Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Trồng cỏ trên… xe tăng

Ông cha ta đánh giặc

QĐND – Từ khi nhận nhiệm vụ đánh cứ điểm Làng Vây (Hướng Hóa, Quảng Trị), các cán bộ chỉ huy bộ đội xe tăng của Tiểu đoàn 198 và cán bộ tăng cường của trung đoàn, đại diện Bộ tư lệnh Thiết giáp đã đi nghiên cứu địa hình Làng Vây nhiều lần. Ngoài hướng xe tăng tiến công từ phía Tây theo trục Đường 9, các cán bộ chủ yếu nghiên cứu việc lợi dụng sông Sê-pôn, bí mật đưa xe tăng vào tập kết để đánh từ hướng Nam căn cứ.

Sông Sê-pôn nhỏ hẹp, quanh co, lòng sông đầy đá hộc, bờ sông dốc dựng đứng. Địch hoàn toàn không ngờ xe tăng ta có thể vận động được vào hướng này. Theo kế hoạch tác chiến hiệp đồng binh chủng, Đại đội tăng 9 gồm 8 xe tăng lội nước PT-76 (vì phải tháo dồn xích của 11 xe bảo đảm cho 8 xe) cùng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 2, Sư đoàn bộ binh 325, tiến công địch từ hướng Nam căn cứ. Đây là hướng tiến công chủ yếu.

Cán bộ Đại đội tăng 9 hai lần cùng cán bộ công binh dùng mảng nứa bí mật thăm dò lòng sông Sê-pôn, xác định đường, bến, phương án lái trên sông, đề ra các biện pháp khắc phục cụ thể. Các chiến sĩ công binh nhiều lần bơi lặn dưới nước, đánh dấu các khu vực có đá ngầm, đo mực nước nông, sâu và phá những tảng đá to trên đoạn sông nước cạn từ làng Côn đến Pê-sai (khoảng 4km) để mở đường, vì đoạn này xe tăng phải cơ động bằng xích. Những đoạn sông có nhiều đá ngầm, bộ đội công binh phải “gài” quân dọc hai bên, ngâm mình dưới nước giá buốt để làm lộ tiêu sống dẫn đường cho xe tăng.

Ngày 24-1, Đại đội tăng 9 vào tới vị trí tập kết tại Pê-sai bằng đường sông Sê-pôn. Do trận đánh hoãn lại, nên Đại đội tăng 9 phải nằm lại ở khu tập kết chiến đấu trong điều kiện hết sức khó khăn, cách căn cứ Làng Vây khoảng 3km; xe pháo nằm phơi mình trên đồi cây con mọc xen lẻ, cỏ tranh cao chỉ che hết bánh xích, địch thường xuyên cho máy bay trinh sát và tung biệt kích thám báo lùng sục để phát hiện lực lượng ta. Để giữ bí mật, cán bộ, chiến sĩ Đại đội tăng 9 phải đan sọt, đổ đất, đánh những vầng cỏ tranh lớn trồng vào, rồi xếp lên xe tăng, tưới nước hằng ngày để ngụy trang.

Khi thay bánh đỡ nặng và chốt xích, anh em phải dùng dép cao su đệm vào đầu chốt xích để giảm bớt tiếng động khi đóng. Đưa xe tăng vào hướng nam bằng đường sông Sê-pôn là một hành động táo bạo, bất ngờ. Nhờ giữ nghiêm kỷ luật bí mật, nên Đại đội tăng 9 đã nằm ở vị trí tập kết 12 ngày, cho đến tận ngày nổ súng, mà địch vẫn không hề hay biết.

THANH HUYỀN
qdnd.vn

Xe tăng yểm trợ cho xe tăng đột kích

QĐND – Trong trận đánh cứ điểm Tà Mây (Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh năm 1968), để chi viện cho bộ binh và các lực lượng chiến đấu của ta vượt qua cửa mở đột kích đánh địch, lực lượng xe tăng lần đầu tiên tham gia chiến đấu.

Khi bộ binh ta áp sát hàng rào cứ điểm Tà Mây thì bị hỏa lực dày đặc của địch chặn lại. Xe tăng 558 được lệnh nhanh chóng vượt lên, vừa hành tiến vừa đánh địch. Các loại hỏa lực trên xe tăng 558, gồm pháo và súng máy 12,7mm bắn sập các lô cốt, tiêu diệt các ổ hỏa lực địch, yểm trợ cho xe tăng 555 xông thẳng vào cổng chính và đánh thẳng vào bên trong cứ điểm. Bộ binh và công binh bám sau xe tăng, vượt qua cửa mở, đánh chiếm đầu cầu và tỏa ra các hướng, dũng cảm tiêu diệt địch.

Đồng chí Chính ủy Binh chủng Tăng thiết giáp (đứng giữa) với các cựu chiến binh tham gia trận đánh Tà Mây- Làng Vây. Ảnh: Anh Quân.

Đang phát triển chiến đấu thì xe tăng 558 bị dây thép gai cuốn vào xích phải dừng lại để khắc phục. Phát hiện xe tăng của ta, địch cho máy bay AD-6 và hỏa lực bắn phá. Kíp xe tăng 558 bình tĩnh dùng súng máy 12,7mm đánh địch, phát huy hỏa lực pháo chi viện cho xe tăng 555 và bộ binh chiến đấu. Được xe tăng dẫn dắt, chi viện hỏa lực, bộ binh ta phát triển nhanh vào tung thâm, chia cắt địch, tiêu diệt sở chỉ huy và các ổ đề kháng ngoan cố. Sáng 24-1-1968, ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm Tà Mây.

Tiến công bất ngờ, cách đánh sáng tạo, dũng mãnh thọc sâu táo bạo, linh hoạt trong hiệp đồng chiến đấu cùng bộ binh, trong trận Tà Mây, lực lượng xe tăng ta đã phát huy hỏa lực, nhanh chóng áp đảo địch, tạo điều kiện dứt điểm nhanh trận đánh, tạo niềm tin về sức mạnh đột phá của hỏa lực xe tăng trong chiến đấu hiệp đồng binh chủng, cổ vũ, động viên Bộ đội Tăng thiết giáp tiếp tục giành những thắng lợi mới.

NHẬT QUANG
qdnd.vn

Mùa Xuân, nghĩ về Đảng, về học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Theo từng nhịp bước thời gian, hạ phai, thu úa, đông tàn … Mùa Xuân đến, tiết Xuân tươi khơi dậy sức sống cho muôn loài; vạn vật phô bày toàn diện vẻ đẹp huy hoàng, lộng lẫy, sức sống sung mãn, toàn bích. Nơi nơi nô nức, hân hoan chào đón mùa Xuân. Mùa Xuân của thiên nhiên, đất trời chỉ đến một lần trong  năm; mùa Xuân là thời gian vui tươi hạnh phúc và tràn đầy sức sống mà mọi người được hưởng, ai ai cũng có những mùa Xuân tươi đẹp trong cuộc đời!

 4. 1.mua xuan nghi ve DangVới Đảng ta, nhân kỷ niệm lần thứ 30 Ngày thành lập Đảng (3/02/1930), Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng:“ĐẢNG TA THẬT LÀ VĨ ĐẠI”.

Soi rọi lịch sử hình thành và phát triển của Đảng trong 83 năm qua, chúng ta nhận thức được sự khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vô cùng sâu sắc! Bởi lẽ, ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng luôn giáo dục đảng viên phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; mỗi đảng viên phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đặt lợi ích của dân tộc, của Đảng, của nhân dân, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân.

Từ đầu năm 2007 đến nay, Đảng ta phát động cán bộ, đảng viên và nhân dân rèn luyện, tu dưỡng, học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, noi theo tác phong, phong cách làm việc của Người, nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu; mỗi cán bộ, đảng viên phấn đấu làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, noi theo đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị của Người.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã chỉ ra 3 nội dung trọng tâm: ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị … là những vấn đề, nội dung cơ bản và hệ trọng để xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh! Qua đợt sinh hoạt chính trị quan trọng và rộng lớn này, các cấp ủy đảng, các ngành, các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, nội dung những tư tưởng chỉ đạo của Đảng, những công việc phải làm, trên cơ sở đó thống nhất cao về ý chí, quyết tâm, thấy đầy đủ trách nhiệm để gương mẫu thực hiện nghị quyết có hiệu quả trên mỗi cương vị công tác tại địa bàn, lĩnh vực thuộc trách nhiệm lãnh đạo của mình!

Ngày nay, hơn lúc nào hết, Đảng ta kiên định, giữ vững lập trường chủ nghĩa Mác – Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, thống nhất ý chí, hành động trong toàn Đảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kêu gọi mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên trong hệ thống chính trị trung với nước, hiếu với dân. Chỉ có một Đảng chân chính mới canh cánh nỗi lo chưa xây dựng đất nước giàu mạnh, chưa chăm lo chu đáo cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân.

Lãnh tụ của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiêm túc chỉ ra trách nhiệm của Đảng và Nhà nước: Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi. Vì vậy, cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân. Một Đảng mà thấy hết, nhận hết trách nhiệm khuyết điểm về mình và quyết tâm sửa chữa là một đảng cách mạng chân chính, là đạo đức, là văn minh!

Mùa Xuân đến, nghĩ về Đảng, về học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thấy lòng mình ấm lại! Chúng ta tin tưởng tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng bằng nhận thức khoa học, với sự hiểu biết sâu sắc về bản chất vì dân, vì nước, vì dân tộc của Đảng! Năm mới Quý Tỵ – 2013, mỗi cán bộ, đảng viên tiếp tục tu dưỡng, rèn luyện, thấm nhuần và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Mỗi đảng viên của Đảng phấn đấu mãi mãi là một nhành Xuân của Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, góp phần làm cho Đảng gắn bó mật thiết, máu thịt với nhân dân, làm cho đạo đức, văn minh của Đảng tỏa sáng.

http://www.ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ – Người không có tuổi !

Một buổi sáng năm 1960, nhà thơ An-tôn-xki, người dịch “Nhật ký trong tù” vào thăm Bác tại Hà Nội. Nhà thơ viết: “Đúng 6 giờ rưỡi, chúng tôi đến chờ Người. Vừa mới bước qua ngưỡng cửa phòng khách thì từ phía cánh cửa đối diện đã bước ra một người đứng tuổi, vóc người tầm thước, với chiếc áo ka ki màu sáng và chân đi đôi dép. Người niềm nở mỉm cười. Ở đây tôi dùng chữ “đứng tuổi” là vì tôi biết rõ tuổi Hồ Chủ tịch. Đúng hơn cả, nên gọi Bác Hồ là người không có tuổi. Thật vậy, mái tóc Người đã bạc mà dáng dấp vẫn gọn gàng, nhanh nhẹn như tuổi thanh niên”.

7.a1Bác Hồ với một số người cao tuổi tiêu biểu. 

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta lúc đó 55 tuổi. Nhìn dáng người mảnh khảnh, đôi mắt sáng, vầng trán cao và bộ râu hơi dài, cả nước kính trọng và tôn vinh Hồ Chủ tịch là Lãnh tụ dân tộc. Báo chí thì gọi Bác là Cụ Hồ Chí Minh.

Nhà thơ Tố Hữu lúc đó chưa được gặp Bác, trong bài thơ “Hồ Chí Minh” viết ngày 26-8-1945, cũng đã gọi Bác Hồ là một người lính già:

“Hồ Chí Minh
Người lính già
Đã quyết hy sinh
Cho Việt Nam Độc Lập
Cho thế giới hoà bình…”

Một lần, một nhạc sỹ đưa một đoàn các cháu thiếu nhi vào thăm Bác. Các cháu cùng hát vang bài ca: “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”. Khi nghe đến câu hát: “Bác nay tuy đã già rồi, già rồi nhưng vẫn vui tươi…”, Bác Hồ quay sang tươi cười, nói với đồng chí Trần Duy Hưng:

– Này chú, Bác đã già đâu nhỉ?

Có thể nói, Bác Hồ của chúng ta là một con người không chấp nhận tuổi già. Chúng ta hãy tưởng tượng, một con người 21 tuổi, với hai bàn tay trắng đã ra đi tìm đường cứu nước. Sang Pháp, rồi vượt biển lớn đi vòng quanh Châu Phi, rồi sang Mỹ, Anh, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thuỵ Sỹ, Nga, Trung Quốc… Hầu như đi khắp các châu lục, làm nhiều nghề, vừa học vừa hoạt động cách mạng, vừa phải khôn khéo vượt qua mọi sự bắt bớ của bọn đế quốc. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy thật lạ lùng, là một người Việt Nam trẻ tuổi, vừa đến Thủ đô Paris không bao lâu, đã thâm nhập ngay được vào đời sống chính trị tại đó, làm những việc cực kỳ quan trọng đối với dân tộc mình, đối với các dân tộc thuộc địa và góp phần hình thành chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân Pháp”.

Chúng ta cũng biết trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, Bác Hồ của chúng ta đã hai lần phải vào tù, và một lần lĩnh án tử hình vắng mặt do Toà án Nam triều ở Vinh, theo lệnh nhà cầm quyền Pháp kết án ngày 11-11-1929. Năm 1931, Bác bị bắt vào nhà tù Hương Cảng, và năm 1942 ở nhà tù Tưởng Giới Thạch ở Tĩnh Tây, Trung Quốc, với bao nỗi đày ải khổ cực. Trong thời gian 1 năm 12 ngày, bị giải đi mấy chục nhà giam, chân bị cùm, răng rụng, đói và rét. Song chính trong tù ngục ấy, Bác đã để lại cho chúng ta tập thơ nổi tiếng “Nhật ký trong tù” mà ngày nay đã được in ra ở 30 nước:  Anh, Pháp, Trung Quốc, Đức, Tiệp, Nga, Tây Ban Nha, Hàn Quốc…

Khi về Pác Bó, Cao Bằng, ở trong hang đá lạnh, ăn uống thì kham khổ “Sáng ra bờ suối, tối vào hang. Cháo bẹ, rau măng, vẫn sẵn sàng…”. Một cuộc đời cách mạng gian khổ như thế, trước Đại hội Tân Trào ở lán Nà Lừa, Bác lại bị một trận ốm rất nặng. Đồng chí Võ Nguyên Giáp kể: Có đêm Bác đã dặn lại như có ý dối dăng… Thế nhưng Cách mạng Tháng Tám thành công, đã 55 tuổi, Bác Hồ vẫn ngày đêm làm việc, lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những ghềnh thác hiểm nghèo, và Người không hề nghĩ đến tuổi già!

Ngày 19 tháng 5 năm 1946.

Lần đầu tiên nhân dân ta mừng Ngày sinh của Bác. Bác nói với Đoàn đại biểu Nam Bộ đến mừng Người: “Tôi xin cảm ơn các anh, các chị Nam Bộ đã đến chúc thọ tôi. Thật ra, các báo ở đây đã làm to cái ngày sinh của tôi, chứ 56 tuổi chưa có gì đáng chúc thọ, hãy cũng còn như thanh niên cả…” (Báo Cứu Quốc ngày 20-5-1946).

Sau này trong những bài thơ viết về tuổi thọ, Bác vẫn không chấp nhận tuổi già. Bài thơ “Không đề”, Bác viết năm 1949 tại chiến khu Việt Bắc:

KHÔNG ĐỀ

Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà
Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già
Chờ cho kháng chiến thành công đã
Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta.

Cho đến năm 78 tuổi, trong bài thơ “Không đề” Bác Hồ vẫn viết:

KHÔNG ĐỀ

Bảy mươi tám tuổi vẫn chưa già
Vẫn vững hai vai việc nước nhà
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn
Tiến bước ta cùng con em ta!

Anh em ở gần Bác mới thưa với Bác rằng: “Thưa Bác. 78 tuổi là già rồi ạ!”, thế là Bác chữa lại: “Bảy mươi tám tuổi chưa già mấy/ Vẫn vững hai vai việc nước nhà…”.

Sự nghiệp cách mạng vĩ đại của cả một dân tộc. Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, mà Bác là người chèo lái, nỗi lo toan cho hạnh phúc của nhân dân và lẽ sống cao đẹp vì dân, vì nước, khiến Người đã vượt qua cái tâm lý tuổi già thông thường, để luôn hướng tới một mùa xuân đẹp đẽ của đất nước!

Ngày 19 tháng 5 năm 1946.

Một Đoàn cán bộ của Ban Vận động đời sống mới, do nhà văn Nguyễn Huy Tưởng dẫn đầu, vào chúc thọ Bác. Nhân lúc trò chuyện, nhà văn thưa với Bác:

– Thưa Cụ, nhân hôm nay đến chúc thọ Cụ Chủ tịch, xin Cụ cho Ban Đời sống mới chúng tôi một khẩu hiệu để vận động nhân dân thực hiện.

Bác Hồ vui vẻ hẳn lên, Người nói:

– Khẩu hiệu ư? Thế thì khẩu hiệu đó là: “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”.

Sau một phút suy nghĩ, nhà văn lão thành đứng dậy thành thật thưa với Bác:

– Thưa Cụ Chủ tịch, khẩu hiệu đó rất hay, nhưng nghe nó cổ cổ thế nào ấy ạ!

Bác Hồ cười:

– Ơ hay! Sao lại cổ? Các cụ ta xưa ăn cơm, bây giờ chúng ta ăn cơm vẫn thấy ngon. Thế thì nó cổ chỗ nào? Cái hay của Tổ tiên thì chúng ta phải học.

Ngày 10 tháng 5 năm 1965.

Năm ấy, Bác Hồ của chúng ta vừa tròn 75 tuổi!

Đúng 9 giờ sáng hôm ấy, Người ngồi vào bàn viết Bản Di chúc “Tuyệt đối bí mật”. Năm ngày sau, ngày 14-5 Người đã viết xong Bản Di chúc lịch sử và tự tay đánh máy. Cuối tài liệu Bác ghi: Hà Nội ngày 15 tháng 5 năm 1965 và ký tên Hồ Chí Minh.

Tối hôm đó, các đồng chí trong Bộ Chính trị vào mừng thọ Bác 75 tuổi. Một bó hoa tươi được đặt trang trọng trên bàn. Đồng chí Trường Chinh thay mặt, nói mấy lời chúc thọ Bác.

Bác xúc động nói:

– Bác cảm ơn các chú đã có lòng, nhưng trong lúc toàn dân ta đang kháng chiến gian khổ, mọi việc hết sức khẩn trương, mà lại đi chúc thọ một cá nhân như thế này là không nên!

Mọi người có mặt trong căn phòng đều lặng yên, suy nghĩ… Bác Hồ của chúng ta là như thế đó! Trong cả cuộc đời mình, Người luôn đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng,“Nâng niu tất cả, chỉ quên mình!”.

Ngày 19 tháng 5 năm 1969.

Hồi này sức khoẻ của Bác đã yếu! Đúng 9 giờ, Bác lại ngồi vào bàn xem lại Bản Di chúc đã viết. Người đọc lại rất kỹ toàn bộ các bản viết trong 4 năm qua và chữa lại một số chữ. Trong câu “Khi người ta đã ngoài 70 tuổi”, Bác chữa lại là “70 xuân!”.

Buổi sáng, Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ:

– Cháu Trỗi hy sinh cách đây đã gần 5 năm rồi chú nhỉ?

Đồng chí Vũ Kỳ thưa với Bác:

– Thưa Bác, anh Trỗi hy sinh ngày 16 tháng 10 năm 1964, đến nay đã gần 5 năm!

Một thoáng buồn, rồi Bác bảo đồng chí Cẩn nấu món ăn theo kiểu Nam Bộ để Bác mời khách. Trưa hôm ấy, Bác mời đồng chí Phạm Văn Đồng sang cùng tiếp khách. Khách mời của Bác hôm ấy là hai cháu gái miền Nam, chị Phạm Thị Quyên vợ anh Trỗi và chị Nguyễn Thị Châu.

Không ai ngờ, đó là ngày 19 tháng 5 cuối cùng trong cuộc đời 79 mùa xuân của Bác!

Bác Hồ kính yêu của chúng ta là như thế đó. Bằng một nghị lực phi thường, và trí tuệ siêu việt Người đã suốt đời lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ta làm cách mạng. Người nói: “Xưa nay, những người yêu nước không vì tuổi già mà chịu ngồi không!”.

Trước kia, khi chưa gặp Bác, nhà thơ Tố Hữu viết: “Hồ Chí Minh người lính già/ Đã quyết chí hy sinh…”. Nay được ở gần Bác, nhà thơ lại viết: “Hồ Chí Minh – Người trẻ mãi không già”. Và “Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười. Quên tuổi già, tươi mãi tuổi đôi mươi!”.

Bác Phạm Văn Đồng đã nói: “Tưởng nhớ Hồ Chí Minh là biến khẩu hiệu “Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta” thành tư tưởng, tình cảm và hành động của mỗi người cộng sản và mỗi người dân”./.

Bùi Công Bính
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Mùa Xuân Tân Tỵ 1941 Bác Hồ trở về Pác Bó !

6. 1 bh 1941
Bác Hồ về Pác Bó, Cao Bằng (28/1/1941).

Sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, mùa Xuân Tân Tỵ năm 1941, Bác Hồ của chúng ta đã trở về Tổ quốc!

Có cái gì đó giống như một câu chuyện cổ tích, kể về một chàng trai từ biệt quê hương. Anh đã ra đi, vượt qua biết bao núi cao, rừng rậm, biển cả… vượt qua biết bao thử thách, đói rét, tai ương… Và sau 30 năm ròng rã anh đã trở về, đem theo một cuốn sách quý thần kỳ…

Trong bài: “Sen của loài người”, nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Văn chương thế giới hay dùng chữ thần kỳ khi nói đến Hồ Chí Minh. Chỉ riêng việc “đi” của Người đã lắm nét thần kỳ. Nơi nào là nơi Người chưa đến trên thế giới?”. Ba mươi năm đi khắp các châu lục để tìm đường cứu nước. Một nhà nghiên cứu đã nói: Đó là một cuộc đi dài nhất so với mọi cuộc đi của bất cứ một anh hùng, chí sĩ nào đầu thế kỷ, và cũng có thể nói, đó là một cuộc đi dài nhất so với bất kỳ một lãnh tụ cách mạng nào trên thế giới! (1911-1941).

Mảnh đất Tổ quốc đầu tiên được đón bước chân Bác Hồ, là cái bản nhỏ Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Và chính ở nơi đây, trong những ngày đầu trở về Tổ quốc, Bác đã viết bài thơ:

Pác Bó hùng vĩ

Non xa xa, nước xa xa

Nào phải thênh thang mới gọi là

Đây suối Lê-nin, kia núi Mác

Hai tay gây dựng một sơn hà.

Tháng 2-1941

Đại tá Dương Đại Lâm, quê ở Pác Bó kể lại: Sau cái đêm đầu tiên nghỉ lại tại nhà một đồng bào Nùng có cảm tình với cách mạng, hôm sau Máy Lỳ – người chủ nhà – dẫn Bác và mấy đồng chí vừa về nước, theo một con đường nhỏ chạy ngoằn ngoèo qua rừng, lên một ngọn núi đá. Từ bờ suối trèo lên phải qua một đoạn dốc khá dài, cây cối rậm rạp, mới lên tới cửa hang. Hang không rộng lắm, có hai ba ngách nhỏ. Trong một ngách có tảng đá khá to, bằng phẳng, sau này mọi người gác cây rồi rải lá lên làm giường nằm. Gần đấy, một con suối nhỏ chảy quanh các tảng đá, rồi đổ xuống phía dưới, tung những bọt trắng xoá. Bác hỏi, Máy Lỳ bảo: “Ở đây mọi người gọi hang này là Cốc Bó, có nghĩa là đầu nguồn!”.

Vốn là một người yêu thích thiên nhiên, Bác tỏ vẻ thích thú. Khi đi xem cảnh vật chung quanh, nhìn ngắm mãi ngọn núi đá hùng vĩ, Bác bảo với mọi người:

– Chúng ta sẽ đặt tên cho ngọn núi này là Núi Các – Mác, còn dòng suối đẹp kia, nước trong vắt bắt nguồn từ ngọn núi ra, chúng ta sẽ gọi là Suối Lê-nin!

Tất cả mọi người đều tỏ vẻ tán thưởng!

Có người nói, nghĩ đến Bác Hồ là chúng ta nghĩ ngay đến sông núi, đất nước, và chính Bác cũng là người đặt tên cho đất nước, sông núi mình. Ngọn núi Các – Mác và dòng suối Lê-nin không những là biểu tượng cho một con đường cách mạng vĩ đại mà cả dân tộc ta ngay từ đầu đã lựa chọn, mà còn làm cho vùng đất núi non này như xa, rộng hẳn ra, gắn liền Việt Nam với Cách mạng thế giới!

Cũng ở hang Pác Bó này Bác Hồ còn viết bài thơ:

Tức cảnh Pác Bó

Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang!

                                    Tháng 2-1941

Đồng chí Vũ Kỳ kể lại: “Hành trang theo Bác trở về Pác Bó vẻn vẹn chỉ có một chiếc va ly xách tay bằng mây, trong đựng hai bộ quần áo đã cũ. Và tập tài liệu “Con đường giải phóng” tập hợp những bài giảng trong lớp huấn luyện ở Nậm Quang (Quảng Tây, Trung Quốc) do Bác phụ trách vừa mới kết thúc trước Tết mấy hôm”.

Về Pác Bó, Bác thường mặc bộ quần áo dân tộc Nùng, màu chàm, ống tay rộng. Thức ăn của Bác và anh em chỉ có rau bí, rau rừng, măng đắng, và ốc bắt ở suối. Tháng giáp hạt, nhân dân ăn độn ngô, Bác cũng ăn cháo, ăn ngô. Trời mưa, hang núi ướt lạnh thấu xương, từ các nhũ đá nước nhỏ giọt xuống đều đều không dứt. Để đỡ lạnh, mọi người phải đốt một đống lửa nhỏ. Nhưng thời gian này, Bác đã viết hàng chục bài thơ tuyên truyền cách mạng. Và cũng từ đây, trong hang đá đại bản doanh này, tháng 5 năm 1941, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng ta đã họp, định ra đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hai mươi năm sau, Bác Hồ lại trở về thăm lại Pác Bó. Người viết bài thơ:

Thăm lại hang Pác Bó

Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay!

                              Ngày 20-2-1961

Trong bài thơ này, không một chữ nói về mình, Bác chỉ nhắc đến Đảng, đến Dân, đến non sông gấm vóc! Với người khác, khi đi xa trở lại, thường kể về những ngày đầu gian khổ, nhưng Bác thì không! Bác Hồ của chúng ta là thế đó! “Nâng niu tất cả chỉ quên mình” (Tố Hữu).

Trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến, trước sau Bác Hồ đã sống với đồng bào các dân tộc Việt Bắc trên 12 năm. Và núi rừng Việt Bắc, Chiến khu của Cách mạng, cũng đã trở thành tình sâu nghĩa nặng với Đảng, với Bác Hồ, trở thành niềm tin yêu, hy vọng của cả nước trong những ngày kháng chiến gian khổ:

“Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc cụ Hồ sáng soi”

Tố Hữu

Nói đến Việt Bắc, là nói đến “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”,  nói đến những an toàn khu Định Hoá (Thái Nguyên), Chiêm Hoá (Tuyên Quang) trong kháng chiến, nói đến Pác Bó, đã trở thành thơ, thành Di tích lịch sử Cách mạng cho muôn đời con cháu!

Mùa Xuân này trở lại Pác Bó thăm vùng đất “Đầu nguồn” Cách mạng, lòng chúng ta lại bồi hồi nhớ đến Bác kính yêu!

Năm 1911, một buổi sáng Nguyễn Tất Thành đã nói với một người bạn thân:

– Lê này, mình đã quyết định ra nước ngoài, đến nước Pháp và các nước khác. Mình muốn biết ở đấy họ sống và lao động ra sao, rồi sau đó sẽ trở về nước để giúp đỡ đồng bào mình.

– Cậu lấy tiền đâu để đi? Người bạn ngạc nhiên hỏi.

Nguyễn Tất Thành giơ hai bàn tay ra:

– Đây, tiền đây! Mình sẽ lao động, sẽ làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động…

Thế rồi, chuyến đi lịch sử đã diễn ra. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, Bến cảng Nhà Rồng tấp nập. Tàu đô đốc La-tút-sơ Trê-vin, một tàu lớn đang đón khách và lấy hàng. Một thanh niên mảnh khảnh, dáng học trò, bước đến trước viên Thuyền trưởng:

– Tôi đến để làm phụ bếp. Tên tôi là Văn Ba (anh là con thứ ba trong gia đình).

Và 30 năm sau, một con người đã mang hàng trăm tên, làm 12 nghề khác nhau, biết hơn 12 thứ tiếng, đã từng đi qua khắp các châu lục trên thế giới lại trở về Tổ quốc thân yêu của mình. Suốt 30 năm trời đằng đẵng, Người chỉ ước mong cái ngày hôm ấy. Đã nhiều lần, Bác tìm cách về nước, nhưng giặc Pháp giăng lưới cảnh sát dày đặc ở dọc biên giới. Trong khi đó Bác đã bị bọn thực dân Pháp và chính phủ Nam Triều kết án tử hình vắng mặt. Còn bây giờ, tình hình thế giới và trong nước có nhiều thuận lợi, phải gấp rút tìm mọi cách trở về lãnh đạo cách mạng.

Và Pác Bó, Cao Bằng, mảnh đất vùng biên giới đã có cơ sở cách mạng từ năm 1937 này, đã được Bác Hồ chọn là nơi về nước. Và thật không ngờ, ngày trở về Tổ quốc của mình lại đúng vào những ngày Tết, những ngày Xuân Việt Nam. Hoa mơ nở trên những cánh rừng biên giới như lặng lẽ chào đón người con thân yêu nhất của mình, trở về với một ước mơ lớn. Nhưng thời điểm đó không phải là ngẫu nhiên, chúng ta nhớ Hội nghị thành lập Đảng ở Cửu Long (Trung Quốc) Bác cũng chọn vào ngày mùng 5 Tết Canh Ngọ. Những ngày Tết dân tộc cổ truyền, là dịp thuận lợi nhất để che mắt địch.

Ngày trở về Pác Bó, Bác Hồ của chúng ta đã 51 tuổi. Và Người lại nhắc lại hình ảnh “Hai bàn tay” trong bài thơ Pác Bó của mình:

“Đây suối Lê-nin, kia núi Mác
Hai tay gây dựng một sơn hà”

Nhưng bây giờ không phải là hai bàn tay trắng lúc ra đi. Hai bàn tay ấy, hôm nay đã có chủ nghĩa Mác – Lê-nin dẫn đường, có đông đảo đồng bào, đồng chí và núi rừng cách mạng chở che.

Trước mắt Người đã là Mùa Xuân Tổ quốc, dù mới chỉ là mùa Xuân trên một cánh rừng biên giới. Song thật là kỳ diệu, lịch sử đã đi những bước đi ngàn dặm. Chỉ bốn năm sau, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dõng dạc tuyên bố với thế giới: Một nước Việt Nam Độc lập, Tự do, Thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ!

Non sông gấm vóc đã mở ra một thời đại mới, một thời đại mang tên Người – Thời đại Hồ Chí Minh!

 Bùi Công Bính
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với mùa Xuân Hà Giang

Mùa Xuân như có một cái gì đó định mệnh gắn liền với Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Có thể bắt đầu từ mùa Xuân năm 1930, khi cách mạng thế giới có những bước phát triển thuận lợi, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với tư cách là đại biểu của Quốc tế Cộng sản, ngày 3.2.1930, Người đã sáp nhập ba tổ chức Cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), tại Hương Cảng, Trung Quốc, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại, mở ra một thời kỳ mới của cách mạng vô sản theo học thuyết Mác.

5.a1
Ảnh Tư liệu

Những năm tháng hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Bác luôn hướng về Tổ quốc, cùng Đảng tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đứng lên từng bước đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc. Để rồi từ Bến Cảng Sài Gòn năm 1911, Bác ra đi tìm đường cứu nước, đúng vào mùa Xuân năm 1941, khi thời cơ cách mạng đã đến, Người từ Trung Quốc trở về Tổ quốc ngày 28.1.1941 tại vùng biên giới tỉnh Cao Bằng, trực tiếp cùng Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Con đường đi làm cách mạng của Người là cả một chặng đường lịch sử gắn với vận mệnh dân tộc. Có một nhà thơ đã viết: Cuối trời Bác đi ngàn sóng tiễn/ Ngày về hoa nở thắm vùng biên/ Ba mươi năm thức tìm chân lý/ Lập nước Việt Nam sáng vạn niên.

Mùa Xuân này Bác đã đi xa 44 năm. Với Hà Giang, kể từ mùa Xuân 1961 Người lên thăm Đảng bộ và đồng bào các dân tộc tỉnh nhà, đến nay đã 52 năm. Vậy là hơn nửa thế kỷ, trong trái tim đồng bào 22 dân tộc Hà Giang, hình ảnh Bác Hồ vẫn in đậm trong trái tim mỗi người dân như cơm ăn nước uống hàng ngày… Nhớ lại những tháng năm ấy, giữa lúc miền Bắc đang đẩy mạnh hàn gắn vết thương chiến tranh,kiến thiết đất nước tiến lên xây dựng XHCN, nửa nước – miền Nam vẫn còn dưới ách cai trị của đế quốc Mỹ xâm lược. Mặc dù bận trăm công ngàn việc, Bác Hồ đã lên thăm Hà Giang – một tỉnh biên cương cực Bắc của Tổ quốc, thể hiện tình cảm, trách nhiệm của Đảng, Chính phủ, của Người với đồng bào các dân tộc. Ngày lên thăm Hà Giang, trước Lễ đài tại sân vận động Người căn dặn: “Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh phải đoàn kết, ra sức tăng gia, sản xuất, phát triển chăn nuôi, khai thác lâm thổ sản, giữ gìn vệ sinh và cố gắng xóa mù chữ. Các dân tộc từ huyện đến khu cần phải ra sức giúp đỡ đồng bào rẻo cao…”. Thực hiện lời dạy của Người, những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, được sự giúp đỡ trách nhiệm của các bộ, ngành Trung ương, trực tiếp là Đảng bộ Hà Giang, 22 dân tộc anh em trong tỉnh luôn đoàn kết bên nhau, vượt qua nhiều khó khăn gian khổ, thách thức, không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng… đã từng bước đưa Hà Giang vươn lên xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững quốc phòng – an ninh, xây dựng hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, luôn xứng đáng là một tỉnh phên giậu vững chắc biên cương của Tổ quốc. Từ một tỉnh sau tái lập thuộc diện nghèo nhất nước, sau 21 năm chia tách, Hà Giang đã vươn lên trở thành tỉnh có nền kinh tế tốc độ tăng trưởng luôn cao, năm 2012 đạt 10,78%; thu nhập bình quân đầu người đạt 11, 1 triệu đồng/năm; thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 1.200 tỷ đồng, tăng cao so các năm trước. Đặc biệt tỷ lệ huy động trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 98%; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 30,06%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 1,76%; tỷ lệ che phủ rừng đạt 55,6%; tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch 64, 5%v.v… Đến nay 100% các xã có đường ô tô trải nhựa đến trụ sở, nhiều xã có đường ô tô xuống thôn. Chương trình: Điện, đường, trường, trạm của tỉnh từ đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIII đã làm thay đổi diện mạo nông thôn, đặc biệt ở vùng sâu, xa, biên giới nâng lên rõ nét. 100% các xã có trụ sở làm việc của UBND, nhà trạm xá xã, trường học cao tầng, điện về xã, có nhiều nơi đến thôn… Chương trình bể nước, mái nhà, con bò ở 4 huyện vùng cao nguyên đá Đồng Văn đã cơ bản giúp cho gần 20 vạn đồng bào thoát khỏi cảnh thiếu nước trầm trọng vào mùa đông. Kinh tế thị trường đã tỏa sâu vào tận xóm thôn, làng bản, đồng bào các dân tộc thiểu số không còn xa lạ với từ kinh tế hàng hóa. Bà con ở vùng cao phía Bắc hay phía Tây… của tỉnh đã biết trồng cỏ để phát triển chăn nuôi bò hàng hóa, từ đó hình thành chợ bò ở huyện Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh… Trong lao động sản xuất, XĐGN đã xuất hiện hàng ngàn hộ đồng bào thiểu số lao động giỏi, XĐGN nhanh… Các chương trình đưa báo chí như: PT-TH đến với bà con đạt từ 92 đến 98%; báo Hà Giang và các loại báo ngành trung ương đã đến tận thôn, bản, trường học… không ngừng nâng cao dân trí cho đồng bào… Đặc biệt chương trình xây dựng nông thôn mới do Đảng ta lãnh đạo, hơn 2 năm qua bộ mặt nông thôn Hà Giang như một công trường xây dựng, được gắn với các chương trình, dự án đã nâng cao hiệu quả đầu tư, cộng sự đóng góp của nông dân bước đầu tạo cho nông thôn ở miền núi, biên giới vùng sâu, xa một nền tảng vững chắc để đồng bào xây dựng cuộc sống mới.

Mùa xuân mới lại về trên quê hương Hà Giang. Thị xã Hà Giang ngày Bác lên thăm nay đã thành thành phố khang trang, xanh, sạch, đẹp… Đồng bào các dân tộc Hà Giang đang phấn khởi đón xuân về, trong những cành đào, mận, lê trắng muốt… rộ nở khắp núi rừng, bà con các dân tộc như thấy Bác đang về thăm Hà Giang cùng mùa xuân. Hà Giang đang từng bước thực hiện rất tốt lời căn dặn của Người.

Theo Báo Hà Giang
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Kỷ vật và kỷ niệm với Bác Hồ

Câu chuyện đã qua tròn nửa thế kỷ nhưng ông vẫn nhớ rành rọt lắm. Nhất là mỗi lần ngắm nhìn chiếc phù hiệu, thẻ ra vào và giấy giới thiệu là ông lại rưng rưng nhớ tới kỷ niệm với Bác Hồ kính yêu…

Vào cuối năm 1961, Bác Hồ về thăm quê hương Nghệ An lần thứ hai từ ngày 8 đến ngày 10-12-1961. Để phục vụ cho chuyến đi của Bác Hồ về Nghệ An và sau đó thăm tỉnh Thanh Hóa bảo đảm an toàn, Cục Không quân đã cử Thiếu úy Hoàng Ngọc Mạnh, lúc ấy đang là Trợ lý Điều phái Chỉ huy Sở – Ban Tác chiến – Cục Không quân đi trước đến hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa để liên hệ công tác làm nhiệm vụ xác định vị trí, chọn địa điểm để máy bay trực thăng chở Bác có thể cất cánh và hạ cánh an toàn. Trước khi đi công tác, Thiếu úy Hoàng Ngọc Mạnh được Cục Không quân cấp giấy giới thiệu số 845 ngày 6-12-1961 (hạn đến ngày 16-12-1961). Khi đến tỉnh Nghệ An đồng chí được Công an tỉnh Nghệ An cấp phù hiệu ngày 7-12-1961 có dòng chữ “Lam – Trà nổi sóng”. Nghĩa của dòng chữ này xuất phát từ năm 1960, tại Nghệ An có phát động phong trào An – Ngãi quật khởi, “Lam – Trà nổi sóng” vừa là phong trào, vừa thể hiện tấm lòng của Nghệ An đối với miền Nam tiền tuyến lớn anh hùng mà cụ thể là với tỉnh Quảng Ngãi kết nghĩa. Phù hiệu chỉ cấp trong nội bộ và được ra vào bí mật. Ngày 11-12-1961 khi ra tới Thanh Hóa, Hoàng Ngọc Mạnh còn được Công an tỉnh Thanh Hóa cấp tiếp một thẻ ra vào. Ông đã sử dụng giấy giới thiệu, phù hiệu, thẻ để ra vào Tỉnh ủy, Tỉnh đội, Công an tỉnh, Ủy ban Hành chính của hai tỉnh Thanh Hóa – Nghệ An thực hiện nhiệm vụ trong suốt quá trình công tác của mình từ ngày 7 đến ngày 12-12-1961.

3. ky vatGiấy giới thiệu, phù hiệu của CCB Hoàng Ngọc Mạnh.

 Trong chuyến công tác này, có một kỷ niệm sâu sắc với Bác Hồ mà Hoàng Ngọc Mạnh không bao giờ quên. Ông nhớ lại: “Vào lúc 23 giờ đêm 10-12-1961, sau khi liên hoan, xem biểu diễn văn nghệ chia tay quê hương Nghệ An để sáng hôm sau Bác Hồ ra thăm tỉnh Thanh Hóa, Tỉnh ủy Nghệ An đã tổ chức cuộc họp đột xuất thống nhất kế hoạch để sáng hôm sau Bác Hồ ra thăm Thanh Hóa. Cuộc họp có sự tham gia của đồng chí Phạm Kiệt, Thứ trưởng Bộ Công an cùng các cán bộ chủ chốt của tỉnh Nghệ An và đại diện một số ban, ngành liên quan. Đang họp thì Bác trở về, đi qua phòng họp của Tỉnh ủy. Bác vào phòng và hỏi:

– Các đồng chí đang làm gì ở đây?

Đồng chí Phạm Kiệt đứng lên trả lời Bác:

– Thưa Bác, chúng cháu đang họp chuẩn bị kế hoạch để sáng mai Bác ra thăm Thanh Hóa.

– Tình hình máy bay ngày mai thế nào? Xăng dầu có đủ không? Bác hỏi.

Đồng chí Phạm Kiệt bảo tôi trả lời Bác. Tôi nói:

– Thưa Bác! Máy bay tốt, xăng dầu đủ và còn thừa ạ.

– Thế các anh em phi công ăn, ngủ ở đâu?

– Dạ thưa Bác, anh em phi công ăn ngủ ở giao tế ạ (giao tế là nơi đón tiếp, nghỉ ngơi của nhiều Đoàn khách cán bộ cao cấp trong nước và bạn bè quốc tế).

Bác lại hỏi:

– Giao tế ở đâu? Cách đây bao xa? Bác muốn qua thăm anh em.

Vì đã khuya, ngoài trời rất lạnh và muốn Bác về ngủ giữ sức khỏe để mai còn lên đường nên tôi đã trả lời:

– Dạ thưa Bác xa lắm, cách đây khoảng hơn 400m ạ.

Bác cười:

– Cách đây có hơn 400m mà đồng chí bảo xa.

Tôi suy nghĩ rất nhanh rồi trả lời:

– Thưa Bác, bây giờ đã là 11 giờ, để bảo đảm sức khỏe các đồng chí trong tổ bay đã đi ngủ từ lúc 8-9 giờ tối.

Khi nghe xong câu trả lời của tôi, Bác nói:

– Đồng chí nói thế thì mới đúng, chứ cách đây có hơn 400m mà bảo xa thì không xa.

Bác mỉm cười rồi nói tiếp:

– Các đồng chí tiếp tục làm việc đi, Bác về phòng đi ngủ.

Câu chuyện và kỷ niệm gắn với chuyến công tác phục vụ Bác Hồ về thăm hai tỉnh Nghệ An – Thanh Hóa 50 năm trước vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức người lính không quân năm xưa. Cựu chiến binh Hoàng Ngọc Mạnh đã cất giữ cẩn thận giấy giới thiệu, phù hiệu và thẻ ra vào như một kỷ vật quý của mình và gia đình. Ngày 8-8-2011 vừa qua, ông đã trao tặng cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam…

Theo qdnd.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Nhất tề xông lên trừng trị quân xâm lược và tay sai bán nước

QĐND Online – Đó là lời kêu gọi đồng bào, cán bộ, chiến sĩ đứng lên tiêu diệt quân Mỹ, ngụy trong cái Tết của 45 năm trước, được thể hiện trong Mệnh lệnh Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Mệnh lệnh quan trọng ấy được đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, thay mặt Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, ký ngày 30-1-1968, hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (28A, Điện Biên Phủ, Hà Nội).

Với nội dung được đề cập trong Mệnh lệnh, khách tham quan tại bảo tàng có thể hiểu được bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, khi cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân miền Nam thu được nhiều thắng lợi liên tiếp; quân Mỹ đang bị động, thất bại, sa lầy nghiêm trọng và ngụy quân đang trên đã rệu rã.

Tết Nguyên đán Mậu Thân 1968, thể theo nguyện vọng của toàn thể đồng bào, theo phong tục cổ truyền của dân tộc, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra lệnh cho các lực lượng của ta ngừng tiến công quân sự trong 7 ngày để mọi người được yên ổn, vui vẻ ăn Tết.

Mệnh lệnh Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

“Để che lấp dã tâm đen tối của bọn chúng, bọn Mỹ và Thiệu, Kỳ cũng phải nói đến ngừng bắn và chúng chỉ nói ngừng bắn trong 48 giờ. Nhưng rồi chúng lại tráo trở rút xuống còn 36 giờ….Cuối cùng, hồi 14 giờ ngày 30-1, chúng đã thủ tiêu hoàn toàn lệnh ngừng bắn gian trá của chúng”, Mệnh lệnh ghi rõ.

Tiếp đó, địch đã sử dụng máy bay, pháo binh bắn phá các nơi dân cư đông đúc; cấm trại 100% nhân viên và binh sĩ ngụy. Và như vậy, địch đã không để cho đồng bào ta và ngay cả ngụy quân, ngụy quyền yên ổn vui Tết.

Mệnh lệnh nêu rõ: “Trước tình hình như vậy, Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận hạ lệnh cho tất cả các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng, các lực lượng đấu tranh chính trị, toàn thể hội viên các hội giải phóng hãy sát cánh cùng các lực lượng yêu nước khác và toàn thể đồng bào nhất tề xông lên quyết trừng trị đích đáng quân Mỹ xâm lược và bọn Thiệu, Kỳ tay sai bán nước”.

Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, chúng ta đã giáng cho quân Mỹ, ngụy những đòn bất ngờ và choáng váng, góp phần làm thay đổi tương quan lực lượng và cục diện trên chiến trường. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã góp phần quan trọng vào công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nhất Tổ quốc của dân tộc ta.

Bài, ảnh: PHẠM HOÀNG HÀ
qdnd.vn

Mỏ neo trong “Tết Mậu Thân – 1968”

Bình luận viên W.Cron-kai-tơ:

QĐND – Được đánh giá là chiếc mỏ neo của truyền thông Mỹ, W.Cron-kai-tơ (1916-2009) đã làm việc suốt hai thập kỷ (1962-1981) trên buổi phát tin tối của kênh CBS. Ở thời hoàng kim (1960-1970) của kênh truyền hình này, ông được xem là “người đáng tin cậy nhất nước Mỹ”. Sinh thời, ông đã tường thuật nhiều sự kiện lớn nhất trong thế kỷ 20 của nước Mỹ như Thế chiến II, tòa án Nu-rem-béc (Nuremberg) xử tội phạm phát xít, cuộc chiến tranh Việt Nam, các chương trình chinh phục vũ trụ của Mỹ, vụ ám sát Tổng thống Giôn Ken-nơ-đi (John Kennedy)…

Thả chệch neo tại “Vịnh Bắc Bộ”

Ngày 12-8-2004, nhân kỷ niệm 40 năm sự kiện Vịnh Bắc Bộ, W.Cron-kai-tơ (Walter Cronkite) có bài bình luận trên Đài Phát thanh quốc gia Hoa Kỳ NPR nhan đề Cuộc tiến công của những con ma trên Vịnh Bắc Bộ: Sai sót tình báo góp phần dẫn đến quyết định đánh Việt Cộng (Gulf of Tonkin’s Phantom Attack: Faulty Intelligence Played Role in Decision to Engage Viet Cong). Qua bài này, Cron-kai-tơ muốn tự bào chữa cho truyền thông Mỹ và bản thân ông vào năm 1964 đã bị “nhử” vào dàn đồng ca về “vụ Vịnh Bắc Bộ” của chính quyền Giôn-xơn (Johnson), chỉ vì “đã quá tin vào các báo cáo chính thức”.

Những diễn biến tiếp theo của cuộc chiến tranh cục bộ ở Việt Nam hẳn đã làm con người có lương tri Cron-kai-tơ tìm kiếm cơ hội “phản pháo”, hoàn trả cho mô hình “súng và bơ” bộ mặt thật của nó. Sang Nam Việt Nam về sau khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân nổ ra, Cron-kai-tơ đã đăng đàn phát biểu trên CBS News ngày 27-2-1968, khi cao điểm đợt 1 các “làn sóng tiến công của Việt Cộng” dâng tràn trên các kênh truyền thông Mỹ.

Tết 1968: Lời nói đọi máu

Phong trào chống chiến tranh ở Mỹ hôm nay vẫn nhớ những lời bình luận quả cảm của Cron-kai-tơ trong đêm 27-2-1968. Sau khi ông kết bài bình luận bằng câu: “Đây là Cron-kai-tơ. Chúc ngủ ngon”, thì lương tri Mỹ bắt đầu những đêm mất ngủ, sẽ kéo dài suốt 7 năm sau.

Bình luận của Cron-kai-tơ có tựa đề gây chấn động: “Chúng ta đang ngập vào vũng lầy không lối thoát”. Ông bắt đầu như sau:

“Hôm nay, trở lại với không gian quen thuộc quanh Niu Y-oóc, chúng tôi muốn tóm tắt những gì đã tai nghe mắt thấy ở Việt Nam, trong một phân tích có tính suy đoán, riêng biệt, tự cảm nhận. Ai thắng, ai thua trong cuộc tiến công đại quy mô các thành phố? Tôi không biết. Việt Cộng đã không thắng được nhờ một đòn nốc ao, nhưng chúng ta cũng vậy. Lịch sử sẽ phán xét và sẽ rút ra bài học…”.

Một câu trong bình luận, được dẫn rất nhiều trong sách báo phương Tây:

“Chúng ta đã quá thường xuyên phải thất vọng bởi sự lạc quan của các nhà lãnh đạo nước Mỹ, ở cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ, đến mức khó có thể tiếp tục tin vào những an ủi giữa cơn bĩ cực mà họ vẫn tìm thấy trong những đám mây đen tối nhất”.

W.Cron-kai-tơ trầm ngâm giữa đường phố Hà Nội, đầu năm 1973.

Tổng thống Giôn-xơn than thở sau buổi phát hình ngày 29-2-1968 của Cron-kai-tơ: “Mất Cron-kai-tơ, có nghĩa là tôi mất tầng lớp trung gian ủng hộ chính quyền. Ba tuần sau, Giôn-xơn lên truyền hình tuyên bố sẽ không tìm cách tái cử tổng thống một nhiệm kỳ nữa và quyết tìm giải pháp cho chiến tranh qua đàm phán với đối phương.

1968: Năm bạo lực và chia rẽ ở Mỹ

Sau những phát súng của Tết Mậu Thân “như nổ trên đường phố Hoa Kỳ” và tuyên bố “làm thế giới sửng sốt” của Tổng thống Giôn-xơn (31-3) là cuộc ám sát Lu-thơ Kinh (Luther King), lãnh tụ phong trào đòi bình quyền của người da đen (4-4), dẫn đến loạt bạo động trên khắp nước Mỹ, cuộc ám sát ứng cử viên hòa bình Đảng Dân chủ Rô-bớt Ken-nơ-đi (Robert Kennedy) (5-5)… Trong thời gian Hội nghị Đảng Dân chủ đề cử ứng cử viên tổng thống cuối tháng 8-1968, Đảng này chia tách thành hai phái: Ủng hộ và phản đối chiến tranh. Từ 26 đến 29-8 những người biểu tình ủng hộ ứng viên hòa bình Mắc Ca-thi (McCarthy) tuần hành một cách ôn hòa trên các đường phố chính của Chi-ca-gô (Chicago), nơi diễn ra hội nghị Đảng Dân chủ. Nhưng ở cao điểm, chiều 27-8, nhiều người biểu tình “chiếm” ngọn đồi trong Công viên Lớn (Grand Park), phất cờ của Mặt trận giải phóng và “Bắc Việt Nam”. Thống đốc Chi-ca-gô thuộc phe chủ chiến trong Đảng Dân chủ, điều cảnh sát và 6000 vệ binh quốc gia tới đàn áp cuộc biểu tình. Toàn nước Mỹ xem tường thuật trực tiếp cuộc động loạn này, chia sẻ với bình luận của Cron-kai-tơ trên kênh CBS, sự căm phẫn với chính sách thẳng tay đàn áp của nhà cầm quyền…

Sinh viên Mỹ giương cờ Việt Nam dân chủ cộng hòa và cờ Mặt trận dân tộc giải phóng tại Công viên Lớn, Chi-ca-gô, tháng 8-1968. Ảnh tư liệu

Hàng trăm người biểu tình và hơn 100 cảnh sát bị thương. Trong số 700 người bị bắt có những người đấu tranh vì hòa bình nổi tiếng và là khách thường xuyên của Hà Nội như: Đê-vít Đen-linh-gơ (David Dellinger), Tôm Hay-đơn (Tom Hayden)…

Truyền thông Mỹ cũng nhắc nhở rằng, chính lúc này Ních-xơn đã lợi dụng sự chia rẽ của nước Mỹ và cả trong Đảng Dân chủ đối lập, đưa ra những chiêu bài chính trị để “đánh lộn sòng”, theo đuổi đường lối chiến tranh trong gần hai nhiệm kỳ nữa.

Thuật ngữ quân sự mới

Cuối bình luận trên kênh CBS đêm 27-2-1968, Cron-kai-tơ kêu gọi Nhà Trắng hãy đàm phán với Hà Nội và “Việt Cộng” hơn là đánh ra miền Bắc, hay dùng vũ khí hạt nhân, hay đưa thêm 100.000, 200.000 hay 300.000 quân Mỹ nữa sang Việt Nam. Ông đưa ra một khái niệm mới cho nền chính trị của chiến tranh và can thiệp quân sự: “Hiện đã rõ ràng hơn bao giờ hết là sự trải nghiệm bằng máu của Mỹ ở Việt Nam đang mắc kẹt trong tình thế không lối thoát”.

Trước Tết Mậu Thân, người Mỹ chỉ nhìn nhận hoạt động chiến tranh trong hai khái niệm thắng – thua, biểu thị bằng con số: Đếm được nhiều xác “địch” hơn, kiểm soát được nhiều lãnh thổ hơn. Từ sau 27-2-1968, trong từ điển quân sự Mỹ xuất hiện một từ mới: Stalemate, có nghĩa là thế bí, là tiến thoái lưỡng nan, bó tay, lạc nước… Còn một thuật ngữ nữa hình thành trong thời kỳ cuối 1967 – đầu 1968 là “Việt Nam-cuộc chiến trên truyền hình”.

Tháng 6-2011, đã xuất bản cuốn Không có chiến thắng rõ ràng: Đo đếm hiệu lực và tiến bộ của quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Tác giả G.Đát-đi (G.Daddis) đã dùng thuật ngữ của Cron-kai-tơ, đặt tên cho Chương 6 của sách là Năm của cuộc tiến công Tết: Thắng lợi, Thất bại, hay Bế tắc? Theo G.Đát-đi, Mỹ thất bại ở Việt Nam vì thứ nhất, các nhà chiến lược chỉ chú trọng thu thập dữ liệu mà không tập trung vào phân tích dữ liệu, đồng thời, quân đội Mỹ sản xuất tới 14.000 pound (gần 7 tấn) báo cáo trong một ngày, một số lượng quá lớn để có thể phân tích hiệu quả; thứ hai, do quân Mỹ đã đo lường sai các chỉ tiêu thắng lợi và do nhầm lẫn về… thuật ngữ, chẳng hạn, khái niệm tiến triển (progress) và hiệu quả (effectiveness) là khác nhau.

Quên mình dẫn dắt nhận thức

Một phóng sự truyền hình của Cron-kai-tơ trên kênh CBS được nhiều người Mỹ ghi nhớ là “Danh dự, nghĩa vụ và một cuộc chiến tranh được gọi là Việt Nam”, được ông thực hiện ở Hà Nội năm 1985 về bài học chiến tranh Việt Nam đối với nước Mỹ. Tờ Thời báo Niu Y-oóc có nhận xét rằng, các bức ảnh về “người đáng tin cậy nhất nước Mỹ” ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh 10 năm sau khi chiến tranh kết thúc cho thấy ông thật trầm tư mặc tưởng.

Thời báo Niu Y-oóc nhận thấy, các bài về chiến tranh Việt Nam của CBS, thường do Cron-kai-tơ không hẳn nói về chiến tranh, mà nói đến cảm nhận về nó, rằng các phóng sự Việt Nam của ông thường “nghiêm trang”, thậm chí nhuốm màu “tang tóc”. Và tờ báo cũng nhắc lại rằng, Cron-kai-tơ nhiều lần nói nước Mỹ đã thua, rằng Việt Nam là “thất bại quân sự duy nhất của nước Mỹ”. Bài viết này được xuất bản năm 1985, nhận xét rằng, Cron-kai-tơ luôn mong người Mỹ nuôi hy vọng rằng sẽ không còn một (chiến tranh) Việt Nam nữa, rằng ông muốn Chính phủ Mỹ phải hỏi ý kiến dân trước khi đưa lính Mỹ dấn vào các cuộc viễn chinh.

Nhưng vẫn còn những phái “diều hâu” tới nay vẫn chưa vỡ lẽ tại sao quân đông tướng mạnh mà chính quyền Giôn-xơn phải đề xuất thương lượng để cầu hòa. Vẫn còn những khẳng định Mỹ “thắng về quân sự”, cụ thể về “đếm xác”, về số chiến dịch được tiến hành, số đạn pháo được bắn, số trận phục kích được thực hiện… Vì thế, từ đầu thiên niên kỷ mới, đã xuất hiện những cuộc chiến của Mỹ ở Áp-ga-ni-xtan và I-rắc. Chúng nhanh chóng trở nên không có lời giải và truyền thông Mỹ đã phải “chế” thêm những thuật ngữ mới, như VietIstan, hay AfganisNam, IraqiNam… đồng nghĩa với từ sa lầy, bó tay mà Cron-kai-tơ đã đưa ra từ thời Tết Mậu Thân.

Lê Thành
qdnd.vn

Tết Mậu Thân 1968 – 2013: Mùa xuân năm ấy

(Dân trí) – Kết thúc chiến dịch X2, tôi được cấp trên tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng 3 và được tập thể đơn vị chọn đi báo cáo điển hình ở Đại hội chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Đà.

Đại hội xong, tôi mới vừa về đến đơn vị Đặc công tiểu đoàn 489, thì được cấp trên điều sang nhận nhiệm vụ đặc biệt, với chức vụ Đại đội trưởng đại đội Đặc công biệt động (Lê Độ) vào Đà Nẵng hoạt động đơn tuyến hợp pháp, nhiệm vụ được giao là điều tra một số cơ quan đầu não của Mỹ – Ngụy ở Quảng Nam – Đà Nẵng.

Hoạt động được một thời gian, tôi trở ra vùng giải phóng gặp đồng chí Phạm Như Hiền (Kim) quận đội trưởng quận 2 Đà Nẵng để báo cáo kết quả những việc đã làm và nhận lệnh khẩn trương chuẩn bị cho chiến dịch mùa xuân Kỷ Dậu.

Báo cáo và nhận lệnh xong, với giấy thông hành hợp pháp, tôi về lại Đà Nẵng vào những ngày thời gian sắp gõ cửa nàng xuân. Hoa mai vàng cùng với các loài hoa khác nở rộ, khoe sắc, đua màu như để đón chào một mùa xuân mới.

Năm đó, lần đầu tiên trong quãng đời binh nghiệp của mình, tôi phải ăn tết xa đồng đội: ở nơi đô thành hoa lệ, nơi sào huyệt của quân thù ở vùng I chiến thuật, nơi mà bọn chúng từng rêu rao “bất khả xâm phạm” đối với “Việt cộng”.

Nhưng chính nơi này, chúng đã kinh hồn, khiếp vía, phải chui rúc, náu mình vào các hầm ngầm cố thủ. Vì những tiếng súng của quân và dân Quảng Nam – Đà Nẵng, cùng với tiếng súng của quân và dân toàn miền Nam trong đợt tổng tiến công nổi dậy đêm giao thừa của Tết Mậu Thân 1968 và các chiến dịch kế tiếp. Nên tết này, chúng ra sức bố phòng rất nghiêm ngặt, sợ Việt cộng lặp lại mùa xuân năm trước.

Chiều 30 Tết, tôi xuất hiện trên đường phố Đà Nẵng với bộ binh phục rằn ri của lính biệt động, mang lon thiếu uý, đi honda trong thành phố, qua các nơi: khách sạn Đà Nẵng, nơi có nhiều lính Mỹ đồn trú, Nha cảnh sát Trung phần, Ty cảnh sát Gia Long để quan sát, kiểm tra về cách bố phòng của chúng trong dịp Tết.

Sau đó tôi chạy thẳng đến chợ Vườn Hoa, chọn mua một cành hoa mai, chạy ra đường Thống Nhất (nay là Lê Duẩn) vào nhà ông Võ Xuân Định và bà Lê Thị Dưa (cháu của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn) ở số 90B, là cơ sở cách mạng. Chủ nhà nhận cành mai đặt ở phòng khách ngày Tết, cài lên cành mai vàng những thiếp Cung chúc Tân Xuân.

Bữa cơm chiều 30 đón ông bà xong, chủ nhà dẫn tôi lên tầng 2 đưa cho tôi một chiếc radio nhỏ. Tắt điện, rồi bước nhanh xuống tầng dưới, tôi nằm áp sát máy vào tai, lắng nghe những bài hát ngợi ca Đảng, ngợi ca mùa xuân bất tận, mà lòng nao nao, mong sao chóng đến giờ giao thừa, để nghe Bác Hồ chúc tết.

Bỗng tiếng chuông đồng hồ ở phòng dưới reo lên như “tiễn chân” năm cũ. Tiếng Bác Hồ ấm áp vang xa:

Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến ắt càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào
Tiến lên chiến sĩ, đồng bào
Bắc – Nam sum họp xuân nào vui hơn.

Tôi không cầm được nước mắt, vì quá xúc động với những lời thơ chúc tết của Bác Hồ. Đó là mệnh lệnh, tiếng kèn xông trận trên khắp các chiến trường miền Nam, là niềm tin tất thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.

Tôi càng thấy trách nhiệm của mình rất nặng nề, phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của trận tuyến ngầm mà cấp trên đã giao phó để góp phần nhỏ bé của mình vào cuộc kháng chiến vĩ đại của toàn dân, sớm đón Bác vào thăm miền Nam. Nhưng có ngờ đâu, lần chúc tết năm đó cũng là tết cuối cùng của Bác trước lúc đi xa…

Sáng ngày mùng 1 tết, tôi mặc bộ veston thẳng tắp, với giấy thông hành là thương gia, giả đi chúc tết một số gia đình bà con tộc họ, nhưng thực ra là đi kiểm tra cơ sở, vũ khí và quân đã chuyển vào đến đâu, để đảm bảo cho trận đánh thắng lợi, khi có lệnh.

Sau khi cưỡi honda chạy quanh thành phố một vòng, soát xét lại toàn bộ tình hình địch, tối mùng 1 tết, tôi nhận được mật lệnh từ vùng giải phóng giao nhiệm vụ tiếp theo, tôi hợp pháp ra vùng giải phóng ở thôn 1, xã Điện Ngọc, gặp anh Phạm Như Hiền để báo cáo kế hoạch và kết quả công tác chuẩn bị.

Anh Hiền phê duyệt phương án tác chiến do tôi trình bày, rồi giao từng nhiệm vụ cụ thể, bổ sung thêm một số chi tiết trong phương án tác chiến và quy định giờ hợp đồng nổ súng. Chia tay anh, tôi trở lại Đà Nẵng.

Sáng mùng 5 tết, không khí vui tết, đón xuân vẫn còn ấm cúng trong mỗi gia đình, trầm hương nghi ngút trên bàn thờ tổ tiên, nhưng ngoài đường thì người đi vãn cảnh, du xuân rất ít. Vì khắp các nẻo đường, góc phố, ở đâu cũng có trạm kiểm soát giấy tờ và lục soát khi có nghi vấn của bọn cảnh sát dã chiến, làm cho không khí ngày xuân lắng xuống rất nhanh.

Trước giờ G (23 giờ) là giờ các chiến sĩ đặc công biệt động nổ súng, thì lúc 21 giờ, tôi chẳng may sa vào tay giặc, vì một tên phản bội chỉ điểm. Chúng đưa tôi vào giam ở sở an ninh quân đội để khai thác suốt một tuần, rồi chuyển tôi về giam ở Trung tâm thẩm vấn Thanh Bình.

Tên Lê Văn Tiến trưởng phòng thẩm vấn trực tiếp tra khảo, khai thác tôi. Dùng đủ ngón nghề ác độc, hòng bắt tôi phải khai ra những cơ sở cách mạng trong thành phố và kế hoạch hoạt động của ta trong mùa xuân này, nhưng tôi cắn răng chịu đựng những cực hình đòn roi thiếu sống, thừa chết.

Chúng không moi được lời nào của tôi ngay từ khi mới bị bắt, nên giờ G, các điểm nằm trong kế hoạch tác chiến đồng loạt nổ súng, làm cho kẻ địch bất ngờ với lối đánh “xuất quỷ, nhập thần” của đặc công biệt động.

Sau mấy ngày giam cầm, tên Tiến lại tra hỏi tiếp: Đêm giao thừa, mày có nghe thơ chúc tết của ông Hồ không?

Sao lại không – Tôi sảng giọng – Đối với những người cách mạng thì đó là mệnh lệnh, là niềm tin tất thắng để chiến đấu quét sạch bọn Mỹ xâm lược ra khỏi đất nước.

Nó lại hỏi tiếp: Mày tin à?

Sẽ có mùa xuân Bắc – Nam sum họp như lời thơ của Bác, chứ không như ông (tên phản bội) nên ông mới làm tay sai cho bọn Mỹ, can tâm bắt tôi tra tấn.

Nghe tôi trả lời vậy, tên Tiến nhột ý, vứt dùi cui xuống đất, kêu bọn cấp dưới đưa tôi về xà lim, rồi lần lượt đưa đi giam khắp các lao tù. Và cuối cùng mở phiên toà quân sự lưu động đặc biệt kết án tử hình.

Nhưng tôi kiên quyết đấu tranh với bọn chúng. Tôi nói: “Nều các ông xử tôi, thì lập tức các đồng đội của tôi sẽ bắt 2 tù binh Mỹ thế mạng”. Chắc chúng sợ quan thầy của chúng nên sau khi nghị án, chúng hạ mức tù xuống còn chung thân, đầy ra Côn Đảo “hưởng” trọn 5 “mùa xuân” tại phòng biệt giam cấm cố ở địa ngục trần gian.

Đến tháng 2/1974, theo Hiệp định Paris, tôi được chúng trao trả về với cách mạng, tham gia giải phóng thành phố Đà Nẵng trong mùa xuân đại thắng năm 1975.

Xuân Mậu Tý này là tròn 39 mùa xuân, nhân dân và tôi được hưởng những mùa xuân trong khung cảnh đất nước thành bình, tự do, không còn những mùa xuân u ám, súng nổ, bom rền của thời Mỹ – Ngụy nhưng tôi không làm sao quên được những kỷ niệm đẹp đẽ của đời mình trong mùa xuân năm ấy.

Phạm Thành Nghi
(Ghi theo lời Nguyễn Đình Tham kể)
dantri.com.vn

Cuộc chiến đấu giải phóng nhà lao Phủ Thừa

QĐND Online – Trong căn nhà nhỏ ở ngõ 365 phố Mai Dịch, Thiếu tướng Vũ Xuân Sinh, nguyên Chính ủy Trung đoàn 9, Chính ủy Quân đoàn 1, Hệ trưởng Hệ Quốc phòng (Học viện Quốc phòng) sau này, say sưa kể với tôi kỷ niệm đánh TP Huế hồi Tết Mậu Thân 1968. Ông tham gia đợt chiến đấu ấy với cương vị là Chính trị viên Đại đội 2 (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 9, Sư đoàn 968), lực lượng được Bộ điều động tăng cường cho K815 của Thành đội Huế.

22 dũng sĩ xóm Siêu Quần

Khoảng đầu tháng 10-1967, đơn vị chúng tôi gồm: Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3 đang đứng chân ở sông Hai Gánh, phía Tây của TP Huế thì được trên phổ biến, thời gian tới sẽ đánh vào TP Huế. Nghe phổ biến như vậy ai trong chúng tôi cũng vui. Những ngày sau đó, chúng tôi tích cực làm công tác chuẩn bị với khí thế rất cao. Chúng tôi đi xuống Hương Thủy để lấy gạo, đạn và vũ khí. Đơn vị tổ chức tập huấn quán triệt nhiệm vụ, đồng thời huấn luyện bổ sung các hình thức chiến đấu. Đội ngũ cán bộ được phổ biến kỹ về các mục tiêu tác chiến và các yêu cầu phối hợp thực hiện nhiệm vụ. Tiểu đoàn 1 của tôi được giao đảm nhiệm tiêu diệt khu vực Tam giác Huế, bao gồm các mục tiêu: Nhà ga, Tòa nhà quốc hội Trung phần (bây giờ là khách sạn Thuận Hóa), Dinh tỉnh trưởng và nhà lao Phủ Thừa, hỗ trợ cho quần chúng nhân dân nổi dậy.

Thiếu tướng Vũ Xuân Sinh say sưa kể chuyện

Chúng tôi vốn chẳng lạ kiểu tác chiến của bọn Mỹ, ngụy. Vì Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3 đã được điều động vào tăng cường cho K815 của Thành đội Huế từ tháng 12-1966. Từ lúc vào Huế cho đến khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 diễn ra, đơn vị chúng tôi ở cùng dân; cùng dân chống càn, chống bình định và nhổ chốt. Chúng tôi đã nhiều lần chạm chán với quân Mỹ, điển hình là trận đánh lại 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ có pháo binh, xe tăng, cơ giới yểm trợ càn vào làng Siêu Quần (xã Phong Hòa, huyện Phong Điền) của Trung đội 6, Đại đội 2 chúng tôi các ngày từ 20 đến 23-7-1967. Trung đội 6 lúc đó có 22 người mà đã đẩy lùi nhiều đợt tiến công của địch, thu nhiều vũ khí trang bị. Sau mỗi đợt tiến công không có kết quả, địch lại cho pháo kích dội xuống làng Siêu Quần. Trước đó, nhân cơ hội bộ binh địch rút ra ta cũng bí mật rút theo, nên khi địch bắn pháo ta không bị thương vong. Khi địch chuẩn bị tiến công, ta rút về trước củng cố công sự trận địa và đánh lại chúng. Đêm đến, khi địch cố thủ trong các các vị trí dã chiến, ta tổ chức lực lượng đánh tiêu diệt và lại nhanh chóng rút đi. Kết thúc 3 ngày chống càn, 22 cán bộ, chiến sĩ Trung đội 6 đã tiêu diệt nhiều xe tăng bọc thép của quân địch nhưng nhiều chiến sĩ đã bị thương và hy sinh. Sau này, Quân khu Trị Thiên tuyên dương công lao của Trung đội 6, phong họ là “22 dũng sĩ xóm Siêu Quần”.

Phá nhà lao Phủ Thừa

Chiều 31-1-1968, đơn vị tôi bí mật hành quân vượt sông Nguyễn Biểu (một nhánh của sông Hương) sau đó lại bí mật vòng tránh để vượt đồn Nam Giao, vượt cầu An Cựu và vào Lăng Gia Long (phía Tây Huế) trú quân. Rạng sáng ngày 1-2-1968, đơn vị chúng tôi nổ súng tiến công địch. Đến trưa cùng ngày, Đại đội 1 và 3 của Tiểu đoàn 1 chiếm được nhà ga Huế và Tòa nhà quốc hội Trung phần. 6 giờ ngày 1-2, Đại đội 2 của tôi đánh chiếm và cắm được cờ giải phóng trên nóc Dinh tỉnh trưởng, sau đó chúng tôi đột phá nhà lao Phủ Thừa, nhưng không thành công do ta chưa nắm chắc được nguyên tắc bố phòng của địch.

Theo cơ sở báo cho ta thì nhà lao Phủ Thừa là nơi giam giữ khoảng hơn 2.200 người và có khoảng 100 cai ngục, ác ôn, lính bảo vệ. Đặc biệt, chúng đã gài bọc phá khắp nhà lao, nếu bị đánh mạnh, chúng sẽ cho nổ, tiêu diệt toàn bộ tù nhân và phá hủy nhà lao. Nhà lao có nhiều lớp hàng rào kiên cố bao bọc xung quanh, có hệ thống bốt canh và đại liên từ trên cao đánh xuống, rất lợi hại. Đến tối ngày 1-2, chúng tôi đánh thăm dò một lần nữa, nhưng vẫn không có kết quả. Từ sáng ngày 2-2, chúng tôi đã nhiều lần nghiên cứu và bàn phương án tác chiến, nhưng chưa lựa được phương án khả thi. Tối ấy, vào khoảng 20 đến 21 giờ, chúng tôi quyết định cử 1 tổ trinh sát gồm 7 đồng chí, do Phó đại đội trưởng Phạm Văn Nhang chỉ huy bí mật đi trinh sát. Rất may, sau đó chúng tôi bắt được một tên lính ngụy từ trong nhà lao trốn ra ngoài. Sau khi khai thác, chúng tôi đã động viên được tên này dẫn đường vào trong nhà lao. Phương án là cho 1 tiểu đội, do đồng chí Nhang trực tiếp chỉ huy vượt tường rào vào trong nhà lao. Tiểu đội được chia làm 2 tổ, tổ 1 đánh chiếm khu chỉ huy nhà lao; tổ 2 đánh ra cổng chính, hỗ trợ lực lượng chủ yếu mở cổng và tiến vào giải phóng tù nhân. Hiệu lệnh hiệp đồng là tiếng nổ ở bên trong.

Khoảng 3 giờ sáng ngày 3-2, chúng tôi triển khai đội hình xong. Gần 4 giờ sáng, khi bộc phá do tổ 2 bí mật gài ở trong nổ, bộ binh ở bên ngoài đánh mạnh vào cổng chính. Khi mở được cổng chính chúng tôi tràn vào, phối hợp với lực lượng bên trong tiêu diệt bọn địch. 30 phút sau chúng tôi mở được cửa các phòng giam tù nhân trong nhà lao. Tại đây, sau nhiều lần kêu gọi, các tù nhân mới ngóc đầu dậy và chỉ khi nhìn thấy quần áo; cờ đỏ, xanh quấn ở cánh tay trên các chiến sĩ quân giải phóng thì các tù nhân mới dám đứng lên. Vì bọn địch quy định, khi nghe tiếng súng, tất cả các tù nhân phải nằm úp mặt xuống đất, nếu ai ngẩng đầu lên sẽ bị bắn. Toàn bộ tường của các phòng đã bị địch ốp thuốc nổ, nếu tù nhân ồn ào là chúng điểm hỏa, từ nhân sẽ bị giết hại. Sau khi được giải phóng, các tù nhân đi tìm lính canh, cai ngục và ác ôn để tiêu diệt, chúng tôi phải liên tục ngăn cản, tuyên truyền, giải thích gần 4 giờ đồng hồ rất mệt mỏi thì các tù nhân mới thông; thành ra nhiệm vụ của chúng tôi lúc này là bảo vệ bọn binh lính, cai ngục và ác ôn.

Đến sáng 3-2, lực lượng của Tiểu đoàn 1 và Thành đội Huế kéo đến, chúng tôi phải ghi tên, phân loại tù nhân; tuyên truyền chính sách của Mặt trận giải phóng; động viên họ phát hiện, tố cáo ác ôn và tham gia cùng lực lượng quân giải phóng chiến đấu. Có rất nhiều người tham gia vào các đơn vị phục vụ và trực tiếp làm nhiệm vụ chiến đấu, riêng Đại đội 2 của tôi tiếp nhận thêm khoảng 70 người. Từ ngày 4 -2 trở đi, địch bắt đầu tổ chức phản kích quyết liệt, chúng tôi đã chiến đấu ngoan cường, chống lại hỏa lực và lực lượng địch đông gấp nhiều lần trong điều kiện hết sức khó khăn, thiếu đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men và cả nước uống. Trong thời gian ấy, có nhiều tấm gương chiến đấu rất dũng cảm, như đồng chí Khiêm, chiến sĩ B40, có ngày bắn tới 9 quả đạn (vượt 4 – 5 quả so với quy định) đến độ ù tai, người ngơ ngác. Đến ngày 24 và 25-2, chúng tôi rút khỏi TP Huế, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trên giao.

Thiếu tướng VŨ XUÂN SINH (kể)MẠNH THẮNG (ghi)
qdnd.vn

Nghệ thuật tạo bất ngờ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968)

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) là một trong ba đòn Tiến công chiến lược của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nó đã gây cú “sốc đột ngột”, làm đảo lộn thế bố trí, phá vỡ kế hoạch tác chiến của Mỹ; làm rung chuyển không chỉ toàn bộ chiến trường miền Nam, mà còn gây chấn động Nhà trắng, Lầu năm góc và làm lay chuyển ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Tổng thống Mỹ Giôn-xơn phải cách chức Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam; đồng thời, xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam tại Pa-ri. Về cá nhân, Giôn-xơn tuyên bố không tham gia ứng cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ 2. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) về cơ bản đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, mở ra khả năng và cục diện mới cho quân và dân ta thực hiện quyết chiến chiến lược “đánh cho Mỹ cút”, tiến tới “đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào mùa Xuân 1975. Thắng lợi đó có nhiều nguyên nhân và để lại nhiều bài học quý. Xét về lĩnh vực quân sự, đó là bài học nghệ thuật tạo bất ngờ trên cả ba phương diện: chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật.

Bộ đội hành quân trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. (Ảnh tư liệu)

Trước hết là sự chuẩn bị chu đáo về lực lượng và vũ khí trang bị. Đây là điều kiện tiên quyết để ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân với quy mô lớn trên toàn miền Nam, trong đó tập trung vào các thành phố, đô thị. Vì thế, yêu cầu đặt ra là phải có lực lượng quân sự tinh nhuệ, lực lượng đấu tranh chính trị hùng hậu, rộng khắp và khối lượng lớn vũ khí, trang thiết bị quân sự… Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, các sư đoàn chủ lực dự bị cơ động chiến lược (308, 304, 320, 312) được gấp rút kiện toàn về tổ chức, biên chế, trang bị, đẩy mạnh huấn luyện để sẵn sàng vào chiến trường khi có lệnh. Các trung đoàn, sư đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng từ nhiều nơi trên chiến trường miền Nam bí mật hành quân “ém sẵn” ở các địa bàn ven đô. Riêng khu vực Sài Gòn, Trung ương Cục quyết định giải thể Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn – Gia Định, thành lập “Khu trọng điểm” gồm nhiều phân khu (Tiểu đoàn mũi nhọn) được tổ chức và trang bị gọn nhẹ; trong đó, biên chế nhiều tổ, đội biệt động, đặc công, bảo đảm cho các lực lượng vừa có mũi nhọn, vừa có chiều sâu tiến công đồng loạt từ nhiều hướng vào Sài Gòn… Bên cạnh đó, việc đảm bảo lương thực, thực phẩm, vũ khí, trang bị kỹ thuật cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy (từ miền Bắc chuyển vào) được chuẩn bị hết sức chu đáo. Trong nội đô, nhiều tổ chức – cơ sở cách mạng của ta đã sử dụng các phương tiện vận tải (ô tô, xuồng máy) hợp pháp, đêm ngày bí mật chuyển lương thực, thuốc men ra vùng giải phóng và nhận súng đạn đưa về nội đô… Với chiến thuật “thiên biến vạn hóa” đó, chúng ta đã đưa một lực lượng bộ đội chủ lực cùng với khối lượng lớn vũ khí, trang bị quân sự vượt qua hệ thống trạm kiểm soát và mạng lưới mật vụ, biệt kích, thám báo chìm, nổi dày đặc của địch, vào “lót sẵn” trong nội đô. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình, táo bạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân (thậm chí có cả vợ, con của sĩ quan ngụy) trong các thành phố, thị xã đã nhiệt tình ủng hộ, che chở, đùm bọc lực lượng cách mạng. Họ bí mật đào những căn hầm chứa vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự ngay dưới nền nhà của mình; nhiều bà má, chị, em không quản gian khổ, hiểm nguy, hy sinh để vận chuyển vũ khí vào thành phố… Nhờ đó, các lực lượng của ta với đầy đủ vũ khí, trang bị đã “nằm sẵn” trong lòng thành phố, thị xã, quận lỵ sẵn sàng chờ lệnh nổ súng tiến công tiêu diệt địch. Những việc làm trên được khắc ghi trong sử sách là minh chứng sống động về nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, mà biểu hiện cụ thể của nó là tạo bất ngờ cả về thế và lực đối với địch.

Tạo bất ngờ về thời điểm tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Chọn dịp Tết Nguyên Đán và thời khắc giao thừa1 đồng loạt nổ súng mở màn là nét đặc sắc của nghệ thuật tạo bất ngờ; bởi đây là lúc địch sơ hở và chủ quan nhất. Cân nhắc, nghiên cứu và tính toán rất kỹ, cụ thể từng chi tiết, phong tục tập quán Tết cổ truyền của dân tộc trên đất phương Nam; việc “điều binh, khiển tướng” của Quân lực Việt Nam cộng hòa từ nhiều năm trước đó, sau khi có sự thống nhất giữa cơ quan chỉ đạo tối cao và chỉ huy các chiến trường, Bộ thống soái quyết định chọn thời điểm Giao thừa là “giờ G” làm hiệu lệnh nổ súng mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Với sự tính toán mưu lược chu tất như vậy, nên khi ta tiến công, địch hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp đối phó. Ngay sau khi sự kiện Tết Mậu Thân diễn ra, giới chỉ huy quân sự và học giả Mỹ cũng như phương Tây đã xác nhận: Vào những ngày Tết Mậu Thân, các đơn vị của Quân đội Việt Nam cộng hòa chỉ có một nửa quân số, khiến cho Bộ Chỉ huy Quân sự Mỹ ở Sài Gòn vô cùng lúng túng trong việc ứng phó. Từ thực tế đó, càng khẳng định: việc chọn thời điểm Tết Nguyên Đán mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân có ý nghĩa chiến lược, góp phần tạo bất ngờ về thời gian – yếu tố quan trọng làm nên thắng lợi của Xuân Mậu Thân. Vì thời gian là lực lượng.

Tạo bất ngờ về hướng và mục tiêu tiến công chủ yếu. Vào thời điểm trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, địch còn rất mạnh cả về thế và lực, nên chúng ta không thể sử dụng toàn bộ lực lượng chủ lực để đánh vào các thành phố lớn. Do vậy, chủ trương của Đảng ta là căng, kéo, lừa địch trải lực lượng ra khắp chiến trường miền Nam, nhất là đến địa bàn có lợi để dùng những quả đấm mạnh đánh những đòn tiêu diệt lớn, bẻ gãy các cuộc hành quân “tìm diệt” của chúng. Thực hiện chủ trương đó, cuối năm 1967, Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch tiến công Đường 9 – Khe Sanh2, nhằm dụ quân Mỹ lên để giam chân và tiêu diệt chúng tại đó, tạo ra kẽ hở, điểm yếu ở các đô thị. Trong khi đó, giới chức chỉ huy quân sự Mỹ và Sài Gòn cho rằng bộ đội chủ lực ta có rất ít kinh nghiệm tác chiến trong thành phố, lực chưa đủ mạnh để tiến công vào các cơ quan đầu não của chúng; bởi, đây là những mục tiêu được canh phòng cẩn mật, với hệ thống thiết bị cảnh giới tinh vi, hỏa lực ngăn chặn mạnh và dày đặc nhiều tầng, nhiều lớp. Từ đánh giá sai về ta, lại “tuyệt đối hóa” sức mạnh của vũ khí, thiết bị chiến trường, nên từ chỉ huy đến binh sĩ của quân đội Mỹ cũng như quân đội ngụy chủ quan, mất cảnh giác. Do vậy, chọn đô thị là hướng tiến công chủ yếu là ta đã chọn đánh vào điểm yết hầu, hiểm yếu của kẻ thù. Đòn hiểm đó đã phơi bày sự thất bại về quân sự và sự yếu kém của Mỹ và chính quyền ngụy. Lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta đã đưa được chiến tranh vào đô thị, thực hiện một đòn đánh hiểm, đánh đau vào “trung tâm đầu não” của địch; đồng thời, khẳng định: với đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, sáng tạo của Đảng thì mọi điều đều có thể xảy ra, dù khó khăn, phức tạp đến mấy. Đó chính là tư duy chiến lược, chiến thuật của những bộ não chỉ huy và trực tiếp điều hành chiến tranh thời đại Hồ Chí Minh; sự sáng tạo, độc đáo, vượt trước của Đảng ta trong cuộc đấu mưu, đấu trí sinh tử với kẻ thù. Sau thảm bại trong Tết Mậu Thân, với tâm trạng hoang mang, dao động, nhiều giới chức quân sự và chính khách Mỹ đã tự hỏi: Tại sao nửa triệu lính Mỹ và hơn 70 vạn lính Nam Việt Nam cộng tác, có ưu thế hoàn toàn trên không và ngoài biển, được cung cấp quá đầy đủ và được trang bị những vũ khí hiện đại nhất lại không có khả năng bảo vệ được thành phố khỏi bị đối phương tấn công! Chính nội dung câu hỏi đã lộ rõ và thừa nhận về sự bị động và bất ngờ của quân Mỹ – lực lượng đóng vai trò chủ chốt trong chiến lược “chiến tranh cục bộ”.

Ngoài ra, nét độc đáo về nghệ thuật tạo bất ngờ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân còn được thể hiện ở cách thức phát hiệu lệnh tiến công. Để bảo đảm bí mật, bất ngờ tuyệt đối, hiệu lệnh khởi phát cuộc Tổng tiến công Tết của ta được ấn định vào thời điểm giao thừa, lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thơ chúc mừng năm mới trên Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, một phương tiện thông tin đại chúng, có độ lan tỏa rộng, nhanh và ít bị địch chế áp, theo dõi. Vì thế, Lời chúc Tết Mậu Thân của Bác trở thành một sự kiện gây bất ngờ đối với quân thù. Như vậy, hiệu lệnh của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân cũng thực sự là một hiện tượng thật đặc sắc, góp thêm một bất ngờ nữa đối với Mỹ và Quân đội Sài Gòn.

Tóm lại, nghệ thuật tạo bất ngờ đối với Mỹ và Quân đội Việt Nam cộng hòa thực sự là một trong những nhân tố đóng vai trò quyết định thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Đây là “sản phẩm đặc biệt” của tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh; nét đặc sắc đáng ghi nhớ nhất, hấp dẫn nhất của sự kiện Tết Mậu Thân đã diễn ra cách đây 45 năm, trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt. Bài học kinh nghiệm về nghệ thuật tạo bất ngờ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) nói riêng, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, vẫn mãi giữ nguyên giá trị để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Đại tá, TS. NGUYỄN HUY THỤC
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
tapchiqptd.vn

—————
1 – Đêm 30 rạng ngày 31-01-1968 – đêm giao thừa và ngày Mùng 1 Tết Mậu Thân.
2 – Chiến dịch bắt đầu từ ngày 20-01-1968.