Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Ngày 25 tháng 1 – Nước Việt Nam là một, Dân tộc Việt Nam là một

Chủ nhật, 25/01/2009, 10:43 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 85 năm, ngày 25-1-1924, báo “Đời sống thợ thuyền” (La Vie Ouvrière) đăng bài báo của Nguyễn Ái Quốc có nhan đề: “Phong trào công nhân Viễn Đông”. Bài báo nhắc đến phong trào công nhân Nhật Bản tại thành phố Osaka, một trung tâm công nghiệp lớn của Nhật, nơi mà sức mạnh đoàn kết giai cấp đã buộc giới chủ phải hoảng sợ. Đó là những nét mới trong phong trào công nhân ở Viễn Đông, xứ sở gần gũi với Đông Dương.

9 năm sau đó, ngày 25-1-1924 là ngày 30 Tết Quý Dậu, Nguyễn Ái Quốc trên đường từ Hồng Kông cặp bến Hạ Môn và lưu lại đây qua tết để tìm cách liên lạc với tổ chức và tránh bị mạng lưới mật thám theo dõi.

Có 2 ngày 25-1 ứng vào ngày tết nguyên đán, đó là vào năm Giáp Thân (1944) và Quý Mão (1963). Ngày 25-1-1944 là ngày đầu năm Giáp Thân, trong khi đang tiến hành vận động quốc tế, từ Liễu Châu (Trung Quốc) Bác gửi lời chúc qua tờ Đồng Minh với nhan đề “Chào Xuân”: “…Xuân ơi, Xuân hỡi, hỡi Xuân / Từ xa tới gần Xuân khắp mọi nơi / Rót cốc rượu Xuân mừng cách mạng / Viết bài chào Tết, chúc thành công!”.

19 năm sau, ngày mồng một Tết Quý Mão (25-1-1963), trong “Lời chúc mừng năm mới” Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở “Càng thương đồng bào miền Nam, chúng ta phải lao động cần cù, phấn đấu hăng hái hơn nữa cho Bắc Nam sớm được sum họp một nhà” và nhắc lại chân lý mà cách đó 17 năm (1946) Bác đã từng nêu:“Nước Việt Nam ta là một / Dân tộc Việt Nam ta là một / Dù cho sông cạn đá mòn / Nhân dân Nam, Bắc là con một nhà”.

Ngày 25-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thông tư cho Ủy ban Trung bộ chỉ đạo việc đối xử với một số quan lại trong chế độ cũ đã tham gia các vụ đàn áp phong trào cách mạng. Thông tư yêu cầu “các ủy ban địa phương cần phải tỏ rõ thái độ rộng lượng với các cựu công chức và quan lại ấy. Nếu không thấy nhân dân oán hờn thì cứ để họ sống yên ổn” vì “Chính phủ muốn để họ có cơ hội được giác ngộ khiến họ tự ý tham gia vào phong trào kháng chiến kiến quốc một cách thành thực và mong chuộc lại lỗi lầm xưa”.

Ngày 25-1-1948, Bác gửi tới cụ Ưng Úy, một cựu quan lại cao cấp và là người của Hoàng tộc, thân sinh của nhà bác học Bửu Hội đang sống tại Huế, bức thư “xin mời cụ tham gia kháng chiến để chúng ta tiếp tục sự nghiệp bỏ dở của các vị tiền bối Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân là đánh đuổi thực dân Pháp để giành độc lập cho dân tộc, cho Tổ quốc”.

Đáp lại, cụ Ưng Úy đã lên chiến khu và ra lời tuyên bố (26-2-1949): “Tôi vốn là cựu quan chức Nam triều và là người trong Hoàng gia. Nay thực dân Pháp thực hiện mưu mô lấy người Việt trị người Việt, tôi phẫn uất quá nên tôi phải lìa nhà lên chiến khu, nguyện theo Chính phủ để giúp một phần hiểu biết vào công cuộc kháng chiến cho đỡ nỗi phẫn uất trong lúc tuổi già…”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 24 tháng 1, Bác Hồ “vi hành” chúc tết

Thứ bảy, 24/01/2009, 02:01 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 78 năm, ngày 24-1-1931, giữa lúc cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh đang dâng cao ở Việt Nam thì ở nước Nga, Nguyễn Ái Quốc viết văn kiện “Phong trào cách mạng ở Đông Dương”. Bài viết biểu dương cao trào đấu tranh của giới công, nông, lên án tội ác thực dân, phong kiến và kêu gọi: “Nhiệm vụ cấp thiết của giai cấp vô sản thế giới, đặc biệt là giai cấp vô sản Pháp, là chìa bàn tay hữu nghị anh em và giúp đỡ tới Đông Dương, để chứng tỏ tình đoàn kết thực sự và tích cực của họ. Đông Dương bị áp bức và cách mạng cần điều ấy!”.

16 năm sau, vào dịp Tết Đinh Hợi 1947, Bác viết riêng một bức “Thư chúc tết đồng bào và chiến sĩ Nam bộ”. Để đả phá luận điệu tuyên truyền của thực dân rằng nếu thống nhất thì những người theo Pháp sẽ bị khủng bố; người Nam sẽ bị người Bắc cai trị; chính phủ chỉ toàn Việt Minh, bức thư nêu rõ:

“…Một dân tộc đã tự cường, tự lập, dân chủ cộng hòa thì không làm những việc nhỏ nhen, báo thù báo oán… Trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ làng xã đến toàn quốc, những người chức trách đều do dân cử ra. Dân tin cậy ai thì người ấy trúng cử và bổn phận những người trúng cử là làm đầy tớ công cộng cho dân chứ không phải làm quan phát tài… Trong chính phủ có đủ những người thuộc các đảng phái, như Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội, Đảng Quốc dân, Đồng Minh hội, lại có cả những người không thuộc đảng phái nào. 5 vị bộ trưởng và thứ trưởng quê quán ở Nam bộ… Sự thật chỉ đơn giản có thế, mong đồng bào hiểu rõ, chớ mắc lừa thực dân”.

Ngày 24-1-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Nha Bình dân học vụ, thông báo việc nhà nước tặng Huân chương kháng chiến cho phong trào xóa nạn mù chữ. Trong thư, Bác biểu dương: “Từ ngày nhân dân ta nắm quyền đến nay, 13 triệu đồng bào đã hết mù chữ. Những thành tích ấy đều do tinh thần yêu nước mà ra. Nhưng chúng ta phải cố gắng hơn nữa, phải làm thế nào cho trong một thời gian gần đây, tất cả đồng bào Việt Nam từ 8 tuổi trở lên đều biết đọc biết viết, ngày ấy mới là hoàn toàn thắng lợi trên mặt trận diệt giặc dốt”.

Cách đây 46 năm, ngày 24-1-1963, là ngày 29 Tết Quý Mão, buổi sáng vị nguyên thủ quốc gia đã “vi hành” thăm chợ Đồng Xuân. Trong bộ quần áo gụ đã bạc màu, ngoài khoác áo mưa vải bạt, cổ quàng khăn len, mắt đeo kính trắng và chân đi dép cao su, Bác cùng 2 cảnh vệ đi thăm cảnh đồng bào sắm tết. Tối hôm ấy, Bác lại đi thăm và chúc tết một số nơi, trong đó có gia đình bác sĩ Hồ Đắc Di.

Ngày 24-1-1966, Bộ Chính trị bàn về công tác đấu tranh ngoại giao và các phương án chọn nơi tiến hành đàm phán Việt – Mỹ. Tại cuộc họp này, Bác tiên liệu “Mỹ có thể sẽ ném bom miền Bắc, thậm chí cả Hà Nội, Hải Phòng, vì vậy không được chủ quan”. Dự báo sớm ấy đã giúp quân dân ta chủ động phòng chống thắng lợi.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 23 tháng 1 – “Thanh niên Việt Nam đều là con cháu tôi”

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Thứ sáu, 23/01/2009, 01:20 (GMT+7)

Cách đây 85 năm, ngày 23-1-1924 vẫn là ngày lễ tang V.I.Lê Nin, Nguyễn Ái Quốc cùng các bạn học ở Trường Đại học Phương Đông có mặt trong đám đông đứng đón linh cữu Lê Nin từ Gorơki theo đường sắt đến ga Pavilexki ở thủ đô Mátxcơva để chuyển tới đặt tại Hội trường Nhà Công đoàn ngay tại Hồng trường để dân chúng đến viếng. Xếp trong hàng người dài dằng dặc dưới giá lạnh âm 30 độ của mùa đông nước Nga, cuối cùng nhà cách mạng trẻ tuổi đến từ đất nước Việt Nam xa xôi với lòng mong muốn đến quê hương của cuộc Cách mạng tháng Mười để được gặp Lê Nin đã chỉ có cơ hội được đứng trước linh cữu của người thầy vĩ đại ấy.

Trở về nơi cư trú là khách sạn Lux, chân tay tê cóng, trời đã khuya. Tại phòng số 176, Nguyễn Ái Quốc ngồi viết bài báo “Lê Nin và các dân tộc thuộc địa” với câu kết thúc: “Lê Nin sẽ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”.

Cũng vào thời gian này, 23 năm sau (1947), Bác Hồ đã viết thư và cho người chuyển vào Phát Diệm trao tận tay Giám mục Lê Hữu Từ chân thành đề nghị tiếp tục ủng hộ chính phủ kháng chiến cũng như đã từng giúp trong các thương thảo ngoại giao và “Nhờ cụ cầu Đức Chúa ban phúc cho Tổ quốc…”. Sau đó, Bác còn viết nhiều lá thư để kiên trì giải thích: “Trong Hiến pháp ta đã định rõ: Tín ngưỡng tự do. Nếu ai làm sai Hiến pháp, khiêu khích Công giáo thì sẽ bị phạt… Việt Nam Độc lập Đồng minh là cốt đoàn kết tất cả đồng bào để làm cho Tổ quốc độc lập chứ không phải để chia rẽ, phản đối tôn giáo… Hơn ai hết, đồng bào công giáo càng mong cho Tổ quốc độc lập, cho tôn giáo được hoàn toàn tự do; và tôi chắc ai cũng tuân theo khẩu hiệu: Phụng sự Thượng đế và Tổ quốc…”.

Đây cũng là lúc thực dân Pháp đang tìm mọi thủ đoạn chia rẽ lương – giáo và lôi kéo Giám mục Lê Hữu Từ để rồi sau đó không lâu, nhân vật này đã từ bỏ hàng ngũ kháng chiến đi theo giặc Pháp chống phá cách mạng quyết liệt. Tuy vậy, trước sau Bác vẫn giữ lòng tin đối với các chức sắc và bà con giáo dân. Cũng trong những ngày cuối tháng này, Bác nhận được tin con trai duy nhất của Bác sĩ Vũ Đình Tụng, một trí thức theo đạo Thiên Chúa, lúc đó đang đảm trách Hội trưởng Hội Hồng Thập tự Việt Nam, vừa hy sinh ngoài mặt trận. Bác đã viết lá thư chia buồn với những lời lẽ thống thiết và sâu sắc:

“Thưa ngài, tôi được báo cáo rằng con giai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng, tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột…

Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây chắc ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên Trời cũng bằng lòng và sung sướng…”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 22 tháng 1: Công nông các nước đoàn kết lại!

Thứ năm, 22/01/2009, 02:14 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày này 85 năm trước, ngày 22-1-1924, Nguyễn Ái Quốc đang học và làm việc tại Liên Xô thì nhận được tin V.I.Lênin đã từ trần vào đêm hôm trước (21-1-1924). Nguyễn Ái Quốc đã tới trụ sở Quốc tế Nông dân ở Mátxcơva để dự phiên họp bất thường. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc được phân công cùng một số đồng chí khác viết “Lời kêu gọi của Quốc tế Nông dân”.

Văn kiện kêu gọi: “Nghĩa vụ thiêng liêng của chúng ta là thực hiện những lời khuyên quan trọng nhất của Lê Nin. Điểm quan trọng nhất trong di huấn chính trị của Người là thực hiện liên minh công nông, củng cố khối đoàn kết nông dân ở nông thôn và công nhân ở thành thị… Hãy cất lên thật to, thật mạnh giữa quần chúng nông dân lời kêu gọi: Nông dân và công nhân ở tất cả các nước hãy đoàn kết lại!”. 

9 năm sau, ngày 22-1-1933, lúc 5 giờ chiều, Tống Văn Sơ (bí danh của Nguyễn Ái Quốc) trong bộ cánh cải trang một thương nhân giàu có bí mật cùng thư ký riêng của Luật sư Lôdơbi rời bến bằng một chiếc thuyền riêng do Thống đốc Hồng Công bố trí để lên con tàu “An Huy” đỗ sẵn ở ngoài khơi trên đường đi Hạ Môn, từ đó đến Thượng Hải và sang Nga, kết thúc “Vụ án Hồng Công” phá âm mưu trục xuất Nguyễn Ái Quốc để giao cho mật thám Pháp ở Đông Dương thực hiện bản án tử hình vắng mặt của Tòa án Nam triều đã tuyên từ năm 1929. Theo dõi rất sát vụ án này, nhưng phải đến hơn 2 tháng sau (25-3) Pháp mới biết Nguyễn Ái Quốc đã thoát khỏi Hồng Công và phát lệnh truy nã!

Tết Đinh Hợi nhằm đúng ngày 22-1-1947, tết cả nước kháng chiến, đầu Mặt trận Hà Nội vẫn đang rền tiếng súng xen lẫn pháo đón giao thừa của các chiến sĩ quyết tử. Bài thơ “Chúc năm mới” của vị Chủ tịch nước Việt Nam độc lập thực sự là một hiệu kèn xung trận: “Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió / Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông / Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến / Chí ta đã quyết lòng ta đã đồng / Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào! / Sức ta đã mạnh, người ta đã đông / Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi! / Thống nhất độc lập, nhất định thành công!”.

Nhật ký của thư ký Vũ Kỳ cho biết, ngày hôm ấy Bác dậy sớm như thường lệ, đi thăm và chúc tết các nhà hàng xóm… Bác viết lên tấm giấy điều hàng chữ Hán “Cung hỷ tân xuân” mừng gia đình chủ nhà rồi cùng các đồng chí thân thiết ngồi bàn việc nước bên bếp lửa hồng cho đến một giờ sáng hôm sau. Ngày tết, vị Chủ tịch “khai bút” bằng sắc lệnh cử cụ Bùi Bằng Đoàn làm Chủ tịch Ủy ban Tản cư và di cư để lo an toàn cho dân ở các vùng chiến sự.

Ngày 22-1-1952, được tin Thứ trưởng Bộ Giao thông công chính, kỹ sư Đặng Phúc Thông, qua đời, Bác gửi điện chia buồn: “Tôi rất thương tiếc, vì chú Thông là một cán bộ cao cấp xuất sắc của Chính phủ, một chiến sĩ trung thành của dân tộc và một người bạn tốt của tôi”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội báo công dâng Bác

Ngày 7/3/2013, trong không khí của những ngày đầu Xuân Quý Tỵ, cùng với cả nước kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, hướng tới kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; 103 năm Ngày Quốc tế Phụ nữ; 38 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, Đoàn cán bộ ngành Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội gồm 200 đại biểu hội tụ về Quảng trường Ba Đình lịch sử để tổ chức lễ báo công nhằm báo cáo những thành tích xuất sắc của ngành Tòa án Thủ đô trong những năm qua.

Toa an 1Đồng chí Ngô Thị Minh Ngọc, Bí thư Đảng ủy, Phó Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội báo cáo thành tích, bày tỏ lòng biết ơn của Ngành trước Lăng Bác.

Trong giờ phút trang nghiêm và bồi hồi xúc động, thay mặt cán bộ, nhân viên ngành Tòa án Thủ đô, đồng chí Ngô Thị Minh Ngọc, Bí thư Đảng ủy, Phó Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội bày tỏ lòng biết ơn vô hạn với Chủ tịch Hồ Chí Minh – người sáng lập lãnh đạo Đảng ta, vị lãnh tụ kính yêu của các dân tộc Việt Nam. Trong Hội nghị cán bộ ngành Tư pháp năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch. Như thế cũng chưa đủ. Không chỉ hạn chế hoạt động của mình trong khung tòa án. Phải “Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân”. Thấm nhuần lời dạy của Người, cán bộ, nhân viên ngành Tòa án Hà Nội đã không ngừng ra sức thi đua, cố gắng phấn đấu miệt mài học tập, nghiên cứu,luôn giữ vững và nâng cao phẩm chất chính trị của người cán bộ Tòa án để phục vụ nhân dân, góp phần vào xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan vững mạnh toàn diện.

Trong những năm qua, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội triển khai công tác trong điều kiện kinh tế cả nước và Thủ đô còn nhiều khó khăn; tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội giữ được ổn định nhưng tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường, tình hình tội phạm vẫn diễn biến phức tạp, các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh doanh thương mại và hành chính ngày càng gia tăng. Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của Tòa án nhân dân tối cao, Thành ủy và Hội đồng nhân dân thành phố cùng với tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của tập thể Ban cán sự Đảng, lãnh đạo và cán bộ công chức trong toàn Ngành, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã giải quyết các vụ án kịp thời, đúng pháp luật, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch công tác đề ra. Nhiều tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý. Cụ thể, năm 2012, Ngành đã có 3 đơn vị được trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì, hạng Ba và 4 cá nhân có thành tích xuất sắc được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen.

Toa an 2jpgĐoàn đại biểu Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội kính dâng vòng hoa lên Bác

Dù Bác đã đi xa nhưng những lời căn dặn của Bác với cán bộ ngành Tư pháp luôn là nguồn động viên, định hướng vững bước trên con đường bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đứng trước anh linh của Bác, cán bộ ngành Tòa án Thủ đô xin hứa với Bác: Tiếp tục phát huy truyền thống dân tộc, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, kiên định con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân lựa chọn; thường xuyên rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng xứng đáng là các chiến sĩ trong ngành Tư pháp trên trận tuyến bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa;đoàn kết gắn bó xây dựng đơn vị vững mạnh xuất sắc, kỷ luật nghiêm minh, quyết tâm vượt mọi khó khăn, hoàn thành vượt chỉ tiêu công tác mà Ngành đề ra; thực hiện lời dạy của Bác với cán bộ ngành Tư pháp “Phải gần dân, hiểu dân, giúp dân và học dân” gắn với phương châm của Ngành là “Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư”, ra sức học tập nâng cao trình độ mọi mặt, giữ vững phẩm chất chính trị của người cán bộ Tòa án hết lòng vì dân.

Kết thúc lễ báo công, đoàn đại biểu Tòa án thành phố Hà Nội đã kính cẩn đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Trần Tiên Long
bqllang.gov.vn

Lặng thầm cho những chuyến đi

QĐND Online – Trong nhà riêng ở xã Quang Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, Đại tá-CCB Nguyễn Hữu Tuần, nguyên Trưởng ban Tác chiến- Huấn luyện Lữ đoàn 125, người trực tiếp làm kế hoạch cho các đội Tàu không số, kể với chúng tôi về những kỷ niệm của một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên trong ông…

Chuẩn bị cho những chuyến đi-vài câu chuyện nhỏ

Về Đoàn 125, tôi được giao nhiệm vụ biên soạn và bổ sung các phương án chiến đấu, phương thức đi biển, giao thả hàng, để các đội tàu đi dài ngày trên biển độc lập tác chiến và xử trí mọi tình huống. Trước đó, các tàu của ta không có hải đồ tỷ lệ nhỏ ven biển miền Nam để tham khảo vào bến chính xác, mà chỉ có loại hải đồ 1/1.000.000 dùng ở miền Bắc. Chúng tôi có sáng kiến và được thủ trưởng Đoàn đồng ý mở lớp huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ hàng hải cách đo xác định vị trí tàu bằng thiên văn. Có lẽ đây là phương pháp định vị tàu độc nhất vô nhị trên thế giới: chỉ với máy 1/6, chân trời-góc biển tưởng tượng, các sao cố định.

Cùng thời gian đó, nước bạn nhận cải dạng một số tàu theo mẫu thiết kế của ta và đóng mới cho ta hai tàu vận tải tốc độ cao, có trang bị ra-đa phát hiện mục tiêu, dẫn đường, để né tránh địch và vào bến.

Tháng 8-1965, Tàu 68 do đồng chí Đỗ Văn Bé làm thuyền trưởng, Trần Ngọc Ẩn làm Chính trị viên cải dạng, đi trinh sát toàn khu vực biển Đông và khu vực quần đảo Trường Sa, đồng thời kiểm tra kết quả lớp học xác định vị trí tàu bằng thiên văn. Kết quả chuyến trinh sát được đưa về Đoàn, làm cơ sở để nghiên cứu những yếu tố sơ hở của địch và lựa chọn phương pháp đưa tàu của ta về bến giao hàng hoặc quay về an toàn. Trong chuyến đi này có chuyện rất vui mà anh em Đoàn còn nhớ mãi. Khi giao nhiệm vụ cho cán bộ chiến sĩ tàu, tôi quán triệt quy định “tuyệt đối không được lên đảo”. Đến khi về, tôi cũng là người đầu tiên xuống gặp anh em để nắm tình hình để viết bản tổng kết. Khi xuống tàu thì nghe tiếng kêu “chiếp chiếp” trong khoang hàng. Tôi hỏi: “Ai cho các đồng chí nuôi gà trên tàu?”. Đồng chí Trần Ngọc Ẩn báo cáo, khi tàu qua khu vực quần đảo Trường Sa, một số cán bộ, chiến sĩ lên đảo nắm tình hình và lấy hàng tạ trứng chim xuống tàu. Trứng ăn không hết, để dưới hầm hàng có hơi ẩm nên khi về đến Hải Phòng nhiều trứng đã nở ra chim…

Đại diện Ban liên lạc Hội truyền thống Đường Hồ Chí Minh trên biển 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, báo cáo hoạt động với nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Đại tá Nguyễn Hữu Tuần ngoài cùng bên phải. Ảnh chụp lại

Kỷ niệm không phai về đồng đội

Có nhiều năm gắn bó với cán bộ, chiến sĩ của các đội tàu, tôi hiểu rõ tính từng người. Anh em “trên bến dưới thuyền” gắn bó với nhau như ruột thịt. Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm (Tàu 165) trước lúc lên đường đã mở túi áo lấy chiếc ví bên trong có một ít tiền và tấm ảnh kỷ niệm của gia đình chụp trước ngày anh lên đường tập kết ra Bắc, nhờ tôi giữ để sau chuyến đi về nhận lại. Nhưng chuyến đi ấy anh đã không về. 18 giờ ngày 29-2-1968, Đoàn nhận được điện Tàu 165 báo về “Tàu cách bờ 20 hải lý thì gặp nhiều tàu địch”. Sở chỉ huy liên lạc với bến thì nhận được trả lời: “Đêm 29-2 bến tổ chức đón. Quan sát ra ngoài biển có nhiều vết lửa đạn bắn lên, sau đó nghe một tiếng nổ và cột lửa bốc lên cao”. Mọi người lúc này mới biết Tàu 165 đã dũng cảm chiến đấu với địch và điểm hỏa phá hủy tàu để giữ bí mật. Chiếc ví của Nguyễn Chánh Tâm đã được tôi gửi lại cho đồng chí cán bộ chính sách của Đoàn, chờ ngày chiến thắng đưa về cho gia đình đồng chí Tâm.

Có lẽ với tôi, cuộc chia tay Nguyễn Phan Vinh sẽ là kỷ niệm không bao giờ quên. Phan Vinh quê ở Điện Bàn, Quảng Nam, là một thuyền trưởng được đào tạo chính quy, có trình độ chỉ huy và chuyên môn nghiệp vụ rất giỏi. Tháng 12-1968, Phan Vinh trên cương vị là Thuyền trưởng Tàu 235, nhận nhiệm vụ chuyển hàng vào bến Ninh Vân, cách Nha Trang 15km về phía Bắc. Trước đó, Vinh đã đi trên 10 chuyến thành công vào các tỉnh Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh…. Đêm 26-12-1968, tiễn chân Vinh ở Vịnh Hạ Long có tôi và đồng chí Trần Phong. Biết chuyến đi này sẽ vô cùng cam go, chúng tôi trao đổi với nhau cách đối phó với địch trong những tình huống có thể xảy ra. Trao đổi xong công việc, Phan Vinh tâm sự: “Em sắp đến tuổi tứ tuần, chưa vợ con. Trong cuộc sống đời thường, có nhiều người rất thương yêu em nhưng em không muốn ngỏ lời yêu vì biết nhiệm vụ của mình rất nặng nề, có thể hy sinh bất cứ lúc nào. Em biết chuyến đi này thực sự khó khăn. Các thủ trưởng đã tin tưởng giao cho em con tàu vận tải mới, hiện đại, em sẽ quyết tâm đưa hàng vào đến bến”.

1 giờ sáng ngày 27-2-1968, chúng tôi chia tay. Tàu Phan Vinh xuất phát sang đảo Hải Nam tìm đường vào bến, tàu chúng tôi trở về Hải Phòng và dõi theo chuyến đi của Vinh. Đến 19 giờ ngày 29-2, chúng tôi nhận được điện Phan Vinh báo về: “Tàu địch đã phát hiện tàu ta còn cách bờ 50 hải lý. Trời rất tối, tôi quyết tâm tránh né địch đưa tàu vào bãi”. 22 giờ, bức điện thứ 2 gửi về có nội dung: “Có nhiều tàu địch từ bờ ra bám theo chúng tôi, chúng càng ra nhiều tôi càng dễ tránh để tiếp tục vào bờ”. Đến 1 giờ ngày 1-3-1968, bức điện thứ 3 và cũng là bức điện cuối cùng được gửi về từ tàu 235. Trên vùng biển Hòn Hèo lúc đó đã diễn ra trận đánh không cân sức. Phan Vinh và một số đồng chí khác hy sinh, 5 đồng chí sống sót là Vũ Long An, Nguyễn Văn Phong, Hà Minh Thật, Lê Duy Mai, Lâm Quang Tuyến, sau 6 tháng đi bộ vượt đường Trường Sơn đã về đến Đoàn và tổ chức viết bản tổng kết trận đánh, làm tài liệu học tập cho cán bộ, chiến sĩ trong Đoàn.

Suốt 14 năm chi viện cho miền Nam (1961-1975), Đoàn 125 đã thực hiện khẩu hiệu “Quân lệnh như sơn, có lệnh là đi”, thiết lập một con đường huyền thoại không hoa tiêu, không cầu cảng, chỉ có trái tim và niềm tin tất thắng của những con người quả cảm. Những đồng đội của tôi, nay người còn, người mất, nhưng những kỷ niệm về họ, về con đường mà chúng tôi đã cùng gây dựng vẫn còn mãi với thời gian.

Bích Trang (Ghi theo lời kể của Đại tá Nguyễn Hữu Tuần)
qdnd.vn

Đánh máy bay địch bằng mọi quy mô, từ mọi hướng

QĐND Online – Tháng 10, khi cả nước sôi nổi tổ chức kỷ niệm 50 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển, chúng tôi đến thăm những cán bộ của Đội thuyền 128 (Đội giao thông tình báo trên biển) anh hùng năm xưa. Họ là những người tiên phong mở ra một cung đường biển vận chuyển cán bộ, tài liệu, vũ khí giữa hai miền Bắc-Nam. Tuy nhiên, những chiến công thầm lặng ấy chưa được nói tới nhiều…

Khởi đầu bí mật

Trong gian nhà nhỏ trên đường Trần Tấn Mới (tên Anh hùng LLVTND của Đội thuyền 128), thành phố Đà Nẵng, Thiếu tướng, Trần Tiến Cung (năm nay 82 tuổi), nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục II, người trực tiếp chỉ huy Đội thuyền 128 năm xưa bồi hồi kể lại câu chuyện cách đây hơn nửa thế kỷ…

Năm 1954, sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, tình hình miền Nam thay đổi, chính quyền ngụy được dựng lên và thi hành nhiều chính sách thâm độc, đánh phá ác liệt và kiểm soát gắt gao vùng giới tuyến. Trước bối cảnh đó, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Bác Hồ đã xác định yêu cầu giao thông phải mở đường đi trước. Khi nhiệm vụ cách mạng thôi thúc, ngành tình báo đã khẩn trương, tích cực đẩy mạnh hoạt động giao thông. Đến đầu năm 1956, lãnh đạo, chỉ huy Nha Liên lạc-Cục Quân báo-Bộ Tổng tham mưu (nay là Tổng cục II-Bộ Quốc phòng) đã xác định nhiệm vụ tập trung lực lượng giải quyết về tổ chức giao thông và duy trì thông suốt. Theo Thiếu tướng Trần Tiến Cung, khi đó Trung ương Đảng, Bác Hồ và Quân ủy trung ương đã triệu tập đồng chí Nguyễn Đôn, Phó tư lệnh Liên khu V và đồng chí Lê Câu, Trưởng ban tình báo Khu vực phi quân sự ra miền Bắc để giao nhiệm vụ. Sau khi về, hai đồng chí đã phổ biến lại nhiệm vụ cấp trên giao là đưa một lực lượng ra Bắc tập kết trong 2 năm, đồng thời chuẩn bị lực lượng tại chỗ để quản lý khu vực tập kết quân 300 ngày và cả cho lâu dài. Vào thời điểm đó, việc di chuyển từ Nam ra Bắc và ngược lại vô cùng khó khăn, phải mất hàng tháng trời.

Vượt qua nhiều cản trở, ngành tình báo quyết định tổ chức lực lượng giao thông thủy gồm nhiều tổ thuyền, mỗi tổ thuyền thành lập một chi bộ. Tháng 3-1956, 2 tổ thuyền đầu tiên được thành lập lấy tên là Thống Nhất và Trung Hòa. Đây chính là thời điểm đánh dấu sự ra đời Đội thuyền 128 anh hùng của ngành tình báo. Ngay từ khi thành lập, các chi bộ đã nhận định, cho dù địch đánh phá, có thể bị bắt, có thể hy sinh, nhưng nhiệm vụ Đảng, tổ chức giao bằng mọi giá phải hoàn thành. Đầu năm 1956, Nha Liên lạc đã cử một đồng chí Trưởng phòng Giao thông vào trạm đầu cầu Vĩnh Linh để nắm tình hình, tiếp cận địa bàn, nghiên cứu, tổ chức thăm dò, xác định thời gian, cự ly vào cửa Tư Hiền (Thừa Thiên-Huế), Nam Ô (Đà Nẵng)…

Đại tá Trần Xuân Tự (80 tuổi), nguyên Cục trưởng Cục 11 đã từng tham gia chỉ huy Đội thuyền 128 kể rằng, với những chiếc thuyền nan thô sơ của buổi ban đầu, các chiến sĩ giao liên tình báo đã dũng cảm vượt qua giới tuyến vào Huế, Đà Nẵng…trước sự kiểm soát gắt gao của địch, để nối thông đường giao thông thủy. Cũng trong tháng 3-1956, trạm Vĩnh Linh tổ chức thuyền đi khảo sát địa bàn vùng Thanh Khê, Xuân Hà (Đà Nẵng) đồng thời thu thập các loại mẫu giấy tờ, con dấu cần thiết để hợp thức hóa cho đội thuyền Vĩnh Linh. Vào tới Đà Nẵng, đoàn đã móc nối được với cấp ủy địa phương để nắm tình hình và khi trở ra đã đưa một cán bộ Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng ra Bắc hoạt động do đã bị lộ…Đó là những chuyến đi khai phá mở đường trên biển đầu tiên của lực lượng tình báo, bảo đảm thắng lợi, an toàn tuyệt đối. Thêm vào đó, đã để lại những kinh nghiệm hình thành phương thức giao thông thủy trên biển Đông một cách đồng bộ, vững chắc, góp phần mở ra ý tưởng táo bạo cho Đoàn tàu không số vượt đại dương tiếp tế cho chiến trường miền Nam.

Đại tá Trần Xuân Tự trò chuyện với thế hệ cán bộ tình báo hôm nay

Hoạt động trong thầm lặng

Ông Nguyễn Xuân Đích (83 tuổi), nguyên là thợ máy của Đội thuyền 128 và Đoàn tàu không số kể lại, ông đã vinh dự được phục vụ Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Anh hùng Liên Xô Giéc man-Ti tốp… cùng rất nhiều cán bộ cao cấp của Đảng và quân đội Việt Nam. Tuy nhiên, do đặc thù nhiệm vụ của ngành tình báo nên ông Đích cùng với các đồng đội khác đều tuyệt đối bí mật, giữ im lặng về công việc của mình. Ông nói rằng: “Suốt một thời gian dài phục vụ Đội thuyền 128 cũng như sau này phục vụ Đoàn tàu không số, những cán bộ, chiến sĩ chúng tôi đều nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình. Vì vậy chúng tôi chỉ làm mà không nói ra những việc mình đang làm”. Một trong những kỷ niệm ông Đích nhớ nhất là được nói chuyện với Bác Hồ trên chuyến tàu ông phục vụ Bác.

Từ 2 tổ thuyền ban đầu, ngành tình báo đã phát triển thành đội thuyền mang phiên hiệu 128 gồm 26 tổ thuyền với 183 đồng chí, có nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc tình báo Bắc-Nam; tổ chức thực hiện kế hoạch phái khiển cán bộ, giao thông viên, nhân viên kỹ thuật cơ động theo chỉ thị của cấp trên. Ngoài ra, còn tổ chức nắm tình hình địa bàn, thu thập giấy tờ hợp pháp của người, tàu, mua máy, đóng mới thuyền, trang bị hàng hóa, ngư cụ theo yêu cầu, chuyên chở vũ khí, phương tiện tiếp tế cho các trạm tình báo…Đội thuyền 128 khi đó hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Giao thông thủy, nằm trong tổ chức Phòng 73 của ngành tình báo. Mỗi thuyền thành lập một chi bộ, chi ủy lãnh đạo trực tiếp, thuyền trưởng kiêm bí thư chi bộ, thuyền phó phụ trách hậu cần và đời sống, còn lại là 4-5 thuyền viên…Sự khác biệt của Đội thuyền 128 với Đoàn tàu không số chính là ở chỗ chủ yếu hoạt động trên các thuyền nhỏ, gần bờ theo nguyên tắc bí mật, cự ly, đơn tuyến. Mỗi thuyền được hợp thức hóa về người, phương tiện, giấy tờ tùy theo từng địa phương như thẻ ngư phủ, thẻ căn cước, do chính quyền ngụy cấp, có câu chuyện ngụy trang phù hợp để đi từ vùng này sang vùng khác, làm ăn theo mùa…Đội thuyền 128 của ngành tình báo đã áp dụng hình thức đột kích qua ranh giới, hướng thẳng biển Đông, xuôi dần vào Nam, nhằm thẳng điểm đến, sẵn sàng đột nhập vào bờ ban đêm rồi nhanh chóng rút lui tới địa điểm khác, tránh sự theo dõi của kẻ địch. Khi thấy tình hình giới tuyến có biến động, các thuyền sẽ chủ động tiến thẳng ra hải phận quốc tế, sau đó cập bến ở điểm khác…

Thiếu tướng Trần Tiến Cung nhớ lại, do yêu cầu công tác nắm địch ngày càng khẩn trương nên các chuyến liên lạc tăng, đội thuyền phát triển lên nhiều tổ thuyền, đường đi dài hơn từ cửa biển phía Bắc tới tận Nha Trang, Phan Thiết…thuộc vùng địch kiểm soát. Từ năm 1965, Mỹ-Ngụy kiểm soát gắt gao trên biển, trong khi đó mỗi thuyền chỉ có một chiếc la bàn, nhiều khi cán bộ, giao liên phải nhìn trăng, sao để xác định hướng đi. Mỗi chuyến đi là một lần đối mặt với muôn vàn hiểm nguy. Có lần để bảo đảm bí mật đường dây liên lạc, cán bộ của tổ phải hủy thuyền rồi bơi vào bờ hay khi gặp bão biển, thuyền phải neo cả tuần ngoài đảo vắng hoặc kẹt ở bến cảng của địch hàng tháng trời. Nhưng với tinh thần mưu trí, dũng cảm, sáng tạo, các chiến sĩ giao thông tình báo đã bình tĩnh đối phó, xử lý các tình huống bảo đảm an toàn cho tài liệu, con người và phương tiện.

Chiến công không lời

Kể từ khi thành lập (tháng 3-1956) đến tháng 4-1975, Đội thuyền 128 đã tổ chức thực hiện 263 chuyến đưa đón cán bộ, vận chuyển tài liệu, vũ khí…vào Nam ra Bắc. Có những thuyền đã phục vụ hàng trăm lượt cán bộ, nhân viên giao thông, tổ chức cụm trạm tình báo ở địa bàn ven biển. Đội cũng đã tiến hành 6 chuyến tiếp tế cho các cụm, 9 chuyến nắm tình hình, thu thập con dấu, giấy tờ, tài liệu ở địa bàn cực Nam. Đặc biệt có những chuyến đưa đón đột xuất cán bộ cao cấp của trên vào địa bàn. Điển hình như tổ thuyền Tiền Phong thành lập tháng 10-1956, với 22 đồng chí, đã thực hiện 46 chuyến đưa cán bộ vào chiến trường và về Bắc; liên lạc với cán bộ địch hậu, giao nhận tài liệu và đưa cán bộ, tiếp tế tài chính xây dựng các căn cứ. Tổ thuyền đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công Hạng nhất, Nhì, Ba và đạt danh hiệu Quyết thắng 6 năm liền (1969-1975). Đồng chí Trần Tấn Mới, phụ trách tổ Tiền Phong đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1973. Anh hùng Trần Tấn Mới không chỉ là một thuyền trưởng giỏi mà còn là một giao thông viên dày dặn kinh nghiệm với nhiều năm hoạt động trong vùng địch. Ngày nay, một con đường tại thành phố Đà Nẵng đã được đặt Tên ông: Trần Tấn Mới. Trước đó, ngày 28-5-1970, Đội Giao thông tình báo trên biển 128 cũng đã được nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Ông Trần Xuân Đích giới thiệu tấm ảnh chụp chung với Bác Hồ

Đồng chí Trần Việt Tám (81 tuổi), nguyên Thượng tá tình báo, phục vụ Đội thuyền 128 đã khóc khi nói với chúng tôi về đơn vị của ông. Trong suốt 19 năm đội giao thông tình báo trên biển đã lập nhiều chiến công, trải qua mọi khó khăn thử thách, giữ vững khí tiết người cách mạng nhưng cũng có những mất mát và hy sinh. Đã có 43 đồng chí bị địch bắt và tù đày, 10 đồng chí hy sinh để con đường giao thông trên biển thông suốt và hiệu quả. Sau ngày giải phóng, Đội thuyền 128 được giải tán, có người trở về quê hương, có người ly tán trên nhiều vùng miền của Tổ quốc, nên việc giữ liên lạc, ghi nhận chiến công, tri ân đồng đội còn nhiều hạn chế…Sau này khi tổ chức công nhận, thực hiện chế độ chính sách thì nhiều đồng chí đã không còn nữa hoặc mất liên lạc. Nhiều đồng chí còn sống nhưng mang trên mình thương tật hoặc có cuộc sống khó khăn, nhưng tất cả đều giữ trọn phẩm chất, đạo đức trong sáng, bản lĩnh vững vàng của người chiến sĩ đội thuyền anh hùng. Họ là những tấm gương sáng để cán bộ, chiến sĩ tình báo quốc phòng hôm nay học tập, noi theo.

Bài và ảnh: Hoàng Trường Giang
qdnd.vn

Ngày 21 tháng 1: “Tôi tuyệt nhiên không ham danh lợi”

Thứ tư, 21/01/2009, 01:56 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

83 năm trước, vào ngày 21-1-1926, nhân 2 năm ngày V.Lênin mất, Nguyễn Ái Quốc, lúc này đang hoạt động ở Trung Quốc, đã viết bài báo “Lênin và phương Đông” đăng trên tờ “Tiếng Còi” (Liên Xô), trong đó khẳng định: “Lênin là người đầu tiên đã đặt cơ sở cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa”, “Đối với tất cả các dân tộc bị áp bức và bị nô dịch, Lênin đã thể hiện một bước ngoặt trong lịch sử cuộc đời đau khổ và bị mất quyền của họ, là tượng trưng cho một tương lai mới, xán lạn”.

2 thập kỷ sau, ngày 21-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của các nhà báo nước ngoài và công bố rộng rãi như một tuyên ngôn cá nhân vào thời điểm cuộc Tổng tuyển cử đã thành công: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận vậy… Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi sẽ làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi. Nay tôi chỉ có một tin tưởng vào Dân tộc độc lập. Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng Dân tộc Việt Nam. Đảng đó chỉ có một mục đích là làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài”.

Còn cách đây 62 năm, ngày 21-1-1947 ứng với ngày 30 Tết Đinh Hợi, cái tết kháng chiến đầu tiên nhưng Bác vẫn chủ trì Chính phủ họp tại phủ Quốc Oai bàn về vấn đề tản cư dân, động viên dân chúng và tăng gia sản xuất.

Sau buổi họp, Bác đến Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam đang sơ tán tại chùa Trầm để đọc “Lời kêu gọi nhân Tết Nguyên đán” và lời thơ chúc tết: “Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió / Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông / Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến / Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng / Tiến lên chiến sĩ ! Tiến lên đồng bào / Sức ta đã mạnh, người ta đã đông / Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi / Thống nhất, độc lập nhất định thành công”.

19 năm sau, ngày 21-1-1966 cũng lại là ngày mồng một Tết Bính Ngọ, cả nước đón thơ chúc mừng năm mới của Bác Hồ. Vẫn là những vần thơ mang tính thời sự nóng bỏng: “Mừng miền Nam rực rỡ chiến công / Nhiều Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Plây Me, Đà Nẵng… / Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng / Giặc Mỹ leo thang ngày càng thua nặng / Đồng bào cả nước đoàn kết một lòng / Tiền tuyến hậu phương, toàn dân cố gắng / Thi đua sản xuất chiến đấu xung phong / Chống Mỹ cứu nước, ta nhất định thắng!”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 20 tháng 1: Tuổi trẻ – mùa xuân của xã hội

Thứ ba, 20/01/2009, 01:19 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhVào dịp xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Bác Hồ gửi thư tới thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp tết sắp đến. Bức thư khởi đầu bằng những lời lẽ hết sức sâu sắc nhằm động viên giới trẻ bước vào cuộc vận động “Đời sống mới” mà người đứng đầu nhà nước phát động và đặt nhiều kỳ vọng:

“Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội. Vậy qua năm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới”. Đời sống mới là: – Hăng hái kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ; – Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm; – Việc nên làm (như ủng hộ kháng chiến, tăng gia sản xuất) thì ta không chờ ai nhắc nhủ; – Việc nên tránh (như tự tư tự lợi) thì ta không đợi ai ngăn ngừa.

Năm mới, chúng ta thực hành “đời sống mới” để trở nên những công dân mới, xứng đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.

Một năm sau đó, khi toàn quốc kháng chiến đã bùng nổ được gần một tháng, ngày 20-1-1947, Bác cũng không quên viết thư cho người chuyển vào thành phố, nơi chiến sự đương diễn ra ác liệt, để khuyên sư cụ chùa Ngũ Xã nên tản cư. Chiều hôm đó, con đường đến Hà Đông lầy lội đến mức các đại biểu, kể cả vị Chủ tịch nước, không đến nổi địa điểm cuộc họp đầu tiên của chính phủ dự kiến triệu tập vào buổi chiều cùng ngày chỉ cách Hà Nội hơn chục cây số.

Một năm tiếp sau, Bác và đầu não của cuộc kháng chiến đã xây dựng căn cứ vững chắc trên chiến khu Việt Bắc, ngày 20-1-1948, Bác ký nhiều sắc lệnh quan trọng. Trong đó có việc phong quân hàm Đại tướng cho Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân tự vệ Võ Nguyên Giáp (số 109), phong quân hàm cấp Thiếu tướng cho một loạt các nhà lãnh đạo quân sự mà sau này trở thành những tướng lĩnh nổi tiếng như Hoàng Văn Thái, Hoàng Sâm, Trần Tử Bình, Văn Tiến Dũng, Lê Hiến Mai… Đây là sự kiện lịch sử đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Quân đội Nhân dân Việt Nam khi chỉ sau một năm đã vượt qua những thử thách vô cùng khắc nghiệt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nhằm bảo vệ nền độc lập dân tộc vừa giành được và quyết tâm thực hiện mục tiêu thống nhất nước nhà.

14 năm sau, ngày 20-1-1962, tại Hà Nội, Bác dự họp Bộ Chính trị bàn vấn đề chống tham ô lãng phí. Tại đây, Bác phát biểu: “Quan liêu, lãng phí, tham ô làm hại cho dân. Tham ô, lãng phí là một tội đối với nhân dân. Ai cũng phải chống… Phong trào phải làm từ trên xuống, từ dưới lên, dân chủ và phải trường kỳ. Trung ương có hội, có nghị, có quyết mà không hành là do mình không cương quyết. Không gấp nhưng phải làm cho kỳ được”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh phong danh hiệu Anh hùng Lao động cho Thiếu tá Ghecman Titốp, phi công vũ trụ Liên Xô đã thực hiện chuyến bay quanh trái đất trong nhiều ngày trên con tàu vũ trụ “Phương Đông II”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 19 tháng 1: Khi đặt kế hoạch, phải nhìn xa thấy rộng

Thứ hai, 19/01/2009, 01:20 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhTối ngày 19-1 cách đây 89 năm (1920), Nguyễn Ái Quốc đi cùng một đồng bào người Việt xem tại Nhà hát Nouveau Lirique ở Paris. Trong khi theo dõi sự kiện này viên mật thám đã phát hiện ý định của Nguyễn Ái Quốc đang viết một cuốn sách dự kiến mang tên là “Les Opprimés” (Những kẻ bị áp bức). Nguyễn Ái Quốc tỏ ra quyết tâm thực hiện bằng được.

Khi được hỏi lấy tiền đâu để in, Nguyễn Ái Quốc đã trả lời: “Khi nào tôi hoàn thành xong quyển sách ấy, tôi sẽ đem bản thảo đến một đảng viên xã hội hay bất cứ ai khác. Sau khi biết giá tiền để in, tôi sẽ bán thân tôi cho họ như một người đầy tớ. Chả nhẽ tôi không biết đánh giày hay dọn nhà hay sao?” và thổ lộ mối quan tâm lớn nhất là “làm sao để đưa cuốn sách về trong nước”.

Ngày 19-1-1933, từ con tàu “Ho Sang” mới cập bến, Nguyễn Ái Quốc một lần nữa bị cảnh sát Hồng Công bắt lại. Thêm một lần nữa Bác lại thoát hiểm sau khi viết một bức thư gửi luật sư Loseby và nhờ sự can thiệp của vị luật sư này, Nguyễn Ái Quốc lập tức được thả ngay trong ngày bị bắt.

Ngày 19-1-1946, tại Bắc Bộ phủ, Bác tiếp các phóng viên và khẳng định rằng quyết tâm bảo vệ nền độc lập là một quyền chính đáng “cũng như dân Pháp mong muốn độc lập khi bị nước Đức chiếm đóng” và tỏ rõ quan điểm “nước Pháp không thể nào trở lại thống trị nước Việt Nam một lần nữa vì nước Pháp ngày nay không như xưa, cũng như nước Việt Nam bây giờ không phải là nước Việt Nam ngày trước”.

Cách đây nửa thế kỷ, vào dịp Tết Kỷ Hợi (1959), Bác Hồ phát động Tết trồng cây, ngày 19-1-1960 Báo Nhân Dân đăng bài “Tết trồng cây đã thắng lợi bước đầu”. Bài báo nêu gương một số địa phương và nhắc nhở phải “xem trọng chất lượng, nghĩa là trồng cây nào chắc cây ấy, không nên tham trồng quá nhiều mà không ra sức bảo vệ và trông nom cây” và “thực hiện Tết trồng cây cùng với kế hoạch trồng cây gây rừng của nhà nước một cách liên tục, bền bỉ và vững chắc”.

Ngày 19-1-1965, bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ hai giữa lúc đế quốc Mỹ phát động cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc, Bác Hồ nói chuyện với Hội nghị phổ biến kế hoạch nhà nước năm 1965, đề cập tới một số tư tưởng trong chỉ đạo thực hiện kế hoạch: “Đặt kế hoạch thật tốt và thật sát là rất cần, nhưng đó chỉ là bước đầu.

Kế hoạch 10 phần thì biện pháp cụ thể là 20 phần, chỉ đạo thực hiện sát sao phải 30 phần. Có như thế mới chắc chắn hoàn thành kế hoạch. Khi đặt kế hoạch thì phải nhìn xa. Có nhìn xa mới quyết định đúng đắn thời kỳ nào làm công việc gì là chính. Phải thấy rộng. Có thấy rộng thì mới sắp đặt các ngành hoạt động một cách cân đối. Khi đi vào thực hiện thì mỗi ngành, mỗi nghề phải rất tỉ mỉ, chu đáo, thật sát với mỗi cơ sở. Đó là “một bộ ba” để hoàn thành tốt kế hoạch”.

D.T.Q và nhóm cộng sư
sggp.org.vn

Ngày 18 tháng 1: Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới Xuân!

Chủ nhật, 18/01/2009, 01:20 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh86 năm trước, ngày 18-1-1923, hồ sơ mật thám cho biết Nguyễn Ái Quốc tham dự kỳ họp hàng tháng của Hội Liên hiệp Thuộc địa. Đây là tổ chức được thành lập từ năm 1921 tập hợp đông đảo thành viên là người dân các thuộc địa đang sống ở nước Pháp. Tham dự kỳ họp này cùng với Nguyễn Ái Quốc là người tham gia sáng lập còn có Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Ái, Trần Tiến Nam và một người tên là Toàn Hải (có tài liệu cho đó là con trai của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh) cùng nhiều bạn đồng chí các nước khác.

23 năm sau, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh đang chèo chống con thuyền cách mạng và bảo vệ nền độc lập của nước Việt Nam trước mối đe dọa của chủ nghĩa thực dân. Ngày 18-1-1946, nhân dịp Liên hiệp quốc họp ở Luân Đôn – thủ đô nước Anh, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Tổng thống Mỹ H.Truman lên án hành động chiến tranh của thực dân Pháp đồng thời yêu cầu người đứng đầu nhà nước Mỹ hãy “can thiệp ngay lập tức và có giải pháp để nhân dân Việt Nam thoát ra khỏi cuộc chiến tranh đó” và “Với sự giúp đỡ to lớn của Cộng hòa Mỹ, của Trung Quốc và Liên hiệp quốc về tài chính và kỹ thuật, Cộng hòa Việt Nam chúng tôi sẽ có đủ khả năng góp phần xây dựng nền hòa bình và thịnh vượng chung trên thế giới”. 

Khi miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu xây dựng con người mới, lối sống mới trở thành mối quan tâm của Bác Hồ. Thời gian này trên nhiều tờ báo, Bác thường viết những bài báo nhỏ đề cập đến những vấn đề đời thường và thời sự.

10 ngày trước Tết Canh Tý cách nay 49 năm, ngày 18-1-1960, Bác Hồ đã viết bài“Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?” đăng trên báo Nhân Dân, nêu những điều đáng khen, đáng chê trong việc ăn tết, nhắc nhở cán bộ phải làm gương, hướng dẫn nhân dân ăn tết vui vẻ, tiết kiệm và kết luận bằng câu thơ: “Trăm năm trong cõi người ta/Cần kiệm xây dựng nước nhà mới ngoan/Mừng Xuân, Xuân cả thế gian/Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới Xuân”.

Cũng trong ngày bài báo được đăng, Bác đi thăm tỉnh Kiến An (nay là huyện thuộc thành phố Hải Phòng) gặp gỡ cán bộ và nhân dân, Bác nhắc nhở đảng viên phải “thường thường ôn lại, tự liên hệ và giữ đúng tiêu chuẩn của người đảng viên”.

Một năm sau, ngày 18-1-1961, cũng trên tờ báo của Đảng, Bác Hồ đã viết bài “Một lòng một dạ phục vụ nhân dân” phê phán một số hiện tượng tiêu cực, cửa quyền của những cán bộ ngành thương nghiệp quốc doanh. Bài báo phân tích: “Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân dân làm chủ. Tức là cán bộ và nhân viên từ cấp trên đến cấp dưới đều là đày tớ của nhân dân, đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân… Đảng và Chính phủ dạy chúng ta phải kính trọng nhân dân, phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân. Không thể tha thứ những thái độ khinh miệt nhân dân, dối trá nhân dân…”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 17 tháng 1: Đánh kẻng còn hơn gảy đàn!

Thứ bảy, 17/01/2009, 03:50 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 83 năm, ngày 17-1-1926, trên báo Thanh Niên xuất bản tại Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc viết bài “Báo chí bình dân” đưa ra một quan niệm về báo chí cách mạng. Bài báo viết: “Chúng tôi bất chấp (xem thường) việc sử dụng những từ mỹ miều, văn phong lịch lãm, câu chữ đong đưa, nhịp câu đăng đối song hành, những sự tô vẽ văn chương mà các nhà nho ham chuộng. Nhưng ngược lại, chúng tôi gắng sức vì lợi ích của tất cả mọi người, dùng một văn phong sáng sủa, chính xác và dễ hiểu.

Vì mục đích của chúng tôi là: 1. Đánh trả sự tàn bạo của người Pháp, 2. Khích lệ dân tộc An Nam liên kết lại, 3. Làm cho họ thấy được nguyên nhân những đau khổ, đói nghèo của họ và chỉ ra cho họ làm thế nào để tránh được những điều đó nên bản báo của chúng tôi làm tròn nhiệm vụ là hồi kẻng báo động… Tiếng đàn chắc chắn hay hơn tiếng kẻng, nhưng trước mối họa đang đe dọa chúng ta, tốt nhất là đánh kẻng còn hơn gảy đàn!”.

20 năm sau
 sự kiện trên, ngày 17-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện văn tới bộ trưởng ngoại giao các nước Liên Xô, Hoa Kỳ và đại diện Trung Quốc tại Liên hiệp quốc “thiết tha yêu cầu công nhận nền độc lập và nhận Việt Nam vào Hội đồng Liên hiệp quốc”. Đây là lần đầu tiên chính phủ Việt Nam gửi một văn bản chính thức đặt vấn đề với 3 quốc gia sáng lập Liên hiệp quốc: “Sự có mặt của chúng tôi trong hội nghị sẽ có ích nhiều trong việc giải quyết một cách nhanh chóng và hòa bình các vấn đề ở Đông Nam Á châu hiện nay”.

Lịch sử cho thấy, phải bằng một cuộc đấu tranh lâu dài tới 30 năm sau đó (1976), Việt Nam mới chính thức gia nhập Liên hiệp quốc với tư thế của một quốc gia độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Cùng ngày, tham dự cuộc họp giám đốc và chủ tịch các ủy ban công sở ở Hà Nội, Bác có “Lời khuyên anh em viên chức” (về sau đăng thành một bài báo) trong đó nhấn mạnh đến 4 đức tính là: “Cần, kiệm, liêm, chính. Cần, anh em viên chức phải tận tâm làm việc, một người làm bằng hai, bằng ba người. Và phải tôn trọng kỷ luật. Anh em phải theo nguyên tắc là có việc mới cần đến người, chứ không phải là có sẵn người nên phải tìm việc cho làm. Kiệm là phải biết tiết kiệm đồng tiền kiếm được, cũng như các vật liệu và đồ dùng trong công sở. Rút bớt hết những gì không cần thiết, chớ phao phí giấy má và các thứ của công. Phao phí những thứ đó là phao phí mồ hôi nước mắt của dân nghèo. Chớ tưởng tiết kiệm những cái cỏn con như mẩu giấy, ngòi bút là không có ảnh hưởng. Một người như thế, trăm người như thế, vạn người như thế, công quỹ đã bớt ra được một số tiền đáng kể, lấy ở mồ hôi nước mắt dân nghèo mà ra. Có cần, có kiệm, không tiêu đến nhiều tiền, anh em viên chức mới có thể trở nên liêm, chính để cho người ngoài kính nể được”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn