Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Mở đường vào Tây Bắc (Kỳ 1)

Kỷ niệm 60 năm trận Mộc Châu (11-1952 / 11-2012)

QĐND – Tháng 11-2012 là tròn 60 năm ngày quân đội ta đánh thắng trận Mộc Châu (Sơn La), mở đường lên chiến trường Điện Biên Phủ và vùng Thượng Lào. Mộc Châu hôm nay đã trở thành vùng đất trù phú, dân cư đông đúc và là vùng có nhiều tiềm năng du lịch của miền Tây nhưng chắc ít người biết tới trận đánh năm ấy. Tôi đã đi tìm gặp ông Đặng Văn Việt, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 (Sư đoàn 316) năm xưa được giao nhiệm vụ chỉ huy đơn vị đánh trận Mộc Châu để nghe ông kể về chiến công cách đây hơn nửa thế kỷ…

Kỳ 1: Trọng điểm trên cao nguyên

Tôi đã từng viết câu chuyện về Sư đoàn 335 hành quân lên bảo vệ Mộc Châu và thành lập Nông trường Quân đội Cờ Đỏ năm 1955 để xây dựng miền đất này. Và hôm nay tôi gặp ông, để nghe ông kể về trận đánh phá tan khu vực phòng thủ Mộc Châu của thực dân Pháp, mở đường cho bộ đội và dân công tiến lên chiến trường Điện Biên Phủ, tiếp tế lương thực và chuẩn bị cho trận đánh quyết định 2 năm sau đó. Trong căn phòng tập thể chưa đầy 15m2, người lính già đã 93 tuổi vẫn hào sảng kể lại trận chiến năm ấy…

Khi đó phân khu Mộc Châu có một vị trí rất đặc biệt, nằm giữa Quân khu Tây Bắc, dưới Sơn La, trên Hòa Bình, án ngữ trục Quốc lộ 6 và ngã ba Pa Háng để sang Lào. Ông Việt nhấn mạnh, đồn Mộc Châu là hệ thống phòng thủ của Pháp với sự bố phòng đặc biệt khi nằm trên một núi đá tai mèo, có chiều dài gần 500m, vách đứng thành vại và được bố trí tới gần 100 hỏa điểm cố định thay cho lô cốt, 2 vạn quả mìn, 2.000 tấn dây thép gai rào thành nhiều tầng lớp… Ban ngày leo lên được núi còn khó, chưa nói gì tới ban đêm. Đồn Mộc Châu khi đó như một con nhím khổng lồ, húc vào là chỉ có chết. Đồn có một tiểu đoàn lính Thái, một đại đội biệt kích, quân số chừng 450 tên, được trang bị 2 đại bác 94mm, 2 cối 81mm, trọng liên 20mm, 2 đại liên, 27 trung liên… Trong số gần 100 hỏa điểm, mỗi hỏa điểm bố trí 2-3 người, có dự trữ đủ đạn dược, lương thực để chiến đấu lâu dài. Ngoài ra, địch chất dây thép gai thành 4 lớp bùng nhùng để không thể phá bằng bộc phá. Mìn được gài gắp nơi, trên các nẻo đường, trong vườn rau và cả trên lớp dây thép gai… Trên đỉnh núi, địa hình được san phẳng để làm đài quan sát, đặt trung tâm hỏa lực, thông tin và chỉ huy. Ngoài đồn chính, địch còn bố trí hai trạm tiền tiêu, mỗi trạm một tiểu đội là Pom Lót và Pom Thơm.

Trung đoàn trưởng đầu tiên của Trung đoàn 174 Đặng Văn Việt.

Đã 60 năm trôi qua, nhưng Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt vẫn nhớ rõ. Đời binh nghiệp của ông chỉ có 15 năm, ông đã chỉ huy đánh hơn 100 trận lớn nhỏ nhưng trận Mộc Châu với ông là một ký ức đặc biệt. Ông gọi đó là một trận đánh tuyệt đẹp. Khi ấy, người Trung đoàn trưởng mới 32 tuổi đã có biệt danh Hùm xám đường số 4. Trong chiến đấu, yếu tố bí mật, bất ngờ là vô cùng quan trọng, tuy nhiên ở trận Mộc Châu này không có nhiều điều bất ngờ. Chiến dịch mở ra từ ngày 13-10-1952 mà đêm 19-11-1952 ta mới công đồn, vì vậy trinh sát của địch đã theo dõi khá kỹ mọi động thái của quân ta. Điều bất ngờ ở đây, có chăng chỉ có thể là cách đánh sáng tạo mà thôi. Theo nhận định lúc bấy giờ của chúng ta, nếu không đánh được đồn Mộc Châu trong đêm 19-11-1952 thì những đêm sau khó mà đánh vì Pháp sẽ cho máy bay B26 ném bom làm tan tác cả núi rừng xung quanh, ta không còn chỗ trú ẩn mà tiếp tục công đồn…

Diệt đồn Ca Vịnh, Ba Khe, Thượng Bằng La

Người lính già đã sống gần trọn thế kỷ, nheo mắt nhìn ra ô cửa nhỏ của căn phòng tập thể đầy nắng thu. Có lẽ lúc này mọi ký ức của trận đánh cách đây hơn nửa thế kỷ đang ùa về với ông… Khi ấy Bộ Tổng tư lệnh chủ trương mở chiến dịch Tây Bắc với mục đích tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng vùng Tây Bắc rộng lớn. Trận Mộc Châu là một trận then chốt của chiến dịch. Nếu đồn Mộc Châu không bị tiêu diệt thì coi như chiến dịch bế tắc, ta không thể khống chế đường số 6. Thế trận của địch vẫn vững chắc và chưa biết khi nào chúng ta mới giải phóng được Tây Bắc. Nếu ta không làm chủ được Mộc Châu thì hàng trăm xe vận tải chở đầy ắp gạo đang chờ ở Hòa Bình để lên tiếp tế cho cả vạn quân dân sẽ bị chặn lại. Và 15 ngày lương trên vai từng cán bộ, chiến sĩ, dân công sẽ cạn kiệt… Tư tưởng quân sự được xác định khi đó là “cưỡi lên đầu hổ – đánh từ nóc nhà đánh xuống”.

Trung đoàn 174 trước giờ xuất trận.

Trung đoàn 174 (E174) là một cánh quân chủ lực mạnh, nằm trong đội hình của Sư đoàn 316, được giao nhiệm vụ làm một mũi tiến công vào Tây Bắc từ hướng Yên Bái, đặc biệt là đánh đồn Mộc Châu. Thời điểm nhận nhiệm vụ, E174 đang đóng quân trên vùng Đông Bắc trung du (Mẹt – Bắc Giang) được lệnh hành quân qua Thái Nguyên, tập kết ở bến Âu Lâu (tả ngạn sông Thao, thuộc tỉnh Yên Bái). Việc chỉ huy hành quân của đơn vị được giao cho Chính ủy Chu Huy Mân (sau này là Đại tướng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước), còn Trung đoàn trưởng tổ chức đi khảo sát thực địa và lo kế hoạch tác chiến. Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt khi ấy đã không ít lo nghĩ, suy tư bởi E174 từ khi thành lập (năm 1949) đến nay chỉ hoạt động trên chiến trường Đông Bắc, dọc đường số 4 theo biên giới Việt – Trung, nay lại được giao tác chiến trên một địa bàn hoàn toàn mới. Chính vì vậy đoàn trưởng đã tổ chức một đội trinh sát và đích thân dẫn đầu để thăm dò tình hình cũng như địa thế khu vực này. Sau đợt thực địa hơn chục ngày, Trung đoàn trưởng Việt xác định rõ, muốn tiếp cận Mộc Châu, trước tiên phải diệt các đồn tiền tiêu Ca Vịnh, Ba Khe và Thượng Bằng La. Oái oăm thay, đúng ngày định ra lệnh tiến công đồn Ca Vịnh đầu tiên thì hầu hết cán bộ chủ chốt của trung đoàn lăn ra sốt rét. Ngay cả Trung đoàn trưởng cũng nằm bẹp không dậy nổi. Vào thời điểm gấp rút, cam go ấy, Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt đã quyết định vẫn phải đánh, ông yêu cầu quân y tăng liều thuốc cao chạy chữa cho cán bộ, còn riêng mình sử dụng lượng thuốc gấp đôi để đẩy lùi cơn sốt, cùng trung đoàn ra trận. Ngay sau đó, một số tiểu đoàn trưởng và chỉ huy đại đội chủ chốt gượng dậy được và bám lấy đơn vị. Trung đoàn trưởng vẫn chưa khỏe nhưng đã ngồi trên cáng để anh em khiêng tới vị trí chỉ huy trận đánh. Nhưng trên đường cáng ra trận địa, có những dân công nhìn thấy xì xào: “Thương binh mà lại cáng ra trận à?”. Sợ việc ngồi cáng sẽ ảnh hưởng đến tinh thần của bộ đội trước khi bước vào trận đánh nên Trung đoàn trưởng Việt đã cương quyết rời khỏi cáng, nhờ đồng chí cần vụ buộc mình vào lưng ngựa để đi… Nhưng ông chỉ trụ được trên lưng ngựa tới chân đồi thì phải xuống vì quá mệt. Quyết phải đi tới đích, ông tiếp tục yêu cầu hai chiến sĩ buộc dây vào thân người kéo lên dốc, hai chiến sĩ đẩy lưng đằng sau để tiến lên đỉnh đồi… Bằng cách ấy, người chỉ huy đã tiếp cận được trận địa để chỉ huy bộ đội tác chiến. Sau thắng lợi diệt đồn Ca Vịnh, bộ đội ta thu toàn bộ vũ khí quân dụng, bắt sống tên quan hai và 20 tù binh. Thắng lợi đó tạo đà cho Trung đoàn 174 tiêu diệt tiếp đồn Ba Khe và Thượng Bằng La, là những đồn tiền tiêu bảo vệ phía đông của Tây Bắc bị quét sạch. Niềm vui chiến thắng diệt 3 đồn địch liên tiếp đã thổi thêm sức mạnh cho bộ đội E174 đẩy lùi sốt rét, hành quân 3 ngày đêm để tiếp cận đồn Mộc Châu.

Người lính già Đặng Văn Việt cho biết: “Với cán bộ, chiến sĩ E174 chúng tôi khi đó, niềm vui và sự tự tin đầy ắp. Lần đầu tác chiến ở một địa bàn mới mà đã hoàn thành nhiệm vụ, diệt 3 đồn tiền tiêu của Tây Bắc. Đó là động lực lớn lao thúc giục chúng tôi hành quân nhằm đồn Mộc Châu thẳng tiến”. Sau khi hành quân tới Mộc Châu, Trung đoàn 174 đóng quân cách đồn địch khoảng 12km, trong khu rừng chuối ven Quốc lộ 6. Giữa núi rừng Tây Bắc hoang sơ, hùng vĩ, tại một lòng suối cạn trong khe núi, Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt cùng các chỉ huy đơn vị Nguyễn Hữu An (sau này Thượng tướng, Giám đốc Học viện Quốc phòng), Lê Hoàn, Thanh Tâm, Lê Vũ, Đình Giang, Hùng Quốc… đã họp bàn để thống nhất phương án tác chiến…

———–

Kỳ 2: Công đồn Mộc Châu

Ghi chép của Hoàng Trường Giang
qdnd.vn

Ngày 16 tháng 1: Xây dựng CNXH phải lấy “Cần” làm gốc

Thứ sáu, 16/01/2009, 01:59 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 74 năm, ngày 16-1-1935, Nguyễn Ái Quốc lúc này đang ở Liên Xô đã viết “Thư gửi Ban Phương Đông” của Quốc tế Cộng sản nêu lên tình trạng thiếu lý luận cách mạng của đa số cán bộ của Đảng Cộng sản Đông Dương, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia… và cho rằng nhiều vấp váp sai lầm hay bế tắc của phong trào cộng sản ở đây đều bắt nguồn từ “trình độ lý luận rất thấp”và yêu cầu “phải giúp đỡ các đồng chí của chúng ta khắc phục những khó khăn ấy bằng cách tạo điều kiện cho các đồng chí tiếp thụ được những kiến thức sơ đẳng nhất mà mỗi chiến sĩ đều phải có”.

Nguyễn Ái Quốc còn nêu tên các tài liệu cần được xuất bản dưới dạng các cuốn sách nhỏ như Tuyên ngôn Cộng sản, Lịch sử Quốc tế Cộng sản, Luận cương và nghị quyết về vấn đề thuộc địa. Bức thư kết luận rằng đó là những “biện pháp duy nhất có hiệu quả” để chấm dứt tình trạng lạc hậu về lý luận cách mạng ở các nước thuộc địa như Đông Dương, nơi mà Đảng phải hoạt động bất hợp pháp và trình độ văn hóa của người lao động còn thấp.

12 năm sau, ngày 16-1-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo “Lời kêu gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến”.

Sau “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” ngày 19-12-1946, thì đây là một văn kiện quan trọng kêu gọi toàn dân tiếp tục cuộc kháng chiến bằng những việc làm cụ thể. Văn kiện viết: “Vì sao ta phải kháng chiến? Vì không kháng chiến thì Pháp sẽ cướp nước ta lần nữa. Chúng sẽ bắt dân ta làm nô lệ lần nữa. Vì ta không chịu làm trâu ngựa cho Pháp, vì ta phải gìn giữ non sông đất nước ta, cho nên ta phải đánh bọn thực dân Pháp. Đánh thì phải phá hoại… Ta vì nước hy sinh chịu khổ một lúc. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, ta sẽ cùng nhau kiến thiết sửa sang lại nào có khó gì”.

Trên báo Nhân Dân ra ngày 16-1-1960, Bác viết bài báo “Lấy Cần làm gốc” phân tích những cách nhìn nhận phiến diện về chủ nghĩa xã hội và cho rằng: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải lấy “Cần” làm gốc. “Cần” là lao động cần cù và sáng tạo. Năng suất lao động càng tăng là nguồn no ấm của chúng ta”.

Ngày 16-1-1961, Bác đến thăm Viện Đông y và căn dặn: “Thầy thuốc cắt thuốc tốt mà sắc thuốc không tốt thì chữa bệnh vẫn chưa tốt. Thầy thuốc cắt thuốc tốt và sắc thuốc tốt nhưng nấu ăn không tốt, để giường có rệp, muỗi cắn hút máu của người bệnh thì chữa bệnh cũng không tốt. Cho nên phải đoàn kết trên dưới thành một khối như chiếc máy đồng hồ vậy”.

Ngày 16-1-1966, Bác nói chuyện với Hội nghị cán bộ cao cấp nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị 12 của Trung ương Đảng. Phân tích sự can thiệp và mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ, Bác khẳng định: “Bây giờ Mỹ có 20 vạn quân ở miền Nam, nó có thể đưa thêm vào hơn nữa đến 30, 40, 50 vạn quân. Ta vẫn thắng và nhất định thắng”. Lịch sử đã chứng minh nhận định trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành hiện thực.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 15 tháng 1: Lênin dạy chúng ta chống tham ô, lãng phí

Thứ năm, 15/01/2009, 02:48 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 15-1-1923 (cách đây 86 năm), Nguyễn Ái Quốc với tư cách là một đảng viên thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp tích cực hoạt động nhằm thu hút sự chú ý của chính giới đối với vấn đề thuộc địa nói chung, xứ sở Đông Dương của mình nói riêng. Vào ngày 15-1-1923, bài báo “Những người bản xứ được ưa chuộng” đăng trên tờ “Người Cùng khổ” (Le Paria).

Bằng một giọng văn hài hước sắc sảo và sâu cay, tác giả lấy tích truyện “Othenlo” của đại văn hào Shakespeare để liên tưởng đến thân phận những người da màu trên nước Pháp hiện đại, bóc trần những thủ đoạn và sự tuyên truyền lừa bịp về nền dân chủ và công lý…

23 năm saungày 15-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh (số 5) hủy bỏ quyền quản lý và sử dụng đường sắt Hải Phòng – Vân Nam của Công ty Hỏa xa Vân Nam. Đây là một trong những thế lực mạnh của nền kinh tế thuộc địa. Nó độc quyền khai thác con đường huyết mạch nối vùng Tây Nam Trung Quốc thông ra biển, ra cảng Hải Phòng. Không chỉ người Pháp mà lúc này Trung Hoa Quốc dân Đảng cũng muốn nắm. Theo sắc lệnh này thì toàn bộ tài sản của công ty này thuộc quyền sở hữu và sử dụng của nhà nước Việt Nam.

Để ổn định trị an, Bác cũng ký sắc lệnh (số 6) về hình phạt đối với tội trộm cắp, tự ý phá hủy, cắt dây điện thoại hoặc tàng trữ các loại vật tư có liên quan; và sắc lệnh bổ sung về chức năng của Tòa án quân sự. Trong tàng thư hiện còn một lá thư đề ngày này năm 1947, nội dung yêu cầu Văn phòng Chính phủ chuẩn bị soạn thảo sắc lệnh lưu ý trong các văn bản của nhà nước nên viết ngắn gọn, dễ hiểu và “không dùng tiếng Tây”.

Ngày 15-1-1950, trong thư viết cho Hội nghị công an toàn quốc (lần thứ 5), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Xây dựng bộ máy công an nhân dân tức là công an phải có tinh thần phục vụ nhân dân, là bạn dân… Tổ chức phải giản đơn thiết thực, tránh cái tệ hình thức, giấy má. Lề lối làm việc phải dân chủ. Phải hoan nghênh nhân dân phê bình công an, để đi đến hiểu công an, yêu công an và giúp đỡ công an”.

Ngày 15-2-1952 (cách nay 57 năm), Bác ký sắc lệnh truy tặng Huân chương Độc lập hạng ba cho nữ anh hùng dân quân Bùi Thị Cúc, quê ở Hưng Yên, vì đã giữ vững khí tiết người chiến sĩ cách mạng khi bị giặc Pháp bắt và giết hại một cách dã man.

Ngày này một năm sau đó (1953), chuẩn bị kỷ niệm lần thứ 30 ngày Lênin mất (21-1-1924 – 21-1-1954) Bác viết bài “Kỷ niệm Lênin” đăng trên báo Nhân Dân. Bài báo nêu lên những bài học sâu sắc: “Lênin dạy chúng ta chống quan liêu, tham ô, lãng phí. Dù vô tình hay cố ý, duy trì 3 bệnh ấy tức là giúp sức cho kẻ địch và làm hại cho nhân dân, cho Chính phủ, cho Đảng… Chúng ta kỷ niệm đồng chí Lênin, thương nhớ đồng chí Lênin thì càng phải học tập và thực hành chủ nghĩa Mác – Lênin. Đó là con đường duy nhất cho chúng ta đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 14 tháng 1: “Tôi chẳng sợ chết, cũng chẳng sợ tù đày”

Thứ tư, 14/01/2009, 01:31 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 14-1-1920 (cách đây 89 năm), Nguyễn Ái Quốc lúc này là Thư ký “Nhóm người cách mạng An Nam”, tại Pháp có một cuộc diễn thuyết vào lúc 20 giờ 30 tại số 3 đường Chateau, Paris với đề tài “Sự tiến triển trong xã hội các dân tộc vùng châu Á và những lời yêu cầu của xứ An Nam”. Theo báo cáo của mật thám Pháp, mấy ngày sau (19-1), trả lời câu hỏi của một người đồng bào tên là Lâm e ngại việc làm của Nguyễn Ái Quốc là quá mạnh, nhà cách mạng trẻ thẳng thắn trả lời: “Nếu ai hỏi tôi là “Nhóm người cách mạng An Nam” ở đâu, tôi sẽ trả lời là 20 triệu người ở trong nước, họ đã phản đối hàng ngày, nhưng bị đàn áp, bị dìm đi. Nói cho cùng, ai làm gì tôi? Lưu đày tôi ư? Hoặc cắt đầu tôi? Điều ấy có xảy đến tôi cũng bất cần!”.

Một năm sau, ngày 14-1-1921, Nguyễn Ái Quốc vào bệnh viện Côsanh ở Paris để mổ áp xe vai. Ca mổ thực hiện vào ngày 19-1 và phải điều trị tại đó cho đến 25-3-1921. Trong thời gian này mật thám Pháp luôn theo dõi sát sao những tiếp xúc của nhân vật trong Đại hội Tours cuối năm trước đã bỏ phiếu theo Quốc tế III. Dưới đây là đoạn trích trong đối thoại của Nguyễn Ái Quốc với viên mật thám giả là khách đến thăm:

– “…Tại sao ông lại thích làm chính trị? Ông không sợ bị theo dõi, ông không sợ người ta làm hại ông?

– Nguyễn Ái Quốc: Chẳng hề chi. Tôi thích làm chính trị thì tôi chẳng sợ chết cũng chẳng sợ tù đày. Trong đời này, chúng ta chỉ chết có một lần, tại sao lại sợ?… Tôi vẫn luôn luôn có ý thành lập một tổ chức dưới hình thức một hội thân hữu để tất cả những người Đông Dương tại Pháp gặp gỡ nhau, học hỏi về chính trị. Không cần đông lắm. Để thành một lực lượng mạnh mẽ, điều cần thiết là phải đồng ý với nhau về quan điểm và có tinh thần yêu nước…”.

5 năm sau, ngày 14-1-1926, Nguyễn Ái Quốc đã ở Trung Quốc với bí danh là Vương Văn Đạt được mời đến phát biểu tại Đại hội lần thứ II của Quốc dân Đảng Trung Hoa. Kết thúc bài phát biểu, đại biểu Vương kêu gọi: “Tất cả các dân tộc bị áp bức đều cùng chịu sự áp bức của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta phải cùng nhau liên hiệp lại, đánh đổ đế quốc Pháp, đánh đổ chủ nghĩa đế quốc trên thế giới… Không phân biệt nước nào, dân tộc nào, tất cả hãy đứng lên chống kẻ thù chung của chúng ta!”.

20 năm tiếp theo, ngày 14-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 4 về việc cử người vào Ủy ban nghiên cứu kế hoạch và kiến thiết, một cơ quan tư vấn được thành lập từ cuối năm 1945. Trong danh sách bổ sung có nhiều nhà trí thức lớn như Đào Duy Anh, Đặng Văn Hưởng, Nguyễn Cao Luyện, Bùi Công Trừng, Nghiêm Xuân Yêm, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Thiệu Lâu, Hoàng Văn Đức…

Sức thu hút nhân tài của Bác Hồ không chỉ mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân mà thực sự đã quy tụ được trí tuệ của dân tộc.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 13 tháng 1 – Thủ đô phải là thành phố gương mẫu

Thứ ba, 13/01/2009, 03:23 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhHồ sơ mật thám của Pháp cho biết, ngày 13-1 cách đây 86 năm (1923) Nguyễn Ái Quốc nhận được tập “Kỷ yếu nhân quyền” và tham dự một buổi họp của chi bộ cộng sản vùng Seine tại trụ sở số 100 đường Cardinet (Paris).

Cũng bản báo cáo này cho biết trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc thường xuyên đến nhà của luật sư Phan Văn Trường. Hôm ấy, Bác dùng cơm trưa với Nguyễn Thế Truyền và Phạm Cao Lục. Nguyễn Thế Truyền vào thời điểm này đang cộng tác với Bác để làm tờ “Việt Nam Hồn”. Cũng trong ngày 13-1, Bác còn tham gia sinh hoạt của “Hội của những người An Nam làm nghề nấu bếp và giúp việc nhà”.

Thời gian này Nguyễn Ái Quốc càng quan tâm đến vấn đề nông dân nên ngày này 83 năm trước (13-1-1926), Nguyễn Ái Quốc viết thư tới Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân tha thiết đề nghị cung cấp tài liệu về nông dân để “có thể dịch ra tiếng Trung Quốc dùng cho việc tuyên truyền…”.

Năm 1947, chiến tranh đã lan rộng trên cả nước, bên cạnh việc chỉ đạo cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nỗ lực thúc đẩy các hoạt động ngoại giao nhằm tranh thủ hòa bình, đặc biệt là hướng về các nước láng giềng châu Á.

Ngày 13-1-1947, Chủ tịch nước Việt Nam viết “Thư gửi lãnh tụ và nhân dân các nước”, trong đó nêu rõ: “Việt Nam chỉ muốn hòa bình và độc lập để cộng tác thân thiện với các dân tộc trên thế giới, trước là với dân tộc anh em Á Đông và dân tộc Pháp… Vì Tổ quốc, vì tự do, nhân dân Việt Nam kiên quyết kháng chiến đến cùng. Vì nhân đạo, vì chính nghĩa, vì hòa bình chung và lợi ích chung, nhân dân Việt Nam mong các vị giúp đỡ mọi phương diện”.

Ngày 13-1-1960, tức cách đây 49 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh ban bố Luật Hôn nhân gia đình. Trong bài nói tại Đại hội đại biểu nhân dân Hà Nội diễn ra vào buổi tối cùng ngày ký sắc lệnh, Bác Hồ nêu rõ ý nghĩa lịch sử của bộ luật này:“Có quan hệ mật thiết đến mọi người dân trong nước, đến cả nòi giống Việt Nam ta. Đạo luật ấy làm cho gái trai thật sự bình quyền, gia đình thật sự hạnh phúc. Toàn thể đồng bào ta đều nhiệt liệt hoan nghênh đạo luật chí tình chí lý ấy”.

Cũng trong bài phát biểu này, người đứng đầu Nhà nước chỉ thị: “Đồng bào thủ đô phải thật gương mẫu trong mọi công tác. Thủ đô phải là một thành phố gương mẫu cho cả nước”.

Hai năm sau, trong phát biểu tại cuộc họp của Bộ Chính trị (ngày 13-1-1962) khi bàn về ngân sách nhà nước, Bác nhấn mạnh đến nguyên tắc: ““Khai nguyên tiết lưu” có nghĩa là cái gì cần tập trung thì tập trung, cái gì giảm được thì kiên quyết giảm sao cho dưới thông, dân thông… Chống lãng phí tham ô cần có biện pháp…”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh tặng danh hiệu “Anh hùng lao động” cho Thiếu tá Iuri Gagarin, phi công vũ trụ Liên Xô, người đầu tiên được lên vũ trụ trên con tàu “Phương Đông I” ngày 24-1-1961.

D.T.Q. và nhóm cộng sự.
sggp.org.vn

Ngày 12 tháng 1 – Thiện chí có nguyên tắc

Thứ hai, 12/01/2009, 01:24 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày này 76 năm trước (12-1-1933), sau khi Tòa án Anh ở Hồng Kông ra lệnh thả, Nguyễn Ái Quốc quyết định đi Anh, nhưng tàu vừa cập cảng Singapore thì chính quyền sở tại theo yêu cầu của nhà cầm quyền ở Hồng Kông ra lệnh cho nhà cách mạng Việt Nam phải quay lại nơi xuất phát. Cách đó mới hơn một năm (tháng 6-1931), Bộ thuộc địa Pháp đã cảnh báo “Việc trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc chỉ có thể làm trầm trọng thêm những hoạt động có hại của phong trào Đông Dương mà các Sở an ninh Đông Dương đều biết là ông ta đã tập trung tất cả trí thông minh, quyền lực và sự nổi tiếng của mình”.

14 năm sau, ngày 12-1-1947, lần đầu tiên kể từ khi chiến tranh lan rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời một nhà báo Mỹ trong đó một lần nữa bày tỏ “Nhân dân Việt Nam hy vọng Mỹ sẽ giúp các dân tộc nhỏ giành được độc lập như Tổng thống Rudơven thường nói” đồng thời sẵn sàng tiếp đón những phóng viên Mỹ muốn đến tìm hiểu tình hình Việt Nam.

Vậy mà 20 năm sau đó (1967), Mỹ chẳng những không ủng hộ nền độc lập của Việt Nam mà còn trở thành kẻ trực tiếp tiến hành cuộc chiến tranh khốc liệt trên cả hai miền Nam, Bắc nước ta. Đó cũng là lúc phong trào chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đang dâng cao trên khắp thế giới.

Với một tầm nhìn xa, một mặt Bác cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của quân dân trên các chiến trường, mặt khác lại rất quan tâm chỉ đạo việc mở ra mặt trận ngoại giao nhân dân. Ngày 12-1 năm đó, Bác tiếp đoàn Tòa án Quốc tế sang Việt Nam điều tra tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ và cùng ngày đã tiếp Giáo sư H.S. Atxmôrơ, chủ bút tờ “Nhật báo Acansat” cùng hai nhân vật nữa là những người đã nhận sứ mạng của Bộ Ngoại giao Mỹ thăm dò khả năng chấm dứt chiến tranh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tâm sự một cách chân tình và thẳng thắn: “Tôi chưa có thời gian nào để lấy vợ và lập gia đình. Tôi nói với thanh niên Việt Nam rằng họ là con cháu tôi, vì vậy tôi sống rất bình yên và giản dị. Tôi ngủ ngon ngay cả khi có việc ném bom của các ông”.

“Chúng tôi không đánh nước Mỹ. Chúng tôi không phạm một hành động đối địch nào vào lãnh thổ các ông… Trong khi những hành động chiến tranh còn tiếp diễn thì các ông đừng mong chúng tôi đến bàn thương lượng. Làm như vậy không phải là thương lượng mà đó là đi xin hòa bình, là đầu hàng… Khi nào chấm dứt bom thì cuộc đối thoại sẽ bắt đầu”; “Nhân dân chúng tôi là người có lý trí, biết suy nghĩ, yêu hòa bình. Chúng tôi muốn kết thúc cuộc chiến tranh này. Nhưng nền độc lập, tự do của Việt Nam không bao giờ lại bị đưa ra thương lượng”.

Cuộc tiếp xúc này là tín hiệu để phía Mỹ nhận thức được thiện chí có nguyên tắc của phía Việt Nam nhằm đi đến bàn hội nghị đã diễn ra ngay sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vào mùa xuân năm Mậu Thân (1968) tại Paris (Pháp).

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 11 tháng 1 – Hồ Chí Minh giống một vị thánh

Chủ nhật, 11/01/2009, 03:50 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 11-1 cách đây 76 năm, dưới cái tên Tống Văn Sơ, Nguyễn Ái Quốc đang chuẩn bị cho chuyến trở về nước Nga xô viết. Bị bắt từ 6-6-1931 khi đang hoạt động ở Hồng Công, qua 9 phiên xét xử, được sự giúp đỡ của một số luật sư tiến bộ người Anh trong đó có ông Loseby, ngày 28-12-1932, Nguyễn Ái Quốc được thả tự do.

Lập luận của các luật sư là bộ máy cảnh sát và tư pháp của Hồng Công đã vi phạm bộ “Luật bảo thân” (Habeas Corpus). Từ thời điểm đó đến ngày 11-1-1933, được sự giúp đỡ của những luật sư Anh và một số cơ sở cách mạng của người Việt Nam, Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc tìm cách rời Hồng Công tiếp tục hoạt động trong chuyến tàu khởi hành vào ngày hôm sau trên hành trình đến nước Nga, nhưng ghé qua cảng Singapore.

Ngày 11-1-1946 từ Thái Bình, Bác đi thăm tỉnh Nam Định. 7 giờ sáng, đông đảo nhân dân đã tề tựu trước Ủy ban Hành chính thành phố nghe vị Chủ tịch nước nói chuyện với đồng bào về những nhiệm vụ kháng chiến, cứu đói. Sau đó Bác đến thăm và chia quà cho trẻ em ở trại mồ côi Nam Định.

Tại đây, Bác cảm động nói với bà phước: “Tôi ghé qua đây thăm bà và các cháu. Tôi thay mặt các cháu không cha, không mẹ đó cảm ơn bà đã trông nom chúng như một người mẹ. Chúng tội tình gì mà tội nghiệp quá”. Rời Nam Định, Bác đi thăm Phủ Lý và nói chuyện với dân chúng đến chào đón vị Chủ tịch nước.

Theo hồi ký của một sĩ quan Mỹ trong đơn vị Tình báo chiến lược của Mỹ (OSS) mang bí danh “Con Bò” là Georges Wickes đang đóng tại Sài Gòn được lệnh ra Hà Nội vào đầu năm 1946 để thực hiện cuộc phỏng vấn người đứng đầu nhà nước Việt Nam. Sau đó, Wickes đã viết một bức thư gửi cho mẹ nói về cảm nhận của mình đối với nhân vật lần đầu được tiếp xúc (bức thư về sau được công bố khi tác giả đã trở thành một giáo sư đại học). Thư viết:

“Ông Hồ mặc quân phục, nhưng một cách giản dị không có bất kỳ phù hiệu nào. Khi hỏi rằng ông có phải là người cộng sản không? Ông Hồ không hề giấu giếm sự thật. Nhưng khi hỏi rằng phải chăng điều đó có nghĩa là Việt Nam sẽ trở thành đất nước cộng sản, ông nói rằng ông không phải là người xác định điều này, bản sắc chính trị của đất nước phải được quyết định bởi nhân dân… Hồ Chí Minh hoàn toàn giống vị thánh tử vì đạo và trong thực tế ông đã cống hiến hầu như toàn bộ 60 năm kỳ diệu của đời mình cho sự nghiệp của dân tộc…

Và khi được hỏi rằng Hồ Chí Minh là một người như thế nào? Con sẽ mô tả ông như sự kết hợp giữa Thánh Francis xứ Assisi và Abraham Lincoln” (Thánh Francis là vị thánh biểu trưng cho tình nhân ái, chống bạo lực và thân thiện với thiên nhiên; còn A.Lincoln là vị tổng thống đoàn kết toàn dân xây dựng thể chế dân chủ của Hoa Kỳ).

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 10 tháng 1 – Giá trị của tự do là cơm no, áo ấm

Thứ bảy, 10/01/2009, 02:10 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 10-1-1923 (cách đây 86 năm), từ Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Quốc tế Cộng sản thúc hỏi về việc có thể nhận bao nhiêu sinh viên Việt Nam vào học Trường Đại học Cộng sản Mátxcơva.

23 năm sau, ngày 10-1-1946, tại Hà Nội, trong cương vị là người đứng đầu Nhà nước Việt Nam độc lập, Hồ Chí Minh đã tham dự phiên họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu Kế hoạch Kiến quốc, một tổ chức tập hợp đông đảo các nhà chuyên môn, các nhân sĩ để tư vấn kế hoạch xây dựng đất nước.

Tại cuộc họp này, Bác Hồ chỉ rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Có thể nói đây là quan điểm nhất quán đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu ngay tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời được triệu tập chỉ một ngày sau Lễ Độc lập (3-9-1945).

Sau đó, Bác lên đường thăm tỉnh Hưng Yên mà không báo trước. Tiếp các vị thân hào tới chào mừng, Bác nói rằng: “…Bây giờ ta được độc lập, công việc đắp đê không phải là việc riêng của Chính phủ mà là của tất cả mọi quốc dân”. Bác động viên các thân hào có của, người lao động có công cùng nhau tham gia củng cố đê điều: “Nước sông cao bao nhiêu đi nữa mà lòng nhiệt tâm của các bạn cao hơn thì không bao giờ có lụt nữa”.

Bác đi thăm quãng đê vỡ ở Hưng Nhân cách thị xã 6km, tự thân lội nước thăm hỏi những người đang tham gia hàn đê rồi lên đường đi Thái Bình, tiếp đó là Nam Định, nhằm vận động các nguồn lực để củng cố đê điều cho tới khuya mới về đến nhà.

Một năm sau, khi chiến tranh đã lan rộng cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn kiên trì đấu tranh ngoại giao, tranh thủ mọi cơ hội để đàm phán mong lập lại hòa bình. Nhưng người đứng đầu cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam cũng cảnh cáo giới thực dân hiếu chiến trong lá thư đề ngày 10-1-1947 rằng: “Nếu không, chúng tôi bắt buộc phải chiến đấu đến cùng để giải phóng hoàn toàn đất nước.

Nước Việt Nam có thể bị tàn phá, nhưng nước Việt Nam sẽ lại hùng mạnh hơn sau cuộc tàn phá đó. Còn nước Pháp chắc chắn sẽ mất hết và sẽ biến hẳn khỏi cõi Á châu”. Lời tiên đoán ấy về sau đã thành sự thật.

Ngày 10-1-1960, vị nguyên thủ quốc gia xuống bến Sáu Kho (Hải Phòng) để đón chuyến tàu biển đầu tiên đưa bà con Việt kiều từ Thái Lan trở về nước. Trước đó một ngày, với bí danh V.K, Bác đã viết bài “Kiều bào ta ở Thái Lan luôn luôn hướng về Tổ quốc”, đề cập tới lịch sử di dân, biểu dương truyền thống đoàn kết ủng hộ sự nghiệp cách mạng ở trong nước và khích lệ bằng mấy vần thơ: “Mình tuy nương náu đất người / Nhưng lòng yêu nước không nguôi bao giờ”/ “Bấy lâu xa cách nước nhà / Nay về quê cũ thế là vẻ vang”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 9 tháng 1 – Một dân tộc như vậy, chắc chắn thắng lợi

Thứ sáu, 09/01/2009, 01:27 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 9-1-1921 (cách đây 88 năm), Nguyễn Ái Quốc lúc này đã tham gia sáng lập và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp nhưng vẫn đi cùng Phan Châu Trinh đến dự một cuộc họp do Chi bộ của Đảng Xã hội lúc này đã tham gia phân bộ Xã hội Cách mạng của Quốc tế III. Điều đó cho thấy sự phân hóa của tổ chức mà trước đó Nguyễn Ái Quốc đã từng tham gia là Đảng Xã hội cũng như mối quan hệ của Nguyễn Ái Quốc với những xu hướng tích cực của tổ chức này vẫn được duy trì.

Ngày 9-1-1923, báo “L’Humanité” (Nhân đạo) của Đảng Cộng sản Pháp đăng bài “Vực thẳm thuộc địa” của Nguyễn Ái Quốc. Bài báo tố cáo giới thực dân một mặt khai thác thuộc địa và bóc lột dân bản xứ thậm tệ để làm giàu không chỉ cho nước Pháp mà cho chính bọn chúng, mặt khác lại yêu cầu chính quốc phải đầu tư nhiều tỷ đồng cho các thuộc địa.

Như vậy, thực chất là chúng bòn rút chính nhân dân Pháp để phục vụ những việc làm lãng phí, xa xỉ, nuôi bộ máy quan liêu và ăn bám. Tác giả bài báo đưa ra nhiều dẫn chứng với những con số thuyết phục, trong đó có cuộc Triển lãm Thuộc địa vô cùng tốn kém đang diễn ra ở nước Pháp. Đây là thời điểm Nguyễn Ái Quốc có rất nhiều bài viết đăng trên nhiều tờ báo tố cáo chế độ thực dân mà sau này là chất liệu, để hình thành nên tác phẩm “Bản án chế độ thực dân” (Le Procès de la Colonisation) nổi tiếng.

Ba ngày sau cuộc Tổng tuyển cử, ngày 9-1-1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 3 về việc triệu tập Quốc hội vào ngày chủ nhật 3-3-1946. Để chuẩn bị cho sự kiện quan trọng này, một ủy ban trù bị gồm các nhà trí thức có danh tiếng đương thời như Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Tường Long, Vũ Đình Hòe, Cù Huy Cận, Dương Đức Hiền được thành lập.

Hồ sơ trong các cơ quan lưu trữ còn bảo tồn được bức thư Bác viết ngày 9-1-1947 gửi người đồng chí gần gũi trong văn phòng của mình là Hoàng Hữu Nam, tức Phan Bôi, trong đó nhắc Bộ Nội vụ cho đăng báo bài “Lời kêu gọi những người có văn hóa đăng ký phục vụ Tổ quốc”. Rất tiếc văn kiện này đến nay vẫn chưa sưu tầm được, nhưng chủ đề của lời kêu gọi cho thấy quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc đoàn kết và phát huy đóng góp của tầng lớp trí thức, “người có văn hóa” cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, điều mà người đứng đầu Nhà nước đã nhiều lần đề cập tới.

Ngày 9-1-1952, trên báo Cứu Quốc, trong bài viết “Thanh niên oanh liệt” ký bút danh “Đ.X”, Bác bày tỏ cảm xúc và ca ngợi tinh thần một học sinh tên là Nguyễn Quốc Ân đã chấp nhận bị tra tấn và hy sinh khi bị buộc phải viết bài văn “So sánh Hồ Chí Minh với Quốc trưởng Bảo Đại” tại một trường ở vùng bị tạm chiếm thuộc tỉnh Hưng Yên, trong đó không chịu bôi nhọ lãnh tụ. Kết luận bài báo, tác giả viết: “Một dân tộc có con cháu như vậy là một dân tộc chắc chắn thắng lợi”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 8 tháng 1 – Phải tôn trọng sự thật

Thứ năm, 08/01/2009, 04:03 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 8-1-1920 (ngày này 89 năm trước), Nguyễn Ái Quốc cùng một số trí thức Việt Nam đang ở Paris tham dự một cuộc thảo luận tại Hội Địa dư Pháp về quyền tự quyết của người Triều Tiên cũng để tranh thủ nêu vấn đề về quyền tự quyết của người Đông Dương.

26 năm sau, ngày 8-1-1946, chỉ 2 ngày sau cuộc Tổng tuyển cử, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh đi thăm Trại giam Hỏa Lò ở Hà Nội. Báo chí mô tả người đứng đầu nhà nước đã thăm khu nhà giam, nhà tắm, lớp học, buồng làm việc, trạm xá, nhà bếp và lắng nghe các phạm nhân phân trần, rồi Người khuyên họ“gắng sửa tội lỗi để xứng đáng là công dân một nước độc lập”. Chủ tịch nhắc Giám đốc trại giam xem xét lại các án tù và xin cơ quan thẩm quyền tha bớt những người nhẹ tội.

Sau đó Chủ tịch thăm Sở Cảnh sát Trung ương đóng ở phố Hàng Trống và căn dặn: Ngoài việc giữ trật tự còn phải tuyên truyền, phải đoàn kết và hợp tác với tự vệ và nhân dân thành phố. Đến Bộ Tuyên truyền, Chủ tịch nhắc nhở phải giữ thái độ khoan dung với kiều dân Pháp và “trong việc tuyên truyền phải tôn trọng sự thật, có vậy mới có nhiều người nghe”.

Cũng trong ngày hôm đó, đáp lại việc Nữ sĩ Hằng Phương gửi tặng cam Chủ tịch nước, trên tờ “Tiếng gọi Phụ nữ” (số 11), Bác đăng bài thơ “Cảm ơn người tặng cam” bằng những câu thơ ý nhị và sâu sắc:

Cảm ơn bà biếu gói cam/ Nhận thì không đúng, từ làm sao đây!/ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây / Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai!”

Một năm sau, ngày 8-1-1947, Bác lại đăng một bài thơ gửi tặng báo Độc Lập, cơ quan ngôn luận của giới trí thức và doanh nghiệp, mang tinh thần cổ vũ một năm mới đầu tiên cả nước bước vào cuộc kháng chiến gian khổ:

“Năm mới thế cho năm đã cũ / Báo Độc Lập của Đảng Dân chủ / Kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam / Đoàn kết và thắt chặt hàng ngũ / Kiên quyết kháng chiến đến kỳ cùng / Để giữ chủ quyền và lãnh thổ / Chờ ngày độc lập đã thành công / Tết ấy tha hồ bàn với cỗ.”

Cũng nhân dịp chuẩn bị đón Tết Nguyên đán, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lời kêu gọi đồng bào phải hết sức tiết kiệm, để dành tiền bạc, cơm gạo cho cuộc kháng chiến lâu dài…, ra sức thi đua tăng gia sản xuất và quan tâm đến các chiến sĩ ngoài chiến trường.

Cùng ngày, Bác Hồ còn viết thư khen ngợi các chiến sĩ bị thương “xứng đáng với Tổ quốc và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên những người con yêu quý như thế”,đồng thời khích lệ các thầy thuốc và khán hộ đã hết lòng chăm sóc thương binh:“Thế là các bạn cũng trực tiếp tham gia kháng chiến cứu quốc”.

Ngày này cách đây 50 năm, ngày 8-1-1959, Xưởng may 10 của Tổng cục Hậu cần có vinh dự được Bác Hồ đến thăm. Nửa thế kỷ qua, nhà máy này không ngừng trưởng thành và đến nay đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng trong ngành may mặc nước ta.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 7 tháng 1 – Nhịp cầu vàng

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày này 63 năm trước, ngày 7-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Chính phủ để nghe báo cáo của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ Canh nông sau chuyến kinh lý tại Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và bàn việc động viên nhân dân cả nước hướng về và chi viện cho Nam bộ. Tại cuộc họp này, người đứng đầu nhà nước đã vạch ra một nhiệm vụ cấp bách là “Cần phải thống nhất quân đội ngay để có thể tiếp viện cho Nam bộ”.

Cùng ngày hôm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự lễ khai giảng Trường Cán bộ Tự vệ Hồ Chí Minh. Trước 75 học viên của khóa cán bộ đầu tiên được tổ chức tại thủ đô Hà Nội, Bác căn dặn: “Nói miệng ai nói cũng được. Ta cần phải thực hành.

Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em và khi đi công tác gắng làm gương cho dân”. Phân tích yếu tố tinh thần, Bác Hồ đưa ra một nguyên lý sáng suốt: “Muốn làm được ta phải: quyết tâm, tín tâm và đồng tâm”.

Nhưng thiện chí của chúng ta không ngăn được chiến tranh đã lan rộng cả nước. Ngày 7-1-1947, cách đây 62 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Thư gửi Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp” nêu rõ lập trường rất mềm mỏng: “Chính phủ và nhân dân Pháp chỉ cần có một cử chỉ công nhận độc lập và thống nhất của nước Việt Nam là chấm dứt được tai biến này, hòa bình và trật tự sẽ trở lại ngay tức khắc. Dân tộc Việt Nam đang chờ đợi cử chỉ đó”.

12 năm sau sự kiện trên (ngày này cách đây đúng nửa thế kỷ), mục tiêu thống nhất vẫn chưa hoàn thành, ngày 7-1-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chủ trì cuộc họp của Bộ Chính trị để bàn về “Đường lối Cách mạng miền Nam” và đưa ra ý kiến chỉ đạo: “Phải lấy chính trị, lực lượng quần chúng là chính. Phải đoàn kết toàn dân, trừ bọn phản dân. Đề án viết phải có lý có tình. Cũng có thể nói: Giải phóng miền Nam là nhiệm vụ thần thánh của nhân dân ta”.

Nửa thập kỷ sau đó đã diễn ra một cao trào, từ phong trào Đồng khởi đến cuộc đương đầu chống Chiến tranh Đặc biệt của Hoa Kỳ mà đỉnh cao là hai chiến thắng vang dội từ Ấp Bắc (năm 1963) đến Bình Giã (cuối năm 1964).

Với bút danh “Chiến Sĩ”, Bác viết bài đăng báo Quân đội Nhân dân ngày 7-1-1965 với đầu đề “Điện Biên Phủ nhỏ và Nhịp cầu vàng”. Bài báo một mặt vinh danh hai trận thắng trên là “Điện Biên Phủ nhỏ” nhưng để đi đến thắng lợi hoàn toàn còn cần bắc một “Nhịp cầu vàng” để nước Mỹ rút lui khỏi cuộc chiến tranh mà không bị mất mặt.

Thực tiễn cho thấy, sau cuộc Tổng tiến công Mậu Thân (năm 1968), Mỹ đã phải bước vào bàn đàm phán tại Paris và 5 năm sau đó, “Nhịp cầu vàng” đã tạo cơ hội cho Mỹ “rút lui mà không bị mất mặt”… Để rồi không đầy 2 năm sau, miền Nam hoàn toàn được giải phóng…

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 6 tháng 1 – Ngày khẳng định quyền làm chủ

Việt Nam - Hồ Chí MinhMột sự kiện quan trọng chỉ sau lễ Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 hơn 4 tháng là cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội diễn ra trên cả nước vào ngày 6-1-1946. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích: Đây là lần đầu tiên người dân Việt Nam được thể hiện quyền làm chủ của mình trong một quốc gia theo chính thể Cộng hòa – Dân chủ.

Theo những số liệu được công bố ngày hôm đó, một cuộc phổ thông đầu phiếu diễn ra trên cả nước đã bầu chọn 333 đại biểu Quốc hội, đại diện cho nhiều địa phương, đảng phái chính trị, tầng lớp xã hội. Ngày hôm đó, hòa theo dòng người dân tham gia bầu cử, ứng cử viên Hồ Chí Minh đến phòng bỏ phiếu đặt tại nhà số 10 phố Hàng Vôi, Hà Nội để thực hiện nghĩa vụ công dân của mình. Sau đó vị Chủ tịch Chính phủ Lâm thời đã thăm các địa điểm bỏ phiếu tại các phố Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Trống, Thụy Khuê, làng Hồ Khẩu và Ô Đống Mác.

Bác cũng không quên đến thăm và động viên các cháu thiếu nhi đang đi cổ động cho bầu cử tại khu vực Lò Đúc, và viết thư gửi Ban Âm nhạc Vệ Quốc quân cảm ơn và khen ngợi “anh em đã náo nức đi cổ động khắp thủ đô từ sáng đến chiều làm cho ngày Tổng tuyển cử được tưng bừng vui vẻ và kết quả”.

Trong ngày bận rộn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng trả lời phóng viên tờ báo cánh tả “Kháng chiến” (La Resistance) của Pháp để một lần nữa khẳng định rằng nước Việt Nam độc lập không đi ngược với lợi ích và mong muốn hợp tác với nước Pháp một cách trung thực và “cùng nhau dàn xếp”.

Trước đó chỉ 5 năm, ngày 6-1-1941, với bí danh Đồng chí Vương, Nguyễn Ái Quốc đã cùng các đồng chí hoạt động ở trong nước như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên và Đặng Văn Cáp do Hoàng Sâm dẫn đường, đã đến một ngôi làng bên kia biên giới Việt – Trung để chuẩn bị cho chuyến trở về nước của nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Sau cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên (6-1-1946) đúng 14 năm, cuộc bầu cử Quốc hội khóa 2 diễn ra ngày 6-1-1960. Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một địa điểm niêm yết danh sách cử tri và tham gia bỏ phiếu tại đơn vị bầu cử đặt tại đình Ngõ Phất Lộc, Hà Nội. Buổi tối, Bác thăm các đại biểu phụ nữ theo đạo Thiên Chúa toàn miền Bắc đang họp tại Hà Nội. Cũng trong ngày hôm đó báo chí đăng “Lời kêu gọi toàn dân hưởng ứng một tháng trồng cây” lập thành tích chào mừng 30 năm ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam.

Ngày 6-1-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và nói chuyện với Hội nghị trí thức Việt Nam chống Mỹ cứu nước do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triệu tập tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội. Ngày này 3 năm sau đó (1969), Chủ tịch nước dự phiên họp đầu năm của Hội đồng Chính phủ và đây cũng là lần cuối cùng Bác có cơ hội chúc tết những người đồng chí thân thiết của mình trong Chính phủ.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn