Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Bác Hồ với việc giáo dục thanh niên

Cả cuộc đời phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí minh không quên chăm lo đời sống của mọi tầng lớp nhân dân, Người luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho thanh niên bởi đó là những chủ nhân tương lai của đất nước. Theo quan điểm của Người thì thanh niên là:

Người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai – tức là các cháu nhi đồng.

Người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế và văn hoá, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ, đang hăng hái giữ gìn trật tự, trị an, bảo vệ Tổ quốc.

Người luôn đi đầu trong mọi công việc với khẩu hiệu “Đâu cần thanh niên có. Việc gì khó thanh niên làm”.

1. a1. Bh  Giáo dục TN
Bác Hồ và thanh niên trong ngày bầu cử Quốc hội Khóa II (5/5/1960)

Từ khi còn là một thanh niên yêu nước, trải qua những năm tháng bôn ba xứ người, Người luôn canh cánh con đường giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, lầm than và đào tạo thế hệ kế cận gánh vác trọng trách “giúp nước, cứu nhà”. Người đã dành rất nhiều tâm huyết cho việc tổ chức, dẫn dắt các thế hệ thanh niên đến với cách mạng, tham gia vào quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ Châu Âu, Châu Mỹ xa xôi đến khi về Quảng Châu – Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã xây dựng được một đội ngũ những nhà yêu nước trẻ tuổi, trung thành tuyệt đối với con đường cứu nước. Những thanh niên cách mạng ưu tú đó đồng thời đã là những hạt nhân để tiến tới việc thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt nam sau này. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến việc học tập, vấn đề cốt lõi để các thế hệ thanh niên trang bị cho mình sự hiểu biết, vốn kiến thức, một trong những điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho các thế hệ thanh niên có thể tham gia hoạt động cách mạng, phấn đấu cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Song song với việc học tập không ngừng, Bác Hồ cũng dành nhiều sự quan tâm giáo dục thanh niên phải thường xuyên rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính; chí công, vô tư. Bác khuyên thanh niên không được ngại khó khăn, gian khổ, không nề nguy hiểm trong công tác, học tập, chiến đấu. Trong cuộc sống, Bác căn dặn thanh niên biết yêu thương gia đình, kính trọng ông bà, cha mẹ, người cao tuổi, nâng đỡ, dìu dắt thiếu nhi, quý trọng và hiếu thảo với nhân dân. Thanh niên phải ra sức rèn luyện đạo đức cách mạng để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Dù ở thời đại nào, thanh niên cũng phải không ngừng vươn lên, phấn đấu, rèn luyện để thật sự là đội quân chủ lực của cách mạng. Bởi một lẽ như Bác Hồ kính yêu đã nói: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời người khởi đầu từ tuổi trẻ, tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Đến năm 1947, trong thư gửi thanh niên, một lần nữa Bác Hồ lại khẳng định: “… Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc chuẩn bị cái tương lai đó…”. Trong Di chúc, Người không quên căn dặn Đảng ta quan tâm, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thanh niên trở thành những người có tài, có tâm, có lập trường tư tưởng vững chắc, trung thành với mục đích của Đảng, lợi ích của nhân dân, đủ sức gánh vác những trọng trách mới mà Tổ quốc và nhân dân giao phó. Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng Chủ nghĩa xã hội vừa “Hồng” vừa “Chuyên”. Thanh niên “có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức thì là người vô dụng”(Chủ tịch Hồ Chí Minh). Vì vậy, việc bồi dưỡng cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết.

Bên cạnh đó, Người còn yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên cần phải chống tâm lý tự ti, tự lợi, chỉ lo vun vén cho lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình, chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc, chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay… đó là những thói xấu kìm hãm chí tiến thủ của đoàn viên, thanh niên.

1. a2. BH  giaoducTn
Thanh niên tình nguyện Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh ở Gia Lai
cưa cây dựng nhà cho đồng bào trong một chiến dịch Mùa hè xanh

 Thanh niên dù ở thời đại nào, dù trong chiến tranh hay thời bình đều cần phải rèn luyện qua thử thách, qua môi trường sống với tinh thần “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên” để tôi luyện nên ý chí của tuổi trẻ, khi đứng trước bất cứ khó khăn nào cũng vững gan, bền chí vượt qua. Tuổi trẻ cả nước hôm nay luôn nêu cao tinh thần yêu nước quật cường của cha anh đi trước, phát huy truyền thống của dân tộc, hăng hái, sôi nổi hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào xung kích, tình nguyện: “Tuổi trẻ Thủ đô tình nguyện nơi đỉnh trời – Hà Giang”, chương trình “Mùa hè xanh”, đồng hành… (Đồng hành cùng thanh niên lập thân, lập nghiệp), tích cực tham gia các diễn đàn: “Tuổi trẻ Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”, “Tiếp lửa truyền thống – Mãi mãi tuổi hai mươi”,…

1. a3. BH giaoducTN
Mùa hè xanh 2009

Trong công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế, Đảng ta vẫn thấm nhuần những lời dạy của Người về công tác thanh niên, đưa việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trở thành sinh hoạt chính trị thường xuyên đối với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Các thế hệ thanh thiếu niên ngày nay ý thức được trách nhiệm, quyền lợi của mình cần phải ra sức rèn luyện, học tập nâng cao mọi mặt trình độ, kiến thức, làm chủ khoa học công nghệ, đặc biệt là trau dồi, tu dưỡng đạo đức cách mạng, trở thành những người “vừa hồng vừa chuyên” như lời Bác dạy, để xứng đáng là những chủ nhân của đất nước trong thời kỳ mới.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Mạch nguồn thơ văn Nguyễn Trãi trong tác phẩm của Hồ Chí Minh

Việt Nam - Hồ Chí MinhHồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu đậm từ Nguyễn Trãi, trước hết là tư tưởng vì dân, trọng dân, yêu dân.

Nguyễn Trãi viết: “Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc… Dám mong Bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăm nuôi muôn dân, khiến cho thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu, đó tức là giữ được cái gốc của nhạc vậy”. Mở đầu Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã tuyên bố đường lối: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Tiếp thu tinh thần ấy, Hồ Chí Minh đã hơn một lần nói: “Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại bị đau khổ, bị áp bức”. Ngay trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh nêu một nguyên lý: “Nước lấy dân làm gốc” để nhắc nhở cán bộ phải luôn biết dựa vào dân và phục vụ vì dân. Kế thừa, phát triển tư tưởng lấy dân làm gốc của Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh khẳng định sự tất thắng của sức mạnh nhân dân:

Quân tốt dân tốt,

Muôn sự đều nên.

Gốc có vững cây mới bền,

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân.

Nguyễn Trãi yêu cầu “phàm người có chức vụ… đối dân tận hòa, bỏ thói tham ô, trừ tệ lười biếng; bè đảng riêng tây phải bỏ, thái độ cố phạm phải chừa, coi công việc của quốc gia làm công việc của mình, lấy điều lo của sinh dân làm điều lo của mình”.

Ngay từ những ngày đầu giải phóng, Bác Hồ đã đề ra nhiệm vụ “Chính phủ và Đảng chỉ mưu giải phóng cho nhân dân, vì thế, bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Người nghiêm khắc phê phán những kẻ cơ hội: “Có người làm quan cách mạng, chợ đỏ chợ đen, khinh dân, mưu vinh thân phì gia”. Người dạy cán bộ phải biết kính trọng dân: “Có người cho là “dân ngu khu đen”. Thế là tầm bậy. Dân rất thông minh. Quần chúng kinh nghiệm sáng kiến rất nhiều”. Để xứng đáng là “người đầy tớ trung thành của nhân dân”, Bác Hồ yêu cầu cán bộ phải “cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”. Người từng lên tiếng báo động: “Đề phòng hủ hóa… có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán…” và đề ra một tiêu chuẩn của người cách mạng là “Lo, thì trước thiên hạ; hưởng, thì sau thiên hạ”; “ không lợi dụng danh nghĩa Ủy ban để gây bè tìm cánh, đưa người “trong nhà trong họ” vào làm việc với mình”.

Trong Chiếu về việc làm bài Hậu tự huấn để răn bảo thái tử, Nguyễn Trãi yêu cầu nhà vua phải “hòa thuận tông thân, nhớ giữ một lòng hữu ái, thương yêu dân chúng, nghĩ làm những việc khoan nhân”. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi thể hiện thật sâu sắc ở phương châm giản chính, khoan hình: “… có khi dùng đến uy pháp, nhưng không nên lâu la phải chóng trở về với nhân nghĩa”, nếu phải dùng quyền mưu thì “chỉ dùng để trị gian tà. Cốt nhân nghĩa gìn giữ thì thế nước mới yên ổn”. Hồ Chí Minh học tập tinh thần ấy của Nguyễn Trãi, Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”.Tư tưởng vì con người của Bác Hồ rất gần với Nguyễn Trãi, dĩ nhiên được mở rộng, cụ thể hơn: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người. Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ”.

Nhìn dưới góc độ văn chương cũng cho thấy Hồ Chí Minh học tập từ Nguyễn Trãi. Cụ Ức Trai có câu thơ: “Hà thời kết ốc vân phong hạ/ Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên”(Bao giờ làm được nhà dưới núi dưới mây/ Múc nước suối nấu chè, gối hòn đá ngủ – Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác), Hồ Chí Minh cũng từng có mong muốn: “… Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa,…”. Câu thơ “Cháo bẹ rau măng vẫn sẫn sàng” của Hồ Chí Minh có hình bóng câu thơ Ức Trai: “Cơm ăn chẳng quản dưa muối/ Áo mặc nài chi gấm thêu” (Thuật hứng). Âm hưởng tiếng suối trong thơ Nguyễn Trãi: “Côn Sơn có suối/ Tiếng nước chảy rì rầm/ Ta coi làm đàn cầm…”, hơn năm trăm năm sau vọng vào thơ Hồ Chí Minh: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”. Trong câu thơ của Hồ Chí Minh: “Giang tâm như kính tịnh vô trần” (Lòng sông gương sáng bụi không mờ), thì cái nhìn mặt nước trong suốt lung linh ấy cũng có từ Nguyễn Trãi: “Nhất bàn lam bích trừng minh kính” (Một mặt phẳng sắc lam sắc biếc như tấm gương trong suốt – Vân Đồn). Có khi là ảnh hưởng tứ thơ. Nguyễn Trãi viết về tuổi già nhưng chí trẻ: “Tuổi cao, tóc bạc, cái râu bạc/ Nhà ngặt, đèn xanh, con mắt xanh”. Bác Hồ cũng có tứ thơ ấy: “Chưa năm mươi tuổi đã kêu già/ Sáu ba mình nghĩ vẫn là đương trai…”…

Có thể thấy trước tác của hai nhà tư tưởng lớn này có điểm giống nhau là rất giản dị, dễ hiểu, gần với đời sống nhân dân, biểu đạt một cách nhuần nhị lời ăn tiếng nói của nhân dân, bởi ở họ có một điểm chung là rất có ý thức kế thừa ngôn ngữ quần chúng lao động. Thơ Nguyễn Trãi là một trong những mạch nguồn tư tưởng và mạch nguồn ngôn ngữ nghệ thuật ở tác phẩm của Hồ Chí Minh.

Nguyễn Thanh Tú
Theo Báo Quân đội nhân dân
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

“Chỉ sợ lòng mình không rộng”

Đã đến ngày mồng 2-9. Tôi được Trung ương triệu tập lên dự Hội nghị Bí thư và Chủ tịch các tỉnh miền Bắc từ hôm trước. Chiều hôm sau cùng các đại biểu đi dự mít tinh ở Quảng trường Ba Đình để nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập và giới thiệu danh sách Chính phủ lâm thời. Sau đấy lại cùng về Bắc Bộ Phủ, nay là Nhà khách Chính phủ ở phố Ngô Quyền, để họp với đồng chí Trường Chinh. Đang họp thì Bác vào (từ lúc ở Ba Đình về Bác vẫn ngồi nghỉ trên chiếc ghế bành mây ở hành lang phía sau nhà, nhìn ra Hồ Gươm). Tôi nhìn Bác không chớp mắt. Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương, đã có lần ở Báo “Tin tức” của Đảng, khi biên tập hồi ký “Ba năm ở Nga Xô-viết” của đồng chí Trần Đình Long để đăng từng kỳ trên Báo, trong đoạn nói về việc gặp Bác ở Đức, tôi có hư cấu thêm một câu để tả chân dung Bác: “Dưới vầng trán cao ánh lên một cặp mắt sáng quắc và nhân từ”. Lúc này ngồi ngắm Bác tôi lại nhớ đến câu ấy, ngạc nhiên thấy mình tưởng tượng rất đúng. Chỉ có cách ăn mặc và cách nói giản dị của Bác thì không tưởng tượng được. Tôi liếc sang cuốn sổ tay nhỏ để trước mặt Bác thấy hai chữ “Phân công” ghi bằng chữ Hán. Tôi nghĩ bụng chắc Bác giỏi chữ Hán lắm… Bác ghi thêm mấy chữ nữa, rồi không cần mào đầu Bác nói ngay:

– Bây giờ cách mạng đã thành công, nhưng khó khăn còn nhiều. Đừng có đồng chí nào nghĩ rằng đã đến lúc cần được nghỉ ngơi, hưởng thụ. Các đồng chí đều đã hoạt động bí mật, đã kinh qua nhiều gian khổ, bây giờ ra ánh sáng nếu không cẩn thận thì sẽ bị lóa mắt về những vật chất. Ở một vài nơi nhân dân đã kêu: Các ông ủy ban đi đâu một bước là ô tô. Ông chủ tịch đi ô tô, ông ủy viên đi ô tô, rồi cả bà ủy viên, cô cậu ủy viên cũng đi ô tô. Làm cách mạng là để phục vụ nhân dân chứ không phải để thăng quan phát tài, chỉ có người cách mạng, chứ không có quan cách mạng. Nếu không giữ mình liêm chính thì sẽ tham ô, thụt két, rồi bị kỷ luật…

Chi so long minhLực lượng vũ trang cách mạng trong Ngày Quốc khánh 2-9-1945.
( Ảnh tư liệu)

Bác chỉ nói ngắn gọn có thế thôi, nhưng mọi người đều cảm thấy như Bác đã nhìn thấu ruột gan mình. Cái gì chứ cái dùng ô tô bừa bãi thì hầu như không nơi nào không có. Không ngờ Bác bận trăm công ngàn việc trong buổi đầu dựng nước, mà Bác vẫn không bỏ sót một việc nhỏ nào. Một điều nữa làm tôi ngạc nhiên là đã mấy chục năm bôn ba ở nước ngoài, mà lời nói và cách nói của Bác không hề bị pha tạp một tý gì của nước ngoài, vẫn hoàn toàn Việt Nam.

*

*      *

Một hôm, vào gần giữa tháng chín, tôi nhận được điện của Bộ Nội vụ ra lệnh tha cho một viên quan lại mà chúng tôi bắt giam về tội chống Cộng. Viên quan này là Nguyễn Văn Ích, quê ở Hưng Yên, làm Tuần phủ Tuyên Quang. Khi còn là một tên Thống phán tòa sứ, ông ta cũng có viết văn. Cuốn tiểu thuyết “Kim Anh lệ sử” của ông ta đã gây được tiếng vang rộng rãi trong giới trí thức và quan lại hồi ấy, vì nó đề cập đến một vấn đề thời sự: Một viên Tri huyện hiến vợ lẽ của mình là Kim Anh cho tên Công sứ Tây để được thăng quan tiến chức. Nhưng đến năm 1931, khi phong trào cộng sản lên cao thì ông lại dịch cuốn “Mặt nạ cộng sản” để nói xấu cộng sản và xuyên tạc Liên Xô. Cuốn sách đã được bọn Thống trị Pháp cho phát không về các làng và ông ta thì được thăng Tri châu, rồi Tuần phủ. Cách mạng lên, ông “từ quan” về ngôi biệt thự lộng lẫy bên hồ Bán nguyệt.

Việc bắt viên Tuần phủ Ích cả tỉnh đều biết, bây giờ phải tha cho ông ta thì biết ăn nói thế nào với bà con Hưng Yên? Sau khi trao đổi với các đồng chí trong Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh, tôi phóng xe lên Bắc Bộ Phủ xin gặp anh Võ Nguyên Giáp lúc ấy là Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Anh Giáp cho anh Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) xuống tiếp. Nghe tôi trình bày sự việc xong, anh Bôi nói:

– Việc này nằm trong chính sách chung của Đảng với những người có sai lầm cũ, không thể thay đổi được. Đến cả Vi Văn Định mà “ông cụ” cũng sắp cho mời về làm việc kia.

Tôi đề nghị anh Bôi báo cáo với Hồ Chủ tịch xét lại việc này cho, chứ tha viên Tuần phủ ấy bây giờ thì chúng tôi sẽ mất hết uy tín với nhân dân trong tỉnh. Anh Bôi lắc đầu:

– Không được đâu! “Ông cụ” rigide (cứng rắn) về nguyên tắc lắm.

Tôi vẫn nằn nì. Cuối cùng anh Bôi bảo tôi hãy chờ một lát, anh phải lên làm việc với Bác, để anh thử xin ý kiến Bác xem (anh vẫn gọi Bác là “Ông cụ”). Một lúc sau anh xuống gọi tôi lên gặp Bác. Bác chỉ ghế cho tôi ngồi rồi hỏi ngay:

– Đồng chí bắt người ta có lợi gì không?

Lần đầu tiên được gặp riêng Bác, tôi rất lúng túng trong việc xưng hô. Tôi ấp úng:

– Thưa… Thưa Chủ tịch, vì nó đã viết sách chửi cộng sản.

– Biết rồi. Nhưng việc đã lâu ngày, bắt người ta bây giờ có lợi gì không?

– Thưa Chủ tịch, để nó phải sợ…

Tôi biết lỡ lời, định chữa lại, thì Bác đã nói tiếp:

– Thế đồng chí có biết làm cho người ta sợ hơn, hay làm cho người ta yêu hơn? Đồng chí có học chữ nho không?

– Thưa, có học ít thôi ạ.

– Thế đồng chí có nhớ câu các cụ thường nói “xử nhân úy bất như xử nhân ái” không? Đồng chí nên nhớ rằng không sợ người không theo mình, mà chỉ sợ lòng mình không rộng. Thôi, đồng chí về bàn với anh em giải thích cho người ta hiểu chính sách khoan hồng của Chính phủ, rồi tha cho người ta…

*

*     *

Không sợ người không theo mình, mà chỉ sợ lòng mình không rộng. Đã hơn 60 năm rồi mà đến nay tôi vẫn còn nhớ như in lời dạy của Bác. Tôi cũng không bao giờ quên được những lời khuyên răn của Bác hôm được gặp Bác ở Bắc Bộ Phủ, nhất là câu: “Chỉ có người cách mạng, chứ không có quan cách mạng”.

Nhà văn Học Phi

Theo http://www.qdnd.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh qua đánh giá của Unesco

Văn Hoá, Đạo Đức Trong Tư Tưởng Hồ Chí MinhNăm 1987, tổ chức khoa học, giáo dục, văn hóa của Liên hiệp quốc, UNESCO trong cuộc họp Đại hội đồng lần thứ 24 (tại Paris từ 20/10 đến 20/11) đã ra Nghị quyết phong tặng Hồ Chí Minh danh hiệu kép: “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn”. Bài viết này khái quát những đánh giá của UNSECO về Hồ Chí Minh thể hiện trong Nghị quyết, qua đó khẳng định tầm vóc văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xem đây như là những tiêu chí mà UNESCO đã căn cứ để phong tặng Người là nhà văn hóa lớn.

Không phải bất cứ ai hoạt động và sáng tạo trong lĩnh vực văn hoá đều là nhà văn hoá, mà chỉ được thừa nhận là nhà văn hoá nếu chủ thể hoạt động và sáng tạo đó vươn tới tầm cao của tri thức văn hoá, khoa học…ở thời đại, để từ đó sáng tạo ra những giá trị văn hoá đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của nền văn hoá dân tộc và văn hoá nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh vượt lên trên những tiêu chí đó để xứng đáng là nhà văn hóa lớn của thế giới.

Trong Nghị quyết Đại hội đồng UNESCO lần thứ 24, khi phong tặng Hồ Chí Minh danh hiệu kép “ Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn” (Vietnamese hero of national liberation anh great man of culture – nguyên văn bản dịch tiếng Anh), UNESCO đã đánh giá: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất của sự khẳng định dân tộc, đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, sự đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam với lịch sử hàng nghìn năm, và những lý tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc văn hóa và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.

Hồ Chí Minh được thừa nhận là nhà văn hoá lớn vì trước hết Người đã khởi xướng phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, giải phóng các dân tộc thuộc địa, giành lại độc lập tự do cho các dân tộc bị bóc lột, phấn đấu vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho muôn người. Đó không phải chỉ là một sự nghiệp chính trị phi thường mà còn là một sự nghiệp văn hoá cao cả.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đưa chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam, lấy đó làm cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho việc xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam. Người là kiến trúc sư vĩ đại của công cuộc cải cách và xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam, tạo ra một cách nhìn mới, một thế giới quan mới, tạo lập một ý thức chính trị, ý thức đạo đức, ý thức pháp luật, ý thức nghệ thuật mới…chưa từng có trong lịch sử văn hoá Việt Nam.

Trên cơ sở chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ Chí Minh đã đánh thức các tiềm năng tinh thần truyền thống Việt Nam, định hướng cho sự ra đời một nền văn hoá mới, một xã hội nhân cách mới. Người là kết tinh truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Người đã đưa nền văn hóa Việt Nam lên một tầm cao mới và khẳng định bản sắc văn hóa của dân tộc mình trước thế giới cũng như góp phần đưa văn hóa Việt Nam giao lưu, hòa nhập với văn hóa thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc, cốt cách văn hóa của dân tộc mình đã hình thành từ những năm 20 của thể kỷ XX. Năm 1924, khi đến thăm Triển lãm nghệ thuật tổ chức tại Matxcơva, Người đã nhấn mạnh: “Mỗi dân tộc phải chăm lo đặc tính dân tộc của mình trong văn hóa nghệ thuật”.[1] Hồ Chí Minh còn có những đóng góp quan trọng trong việc “thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”giữa các dân tộc mà trước hết là hiểu biết về văn hóa. Đây chính là những chủ trương về văn hóa của các dân tộc cũng như của UNESCO trong xu thế giao lưu, hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay.

Hồ Chí Minh là biểu tượng của sự kết hợp hài hoà tinh hoa văn hoá dân tộc và văn hoá nhân loại, thể hiện một cách tiêu biểu và nổi bật sự kết hợp giữa những giá trị nhân văn của dân tộc, những đạo lý của con người Việt Nam với chủ nghĩa Mác – Lênin, chân lý của thời đại và tinh hoa văn hoá nhân loại bao gồm cổ, kim, Đông, Tây. Tư tưởng của Người về văn hóa thể hiện ở ý thức rõ ràng của Người về bản sắc và giá trị của văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, Người xác định càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, càng phải coi trọng truyền thống tốt đẹp của cha ông[2]. Người giáo dục nhân dân: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” [3].

Với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa, Hồ Chí Minh là nhà thơ lớn, nhà văn, nhà báo cách mạng vĩ đại.

Sinh thời, Hồ Chí Minh vẫn thẳng thắn khước từ mọi danh hiệu làm văn hóa – nghệ thuật mà mọi người thường gắn cho mình. Đúng là người không chú tâm làm nghệ thuật nhưng sự nghiệp cầm bút vì cách mạng của Người đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp văn hóa “vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”, vô cùng cao thượng và phong phú” như chính cuộc đời của Người.

Thơ Hồ Chí Minh phần lớn là những bài thơ “đuổi giặc”, bài nào cũng có thể tìm thấy ở đó một ý nghĩa chính trị nhất định, song không bài nào vắng bóng con người. Khát vọng tự do công lý, ấm no, hạnh phúc, hòa bình…, sự cổ vũ cho cái đẹp và mối quan hệ nhân văn giữa người với người, đó là một nội dung chủ đạo trong thơ Hồ Chí Minh. Vì vậy, những bài thơ của Người, trong đó có một số bài đã trở thành “thơ của muôn đời”, đã làm “xáo trộn cả tâm hồn nhân loại” bởi giá trị nhân văn cao quý, tỏa sáng từ một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn. Về mặt nghệ thuật, một số bài thơ chữ Hán của Người đã đạt đến trình độ kiệt tác, có thể đem so sánh với thơ Đường, thơ Tống, bởi vì ngoài cái gốc là tính trữ tình, nó đã vượt ra khỏi cái đỉnh cao nhất của kỹ xảo điêu luyện, đã trở thành một nghệ thuật hầu như tự nhiên”.

Hồ Chí Minh cũng đồng thời là nhà văn lớn, là người mở đầu và đặt nền móng cho nền văn xuôi cách mạng Việt Nam. Người đã tìm tòi, thử bút trên nhiều thể loại: Tiểu thuyết, du ký, truyện viễn tưởng, truyện ngắn, truyện ký, kịch, tiểu thuyết, văn chính luận… và ở lĩnh vực nào Người cũng đạt được những thành tựu đặc sắc. Người đã đem lại cho văn chương cách mạng nước ta những yếu tố rất mới, rất hiện đại, không chỉ so với các nhà nho, các chiến sĩ cách mạng cùng thời mà cả với văn nghệ sĩ hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là bậc thầy của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Ngòi bút của Người trên mặt trận báo chí đã thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, lên án chủ nghĩa thực dân, chỉ đạo phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa. Chính Người đã sáng lập và linh hồn của nhiều tờ báo vô sản đầu tiên trong lịch sử báo chí nước ta và trên thế giới, trước hết là tờ Báo Người cùng khổ ở Pháp, Báo Thanh niên, Công nông, Lính cách mệnh, Việt Nam độc lập ở Trung Quốc và Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hoá kiệt xuất bởi Người còn là mẫu mực của tinh thần khoan dung văn hoá. Người nhắc nhở phải giữ gìn, phát huy truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc, nhưng không tự bó mình trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, thiển cận mà kêu gọi phải ra sức nghiên cứu học tập tinh hoa văn hoá của thế giới xưa và nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hoá kiệt xuất vì Người còn là hiện thân của văn hoá hoà bình, của đường lối ngoại giao hoà bình, luôn luôn chủ trương giải quyết mọi xung đột bằng thương lượng, đối thoại với thái độ hiểu biết và nhân nhượng lẫn nhau. Ngay từ năm 1947, Người đã khẳng định phương hướng đối ngoại của nước ta là: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”[4].

Là nhà văn hoá lớn, Hồ Chí Minh đã nêu lên trước nhân loại tấm gương của một con người luôn luôn vươn tới đỉnh cao của văn hoá. Tiêu biểu cho những giá trị đỉnh cao của Người khi trở thành nhà văn hoá lớn phát triển về nhiều mặt:

Về mặt trí tuệ, Người là nhà văn hoá uyên bác cả Đông, Tây, kim, cổ, thể hiện tài năng trên mọi lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hoá…

Về mặt tình cảm, Người mang một “trái tim mênh mông”, “ôm cả non sông vạn kiếp người”. Người thương yêu nhân dân mình và thương yêu cả nhân dân thế giới, lo lắng đến vận mệnh cả nhân loại và quan tâm đến số phận của từng con người.

Về mặt hành động, Người là anh hùng kết hợp cả Nhân, Trí, Dũng, nổi lên ở một nghị lực phi thường và một đầu óc vô cùng nhạy bén và sáng tạo.

Về tư tưởng triết học, ở phương Tây, Người tiếp thu truyền thống nhân văn từ cổ Hy- La đến Mác- Lênin, đem lại cho truyền thống nhân văn tính hiện thực và tính chiến đấu. Ở phương Đông, Người gạn đục khơi trong, tiếp thu mọi nhân tố tích cực của cả Nho giáo, Lão giáo, Phật giáo.

Trong đời sống riêng tư, Người vừa theo đuổi những hoài bão lớn nhất của nhân loại, vừa sống một cuộc sống giản dị và bình thường về nhu cầu vật chất nhưng lại vô cùng phong phú về tinh thần. Người là chiến sỹ đồng thời là nghệ sỹ, là anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá. Trong những ngày căng thẳng nhất về công việc kháng chiến và kiến quốc, Người vẫn ung dung làm thơ và câu cá, thể hiện một sự hài hoà hiếm có: Gần gũi với thiên nhiên, gắn bó với xã hội và tu dưỡng bản thân.

Có thể khẳng định nhà văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hoá mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, cũng là những giá trị đóng góp vào sự phát triển của văn hoá thế giới. Nhiều chủ trương văn hoá được Người đề ra rất sớm – từ giữa những năm 40 và 50 của thế kỷ XX như: Xoá mù chữ, trồng cây phủ xanh đồi trọc, cải tạo môi trường sinh thái…đến đầu những năm 90 đã được Liên hợp quốc đề lên thành những cuộc vận động lớn trên toàn thế giới.

Nhà văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh cho thấy rõ vị trí và ý nghĩa của văn hoá ứng xử. Người đã từng nói một cách vắn tắt: “Chúng ta sống trong thời vẻ vang thì phải sống cho xứng đáng”. Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên Hồ Chí Minh lại được UNESCO tôn vinh danh hiệu anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn. Nhà văn Xôviết Ôxips Manđenxtam, từ năm 1923 đã nhận xét: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai” [5]. Đó là nền văn hóa thống nhất giữa văn hóa với cách mạng. Bởi vì, bản thân cách mạng cũng là một sự nghiệp văn hóa, nó biểu hiện trọn vẹn một thiên hướng và khả năng sáng tạo, chứng minh và đòi hỏi chúng ta một niềm tin sâu sắc ở tương lại, như nhà văn hóa lớn Côlômbia là Máckét, người được giải thưởng Nobel, tại cuộc gặp lần thứ hai các nhà trí thức Mỹ Latinh, đầu tháng 12 năm 1985, đã phát biểu. Nền văn hóa đó kết hợp truyền thống và hiện đại, dân tộc và nhân loại, phương Đông và phương Tây, thể hiện lý tưởng chung của loài người là độc lập, tự do, hạnh phúc. Nhân loại đã thấy ở Hồ Chí Minh biểu tượng của nhà văn hoá tương lai. Nhân loại đã thấy ở Hồ Chí Minh không chỉ là nhà tư tưởng lớn, nhà lý luận mà còn thấy ở Người một mẫu mực của con người phát triển toàn diện, con người nói văn hoá và thực hành văn hoá. Sự nghiệp và phong cách văn hóa Hồ Chí Minh như là một trong những dòng chủ lưu đã và đang hòa mình vào dòng chảy của văn hóa thời đại.

Tài liệu tham khảo

1. Hồ Chí Minh: Tòan tập, tập 3Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002

3. GS.PTS. Đõ Huy, Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997.

4. PGS. TS Đinh Xuân Lý-PGS.TS Phạm Ngọc Anh, Một số chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị. Hà Nội, 2008

5. Bác Hồ với văn nghệ sĩ, Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội,1985

ThS. Trần Nguyên Hào
Diễn đàn Sinh viên Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 26 tháng 8: “Số phận châu Á sẽ thay đổi và thay đổi nhiều”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ tư, 26/08/2009, 01:34 (GMT+7)

Cách đây 98 năm, ngày 26-8-1911, Nguyễn Tất Thành với cái tên Văn Ba đang làm thủy thủ trên tàu “Đô đốc Latouche Tréville”, cặp bến Dunkerque, một hải cảng của Pháp nằm trên bờ biển Manche.

Tháng 8-1914, từ London, thủ đô nước Anh, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Phan Chu Trinh đang sống ở Pháp. Thư viết: “Kính gửi Nghi Bá đại nhơn, Tiếng súng đang vang rền và thây người đang phủ trên đất. Năm cường quốc đã vào vòng chiến và chín nước đang đánh nhau. Cháu chợt nhớ đến thư cách đây mấy tháng đã viết về cơn giông bão này. Định mệnh sẽ dành cho chúng ta nhiều bất ngờ và không thể nói trước được ai sẽ là người thắng… Cháu nghĩ, trong vòng ba, bốn tháng nữa, số phận châu Á sẽ thay đổi và thay đổi nhiều”. Có thể coi đây là văn kiện đầu tiên chúng ta ghi nhận được những bình luận thời cuộc mang tính chính trị đầu tiên của người sau này trở thành nhà cách mạng nổi tiếng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Ngày 26-8-1945, tại ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang, giữa lòng Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng để bàn thảo những vấn đề trọng đại trong chính sách đối nội và đối ngoại của nhà nước Việt Nam độc lập, trong đó có chủ trương mở rộng thành phần chính phủ lâm thời, soạn thảo “Tuyên ngôn Độc lập” và khẩn trương chuẩn bị ngày Tuyên bố độc lập.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp người đứng đầu cơ quan Tình báo chiến lược OSS của Mỹ từ Côn Minh vừa tới Hà Nội. Trong hồi ký, A. Patty thuật lại buổi gặp gỡ diễn ra tại số nhà 48 Hàng Ngang: “Tôi rất vui gặp lại ông ta, nhưng sửng sốt khi nhận ra: thân hình xương xẩu trái ngược với cái trán khá rộng, với nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt. Trang phục của ông, một tấm áo nâu sẫm và quần rộng…”.

Còn trong câu chuyện, “Ông tỏ ra rất khó chịu về việc người Việt Nam phải đón quân đội Trung Quốc và cho rằng việc một số lượng lớn người Trung Quốc tràn vào Việt Nam cộng với số quân Nhật ở đây sẽ làm cho tài nguyên đất nước khánh kiệt một cách ghê gớm. Một cách tinh vi, ông đã liên tưởng đến những sự rối loạn mà quân đội chiếm đóng Tưởng có thể gây ra nếu họ cướp bóc lan tràn và lộng hành đối với dân chúng. Ông yêu cầu tôi báo trước cho Đồng Minh về những khả năng này và tôi hứa sẽ làm đầy đủ… Với nụ cười quen thuộc, ông báo cho tôi biết rằng đúng vào lúc đó, một phái đoàn Chính phủ đã lên đường đi Huế để tiếp nhận sự thoái vị của Bảo Đại… Điều quan trọng đối với ông Hồ là Mỹ tiếp tục chính sách chống thực dân của Mỹ đối với Đông Dương… Ông tự nhận là một người “Quốc gia – Xã hội – Tiến bộ” có một sự mong muốn mãnh liệt muốn giải thoát đất nước khỏi ách đô hộ của nước ngoài. Ông nói một cách lưu loát, không điệu bộ, nhưng với một vẻ thành thật, quyết tâm và lạc quan…”.

Ngày 26-8-1965, Bác đi thăm Tiểu đoàn 61, Trung đoàn 23 Bộ đội tên lửa, Đoàn Sông Đà đang tham gia chiến đấu bảo vệ Thủ đô, đặt bản doanh tại Phùng, ngoại vi Hà Nội.

Ngày 26-8-1969, sức khỏe Chủ tịch Hồ Chí Minh đang diễn biến phức tạp. Bác điều trị tại Viện Quân y 108 của quân đội. Một lần, Bác tỉnh dậy và tỏ ý muốn nghe một khúc dân ca. Cô y tá chăm sóc sức khỏe đã hát một bài dân ca quan họ và được Bác tặng một bông hồng.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 25 tháng 8: “Giáo dục nhi đồng là một khoa học”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ ba, 25/08/2009, 05:02 (GMT+7)

Cách đây 78 năm, ngày 25-8-1931, liên quan đến “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công”, phiên tòa thứ 6 được đưa ra xét xử, luật sư bảo vệ cho bị cáo Tống Văn Sơ tiếp tục tranh biện buộc tòa phải nhận những sai sót trong quá trình tố tụng nhằm ngăn chặn âm mưu trục xuất để mật thám Pháp bắt.

Ngày 25-8-1942, với bí danh mới là Hồ Chí Minh, Bác đến Ba Mông thuộc tỉnh Tĩnh Tây (Trung Quốc) trú chân và ăn Tết Trung nguyên (14-7 Âm lịch) rồi lên đường đến Trùng Khánh. Chính trên hành trình này, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã bị các thế lực quân phiệt địa phương bắt giam.

Ngày 25-8-1945, tại làng Gạ (Từ Liêm, Hà Nội), Bác nghe đồng chí Võ Nguyên Giáp và Trần Đăng Ninh báo cáo tình hình thủ đô. Tiếp đó, Tổng Bí thư Trường Chinh đón Bác vào nội thành và trú tại ngôi nhà 48 phố Hàng Ngang của gia đình thương gia yêu nước Trịnh Văn Bô.

Ngày 25-8-1950, Bác Hồ viết “Thư gửi Hội nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc”, nhấn mạnh: “Cách dạy trẻ cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Đồng thời phải giữ trọn tính vui vẻ hoạt bát, tự động trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hóa ra già cả. Nhiều thư của các cháu gửi cho Bác Hồ viết như người lớn viết, đó là một triệu chứng già sớm cần nên tránh. Trong lúc học cũng cần làm cho chúng vui. Trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học… Ngày nay chúng là nhi đồng. Ít năm nữa, chúng sẽ là công dân… Giáo dục nhi đồng là một khoa học. Các bạn hãy cố gắng học tập, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm, để tiến bộ mãi, nhất là phải làm kiểu mẫu trong mọi việc cho các em bắt chước”.

Trong bài nói chuyện ngày 25-8-1953 với Lớp chỉnh huấn cho cán bộ, công nhân viên chức các cơ quan Khu I, Bác khẳng định: “Vậy bất cứ việc gì, cố mà thi đua, giúp anh em thi đua đều là anh hùng của dân tộc, không nên nghĩ chỗ này thì tiến bộ, chỗ khác không tiến bộ. Bất kỳ làm việc gì cũng phải cố gắng, kiên quyết an tâm công tác, sẽ vẻ vang và có thể thành anh hùng được”.

Ngày 25-8-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư trả lời Tổng thống Mỹ Richard Nixon đưa ra thông điệp: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập, tự do thực sự. Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hy sinh gian khổ để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình. Trong thư ngài bày tỏ lòng mong muốn hành động cho một nền hòa bình công bằng. Muốn vậy, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và dân tộc Việt Nam, không có sự can thiệp của nước ngoài. Đó là cách đúng đắn nhất để giải quyết vấn đề Việt Nam phù hợp với quyền dân tộc của nhân dân Việt Nam, với lợi ích của nước Mỹ và nguyện vọng hòa bình của nhân dân thế giới. Đó là con đường để Mỹ rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự. Với thiện chí của phía ngài và phía chúng tôi, chúng ta có thể đi tới những cố gắng chung để tìm một giải pháp đúng đắn cho vấn đề Việt Nam”. Đây cũng là văn kiện cuối cùng của Bác viết chỉ một tuần lễ trước khi qua đời!

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 24 tháng 8: “Quyết tâm thì việc khó mấy cũng làm được”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ hai, 24/08/2009, 02:02 (GMT+7)

Cách đây 89 năm, ngày 24-8-1920, báo cáo của mật thám Pháp cho biết, Nguyễn Ái Quốc đến ngôi nhà số 6 phố Buot ở Paris để tìm người chủ gian hàng mà Phan Chu Trinh đã thuê làm xưởng ảnh. Đây là thời kỳ nhà cách mạng trẻ đang theo học và hành nghề rửa ảnh với cụ Phan.

Ngày 24-8-1931, liên quan đến “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công”, tại phiên tòa thứ năm, luật sư F.Genkin vạch trần thủ đoạn giả dối và phi pháp của chính quyền Hồng Công trong quyết định trục xuất Tống Văn Sơ, thực chất là đẩy thân chủ của mình vào nanh vuốt của thực dân Pháp ở Đông Dương.

Cũng tại phiên tòa này, bản khai của Tống Văn Sơ được công bố, trong đó bóc trần sự việc: “Tôi 36 tuổi… Tôi đã gắn bó mật thiết với phong trào cách mạng ở Việt Nam và Đông Dương nói chung, phong trào có mục đích cao nhất là lật đổ toàn bộ quyền lực của Chính phủ Pháp ở đó và thay thế bằng một chính phủ dân tộc dưới sự lãnh đạo của người bản xứ. Tôi đã tham gia tích cực vào phong trào này trong một thời gian trước ngày tôi bị bắt ở Hồng Công, ngày 6-6-1931. Theo những người cầm quyền của Chính phủ Pháp thì tham gia vào một phong trào như vậy là phạm tội và kẻ phạm tội phải nhận án tử hình… Mục đích thực sự của chính quyền Hồng Công khi tiến hành các thủ tục trục xuất tôi là nhằm khẳng định việc giao tôi cho Pháp ở Đông Dương để Chính phủ Pháp xử lý tôi theo tội trạng đã nói trên”.

Ngày 24-8-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi ông Tôn Thất Phung, nhân viên hỏa xa đã chế được một loại thuốc chống căn bệnh sốt rét. Thư biểu dương: “Thế là ông đã lập được công trong thi đua ái quốc”. Thư còn biểu dương chung đội ngũ công nhân hỏa xa với lời căn dặn: “Trong lúc toàn thể đồng bào không quản lao khổ, anh dũng kháng chiến để tranh độc lập cho Tổ quốc, mỗi người cán bộ của ta phải thực hành khẩu hiệu Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, thì kháng chiến nhất định mau thắng lợi”.

Tháng 8-1948, Bác cũng viết thư gửi bác sĩ Trần Hữu Tước động viên một trí thức lớn tận tụy và chịu đựng gian khổ đi theo kháng chiến. Thư viết: “Gửi bác sĩ Tước. Tôi gửi biếu chú một cái áo. Áo này là do đồng bào biếu tôi. Chú phải cẩn thận giữ sức khỏe. Tôi đã dặn anh em địa phương, chú cần gì cứ hỏi họ. Chớ nên câu nệ. Tôi mạnh khỏe như thường. Chào thân ái và quyết thắng”.

Ngày 24-8-1953, trên Báo Cứu Quốc của Mặt trận Liên Việt, Bác viết bài “Chủ nghĩa xã hội” nêu lên những đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa xã hội. Đó là: “Mọi tư liệu sản xuất đều là của chung; lực lượng sản xuất chủ yếu là công nhân và nông dân; thực hiện khẩu hiệu “Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng”; sản xuất có kế hoạch; không có sự phân biệt giữa lao động trí óc và chân tay, giữa thành thị và nông thôn”.

Cũng trong tháng 8-1953, Bác giảng bài tại Lớp chỉnh Đảng Trung ương với chủ đề “Hôm nay Bác nói về cách viết, đặc biệt là viết ngắn. Hiện nay trình độ của đại đa số đồng bào ta bây giờ không cho phép đọc dài, điều kiện giấy mực của ta, không cho phép viết dài và in dài, thì giờ của ta, người lính đánh giặc, người dân đi làm, không cho phép xem lâu. Vì vậy cho nên viết ngắn chừng nào tốt chừng ấy. Trong các báo có những bài lằng nhằng dài mấy cột, như là rau muống kéo dây. Đọc đến khúc giữa thì không biết khúc đầu nói cái gì, đọc đến khúc đuôi thì không biết khúc giữa nói gì. Thế là vô ích”.

Bài giảng giải đáp các câu hỏi: “Vì ai mình viết? Mục đích viết làm gì? Thế thì viết cái gì? Lấy tài liệu đâu mà viết? Cách viết thế nào?” và những kinh nghiệm viết của Bác để rồi đi đến kết luận: “Nói tóm lại, viết cũng như mọi việc khác, phải có chí, chớ giấu dốt, nhờ tự phê bình và phê bình mà tiến bộ. Quyết tâm thì việc gì khó mấy cũng làm được”.

Ngày 24-8-1958, Bác dự lễ khánh thành sân vận động Hàng Đẫy (Hà Nội) và xem trận giao hữu quốc tế giữa 2 đội bóng tuyển Hải Phòng và tuyển thủ đô Phnom Penh của Vương quốc Campuchia.

Ngày 24-8-1969, giữa lúc bệnh tình đang diễn biến phức tạp, nghe Đài Tiếng nói Việt Nam phát “Diễn ca về Điều lệ Hợp tác xã nông nghiệp”, Bác căn dặn những người có mặt nhắc nhở cơ quan tuyên huấn phổ biến rộng rãi hình thức diễn ca để bà con nông dân dễ hiểu, dễ nhớ.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 23 tháng 8: “Học tập lý luận là để áp dụng thực tế”

123th Anniversary of Uncle Ho

Chủ nhật, 23/08/2009, 01:55 (GMT+7)

Cách đây 84 năm, ngày 23-8-1925, Nguyễn Ái Quốc làm bài thơ “Hãy thương yêu nhau và cùng nhau đoàn kết” đăng trên báo Thanh Niên. Bài thơ có những đoạn (dịch lại từ bản tiếng Pháp): “Hãy nghe câu hát tự đáy lòng tôi/ Kẻ không đoàn kết như chim lạc đàn/ Chóng hoặc chày rồi sẽ trúng tên/ Vì đơn độc sẽ làm mồi cho hiểm họa/ Từ kết đoàn hạnh phúc sẽ sinh sôi/… Hãy kết đoàn tương trợ lẫn nhau/ Tựa tứ chi kết lại ta sẽ thành công/ Đất nước ta, ta xây một thiên đường/ Hãy thương yêu nhau và cùng nhau đoàn kết/ Nghĩa vụ một người dân là phải yêu Tổ quốc/ Mau cải thiện tâm, tài lực cho dân/ Vì sự nghiệp chung hãy học sống và học chết/ Hỡi đồng bào yêu quý hãy lắng nghe tôi hát/ Rồi học thương yêu nhau, đoàn kết cùng nhau”.

Ngày 23-8-1945, từ Chiến khu Tân Trào, Bác đặt chân lên Thủ đô Hà Nội, lúc này Tổng khởi nghĩa đã thành công. Từ huyện Đa Phúc (khi đó thuộc Phúc Yên), Bác vượt sông Hồng tại bến đò Phú Xá và tạm trú tại một gia đình cơ sở cách mạng ở làng Gạ (Phú Thượng, huyện Từ Liêm).

Ngày 23-8-1953, đến thăm và nói chuyện với Lớp Chỉnh huấn Quân khu I, Bác đề cập đến vấn đề gia đình: “Cố nhiên, gia đình ai cũng có, không có không được. Nhưng mình là người cách mạng, người kháng chiến được Đảng giáo dục phải trông xa thấy rộng hơn. Mình có gia đình, gia đình to nhất là giai cấp… Nếu giai cấp chưa được giải phóng hoàn toàn thì mình chưa được giải phóng hoàn toàn… Phải cân nhắc kỹ: hy sinh lợi ích gia đình nhỏ cho gia đình to, hay hy sinh gia đình to cho gia đình nhỏ của mình. Các cô, các chú tự cân nhắc đúng thì sẽ ít thắc mắc về tiểu gia đình của mình. Phải hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích chung… Người ta ai chẳng có gia đình và thương gia đình. Nhưng cũng có người hy sinh gia đình nhỏ cho đại gia đình. Thí dụ các liệt sĩ nước ta. Cũng có người biết như thế không muốn có tiểu gia đình để toàn tâm toàn ý cho đại gia đình”.

Tháng 8-1953, sau một phiên họp của Hội đồng Chính phủ trên chiến khu Việt Bắc, Bác làm một bài thơ chữ Hán và đưa cho Luật sư Phan Anh xem và được luật sư dịch ra quốc ngữ: “Ngoài sân trăng sáng lồng cây/ Trăng đưa bóng ngả, bóng cài bên song/ Việc quân, việc nước bàn song/ Bên song ôm gối, gối cùng ôm trăng”.

Ngày 23-8-1958, Bác đến thăm Trường Đảng Lê Hồng Phong của Đảng bộ Hà Nội, căn dặn cán bộ và học viên nhà trường: “Học tập lý luận cốt là để áp dụng thực tế. Học đi đôi với hành, có học mới làm được việc”.

Ngày 23-8-1965, báo Nhân Dân đăng bài “Ta nhất định thắng, địch nhất định thua” của Bác (với bút danh Chiến Sĩ). Bài báo lên án việc Tổng thống Mỹ L.B.Johnson vừa tăng cường chiến tranh vừa đưa ra chiêu bài thương lượng hòa bình. Bài báo đưa ra thông điệp: “Bao nhiêu lính Mỹ vào Việt Nam sẽ trở thành bấy nhiêu cục chì đè nặng lên cổ đế quốc Mỹ và làm nó sa lầy càng sâu thêm… Chúng thêm 5 vạn hay 50 vạn lính Mỹ, chúng cũng sẽ thua, ta cũng sẽ thắng. Chỉ có một cách giải quyết “hòa bình trong danh dự” là Mỹ phải làm đúng theo Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam, như 4 điểm Chính phủ ta và 5 điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã nêu rõ”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 22 tháng 8: “Nhiệm vụ của Đảng là phụng sự nhân dân”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ bảy, 22/08/2009, 05:02 (GMT+7)

Cách đây 64 năm, ngày 22-8-1945, Bác Hồ rời căn cứ địa Tân Trào về Hà Nội, lúc này tổng khởi nghĩa đã thành công và đêm hôm đó tới Thái Nguyên, nơi chính quyền nhân dân cũng đã được thiết lập trước đó 2 ngày.

Ngày 22-8-1946, trong bối cảnh các hoạt động ngoại giao đang diễn ra khẩn trương để cứu vãn sự đổ vỡ của cuộc thương lượng Việt-Pháp tại Hội nghị Fontainebleau, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp xúc với E.Michelet, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Pháp.

Tháng 8-1947, Bác làm 2 bài thơ khen tặng hai nhi đồng làm liên lạc trong bộ đội Chiến khu II. Thơ “Gửi cháu Phạm Đỗ Hải” viết: “Bác được tin rằng/ Cháu làm liên lạc/ Bị giặc bắt được/ Lại trốn thoát ngay/ Mang hai lính Tây/ Theo về bộ đội/ Thế là cháu giỏi/ Biết cách tuyên truyền/ Bác gửi lời khen/ Khuyên cháu gắng sức/ Học hành công tác/ Tiến bộ luôn luôn/ Gửi cháu cái hôn/ Và lòng thân ái”. Còn thư “Gửi cháu Lê Văn Thức” viết: “Cháu có can đảm/ Giơ súng dọa Tây/ Bắt nó hàng ngay/ Lấy được súng nó/ Vì thành công đó/ Bác gửi lời khen/ Khuyên cháu tập rèn/ Ngày càng tiến bộ/ Bác lại gửi cháu/ Mấy chục cái hôn”.

Tháng 8-1948, Bác viết thư cảm ơn Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính và anh chị em ngành bưu điện đã chế tạo một cái máy chuyển điện tín và tặng cho Bác. Thư có đoạn: “Việc đó tỏ rằng, nếu ta cố gắng thì ta sẽ có nhiều thành công tốt đẹp” và “mong toàn thể anh em trong Bộ Giao thông Công chính sẽ hăng hái xung phong thi đua ái quốc làm cho mọi người và mọi việc đều tiến bộ, và làm cho Bộ trở nên một Bộ kiểu mẫu, cả về công việc và tinh thần”.

Ngày 22-8-1951, trong thư khen bộ đội Thừa Thiên về thành tích chiến đấu và chiến thắng trong trận đánh ở Phú Vang (26-7-1951), Bác căn dặn: “Phải luôn luôn nhớ: du kích chiến tranh là chính. Vậy các chú phải giúp đỡ du kích chiến tranh phát triển và củng cố khắp các nơi”.

Ngày 22-8-1954, báo Nhân Dân đăng bài “Phải theo đúng kỷ luật của Đảng”, dưới bút danh C.B, Bác phân tích: “Đoàn kết là sức mạnh của Đảng. Đoàn kết chặt chẽ và kỷ luật nghiêm khắc, hai điều đó không thể rời nhau. Kỷ luật nghiêm để bảo đảm tư tưởng nhất trí và hành động thống nhất của toàn Đảng, toàn Dân. Chủ trương của Đảng ta là: trong nội bộ thì mở rộng dân chủ, tự phê bình và phê bình. Nguyên tắc tổ chức thì cực kỳ nghiêm… Thống nhất ý chí, thống nhất hành động, thống nhất kỷ luật, tập trung lãnh đạo là việc cực kỳ cần thiết và cực kỳ quan trọng. Nhiệm vụ của Đảng là một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Ngoài lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác…”.

Ngày 22-8-1969, Bác gửi điện chào mừng “Cuộc gặp gỡ thế giới của thanh niên và sinh viên vì thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam” tổ chức tại Helsinky, thủ đô Phần Lan. Thư viết: “Cuộc họp mặt của các bạn là một biểu hiện rực rỡ của nhiệt tình và quyết tâm của thế hệ trẻ muốn thực hiện những lý tưởng cao đẹp và tự do, độc lập hòa bình giữa lúc chính quyền Nixon đang ngoan cố tăng cường chiến tranh xâm lược, cố giữ ngụy quyền Sài Gòn và gây thêm nhiều tội ác đối với nhân dân chúng tôi. Cuộc họp đó cũng cổ vũ mạnh mẽ nhân dân chúng tôi ra sức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, tiến lên giành thắng lợi cuối cùng”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 21 tháng 8: “Chi bộ – sợi dây liên hệ giữa Đảng và quần chúng”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ sáu, 21/08/2009, 02:13 (GMT+7)

Cách đây 89 năm, ngày 21-8-1920, báo cáo của mật thám Pháp ghi nhận Nguyễn Ái Quốc bị ốm phải vào Bệnh viện Cochin ở Paris điều trị.

Tháng 8-1923, báo Le Paria (Người cùng khổ) đăng bài “Ách áp bức không từ một chủng tộc nào” nhân sự kiện một phái viên của nước Nga xô viết bị bọn phát xít ám sát tại Thụy Sĩ, và việc một công nhân gốc Tuynidi ở Pháp bị cảnh sát giết. Tác giả bài báo lên án: “Tất cả những liệt sĩ của giai cấp công nhân… đều là những nạn nhân của một kẻ giết người: chủ nghĩa tư bản quốc tế. Và hương hồn của những người bị hy sinh này luôn tìm thấy nguồn an ủi cao cả nhất ở lòng tin vào sự nghiệp giải phóng những anh em của họ bị áp bức, không phân biệt chủng tộc hay xứ sở. Sau những bài học đau đớn này, những người bị áp bức ở tất cả các nước hẳn phải hiểu đâu là những người anh em thật sự và đâu là kẻ thù của họ”.

Ngày 21-8-1941, trên báo Việt Nam Độc lập, Nguyễn Ái Quốc vẽ và viết lời cổ động cho tờ báo: “Việt Nam Độc lập thổi kèn loa/ Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già/ Đoàn kết vững bền như khối sắt/ Để cùng nhau cứu nước Nam ta”.

Ngày 21-8-1942, cũng trên báo Việt Nam Độc lập đăng bài thơ tuyên truyền đường lối cách mạng của Việt Minh nhằm mục tiêu đoàn kết lực lượng toàn dân: “…Nước nhà giành lại nhờ tài sắt/ Sự nghiệp làm nên bởi chữ đồng/ Tổ chức tuyên truyền càng rộng rãi/ Tức là cách mệnh chóng thành công”.

Ngày 21-8-1946, trước nguy cơ tan vỡ của Hội nghị Fontainebleau, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi công hàm cho Chính Phủ Pháp đề nghị 2 bên cần trở lại tiếp tục đàm phán, nhưng phía Pháp trả lời: “Những sự khác nhau quá sâu xa giữa hai quan điểm về những vấn đề cơ bản làm cho Hội nghị không họp được, vì có họp cũng không đi đến kết quả nào”. Tuy vậy, cùng ngày, Bác vẫn tiếp tục gặp gỡ các chính khách như Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Marius Moutet, cựu Toàn quyền Đông Dương A.Varenne, ông Jean Santeny và trả lời báo Libération (Giải phóng)… nhằm cứu vãn tình hình.

Ngày 21-8-1952, trong bài báo “Kế hoạch gia đình” đăng trên báo Nhân Dân, Bác đề cập đến phong trào tăng gia sản xuất tiết kiệm đang được phát động, trong đó có việc hướng dẫn nhân dân xây dựng “kế hoạch gia đình”. Bài báo phê phán cách làm quan liêu, mệnh lệnh, xa rời thực tế, để đi đến kết luận: “Nói tóm lại, kế hoạch gia đình là một điều rất hay, rất tốt, ích nước lợi dân. Nhưng cán bộ phải biết chuẩn bị, giải thích, đánh thông tư tưởng giúp đồng bào tự giác tự động làm, tránh bệnh quan liêu, mệnh lệnh, biết theo dõi, đôn đốc thì mới chắc thành công”.

Ngày 21-8-1953, trong bài báo có nhan đề “Chi bộ” đăng trên báo Cứu Quốc, Bác nêu rõ vai trò chi bộ “là sợi dây liên hệ giữa đảng với quần chúng…, luôn luôn tuyên truyền và tổ chức cho nhân dân hiểu và thực hiện chính sách của Đảng, luôn luôn chú ý đến tư tưởng và nhu cầu của nhân dân, luôn luôn quan tâm đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của nhân dân…”.

Ngày 21-8-1969, Bác ký sắc lệnh số 12/LCT ân xá và giảm án cho những phạm nhân thật thà hối cải, tích cực cải tạo nhân kỷ niệm lần thứ 24 Quốc khánh. Đây là văn bản pháp quy cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 20 tháng 8: “Mặt trận là một chính sách rất quan trọng”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ năm, 20/08/2009, 02:23 (GMT+7)

Cách đây 78 năm, ngày 20-8-1931, liên quan đến “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công”, phiên tòa thứ tư thừa nhận thủ tục trục xuất Tống Văn Sơ tại phiên tòa lần thứ nhất là sai nhưng vẫn tiếp tục ra lệnh trục xuất tiếp. Luật sư Loseby tiếp tục kháng án vì cho rằng nếu việc bắt giam là trái phép thì việc trục xuất cũng không có cơ sở pháp lý.

Ngày 20-8-1945, trước lúc rời Tân Trào về Thủ đô, Bác mời một số nhà lãnh đạo như đồng chí Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Thái… căn dặn: “Bây giờ có chính quyền, chắc các cô, các chú cũng muốn về Hà Nội. Nhưng chưa được đâu. Lênin đã nói: giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn. Bởi vậy một số các cô, các chú còn ở lại địa phương đây, giúp đỡ đồng bào, tổ chức cuộc sống sao cho tươi đẹp hơn, ấm no, văn minh hơn… Biết đâu, chúng ta còn trở lên đây nhờ cậy đồng bào lần nữa?”. Thực tiễn lịch sử đã diễn ra đúng như những tiên liệu của Bác.

Ngày 20-8-1946, tại Paris, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhiều nhà tư bản đang đầu tư tại mỏ than Hòn Gai, giám đốc Công ty Điện và Nước Đông Dương; đồng thời, cũng tiếp tục thuyết phục Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Marius Moutet cần phải tiến hành tổ chức trưng cầu dân ý, trên nguyên tắc cơ bản là nước Pháp phải công nhận nền độc lập của Việt Nam và Việt Nam bảo đảm những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp.

Ngày 20-8-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký một loạt sắc lệnh, trong đó có việc ban hành “Huân chương Kháng chiến” các hạng để thưởng cho những người có công với quân đội và các hoạt động quốc phòng; sắc lệnh thành lập “Trưởng Y sĩ Việt Nam” để đào tạo cán bộ y tế dân y và quân y.

Tháng 8-1962, Bác đến nói chuyện với lớp bồi dưỡng cán bộ về công tác Mặt trận và căn dặn: “Chính sách Mặt trận là một chính sách rất quan trọng. Công tác Mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng. Phải đi đường lối quần chúng, không được quan liêu, mệnh lệnh và gò ép nhân dân. Nhiệm vụ của chính quyền dân chủ là phục vụ nhân dân; tổ chức, giáo dục, động viên nhân dân xây dựng cuộc sống mới. Chúng ta phải thật sự dân chủ với nhân dân và chuyên chính với bọn phản cách mạng, bọn phá hoại lợi ích của nhân dân. Phải thành thực lắng nghe ý kiến của người ngoài Đảng. Cán bộ và đảng viên không được tự cao tự đại, cho mình là tài giỏi hơn mọi người; trái lại, phải học hỏi điều hay điều tốt của mọi người… Cuối cùng, Bác thân ái chúc các cô các chú nhiều thắng lợi trong công tác và thực hiện đúng khẩu hiệu: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”.

Ngày 20-8-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự lễ mừng thọ 80 tuổi Phó Chủ tịch Tôn Đức Thắng và tặng người đồng chí lão thành 2 câu thơ: “Càng già, chí khí càng dai/ Chống Mỹ cứu nước ít ai hơn già”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 19 tháng 8: “Việt Bắc có một lịch sử rất vẻ vang”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ tư, 19/08/2009, 04:33 (GMT+7)

Cách đây 87 năm, ngày 19-8-1922, báo L’Humanité (Nhân Đạo) đăng bài “Chủ nghĩa cộng sản và Thanh niên Trung Quốc” của Nguyễn Ái Quốc, giới thiệu tiến trình và những mốc phát triển của phong trào thanh niên ở Trung Quốc nhân Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản toàn Trung Quốc vừa họp thành công 3 tháng trước (5-1922).

Ngày 19-8-1947, nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi đồng bào toàn quốc” và “Thư gửi đồng bào Việt Bắc”. Với đồng bào cả nước, Bác phân tích: “Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng đồng bào ta ra khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và xiềng xích của thực dân…, đã xây dựng cho nhân dân ta cái nền tảng dân chủ cộng hòa và thống nhất độc lập. Noi gương Cách mạng 1776 của Mỹ, Cách mạng Tháng Tám tự chủ chống ngoại xâm. Cũng như Cách mạng 1789 của Pháp, Cách mạng Tháng Tám thực hành lý tưởng: Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Theo gót Cách mạng 1911 của Tàu, Cách mạng Tháng Tám thực hiện chủ nghĩa: Dân tộc, dân quyền, dân sinh”.

Lá thư cổ võ: “Nay cuộc trường kỳ kháng chiến phải tiếp tục cái nhiệm vụ vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám: phải làm cho nền dân chủ cộng hòa chắc chắn, phải làm cho quyền thống nhất độc lập vững vàng… Chúng ta có cái chí quật cường không núng của dân tộc, chúng ta có sự đoàn kết của toàn dân. Chúng ta có cái lòng hy sinh cảm tử của chiến sĩ ở tiền tuyến. Chúng ta có cái sức nhẫn nại của đồng bào ở hậu phương. Đó là những vũ khí luôn luôn chiến thắng quân thù, không lực lượng nào chiến thắng được những vũ khí đó. Chúng ta dám trả cái giá cho thắng lợi, thì chúng ta nhất định thắng lợi”.

Còn trong thư gửi đồng bào của căn cứ địa cách mạng, Bác viết: “Đồng bào Việt Bắc đã có một lịch sử cách mạng rất vẻ vang. Xưa kia cụ Hoàng Hoa Thám và những vị anh hùng khác đã dựng cờ khởi nghĩa chống Pháp suốt mấy mươi năm. Gần đây Việt Bắc là căn cứ địa oai hùng của Quân giải phóng để chống Nhật, kháng Pháp. Có sự vẻ vang đó là vì toàn thể đồng bào Việt Bắc: Kinh, Thổ, Mán, Nùng, Mèo, v.v…, ai cũng yêu nước, ai cũng không chịu làm nô lệ, ai cũng đoàn kết, ai cũng hăng hái ủng hộ cách mạng”.

Cũng trong thời gian này, Bác Hồ còn viết “Thư gửi nhi đồng toàn quốc”, căn dặn:“Việc gì có ích cho kháng chiến, cho Tổ quốc thì các cháu nên gắng sức làm. Làm được bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Tuổi các cháu còn nhỏ, thì các cháu làm những công việc nhỏ. Nhiều công việc nhỏ cộng lại thành công việc to. Bác mong các cháu làm việc, học hành cho xứng đáng là nhi đồng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thống nhất và độc lập”.

Ngày 19-8-1949, trong “Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Ngày Độc lập 2-9”, Bác nói: “Nước ta vừa độc lập được 5 năm. Đã 5 năm nhân dân ta kháng chiến. Chúng ta quyết hy sinh cực khổ để cho nước nhà độc lập, thống nhất và con cháu ta được hưởng tự do, hạnh phúc muôn nghìn đời về sau”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn