục chiến của Mỹ ở Phú Bài sẽ lên đánh ứng cứu giải vây cho đối phương. Nhiệm vụ của tiểu đội nữ du kích là phối hợp với các đơn vị bạn bẻ gãy đợt tấn công lần này của địch. Trong trận chiến đó, tiểu đội của chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiêu diệt 120 tên địch ở ngã ba chợ Cống.

Nhưng trong trận chiến hôm đó, chị Nở bị thương ở đầu; bốn đồng đội của chị cũng anh dũng hy sinh khi tuổi đời đẹp nhất, đó là các chị: Đỗ Thị Hoa, Hoàng Thị Sau, Hoàng Thị Hết, Nguyễn Thị Diên.

Kể đến đây, chị Nở lại nghẹn ngào.

Vừa lật giở cho chúng tôi xem những kỷ vật của một thời trận mạc, chị Hoàng Thị Nở vừa kể tiếp: “Tết Mậu Thân năm 1968, tôi cùng đồng đội chiến đấu liên tục 20 ngày đêm bên bờ sông Hương. Cả ngày bám giữ chiến hào, mùi thuốc súng khét lẹt. Bánh tét, bánh chưng và quà tết được các bà các mẹ trong phố mang ra tiếp tế. Cảm động lắm chú ạ! Lúc đó, ai cũng quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cao cả và ước mơ tới một ngày đất nước hoàn toàn tự do độc lập, để được đón một cái Tết trong niềm vui hòa bình. Có sống trong những ngày gian khổ ác liệt đó mới thấy được giá trị của hai chũ TỰ DO chú à”. Nói rồi, chị nhìn chăm chú vào chúng tôi như muốn gửi gắm một điều gì đó!

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tiểu đội nữ du kích mỗi người đảm nhiệm một vị trí công tác. Chị Hoàng Thị Nở được bổ nhiệm giữ chức vụ Chính trị viên xã đội. Năm 1980, chị được chuyển qua công tác tại Hội Nông dân thành phố Huế rồi được giữ chức Chủ tịch Hội cho đến năm 2007 thì nghỉ hưu theo chế độ. Chị vừa được nhận huy hiệu 45 năm tuổi Đảng. Chồng chị, anh Nguyễn Công Xanh cũng là thiếu tá, từng công tác tại Ban CHQS Thành phố Huế nay cũng đã nghỉ hưu. Chị bộc bạch rằng, so với nhiều đồng đội, chị may mắn lắm rồi, bởi nhiều người cùng chiến đấu với chị hiện nay cuộc sống vẫn còn vất vả, con cái bị ảnh hưởng chất độc da cam…

Ngôi nhà của gia đình chị ở bây giờ, trước đây là hầm hào công sự. Cách nhà chị khoảng vài trăm mét là Bia chiến tích 11 cô gái sông Hương được xây dựng năm 2009.

Vợ chồng chị rất hạnh phúc với tổ ấm của mình. Hai cô con gái đã có ông ăn việc làm ổn định và đã lập gia đình. Chị thông báo với chúng tôi là đã…lên chức bà ngoại. Bây giờ dù sức khỏe không được tốt do những vết thương thường xuyên tái phát nhưng chị vẫn ước ao được gặp lại những chị em trong tiểu đội nữ du kích sông Hương ngày nào. Chị bảo, những nữ du kích trong tiểu đội còn sống đến hôm nay đều đã bước qua tuổi 65; mỗi người một hoàn cảnh. Nhưng dù ở đâu, làm gì họ cũng đều giữ được hình ảnh và truyền thống tốt đẹp của Tiểu đội 11 cô gái sông Hương huyền thoại.

Bài và ảnh: TRẦN ĐÌNH THĂNG
qdnd.vn

Táo bạo đánh vào trung tâm cơ sở địch

QĐND – Sau Tết Mậu Thân 1968, chính quyền Sài Gòn đưa quân đội, lực lượng bảo an và ác ôn điên cuồng càn quét, dồn dân, lập ấp, tiếp tục bình định tìm diệt các cơ sở cách mạng và lực lượng vũ trang của ta. Ở xã Kỳ Mỹ (Phú Ninh, Quảng Nam), ta đã xây dựng được đơn vị du kích với 20 người, trang bị vũ khí ít ỏi. Trước sự càn quét của địch có xe tăng, xe cơ giới yểm trợ, lực lượng du kích ta đành phải rút vào hoạt động bí mật.

Biết ta có lực lượng du kích ở xã nên địch tìm mọi cách lùng sục, càn quét, dồn dân nhằm khủng bố tinh thần nhân dân, cách ly dân với lực lượng vũ trang ta. Chính quyền phản động ở xã cũng tiếp tay cho địch, chỉ đạo bọn dân vệ, dân phòng, bảo an bắt bớ, đàn áp nhân dân. Để tiến công địch, chống dồn dân và đàn áp dân, chi bộ Đảng xã Kỳ Mỹ họp và thống nhất chỉ đạo Đội du kích xã táo bạo đánh vào trung tâm cơ sở địch, diệt gọn Hội đồng xã để chính quyền phản động không còn hung hăng.

Kế hoạch đã được vạch ra. Đêm xuống, du kích xã bí mật vào chôn khối thuốc nổ 24kg có hẹn giờ vào trụ sở Hội đồng xã Kỳ Mỹ. Nhưng do cài lệch giờ nên khi khối thuốc phát nổ, Trụ sở Hội đồng xã Kỳ Mỹ chỉ còn đống gạch vụn, nhưng toàn bộ Hội đồng xã đã ra về hết. Trận đánh khiến chính quyền phản động của địch kinh sợ. Sau đó, địch dời trụ sở về sát trường tiểu học, nhằm lấy con em của nhân dân làm tấm bình phong.

Quyết tâm tiêu diệt những tên cầm đầu phản động của du kích xã vẫn được củng cố. Lần này, chỉ huy và các đội viên du kích tính toán và đề ra kế hoạch cụ thể, thận trọng hơn để tránh làm thương vong cho học sinh và dân thường. Được cơ sở của ta thông báo, địch sẽ họp tại trụ sở vào ngày 9-6-1971, theo kế hoạch, du kích xã bố trí lực lượng đánh lựu đạn, lực lượng khống chế các cửa ra vào và thoát hiểm. Đúng 9 giờ, cô Lanh, một cơ sở hợp pháp mặc áo hồng đi về phía các đội viên du kích nở nụ cười tươi rói, đó cũng là tín hiệu cho biết địch đã tập trung đông đủ. Theo hiệu lệnh chỉ huy, các đội viên du kích xuất phát tiến công theo phương án đã thống nhất. Trận đánh bất ngờ khiến địch không kịp trở tay, toàn bộ Hội đồng xã bị tiêu diệt gọn.

Trận đánh khiến chính quyền phản động và các lực lượng của địch kinh hoàng, tạo thế cho nhân dân từ các khu dồn bung ra về với làng cũ, phong trào cách mạng xã Kỳ Mỹ phát triển cho đến ngày quê hương hoàn toàn giải phóng.

NHẬT QUANG
qdnd.vn

Trung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng ngày 20 tháng 02 năm 2013, nhân dịp đầu xuân mới, tại Quảng trường Ba Đình, trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã diễn ra lễ báo công của Trung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu. Tham dự buổi lễ có các đồng chí đại diện các hòng chức năng, đại diện Ban Chấp hành Đoàn cơ sở cùng với sự có mặt của 390 cán bộ, chiến sĩ tiêu biểu xuất sắc, đại diện cho hơn 1200 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu.

1.a1.CSBV  bao congTrung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Trung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu là một bộ phận trong lực lượng Công an nhân dân, trực thuộc Cục Cảnh sát Bảo vệ – Tổng cục VII – Bộ Công an, được tái thành lập từ tháng 12 năm 1999 với chức năng, nhiệm vụ tổ chức lực lượng vũ trang canh gác bảo vệ các mục tiêu chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hoá, khoa học – kỹ thuật quan trọng của Đảng và Nhà nước trên địa bàn Thủ đô Hà Nội. Trong những năm qua, mặc dù điều kiện công tác còn nhiều khó khăn, gian khổ, song với ý chí quyết tâm và lòng trung thành sắt son với Đảng, với Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của các cấp uỷ Đảng, sự sáng tạo, nỗ lực vươn lên của cán bộ, chiến sĩ, qua 14 năm xây dựng, chiến đấu, Trung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu không ngừng lớn mạnh, trưởng thành về mọi mặt. Từ năm 2008 đến năm 2012, Đảng bộ cơ sở Trung đoàn đều đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh và danh hiệu Đơn vị Quyết thắng. Đặc biệt, năm 2011, Trung đoàn được Bộ Công an tặng Cờ “Đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua Vì an ninh Tổ quốc cấp cơ sở”, nhiều tập thể và cá nhân được Chính phủ, Bộ Công an tặng Bằng khen. Riêng năm 2012 Trung đoàn có 01 tập thể và 04 cá nhân được Bộ Công an tặng Bằng khen, 03 tập thể và 38 cá nhân được Tổng cục VII tặng Giấy khen, 07 tập thể và 69 cá nhân được Cục Cảnh sát Bảo vệ tặng Giấy khen, 68 cá nhân đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở, 760 cá nhân đạt danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến và Lao động tiên tiến. Đó là những tấm gương tiêu biểu trong học tập và làm theo lời Bác dạy.

 Thay mặt Trung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu, đồng chí Thượng tá Vũ Tiến Triển – Bí thư Đảng uỷ, Trung đoàn trưởng xin hứa: “Tiếp tục phát huy truyền thống và thành tích đã đạt được trong chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, nỗ lực vượt qua khó khăn thử thách, ra sức khắc phục những tồn tại, thiếu sót. Đề cao cảnh giác cách mạng, không ngại gian khổ, hy sinh, tận tuỵ với công việc, mưu trí dũng cảm trong chiến đấu, lập công xuất sắc góp phần tô thắm thêm bảng vàng truyền thống của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam anh hùng, xứng đáng với những tình cảm mà Bác đã dành cho lực lượng Công an nhân dân”.

1.a2.CSBV vao lang vieng Bac
Đoàn đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Bác

Kết thúc buổi lễ, Đoàn đã đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Phim tài liệu “Mậu Thân 1968” – 10 năm cho 12 tập phim

(VOV) – Đạo diễn Lê Phong Lan mất tới 10 năm để thu thập tư liệu làm phim tài liệu về cuộc chiến Tết Mậu Thân 1968.

Tiếp sau bộ phim tài liệu “Hiệp định Paris 1973” nhận được nhiều sự quan tâm của khán giả, Đài Truyền hình Việt Nam sẽ phát sóng bộ phim tài liệu dài 12 tập mang tên “Mậu Thân 1968”. Nhân dịp này, phóng viên VOV phỏng vấn bà Lê Phong Lan – đạo diễn bộ phim.

PV: Thưa đạo diễn Lê Phong Lan, điều gì khiến bà quyết định làm bộ phim tài liệu lịch sử về Tết Mậu Thân năm 1968 – thời điểm mà đến giờ vẫn rất ít người chọn vì mức độ nhạy cảm của nó?

Đạo diễn Lê Phong Lan: Câu chuyện cách đây gần 10 năm rồi. Khi đó, tôi làm bộ phim về vị tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn. Và có lẽ từ câu chuyện chiến tranh của ông Phạm Xuân Ẩn – nhân vật tình báo xuất sắc của mạng lưới tình báo H63, một trong 4 con át chủ bài của 30 lưới tình báo trước năm 1975 đó đã cho tôi một câu chuyện dẫn tới việc làm bộ phim này. Ông Phạm Xuân Ẩn nói rằng: “Cháu phải làm bộ phim về Tết Mậu Thân năm 1968 vì đó là sự hi sinh vô cùng lớn lao của quân và dân VN để giành được thắng lợi mà cho đến bây giờ không hiểu sao ít người nói đến”.

Trong quá trình tìm hiểu, tôi có gặp một số giáo sư người nước ngoài như ông Larry Berman (tác giả cuốn Điệp viên hoàn hảo). Năm 2001, ông ấy sang Việt Nam để viết sách về ông Phạm Xuân Ẩn. Tôi đã dành thời gian đọc 5 cuốn sách Larry Berman viết về Việt Nam. Đọc xong, tự nhiên có điều đó thôi thúc tôi tìm hiểu về sự kiện Tết Mậu Thân. Trong khi song hành làm những bộ phim khác, thì tôi cũng làm luôn về Tết Mậu Thân.

Sau khi nghiên cứu các sự kiện và phác họa ý tưởng thực hiện, để hoàn thành bộ phim tài liệu lịch sử, tôi và ê kíp đã mất 10 năm để thu thập tư liệu, phỏng vấn các nhân chứng, các học giả uy tín trong và ngoài nước. Thế nên trong phim này 2/3 nhân vật mà tôi phỏng vấn đã mất.

Đạo diễn Lê Phong Lan phỏng vấn một nhân chứng

PVTrong 10 năm thực hiện bộ phim tài liệu lịch sử “Mậu Thân 1968”, điều gì khiến bà trăn trở nhất?

Đạo diễn Lê Phong Lan: Điều mà tôi trăn trở rất nhiều. Đó là có rất nhiều bạn trẻ đang hiểu sai lệch về sự kiện này. Lý do có lẽ là 45 năm sau sự kiện Tết Mậu Thân vẫn chưa có ai cứu sâu và nói rõ ràng, đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng  những nghiên cứu đó về Tết Mậu Thân. Và chúng tôi có trách nhiệm phải làm sáng tỏ, vì nói như nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn thì đó là ý chí, là nghị lực, là lòng yêu nước nồng nàn của ông cha ta, quyết tâm giành độc lập.

Không cho phép mình sai lầm hoặc một chiều, tôi đã phỏng vấn hàng trăm nhân chứng, đối chất từng người một, sang Mỹ 4 lần liền gặp gỡ các cựu chiến binh Mỹ, các nhà sử học Mỹ, vào các kho lưu trữ để đối chất vấn đề đó. Tôi nghĩ rằng bộ phim này chưa thể nói hết được tất cả về Tết Mậu Thân năm 1968, nhưng tôi nghĩ rằng tôi cũng nói được những vấn đề cơ bản nhất.

PVBộ phim tài liệu lịch sử “Mậu Thân năm 1968” được phát trong thời điểm 45 năm sau sự kiện Tết Mậu Thân 1968 có ý nghĩa như thế nào với cá nhân bà, thưa đạo diễn Lê Phong Lan?

Đạo diễn Lê Phong Lan: Bộ phim bắt đầu từ việc đi tìm câu trả lời tại sao Mỹ – một cường quốc với tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học kĩ thuật gấp 800 lần Việt Nam lại can dự vào công việc nội bộ của một quốc gia nhỏ bé và lạc hậu ở cách xa nửa vòng trái đất, để rồi tạo nên một trong những cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt nhất trong thế kỷ XX.

Tiếp đến, là hành trình lật lại hồ sơ tư liệu về một kế hoạch tuyệt mật đã không được thực hiện từ thời chiến lược chiến tranh đặc biệt. Nó chính là nguồn gốc để hình thành và phát triển nên kế hoạch Tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Đồng thời, lý giải tại sao thời cơ chiến lược lại rơi đúng vào dịp tết Mậu Thân 1968. Và tại sao từ 3 khả năng mà Bộ Chính trị đã xác định lại chuyển dần thành mục tiêu duy nhất – thực hiện trận quyết chiến chiến lược, giành chính quyền về tay nhân dân.

Bên cạnh đó, những so sánh về tương quan lực lượng giữa các bên tham chiến, sự chuẩn bị khẩn trương của tất cả các lực lượng quân giải phóng trước cuộc động binh lịch sử, khí thế của cả một thế hệ ra trận trong lời thề quyết tử cho tổ quốc quyết sinh trước cơ hội ngàn năm có một cũng được tái hiện chân thực và sinh động. Tôi chỉ mong rằng sau bộ phim, các bạn trẻ sẽ hiểu hơn, có cái nhìn chân thực hơn về sự kiện lịch sử này.

Đạo diễn Lê Phong Lan tại Mỹ

PVTrong tương lai, bà vẫn sẽ trung thành với việc theo đuổi đề tài lịch sử trong các bộ phim sắp tới chứ?

Đạo diễn Lê Phong Lan: Tôi không biết tại sao mình lại mê lịch sử như thế. Nhưng tôi hiểu lịch sử chính là tương lai của bản thân. Nếu tôi hiểu lịch sử thì chắc chắn tôi sẽ đứng trên một bệ phóng rất vững để đi những bước tiếp theo.

Qua quá trình tìm hiểu thì tôi cảm nhận được sự vĩ đại của thế hệ cha ông mình, họ đã hi sinh tất cả vì độc lập. Tôi muốn hiểu vì sao ông cha ta lại dám đánh đổi cả tài sản, tính mạng, gia đình để đổi lấy độc lập tự do. Và tôi cũng muốn hiểu độc lập tự do là gì mà dân tộc ta hết thế hệ này đến thế hệ khác sắn sang đánh đổi tất cả để có? 15 năm qua, tôi miệt mài đi tìm điều đó, từ phim này đến phim khác. Và tôi sẽ tiếp tục hành trình đó ở những bộ phim tiếp theo.

PVXin cảm ơn đạo diễn Lê Phong Lan./.

Bộ phim tài liệu lịch sử “Mậu Thân 1968” dài 12 tập, thời lượng 30 phút/1 tập. Tập 1 sẽ phát sóng vào lúc 20h45, ngày 25/1 trên kênh VTV1, Đài THVN. Nội dung của 12 tập phim như sau:

Tập 1: Cuộc đối đầu lịch sử Tập 7: Huế – 26 ngày đêm
Tập 2: Bí mật kế hoạch X Tập 8: Khúc ca bi tráng
Tập 3: Trước giờ G Tập 9: Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh
Tập 4: Nghi binh Khe Sanh Tập 10: Không có gì quý hơn độc lập tự do
Tập 5: Tết Mậu Thân 1968 Tập 11: Mậu Thân trong lòng nước Mỹ
Tập 6: Mục tiêu chiến lược Tập 12: Tượng đồng bia đá

Mai Lan/VOV1 (thực hiện)
vov.vn

Trưng bày “Phụ nữ Sài Gòn – Gia Định trong Mậu Thân 1968”

(VOV) – 170 hình ảnh và hiện vật giới thiệu đến khách tham quan những đóng góp của phụ nữ Sài Gòn – Gia Định trong chiến dịch Mậu Thân 1968.

Nhân kỷ niệm kỷ niệm 83 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam , 45 năm Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, sáng nay (30/1), Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ khai mạc trưng bày chuyên đề “Phụ nữ Sài Gòn – Gia Định trong Mậu Thân 1968”.

Lễ cắt băng khai mạc phòng trưng bày. (ảnh: doanhnhansaigon)

170 hình ảnh và hiện vật trưng bày tại bảo tàng giới thiệu đến khách tham quan những đóng góp của phụ nữ Sài Gòn – Gia Định trong những ngày khói lửa Mậu Thân 1968. Họ đã đóng vai trò quan trọng trong các chiến thắng trên các lĩnh vực: tình báo, chính trị, phụ vận, giao liên, vũ trang, phục vụ chiến đấu. Dù ở vai trò nào, các mẹ, các chị cũng thể hiện sự mưu trí, dũng cảm và tinh thần bất khuất của mình.

Dịp này, thế hệ trẻ cũng được giao lưu với nhân chứng của một thời oanh liệt, có đóng góp trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân 1968. Có mặt tại triển lãm, bà Vũ Minh Nghĩa, bí danh Chín Nghĩa, công tác tại đội 5, Biệt động Sài Gòn – Gia Định cho biết trong Chiến dịch Mậu Thân 1968, đơn vị của bà đánh vào cổng sau dinh Độc Lập. Sau đợt tấn công thứ nhất thì bà đã bị bắt nhưng nhiều đồng chí, đồng đội của bà vẫn tiếp tục tham gia đợt thứ 2, thứ 3. Chị em phụ nữ ngày ấy quyết tâm là điều gì mấy anh làm được thì họ cũng làm được, nhiệm vụ nào Đảng giao cũng phải hoàn thành.

Triển lãm kéo dài đến ngày 30/5/2013./.

PV/VOV-TPHCM
vov.vn

Nhân chứng kể chuyện tổng tấn công Tết Mậu thân 1968

(VOV) -Đã 45 năm trôi qua, nhưng Mậu Thân-1968 vẫn mãi âm vang như một mốc son của lịch sử quân sự Việt Nam.

Đã gần nửa thế kỷ trôi qua, bà Hoàng Thị Nở, thành viên của Tiểu đội du kích 11 cô gái Sông Hương vẫn nhớ như in diễn biến của chiến dịch nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Ngày ấy, các chị tham gia tiểu đội du kích xã Thủy Thanh, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Ban đầu các chị bám sát địa bàn, hoạt động trong lòng thành phố, nắm các mục tiêu quan trọng của địch, dẫn đường cho bộ đội vào tấn công địch ở phía nam thành phố Huế…

Để hoàn thành nhiệm vụ quan trọng này, các chị phải mất nhiều tháng trời trinh sát, nắm rõ từng mục tiêu của địch.

Đêm 30 Tết năm đó, các chị chia làm ba tổ dẫn ba cánh quân vào thành phố đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng, khiến địch không kịp trở tay.

Ảnh tư liệu

Chỉ trong một ngày đêm, quân và dân ta đã hoàn toàn làm chủ thành phố Huế. Ngày 12/2/1968 (tức 12 Tết Nguyên đán), khi địch tổ chức phản công, Tiểu đội 11 cô gái sông Hương cùng với bộ đội đã tổ chức đánh phản kích đẩy lùi một tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ, bắn cháy nhiều xe tăng, tiêu diệt 120 tên dịch ở ngã ba chợ Cống. Trong trận đánh đó, 4 chị anh dũng hy sinh.

Đã vào cái tuổi 80 nhưng ông Ngô Kha, tham gia chiến dịch Mậu Thân 1968 ở cánh phía bắc thành Huế, còn nhớ rõ: Đêm 30 Tết năm đó, bộ đội ta từ khắp nơi đồng loạt tấn công địch ở cả cánh nam, cánh bắc thành phố Huế, nhanh chóng chiếm giữ các mục tiêu quan trọng, quân ta đã làm chủ thành phố Huế, cờ giải phóng bay trên cột cờ Phu Văn Lâu suốt 26 ngày đêm.

Ông Ngô Kha nhớ lại: Dân ở vùng tạm chiếm đã 23 năm, nhưng thấy quân cách mạng vào họ sẵn lòng giúp đỡ bộ đội lương thực, lập trạm đưa thương binh lùi tuyến sau, đào giao thông, hầm cho bộ đội chiến đấu…

Cuộc tổng tấn công nổi dậy Xuân 1968, là một biểu hiện sáng ngời về ý chí và sức mạnh quật cường của quân và dân Việt Nam; thể hiện tính sáng tạo, tài mưu lược trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta.

Ông Nguyễn Đức Thuận, ở  phường Phước Vĩnh, thành phố Huế,  nguyên trinh sát của đơn vị K8 tham gia chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968, tâm sự: Chiến dịch Mậu Thân-1968 ở Huế, là thắng lợi to lớn về sức mạnh, tinh thần của dân tộc Việt Nam, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, chịu ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Paris năm 1973.

Ý nghĩa của chiến thắng Tết Mậu Thân 1968, cho đến bây giờ vẫn còn nguyên tính thời sự. Đó là khát vọng độc lập tự do và hòa bình thịnh vượng cho cả dân tộc Việt Nam./.

Lê Hiếu/VOV-Miền Trung
vov.vn

Nhớ về chiến thắng Xuân Mậu Thân 1968

Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã đi vào lịch sử chiến tranh cách mạng dân tộc, góp phần cùng cả nước chiến thắng đế quốc Mỹ, tiến tới ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Những ngày Tết Nguyên đán cách đây 42 năm, cùng với tiếng súng tấn công địch trên toàn miền Nam, quân và dân Huế đã đồng loạt tiến công, nổi dậy, làm chủ thành phố Huế suốt 26 ngày đêm, cùng với cả nước lập nên chiến công vang dội của cuộc tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Ngày cận Tết, người Huế tất bật sửa sang, dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa đón năm mới. Nhà nhà chuẩn bị bánh mứt, gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn, gói bánh chưng dâng lên ông bà tổ tiên. Trong không khí ngày xuân, ông Phan Nam (82 tuổi), nguyên Bí thư Quận uỷ quận Nhì, thành phố Huế trầm ngâm bên chén trà đặc sánh, bồi hồi nhớ lại những ngày tháng chiến đấu gian khổ và hào hùng của quân và dân Huế trong chiến dịch xuân Mậu Thân 1968.

Ông Phan Nam nhớ lại: Năm 1966, Bộ Chính trị quyết định thành lập Khu uỷ và Quân khu Trị Thiên – Huế trực thuộc Trung ương và Bộ Quốc phòng. Từ một khu đệm không đánh lớn, giờ đây Trị Thiên – Huế trở thành mặt trận tấn công địch, cùng với mặt trận Đường 9, Bắc Quảng Trị hợp thành một chiến trường quan trọng, tiêu diệt sinh lực địch, phối hợp tác chiến với các chiến trường khác để đưa cuộc chiến tranh cách mạng lên một bước mới.

Sau khi thành lập, thực hiện chủ trương của Khu uỷ và Quân khu, từ giữa năm 1966 đến 1967, ông Phan Nam cùng lãnh đạo Thành uỷ Huế bí mật chuẩn bị mọi mặt cho Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Thời gian này, ông Phan Nam, lúc thì xuất hiện như một thầy giáo, rồi người đi buôn, lúc lại vào vai ông xe thồ, len lỏi từ nội thành đến vùng ven đô, đồng bằng, miền núi tỉnh Thừa Thiên tham gia xây dựng cơ sở, lực lượng tự vệ, giao liên.

Ông Phan Nam cho biết: “Theo chủ trương của trung ương, của Khu uỷ và Quân khu, Thành uỷ quán triệt nhiệm vụ, với mục tiêu đánh thẳng vào Huế, đầu não của Mỹ – Nguỵ, đập nát sự thống trị, chỉ huy đầu não của Vùng 1 chiến thuật. Vì yêu cầu lớn như vậy nên Thành uỷ đã ráo riết chuẩn bị, tăng cường các lực lượng vũ trang chính quy, các binh chủng đặc biệt, các lực lượng biệt động, địa bàn, rồi các tụ điểm tập hợp quần chúng ở các quận, phường, đường phố”.

Đối với Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Nguyễn Đình Bảy, tên thường gọi là Bảy Khiêm, nguyên Giám đốc Công an tỉnh Bình Trị Thiên, cuộc Tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 như một dấu ấn không phai mờ. Ông Bảy Khiêm nhớ lại: “Trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân, tôi là chỉ huy trưởng hướng tấn công vào khu vực nam sông Hương, nơi có các vị trí trọng yếu như cơ quan CIA, Toà đại diện Chính phủ Bắc Trung, Toà Tỉnh trưởng, cơ quan Bình Định nông thôn, Chi Sắc tộc và lao Thừa Phủ – Huế. 6 giờ 30 phút ngày mồng 1/2/1968, đơn vị của tôi đã có mặt tại thành phố Huế, nhanh chóng vận động đồng bào tố cáo bọn tay sai, ác ôn, cắm cờ giải phóng lên nóc  Toà tỉnh trưởng và chiếm giữ các mục tiêu quan trọng”.

Cùng với việc giải phóng lao Thừa Phủ, trải qua 26 ngày đêm chiếm lĩnh Huế, mũi tiến quân do ông chỉ huy đã góp phần tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bắt sống nhiều tên đầu sỏ trong bộ máy nguỵ quyền, CIA, cảnh sát nguỵ, một số tên cầm đầu đảng phái phản động. Ông Nguyễn Đình Bảy cho biết: “Mũi phía Nam do ông chỉ huy là mũi trọng điểm, xuất quân sôi nổi lắm, nhưng vẫn phải giữ bí mật. Mỗi cánh quân có 2, 3 đường đi, có liên lạc. Cánh của tôi đi về đóng ở Điền Môn, đến 6 giờ sáng ra toà tỉnh trưởng, hạ cờ ba que của địch xuống, cắm cờ đỏ sao vàng, cờ giải phóng lên”.

10 giờ sáng ngày mồng 2 Tết Mậu Thân, cờ giải phóng tung bay trên đỉnh Kỳ Đài trước Đại nội Huế trong sự vui mừng phấn khởi của quân và dân Trị Thiên Huế. Chính quyền cách mạng ra đời, tiếp đó là các hội, đoàn thể chính trị. Ông Nguyễn Bê, nguyên Chủ tịch UBND cách mạng khu phố 4, quận Nhì lúc đó, nay tuy tuổi cao, sức yếu nhưng nhớ về những năm tháng hào hùng ấy, ánh mắt ông vẫn lấp lánh niềm tự hào.

Ông Nguyễn Bê kể: “Lễ ra mắt chính quyền cách mạng diễn ra tại trường Trung học Gia Hội, bà con hò reo mừng thành phố giải phóng, mừng chính quyền của nhân dân. Cảm động nhất là hình ảnh các ông, các mẹ ôm chặt bộ đội, cán bộ cách mạng, nước mắt rung rưng, nghẹn ngào. Sự kiện mà cả cuộc đời tôi thấy vinh dự và tự hào nhất là cuộc họp đầu tiên ra mắt chính quyền cách mạng. Tại cuộc họp này, đồng chí Phan Nam đã về dự và quyết định cử tôi làm Chủ tịch Uỷ ban khu phố 4. Khi ra mắt chính quyền cách mạng, có người ôm tôi khóc, mừng mà khóc. Tôi nhớ mãi lời của đồng chí Phan Nam: dân mà thiếu đói thì đồng chí phải chịu trách nhiệm với Đảng”.

Những ngày Tết Mậu Thân lịch sử, bộ đội cùng ăn Tết với người dân Huế. Bánh chưng, bánh tét các o, các mệ mang đến với tình cảm thân thương của những người mẹ, người chị đối với những người em, người con vừa xa quê trở về. Thật vui và cảm động.

Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 chiếm giữ thành phố Huế suốt 26 ngày đêm đã đi vào lịch sử chiến tranh cách mạng dân tộc với niềm tự hào của quân và dân Huế, góp phần cùng cả nước chiến thắng đế quốc Mỹ, tiến tới ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước./.

Kim Thu
vov.vn