Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Tháng 5)

Tháng 5, ngày 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi nhân ngày Quốc tế Lao động 1-524Lời kêu gọi có đoạn:

“Ở nước ta lần này là lần đầu mà đồng bào ta, anh chị em lao động ta, được tự do đón tiếp ngày 1 tháng 5. Vậy nên nó có ý nghĩa đặc biệt sâu xa hơn nữa.

Đối với chúng ta nó là một ngày để tỏ cho thế giới biết rằng ngày này chẳng những là ngày tết lao động, mà nó còn là ngày toàn dân đoàn kết. Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới”.

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo một số việc về y tế, nội vụ, tài chính và bàn tiếp về dự án Sắc lệnh tổ chức Quân uỷ hội.

– Báo Cứu quốc, số 229, ngày 1-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 219.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 2

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 56B tạm hoãn thời hạn những việc đăng ký quyền cầm cố ở các phòng trước bạ và điền thổ trên toàn cõi Việt Nam, kể từ ngày 23-9-1945 đến ngày 31-12-1946.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 3

Bài viết Hồng quân với Liên Xô (ký bút danh Q.Th) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên báo Cứu quốc, số 230, giới thiệu về những chiến công oanh liệt của Hồng quân Liên Xô. Theo tác giả, sở dĩ Hồng quân Liên Xô thu được những chiến công như vậy, ngoài tinh thần chiến đấu dũng cảm còn do những nguyên nhân:

1. Hồng quân Liên Xô “biết phép chiến đấu”.

2. Hồng quân Liên Xô “đã được hưởng thụ một nền văn hoá và giáo dục tốt đẹp”.

3. Quân dân nhất trí.

4. Quân đội Liên Xô có những vị chỉ huy tối cao sáng suốt và đủ tài đức.

Bài báo kết luận: “Chúng ta đương tổ chức quân đội quốc gia, chúng ta phải rút kinh nghiệm quý báu trong lịch sử kiến thiết quân đội của Liên Xô”.

8 giờ 30, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo về tình hình Phái đoàn Việt Nam ở Đà Lạt hàng ngày sẽ khai hội hồi 11 giờ, các điện của Đà Lạt sẽ tuỳ từng vấn đề để gửi cho các bộ. Hội đồng bàn về đường sắt, về quân sự và tài chính, chế độ công chức… và trình Chủ tịch dự thảo Sắc lệnh tổ chức các bộ.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 57, quy định mỗi bộ của Chính phủ Việt Nam, Bộ trưởng và Thứ trưởng có một văn phòng, các Nha có thể có một cơ quan thanh tra và một Ban Cố vấn. Những quy định cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan trong bộ và nhân viên được ghi rõ trong 14 điều của Sắc lệnh này.

– Sắc lệnh số 58, quy định cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ của các cơ quan thuộc Bộ Nội vụ.

– Sắc lệnh số 59, cử các vị Huỳnh Thúc Kháng (đại biểu Chính phủ), Bùi Bằng Đoàn (thanh tra hành chính), Vũ Trọng Khánh (thẩm phán) vào Hội đồng Phúc thẩm đặt tại Bộ Nội vụ (theo điều 10, Sắc lệnh số 40, ngày 29-3-1946 về việc bảo vệ tự do cá nhân).

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 221-223.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 4

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Anh chị em giáo viên Bình dân học vụ. Thư Người viết: “Anh chị em là đội tiên phong trong sự nghiệp chống nạn mù chữ. Anh chị em chịu cực khổ khó nhọc, hy sinh phấn đấu, để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hoá sơ bộ cho dân tộc.

Anh chị em làm việc mà không có lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm. Anh chị em là những người “vô danh anh hùng”. Tuy là vô danh nhưng rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em”.

Người mong rằng, lòng hăng hái và sự nỗ lực của các giáo viên bình dân học vụ sẽ sớm mang lại kết quả vẻ vang: đồng bào ai cũng biết đọc, biết viết. “Cái vinh dự đó thì tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng”.

– Báo Cứu quốc, số 231, ngày 4-5-1946.

– Bút tích bức thư, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 220.

Tháng 5, ngày 6

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về Phái đoàn Việt Nam ở Đà Lạt đã đạt được thoả thuận: hai Chính phủ cử  ra một ban để nghiên cứu nhằm xây dựng một không khí tốt đẹp, xoá bỏ sự thù địch. Sau đó, Hội đồng Chính phủ nghe thông báo tình hình quân sự giữa Việt Nam và Pháp, một số công việc thuộc nội vụ như báo chí, quảng cáo và thảo luận một số việc về kinh tế như đổi giấy bạc, khai thác mỏ…

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 60, về việc Uỷ ban kháng chiến toàn quốc được Quốc hội công nhận ngày 2-3-1946 nay đổi thành Quân sự uỷ viên Hội. Những quy định cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ, chức năng của Quân sự uỷ viên Hội được ghi rõ trong các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 của Sắc lệnh này.

– Sắc lệnh số 61, về tổ chức của Bộ Quốc dân kinh tế gồm: một văn phòng, các phòng sự vụ, một Ban Thanh tra, một Ban Cố vấn kinh tế và năm Nha chuyên môn.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 8

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe thông báo và bàn về vấn đề tài chính, trong đó có việc Lư Hán đã gửi cho Chủ tịch Hồ Chí Minh hai quyển sổ quyên góp cho Trung Hoa. Người đã quyên 50.000đ quốc tệ và mỗi Bộ trưởng quyên 10.000đ quốc tệ. Hội đồng cũng nghe báo cáo về Phái đoàn Việt Nam ở Đà Lạt và việc Hội nghị Đà Lạt sẽ bế mạc ngày 11 tháng 5, về tình hình người Trung Hoa nhập cảng hàng hoá, về tình hình hộ đê…

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 62 và 63 ấn định tổ chức của Bộ Canh nông gồm: một văn phòng, các phòng sự vụ và bốn nha chuyên môn và cử một số cán bộ thuộc bộ này.

– Sắc lệnh số 64, quy định nhiệm vụ của Nha Lao động Trung ương được thành lập trong Bộ Xã hội (theo Sắc lệnh số 36, ngày 27-3-1946).

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 9

9 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp gần 50 đại biểu thuộc đủ các lứa tuổi, các giới của các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang, Hà Giang. Các đại biểu đã biếu Người khoai, ngô, mật ong, vải… của địa phương. Người nâng cốc chúc các đại biểu mạnh khoẻ, sống lâu, hô hào con cháu đoàn kết giúp Chính phủ và động viên chị em phụ nữ, hỏi thăm tình hình xoá nạn mù chữ, khuyên đồng bào nên gắng sức học tập cho biết chữ và đoàn kết chặt chẽ. Người nhắc các đại biểu lần sau không nên mang cho nhiều quà, vừa tốn công vừa tốn của.

Người tự tay tặng mỗi đại biểu một tấm huy hiệu có in hình của Người và chụp ảnh kỷ niệm với các đại biểu.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tặng Đội tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu gói chè của đồng bào Hà Giang mới biếu Người.

– Báo Cứu quốc, số 236, ngày 10-5-1946.

Tháng 5, trước ngày 10

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Liên đoàn Công giáo và Nhà Dục anh 1) Công giáo tỉnh Thái Bình. Sau khi cảm ơn đồng bào Thái Bình đã tặng nhiều nông sản địa phương nhân dịp Người thăm Thái Bình ngày 28 tháng 4, Người viết:

“Trong các vật kỷ niệm, cái khung ảnh bằng lụa do Nhà Dục anh Công giáo thêu, và Liên đoàn Công giáo biếu tôi, làm cho tôi đặc biệt cảm động… Tôi cảm ơn và xin chúc toàn thể đồng bào Công giáo luôn luôn mạnh khoẻ, để phụng sự Tổ quốc, phụng sự Chúa Trời”.

– Báo Cứu quốc, số 236, ngày 10-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 224-225.

Tháng 5, ngày 10

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo và bàn về các vấn đề tổ chức các bộ, việc tiếp tế gạo, một số vụ Việt Nam Quốc dân Đảng từ Đồng Mỏ (Lạng Sơn) kéo xuống uy hiếp Bắc Giang.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 65, tạm thời hoãn thu thuế trực thu cho các tỉnh từ Khánh Hoà vào Nam cho đến khi có lệnh mới.

– Sắc lệnh số 66, cử một số cán bộ cho Bộ Ngoại giao.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 13

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo tình hình quân đội Pháp khủng bố ở miền Nam Trung Bộ, và lời yêu cầu của chủ Hãng Xi măng ở Huế và Hãng Sifa ở Vinh muốn Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi cho họ sản xuất. Người nhắc Bộ Canh nông chú ý vấn đề nhân lực để kịp gặt lúa ở nông thôn.

10 giờ, Người cùng Hội đồng Chính phủ tiếp Phái đoàn Việt Nam đi dự hội nghị trù bị Việt – Pháp ở Đà Lạt về.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Hoan nghênh phái bộ Hội nghị trù bị. Tuy kết quả chưa đủ, nhưng phái bộ đã làm cho nước Pháp và ngoại quốc biết rõ rằng người nước ta biết tranh đấu, biết công tác và biết đoàn kết….”

Sau khi nghe phái đoàn báo cáo quá trình đàm phán, Người nói: “Phải tiếp tục tranh đấu tại Hội nghị Pari!”.

Buổi tối, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các vị bộ trưởng mời cơm phái đoàn.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 67, cử một số cán bộ cho Bộ Quốc dân kinh tế.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hoàng Xuân Hãn: Một vài ký vãng về Hội nghị Đà Lạt, Tập san Sử Địa (Sài Gòn), tháng 10-1971.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 14

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe phái đoàn đi dự Hội nghị Đà Lạt thông báo cuộc đàm phán với Pháp về các vấn đề:

– Ngoại giao của nước Việt Nam;

– Liên bang Đông Dương;

– Liên hiệp Pháp quốc;

– Trưng cầu ý kiến dân chúng.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện đến Đô đốc Đácgiăngliơ đề nghị chuyển lời cảm ơn của Quốc hội và Chính phủ Việt Nam tới Chính phủ Pháp đã đón tiếp niềm nở Phái đoàn Quốc hội Việt Nam và “ao ước rằng những cuộc thương thuyết sau này tại Pari cũng sẽ thân mật như thế để mưu sự thịnh vượng chung cho cả hai dân tộc”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 68, bổ sung một số điểm vào các điều 43, 45 trong Sắc lệnh số 77, ngày 21-12-1945, về việc đặt Uỷ ban hành chính khu phố; cách tiến hành bầu cử, ứng cử và tổ chức Uỷ ban hành chính khu phố được nêu rõ trong điều 2, 3 của Sắc lệnh này.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 239, ngày 14-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 226.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 15

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ, tiếp tục nghe phái đoàn đi dự Hội nghị Đà Lạt thông báo công việc của Tiểu ban Kinh tế và Tiểu ban Văn hoá trong cuộc đàm phán với Pháp.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Khoảng giữa tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm đoàn cán bộ miền Nam ra Bắc đang ở tại nhà ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Người hỏi thăm sức khoẻ của đoàn và tình hình Nam Bộ. Khi biết chiến trường Nam Bộ rất cần súng, Người nói: “Thế nào Trung ương và Chính phủ cũng có súng gửi về Nam. Nhưng nước ta còn nghèo, các cô các chú về, phải đánh Pháp cho giỏi, cướp lấy súng của nó dùng thì cái vốn đó mới nhiều”.

Người hỏi chuyện từng người và căn dặn đồng chí Nguyễn Thị Định 2) “Cô ở ngoài này học tập một thời gian rồi lại về tiếp tục kháng chiến với bà con. Người cách mạng phải học suốt đời, học lý luận, học quần chúng, học thực tế. Người không học thì như đi ban đêm không có đèn, không có gậy, dễ vấp té, có phải thế không?”.

– Nguyễn Thị Định: Không còn đường nào khác, Nxb. Văn học giải phóng, 1976, tr.46.

Tháng 5, ngày 16

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ tiếp tục nghe phái đoàn đi dự Hội nghị Đà Lạt thông báo công việc của Tiểu ban Quân sự.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 69 ấn định mức thuế điền thổ ở Bắc Bộ và thuế đồn điền như: ruộng, đất hạng nhất, 1 mẫu ta (3.600m2), nộp 12 đồng một năm; ruộng hạng 3, 1 mẫu ta, nộp 8 đồng một năm; đất hạng 5, một mẫu ta, nộp 0,10 đồng một năm; ruộng, đất đồn điền hạng nhất, 1 mẫu tây (10.000m2), nộp 20 đồng một năm.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 17

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn việc tổ chức Nha tiếp tế (thuộc Bộ Kinh tế), việc chuyên chở muối, vấn đề giấy bạc 500 đồng và tình hình quân sự ở một số địa phương.

Cùng ngày, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhan đề Binh pháp Tôn Tử, ký bút danh Q.Th., đăng trên báo Cứu quốc, số 242. Người phân tích “nguyên lý thứ nhất” trong 10 nguyên lý cơ bản của Binh pháp Tôn Tử là: “Phải biết xét đoán trước”, tức là trước trận đánh, người cầm quân phải biết mình, biết người, biết thiên thời địa lợi. Có như vậy mới nắm chắc được phần thắng trong lúc chiến tranh.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 242, ngày 17-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 227-229.

Tháng 5, ngày 18

18 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Đoàn đại biểu Chính phủ Pháp do Đô đốc Đácgiăngliơ dẫn đầu 3) đến chào. Trong buổi tiếp, khi nâng cốc chào mừng ông Cao uỷ, Người nói: “Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới lấy làm sung sướng được tiếp đón các vị đại diện của nước Pháp mới. Sau cuộc hội thương tại vịnh Hạ Long, Hội nghị trù bị tại Đà Lạt và cuộc giao hảo của phái bộ Quốc hội Việt Nam với Quốc hội Pháp tại Pari, hôm nay, với việc ngài đến thăm Hà Nội, cuộc bang giao Pháp – Việt chắc chắn sẽ có bước phát triển mới”.

19 giờ 45, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến đáp lễ tại nơi ở của tướng Valuy, nơi nghỉ của Đô đốc Đácgiăngliơ.

– Báo Cứu quốc, số 244, ngày 20-5-1946.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1976.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Từ Đà Lạt đến Paris, Nxb. Hà Nội, 1996, tr. 34.

Tháng 5, ngày 19

Sáng, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần lượt tiếp các vị trong Thường vụ và trong Chính phủ, các đoàn đại biểu tới chúc thọ Người.

Nhớ lại kỷ niệm ngày sinh nhật của Người năm 1946, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể:

“Tiếng trống ếch rộn ràng trước cửa Bắc Bộ phủ. Các cháu đã tới. Bác Hồ ra đón các cháu vào. Hơn một chục em bé gái, trai thay mặt cho toàn thể thiếu nhi nội ngoại thành đến chúc thọ Bác. Trong các em, có em hằng ngày vẫn phải đi bán báo, có em là trẻ mồ côi ở Trường trẻ mồ côi Hàng Bột. Các em đua nhau gắn huy hiệu Măng mọc thẳng lên áo Bác, tặng Bác những chữ “i”, “t” tượng trưng cho phong trào Bình dân học vụ, những tập sách nhỏ in Điều lệ và bài hát của Hội Nhi đồng cứu quốc.

Quà của Bác Hồ cho các cháu bé năm đó là một cây bách tán. Bác trỏ cái cây nhỏ lá rất xanh, trồng trong chậu, nói:

– Bác có cây này tặng các cháu. Mai sau cái cây này sẽ mọc một trăm cái tán. Các cháu về chăm cho cây lớn, cây tốt thế là các cháu yêu Bác lắm đấy!

Các em vui mừng hát một bài cảm ơn Bác. Khi các em vừa khênh chậu cây bách tán đi ra thì một đoàn hơn năm chục anh, chị bước vào phòng… Đây là những người thay mặt cho miền Nam đang chiến đấu tới chúc thọ Bác.

Sau khi nghe lời chúc mừng của các anh, các chị, Bác nói:

– Tôi xin cảm ơn các anh, các chị Nam Bộ đã đến chúc thọ tôi. Thật ra, các báo ở đây đã làm to cái ngày sinh của tôi, chứ tuổi năm mươi sáu chưa có gì đáng được chúc thọ, cũng hãy còn như là thanh niên cả, mà trước các anh, các chị, trước cảnh êm vui ở Bắc đây, tôi thật lấy làm xấu hổ vì trong Nam chưa được thái bình.

Hai giọt lệ chảy trên gò má Bác…

Lát sau, Ban vận động Trung ương Đời sống mới vừa được thành lập tháng trước… đến chúc thọ Bác. Nhân được gặp Bác, các đại biểu đề nghị Bác nêu ra cho cuộc vận động một khẩu hiệu. Bác nói:

– Các chú muốn có một khẩu hiệu ư? “Cần kiệm liêm chính”, “Chí công vô tư”. Khẩu hiệu đó!

Một đại biểu thưa với Bác khẩu hiệu này đã quá quen thuộc, xin Bác một khẩu hiệu mới cho hợp với cuộc vận động Đời sống mới.

Bác cười rồi nói:

– Hàng ngày ta phải ăn cơm, uống nước, phải thở khí trời mà sống. Những việc đó, ngày xưa ông cha ta phải làm, bây giờ chúng ta phải làm, con cháu ta sau này cũng phải làm. Vậy ăn cơm, uống nước và thở khí trời để đem lại cuộc sống cho con người thì đó là những việc không khi nào trở thành cũ cả. “Cần kiệm liêm chính”, “Chí công vô tư” đối với Đời sống mới cũng như vậy”.

Cũng trong buổi sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp phóng viên Hãng Thông tấn Pháp AFP tại Hà Nội. Về tình hình Hội nghị trù bị Đà Lạt, Người nói:

“Một cách trung thực, thành thực, và đôi khi tàn bạo, đại biểu của hai nước đã nói rõ lập trường của mình, đó là một phương pháp hay, vì như vậy, bây giờ chúng ta hiểu nhau hơn trước. Về một vài điểm, hai bên đã thoả thuận. Vẫn còn có những sự bất đồng ý kiến. Nhưng cuộc Hội nghị này chỉ là một cuộc Hội nghị trù bị. Nhiệm vụ của cuộc Hội nghị Ba Lê 4) là chuẩn y sự thoả hiệp thực hiện ở Đà Lạt và dung hoà các quan điểm xung đột nhau. Các cuộc xung đột ý kiến không đến nỗi không giải quyết được. Hai dân tộc phải thoả thuận với nhau để thực hiện một cuộc hợp tác thân thiện. Chúng ta đã đặt một nền tảng chắc chắn cho các cuộc đàm phán sau này”.

– Báo Cứu quốc, số 244 và 245, ngày 20 và 21-5-1946.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1976.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Từ Đà Lạt đến Paris, Nxb. Hà Nội, 1996, tr. 35-37.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 233.

Tháng 5, ngày 20

8 giờ 30, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo trước Hội đồng: trong mấy ngày qua, Người gặp và nói chuyện với Đô đốc Đácgiăngliơ, nhưng phần nhiều chỉ nói về chính trị chung chung và chỉ quyết định được một việc là phái đoàn của ta sẽ lên đường ngày 31 tháng 5 đi Pari dự cuộc đàm phán chính thức. Tiếp đó, Hội đồng bàn vấn đề thưởng, phạt trong việc hộ đê; nghe báo cáo về tình hình gia đình ông Vĩnh Thuỵ và quyết định cần có mọi biện pháp đảm bảo an toàn và thực hiện các ý muốn của Cố vấn.

Trong ngày, sau khi đọc xong cuốn Phương pháp và cách thức dạy học vỡ lòng chữ quốc ngữ, do Nha Bình dân học vụ xuất bản, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết vào trang đầu cuốn sách:

“Anh chị em giáo viên bình dân học vụ cố gắng đọc kỹ sách này, rồi tận tâm dạy bảo đồng bào thất học, làm cho nạn mù chữ chóng hết.

Thế là làm tròn một nhiệm vụ thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc.

Ngày 20 tháng 5 năm 1946

Hồ Chí Minh”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 234.

Tháng 5, ngày 22

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ thảo luận các vấn đề: dự án Sắc lệnh tổ chức các cơ quan y tế; giải quyết xung đột giữa các đảng phái ở các tỉnh; kiểm soát xuất nhập cảng; việc Trung Hoa xin xuất 2000 tấn gạo; vấn đề Pháp định mở nhà Thông tin ở Hà Nội. Hội đồng Chính phủ quyết định lập một Uỷ ban nghiên cứu đặc biệt các vấn đề sẽ đàm phán ở Pari, gồm sáu người: Chủ tịch Hồ Chí Minh và các ông Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Tường Tam, Phan Anh, Võ Nguyên Giáp, Vũ Hồng Khanh.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 70 về việc lập tại Bắc Bộ một Uỷ ban hộ đê Trung ương có nhiệm vụ nghiên cứu kế hoạch chống nạn lụt và kiểm soát việc bảo vệ đê điều. Uỷ ban sẽ do Chủ tịch Uỷ ban hành chính Bắc Bộ hoặc người đại diện chủ toạ và gồm những nhà chuyên môn hoặc đủ kinh nghiệm do Chủ tịch Uỷ ban hành chính Bắc Bộ cử ra. Sắc lệnh còn ấn định những thể lệ đặc biệt để thưởng người có công và phạt người phạm tội được ghi rõ trong các điều 2, 3, 4, 5.

– Sắc lệnh số 71 ghi rõ Quân đội của nước Việt Nam là một Quân đội quốc gia. Quân đội quốc gia về ngành Lục quân chỉnh đốn theo bản quy tắc kèm theo Sắc lệnh này gồm 2 tiết, 6 chương với 62 điều.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 23

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cám ơn Quốc hội, Chính phủ, các tổ chức tôn giáo, các cơ quan đoàn thể và đồng bào cả nước cùng bè bạn nước ngoài đã chúc mừng nhân ngày sinh của Người. Bức thư có đoạn:

“Nhân dịp này, tôi xin hứa với đồng bào rằng từ đây về sau, cũng như từ đây về trước, tôi sẽ ra sức phấn đấu để giữ quyền tự chủ của nước nhà, quyền tự do của dân tộc, quyền dân chủ của đồng bào.

Tôi xin hứa với bạn hữu các nước rằng tôi sẽ dùng tinh thần lực lượng nhỏ mọn của tôi để giúp vào xây đắp mối tình thân thiện giữa các dân tộc”.

– Báo Cứu quốc, số 249, ngày 25-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 238.

Tháng 5, ngày 24

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ, nghe báo cáo về công việc của Đoàn Quốc hội ở Pháp, việc dàn xếp tình hình ở Bắc Giang và Vĩnh Yên, việc bộ đội của Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội đã hợp nhất với bộ đội Chính phủ, việc Việt kiều ở Thượng Hải về nước.

Cùng ngày, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu về Binh pháp Tôn tử, dưới nhan đề Muốn biết người phải thế nào? (ký bút danh Q.Th.), đăng trên báo Cứu quốc, số 248. Bài báo phân tích tầm quan trọng của việc dùng gián điệp trong chiến tranh.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 72 về việc bãi bỏ Sắc lệnh số 57 ký ngày 10-11-1945 (về việc cấm sản xuất, tàng trữ, đài tải, tiêu thụ và mua bán rượu ta).

– Sắc lệnh số 73 cử cán bộ cho Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 74 cử cán bộ cho Bộ Giao thông công chính.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 248, ngày 24-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 235-237.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 26

6 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh, Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp và nhiều cán bộ quân sự cấp cao rời Hà Nội đi dự Lễ khai giảng Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn tại Sơn Tây. Tại buổi lễ, sau lời chúc mừng của Bộ trưởng Phan Anh và Giám đốc nhà trường Hoàng Đạo Thúy, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với anh em học viên. Người nói: Anh em có nhiều giai cấp, tư tưởng khác nhau, trước hết phải đoàn kết, đoàn kết thực thà.  Phải có kỷ luật về cả tinh thần lẫn vật chất. Phải noi gương anh dũng của anh em binh sĩ hồi khởi nghĩa để làm gương cho các lớp về sau. Các anh em cần làm được như lời Tôn Trung Sơn đã nói: “Những người thanh niên tốt muốn làm việc to chứ không muốn làm quan lớn”.

Sau khi trao tặng nhà trường lá cờ “Trung với nước, hiếu với dân”, Người căn dặn: “Trung với nước, hiếu với dân là bổn phận thiêng liêng, là mục đích của anh em, một trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”.

Trước khi về Hà Nội, Người thăm hỏi các đại biểu Phụ lão cứu quốc Sơn Tây, nhận quà biếu của các cụ và Cô nhi viện. Tại Uỷ ban hành chính Sơn Tây, Người nói chuyện với thanh niên và đồng bào.

Tối, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Lễ khai mạc Đại hội thanh niên Hà Nội.

– Báo Cứu quốc, số 250, ngày 27-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 239.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội, Sở Văn hoá thông tin Hà Nội, 1985, tr.13.

Tháng 5, ngày 27

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ. Hội đồng quyết định Cụ Huỳnh Thúc Kháng tạm thay Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian Người đi vắng và bàn vấn đề kiều bào ở Thượng Hải về nước, kiều bào ở Lào, vấn đề giảm thuế cho những tỉnh khó khăn và thu thuế hàng hoá của Pháp.

 – Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 29

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ, quyết nghị Chính phủ ký những Sắc lệnh về việc cử phái đoàn Việt Nam đi Pháp; cử người phụ trách Bộ Quốc phòng trong lúc ông Phan Anh và ông Tạ Quang Bửu vắng mặt; thiết quân luật và giới nghiêm; tuyên dương các binh sĩ có công; tổ chức Bộ Tài chính;… Hội đồng còn nghe báo cáo về tình hình mâu thuẫn giữa các đảng phái ở địa phương.

Cũng tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu về cấp bậc mới của ông Vũ Đình Huỳnh – thành viên của Đoàn Việt Nam sắp đi Pháp. Người nói: “Anh Vũ Đình Huỳnh, Thư ký riêng của tôi, aide camp particulier (nguyên văn tiếng Pháp của Bác). Trước đây ta phong cho Huỳnh chức đại uý, đi đường gặp quan tư của Pháp phải chào, nay tôi nhân danh Chính phủ phong cho anh Huỳnh chức đại tá, colonel, như thế anh Huỳnh chỉ phải chào có một Xalăng thôi”.

Cùng ngày, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam25 (gọi tắt là Hội Liên Việt) tiến hành đại hội thành lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được đại hội bầu làm Hội trưởng danh dự.

Cũng cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng tướng R. Xalăng đến Trường Trung học Anbe Xarô là nơi trú quân của Sư đoàn thiết giáp số 2 của Pháp tại Hà Nội. Đứng trước các sĩ quan chỉ huy và binh lính tập trung tại sân trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Tôi đi Pháp, tới đất nước tươi đẹp, Tổ quốc của các bạn. Tôi sẽ nói với các bà mẹ, các chị, các em và những người yêu của các bạn rằng các bạn đều khoẻ mạnh, đều là những người lính xứng đáng với danh dự của nước Pháp”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 75 quy định tổ chức Bộ Tài chính gồm: Văn phòng Bộ, các phòng sự vụ, các nha chuyên môn, các cơ quan phụ thuộc, Nha Thanh tra tài chính và Ban Cố vấn chuyên môn. Cách tổ chức cụ thể của văn phòng các ban… được ghi rõ trong các điều 2, 3, 4, 5, 6, 7 của Sắc lệnh.

– Sắc lệnh số 76 sửa đổi điều 2 Sắc lệnh số 77 ngày 21-12-1945 về cách tổ chức chính quyền nhân dân ở thị xã, thành phố.

– Sắc lệnh số 77 ấn định quyền hạn của Chủ tịch Chính phủ Dân chủ Cộng hoà được phép ban hành lệnh thiết quân luật khi tình thế nghiêm trọng. Quy định cụ thể được ấn định trong các điều 2, 3, 4, 5 của Sắc lệnh.

– Sắc lệnh số 78 ấn định biểu thuế điền thổ từ ngày 1-1-1946, cho toàn hạt Trung Bộ cả người Việt Nam và người nước ngoài.

– Sắc lệnh số 79 về việc trong năm 1946 giảm 15% thuế biểu thuế điền thổ ấn định trong Sắc lệnh số 78 ngày 29-5-1946, cho nhân dân các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên.

– Sắc lệnh số 80 bổ nhiệm Chánh văn phòng Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 81 ấn định danh sách đoàn Việt Nam
đi Pari.

– Sắc lệnh số 82 về việc uỷ nhiệm các ông: Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ thay Chủ tịch Chính phủ đi vắng, ký những công văn thường hàng ngày và chủ toạ họp Hội đồng Chính phủ; Cù Huy Cận thay ông Hoàng Minh Giám, Thứ trưởng Bộ Nội vụ đi vắng; trong khi Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đi vắng, các ông Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Quân sự Uỷ viên Hội và Vũ Hồng Khanh, Phó Chủ tịch Quân sự Uỷ viên Hội, tạm thay.

– Sắc lệnh số 82B về việc bổ nhiệm Cục trưởng Giao thông công chính.

– Sắc lệnh số 83 về việc bổ nhiệm một số cán bộ Bộ Nội vụ.

– Sắc lệnh số 84 quy định bắt đầu từ 1-1-1948, tại tất cả các thành phố, các tỉnh lỵ kể cả ngoại ô trong toàn cõi Việt Nam, cấm sử dụng các xe kéo (xe tay) bất cứ của tư nhân hay cho thuê.

Ngoài các thành phố, tỉnh lỵ, lệnh trên đây sẽ thi hành kể từ ngày 1-1-1949.

– Sắc lệnh số 84B về việc tuyên dương công trạng, hoặc có thể thưởng “Huy chương Quân công” cho các chiến sĩ và những người ngoài quân đội bị tử thương, tử trận hoặc lập được chiến công anh dũng trong khi chiến đấu giành độc lập cho nước Việt Nam.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hoàng Quốc Việt: Con đường theo Bác, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1990, tr. 208.

– Lê Kim: Bác Hồ tiếp xúc với tình báo phương Tây, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 101.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Vũ Đình Huỳnh: Tháng Tám cờ bay, in trong Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 130.

Tháng 5, ngày 30

7 giờ 30, trời mưa to, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự cuộc mít tinh của đồng bào tổ chức tại Việt Nam học xá để tiễn Người sang Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp. Tại cuộc mít tinh, Người nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân… Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ đeo đuổi một mục đích là làm cho ích quốc lợi dân. Vậy nên lần này, tôi xin hứa với đồng bào rằng: Tôi cùng anh em đại biểu sẽ gắng làm cho khỏi phụ lòng tin cậy của quốc dân”. Người căn dặn đồng bào ra sức giúp cho cuộc đàm phán có kết quả bằng cách:

“1- Đoàn kết chặt chẽ, tránh mọi sự chia rẽ;

2- Ra sức cần kiệm, cho khỏi nạn đói khó;

3- Ra sức gìn giữ trật tự, tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ;

4- Đối với các kiều dân hữu bang, phải tử tế ôn hoà”.

Với ngoại kiều ở Việt Nam, Người khuyên nên “tương kính thương thân, thành thật hợp tác, êm ấm thuận hoà, thực hiện chữ “Tứ hải giai huynh đệ” 5).

11 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các phóng viên ở Hà Nội. Người căn dặn các nhà báo phải làm tròn nhiệm vụ tranh đấu cho nước nhà, hướng dẫn dư luận đồng bào và giữ thái độ của các cơ quan ngôn luận là ôn hoà, đúng đắn.

12 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn vấn đề cử người thay ông Nguyễn Tường Tam, Trưởng Phái đoàn Việt Nam đi Pari.

Chiều, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các ông Nguyễn Văn Tố và Bùi Bằng Đoàn, thay mặt Quốc hội, đến chúc Người sức khoẻ trước khi lên đường sang Pháp để giành quyền tự chủ hoàn toàn cho nước nhà.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 85 về việc cử ông Đặng Việt Châu giữ chức Chánh Văn phòng Bộ Nội vụ.

– Sắc lệnh số 86 về việc cử ông Phạm Văn Đồng làm Đoàn trưởng Phái đoàn Việt Nam sang Pari thay ông Nguyễn Tường Tam vì mắc bệnh không đi được.

– Sắc lệnh số 87 về việc cử ông Đào Thiện Thi, kỹ sư Nông học, giữ chức Tổng thanh tra các Nha của Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 88, hạn chế việc giết thịt gia súc ở Bắc Bộ.

– Sắc lệnh số 89 về việc Chính phủ Việt Nam tạm thời giành quyền tìm kiếm mỏ.

– Sắc lệnh số 90 ấn định những khu mỏ thuộc quyền sở hữu của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

– Báo Cứu quốc, số 254, ngày 31-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 240-241.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Cuối tháng

Tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các ông Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng và các đại biểu trong Bộ Tổng uỷ viên Hướng đạo đến báo cáo về công việc của Hội và đề nghị Người làm Hội trưởng danh dự Hội Hướng đạo Việt Nam26.

– Báo Hướng đạo thẳng tiến, số 3, ngày 10-6-1946.

Khoảng cuối tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh làm thơ hoạ lại bài thơ của Nguyễn Hải Thần 6) tặng Người trước khi sang Pháp. Toàn văn bài thơ như sau:

“Gặp gỡ đường đời anh với tôi,

Đường đời gai góc phải chia hai.

Đã sinh tai mắt, sinh đầu óc.

Há bỏ thân yêu, bỏ giống nòi.

Trách kẻ đưa thân vào miệng cọp,

Tôi đành ghé đít cưỡi đầu voi.

Tàn cờ mới biết tay cao thấp,

Há phải như ai, cá thấy mồi!”.

– Báo Lao động, số Tết Mậu Thìn (1988).

Tháng 5, ngày 31

Sáng sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư Gửi đồng bào Nam Bộ. Người  khuyên đồng bào Nam Bộ hãy bình tĩnh và hứa với đồng bào rằng “Hồ Chí Minh không phải là người bán nước”, đồng thời khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”.

Người còn viết thư trả lời Hội trưởng Hội Hướng đạo Việt Nam, đồng ý nhận làm Hội trưởng danh dự của Hội và chúc anh em trong Hội luôn luôn sẵn sàng “Phụng sự Tổ quốc”.

6 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phái đoàn Việt Nam đến sân bay Gia Lâm. Người cùng với ông Phạm Văn Đồng, tướng Valuy và tướng Xalăng duyệt đội quân danh dự của Việt Nam và Pháp, khen ngợi đội quân danh dự của quân đội Pháp và mong rằng hai quân đội Việt, Pháp thân thiện với nhau.

Trước lúc lên máy bay, Chủ tịch Hồ Chí Minh nắm tay Cụ Huỳnh Thúc Kháng và nói: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ “dĩ bất biến ứng vạn biến” (lấy cái không thay đổi để đối phó với muôn sự thay đổi)”. Sau đó, Người nói với các thành viên trong đoàn công tác sang Pháp trước những đại biểu đưa tiễn: “Anh em chúng ta mang trọng trách quốc gia, trước mặt quốc dân đồng bào, chúng ta phải thề dù gặp gian lao thế nào, chúng ta cũng phải nhất tâm đoàn kết để làm tròn nhiệm vụ đối với Tổ quốc”. Tất cả đồng thanh hô: “Xin thề!”.

7 giờ 45, hai chiếc máy bay Dakota kiểu Mỹ từ từ cất cánh. Một chiếc chở Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với các ông Phạm Văn Đồng, Hoàng Minh Giám, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện và hai thư ký riêng của Người là Vũ Đình Huỳnh, Đỗ Đình Thiện. Phía Pháp có tướng Xalăng, Đarây, đại uý Cácchiê, v.v.. Một chiếc chở phái bộ đi dự Hội nghị Phôngtennơblô27.

Trước đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện cho Đô đốc Đácgiăngliơ. Toàn văn bức điện như sau: “Tôi xin cảm ơn Ngài đã săn sóc về việc khởi hành sang Pháp của tôi và tôi thành thực cảm ơn Ngài đã viết thư chúc tôi trong lúc tôi lên đường. Tôi sẽ hy vọng và quả quyết rằng cuộc đàm phán chính thức ở Ba Lê sẽ được tốt đẹp và nhờ đó hai dân tộc Pháp-Nam sẽ cộng tác một cách chặt chẽ”.

Cùng ngày, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu về Binh pháp Tôn Tử dưới nhan đề Phương pháp dùng gián điệp (ký bút danh Q.Th.), đăng trên báo Cứu quốc, số 254. Tác giả đã phân tích về hai vấn đề: Đối với gián điệp phải thế nào và Dùng gián điệp phải thế nàotrong phép dụng binh của Tôn Tử, từ đó rút ra kết luận: “Vậy người làm tướng phải biết dùng người có mưu trí làm gián điệp cho mình. Đó là bí quyết trong phép dụng binh. Vì có căn cứ vào báo cáo xác thực của người gián điệp mới đủ tài liệu bày mưu, tính kế và định đường lối tiến thoái được. Đặt được kế hoạch xác đáng tức là biết mình, biết người, đánh trăm trận được trăm trận”.

Cùng ngày, Người tới Miến Điện (nay là Myanma).

– Báo Cứu quốc, số 254 và 255, ngày 31-5 và 1-6-1946.

– Báo Le Monde, ngày 6-6-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 242-247, 249.

– Báo Hướng đạo thẳng tiến, số 3, ngày 10-6-1946.

– Võ Nguyên Giáp: Những năm tháng không thể nào quên, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, tr. 280-281.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 10-11.

 _______________________________________

1) Nhà nuôi trẻ mồ côi.

2) Đầu năm 1946, tại Đại hội Phụ nữ tỉnh Bến Tre, đồng chí Nguyễn Thị Định được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành tỉnh Hội; khoảng tháng 5-1946, đồng chí được cử ra Bắc để báo cáo tình hình miền Nam sau Hiệp định Sơ bộ 6-3 và xin chi viện cho Nam Bộ.

3) Đoàn đại biểu Chính phủ Pháp còn có tướng Valuy, đại tá Crơpanh (Crepin), thiếu uý La Mơnăngđie (La Menandière). Phía Việt Nam có Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng và các ông Nguyễn Văn Tố, Vũ Hồng Khanh, Võ Nguyên Giáp.

4) Ba Lê: Pari (BT).

5) Bốn biển đều là anh em.

6) Toàn văn bài thơ của Nguyễn Hải Thần như sau:

“Gặp gỡ đường đời anh với tôi,

Hai vai gánh nặng cả hai vai.

Tuy riêng Nam Bắc, riêng bờ cõi,

Cùng một ông cha, một giống nòi.

Nhỡ bước đành cam thua nửa ngựa,

Thà hơn miệng thế nói mười voi.

Mấy lời trân trọng ông ghi nhớ,

Nước ngược, buông câu khéo mất mồi!”.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Tháng 4)

Tháng 4, ngày 1

8 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo và bàn về vấn đề đàm phán giữa hai bộ tham mưu Việt – Pháp; việc binh sĩ Việt Nam ở Thượng Hải yêu cầu về nước, việc phản đối Pháp và Mỹ đặt đường hàng không Niu Oóc – Hà Nội, Pari – Hà Nội mà không hỏi ý kiến Chính phủ ta.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 3

8 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về vấn đề Ngân hàng Đông Dương phát hành giấy bạc 100 đồng và đình chỉ việc đổi giấy bạc 500 đồng. Hội đồng quyết định nếu phát hành giấy bạc 500 đồng phải được sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam. Hội đồng không tán thành việc ký khoản ước tạm thời về thư tín và hàng không giữa Trung Hoa và Việt Nam.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 42 quy định quyền bất khả xâm phạm đối với những người giữ chức Bộ trưởng hay Thứ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban hành chính, đại biểu Quốc hội, nếu không được phép của các cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Nhà nước. Trong trường hợp có đơn tố giác thì chuyển về cho các cơ quan có thẩm quyền cao nhất và sẽ đưa ra Toà Thượng thẩm nơi phát giác và Toà Thượng thẩm xử chung thẩm.

– Sắc lệnh số 43 về việc lập tại Hà Nội, Thuận Hoá, Sài Gòn, một “Hội đồng phân định thẩm quyền giữa Toà án Quân sự, Toà án đặc biệt và Toà án thường”.

– Sắc lệnh số 44 cử bà Đoàn Tâm Đan và các ông Nguyễn Quang Oánh, Trần Huy Liệu, Dương Đức Hiền, Vũ Đình Hoè, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Nguyễn Huy Tưởng, Đỗ Đức Dục, Phạm Biểu Tâm vào Ban Trung ương vận động đời sống mới.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 4

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội đồng Chính phủ họp bất thường để thông báo việc Người gặp Đô đốc Đácgiăngliơ và sau hai lần sửa chữa, phía Pháp đã chịu thảo một thông báo gần đúng với ý của ta; việc đại diện Chính phủ Pháp J.Xanhtơny yêu cầu mở cuộc thương thuyết trù bị giữa Việt Nam và Pháp ở Đà Lạt.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 5

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo và bàn về việc thống nhất quân đội, đào tạo quân đội, tiếp tế quân nhu, việc ra Sắc lệnh cấm dùng giấy bạc của Ngân hàng Đông Dương phát hành sau ngày 6 tháng 3, việc tổ chức ngày Đại hội Thanh niên, v.v..

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 45, quy định các cuộc lạc quyên, xổ số lấy tiền hay lấy đồ vật đều cấm hẳn, trừ khi được Chính phủ Trung ương cho phép. Các quy định cụ thể được ghi trong các điều 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 trong Sắc lệnh này.

– Sắc lệnh số 46, về việc cấm lưu hành các loại giấy bạc phát hành sau ngày 6-3-1946, nếu không được Chính phủ thừa nhận. Các loại giấy bạc lưu hành trái phép sẽ bị tịch thu. Các loại giấy bạc bị cấm lưu hành sẽ được quy định trong nghị định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 7

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 47 về việc Bộ Ngoại giao ta tách ra làm Nội bộ và Ngoại bộ. Nội bộ gồm những cơ quan ở trụ sở của Bộ. Ngoại bộ gồm các sứ bộ và lãnh sứ bộ. Cách tổ chức và nhiệm vụ của các cơ quan Nội bộ được quy định trong các điều 2,3,4 của Sắc lệnh này. Chế độ Ngoại bộ sẽ do một Sắc lệnh riêng quy định.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 8

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe thư của ông J.Xanhtơny yêu cầu cho lập nhiều trụ sở để giải quyết các vấn đề liên quan tới Pháp; bàn việc thương thuyết với Pháp để bảo vệ tính mệnh, tài sản của người Việt Nam ở Lào và tình hình quân sự.

Cuối buổi họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc giấy mời của tỉnh Phú Thọ mời Chính phủ lên dự Lễ giỗ Tổ Hùng Vương.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 9

8 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu các khu tự vệ thành Hà Nội. Người khen ngợi anh em tự vệ đã hăng hái tham gia nhiều công việc giúp đỡ nhân dân và Chính phủ, đồng thời nêu một số nhược điểm trong công tác của các đội tự vệ, nhắc nhở anh em cẩn thận trong việc dùng súng, kiên trì và không được chán nản, cần ôn hoà và có kỷ luật. Người nhấn mạnh câu: “Một sự nhịn là chín sự lành”, và nêu rõ ba nhiệm vụ của tự vệ lúc này là:

1. Củng cố và phát triển tổ chức.

2. Nghiên cứu chính trị để nhận rõ đường lối. “Hiểu rõ đường lối chính trị thì công tác đúng”.

3. Quân sự hoá sinh hoạt đoàn thể tự vệ, nghĩa là hoạt động phải có quy củ.

14 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng đến Trường Thể dục ở đường Cột Cờ để viếng các binh sĩ và Trưởng quan Trung Quốc tử trận hay vì bệnh tật, tai nạn mà bỏ mình. Buổi lễ do tướng Lư Hán chủ trì. Vòng hoa của Người mang dòng chữ: “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Chính phủ kính hiếu”.

– Báo Cứu quốc, số 211, ngày 10-4-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 213.

Tháng 4, ngày 10

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thơ tặng các cháu nhi đồng toàn quốc:

“Bác mong các cháu cho ngoan,

Mai sau gìn giữ giang san Lạc – Hồng.

Sao cho nổi tiếng Tiên – Rồng,

Sao cho tỏ mặt nhi đồng Việt Nam”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 48, về việc thiết lập trong toàn cõi Việt Nam một Đảm phụ đặc biệt gọi là Đảm phụ Quốc phòng thu trong niên khoá 1946. Đảm phụ Quốc phòng thu của các công dân Việt Nam từ đúng 18 tuổi trở lên đến đúng 65 tuổi, bất phân nam nữ, trừ những trường hợp được miễn (như người nghèo khổ hoặc tàn tật không kế sinh nhai; các chiến sĩ tại ngũ trong quân đội Việt Nam; cha mẹ, vợ chồng các liệt sĩ hoặc tử sĩ, các thương binh).

– Báo Cứu quốc,  số 239, ngày 14-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 214.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 11

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Điền chủ Nông gia Việt Nam, kêu gọi nên lập các Hợp tác xã nông nghiệp vì đó “là một tổ chức có lợi to cho nhà nông”, “là một cách làm cho nhà nông đoàn kết, làm cho nhà nông thịnh vượng”, “giúp cho nhà nông đạt đến mục đích, đã ích quốc lại lợi dân”. Bức thư có đoạn:

“Việt Nam ta là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn.

Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì cần phải có hợp tác xã”.

16 giờ, tại Việt Nam học xá, Người dự Lễ giỗ Tổ Hùng Vương.

– Báo Cứu quốc, số 229, ngày 1-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 215-216.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội, Sở Văn hoá thông tin Hà Nội, 1985, tr.12.

Tháng 4, ngày 13

20 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm lớp Bình dân học vụ tại khu 21 Trường Hoài Đức, phố Hàng Trống (Hà Nội). Người xem sách vở, ân cần hỏi thăm anh chị em giáo viên và học viên. Sau đó, Người gặp Trưởng khu 21, hỏi về tình hình Bình dân học vụ và khen ngợi giáo viên đã tận tâm dạy học không lương và nói: “Anh chị em giáo viên Bình dân học vụ là những người vô danh anh hùng, anh hùng không tên tuổi, không ai biết đến”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 50 về tổ chức các cơ quan Bộ và thuộc Bộ Giao thông công chính, được quy định cụ thể trong 23 điều của Sắc lệnh này.

– Báo Cứu quốc, số 217, ngày 17-4-1946.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 15

10 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ để tiếp phái đoàn Quốc hội Việt Nam được cử sang Pari chào Quốc hội Pháp; nghe báo cáo về quân sự; về phái đoàn ta đi Trùng Khánh và vấn đề cho các hợp tác xã vay tiền để sản xuất nông nghiệp.

16 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Phái đoàn đi dự Hội nghị trù bị Việt – Pháp tại Đà Lạt22, dặn dò mọi việc trước khi Đoàn lên đường vào ngày 16-4-1946.

Người dặn phải chuẩn bị thận trọng về mọi mặt vì hội nghị này sẽ có ảnh hưởng lớn về sau.

Người nêu những nguyên tắc của Chính phủ đề ra:

1. Hết sức đoàn kết từ ý kiến đến hành động.

2. Hết sức cẩn thận.

3. Giữ bí mật.

4. Trước lúc tuyên ngôn gì với đại biểu Pháp, phải thảo luận trước.

5. Sau khi thảo luận với đại biểu Pháp một vấn đề gì, lúc về phải cùng nhau kiểm thảo lại để xem lẽ mình thắng hay bại ở chỗ nào.

6. Mỗi khi thảo luận nên chia làm ba nhóm: xung phong, hậu thuẫn và trù bị. “Phải có người đấm, người xoa”.

7. Mình chỉ xướng ra những vấn đề quan trọng. Ngoài ra để đại biểu Pháp nêu vấn đề.

8. Khi gặp vấn đề gì hai bên chưa thoả thuận được với nhau thì để nó tách ra, chứ đừng nói để hỏi ý kiến Chính phủ, vì nếu làm như vậy thì sẽ thắt Chính phủ vào việc đàm phán này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận: “Cần căn cứ vào Hiệp định sơ bộ để đi đến cộng tác thực thà với Pháp”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Phạm Khắc Hoè: Những bài học tôi đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy bảo. Báo Đại đoàn kết, số Đặc biệt, tháng 5-1990.

– Hoàng Xuân Hãn: Một vài ký vãng về Hội nghị Đà Lạt, Tập san Sử Địa (Sài Gòn), tháng 10-1971.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Từ Đà Lạt đến Pari, Nxb. Hà Nội, 1996, tr. 46-47.

Tháng 4, ngày 16

5 giờ 30 sáng, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng ông Huỳnh Thúc Kháng tiễn phái đoàn đi dự Hội nghị trù bị Đà Lạt. Sau đó, Người gặp phái đoàn Quốc hội Việt Nam do ông Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn, chuẩn bị sang Pháp. Người căn dặn: “… phái đoàn có ba việc cần phải làm là đoàn kết, cẩn thận, làm cho người Pháp hiểu ta để gây tình hữu nghị giữa hai dân tộc”.

– Báo Sự thật, số 32, ngày 20-4-1946.

– Hoàng Xuân Hãn: Một vài ký vãng về Hội nghị Đà Lạt, Tập san Sử Địa (Sài Gòn), tháng 10-1971.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Từ Đà Lạt đến Pari, Nxb. Hà Nội, 1996, tr. 49.

Tháng 4, ngày 17

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về việc 600 quân Pháp từ Hải Phòng kéo lên Hà Nội đêm 15 tháng 4 mà không cho phía Việt Nam biết trước và việc lính Pháp gây rối ở Ga Hà Nội làm cho nhiều người bị thương. Sau đó Hội đồng bàn về vấn đề quản lý việc nấu rượu, vấn đề giấy bạc của Ngân hàng Đông Dương và vấn đề ngoại giao với Pháp.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 51-SL về thẩm quyền của các toà án Việt Nam đối với mọi người, bất cứ quốc tịch nào trên toàn cõi Việt Nam. Thẩm quyền của các toà án và sự phân công giữa các nhân viên của toà án được ấn định trong 3 chương, 43 điều trong Sắc lệnh này.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 19

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về Dự án Ngân sách lương thực của quân đội, vấn đề lập Nha Dân tộc thiểu số và vấn đề tài chính.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tổ chức tại Plâycu23. Thư có đoạn:

“Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Êđê, Xêđăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta.

Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 217-218.

Tháng 4, ngày 22

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ thông báo một số tin thu thập được qua các báo, trong đó báo Trung Hoa nói về việc nghiên cứu một Hiệp định Thương mại Hoa – Việt – Pháp, báo của ta đính chính lại là Hiệp định Thương mại Hoa – Việt và đề nghị Bộ Kinh tế sẽ chuẩn bị việc này, Bộ Canh nông sẽ lập ngay Nha Kiều vụ. Hội đồng còn nghe báo cáo về việc xung đột giữa quân đội Trung Hoa và quân đội Pháp chiều ngày 21 tháng 4, công việc của Phái bộ Đà Lạt đã làm và bàn về dự án Sắc lệnh tổ chức Quân sự Uỷ viên hội.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 52 quy định về việc những công dân Việt Nam muốn thành lập các hội hoặc đoàn thể mà mục đích không phải để chia lợi tức, không làm đồi bại phong tục, hại đến trật tự chung, hoặc đến sự an toàn của quốc gia. Sắc lệnh quy định thể thức xin lập hội (hoặc đoàn thể) trong 15 điều.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 24

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe thông báo về tin phía Pháp bắt ông Phạm Ngọc Thạch trong phái đoàn ta ở Hội nghị trù bị Đà Lạt, việc quân đội Pháp định đóng ở Điện Biên Phủ, việc quân đội Trung Hoa thoả thuận tỷ giá giữa tiền Quan Kim và tiền Đông Dương và thông qua danh sách các thẩm phán do Bộ Tư pháp đề cử.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 53-QP, về việc bổ nhiệm người giữ chức Chính trị Cục trưởng thay ông Hoàng Đạo Thuý đi giữ công vụ khác.

– Sắc lệnh số 54, về việc cho phép in các tem bưu điện có chân dung Bảo Đại và Nam Phương hoàng hậu, ngoài chữ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, có hai chữ Dân sinh và số phụ thu 3 đồng. Số phụ thu này sẽ nộp vào Quỹ “Cứu tế quốc gia”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, trước ngày 25

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp phóng viên Hãng Thông tấn Pháp AFP. Người kêu gọi người Pháp phải thi hành đúng Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3 và tuyên bố: “Nước Việt Nam, một quốc gia không thể nhận những quyết nghị của một Chính phủ chỉ huy như chế độ toàn quyền Đông Dương cũ”.

– Báo Cứu quốc, số 224, ngày 25-4-1946.

Tháng 4, ngày 25

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm thị xã Sơn Tây.

Cùng ngày, Người tiếp tướng Gioăng tới thăm.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội, Sở Văn hoá thông tin Hà Nội, 1985, tr.13.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 26

8 giờ 30, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo cho Hội đồng biết tướng Gioăng đi công cán ở Trung Hoa, ngày 25 tới Hà Nội, có đến thăm Người và Chính phủ Việt Nam. Sau đó, Hội đồng nghe báo cáo về tình hình phái đoàn ta ở Đà Lạt, tình hình nhân sự của Bộ Giáo dục, tình hình kinh tế, xã hội, ngoại giao, về tổ chức văn phòng các bộ.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 27

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp hai phái viên Hãng Vô tuyến điện Pari đến xin thu thanh ý kiến của Người và ba bài hát: Tiến quân ca, Diệt phát xít, Hồ Chí Minh muôn năm để gửi về Pháp. Người nói: “Tôi gửi lời chào thân ái dân tộc Pháp. Mặc dầu có những trở lực hiện thời, tôi tin rằng sự hợp tác dân tộc Pháp và Việt sẽ đi đến kết quả vì hai dân tộc cùng theo đuổi lý tưởng chung: Tự do, Bình đẳng, Bác ái”.

– Báo Cứu quốc, số 227, ngày 29-4-1946.

Tháng 4, ngày 28

10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng ông Huỳnh Thúc Kháng, ông Lê Văn Hiến và một số vị khác về Thái Bình sự Lễ khánh thành đê Mỹ Lộc và Hưng Nhân.

– Báo Cứu quốc, số 228, ngày 30-4-1946.

Tháng 4, ngày 29

8 giờ 30, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo việc Hội giúp binh sĩ bị nạn ở Huế mời Người ra làm Hội trưởng danh dự và các Bộ trưởng làm Hội viên danh dự của Hội. Hội đồng tán thành. Người đề nghị Chính phủ thông tư cho các địa phương nên tỏ lòng biết ơn đối với các chiến sĩ. Sau đó, Hội đồng bàn vấn đề tha chính trị phạm, vấn đề gặt chiêm và chống phá rừng và đề nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi công nhân Việt Nam nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 56, về việc bãi bỏ Đạo dụ số 69 ngày 31-10-1941 và quy định công nhân các công sở, tư sở, xí nghiệp trong toàn quốc đều được nghỉ việc ngày Quốc tế Lao động 1-5 và được hưởng lương như ngày làm việc. Những quy định cụ thể về cách trả lương những trường hợp không thể ngừng nghỉ ngày đó được ghi rõ trong các điều 3,4,5 của Sắc lệnh này.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

–  Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, đầu tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm thị xã Bắc Ninh (tỉnh Bắc Ninh), thị xã Bắc Giang (tỉnh Bắc Giang).

– Hồ Chí Minh với Hà Bắc, Ty Văn hoá Hà Bắc xuất bản, 1972, tr.18.

Tháng 5, đầu tháng

Hàng ngày, từ 6 giờ đến 8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi đọc báo tại một phòng làm việc trong Bắc Bộ phủ để các hoạ sĩ Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Thị Kim vẽ ảnh chân dung và nặn tượng Người. Trong lúc làm việc, các nghệ sĩ đã trao đổi với Người về nghề nghiệp.

– Nguyễn Thị Kim kể, Lê Hoàng ghi: Người nặn tượng, in trong cuốn Bác Hồ với văn nghệ sĩ, Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội, 1985, tr.61-65.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Tháng 3)

Tháng 3, ngày 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp ông J.Xanhtơny để trao đổi về vấn đề quân Pháp ở miền Bắc, vấn đề Nam Bộ và vấn đề thành phần Chính phủ mới của Việt Nam.

– Amiral d’Argenlieu: Chronique dIndochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.182.

Tháng 3, ngày 2

9 giờ, tại Nhà hát thành phố Hà Nội, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội Khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà19 đã long trọng khai mạc.

Đọc diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu bật ý nghĩa lịch sử của Quốc hội lần này, sau đó, thay mặt Chính phủ liên hiệp lâm thời, Người đề nghị Quốc hội mở rộng số đại biểu thêm 70 người là đại diện của Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh đồng minh Hội vì “trong lúc toàn thể đồng bào đương tranh đấu thì những đồng chí cách mạng Việt Nam ở hải ngoại không có thì giờ tham gia vào cuộc Tổng tuyển cử của nhân dân ta” và để Quốc hội ta “tỏ cho thế giới, cho toàn dân biết là chúng ta đoàn kết nhất trí” (Quốc hội biểu quyết tán thành).

Sau khi nghe báo cáo công việc Chính phủ đã làm trong sáu tháng qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trao quyền lại cho Quốc hội để tổ chức Chính phủ mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc hội nhất trí bầu làm Chủ tịch Chính phủ kháng chiến và giao nhiệm vụ đứng ra tổ chức Chính phủ mới.

10 giờ, đọc báo cáo trước Quốc hội về việc thành lập Chính phủ kháng chiến20, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ sở dĩ việc tổ chức Chính phủ mới được nhanh chóng như vậy là vì “Chính phủ này ra mắt gồm có các đại biểu các đảng phái và các anh em không đảng phái, trước đây đã thương lượng và thoả thuận với nhau”. Tiếp đó, Người giới thiệu thành phần của Chính phủ kháng chiến 1), Tối cao Cố vấn đoàn và Kháng chiến uỷ viên hội.

Được Quốc hội thông qua, Chính phủ kháng chiến, Tối cao Cố vấn đoàn và Kháng chiến uỷ viên hội tuyên thệ nhậm chức: “Trước bàn thờ thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội, thề xin cương quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền dân chủ cộng hoà Việt Nam, mang lại tự do hạnh phúc cho dân tộc. Trong công việc giữ gìn nền độc lập, chúng tôi quyết vượt mọi nỗi khó khăn dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ”.

Trước khi kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá I bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu cảm ơn các đại biểu, “chúng ta cùng hứa với nhau rằng: Quốc hội họp lần này là Quốc hội kháng chiến, mà Chính phủ cử ra là Chính phủ kháng chiến. Tôi mong rằng Quốc hội họp lần sau sẽ là Quốc hội thắng lợi, mà Chính phủ cũng sẽ là Chính phủ thắng lợi”.

– Báo Cứu quốc, số Đặc biệt, ngày 3-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 189-196.

– Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 68-80.

Tháng 3, ngày 4

8 giờ 45, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp đầu tiên của Chính phủ liên hiệp kháng chiến bàn về các vấn đề: Nguyên tắc họp của Hội đồng Chính phủ; Tuyên ngôn của Chính phủ liên hiệp kháng chiến; Chính sách đối với Pháp; Quyền hạn của Bộ Quốc phòng và Uỷ ban kháng chiến. Hội đồng Chính phủ quyết định Chính phủ chuẩn bị kháng chiến, đồng thời đàm phán với Pháp trên nguyên tắc Việt Nam độc lập và cử một tiểu ban nghiên cứu những điều kiện của ta trong đàm phán. Tiểu ban này gồm: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến.

14 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập họp bất thường Hội đồng Chính phủ thông báo về việc Người cùng với Nguyễn Tường Tam gặp các vị trong quân đội Quốc dân Đảng Trung Hoa và Mỹ để đảm bảo sự ủng hộ của họ nếu Chính phủ ta ký kết gì với Pháp. Người Trung Hoa đồng ý. Người Mỹ nói họ cũng đồng ý nếu Pháp bằng lòng, nhưng còn phải hỏi ý kiến Chính phủ Mỹ. Trong phiên họp này, Hội đồng quyết định sẽ gửi một công điện cho Chính phủ Trung Hoa và công bố trên báo thái độ của Việt Nam đối với Hiệp ước Pháp – Hoa, đối với nhân dân Trung Quốc và Hoa kiều. Sau đó, Hội đồng đã cử một số vị phụ trách ứng phó với công việc trong lúc tình hình khẩn trương theo những nguyên tắc mà Chính phủ đã định, gồm: Hồ Chí Minh, Nguyễn Tường Tam, Phan Anh, Võ Nguyên Giáp và Vũ Hồng Khanh. Việc đàm phán với đại diện của Pháp, Chính phủ cử Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao phụ trách.

Chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp báo với các phóng viên Việt Nam bác bỏ những tin bịa đặt, đồn đại về cuộc đàm phán Việt – Pháp nhằm gây hoang mang, kích động quần chúng. Người cũng nhắc nhở dân chúng không nên nghe những tin đồn đó, mà phải luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và kháng chiến đến cùng.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi với ông J.Xanhtơny về vấn đề Nam Bộ và một số vấn đề khác trong quan hệ Việt – Pháp.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 177, ngày 5-3-1946.

– Amiral d’Argenlieu: Chronique dIndochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.183.

Tháng 3, ngày 5

Chủ tịch Hồ Chí Minh về làng Hậu Ái (nay thuộc xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, Hà Tây) dự Hội nghị bất thường Ban Chấp hành Trung ương Đảng bàn về chủ trương thương lượng với Pháp.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thiệu Bách Xương (sĩ quan trong quân đội Tưởng Giới Thạch) một bản kiến nghị nhờ chuyển cho phía Pháp 2).

Bản kiến nghị nêu rõ: Nếu ký Hiệp định giữa Pháp và Việt Nam thì cần phải có đại biểu của Đồng minh chứng kiến và thông báo những yêu cầu của phía Việt Nam như sau:

1. Yêu cầu Chính phủ Pháp công nhận Việt Nam là một nước tự do, có Chính phủ, Quốc hội, tài chính, quân đội riêng, tất cả trong phạm vi của Liên bang Đông Dương.

2. Chính phủ Pháp yêu cầu Chính phủ Việt Nam chấp nhận một đội quân Pháp (gồm một vạn năm nghìn lính Pháp và một vạn lính Việt Nam, số lính Việt Nam do Chính phủ Việt Nam cung cấp), tổng số quân đội là hai vạn năm nghìn người.

3. Số phận của Nam Kỳ do nhân dân Việt Nam bỏ phiếu quyết định.

4. Nhà đương cục Pháp nên chủ động ký một Hiệp định ngừng chiến tạm thời giữa Pháp và Việt Nam.

5. Mọi vấn đề (thứ yếu) khác sẽ được thảo luận và giải quyết trong cuộc đàm phán chính thức.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các nhà thương lượng người Pháp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc rất khuya với ông J. Xanhtơny. Người muốn Việt Nam độc lập và có quan hệ thân thiện với Liên hiệp Pháp. Hai người có bất đồng lớn về vấn đề Nam Bộ.

– Lịch sử Cảnh vệ công an nhân dân Việt Nam (1941-1954), Nxb. Công an nhân dân, 2002, tr.76.

– Lăng Kỳ Hàn: Tại Hà Nội tiếp thụ Nhật Bản đầu hàng nội mạc, tr.106 (bản Trung văn).

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.372.

– David Halberstam: Ho, Randan House/Alfred A.Knopf, New York, 1987, p.85.

Tháng 3, ngày 6

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ, nghe báo cáo về công tác ngoại giao với Pháp và vấn đề Dự thảo nội dung Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3. Hội đồng đã ký vào một biên bản đặc biệt tán thành ký Hiệp định đình chiến và mở cuộc đàm phán chính thức với Chính phủ Pháp với điều kiện Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do và Chính phủ Việt Nam bằng lòng để quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa. Hội đồng uỷ quyền cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh thay mặt Chính phủ ký Hiệp định trên với đại biểu Pháp.

12 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ trưởng Hoàng Minh Giám gặp J.Xanhtơny và L.Pinhông tiếp tục tranh luận về những điều khoản của Hiệp định Việt-Pháp. Đến 13 giờ 30 những điều khoản của Hiệp định đã đạt được. Hai bên hẹn gặp lại nhau hồi 16 giờ 30 cùng ngày để ký kết chính thức.

16 giờ 30, tại số nhà 38 phố Lý Thái Tổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cùng với J.Xanhtơny đại diện Chính phủ Cộng hoà Pháp ký vào bản Hiệp định Việt – Pháp (Hiệp định Sơ bộ 6-3)21. Hiệp định khẳng định nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội, tài chính của mình; việc hợp nhất ba Kỳ do nhân dân Việt Nam trực tiếp giải quyết. Phát biểu với những người dự Lễ ký kết, Người nói: “Chúng tôi không thoả mãn vì chưa giành được hoàn toàn độc lập, nhưng chúng tôi sẽ giành được độc lập hoàn toàn..”..

18 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Người tuyên bố với một số đại diện các báo hàng ngày về Hiệp định Việt – Pháp vừa được ký.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 181 và 182, ngày 7 và ngày 8-3-1946.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.376-379.

– Philippe Devillers: Histoire du Vietnam de 1940 à 1952, Seuil, Paris, 1952, p.220.

– J. Xanhtơny: Câu chuyện về một nền hoà bình bị bỏ lỡ, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 246-247.

Tháng 3, sau ngày 6

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện đến Thủ tướng Anh báo tin: Ngày 6 tháng 3, một Hiệp định tạm thời đã được ký kết giữa Pháp và Việt Nam. Theo Hiệp định này, nước Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do có Chính phủ, quân đội, tài chính của mình và đề nghị Chính phủ Anh cũng công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do…

– Amiral d’Argenlieu: Chronique d’Indochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.258.

Tháng 3, ngày 7

Sáng, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng, Cố vấn Vĩnh Thuỵ tiếp ông uỷ viên Cộng hoà Pháp J.Xanhtơny, thay mặt Chính phủ Pháp, đến thăm 3). Người đề nghị địa điểm đàm phán Việt – Pháp sắp tới là Pari và tỏ ý muốn sớm được gặp ông Đácgiăngliơ tại Sài Gòn, trước khi sang Pháp.

15 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Cố vấn Vĩnh Thuỵ đến thăm uỷ viên Cộng hoà Pháp J. Xanhtơny tại trụ sở của ông ta.

16 giờ, tại cuộc mít tinh của đông đảo nhân dân Thủ đô trước Nhà hát thành phố, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Hiệp định Sơ bộ 6-3. Người nói:

 “Nước ta đã độc lập thực sự từ Tháng Tám năm 1945. Nhưng tới nay, chưa một cường quốc nào công nhận nền độc lập của ta. Cuộc điều đình với nước Pháp sẽ mở ra con đường làm cho quốc tế thừa nhận ta. Nó sẽ dẫn ta đến một vị trí ngày càng chắc chắn trên trường quốc tế. Đó là một thắng lợi về mặt chính trị… Đồng bào hãy nên bình tĩnh, đoàn kết, trọng kỷ luật..”..

Cuối cùng, Người im lặng giây lát rồi tuyên bố:

“Tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt cuộc đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Giấy uỷ nhiệm cho hai ông Hoàng Quốc Việt và Huỳnh Văn Tiểng vào Nam Bộ với đoàn đại biểu Pháp để giải thích và thi hành Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3.

– Amiral d’Argenlieu: Chronique dIndochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.197.

– Báo Cứu quốc,  số 180 và 181, ngày 8 và ngày 9-3-1946.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.385-388.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 197.

– J. Xanhtơny: Câu chuyện về một nền hoà bình bị bỏ lỡ, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 254.

Tháng 3, ngày 8

8 giờ 15, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo về việc quân đội Trung Hoa xung đột với quân đội Pháp ở Hải Phòng; việc cử ông Phạm Văn Đồng thay mặt Chính phủ đáp máy bay vào Sài Gòn; việc yêu cầu quân đội Trung Hoa chậm rút ở Hà Nội và không cho lính Pháp mang khí giới ở trong thành ra; việc người Pháp chở vũ khí từ trong Nam ra. Sau đó, Hội đồng bàn tiếp các vấn đề thống nhất hành chính quân đội, việc tiếp phòng quân đội Trung Hoa và quân đội Pháp, đàm phán với Pháp ở Pari…

14 giờ, tại phòng Hội đồng Toà thị chính, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập gần 50 cán bộ chỉ huy tự vệ thành Hà Nội nhắc nhở về nhiệm vụ tuyên truyền để dân chúng hiểu và bình tĩnh đối phó với tình hình. Người căn dặn: dù có Hiệp định đình chiến nhưng không phải là đã hết chiến tranh, vì thế phải nhã nhặn với Pháp nhưng không phải là nhu nhược, thụ động, mà trái lại, phải chủ động chuẩn bị bồi dưỡng lực lượng. Sự chuẩn bị đó phải liên tục, nếu không phải kháng chiến thì để kiến quốc.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Công hàm cho nhà cầm quyền Pháp ở Nam Kỳ về việc phái đoàn đại biểu Việt Nam vào Nam Kỳ để giám sát việc thi hành Hiệp định Sơ bộ 6-3. Đồng thời, Người gửi thư cho Đô đốc Đácgiăngliơ, thông báo về đoàn đại biểu của Việt Nam giám sát ngừng bắn đã lên đường vào Nam công tác và “hy vọng rằng quan hệ Pháp – Việt nhờ có tinh thần hiểu biết rộng rãi và chức vụ cao cả của Ngài mà ngày một cải thiện vì hạnh phúc tối thượng của hai dân tộc chúng ta”.

Nghiêm lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên báo Cứu quốc, số 181, “hạ lệnh cho toàn thể nhân dân và bộ đội phải giúp đỡ cho quân đội Trung Hoa, trong lúc quân đội Trung Hoa thoái triệt. Ai xâm phạm đến tính mạng, tài sản của quân đội Trung Hoa sẽ bị nghiêm trị”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Công hàm và Bức thư bằng tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 181, ngày 9-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 198.

Tháng 3, ngày 9

Bản Tuyên cáo cùng dân chúng Pháp và Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tướng Lơcléc, đăng trên báo Cứu quốc, số 181. Sau khi nêu rõ lý do việc quân Pháp trở lại đóng từ vĩ tuyến 160N trở ra Bắc, Tuyên cáo kêu gọi “người Pháp và người Việt Nam hãy tuân lệnh những người lãnh đạo của hai nước, thi hành các mệnh lệnh một cách triệt để để cùng xây dựng kinh tế và kiến thiết”.

– Báo Cứu quốc, số 181, ngày 9-3-1946.

Tháng 3, ngày 10

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam Bộ, chiến sĩ ở tiền tuyến và Uỷ ban hành chính Nam Bộ, giải thích về việc ký kết Hiệp định Sơ bộ 6-3 và kêu gọi mọi người đoàn kết, tôn trọng Hiệp định.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 199-200.

Tháng 3, ngày 11

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề ngoại giao để công bố hai điều trong Hiệp định Sơ bộ 6-3 cho thế giới biết:

1. Pháp thừa nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một nước tự do.

2. Cuộc đàm phán chính thức Việt – Pháp sẽ tiến hành sau khi Hiệp định Sơ bộ 6-3 được ký kết.

Hội đồng quyết định sẽ cử một phái đoàn đi Trung Hoa để tỏ rõ thiện chí của ta nhờ Trung Hoa giúp Việt Nam, v.v.. Sau đó, Hội đồng bàn về vấn đề nội chính và quân chính.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi sau khi ký Hiệp định Sơ bộ 6-3 gửi Chính phủ và nhân dân thế giới, cùng đồng bào toàn quốc. Lời kêu gọi nêu rõ thiện chí của Chính phủ, đồng thời tố cáo phía Pháp đã có những hành động vi phạm Hiệp định. Người kêu gọi đồng bào trong nước hãy bình tĩnh, sẵn sàng chờ lệnh Chính phủ và “thiết tha kêu gọi nhân dân và Chính phủ cả thế giới, nhất là nhân dân Pháp, hãy ủng hộ chính nghĩa làm sao cho bên phía Pháp thi hành đúng bản Hiệp định Sơ bộ, để đi đến kết quả hoà hảo cho hai dân tộc và bảo vệ nền hoà bình thế giới”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 201-202.

Tháng 3, ngày 13

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo tình hình quan hệ với Pháp, bàn về việc thi hành Hiệp định Sơ bộ 6-3, vấn đề cử người đi Trung Hoa và đi Pháp (theo đề nghị của Chủ tịch và ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao phải được 2/3 Hội đồng Chính phủ tán thành). Hội đồng quyết định Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ ra một bản tuyên bố nói rõ Pháp đã không theo đúng bản Hiệp định Sơ bộ 6-3 và phải chịu trách nhiệm nếu tình hình xấu xảy ra.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 15

Bài viết Phải đình chỉ ngay những cuộc đánh úp tại Nam Bộ và Nam Trung Bộ (ký bút danh Q.T) của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báoCứu quốc, số 187, lên án những luận điệu và hành động vi phạm Hiệp định sơ bộ của thực dân Pháp, kêu gọi binh lính Pháp hãy ngừng bắn vào đồng bào, bộ đội Việt Nam, đồng thời kêu gọi các chiến sĩ Việt Nam luôn luôn sẵn sàng và quyết tâm chiến đấu cho giang sơn Tổ quốc, nếu người Pháp định lừa bịp và không thành thực ký kết với ta theo nguyên tắc bình đẳng.

Kết luận, bài báo viết: “Tóm lại, muốn Việt – Pháp đi tới chỗ thoả thuận có lợi cho cả đôi bên, người Pháp phải thành thực từ lời nói cho chí hành động, theo đúng bản Hiệp định đã ký mà đình chỉ ngay những cuộc xung đột ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ”.

9 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ thảo luận vấn đề quan hệ với Pháp. Hội đồng quyết định cần lập Hội đồng tham mưu Việt – Pháp để định rõ thời gian, địa điểm, số lượng và đường đi của quân đội Pháp để tránh những cuộc xung đột.

Tại Bắc Bộ phủ, họp mặt với các uỷ viên tuyên truyền các tỉnh Bắc Bộ, Người nêu rõ nhiệm vụ của các báo và các ban tuyên truyền hiện nay là “hướng dẫn lòng yêu nước và chí cương quyết cố giành độc lập hoàn toàn của đồng bào một cách ôn hoà, bình tĩnh, có lợi cho ngoại giao…, cần phải giải thích cho toàn dân hiểu rõ con đường đi của Chính phủ khi ký với Pháp bản Hiệp định Sơ bộ” và nhấn mạnh “Bình tĩnh không phải là nhu nhược, cũng không phải là nhượng bộ, nhưng để tỏ ra rằng dân chúng có kỷ luật, dân chúng cũng như một đội quân. Binh sĩ không biết trọng kỷ luật, tất nhiên đội quân không thành; dân chúng không có kỷ luật, việc làm khó thành công.

Muốn đi đúng thời cuộc, chúng ta nên đặt lý trí lên trên tình cảm. Và muốn nhận định thời cuộc, chúng ta không thể không đứng ở địa vị khách quan”.

Cùng ngày, Người gặp J.Xanhtơny và tỏ ý lấy làm tiếc vì có sự căng thẳng hiện thời. Người đề nghị, để làm dịu tình hình cần nhanh chóng thông báo chính thức ngày lên đường của phái đoàn Việt Nam.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 28 về việc cử ông Tạ Quang Bửu làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 187 và 188, ngày 15 và ngày 16-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 203-205.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p.155, 171.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 16

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi nhân dân thi hành đúng bản Hiệp định Sơ bộ Việt – Pháp. Người nhắc nhở “trong lúc hai bên sắp đàm phán, thì cần gây nên một không khí thuận tiện cho sự đàm phán. Vậy tôi mong rằng quốc dân giữ lòng kiên quyết nhưng bình tĩnh, các báo thì bình luận một cách chính đáng, những lời lẽ nên cân nhắc… tuyệt đối phải bảo vệ tính mệnh, tài sản của người Pháp cũng như người Trung Hoa, để tỏ rằng dân ta là một dân tiên tiến, một dân có kỷ luật”… “Chúng ta phải làm đúng bản Hiệp định. Đối với họ tuyệt đối không được xung đột, đồng thời phải gây thiện cảm. Chúng ta phải tỏ cho họ biết rằng dân ta yêu tự do, độc lập, trọng hoà bình, tín nghĩa”.

Cùng ngày, báo Dân Thanh đăng NGHIÊM LỆNH của Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sau đây:

“Trong Hiệp định Sơ bộ, Chính phủ Pháp đã công nhận nước ta là một nước Cộng hoà tự do trong Liên bang Pháp quốc. Chính phủ ta nhận để quân đội Pháp đến thay thế cho quân đội Trung Quốc đóng lại những nơi do Chính phủ ta và đại biểu Pháp đã thoả thuận. Cuộc đàm phán chính thức sắp mở với Chính phủ Pháp. Muốn cuộc đàm phán thi hành cần phải giữ lấy một không khí ôn hoà giữa người Việt với người Pháp. Vì vậy, Chính phủ hạ nghiêm lệnh sau đây:

1. Tuyệt đối cấm chỉ mọi sự khiêu khích đối với những kiều dân và quân đội Pháp.

2. Ai làm tổn hại đến tính mạng và tay sai của kiều dân và quân nhân Pháp sẽ bị nghiêm trị.

Hà Nội, ngày 16-3-1946

Chủ tịch Hồ Chí Minh (đã ký)”.

– Báo Cứu quốc, số 188, ngày 16-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 206-207.

– Báo Dân Thanh (94 Hàng Gai, Hà Nội), ngày 16-3-1946.

Tháng 3, ngày 18

8 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo tình hình quân đội Pháp lên Hà Nội vào ngày 18 tháng 3 4); việc liên lạc với bộ đội của các chính đảng ở địa phương để thống nhất quân đội, bàn về vấn đề tiền cho phái đoàn đi Trung Hoa và giải quyết việc biểu tình bất hợp pháp chiều ngày 16 tháng 3, v.v..

17 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tướng Lơcléc dẫn đầu phái đoàn Pháp, đến chào Người. Tại buổi tiếp, Chủ tịch nghe Uỷ viên Cộng hoà Pháp tại Việt Nam J.Xanhtơny giới thiệu về tướng Lơcléc. Trong tiệc rượu, Người nói: … “Trong cuộc bang giao giữa chúng ta, nếu Anh, Mỹ đã đi trước chúng ta vì đã hứa cho Ấn Độ và Phi Luật Tân (Philíppin) được độc lập, thì chúng tôi cũng có thể tự hào rằng Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 đã cùng ký kết theo một tinh thần đó. Thực vậy, việc mà nước Pháp mới đã thừa nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tự do là một dấu đầu tiên để đưa nước chúng tôi tới độc lập hoàn toàn một cách chắc chắn (…). Tôi hết lòng hy vọng rằng toàn thể nước Pháp mới và nước Việt Nam mới sẽ nêu ra trước hoàn cầu một cái gương sáng: cái gương hai nước biết cùng nhau giải quyết được hết các vấn đề khó khăn gai góc ngay sau cuộc tổng đảo lộn của hoàn cầu, bằng cách liên hiệp với nhau và hiểu biết lẫn nhau… để mưu hạnh phúc cho cả hai dân tộc và để mưu hoà bình cho thế giới”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Daniel Hemery: Ho Chi Minh de lIndochine au Vietnam, Decouvertes Gallimard, Paris, 1990, p.95.

– Báo Cứu quốc, số 192, ngày 20-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 208-209.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.404-406.

– J. Xanhtơny: Câu chuyện về một nền hoà bình bị bỏ lỡ, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 258.

Tháng 3, ngày 19

8 giờ 30, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà báo Bỉ Hótsen (Houtschen). Người hỏi thăm về tình hình chính trị ở Bỉ và trả lời nhà báo về Hiệp định Sơ bộ Việt – Pháp, việc quân Pháp đến Hà Nội, việc cuộc đàm phán chính thức sắp tới ở Pari và tinh thần dân chúng miền Nam Việt Nam…

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 29, về việc trích hai triệu đồng (2.000.000đ.00) ở ngân sách toàn quốc để Bộ Ngoại giao chi tiêu về những công việc đặc biệt.

– Báo Cứu quốc, số 193, ngày 21-3-1946.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 20

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo tình hình quân Pháp tới Hà Nội không xảy ra điều gì đáng tiếc. Về tin quân đội Việt Minh và Việt Nam Quốc dân Đảng xung đột, Người nêu ý kiến: Quân uỷ và Bộ Quốc phòng phụ trách dàn xếp các công việc ấy, không bàn chi tiết ở Hội đồng, “miễn là dàn xếp sao cho đại sự thì thành tiểu sự và tiểu sự thì thành vô sự”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thông báo về việc Pháp muốn mời ta tham gia cuộc duyệt binh ngày 22 tháng 3 tại Hà Nội. Hội đồng quyết nghị Việt Nam sẽ tham gia nhưng sắp xếp để cuộc duyệt binh quy mô nhỏ chừng nào hay chừng ấy và nhất định không để quân Pháp đi qua các phố đông người Việt Nam ở.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận được bức Công hàm của Đácgiăngliơ đề ngày 17-3-1946 do J.Xanhtơny trao lại. Người chấp thuận về thể thức cuộc gặp do Đácgiăngliơ đề nghị trong Công hàm 5).

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Đông, cảm ơn đồng bào đã gửi thư thăm Người. Thư có đoạn: “Tôi luôn nhớ đến những lúc tôi đau ốm, anh chị em săn sóc ân cần như ruột thịt. Vì vậy, người tôi tuy có xa cách nhưng lòng tôi vẫn luôn luôn gần gũi anh em. Tôi chắc rằng cái tình thân ái ấy không bao giờ phai lạt”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Amiral d’Argenlieu: Chronique dIndochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.223.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p.172.

– Báo Cứu quốc, số 192, ngày 20-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 210.

Tháng 3, ngày 22

8 giờ, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo về việc liên lạc giữa Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội, về việc tổ chức kỷ niệm ngày mất của cụ Phan Chu Trinh (ngày 24 tháng 3), và nghe báo cáo về việc duyệt binh, về các địa điểm cho quân Pháp đóng và về tình hình tài chính.

19 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và tướng Lơcléc cùng các đại biểu quân đội Mỹ, Anh; quân đội và đoàn ngoại giao Trung Quốc dự tiệc chiêu đãi do tướng Lư Hán mời trước khi ông ta về nước. Người đã ký tên (bằng chữ Hán) vào tờ thực đơn.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 30, về việc bổ nhiệm chức Giám đốc Việt Nam công an vụ.

– Sắc lệnh số 31 NV/CC, cử ông Phạm Khắc Hoè giữ chức Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ thay ông Hoàng Minh Giám.

– Sắc lệnh số 32, quy định sửa đổi Sắc lệnh số 17 ngày 31-1-1946, ấn định lại việc phân chia các ngân sách và mục đề ngoài ngân sách của Bình dân Ngân Quỹ tổng cục cho hai cơ quan Nông nghiệp tín dụng và Kinh tế tín dụng.

– Sắc lệnh số 33/QĐ, quy định cấp, bậc, quân phục, phù hiệu, cấp hiệu cho lục quân của toàn quốc, và sử dụng từ ngày Sắc lệnh này được ký.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 197, ngày 25-3-1946.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc (sách ảnh), Nxb. Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc, Bắc Kinh, 1995, tr. 41.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 23

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Giám mục Lê Hữu Từ, nhờ Giám mục giúp Chính phủ chọn cho một vị linh mục để cùng đi với các đại biểu của Chính phủ vào miền Nam Trung Bộ uý lạo đồng bào.

– Bức thư đăng trên Tập san của Thiên Chúa giáo Sài Gòn, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 211.

Tháng 3, ngày 24

10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh hội kiến với Cao uỷ Pháp Đácgiăngliơ trên tuần dương hạm Êmin Béctanh, đậu tại vịnh Hạ Long, theo lời mời của Cao uỷ. Tham dự, về phía Việt Nam có Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Tường Tam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Hoàng Minh Giám. Về phía Pháp có tướng Lơcléc, Raun Xalăng. Cuộc tiếp đón rất long trọng. Tại tiệc rượu trên tàu, sau khi Đácgiăngliơ tỏ ý hài lòng về mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Pháp và Việt Nam được lập lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Vâng, thưa Ngài Cao uỷ, đúng là những quan hệ hữu nghị, nhưng quan hệ ấy phải trở thành quan hệ anh em”.

Trong cuộc hội đàm, hai bên thoả thuận:

1. Vào trung tuần tháng 4, một phái bộ đại biểu Quốc hội Việt Nam sẽ đi Pháp để tỏ tình thân thiện.

2. Một phái bộ Pháp (khoảng 10 người) sẽ sang Việt Nam, cùng phái bộ Việt Nam chuẩn bị những tài liệu cần thiết.

3. Hạ tuần tháng 5, phái bộ Việt Nam sẽ qua Pháp mở đàm phán chính thức tại Pari.

Sau đó Chủ tịch Hồ Chí Minh duyệt hạm đội theo lời mời của viên Cao uỷ.

Trên máy bay trở về Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với tướng Raun Xalăng: “Nếu Đô đốc muốn đem tàu bè ra để lung lạc tôi thì ông ta đã lầm to. Những tàu đó không thể nào đi ngược các dòng sông của chúng tôi”.

– Báo Cứu quốc, số 199, ngày 27-3-1946.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 414-417.

– Amiral d’Argenlieu: Chronique dIndochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.229-234.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p.173.

Tháng 3, ngày 25

8 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ. Hội đồng nghe ông Nguyễn Tường Tam báo cáo cuộc hội kiến giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đácgiăngliơ ở vịnh Hạ Long ngày 24 tháng 3 và thoả thuận về việc đoàn Việt Nam sang Pháp đàm phán. Sau đó, Hội đồng bàn về vấn đề tổ chức hành chính ở những nơi Pháp đóng quân tại Nam Bộ và Nam Trung Bộ, về việc lập Kinh tế uỷ viên Hội ở Bộ Kinh tế.

Cùng ngày, Người tiếp các nhà báo và phát biểu ý kiến về cuộc tranh luận về vấn đề Việt Nam tại Quốc hội Pháp và gửi thư cảm ơn Đô đốc Đácgiăngliơ về cuộc đón tiếp trên tuần dương hạm Êmin Béctanh.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 34, quy định tổ chức của Bộ Quốc phòng gồm: một văn phòng (có bốn phòng sự vụ) và 10 cục chuyên môn (như chính trị, tình báo, quân nhu, quân giới, quân y…). Đồng thời quy định nhiệm vụ của văn phòng, phòng sự vụ, cục, v.v..

– Sắc lệnh số 35, về việc cử các ông: Nguyễn Ngọc Minh, giữ chức Chủ nhiệm Bộ Quốc phòng; Hoàng Đạo Thuý, giữ chức Chính trị Cục trưởng; Vũ Anh, giữ chức Chế tạo Cục trưởng; Vũ Văn Cẩn, giữ chức Quân y Cục trưởng,…

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 26

Chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh mở tiệc chiêu đãi những người có quan hệ trong Bộ Tư lệnh quân đội Trung Hoa dân quốc tại Việt Nam.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc (sách ảnh), Nxb. Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc, Bắc Kinh, 1995, tr. 41.

– Bảo tàng Hồ Chí Minh: Biên niên sự kiện Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Hà Nội, 2004, tr. 139.

Tháng 3, ngày 27

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về bộ máy tổ chức Bộ Xã hội, Bộ Ngoại giao; Sắc lệnh bảo đảm tự do cá nhân; Sắc lệnh tạm thời về chế độ báo chí; tình hình tài chính; việc Trung Hoa muốn mua và mượn đường sắt. Vì thấy mỗi bộ tổ chức mỗi khác, Người nêu ý kiến về bộ máy nên có một sơ đồ tổ chức chung cho các Bộ.

Cùng ngày, bài viết Sức khoẻ và thể dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên báo Cứu quốc, số 199, kêu gọi đồng bào tập thể dục vì: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ.

Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi một người yêu nước”. Người mong “đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi, ngày nào tôi cũng tập”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 36, quy định tổ chức bộ máy hành chính của Bộ Xã hội gồm một Văn phòng Bộ và ba Nha chuyên môn (Y tế trung ương, Cứu tế trung ương và Lao động trung ương). Quy định mỗi Nha có một giám đốc điều khiển và nhiệm vụ của mỗi Nha.

– Sắc lệnh số 37 về việc cử các ông: Bác sĩ Vũ Đình Tụng, Giám đốc Nha Y tế Bắc Bộ, kiêm Giám đốc Nha Y tế  trung ương; bác sĩ Đỗ Xuân Hợp, Chủ tịch cơ quan Cứu tế xã hội Bắc Bộ, kiêm Giám đốc Nha Cứu tế trung ương; và bổ nhiệm Giám đốc Nha Lao động trung ương và Chánh Văn phòng Bộ Xã hội.

– Sắc lệnh số 38, về việc thiết lập trong Bộ quốc gia Giáo dục một Nha Thanh niên và Thể dục gồm một Phòng Thanh niên và một Phòng Thể dục trung ương.

– Sắc lệnh số 39, về việc bổ nhiệm Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng.

Cũng trong ngày, Người căn dặn đồng chí Nguyễn Triệu phụ trách công tác bảo vệ tại Bắc Bộ phủ: Một là, tổ chức ngay một lực lượng gồm những anh em trung kiên vừa ở chiến khu về lập thành một tiểu đội, quần áo như dân thường. Khi nào Bác có việc, hoặc ra ngoại thành thì đi theo giúp đỡ. Hai là, cháu là người chỉ huy phải thuộc kỹ lưỡng đường đi lối lại, ngõ ngách ra vào để bố trí kế hoạch tác chiến và hành động lúc có sự cố và phải chủ động đề phòng mọi bất trắc từ bên ngoài cũng như từ trong Bắc Bộ phủ.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 199, ngày 27-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 212.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Nguyễn Triệu: Những ngày đầu ở Bắc Bộ phủ, in trong cuốn Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 36-37.

Tháng 3, ngày 29

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về vấn đề xin đăng ký thầu những công việc cho phép, vấn đề phản kháng quân Pháp chiếm đóng Sở Tài chính, vấn đề thuế, vấn đề bổ nhiệm nhân viên cao cấp Bộ Canh nông.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 40 về những quy định, luật lệ tạm thời cho phép bắt giam những công dân có hành vi phạm pháp để điều tra, nghiên cứu, truy tố và xét xử; quy định hình phạt và trách nhiệm các cơ quan địa phương. Sắc lệnh gồm 4 tiết với 24 điều.

– Sắc lệnh số 41 về những quy định tạm thời cho chế độ báo chí và xuất bản, gồm 3 mục với 14 điều.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ một số tài liệu thông qua ông S. L. Nótlingơ trong Đoàn cứu trợ nhân đạo Mỹ, nhân dịp kết thúc công việc ở Việt Nam trở về Mỹ.

– Thư của ông S. L. Nótlingơ gửi Hồ Chí Minh đề ngày 24-8-1968, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

 _________________________________

1) Thành phần của Chính phủ kháng chiến gồm:

1.  Chủ tịch Hồ Chí Minh
2.  Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần
3.  Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Tường Tam
4.  Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng
5.  Bộ trưởng Bộ Kinh tế Chu Bá Phượng
6.  Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến
7.  Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh
8.  Bộ trưởng Bộ Xã hội, kiêm Y tế, Cứu tế và Lao động Trương Đình Tri
9.  Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đặng Thai Mai
10.                 Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Đình Hoè
11.                 Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính Trần Đăng Khoa
12.                 Bộ trưởng Bộ Canh nông Bồ Xuân Luật

2) Bản kiến nghị đó được chuyển cho tướng R. Xalăng vào 21 giờ hôm đó.

3) Phía Pháp còn có các ông R. Xalăng và L. Pinhông.

4) Theo thoả ước Pháp – Tưởng, từ ngày 15 đến ngày 31-3-1946, 20 vạn quân Tưởng sẽ rút khỏi miền Bắc Đông Dương, thay vào đó là binh lính Pháp. Ngày 18-3 là ngày 200 xe nhà binh Pháp chở 1.200 binh lính Pháp từ Hải Phòng lên Hà Nội.

5) Đácgiăngliơ đề nghị gặp riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 24-3 tại tuần dương hạm Êmin Béctanh gần Hải Phòng với những nghi lễ trọng thể xứng đáng với cương vị Chủ tịch nước. Trong Công hàm, Đácgiăngliơ còn thông báo Chính phủ Pháp cũng mong muốn chính thức mời Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp để đặt quan hệ hữu nghị trên những cơ sở vững chắc giữa hai Chính phủ.

Đácgiăngliơ đề nghị J.Xanhtơny trao ngay Công hàm cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng vì nhận thấy chưa có thời điểm thuận lợi nên J.Xanhtơny và Lơcléc để đến ngày 20 mới trao.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Tháng 2)

Tháng 2, ngày 1 (30 tháng Chạp Ất Dậu)       

Chiều, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận được một bức thêu (bằng lụa đỏ, thêu bài thơ thất ngôn bát cú, nhan đề Kính tặng các bậc Anh hùng dân tộc) của nữ thi sĩ Ngân Giang.

Người làm hai câu thơ tặng lại:

“Gửi lời cảm tạ Ngân Giang,

Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”.

Tối, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi chúc Tết gia đình ông Từ Lâm, bán sách cũ ở Cửa Nam; một gia đình nghèo ở ngõ Hàng Đũa 1); một gia đình buôn bán ở phố Phúc Kiến 2); một gia đình công chức ở phố Hàng Lọng3) và thăm Cố vấn Vĩnh Thuỵ.

Gần giờ giao thừa, Người và một nhà báo Mỹ cải trang đến thăm đền Ngọc Sơn cùng bà con Hà Nội đón giao thừa.

– Báo Cứu quốc, số 155 và 156, ngày 5 và ngày 6-2-1946.

Tháng 2, ngày 2 (mồng Một Tết Bính Tuất)

Thư Chúc mừng năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báo Cứu quốc, số 155. Trong thư, Người chúc đồng bào cả nước:

“Trong năm Bính Tuất mới

Muôn việc đều tiến tới

Kiến quốc chóng thành công

Kháng chiến mau thắng lợi”.

Người thay mặt Chính phủ và đồng bào cả nước “chúc các chiến sĩ năm mới mạnh khoẻ và thắng lợi”.

Nhân dịp này, Người thay mặt nhân dân Việt Nam “chào mừng toàn thể anh em Trung Hoa ở đây và ở Trung Quốc, năm mới muôn sự tốt lành”.

7 giờ 30, Người sang nơi làm việc. Trên đường đi, Người ghé thăm và chúc Tết Sở Cảnh sát Trung ương ở phố Hàng Trống.

10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Nhà hát Thành phố chúc Tết đồng bào. Tại đây, Người đọc lời Chúc mừng năm mới.

Trước khi ra về, Người ra bao lơn Nhà hát vẫy chào đồng bào mít tinh trên Quảng trường.

Trưa, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự tiệc tại Bắc Bộ phủ cùng anh em Vệ quốc đoàn.

14 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm thương, bệnh binh Pháp tại Bệnh viện Đồn Thuỷ (nay là Bệnh viện Quân y 108) và Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức).

16 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Ấu trĩ viên chia kẹo và ăn Tết cùng các cháu nhi đồng rồi trở lại nơi làm việc.

19 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời cơ quan về nhà.

– Báo Cứu quốc, số 155 và 156, ngày 5 và ngày 6-2-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 169-170.

Tháng 2, ngày 3 (mồng Hai Tết Bính Tuất)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm “Phiên chợ mười ngày” tổ chức tại Chùa Láng (xã Yên Lăng, huyện Từ Liêm, Hà Nội). Trong buổi gặp gỡ với đông đảo nhân dân mít tinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về ý nghĩa của “Ngày Nam Bộ kháng chiến”, biểu dương nhân dân Hà Nội đã tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ, sốt sắng tham gia phong trào ủng hộ đồng bào Nam Bộ chống Pháp. Người kêu gọi “Hãy đoàn kết muôn người như một, ra sức thực hiện khẩu hiệu “Tấc đất, tấc vàng”, đẩy mạnh tăng gia sản xuất để chống đói và tiếp tế cho bộ đội” và chúc toàn thể nhân dân hưởng Tết độc lập đầu tiên vui vẻ, hạnh phúc và tiết kiệm.

– Báo Cứu quốc, số 156, ngày 6-2-1946.

Tháng 2, ngày 4

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ. Người nêu ý kiến ở Trung Quốc có chi nhánh của Tổng hội Cứu tế quốc tế, Hội Cứu đói của ta nên viết thư cho chi nhánh ấy và cho Hội Hồng thập tự quốc tế. Người nhắc nhở cần chuẩn bị gấp cho kỳ họp đầu tiên của Quốc hội.

Hội nghị còn bàn về vấn đề in sách tuyên truyền để phát hành ở trong nước và một số nước ngoài.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 5

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 19, về việc giải tán Uỷ ban Trung ương Hội Tương trợ và Cứu tế xã hội Bắc Kỳ (Comité Central d’Aide Mutuelle et d’Assistance sociale du Tonkin) và các Chi hội ở các tỉnh. Tài sản của những Hội này giao cho Bộ Cứu tế quản.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 6

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 20, về việc bãi bỏ Sở Kiểm soát tài chính. Nhân viên và tài sản (động sản và bất động sản) của Sở nhập vào Bộ Tài chính.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 7

8 giờ, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về các vấn đề: ngoại giao, tư pháp, tài chính, cứu đói. Về ngoại giao, Người thông báo Hội nghị Liên hợp quốc có lẽ sẽ bàn về vấn đề “thác trị” nhưng chưa định nghĩa rõ ràng hai chữ ấy và nhắc nhở các thành viên của Hội đồng Chính phủ nên lưu ý và sẽ thảo luận về vấn đề này.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 8

17 giờ, tại một phòng nhỏ trong Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tướng Pháp Raun Xalăng đến cảm ơn Người đã tới thăm binh sĩ Pháp điều trị tại bệnh viện Đồn Thuỷ và Phủ Doãn ngày 2-2 (mồng Một Tết) vừa qua. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với Xalăng:

“Tôi là người bạn trung thành của nước Pháp. Hôm đó là ngày Tết Nguyên Đán. Tôi vui mừng được có dịp bày tỏ tình cảm của tôi đối với nước Pháp. Ngài hãy tin ở tôi. Phần lớn người Đông Dương không bài Pháp. Nhưng rất tiếc, những sự kiện ở Nam Bộ và thái độ của Chính phủ Pháp đang khơi cái hố giữa các ngài và chúng tôi…”.

Về đề nghị của tướng R. Xalăng “để quân đội Pháp vào lập lại trật tự” cho Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Tôi không thể làm như vậy. Nếu làm như vậy, tôi sẽ là kẻ phản quốc – Và Người nói tiếp – Pháp là một nước lớn. Chúng tôi yêu nước Pháp, nhưng không muốn làm nô lệ, chúng tôi muốn sống tự do. Chúng tôi muốn có quan hệ rất nhiều về kinh tế với Pháp. Chúng tôi muốn có những quan hệ rộng lớn nữa về văn hoá. Chúng tôi muốn có những cán bộ chuyên viên kỹ thuật người Pháp trên mọi lĩnh vực. Nhưng chúng tôi phải là chủ nhân trên đất nước chúng tôi…”.

Trước khi chia tay, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với tướng R. Xalăng:

“Tôi biết tướng quân là một người nhân hậu. Buổi chiều nay, chúng ta đã là bạn. Ngày mai có thể chúng ta sẽ là thù. Tôi mong chúng ta vẫn mãi sẽ là bạn”.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, 1988, p.130-131.

– Lê Kim: Bác Hồ tiếp xúc với tình báo phương Tây, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 94-98.

Tháng 2, ngày 9

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp L. Capuýt. Người nêu rõ lập trường của Việt Nam là kiên trì tránh mọi sự đụng độ với nước Pháp mới và kêu gọi Pháp hãy hiểu mong muốn của Người là để đất nước Việt Nam, đàn ông và đàn bà được làm những công dân tự do.4)

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, 1988, p.131.

Tháng 2, trước ngày 13

Tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp phóng viên báo Pháp Paris – Saigon.

Người chủ động hỏi trước phóng viên Pháp về đời sống chính trị ở Pháp, về phong trào Cộng hoà bình dân và khuynh hướng Hội nghị lập hiến. Về quan hệ Việt – Pháp, Người cho rằng nếu giải quyết được vấn đề chính trị thì mọi việc đều có thể dàn xếp được và kết luận: “Dù rằng nước Pháp đã bị những vết thương sâu, nước Pháp vẫn có thể giúp đỡ chúng tôi, cũng như chúng tôi có thể giúp đỡ nước Pháp trong giới hạn sức lực của chúng tôi. Chúng tôi không thù ghét nước Pháp và dân tộc Pháp. Chúng tôi không hề muốn cắt đứt mối dây liên lạc giữa hai dân tộc. Nhưng chúng tôi muốn rằng nước Pháp có sáng kiến đi trước một bước thành thực”.

Trong buổi tiếp, Người nói bằng tiếng Pháp, thỉnh thoảng xen vào một câu tiếng Anh.

– Báo Cứu quốc, số 171, ngày 23-2-1946.

Tháng 2, ngày 14

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Lời cảm ơn tới nhân dân cả nước, đồng bào các dân tộc thiểu số, kiều bào ở Lào, Xiêm, Trung Quốc và các đoàn thể đã gửi điện, thư và quà chúc Tết Người. “Tiếc vì bận việc không thể cảm ơn từng người, tôi xin tất cả đồng bào nhận lời cảm ơn chung với lòng thân ái của tôi”.

9 giờ, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về Sắc lệnh tổ chức Toà án Quân sự và giao quyền tư pháp cho Uỷ ban hành chính tại các tỉnh chưa có toà án, và vấn đề cung cấp thuốc ký ninh (chữa sốt rét) cho quân đội.

Cùng ngày, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các cụ làng Xuân Tảo xin gặp Người để báo cáo kết quả cuộc vận động thực hiện đời sống mới và nhờ chuyển 600 đồng góp vào Quỹ Cứu quốc để ủng hộ các chiến sĩ đang chiến đấu ngoài mặt trận. Người tặng các cụ bức ảnh chân dung có ghi 4 chữ Hán “Xuân Tảo huệ tồn” 5).

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 21, ấn định về tổ chức của Toà án Quân sự thiết lập ở Bắc, Trung và Nam Bộ gồm 16 điều.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 163, ngày 14-2-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 174.

– Ban Thông tin Văn hoá huyện Từ Liêm: Những lần đón Bác, Nxb. Hà Nội, 1984, tr.45.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 15

19 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Hội nghị liên tịch các đoàn thể bàn về tổ chức Chính phủ liên hiệp chính thức.

– Bản sao Biên bản Hội nghị Trung ương, lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, phông Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 16

Chủ tịch Hồ Chí Minh có cuộc gặp gỡ với J.Xanhtơny để thảo luận tiếp về những vấn đề chính trị để đi tới Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3. Hai bên đã đồng ý dùng chữ “Chính phủ tự quyết” thay cho chữ “tự do của Chính phủ” và “tự do trong Liên hiệp Pháp”18, lần đầu tiên hé ra khả năng có thể đi đến một thoả hiệp.

Kể từ đầu tháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các cộng sự đã nhiều lần gặp gỡ J. Xanhtơny để bàn về một thoả hiệp Pháp – Việt nhằm chấm dứt cuộc xung đột giữa hai bên đang có nguy cơ lan rộng. Tuy nhiên những cuộc đối thoại này nhiều lần bị gián đoạn do âm mưu muốn quay trở lại Đông Dương của Pháp.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư đến Tổng thống Mỹ H. Tơruman cảm ơn Tổng thống và nhân dân Mỹ “về sự quan tâm có lợi cho các dân tộc thuộc địa mà các đại diện của Ngài tại tổ chức Liên hợp quốc đã bày tỏ”. Sau khi tố cáo thực dân Pháp, vì muốn lập lại ách thống trị của họ ở Việt Nam, đang tiến hành một cuộc chiến tranh “tàn sát và không thương xót”, một cuộc chiến tranh “trái với những nguyên tắc của luật pháp quốc tế và trái với những cam kết của các nước Đồng minh trong chiến tranh thế giới”, “một mối đe doạ trực tiếp đối với an ninh thế giới”, Người nêu rõ: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi, sau quá nhiều năm chịu sự cướp bóc và tàn phá, mới chỉ đang bắt đầu công cuộc xây dựng. Cần phải có an ninh và quyền tự do”… “An ninh và tự do chỉ có thể được bảo đảm bằng sự độc lập của chúng ta đối với bất kỳ một cường quốc thực dân nào, và bằng sự hợp tác tự nguyện của chúng ta với tất cả các cường quốc khác. Chính là với niềm tin vững chắc này mà chúng tôi yêu cầu Hợp chủng quốc, với tư cách là những người bảo vệ và những người bênh vực Công lý thế giới, thực hiện một bước quyết định ủng hộ nền độc lập của chúng tôi… Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới”.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p.138-139.

– United States – Vietnam relations 1945 – 1967, U.S. Government printing office, Washington, 1971, p. 95-97.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 175-177.

Tháng 2, ngày 18

8 giờ 45, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn việc chuẩn bị cho kỳ họp Quốc hội, nghe báo cáo về tình hình quân sự ở miền Nam và bàn vấn đề sinh viên các trường đại học có nguyện vọng tham gia công tác quân sự, tuyên truyền.

Cùng ngày, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tướng Lơcléc, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Viễn Đông để trao đổi về một cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Pháp.

Cũng cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Công hàm tới Chính phủ các nước Trung Quốc, Mỹ, Liên Xô và Anh. Người vạch rõ âm mưu tái xâm lược của thực dân Pháp đối với Việt Nam, mở đầu bằng sự kiện ngày 23-9-1945 Pháp tấn công Sài Gòn, và khẩn thiết yêu cầu: 1- “Thực hiện tất cả những bước đi thích hợp để bằng sự can thiệp khẩn cấp ngăn chặn cuộc đổ máu đang diễn ra ở Nam Việt Nam, và đi tới một giải pháp cấp bách và hợp lý cho vấn đề Đông Dương… Trong khi tin tưởng chờ đón một biện pháp tích cực của các Chính phủ Oasinhtơn, Mátxcơva, Luân Đôn và Trùng Khánh, chúng tôi đã xác định sẽ chiến đấu tới giọt máu cuối cùng  chống lại việc tái lập chủ nghĩa đế quốc Pháp”; 2- “Đưa vấn đề Đông Dương ra trước tổ chức Liên hợp quốc, chúng tôi chỉ đòi hỏi nền độc lập hoàn toàn, nền độc lập mà cho tới nay đã là một thực tế, và nó sẽ cho phép chúng tôi hợp tác với các quốc gia khác trong việc xây dựng nên một thế giới tốt đẹp hơn và một nền hoà bình bền vững”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 22, về việc sửa đổi điều 65 của Sắc lệnh số 63/SL, ngày 22-11-1945, về tổ chức các Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính.

– Sắc lệnh số 22B, giao quyền tư pháp cho Uỷ ban hành chính ở những nơi chưa đặt được toà án biệt lập.

– Sắc lệnh số 22C, về việc ấn định những ngày Tết, kỷ niệm lịch sử và lễ tôn giáo, kèm theo Sắc lệnh này, sẽ được coi là những ngày lễ chính thức.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– United States – Vietnam relations 1945 – 1967, U.S. Government printing office, Washington, 1971, p. 98-100.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 178-182.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 19

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Thông tư về việc đình công:

“Xét rằng trước tình thế nghiêm trọng bây giờ, chúng ta cần phải tập trung toàn lực để chống ngoại xâm.

Xét rằng tổng đình công là một lợi khí chỉ nên dùng để đối phó quân địch, chứ không bao giờ nên dùng để chia rẽ nội bộ.

Tôi, Chủ tịch Chính phủ lâm thời, hạ mệnh lệnh cho toàn thể viên chức và dân chúng phải làm việc như thường, trừ khi có chỉ thị của Chính phủ.

Hà Nội, ngày 19-2-1946

Chủ tịch Chính phủ lâm thời

Hồ Chí Minh”

Cùng ngày, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhan đề Gương sáng suốt của đời sống mới, đăng trên báo Dân quốc, số 136, nêu gương những việc làm tốt của các cụ phụ lão làng Xuân Tảo, làng Đình Bảng (Bắc Ninh), xã Đông Hội (Gia Khánh, Ninh Bình) và họ Nguyễn Thượng ở Thượng Phúc (Thanh Oai, Hà Tây). Kết luận, bài báo viết:

“Ba việc đó, chẳng những đã tỏ lòng vàng ngọc của đồng bào các làng xã kể trên, đồng thời cũng là một gương sáng suốt trong sự thực hành Đời sống mới cho đồng bào cả nước noi theo”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Thông báo của Chính phủ về việc Chính phủ liên hiệp sẽ thành lập và ra mắt quốc dân.

– Báo Cứu quốc, số 168, ngày 20-2-1946.

– Báo Dân quốc, số 136, ngày 19-2-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 183.

– Bản sao Thông báo, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 21

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ. Người báo cáo về kết quả thương lượng giữa các đảng: trong số 10 bộ, mỗi đảng sẽ giữ hai bộ, còn Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng sẽ do hai người trung lập giữ và sẽ lập một Uỷ ban kháng chiến và một Đoàn Cố vấn.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 23, về việc thống nhất các Sở Cảnh sát với các Sở Liêm phóng toàn quốc thành một cơ quan, đặt tên là “Việt Nam công an vụ”, quy định cách tổ chức và nhiệm vụ của Việt Nam công an vụ.

– Sắc lệnh số 24 NV/CC, về việc cấp một tháng lương (lương chính và các khoản phụ cấp) cho các công chức chính ngạch 6), viên chức công nhật hay làm việc có hợp đồng, xin từ dịch 7) hoặc xin nghỉ giả hạn 8) không lương từ 6 tháng trở lên, tình nguyện dự vào công việc tăng gia sản xuất ở Cao Bằng.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 23

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp và đề nghị ông Vĩnh Thuỵ cùng tham gia lãnh đạo Chính phủ mới.

Chiều, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp và trả lời phỏng vấn của các phóng viên về ba vấn đề liên quan đến Hiệp ước  Hoa – Pháp và cuộc đàm phán Việt – Pháp.

Trả lời câu hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có cuộc trực tiếp đàm phán nào giữa đại biểu Pháp với Chính phủ như đài Sài Gòn tuyên bố chưa,Người nói:

“Người Pháp ở đây, tôi đã tiếp nhiều. Và như tôi đã nói là người thành thật muốn tiếp thì tôi tiếp, nhưng thành thật hay không, lại là một chuyện khác. Còn như nói về công khai đàm phán thì một bên có điều kiện gì để so sánh, mặc cả với bên kia, mới là đàm phán, chứ chỉ nói chuyện bông lông không thôi, gọi là đàm phán thế nào được. Cũng như người Pháp trong quân đội, người Pháp nhà báo, hay người Pháp thường, tôi đã gặp nhiều, trong câu chuyện họ hỏi tôi, tôi trả lời, không thể bảo đó là những cuộc đàm phán được… Nếu bao giờ có cuộc đàm phán, Chính phủ cũng không giấu dân vì nước mình chưa phải là một nước ngoại giao bí mật”.

Buổi tối, Người lại gặp Vĩnh Thuỵ và nói rõ ông ta có thể làm Cố vấn cho Chính phủ sắp thành lập.

– Báo Cứu quốc, số 172, ngày 24-2-1946.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p.143.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 185-186.

Tháng 2, ngày 24

Tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng bàn về tình hình và chủ trương của Đảng trong giai đoạn mới. Căn cứ vào quyết nghị của Hội nghị, Ban Thường vụ ra chỉ thị Tình hình và chủ trương, phân tích âm mưu của bọn đế quốc và vạch ra những nguyên tắc căn bản cho việc đàm phán với Pháp.

– Tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 25

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về tình hình Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ, về Bản dự thảo nội quy Quốc hội và cử một Uỷ ban để xem xét việc bổ nhiệm các thẩm phán mới.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp J.Xanhtơny thảo luận về vấn đề đàm phán Việt – Pháp và nêu rõ lập trường của Việt Nam là “Độc lập và hợp tác”. Người và J.Xanhtơny đều nhất trí cần phải tạo ra một bầu không khí hoà dịu để cuộc đàm phán trong tương lai có kết quả.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 25, sửa đổi một số điểm trong Sắc lệnh đã ký ngày 20-10-1945 về quy định quốc tịch Việt Nam.

– Sắc lệnh số 26, quy định những hành vi phá hoại tài sản công như: cầu cống, đường giao thông, đê đập, dây điện thoại… bị coi là trọng tội, sẽ bị truy tố và phạt tù từ 2 đến 10 năm hoặc xử tử, không kể chính phạm hay tòng phạm.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 173, ngày 28-2-1946.

– Amiral d’Argenlieu: Chronique dIndochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.180.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 27

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời hiệu triệu, kêu gọi đồng bào hãy cảnh giác với loại chiến tranh tâm lý mà thực dân Pháp đang tiến hành đồng thời với chiến tranh quân sự. Chúng phao tin đồn nhảm, giải truyền đơn, dán khẩu hiệu hòng gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Người nêu tấm gương của nhân dân Trung Quốc đã trường kỳ kháng chiến và toàn dân kháng chiến, nhờ đó mà giành được thắng lợi.

Kết luận, Người khẳng định: “Như thế, mà phải nhất định như thế, thì chúng ta mới được thắng lợi và giành được độc lập hoàn toàn”.

– Báo Sự thật, số 21, ngày 27-2-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 187-188.

Tháng 2, ngày 28

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề động viên nhân dân tạm tản ra khỏi Hà Nội để tránh bệnh truyền nhiễm, về việc bàn giao giữa Chính phủ cũ và mới, việc lập toà án ở Phú Thọ và tổ chức cảnh sát tư pháp tại Trung Bộ.

16 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Hội nghị liên tịch các đảng phái bàn về việc khai mạc Quốc hội 9).

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 27 quy định hành vi bắt cóc, tống tiền, ám sát bị truy tố và phạt tù từ 2 đến 10 năm, hoặc xử tử, không kể chính phạm hay tòng phạm.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản sao Biên bản Hội nghị liên tịch, lưu tại Cục lưu trữ Trung ương.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Trong tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm ngôi đình làng Đình Bảng (Bắc Ninh), địa điểm dự bị để họp Quốc hội.

– Tài liệu lưu trữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Trong tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ, tặng đồng bào miền Nam danh hiệu vẻ vang: Thành đồng Tổ quốc.

– Bác Hồ với Hà Bắc, Ty Văn hoá Hà Bắc xuất bản, 1972, tr.18.

Trong tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Tổng thống Mỹ H. Truman, cảm ơn Tổng thống và nhân dân Mỹ ủng hộ nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống phát xít Nhật và đề nghị Mỹ với tư cách là người bảo vệ và những chiến sĩ của công bằng thế giới ủng hộ nền độc lập của Việt Nam.

– Truyện kể về Bác Hồ những chặng đường trường kỳ kháng chiến, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.123.

__________________________________________________

1) Ngõ Hàng Đũa, nay là ngõ Lương Sử C.

2) Phố Phúc Kiến, nay là phố Lãn Ông.

3) Phố Hàng Lọng, nay là phố Lê Duẩn.

4) Ngày hôm sau, L.Capuýt đã gặp tướng R.Xalăng và yêu cầu R.Xalăng chấp nhận và ủng hộ nguyện vọng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

5) “Xin Xuân Tảo nhận cho” (Cách nói lời kính trọng thường ghi đề tặng trên các tặng phẩm như ảnh, sách…).

6) Công chức trong biên chế.

7) Công chức xin thôi việc.

8) Công chức xin nghỉ phép dài hạn.

9) Hội nghị có đại biểu của Việt Minh, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đảng Dân chủ, Việt Nam Quốc dân Đảng. Ông Huỳnh Thúc Kháng là đại biểu không đảng phái, tham dự với tư cách đại biểu dự thính.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Tháng 1)

Tháng 1, ngày 1

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủ liên hiệp lâm thời14 ra mắt đồng bào tại Quảng trường Nhà hát thành phố Hà Nội. Người giới thiệu thành phần Chính phủ và cùng các thành viên Chính phủ làm lễ tuyên thệ 1):

Sau tiếng hô “xin thề”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn đoàn kết và chúc tất cả mọi người một năm mới vui vẻ.

Cùng ngày, Người ra Tuyên bố chính sách của Chính phủ liên hiệp lâm thời về đối nội, đối ngoại và kêu gọi toàn thể nhân dân ủng hộ để Chính phủ có thể đi đến thành công.

Cũng cùng ngày, Người còn gửi Thư chúc mừng năm mới đồng bào toàn quốc và Thư chúc Tết Việt kiều ở Lào, Xiêm.

– Báo Cứu quốc, số 131, ngày 2-1-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 137-142.

– Tuyên bố đối nội, đối ngoại của Chính phủ liên hiệp lâm thời, lưu tại Cục Lưu trữ Trong ương Đảng, phông Hồ Chí Minh.

– Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 38-39.

Tháng 1, ngày 2

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trân trọng cảm ơn các phú hào đã sốt sắng quyên góp giúp cho Quỹ Cứu tế, Quỹ Kháng chiến và Quỹ Độc lập. Người tiếc vì quá bận, không cảm ơn khắp được, nên “xin các đồng bào tha lỗi cho”.

– Báo Cứu quốc, số 131, ngày 2-1-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 143.

Tháng 1, ngày 3

9 giờ 45, tại trụ sở Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ liên hiệp để định ngày và giờ họp Hội đồng Chính phủ, nghe báo cáo về tình hình nội trị, quân sự và công việc chuẩn bị cho Tổng quyển cử ở các địa phương.

Sau khi đã nghe báo cáo về tình hình nội trị và quân sự, Người kết luận: “Chính phủ đã phải đối phó với hai sự khó khăn, trong Nam: hoạ ngoại xâm; ngoài Bắc: nạn đói. Nhờ sự ủng hộ của quốc dân, công việc đã có kết quả khả quan”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thông đạt yêu cầu các ông Bộ trưởng chỉ thị cho nhân viên các Sở phải giữ gìn tất cả các công văn, tài liệu và cấm không được huỷ những công văn, tài liệu ấy nếu không có lệnh trên cho phép.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 144.

Tháng 1, ngày 4

Trong mục Tin Tổng tuyển cử đăng Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đề ngày 1-4-1946 với nội dung sau:

“Kính gửi các vị ứng cử Quốc hội,

Muốn cho cuộc Tổng tuyển cử được náo nhiệt, chúng tôi mong ước các ngài đến ra mắt với Quốc dân tại những nơi sau đây:

Bãi Phúc Tân, 5 giờ chiều ngày 4-1-1946,

Khu Nghĩa Dũng, 7 giờ chiều ngày 4-1-1946,

Nhà hát lớn, 9 giờ sáng ngày 5-1-1946,

Bãi tập thể đường Hàng Đẫy, 5 giờ chiều ngày 5-1-1946.

Hồ Chí Minh”

10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các ông Lăng Kỳ Hàn và Hồng Chi Hằng trong phái bộ Ngoại giao của Trung Hoa dân quốc tại Hà Nội. Lăng Kỳ Hàn thông báo Tưởng Giới Thạch đã nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh và giao nhiệm vụ cho Lăng Kỳ Hàn trả lời.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cảm ơn và cho đó là sự quan tâm của Trung Hoa đối với phong trào độc lập của Việt Nam. Người nêu rõ ở Việt Nam bất kỳ đảng phái nào cũng nhất trí đòi hỏi độc lập. Người khẳng định tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc đã có lịch sử lâu đời; nền độc lập của nhân dân Việt Nam, dù thông qua đàm phán hay thông qua chiến tranh, đều hy vọng nồng nhiệt vào sự giúp đỡ của Chính phủ Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc. Nếu các đảng phái vứt bỏ yêu cầu độc lập tất sẽ bị toàn dân lên án.

Sau buổi tiếp, Lăng Kỳ Hàn đề nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cho Tưởng Giới Thạch.

16 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển cho Lăng Kỳ Hàn bức thư gửi Tưởng Giới Thạch.

– Lăng Kỳ Hàn: Tại Hà Nội tiếp thụ Nhật Bản đầu hàng nội mạc, Thế giới trí thức xuất bản xã, Bắc Kinh, 1984, tr. 70 – 71 (bản Trung văn).

– Báo Quốc hội, ngày 5-1-1946.

Tháng 1, ngày 5

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu. Lời kêu gọi có đoạn:

“Ngày mai, là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử15, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình…

Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam đã: Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ; Kiên quyết chống bọn thực dân; Kiên quyết tranh quyền độc lập.

… Những người trúng cử, sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng.

Phải làm cho xứng đáng với đồng bào, cho xứng đáng với Tổ quốc”.

15 giờ, tại khu Việt Nam học xá (nay là khu vực Trường Đại học Bách khoa Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh dự mít tinh của hơn hai vạn đồng bào Hà Nội ủng hộ cuộc bầu cử Quốc hội. Tại cuộc mít tinh, Người nói: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”.

Người cùng đồng bào hô to các khẩu hiệu:

– Ủng hộ Tổng tuyển cử;

– Hoan hô Quốc hội;

– Ủng hộ kháng chiến miền Nam;

– Ủng hộ Chính phủ lâm thời liên hiệp!

Chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm chùa Bà Đá, Hà Nội. Người thăm hỏi, nói chuyện thân  mật với các thượng toạ, tăng ni. Người tới trụ sở Hội Phật giáo Cứu quốc (chùa Quán Sứ, Hà Nội) để dự lễ “Mừng Liên hiệp quốc gia” 2). Phát biểu tại buổi lễ, Người nói: “… Đối với dân, ta đừng có làm gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy. Nói hy sinh phấn đấu thì dễ, nhưng làm thì khó. Trước Phật đài tôn nghiêm, trước quốc dân đồng bào có mặt tại đây, tôi xin thề hy sinh đem thân phấn đấu để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc. Hy sinh, nếu cần đến hy sinh cả tính mạng, tôi cũng không từ”. Sau buổi lễ, Người dự bữa cơm chay cùng các Phật tử.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Yên Thái (Bưởi) – làng có nghề làm giấy thủ công cổ truyền của Hà Nội. Người tới xem địa điểm chuẩn bị cho Tổng tuyển cử và nhắc nhở mọi người hãy phát triển mạnh nghề sản xuất giấy để phục vụ cách mạng.

Trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ông Hoàng Hữu Nam, đề ngày 5-1-1946, Người căn dặn: “Về Chính phủ, chú phải tìm cách làm thế nào cho công tác chặt chẽ hơn. Mấy Bộ này một tuần khai hội một lần. Còn ngày thường, nếu cần gặp nhau thì được ngay: Nội vụ – Chú, Quốc phòng – Giáp, Ngoại giao – Giám, Tư pháp – Hoè, Giao thông – Khoa, Canh nông – Cù Huy Cận, Tài chính – Hiến”.

– Báo Cứu quốc, số 134 và 136, ngày 5 và ngày 7-1-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 145-148.

– Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng quận Ba Đình: Bác Hồ với Ba Đình, Hà Nội, 1986, tr.11.

– Công Thành (chủ biên): Phan Bôi – Hoàng Hữu Namnhà trí thức cách mạng, người cộng sản tin cậy của Bác Hồ, Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2002, tr. 37.

Tháng 1, ngày 6

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bầu đại biểu Quốc hội khoá I ở phòng bỏ phiếu đặt tại số 10 phố Hàng Vôi. Sau đó, Người đến thăm một số phòng bỏ phiếu ở các phố Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Trống, Thuỵ Khuê, làng Hồ Khẩu và Ô Đông Mác.

Trưa, Người đến thăm các cháu thiếu nhi đang đi cổ động cho Tổng tuyển cử ở phố Lò Đúc.

Chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư giử Ban âm nhạc Vệ quốc quân:

“Thân gửi Ban âm nhạc Vệ quốc quân. Hôm nay, 6-1, ngày Tổng tuyển cử, anh em đã nô nức đi cổ động khắp Thủ đô từ sáng đến chiều làm cho ngày Tổng tuyển cử được tưng bừng vui vẻ và kết quả.

Bác thay mặt ứng cử viên của Thủ đô Hà Nội cám ơn và khen ngợi anh em.

Chào thân ái

BÁC HỒ”

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà báo P. M. Đétxanhgiơ (P.M. Dessinges), phóng viên báo La Résistance. Về mối quan hệ Việt – Pháp, Người nói: “Chúng tôi không có hận thù gì với nước Pháp và nhân dân Pháp. Chúng tôi khâm phục và không muốn phá vỡ những quan hệ đã gắn bó chặt chẽ hai dân tộc chúng ta. Nhưng chúng tôi yêu cầu nước Pháp phải đi trước một bước trung thực và cụ thể. Chúng tôi càng mong muốn điều này bởi lẽ chúng tôi thấy nhiều quốc gia khác đang tìm cách can dự vào những công việc riêng của chúng ta. Hai dân tộc chúng ta không được tạo cho những nước ấy cơ hội để lên mặt đạo đức với chúng ta. Chúng ta mong muốn và chúng ta phải cùng nhau dàn xếp. Nhưng các bạn cũng nên biết rằng, chúng tôi quyết tâm chiến đấu đến cùng nếu chúng tôi buộc phải chiến đấu”.

– Báo Cứu quốc, số 136, ngày 7-1-1946.

– Báo Quân đội nhân dân, số 10388, ngày 26-4-1990.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p. 123.

– Henri Azeau: Ho Chi Minh, Dernière chance, Flammarion, Paris, 1968, p.103.

Tháng 1, ngày 7

8 giờ, tại trụ sở Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Canh nông trong chuyến đi kinh lý tại Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An và bàn về việc động viên dân chúng tiếp viện cho Nam Bộ. Khi bàn về vấn đề chi viện cho Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Cần phải thống nhất quân đội ngay để có thể tiếp viện cho Nam Bộ”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự Lễ khai giảng Trường cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh ở số 2, phố Quang Trung, Hà Nội. Trước 75 học viên của lớp cán bộ tự vệ đầu tiên, Người căn dặn: “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hoá. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải: quyết tâm, tín tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí phải thành công”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 149-150.

Tháng 1, ngày 8

10 giờ 40, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm trại giam Hoả Lò, Hà Nội. Người thăm khu nhà giam, nhà tắm, lớp học, buồng làm việc, trạm xá, nhà bếp… và nghe các phạm nhân phân trần rồi khuyên họ gắng sửa tội lỗi để xứng đáng là công dân của một nước độc lập. Người nhắc nhở Giám đốc trại giam xét lại các án tù, tha bớt những người nhẹ tội. Sau đó, Người thăm Sở Cảnh sát Trung ương (phố Hàng Trống) và căn dặn: “Ngoài việc giữ trật tự, còn phải tuyên truyền, phải đoàn kết và hợp tác với tự vệ và nhân dân thành phố”.

15 giờ, Người thăm Bộ Tuyên truyền (số nhà 71 phố Trần Hưng Đạo) và nhắc nhở cán bộ nên giữ thái độ khoan hồng với kiều dân Pháp để phân hoá họ với bọn Pháp thực dân; trong việc tuyên truyền phải tôn trọng sự thật, có vậy mới có nhiều người nghe.

Cùng ngày, bài thơ “Cảm ơn người tặng cam” của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi nhà thơ Hằng Phương, đăng trện báo Tiếng gọi phụ nữ, số 11:

“Cảm ơn bà biếu gói cam,

Nhận thì không đúng, từ làm sao đây!

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,

Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai 3)”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

Sắc lệnh số 1 NV và 2 NV, về việc ân chuẩn và miễn tất cả phần tội còn lại cho hai phạm nhân người Hoa bị kết án trước tháng 9-1945.

– Báo Cứu quốc, số 137, ngày 9-1-1946.

– Báo Tiếng gọi phụ nữ, số 11, ngày 8-1-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 151.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 9

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 3 ấn định Quốc dân Đại hội 4)sẽ họp tại Hà Nội vào ngày chủ nhật 3-3-1946.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 10

6 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo của Bộ Nội vụ và bàn về vấn đề tài chính, kinh tế.

Tại Trường Đại học Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp đầu tiên của Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc16. Người chỉ rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” và căn dặn: “Tôi mong rằng các ngài cũng sẽ đem hết tài năng và tri thức giúp cho Chính phủ về mặt kiến thiết” để đạt được mục đích làm cho dân có ăn; có mặc; có chỗ ở và được học hành.

9 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội đi thăm tỉnh Hưng Yên, nhưng không báo trước cho địa phương.

12 giờ, tại thị xã Hưng Yên, sau khi thăm nhà một số bà con nghèo, Người tiếp chuyện các thân hào tới chào mừng và nói: “Chúng tôi xuống đây có hai việc: trước là để thăm đồng bào Hưng Yên, thứ hai là để thăm đê… Bây giờ ta được độc lập, công việc đắp đê không phải là việc riêng của Chính phủ, mà là của tất cả mọi quốc dân…, cho nên mọi người đều phải sốt sắng giúp dập vào việc đắp đê. Vậy các thân hào phải hăng hái giúp đỡ những đồng bào khác đi đắp đê…, phải giúp cho họ ăn, phải góp tiền, thóc nuôi họ. Chỉ có cách đó là có thể ngăn ngừa được nạn đê vỡ. Nước sông cao bao nhiêu đi nữa, mà lòng nhiệt tâm của các bạn cao hơn thì không bao giờ có lụt nữa”.

Khi bà con được tin tấp nập kéo đến mừng, Người nói:

“Tôi chỉ có một lời là chúng ta phải hết sức thương yêu nhau, đoàn kết chặt chẽ và làm việc để giúp đỡ đồng bào kháng chiến đánh Pháp và giúp đỡ đồng bào cứu đói. Đồng bào ta bất kỳ là già trẻ, trai gái, lương giáo ai cũng đồng tâm hiệp lực, nhớn giúp bé, trẻ giúp già, mạnh giúp yếu thì chắc chắn thế nào cũng giành được độc lập hoàn toàn, được tự do hạnh phúc. Chúng ta nỗ lực phấn đấu thì ngày thành công cũng không xa gì”.

Trước khi rời Hưng Yên, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Vệ quốc đoàn của tỉnh, thăm quãng đê vỡ Hưng Nhân cách thị xã 6 km. Người cùng lội nước, đi thăm hỏi từng người và căn dặn những người hậu cần phải làm sao cho từng hột gạo tới được “bao tử” của anh em đắp đê.

15 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thị xã Thái Bình. Tại Uỷ ban hành chính tỉnh, Người nhắc lại nhiệm vụ thứ hai của chuyến công tác là xin thóc, tiền để nuôi các anh em đắp đê phòng lụt. Người thăm hỏi đồng bào, bắt tay các cụ già trước khi lên xe đi Nam Định.

Tại Nam Định, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ các vị thân hào, thương gia của thành phố, cùng bàn kế hoạch cứu tế, nói chuyện thời sự và thăm hỏi tình hình phụ nữ, cố đạo, phật tử trong tỉnh.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 139, 140 và 141, ngày 11, 12 và 14-1-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 152-155.

Tháng 1, ngày 11

7 giờ, trước Uỷ ban hành chính thành phố Nam Định, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với đồng bào về những nhiệm vụ kháng chiến, cứu đói. Sau đó, Người đến thăm và chia quà cho trẻ em ở Trại trẻ mồ côi Nam Định. Người thăm từng phòng ở, từ chỗ nuôi trẻ sơ sinh đến phòng của trẻ 9-10 tuổi và nói với bà Phước nuôi trẻ:

“Tôi ghé qua đây thăm bà và các cháu. Tôi thay mặt các cháu không cha, không mẹ đó cảm ơn bà đã trông nom cho chúng như một người mẹ. Chúng tội tình gì mà tội nghiệp quá”. Nói đến đây, Người rơm rớm nước mắt.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Nam Định qua Phủ Lý, thăm Phòng thông tin và nói chuyện với đồng bào ở đây.

– Báo Cứu quốc, số 141, ngày 14-1-1946.

Tháng 1, ngày 12

15 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm khu Việt Nam học xá. Người đi thăm các phòng học, nơi sinh hoạt. Nói chuyện với sinh viên, Người khuyên anh em nên cần kiệm, ngăn nắp, giữ trật tự trong mọi hoàn cảnh, nên bỏ thói ăn mặc xa xỉ, phụ nữ bớt phấn son, rồi kết luận: “Số ấy chỉ có lợi cho nước ngoài. Nếu bớt ra có thể nuôi sống được một số đồng bào nghèo đói”. Về chính trị, Người phê bình những hành động thiếu suy nghĩ, thiếu tính mục đích của thanh niên. Người nhắc nhở không nên gây thù oán với kiều dân Pháp, “nên bảo vệ tài sản và tính mệnh cho họ… Họ sẽ là những tuyên truyền viên rất đắc lực chống lại những vu cáo của bọn thực dân”.

16 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc mít tinh của hơn 5 vạn đồng bào Hà Nội tổ chức tại Việt Nam học xá để chào mừng 6 vị đại biểu trúng cử ở Hà Nội. Người cảm ơn các đoàn thể, đồng bào đã ủng hộ Tổng tuyển cử, nói rõ ý nghĩa của Tổng tuyển cử và chính sách đối ngoại của Chính phủ.

Người hứa trước đồng bào: “Trước sự nguy hiểm khó khăn của nước nhà, chúng tôi đi trước. Với việc giữ vững nền độc lập, chúng tôi xin đi trước”.

– Báo Cứu quốc, số 141 và 142, ngày 14 và ngày 15-1-1946.

Tháng 1, trước ngày 14

7 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội đi Phát Diệm thăm Giám mục Lê Hữu Từ và hơn 100 linh mục xứ đạo Ninh Bình. Mặc dù không được báo trước, nhưng dọc đường bà con giáo dân đã bày bàn thờ ra đón, có cả cờ ngũ hành và cờ đỏ sao vàng. Người đề nghị bà con đem “cất những đồ bái vọng ấy đi”. Khi gặp Giám mục Lê Hữu Từ, Người nói với mọi người: “Trước đây tôi đã được gặp Đức cha Từ. Nay tôi về đây với một tấm lòng sốt sắng và thân mật, vì Đức cha Từ là bạn của tôi và Ngài là một vị lãnh đạo sáng suốt của đồng bào Công giáo. Dù Công giáo hay không Công giáo, Phật giáo hay không Phật giáo, đều phải nên nỗ lực tranh đấu cho nền độc lập của nước nhà… Trong Công giáo có câu “Tam vị nhất thể”. Nhà Phật có câu: “Vạn chúng nhất tâm”, nên chúng ta phải hy sinh cho nhân loại và chúng sinh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ cảm ơn lòng trung thành của Đức cha Từ và đồng bào giáo dân đối với Chính phủ.

11 giờ 30, Người dùng cơm cùng Giám mục Lê Hữu Từ và một nhà sư.

12 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm đồng bào Phát Diệm (Ninh Bình). Gặp gỡ đồng bào, Người nhắc lại nhiệm vụ cuả toàn dân lúc này là đoàn kết “chống ngoại xâm và trừ nạn đói”. Người cùng Giám mục Lê Hữu Từ chụp ảnh kỷ niệm rồi lên đường đi thăm Ninh Bình. Trên đường đi, Người ghé thăm Trường huấn luyện thanh niên ở làng An Phúc (huyện Gia Khánh). Tới thị xã Ninh Bình, Người hỏi thăm và động viên bà con đắp đê phòng lụt, tiếp một số thân hào và đoàn thể, nhắc nhở họ về công tác đê điều.

– Báo Cứu quốc, số 141 và 142, ngày 14 và ngày 15-1-1946.

Tháng 1, ngày 14

8 giờ 15, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp  Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về tình hình trị an, bàn về việc bổ sung 22 người cho Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc theo đề nghị của Uỷ ban này. Người nêu ý kiến bổ sung nhiều người sẽ khó làm việc và đề nghị chỉ lấy thêm 10 người.

Cùng ngày, nhân dịp Liên hợp quốc đang họp ở Luân Đôn (Anh), Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới ông Hăngri Xpát – Chủ tịch Hội đồng Liên hợp quốc và các ông A. Grưmưcô – đại diện Liên Xô, J. Biếcnơ – Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, Bác sĩ Cố Duy Quân – đại diện Trung Quốc, đề nghị đưa vấn đề Việt Nam ra trước Hội đồng Liên hợp quốc, yêu cầu công nhận nền độc lập của Việt Nam và kết nạp Việt Nam vào Hội đồng Liên hợp quốc.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 4 về việc cử thêm các vị: Đào Duy Anh, Lê Dung, Hoàng Văn Đức, Đặng Văn Hưởng, Trần Đăng Khoa, Đặng Xuân Khu, Nguyễn Thiệu Lâu, Nguyễn Cao Luyện, Bùi Công Trừng, Nghiêm Xuân Yêm vào Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, theo Sắc lệnh số 78, ngày 31-12-1945.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 144, ngày 17-1-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 156-157.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 15

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 5, về việc huỷ bỏ quyền quản lý và sử dụng đường sắt Hải Phòng – Vân Nam của Công ty Hoả xa Vân Nam. Sắc lệnh quy định: Toàn bộ tài sản thuộc đường này, nay thuộc quyền sở hữu và sử dụng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và giao cho Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính tổ chức, nhập với đường sắt Hà Nội – Sài Gòn, để cùng theo một chế độ.

– Sắc lệnh số 6, về việc định hình phạt với tội ăn trộm, ăn cắp, tự ý phá huỷ, cắt dây điện thoại và điện tín. Sắc lệnh quy định kẻ tòng phạm hoặc tàng trữ dây điện thoại, điện tín cũng chịu hình phạt như chính phạm.

– Sắc lệnh số 7, về việc bổ sung thêm một số điểm về chức năng và nhiệm vụ của Toà án Quân sự đã được quy định trong Sắc lệnh số 33C, ngày 13-9-1945.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Khoảng giữa tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà báo Pháp Ă.Blăngsê (André Blanchet), phóng viên báo Le Monde. Trả lời câu hỏi của nhà báo về quan hệ Việt – Pháp, Người nói: “Chúng tôi đã sẵn sàng có nhiều điều nhân nhượng, nhất là về mặt kinh tế. Điều chúng tôi muốn có: các nhà giáo thì được, thầy tu thì không; là cộng tác viên, học trò thì được, là nô lệ thì không; giáo sư, nhà báo, bác sĩ, kỹ sư chúng tôi cần có nhiều nhưng không cần các viên quan cai trị nữa” và “chúng tôi muốn có một phái đoàn đi Pari để cảm ơn Chính phủ Pháp. Trong việc này, nước Pháp không mất gì, mà chỉ được”.

Tại Bắc Bộ phủ, Người tiếp các cụ phụ lão làng Nhật Tảo (nay thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội). Các cụ nhờ Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển giúp số tiền 300 đồng, do các cụ tiết kiệm được, để góp vào Quỹ ủng hộ đồng bào Nam Bộ.

– Henri Azeau: Ho Chi Minh, Dernière chance, Flammarion, Paris, 1968, p.105.

–  Báo Dân quốc, số 114, ngày 19-1-1946.

Tháng 1, ngày 16

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Mác Ăngđrê (Max André) 5). Tại buổi gặp này, Người khẳng định nền độc lập của Việt Nam trong mối quan hệ Pháp – Việt, mong muốn có sự hợp tác bình đẳng với dân tộc Pháp và nước Việt Nam phải do Chính phủ Việt Nam lãnh đạo trên tất cả các lĩnh vực hành chính, kinh tế, tài chính, quân đội, ngoại giao…

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p.123 – 124.

Tháng 1, ngày 17

7 giờ 35, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Bưu điện Trung ương Bờ Hồ. Sau khi đi thăm các phòng làm việc, Người căn dặn cán bộ nên đi làm đúng giờ để làm gương cho anh em viên chức và động viên anh em gắng chịu đựng khó khăn cùng toàn dân vì lúc này là thời kỳ vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.

Sau đó, Người đến thăm gian trưng bày thủ công của thiếu nhi Hà Nội tại Nhà Văn hoá Cứu quốc (góc phố Hàng Trống – Lê Thái Tổ).

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn việc bầu cử lại ở một số địa phương, vấn đề khoan hồng đối với quan lại cũ, vấn đề bãi bỏ thuế nhà gạch ở thôn quê và việc động viên tinh thần dân chúng.

Chiều, Người dự họp với các giám đốc công sở, chủ tịch các uỷ ban ở Hà Nội. Người khuyên anh em nên cần, kiệm, liêm, chính giúp công cuộc kiến quốc và giải thích rất kỹ những khái niệm cần, kiệm, liêm, chính vì: “Đó là bốn đức tính của người viên chức cần có hiện thời”.

– Báo Cứu quốc, số 145 và 146 ngày 18 và ngày 19-1-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 158-159.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, trước ngày 18

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ Phái đoàn Chính phủ do Đồng chí Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp làm Trưởng đoàn vào công tác tại các tỉnh phía Nam để đẩy mạnh kháng chiến chống Pháp. Tại cuộc gặp gỡ trước khi Đoàn lên đường công tác, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Nhờ chuyển lời thăm của Bác tới đồng bào, chiến sĩ, cán bộ, hẹn khi có dịp Bác sẽ vô thăm”.

– Tạp chí Lịch sử Đảng, số 12, 2005, tr. 65.

Tháng 1, ngày 18

Nhân dịp Liên hợp quốc họp ở Luân Đôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Tổng thống Mỹ H. Tơruman, chúc mừng Chính phủ Mỹ đã có nhiều cố gắng góp phần vào việc duy trì nền hoà bình và an ninh thế giới thể hiện qua diễn văn ngày 28-10-1945 của Tổng thống. Người lên án sự phản bội, hành động tái xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp và yêu cầu Tổng thống “can thiệp ngay lập tức và có giải pháp để nhân dân Việt Nam thoát ra khỏi cuộc chiến tranh đó”. Người nêu rõ: “Sự giúp đỡ to lớn của Cộng hoà Mỹ, của Trung Quốc và Liên hợp quốc về tài chính và kỹ thuật, Cộng hoà Việt Nam chúng tôi sẽ có đủ khả năng góp phần xây dựng nền hoà bình và thịnh vượng chung trên thế giới”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 8, về việc giải tán Tổ chức “Fondation Jules Brevie” và quy định những tài sản của Tổ chức này đều bị tịch thu và giao cho Bộ Cứu tế quản.

– Sắc lệnh số 9, về việc giải tán Hội Bảo trợ Phụ nữ và Nhi đồng Annam (Ligue pour la protection de la Femme et de l’ Enfant Annamites) và quy định những tài sản của Hội này giao cho Bộ Cứu tế quản.

– United States – Vietnam relations 1945 – 1967, U.S. Government printing office, Washington, 1971, p. 93.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 19

16 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các phóng viên Việt Nam và một số phóng viên Pháp. Trả lời phỏng vấn của nhà báo Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ quyết tâm giành độc lập của dân tộc Việt Nam và khẳng định đó là một mong muốn chính đáng, “cũng như dân Pháp mong muốn độc lập khi bị Đức chiếm đóng”. Người cũng tỏ ý tin tưởng rằng “nước Pháp không thể nào trở lại thống trị nước Việt Nam một lần nữa, vì nước Pháp ngày nay không như xưa, cũng như nước Việt Nam bây giờ không phải là nước Việt Nam ngày trước”.

– Báo Cứu quốc, số 147, ngày 21-1-1946.

Tháng 1, ngày 20

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến. Trong thư có đoạn: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội. Vậy qua năm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới”17… “Năm mới, chúng ta thực hành đời sống mới để trở nên những công dân mới, xứng đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà””.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 167.

Tháng 1, trước ngày 21

Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời các nhà báo nước ngoài, Người nói:

“Nhân dịp các bạn tân văn ký giả ngoại quốc hỏi đến, tôi xin đem câu trả lời của tôi công bố ra cho đồng bào trong nước và nhân sĩ các nước ngoài đều biết:

1) Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi.

2) Trong một nước dân chủ thì mọi người đều có tự do tin tưởng, tự do tổ chức. Nhưng vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ra ngoài mọi đảng phái. Nay tôi chỉ có một tin tưởng vào Dân tộc độc lập. Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài.

Rất mong nhân sĩ nước ngoài và đồng bào trong nước rõ cho.

HỒ CHÍ MINH”

– Báo Cứu quốc, số 147, ngày 21-1-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 161-162.

Tháng 1, ngày 21

Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhan đề Tết, đăng trên báo Cứu quốc, số 147. Người kêu gọi đồng bào hãy chia vui Tết với những chiến sĩ ngoài mặt trận, gia quyến các chiến sĩ và những đồng bào nghèo để mọi người đều được hưởng niềm vui xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về việc cải tổ Viện Canh nông, bổ sung Sắc lệnh về tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính, vấn đề tổ chức toà án các cấp.

Cùng ngày, Hồ Chí Minh có cuộc gặp Mác Ăngđrê, Người một lần nữa nhấn mạnh những ý kiến đã nêu ngày 16-1 để nước Pháp trịnh trọng công nhận Việt Nam độc lập.

Trả lời phỏng vấn của Ăngđrê Blăngsê, phóng viên báo Pháp Le Monde tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Nền độc lập của chúng tôi phải được công nhận. Nếu nước Pháp tiến hành chiến tranh với chúng tôi, có nghĩa là họ không muốn công nhận nền độc lập của chúng tôi, họ sẽ phải chịu trách nhiệm về việc làm ấy… Nếu nước Pháp công nhận nền độc lập của chúng tôi, tôi sẵn sàng tổ chức những cuộc biểu tình để cảm ơn nước Pháp…”.

– Báo Cứu quốc, số 147, ngày 21-1-1946.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/ Julliard, Paris, 1988, p.124.

– Báo Le Monde, ngày 28-2-1946.

Tháng 1, ngày 22

Chủ tịch Hồ Chí Minh họp báo. Cùng dự có các thủ lĩnh của Việt Nam Cách mệnh đồng minh Hội và Cố vấn Vĩnh Thuỵ. Trong buổi họp báo, Người tuyên bố: “Nước Việt Nam mong muốn duy trì mối quan hệ hữu nghị với người Pháp”.

– Henri Azeau: Ho Chi Minh, Dernière chance, Flammarion, Paris, 1968, p. 90.

Tháng 1, ngày 23

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 10 về việc bổ sung thêm một vài điểm về tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính ở các xã, huyện, tỉnh và Kỳ, được ấn định trong Sắc lệnh số 63, ngày 22-11-1945.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 24

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 11 về việc chia khu đối với những thị xã lớn. Sắc lệnh quy định: sự chia khu do Uỷ ban hành chính Kỳ định; cách tổ chức chính quyền nhân dân ở khu sẽ theo Sắc lệnh số 77, ngày 21-12-1945 cho các thành phố. Ấn định tạm thời: Nam Định, Vinh, Bến Thuỷ, Huế, Đà Nẵng đều coi là thị xã.

– Sắc lệnh số 12 quy định: Nha Kinh tế Bắc, Trung, Nam Bộ; các Phòng thương mại; các Sở ngũ cốc; các cơ quan tiếp tế mọi ngành và những cơ quan phụ thuộc đều dưới quyền điều khiển trực tiếp của ông Bộ trưởng Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 13 ấn định cách tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, gồm 2 chương, 12 tiết với 113 điều.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 25

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn việc chuẩn bị họp Quốc hội, vấn đề thưởng và phạt. Người đề nghị cần nêu ngay một số việc sẽ được thưởng, một số vụ phải phạt. Hội đồng cử một tiểu ban phụ trách gồm: Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần, Vũ Trọng Khánh, Trần Huy Liệu.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thông tư cho Uỷ ban Trung Bộ nêu những điều cần chú ý khi giải quyết các trường hợp quan lại cũ đã tham gia vào các vụ đàn áp phong trào cách mạng trước đây. Bản Thông tư chỉ rõ: “Các Uỷ ban địa phương cần phải tỏ rõ thái độ rộng lượng với các cựu công chức và quan lại ấy. Nếu không thấy nhân dân oán hờn thì cứ để họ sống yên ổn” vì “Chính phủ muốn để cho họ cơ hội được giác ngộ khiến họ tự ý tham gia vào phong trào kháng chiến kiến quốc một cách thành thực và mong chuộc lại những lỗi lầm xưa”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

–  Thông tư số 4, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 26

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Quốc lệnh, quy định rõ 10 trường hợp được khen thưởng và 10 tội phải chịu hình phạt tử hình.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 163-164.

Tháng 1, ngày 28

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ. Người đọc bản Quốc lệnh về vấn đề thưởng, phạt. Sau đó, Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề ngoại giao, tư pháp, trù bị Quốc hội, vấn đề sử dụng công chức cũ.

Cùng ngày, bài Tự phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báo Cứu quốc, số 153, kiểm điểm những thành tích và những khuyết điểm của bộ máy Nhà nước do Người đứng đầu. Người khẳng định: “Những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi”. Người mong đồng bào giúp Người sửa chữa những khuyết điểm đó bằng nhiều cách, “trước hết là bằng cách thi hành cho đúng và triệt để những mệnh lệnh của Chính phủ”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 153, ngày 28-1-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 165-166.

Tháng 1, ngày 30

Tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu của thanh thiếu niên, nhi đồng Trung Bộ đến chúc Tết. Người căn dặn: “Năm mới phải có đời sống mới. Mới đây không phải là phá đình, phá chùa, không tôn giáo. Sống của dân là ăn, mặc, ở, học” và giải thích rất cụ thể bốn chữ: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 14, về việc lập tại Bộ Thanh niên một Nha Thể dục Trung ương, có nhiệm vụ cùng với Bộ Y tế và Bộ Giáo dục nghiên cứu phương pháp và thực hành thể dục trong toàn quốc. Bộ Thanh niên sẽ ấn định về tổ chức và ngân sách của Nha Thể dục.

– Sắc lệnh số 15, về việc bãi bỏ thuế thổ trạch ở thôn quê kể từ ngày 1-1-1946.

– Sắc lệnh số 16, về việc lập tại Hà Nội Phòng Canh nông Bắc Bộ Việt Nam.

– Tỉnh uỷ Nghệ Tĩnh – Tiểu ban nghiên cứu Lịch sử Đảng: Bác Hồ với quê hương Nghệ Tĩnh, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 31

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề tư pháp, tài chính, ngoại giao. Về vấn đề ngoại giao, Người nêu rõ lập trường của Chính phủ ta là kiên quyết giành độc lập. Khi Hội nghị bàn về đề nghị của Việt Nam Quốc dân Đảng đòi lập ngay Chính phủ chính thức theo như bản ký kết của các đảng hồi tháng 12-1945, Người nói: theo bản ký kết ấy, Chính phủ chính thức chỉ thành lập sau khi Quốc hội họp, phải có Quốc hội rồi mới có thể có Chính phủ chính thức được.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 17, về việc bãi bỏ Bình dân Ngân Quỹ tổng cục. Quy định các cơ quan và tài sản của Bình dân Ngân Quỹ tổng cục sẽ sáp nhập vào Nha Nông nghiệp tín dụng và Nha Kinh tế tín dụng theo cách tổ chức hiện thời và theo sự phân chia ấn định trong Sắc lệnh số 79, ngày 31-12-1945.

– Sắc lệnh số 18, về cách tổ chức việc lưu chuyển văn hoá phẩm được ấn định trong 6 chương và 19 điều.

– Sắc lệnh số 18B, về việc phát hành đồng bạc giấy Việt Nam từ vĩ tuyến 160N trở vào Nam. Sắc lệnh quy định Uỷ ban hành chính Trung Bộ tổ chức và điều khiển việc phát hành đồng bạc giấy. Kẻ nào làm giả hay có hành động phá hoại giá trị của đồng bạc giấy Việt Nam sẽ bị đưa ra Toà án Quân sự.

–  Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

–  Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Cuối tháng

Báo Tiếng gọi phụ nữ – Cơ quan tuyên truyền và cổ động của Phụ nữ cứu quốc, số Xuân Bính Tuất, đăng bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi phụ nữ Việt Nam. Toàn văn bài thơ như sau:

“Năm mới Bính Tuất

Phụ nữ đồng bào

Phải gắng làm sao

Gây “Đời sống mới”

Việc thành là bởi

Chúng ta siêng mần

Vậy nên chữ cần

Ta thực hành trước

Lại phải kiệm ước

Bỏ thói xa hoa

Tiền của dư ra

Đem làm việc nghĩa

Thấy của bất nghĩa

Ta chớ tham thàn

Thế tức là liêm

Đã liêm thì khiết

Giữ mình làm việc

Quảng đại công bình

Vì nước quên mình

Thế tức là chính

Cần, kiệm, liêm, chính

Giữ được vẹn mười

Tức là những người

Sống “Đời sống mới”.

HỒ CHÍ MINH

– Báo Tiếng gọi phụ nữ – số Xuân Bính Tuất, năm 1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 172-173.

Cuối tháng

Nhân dịp Tết độc lập đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, báo Quốc gia – Cơ quan ngôn luận của một nhóm thân sĩ yêu nước xuất bản tại Hà Nội có xin thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã tặng báo bài thơ:

MỪNG BÁO QUỐC GIA

Tết này mới thật Tết dân ta,

Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia.

Độc lập đầy vơi ba cốc rượu,

Tự do vàng đỏ một rừng hoa.

Muôn nhà chào đón xuân dân chủ,

Cả nước vui chung phúc cộng hoà.

Ta chúc nhau rồi ta nhớ chúc,

Những người chiến sĩ ở phương xa.

Hà Nội – Tết Độc lập Bính Tuất, 1946

HỒ CHÍ MINH

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 171.

_________________

1) Thành phần Chính phủ liên hiệp lâm thời gồm có:

1.

Chủ tịch kiêm Ngoại giao

Hồ Chí Minh

2.

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hải Thần

3.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ

Võ Nguyên Giáp

4.

Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền cổ động

Trần Huy Liệu

5.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

Chu Văn Tấn

6.

Bộ trưởng Bộ Thanh niên

Dương Đức Hiền

7.

Bộ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế

Nguyễn Tường Long

8.

Thứ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế

Nguyễn Mạnh Hà

9.

Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội

Nguyễn Văn Tố

10.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp

Vũ Trọng Khánh

11.

Bộ trưởng Bộ Y tế

Trương Đình Tri

12.

Thứ trưởng Bộ Y tế

Hoàng Tích Trí

13.

Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính

Đào Trọng Kim

14.

Bộ trưởng Bộ Lao động

Lê Văn Hiến

15.

Bộ trưởng Bộ Tài chính

Phạm Văn Đồng

16.

Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục

Vũ Đình Hoè

17.

Bộ trưởng Bộ Canh nông

Cù Huy Cận

18.

Bộ trưởng không giữ bộ nào

Nguyễn Văn Xuân

2) Các Phật tử trong Hội Phật giáo Cứu quốc tổ chức tuần “Mừng Liên hiệp quốc gia” để hoan nghênh sự đoàn kết giữa các đảng phái và Mặt trận Việt Minh và để cầu nguyện cho nền độc lập của nước Việt Nam. Lễ khai mạc cử hành vào chiều 5-1-1945.

3) Khổ tận cam lai: Hết đắng cay sẽ đến ngọt bùi.

4) Quốc hội.

5) Mác Ăngđrê là một người lãnh đạo của phong trào Cộng hoà bình dân Pháp, nguyên Giám đốc Ngân hàng Pháp – Hoa tại Hà Nội.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1945 – tháng 12)

Tháng 12, ngày 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các ông J. Xanhtơny, L.Pinhông và L.Capuýt 1) tại Hà Nội. Cùng dự có các ông Hoàng Minh Giám và Võ Nguyên Giáp. Người tỏ ý muốn có cuộc gặp gỡ với Đô đốc Đácgiăngliơ để bàn và thảo một kế hoạch đàm phán Việt – Pháp.

17 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề tự do ngôn luận, bổ khuyết Sắc lệnh Tổng tuyển cử, Sắc lệnh về Bộ Canh nông. Người thông báo đã đề nghị với Việt Nam Quốc dân Đảng hoãn cuộc đàm phán về những yêu sách của đảng ấy đến cuộc Tổng tuyển cử.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 69, quy định các cơ quan canh nông, thú y, mục súc, ngư nghiệp, lâm chính và nông nghiệp tín dụng (hợp tác xã và nông phố ngân hàng) trong toàn cõi Việt Nam nay thuộc Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 70, cử ông Lê Văn Hiến, Bộ trưởng Bộ Lao động, làm Đặc phái viên của Chính phủ ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p. 110.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 2

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 71, bổ sung thêm một số điểm về thể lệ Tổng tuyển cử đã được ấn định theo Sắc lệnh số 51, ngày 17-10-1945.

– Sắc lệnh số 72, bổ sung thêm số đại biểu từng tỉnh và thành phố đã được quy định ở thể lệ Tổng tuyển cử tại Sắc lệnh số 51, ngày 17-10-1945.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 3

8 giờ 30, tại Nhà hát thành phố Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Lễ khai mạc Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam. Phát biểu với hội nghị, Người nêu rõ: “Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói”. Đồng thời, Người căn dặn các dân tộc thiểu số hiện nay cần ra sức Đoàn kết hơn trước chống xâm lăng; Tăng gia sản xuất; Cứu giúp đồng bào dưới xuôi về nạn đói, ủng hộ Chính phủ kháng chiến và cứu đói; Gây thân thiện giữa ta và Trung Hoa, nhất là các dân tộc ở các miền biên giới.

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ tiếp tục bàn về việc Tổng tuyển cử; vấn đề tìm người tài đức; vấn đề mua bán bất động sản của người Pháp; việc Ngân hàng Đông Dương Pháp chưa mở cửa để giải quyết vấn đề giấy bạc 500 đồng…

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đồng bào thiểu số, thông báo để đồng bào biết rằng ngày 3 tháng 12 năm nay (1945) “là một ngày rất vẻ vang cho nước Việt Nam, đó là ngày Đại hội của các dân tộc thiểu số lần thứ nhất. Hơn 20 dân tộc, họp lại một nhà, tay bắt mặt mừng, rất là thân ái. Đó là một cuộc Đại hội xưa nay chưa từng có, một cuộc thân thiện làm cho cả nước vui mừng”. Người đề nghị đồng bào dân tộc thiểu số “giúp đỡ cuộc kháng chiến, trồng trọt chăn nuôi, đoàn kết chặt chẽ, ủng hộ Chính phủ”… Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nêu lên những nhiệm vụ mà Chính phủ phải “gắng sức giúp các dân tộc thiểu số để mở mang nông nghiệp, nâng cao giáo dục…”.

– Báo Cứu quốc, số 107, ngày 3-12-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 110-111.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

–  Bút tích Bức thư, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 4

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho chiến sĩ cùng đồng bào Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Người ca ngợi gương chiến đấu hy sinh của đồng bào, chiến sĩ; khẳng định nhân dân cả nước luôn luôn bên cạnh đồng bào Nam Bộ, Nam Trung Bộ và chỉ rõ cuộc kháng chiến tuy có khó khăn nhưng nhất định thắng lợi.

17 giờ, Người dự họp Hội đồng Chính phủ bàn việc chọn thêm một số thân sĩ để mời ra ứng cử; xem xét vấn đề lương cho công chức; quyết định tổ chức Bộ Thanh niên; bàn việc sửa chữa đường sắt Hải Phòng – Vân Nam; lập Ban Báo chí, định những nguyên tắc kiểm duyệt và bàn việc trợ cấp cho hai bà Thành Thái và Duy Tân (mỗi bà 500 đ Đông Dương hàng tháng).

– Bản chụp bức thư, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 5

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp ba đại biểu Phụ lão Cứu quốc Hải Phòng. Theo yêu cầu của các đại biểu, Người nói chuyện về tình hình nước nhà, vấn đề cứu đói, công cuộc chống ngoại xâm và đường lối đối nội, đối ngoại của Chính phủ. Các đại biểu hứa với Người sẽ về giải thích cho quần chúng biết mọi công việc mà Chính phủ đang gắng sức làm để giành lại nền độc lập tự do cho nước nhà.

17 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn thêm về việc chọn người ra ứng cử Quốc hội và việc Ngân hàng Đông Dương đã thoả thuận đổi giấy bạc 500 đ cho người Việt Nam (trước đó Pháp quyết định ngừng tiêu giấy bạc 500 đ).

– Báo Cứu quốc, số 125, ngày 24-12-1945.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 6

Tại Nhà hát thành phố Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Lễ tuyên thệ ủng hộ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của Hội Cựu binh sĩ Cứu quốc.

16 giờ 45, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về các vấn đề: quản lý tiền thu của công nhân đường sắt Hải Phòng – Vân Nam; quy định quyền bầu cử, ứng cử cho những người Cao Miên có quốc tịch Việt Nam và một số ít người ngoại quốc (đã ở Việt Nam ít nhất 10 năm, biết nói tiếng Việt, đã nhập quốc tịch Việt Nam, có bất động sản, làm đơn xin).

Cùng ngày, báo Việt Nam (số 19) công bố bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hai ông Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh, kêu gọi sự đoàn kết và đưa ra những đề nghị cụ thể:

“a. Xin mời các đồng chí Quốc dân Đảng tham gia việc Tổng tuyển cử ở các nơi.

b. Xin cho chúng tôi biết những đồng chí ra ứng cử ấy muốn ứng cử ở nơi nào để cho tiện việc biên tên vào danh đơn ứng cử.

c. Các ông ấy được hoàn toàn tự do hoạt động ứng cử cũng như các đảng phái khác. Chúng tôi xin phụ trách bảo vệ và giúp đỡ các ông ấy.

d. Từ ngày nay cho đến ngày Quốc hội khai mạc, hai bên phải tôn thủ điều kiện đã cùng nhau ký tại ngày 24 tháng 11 2), tức là “không công kích nhau bằng lời nói và hành động”.

– Báo Cứu quốc, số 111, ngày 7-12-1945.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 112-113.

Tháng 12, ngày 7

7 giờ, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo Việt Nam Quốc dân Đảng đòi giữ ba chức Bộ trưởng và chức Đổng lý Nội các. Người đề nghị giao cho Việt Nam Quốc dân Đảng các chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Vệ sinh, Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền. Phó Chủ tịch Chính phủ hoặc Tham mưu trưởng, hoặc Trưởng đoàn Cố vấn. Ý kiến của Người được Hội đồng tán thành.

Hội đồng quyết định cử Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ kiêm giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Cùng ngày, thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh Gửi nông gia Việt Nam, đăng trên báo Tấc đất 3), số 1. Người chỉ rõ: “Hiện nay chúng ta có hai việc quan trọng nhất: cứu đói ở Bắc và kháng chiến ở Nam”, và kêu gọi nông dân: “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay. Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 73 quy định những điều kiện và cách thức đối với người ngoại quốc muốn nhập quốc tịch Việt Nam.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 114-115.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 8

19 giờ 45, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề điều đình với Việt Nam Quốc dân Đảng và quyết định nếu cuộc điều đình có kết quả thì Chính phủ sẽ hoãn cuộc Tổng tuyển cử để các ứng cử viên Quốc dân Đảng có thì giờ tham gia ứng cử.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 9

11 giờ, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch
Hồ Chí Minh báo cáo về vấn đề điều đình với Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mệnh đồng minh Hội. Người cho biết họ không chịu chấp nhận những đề nghị của Chính phủ 4) và chiều nay, Người tiếp tục đàm phán với họ.

            – Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 10

16 giờ 45, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề Tổng tuyển cử, vấn đề điều đình với Việt Nam Quốc dân Đảng… Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu Hội đồng tập trung bàn các vấn đề sau:

– Làm thế nào để các Uỷ ban làng tổ chức cuộc bầu cử cho đúng;

– Làm thế nào để các cử tri biết cách bỏ phiếu;

– Làm thế nào để cho cử tri đi bỏ phiếu thật đông.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 11

17 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ tiếp tục bàn về vấn đề Tổng tuyển cử và nghe báo cáo về vấn đề thương lượng với Việt Nam Cách mệnh đồng minh Hội và Việt Nam Quốc dân Đảng.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 12

Chiều, tại phòng Hội đồng thị chính Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp mặt của các vị ra ứng cử đại biểu Quốc hội ở Hà Nội. Cuộc họp do cụ Nguyễn Hữu Tiệp, người cao tuổi nhất, chủ trì. Các ứng cử viên thảo luận hai vấn đề chính:

1. Lập một ban liên lạc làm trung gian.

2. Lập một chương trình của Mặt trận liên hiệp quốc dân với nguyên tắc chung là: thống nhất, kháng chiến, độc lập hoàn toàn, tăng gia sản xuất, xây dựng kinh tế.

– Báo Cứu quốc, số 120, ngày 18-12-1945.

Tháng 12, ngày 13

10 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề đổi giấy bạc 500đ, vấn đề đẩy mạnh cổ động và tuyên truyền phục vụ Tổng tuyển cử.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 15

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào ngoại thành Hà Nội. Toàn văn bức thư như sau:

Cùng toàn thể đồng bào nam, phụ, lão, ấu khu vực ngoại thành Hà Nội.

Tôi rất cảm động thấy toàn thể đồng bào ngoại thành Hà Nội đã có lòng quá yêu tôi, mà quyết nghị tôi không phải ứng cử trong kỳ Tổng tuyển cử sắp tới.

Nhưng tôi là một công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nên không thể vượt qua thể lệ Tổng tuyển cử đã định. Tôi đã ứng cử ở thành phố Hà Nội, nên không thể ra ứng cử ở nơi nào khác nữa.

Tôi thành thực cảm tạ toàn thể đồng bào nam, phụ, lão, ấu khu vực ngoại thành Hà Nội.

HỒ CHÍ MINH”

10 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn ra Sắc lệnh về nghề luật sư, Tổng tuyển cử và vấn đề công chức.

– Báo Cứu quốc, số 118, ngày 15 – 12 – 1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 116.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 16

Bài viết: “Hồ Chủ tịch khuyên răn bộ đội“, đăng trên báo Chiến thắng, tờ báo của Việt Nam Vệ quốc đoàn, xuất bản tại Hà Nội (số 16 và 18 ngày 16 và ngày 18-12-1945) ghi lại những khuyết điểm mà bộ đội phải sửa ngay. Đó là:

1. Ham hình thức mà không chú ý đến những điều thiết thực: Thích ăn mặc chải chuốt, may quần áo bằng vải đắt tiền, đi ủng, đeo súng cho ra vẻ sĩ quan, vài ngày lại giết bò, tìm chỗ đóng (quân) cho đẹp…

2. Không bí mật: Phải làm sao cho mình biết địch mà địch không biết mình.

3. Cẩu thả: Ngày thường không chịu phòng bị cẩn thận; ngay cả chỉ huy cũng chỉ dặn dò, hỏi han cấp dưới qua loa.

4. Công tác chính trị đối với dân chúng rất kém; có đồng chí cố ý tỏ ra là quan, là lính cho dân sợ.

5. Hiểu nhầm chữ “tự do”: Quân đội không thể vô chính phủ được, phải có kỷ luật.

6. Làm việc không có kế hoạch: Công việc gặp gì làm nấy, hời hợt, không thiết thực, không có kết quả…

Từ thực tế trên, Người yêu cầu mọi người phải sửa chữa những khuyết điểm ngay và phải chú ý:

1. Phải gắng sức học tập.

2. Kỷ luật nghiêm: Ai nấy đều phải tuân theo kỷ luật; Không thể trì hoãn, phải làm kiên quyết và mau mắn.

3. Chịu khó, chịu khổ: Muốn giữ vững tinh thần chiến đấu, muốn dẻo dai trong lúc tác chiến, ngay bây giờ bộ đội phải tập ăn uống kham khổ, chịu đựng sự thiếu thốn cho quen; tập đi bộ, tập mang nặng, làm việc tỉ mỉ… Chịu khó chịu khổ là phương thuốc bổ cho tinh thần và lực lượng của bộ đội. Phải tham gia sản xuất để có rau ăn, trứng rán…

– Bảo tàng Hồ Chí Minh, Thông tin tư liệu, Nội san, số 7, tháng 1-2005, tr. 27-28, 33.

Tháng 12, ngày 17

10 giờ 30, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo về việc Việt Nam Quốc dân Đảng yêu cầu tiếp tục cuộc điều đình và hoãn cuộc Tổng tuyển cử. Người đã yêu cầu Việt Nam Quốc dân Đảng viết rõ những đề nghị của họ.

Hội đồng Chính phủ đã quyết định tiếp tục cuộc điều đình với Việt Nam Quốc dân Đảng và hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến ngày 6-1-1946 và gia hạn nộp đơn ứng cử đến hết ngày 27-12-1945.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 74 NV/CC, quy định những thể lệ lương bổng cho các nhân viên công chức mắc bệnh lao hay phong phải nghỉ việc dài hạn.

– Sắc lệnh số 75 NV/CC, về việc trưng tập tất cả viên chức tòng sự tại các công sở trong toàn cõi Việt Nam, trừ khi được lệnh cho nghỉ việc. Ai không tuân theo Sắc lệnh này bị truy tố và trừng phạt theo điều 12 nêu trong Sắc lệnh số 68, ngày 30-11-1945.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 18

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tướng Trần Tu Hoà, đại diện của Bộ Tư lệnh quân đội Trung Hoa tại Việt Nam. Tướng Trần Tu Hoà thay mặt Bộ Tư lệnh quân đội Tưởng Giới Thạch ở Việt Nam trình bày về đề nghị: Bộ Tư lệnh quân đội Tưởng Giới Thạch ở Việt Nam sẽ đứng ra “điều đình”, thông qua hiệp thương giữa các đảng phái thành lập một Chính phủ liên hiệp lâm thời có đại biểu các tầng lớp tham gia để tổ chức cuộc Tổng tuyển cử và yêu cầu Chủ tịch Hồ Chí Minh lui thời gian tiến hành bầu cử lại hai tuần.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 76 về việc hoãn ngày Tổng tuyển cử trong toàn cõi Việt Nam đến ngày 6-1-1946 và gia hạn nộp đơn ứng cử đến hết ngày 27-12-1945.

– Hoàng Tranh: Những bài nghiên cứu về lịch sử quan hệ Trung – Việt, Nxb. Nhân dân Quảng Tây, 1992, tr.261 (bản Trung văn).

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 19

10 giờ 45, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về các vấn đề về tài chính (mua lại Nhà in Taupin, cho phép Nam Bộ phát hành ngân phiếu, phụ cấp đặc biệt cho người ít lương), vấn đề tư pháp, vấn đề người Trung Hoa yêu cầu Chính phủ mua gạo cho họ.

16 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư (bằng chữ Hán) gửi tướng Trần Tu Hoà. Trong thư, Người thông báo quyết định của Chính phủ Việt Nam sẽ lui ngày Tổng tuyển cử trong toàn quốc lại hai tuần. Đồng thời, Người giải thích rõ thêm một số vấn đề như tổ chức và thành phần Mặt trận Việt Minh, Cương lĩnh chính trị của Mặt trận Việt Minh, về tổ chức chính quyền ở địa phương, về việc triệu tập Quốc hội sau khi Tổng tuyển cử toàn quốc. Người còn gửi kèm theo bức thư một danh sách ứng cử viên tham gia Tổng tuyển cử của 11 tỉnh Bắc Kỳ.

Người nói rõ: “Về ngoại giao tranh thủ sự giúp đỡ của các nước Đồng minh, trước hết là Trung Quốc. Liên lạc và hỗ trợ các dân tộc bị áp bức”. “Khẩu hiệu của Việt Minh là liên Hoa, kháng địch, độc lập”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 117-119.

– Bản sao bức thư (tiếng Trung), lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 21

10 giờ 45, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề canh nông; nghe đề nghị của Việt Nam Quốc dân Đảng và quyết định sẽ đề nghị họ tham gia Chính phủ và ra ứng cử; vấn đề tư pháp: cử ra một tiểu ban để chọn nhân viên thẩm phán.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 77 về việc thành lập thành phố trực thuộc Chính phủ Trung ương hoặc Kỳ, thị xã thuộc Kỳ hoặc tỉnh. Cách tổ chức chính quyền nhân dân thị xã như cách tổ chức ở các xã đã được ấn định tại Sắc lệnh số 63, ngày 22-11-1945 5).

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 22

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho các chiến sĩ miền Nam. Người thay mặt Chính phủ khen ngợi chiến sĩ ở các mặt trận miền Nam, đặc biệt là các chiến sĩ ở Nha Trang và ở Trà Vinh, đã làm gương anh dũng cho toàn quốc. “Tổ quốc biết ơn các bạn, toàn thể đồng bào noi gương các bạn”.

– Báo Cứu quốc, số 124, ngày 22-12-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 120.

Tháng 12, ngày 23

Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp với đại diện các đảng phái (Việt Minh, Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mệnh đồng minh Hội) bàn về việc thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời.

Người đã ký vào Văn kiện 14 điều thoả thuận về cơ cấu thành phần trong Chính phủ mới và nhiều vấn đề quan trọng khác. Văn kiện này còn kèm theo 4 điều phụ kiện về tổ chức bộ máy Chính phủ và nhân sự giữ cương vị Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Bộ trưởng Quốc phòng và Nội vụ khi Chính phủ liên hiệp chính thức thành lập.

– Bản Văn kiện 14 điều thoả thuận và Phụ kiện, chữ Hán, lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, phông Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 519-521.

Tháng 12, ngày 24

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt cho Việt Minh cùng với Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh thay mặt cho Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh Hội cùng ký tên công nhận các thoả thuận sau:

1. Độc lập trên hết, đoàn kết trên hết. Trên tinh thần thân ái và chân thành, cùng nhau thoả thuận để giải quyết mọi vấn đề khó khăn trước mắt. Ai dùng vũ lực gây ra những cuộc nội loạn sẽ bị quốc dân ruồng bỏ.

2. Kể từ ngày 25-12-1945, đôi bên phải ủng hộ một cách thiết thực cuộc Tổng tuyển cử, Quốc hội và kháng chiến.

3. Bắt đầu từ ngày 25-12-1945, đôi bên đều đình chỉ hết thảy những việc công kích nhau bằng ngôn luận và hành động.

10 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ thông báo về những thoả thuận đã đạt được với Việt Nam Quốc dân Đảng. Hội đồng còn bàn về các vấn đề tư pháp và giao thông.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 77B về việc Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà uỷ quyền cho Uỷ ban nhân dân Nam Bộ xét ân giảm án cho tội nhân trong điều 3, Sắc lệnh ngày 13-9-1945, do Toà án Quân sự thiết lập.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 522.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 25

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Các vị linh mục và đồng bào Công giáo Việt Nam nhân dịp Lễ Thiên Chúa giáng sinh. Bức thư có đoạn:

“Trong lịch sử Việt Nam ta, lần này là lần đầu mà đồng bào công giáo ta làm lễ Nôen một cách vui vẻ sung sướng trong nước Việt Nam độc lập tự do. Tôi chắc rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của các vị Giám mục Việt Nam, đồng bào công giáo quyết một lòng với nhân dân toàn quốc để giữ vững nền tự do độc lập đó”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 121-122.

Tháng 12, ngày 26

15 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của các phóng viên báo hàng ngày và hàng tuần của Việt Nam (có hai đại biểu của báo Tiếng gọi Phụ nữ cũng tham gia). Người nêu rõ ý nghĩa của vấn đề đoàn kết giữa Mặt trận Việt Minh, Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh đồng minh Hội trong Chính phủ lâm thời mở rộng.

– Báo Cứu quốc, số 128, ngày 28-12-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 124-126.

Tháng 12, ngày 27

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cảm ơn các ông bà: Bùi Huy Đức, Hoàng Gia Luận, Hồ Đắc Điềm, Hoàng Thị Đắc, Trần Hữu Vy đã đi đầu, đóng góp nhiều nhất cho phong trào nhường cơm sẻ áo, cứu giúp đồng bào đói khổ. Thư Người viết:

“Ngoài sự tỏ rõ tấm lòng bác ái, sự giúp quyên của các ngài và các bà lại còn có ý nghĩa khác:

1. Là làm gương cho các nhà phú hộ khác, mong cho ai cũng đua nhau làm việc nghĩa.

2. Là tỏ rõ rằng các phú hộ tiên tiến Việt Nam ta đã thực hành câu: “Cứu một người hơn mười đám cháy”.

3. Là chứng tỏ rằng toàn quốc đồng bào ta, tầng lớp nào cũng sẵn lòng giúp Chính phủ; vì trách nhiệm của Chính phủ là phải giúp dân, các ngài, các bà giúp đồng bào tức là giúp Chính phủ”.

– Báo Cứu quốc, số 127, ngày 27-12-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 123.

Tháng 12, ngày 28

10 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn việc lập toà án ở huyện và tỉnh; vấn đề can thiệp để Chính phủ Xiêm (Thái Lan) thả chính trị phạm Việt Nam. Về vấn đề những quan lại bị Chính phủ Trần Trọng Kim “triệt hồi” và truy tố nhưng chưa đem xét xử, Hội đồng quyết định hoãn.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 77C về việc lập Toà án Quân sự tại Phan Thiết theo quy tắc đã ấn định tại Sắc lệnh số 33 C, ngày 13-9-1945. Các địa phương thuộc thẩm quyền các Toà án Quân sự Quảng Ngãi, Nha Trang, Phan Thiết sẽ do nghị định của Uỷ ban nhân dân Trung Bộ ấn định, có ý kiến của các ông Chánh Nhất và Chưởng lý Toà Thượng Thẩm Thuận Hoá.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

–  Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 29

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cho ông Hoàng Văn Đức – Phó Bí thư Tổng bộ Việt Minh để giao nhiệm vụ mời đại biểu của Đảng Dân chủđến Bộ Nội vụ bàn cách đối phó với các đảng đối lập đang âm mưu tung quân ngăn cản đồng bào Thủ đô vận động tuyên truyền cho bầu cử sắp tới. Toàn văn bức thư như sau:

“Bộ Ngoại giao               Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

Số….                            Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Anh Đức,

2 giờ rưỡi chiều nay, mời năm đại biểu cuả Dân chủ Đảng đến Bộ Nội vụ nói chuyện.

Chào thân ái

Ngày 29-12-1945

Hồ Chí Minh”

 – Vũ Đình Hoè: Đến bây giờ mới thấy… Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, in trong cuốn Bác Hồ sống mãi với chúng ta (Hồi ký)**, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 72.

Tháng 12, ngày 31

Hai bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Ý nghĩa Tổng tuyển cử và Thế giới với Việt Nam (ký bút danh Q.Th), đăng trên báo Cứu quốc, số 130.

Bài Ý nghĩa Tổng tuyển cử nêu rõ: “Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết”, và mong rằng toàn thể quốc dân sẽ hăng hái tham gia cuộc Tổng tuyển cử này.

Trong bài Thế giới với Việt Nam, tác giả trích dẫn ý kiến phát biểu của các nhà lãnh đạo, các chính khách, các Chính phủ Trung Hoa, Hoa Kỳ, Nga Xô viết, và những lời bình luận của báo chí thế giới bày tỏ sự ủng hộ đối với nền độc lập của Việt Nam. Bài báo kết luận: “Chúng ta cứ bền gan, vững chí xây đắp thực lực để kiên quyết chiến đấu, sức chiến đấu ấy sẽ làm cho hoàn cầu thừa nhận nền độc lập hoàn toàn của chúng ta”.

10 giờ 45, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ. Hội đồng nghe và thông qua chương trình buổi lễ nhậm chức của Chính phủ liên hiệp lâm thời sẽ tổ chức tại Nhà hát thành phố ngày 1-1-1946 và bài Chúc quốc dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ đọc.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 78, về việc lập một Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết, có nhiệm vụ nghiên cứu, dự thảo để đệ trình Chính phủ kế hoạch kiến thiết các ngành kinh tế, tài chính, hành chính, xã hội, văn hoá và quy định cách tổ chức và hoạt động của Uỷ ban này.

– Sắc lệnh số 79, về việc chia Bình dân Ngân quỹ tổng cục thành hai quỹ: Quỹ Nông nghiệp tín dụng thuộc Bộ Canh nông và Quỹ Kinh tế tín dụng thuộc Bộ Quốc dân kinh tế. Hai cơ quan tín dụng này tổ chức theo nghị định của Bộ chủ quản.

– Sắc lệnh số 80, về việc cử các ông Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Chánh Nhất của Toà Thượng thẩm Hà Nội và ông Cù Huy Cận, Bộ trưởng Bộ Canh nông vào Ban Thanh tra đặc biệt thiết lập theo Sắc lệnh số 64, ngày 23-11-1945.

– Sắc lệnh số 81, về các khoản chi trong năm 1946 tạm theo các số dự chi ghi trong ngân sách năm 1945, các khoản chi tiêu mới được duyệt y. Các thuế khoá cũng tạm thu theo chế độ hiện hành.

– Báo Cứu quốc, số 130, ngày 31-12-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 127-133.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Trong tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi sau việc tàu bay địch tàn sát đồng bào Nam Bộ. Người kêu gọi đồng bào hãy tỏ cho người Pháp biết rằng:

“1. Chúng ta là một dân tộc yêu chuộng hoà bình, công lý, nhân đạo. Chúng ta phải khoan hồng và bảo vệ tính mệnh, tài sản cho họ.

2. Gặp hoàn cảnh nào, chúng ta cũng phải bình tĩnh, giữ trật tự, giữ kỷ luật.

3. Về cách đối đãi với người Pháp – cũng như về các việc khác – nhân dân phải tuyệt đối nghe theo mệnh lệnh của Chính phủ, không được tự ý làm bừa”.

Người đồng thời nhắc nhở tất cả người Pháp và người Việt đều phải đề phòng bọn khiêu khích, tránh sự hiểu lầm và xung đột giữa người Pháp và người Việt.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 136.

Trong tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi gửi đồng bào Bắc Bộ, nhắc nhở đồng bào phải biết theo mệnh lệnh của Chính phủ để “làm cho thế giới thấy rằng dân tộc ta xứng đáng độc lập, Chính phủ ta có đủ oai quyền”. Người yêu cầu nhân dân Bắc Bộ đình chỉ việc bất hợp tác, giữ thái độ bình tĩnh giúp Chính phủ giữ gìn trật tự.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 135.

Trong tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho các chiến sĩ Nam Bộ và Nam phần Trung Bộ. Người ca ngợi tinh thần hy sinh cho dân tộc của các chiến sĩ Nam Bộ và Nam Trung Bộ trong ba tháng chiến đấu chống Pháp vừa qua và khẳng định: “Các bạn ở tiền tuyến không bao giờ cô độc, vì đã có cả một khối toàn dân đoàn kết làm hậu thuẫn cho mình. Thắng lợi cuối cùng nhất định về ta”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 134.

Khoảng cuối năm

Trong buổi tiếp nhà báo Pháp Giăng Misen Hetơrích (Jean Michel Hetrich), Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Nước Pháp thật là một xứ sở kỳ lạ. Nước Pháp đã sản sinh ra những tư tưởng tuyệt diệu, nhưng khi xuất cảng, chẳng bao giờ nước Pháp cho đưa ra những tư tưởng đó!”.

– Jean Michel Hetrich: L’indépendance ou la mort, Jean Gigneau, Paris, 1946, p. 250.

 __________________________

1) L.Capuýt: Thư ký Phân bộ Bắc Kỳ thuộc Đảng Xã hội Pháp. Sau cuộc gặp gỡ này, ngày 8-12, L.Capuýt đã gửi thư cho Đácgiăngliơ nói rằng Chính phủ Hồ Chí Minh và Việt Minh là lực lượng duy nhất có đủ tư cách đại diện cho nhân dân Việt Nam, có khả năng nhất đi tới đàm phán Pháp – Việt và nước Pháp chỉ có lợi khi giúp Chính phủ cách mạng lâm thời chống các phe phái đối lập (và Trung Hoa Quốc dân Đảng là kẻ thù chung của cả hai bên). Sau này ông còn nhiều lần đề nghị các đại diện Pháp tại Đông Dương ủng hộ đường lối của Chính phủ Hồ Chí Minh.

2) Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.4, tr.550.

3) Báo Tấc đất: Cơ quan cổ động sản xuất, Bộ Canh nông bảo trợ, là tờ báo được phát hành trong chiến dịch chống nạn đói (1945-1946) nhằm cổ động cho công tác tăng gia sản xuất.

4) Hai tổ chức này đòi được giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, hoặc Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

5) Các thị trấn Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Bến Thuỷ, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Sài Gòn, Chợ Lớn đều đặt làm thành phố.

Thành phố Hà Nội được đặt trực tiếp dưới quyền Chính phủ Trung ương, còn các thành phố khác đều thuộc quyền các Kỳ.

Mỗi thành phố sẽ đặt ba cơ quan: Hội đồng nhân dân thành phố, Uỷ ban hành chính thành phố và Uỷ ban hành chính khu phố.

Riêng Đà Lạt chỉ có các Uỷ ban hành chính khu phố. Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính tỉnh Lâm Viên kiêm cả nhiệm vụ của thành phố.

Các tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính thành phố, Uỷ ban hành chính khu phố được quy định cụ thể trong 3 chương, 8 tiết với 56 điều của Sắc lệnh này.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1945 – tháng 11)

Tháng 11, ngày 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Giêm Biếcnơ. Trong thư, Người đưa ra sáng kiến về ngoại giao nhân dân, mở đầu cho mối quan hệ hợp tác giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ, trước hết trong lĩnh vực văn hoá, mặc dù giữa hai nước chưa có quan hệ ngoại giao chính thức. Người đề nghị “được gửi một phái đoàn khoảng 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ với ý định một mặt thiết lập những mối quan hệ văn hoá thân thiết với thanh niên Mỹ, và mặt khác để xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác”.

– Bản chụp bức thư, lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, phông Hồ Chí Minh (bản Anh văn).

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 80-81.

Tháng 11, trước ngày 2

Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời các nhà báo về lời tuyên bố ngày 26-10-1945 của Tổng thống Mỹ Tơruman12. Mở đầu, Người nói: “Cứ xét 12 điểm chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ này, thì đều có ý nghĩa công minh chính trực cả, nhưng riêng năm điểm có quan hệ mật thiết với các dân tộc nhược tiểu trên thế giới”… thì nhân dân Việt Nam “rất hoan nghênh và chắc rằng nước Mỹ sẽ làm cho những lời tuyên bố ấy thực hiện ngay, nó đặt nền móng cho hoà bình và hạnh phúc của nhân loại và trước hết là cho các dân tộc nhỏ yếu”.

Đó là:

“- Hoa Kỳ không nghĩ tới một sự mở mang bờ cõi nào vì những mục đích ích kỷ…

–  Hoa Kỳ tin tưởng vào sự trở lại chủ quyền của hết thảy các dân tộc đã mất chủ quyền ấy bởi cường lực…

– Hoa Kỳ không ưng thuận một sự thay đổi lãnh thổ nào mà không được chính các dân tộc đương sự thoả thuận…

– Tất cả các dân tộc đương chuẩn bị tự trị được tự chọn lấy chính thể của họ…

– Không một chính phủ nào thành lập bằng sự áp bức, bằng vũ lực trên một dân tộc khác, lại sẽ được Hoa Kỳ thừa nhận cả”.

– Báo Cứu quốc, số 81, ngày 2-11-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 82-83.

Tháng 11, ngày 3

16 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề gạo cứu đói. Người được Hội đồng Chính phủ phân công thảo một kế hoạch để giúp ý kiến cho Hội Cứu đói.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 54, quy định các công chức thuộc các ngạch trong nước Việt Nam đương chức hay đã nghỉ việc trong hai điều kiện: đã làm việc được 30 năm hoặc đã đến tuổi 55, đều phải về hưu kể từ ngày 1 – 10 – 1945.

– Sắc lệnh số 55, quy định cách tổ chức Hội đồng kỷ luật các viên chức ở các cơ quan và địa phương.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 5

9 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc mít tinh của nhân dân Hà Nội tổ chức tại Nhà hát thành phố để hưởng ứng “Ngày kháng chiến” 1). Đọc diễn văn trong buổi lễ, Người tố cáo âm mưu của thực dân Pháp muốn xâm chiếm nước ta một lần nữa, đồng thời khẳng định lập trường và ý chí quyết chiến để giữ vững nền độc lập của dân tộc. “Bọn thực dân Pháp phải biết rằng: dân Việt Nam không muốn đổ máu, dân Việt Nam yêu chuộng hoà bình. Nhưng nếu cần phải hy sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn quyền độc lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh và kháng chiến”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho kiều bào Việt Nam ở Pháp. Trong thư, Người biểu dương tinh thần đấu tranh, yêu nước của kiều bào, tố cáo những tội ác dã man của bọn thực dân Pháp xâm lược, vạch trần sự đồng lõa của nhà cầm quyền Anh ở Nam Bộ và khẳng định ý chí mạnh mẽ của một dân tộc thà chết tự do hơn sống nô lệ. Người mong rằng kiều bào hãy xứng đáng với anh em đang chiến đấu ở Nam Bộ để bảo vệ cho nền độc lập của nước nhà.

Cũng cùng ngày, bài Toàn dân kháng chiến (ký bút danh Q.T) của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báo Cứu quốc, số 83. Bài viết nêu rõ ý nghĩa, nội dung cụ thể của toàn dân kháng chiến và kết luận “Thực hiện được toàn dân kháng chiến, phần thắng thế nào cũng về ta”.

17 giờ 20, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về tình hình thu các thứ thuế buôn bán, thuế trước bạ, thuế trực thu và nghe báo cáo về dự án ngân sách năm 1946.

– Báo Cứu quốc, số 83 và 85, ngày 5 và ngày 7-11-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 86-92.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 6

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về các vấn đề: hiến pháp, kiểm tra việc phân phối gạo và tăng gia sản xuất.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 7

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề hiến pháp, vấn đề nghỉ phép của viên chức, vấn đề người Pháp đang vận động người Trung Hoa để lập Sở Liên lạc Pháp – Hoa.

Trong ngày, Người tiếp đoàn đại biểu Công giáo Cứu quốc. Đoàn đã báo cáo với Người công việc của Đại hội đại biểu Công giáo Cứu quốc toàn quốc tổ chức tại Phát Diệm (Ninh Bình).

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 56 về việc uỷ nhiệm cho Bộ Quốc dân kinh tế (Nha kỹ nghệ) kiểm soát việc sản xuất giấy, bìa trong toàn cõi Việt Nam; Bộ Tuyên truyền và cổ động được uỷ nhiệm kiểm soát giấy, bìa nội hoá và nhập cảng, cùng việc phân phối các sản phẩm đó đến các nơi tiêu thụ.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 8

Bài viết Hô hào nhân dân chống nạn đói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên báo Cứu quốc, số 86. Người lên án chính sách độc ác của bọn thực dân Pháp đã làm cho hơn hai triệu đồng bào Bắc Bộ chết đói và hô hào tất cả các tổ chức, các lực lượng trong nước phải ra sức chống nạn đói như chống giặc ngoại xâm. Kết luận, Người viết:

“Cuộc chống nạn đói cũng như cuộc chống ngoại xâm, ta nhất định thành công, vì đồng bào ta ai cũng sẵn lòng hăng hái. Nhưng các bạn phụ trách các  địa phương phải biết cách tuyên truyền, biết cách giải thích cho ai nấy đều hiểu rõ, đều thực hành. Các bạn phải có sáng kiến để tìm ra cách làm được việc mà không mất lòng dân. Nhất là đối với chữ CẦN, chữ KIỆM, chữ HY SINH, chữ CÔNG BẰNG thì các bạn phải thực hành trước, phải làm gương cho dân chúng theo”.

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về đối sách của ta trong tình hình mới. Khi bàn đến thái độ người Pháp, Hội đồng nhận định họ đã có những cử chỉ khiêu khích. Có người nêu ý kiến: ta “thử hành động” xem thái độ của Pháp và quân đội Tưởng Giới Thạch thế nào? Chủ tịch Hồ Chí Minh cho ý kiến: “Cần giữ trật tự, không nên hành động gì, vì nếu chúng ta không giữ trật tự, người Tàu sẽ thiết quân luật”.

Về vấn đề người Pháp sẽ kéo cờ ở trong thành nhân ngày 11 tháng 11 – ngày kỷ niệm kết thúc cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất13, Người trả lời sẽ bàn với phía Trung Hoa, không để cho người Pháp làm việc này.

Trong cuộc họp, Người đã đề nghị cử ông Đinh Chương Dương làm Cố vấn Uỷ ban hành chính Trung Kỳ.

Về vấn đề Bộ Tư lệnh quân đội Tưởng Giới Thạch yêu cầu duyệt báo chí của ta, Người thông báo đã thương lượng với người Trung Hoa, nhưng chưa có kết quả.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 93-94.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 9

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp ông J. Xanhtơny.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 10

Tại buổi lễ “Ngày phụ nữ ủng hộ Nam Bộ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Huy chương Vàng cho bà Vương Thị Lai (tức Lợi Quyền, là người đi đầu trong việc quyên góp ủng hộ Chính phủ trong “Tuần lễ VÀNG”), và nói: “bà Vương Thị Lai là đại biểu của lòng hăng hái và hy sinh cho tất cả phụ nữ Việt Nam”.

Người còn gửi Ban tổ chức “Tuần lễ VÀNG” một tấm ảnh để chuyển tặng cho ông Nguyễn Sơn Hà (ở Hải Phòng), là người quyên góp nhiều thứ hai, sau bà Lai cho Quỹ Quốc phòng.

17 giờ 30, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo về cuộc gặp của Người với ông J.Xanhtơny hôm trước và thái độ của ông ta. Người cũng cho biết những đảng viên Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản Pháp đã gặp anh em Việt Minh để trao đổi ý kiến. Người còn thông báo: Người Trung Hoa trước kia đỡ đầu cho Nguyễn Hải Thần nhưng đã chán nản về những hành động của ông ấy và báo tin Lư Hán có thể không trở lại Việt Nam nữa, mà có lẽ ông Trương Phát Khuê sẽ sang.

Tại cuộc họp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị cử ông Lê Tùng Sơn làm Thứ trưởng Bộ Quân huấn.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 57, về việc nghiêm cấm sản xuất, tàng trữ, tiêu thụ, mua bán, bất cứ nhiều hay ít rượu được chế từ ngũ cốc bằng phương pháp cổ truyền hay khoa học; và định mức phạt khi phạm tội trên.

– Sắc lệnh số 58, về việc các công chức tất cả các ngạch có thể xin nghỉ gia hạn không lương ít nhất sáu tháng và liên tiếp xin gia hạn, cho đến khi tổng cộng nghỉ được ba năm. Quá hạn đó, nếu không xin ra làm việc, sẽ coi như thôi việc, hoặc có thể về hưu nếu đủ điều kiện hưởng hưu bổng. Việc cho phép nghỉ gia hạn không lương do Bộ trưởng hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, chủ quản đương sự xem xét. Những viên chức còn trong thời kỳ tập sự cũng được phép xin nghỉ gia hạn không lương theo thể lệ trên.

– Báo Cứu quốc, số 90, ngày 13-11-1945.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 12

Nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của Tôn Trung Sơn (12-11-1866), báo Cứu quốc, số 69, đã đăng bài Hoa – Việt thân thiện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người tỏ rõ ý nguyện của nhân dân Việt Nam cũng như chính sách của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đối với anh em Hoa kiều là đoàn kết, thân ái. Đồng thời, Người kêu gọi Hoa kiều, trên cơ sở truyền thống hữu nghị giữa hai dân tộc, hãy ra sức giúp đỡ và ủng hộ nhân dân Việt Nam.

Cùng ngày, Người dự Lễ kỷ niệm ngày sinh của Tôn Trung Sơn do Hội Văn hoá Cứu quốc Việt Nam tổ chức tại Trường Đại học Việt Nam.

– Báo Cứu quốc, số 89 và 91, ngày 12 và ngày 14-11-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 95-96.

Tháng 11, trước ngày 13

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện văn chúc mừng các ông: Gioócgiơ Biđôn – lãnh tụ Đảng Cộng hoà Bình dân, Lêông Blum – lãnh tụ Đảng Xã hội Pháp, Môrít Tôrê – lãnh tụ Đảng Cộng sản Pháp đã giành được thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử. Nhân dịp này, một lần nữa Người khẳng định “nếu nước Pháp chịu thừa nhận nền độc lập của Việt Nam, dân chúng Việt Nam sẽ hết sức hoà hảo với nước Pháp. Trái lại thế, dân chúng Việt Nam quyết rỏ đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ cho sự tự do”.

– Báo Cứu quốc, số 90, ngày 13-11-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 97-98.

Tháng 11, ngày 13

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ, nghe báo cáo về tình hình Nam Bộ, các vấn đề về Tổng tuyển cử, kiểm duyệt báo chí, đất trồng trọt và tổ chức thanh tra. Về vấn đề thanh tra, Người phát biểu:

“Các Bộ trưởng có thể chia nhau mỗi người đi thanh tra một khu gần Hà Nội, Bộ Nội vụ sẽ khảo cứu và lập một chương trình về việc này. Có nhiều việc thụt két 2) ở một vài công sở. Mỗi Bộ có trách nhiệm điều tra và đề nghị với Chính phủ nghiêm trị những người làm bậy”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 14

Bài viết Nhân tài và kiến quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên báo Cứu quốc, số 91. Người khẳng định công việc kiến quốc muốn thành công thì cần phải có nhân tài, và nhân tài nước ta dù chưa có nhiều nhưng nếu biết khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo sử dụng thì ngày càng có nhiều thêm. Người kêu gọi đồng bào những ai có tài năng và sáng kiến về Kiến thiết ngoại giao, Kiến thiết kinh tế, Kiến thiết quân sự, Kiến thiết giáo dục – những công việc “chúng ta cần nhất bây giờ”-, lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà, hãy “gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ. Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay”.

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ. Người đề nghị lập Bộ Canh nông và cử ông Cù Huy Cận làm Bộ trưởng. Khi bàn về vấn đề tập hợp nhân tài, Người đề nghị Hội đồng Chính phủ cử một Ban Cố vấn cho Chủ tịch gồm 10 người: bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, giám mục Lê Hữu Từ, các ông Bùi Bằng Đoàn, Ngô Tử Hạ, Lê Tạ, Bùi Kỷ và 4 người nữa sẽ cử sau.

– Báo Cứu quốc, số 91, ngày 14-11-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 99.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 15

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Lễ tốt nghiệp khoá V Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam. Trước buổi lễ, Người đã thăm trường, lớp, nhà bếp, chỗ tăng gia của trường. Nói chuyện tại buổi lễ, Người nhấn mạnh những công việc quan trọng trước mặt phải làm là: kháng chiến và cứu đói; Người căn dặn anh em phải hết sức nghe mệnh lệnh của Chính phủ, trong công việc phải làm cho dân yêu mến và siêng năng hăng hái, làm gương cho đồng bào.

9 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Lễ khai giảng khoá đầu tiên Trường Đại học Việt Nam (nay là Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, số 19 phố Lê Thánh Tông).

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ. Người thông báo việc một số địa chủ đã đến yết kiến và nói lại với Chính phủ các yêu cầu của họ. Người cũng cho biết Bộ Canh nông đã được thành lập và ông Cù Huy Cận đã thảo một thông cáo về việc này.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 59 về việc cho phép Uỷ ban nhân dân các cấp có quyền được thị thực các giấy tờ cho nhân dân nơi mình quản lý; quy định mức lệ phí được thu với các khế ước chuyển dịch bất động sản và các khế ước khác, số lệ phí này nộp vào quỹ công của Uỷ ban nhân dân nơi cấp thị thực.

– Báo Cứu quốc, số 92 và 93, ngày 15 và ngày 16-11-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 101-102.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 16

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về các vấn đề bầu cử và ứng cử, việc Việt Nam Quốc dân Đảng đã phát hành một tờ báo; vấn đề khuyến nông và tư pháp… Người đề nghị Chính phủ ra Thông cáo nói rõ ai cũng có quyền ứng cử, dù ở đảng phái nào hay không đảng phái.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 60 quy định về thủ tục được tiến hành trước toà tại Hà Nội, Hải Phòng, Nam Bộ, Đà Nẵng.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 17

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo tình hình và bàn về các vấn đề kế hoạch của Bộ Canh nông, việc dịch Dự thảo Hiến pháp ra tiếng Pháp để đăng báo La République; vấn đề tổ chức và quyền hạn của Uỷ ban nhân dân.

20 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Lễ kỷ niệm 15 năm Ngày thành lập Hội Hướng đạo Việt Nam tại khu Việt Nam học xá (Hà Nội).

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 95, ngày 19-11-1945.

– Báo Hướng đạo thẳng tiến, ngày 26-11-1945.

Tháng 11, ngày 19

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp các ông Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh để thoả thuận về vấn đề đoàn kết chống thực dân Pháp và giúp đỡ đồng bào Nam Bộ.

16 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ để thảo luận về Sắc lệnh tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban hành chính, và các vấn đề đê điều, tài chính, giấy bạc 500đ, bảo vệ di tích và lăng tẩm, khen thưởng những người hy sinh vì Tổ quốc. Người còn thông báo về việc 10 thương gia Việt Nam và Trung Hoa đã đi Việt Trì để lo việc tiếp tế cho quân đội Trung Hoa, về cuộc gặp của Người với các ông Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh ban sáng.

        – Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 20

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn đại biểu Hội Hướng đạo Nghệ Tĩnh.

10 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về các vấn đề: truy tặng danh hiệu cho 5 liệt sĩ hy sinh tại Cái Răng, lập Uỷ ban canh nông tại phủ, huyện, châu, xã; tuyên truyền thể lệ và quyền ứng cử, bầu cử; việc cung cấp gạo cho quân đội Trung Hoa và vấn đề Tổng hội viên chức đề nghị vay 500.000đ để mua gạo tiếp tế cho công chức. Người đề nghị ra một Sắc lệnh truy tặng danh hiệu cho 5 liệt sĩ nói trên.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 62 về việc bãi bỏ Sở thương binh, chiến binh, nạn nhân chiến tranh và trẻ mồ côi thuộc địa.

– Báo Hướng đạo thẳng tiến, ngày 26-11-1945.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 21

9 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ, bàn về vấn đề tổ chức Ban Thanh tra và nghe các Bộ báo cáo.

13 giờ 45, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nghe đại diện các Bộ báo cáo tình hình. Sau khi nghe đại diện Bộ Giáo dục báo cáo, Người nói: “Ta đã làm được nhiều việc về giáo dục, làm hơn hẳn người Pháp”, và đề nghị ông Vũ Đình Hoè nên viết một bài nói về công việc đã làm đưa cho Bộ Tuyên truyền.

Khi Hội đồng thảo luận về báo cáo của Bộ Tuyên truyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: cần phải có kế hoạch tuyên truyền đối với Pháp, đối với Trung Hoa, đối với các nước khác, đối với dân trong nước, và cho rằng ở các lớp tuyên truyền mỗi ngày chỉ học có hai giờ là quá ít. Khi Bộ Thanh niên báo cáo, Người nhận xét có quá nhiều tổ chức thanh niên, Bộ Thanh niên cần tập hợp tất cả lại thành một tổ chức và chỉ xuất bản một tờ báo thanh niên.

20 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự dạ hội của Hội Nhi đồng Cứu quốc tại Nhà hát thành phố, cùng đến dự còn có Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu và Bộ trưởng Bộ Thanh niên Dương Đức Hiền.

Trong ngày, nhân dịp khai mạc Hội nghị Oasinhtơn về Viễn Đông mà không có mặt của đại biểu Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, một lần nữa tuyên bố “bác bỏ mọi quyền của người Pháp phát biểu nhân danh nhân dân Việt Nam” và lên án cuộc xâm lược của Pháp đối với Việt Nam đã vi phạm các nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương và Hiến chương Xan Phranxixcô. Người kêu gọi các dân tộc tự do trên thế giới sẽ công nhận nền độc lập của nước Cộng hoà Việt Nam và đặt dấu chấm hết cho cuộc xung đột giết chóc ở Nam Việt Nam.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 61, về việc chuyển Sở Vô tuyến điện Việt Nam thuộc về Bộ Quốc phòng.

– Báo Cứu quốc, số 99, ngày 23-11-1945.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 109.

– United States-Vietnam relations 1945-1967, U.S. Government printing office, Washington, 1971, p. 92.

Tháng 11, ngày 22

14 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ. Khi bàn về vấn đề tiếp tế gạo cho các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ, Người nêu ý kiến cần chú ý  không để cho quân đội Trung Hoa dân quốc đổ lỗi cho ta làm khó dễ cho sự tiếp tế của họ.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 63 về tổ chức, quyền hạn, cách làm việc của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp xã, huyện, tỉnh và Uỷ ban chấp hành cấp Kỳ. Sắc lệnh gồm 4 chương, 17 tiết, 115 điều.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 23

Tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp 18 đại biểu của 5 dân tộc thiểu số Tuyên Quang. Người thân mật bắt tay từng người, hỏi thăm tình hình Việt Bắc và khen ngợi tinh thần yêu nước, ý chí đánh giặc, tinh thần sản xuất của đồng bào các dân tộc ít người. Người căn dặn đồng bào cần phấn đấu nhiều hơn, đoàn kết giữ gìn độc lập, chống xâm lăng và “nhờ anh chị em về nói lại với đồng bào trên ấy biết rằng đồng bào Kinh và Chính phủ rất thương mến đồng bào Mán, Thổ, coi như anh chị em trong một nhà, và khuyên anh chị em gắng sức để đi tới thái bình để cùng hưởng chung”. Trước khi chia tay, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh chung với các đại biểu.

16 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ. Khi bàn về chương trình kinh tế, Người nói:

“Ngoại giao và kinh tế có ảnh hưởng lẫn nhau. Nếu mình có một chương trình kinh tế có lợi cho người ngoại quốc, họ có thể giúp mình”…

Tại cuộc họp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã báo cáo những công việc Bộ Ngoại giao đã làm:

Từ trước đến nay Chính phủ ta giao thiệp với người ngoại quốc đã gây được cảm tình của nhiều cá nhân.

Người Mỹ không ưa chính sách thuộc địa của Pháp, nhưng vì ngoại giao, người Mỹ không muốn làm mất lòng người Pháp. Việc ngoại giao với Pháp chưa có kết quả gì. Ta vẫn phải chuẩn bị.

Về ngoại giao với Trung Hoa, hàng ngày ta vẫn giao thiệp với họ ở đây. Họ tán thành việc ta gửi một phái bộ văn hoá sang Trung Hoa. Phái bộ chưa có tiền. Người Trung Hoa nói vì nội trị của ta chưa rõ nên họ chưa tỏ thái độ đối với ta.

Người thông báo với Hội đồng Chính phủ về cuộc gặp Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh ngày 19 tháng 11: Hai bên đã thoả thuận đoàn kết để chống Pháp nhưng báo Việt Nam 3) vẫn công kích Chính phủ lâm thời. Ngày mai sẽ có cuộc hội kiến nữa và mong có kết quả. Nếu họ muốn tham gia Chính phủ, ta sẽ vui lòng để họ tham gia Chính phủ.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Tổng thống Mỹ Tơruman và Tổng chỉ huy UNRRA 4). Người yêu cầu “các cường quốc trên thế giới và các tổ chức cứu trợ quốc tế” giúp đỡ ngay lập tức cho Việt Nam để qua được nạn đói.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 64, về việc lập ngay một Ban Thanh tra đặc biệt, có nhiệm vụ giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của các Uỷ ban nhân dân, các cơ quan của Chính phủ và quy định quyền hạn của Ban Thanh tra này. Thiết lập ngay tại Hà Nội một toà án đặc biệt để xử những nhân viên của các Uỷ ban nhân dân hay các cơ quan của Chính phủ do Ban Thanh tra đặc biệt truy tố, cách tổ chức và quyền hạn của toà án này.

– Sắc lệnh số 65, về nhiệm vụ của Đông phương Bác Cổ học Viện là bảo tồn tất cả các cổ tích trong toàn cõi Việt Nam, cấm phá huỷ đình, chùa, đền, miếu, các cổ vật, thành, quách, lăng, mộ, chiếu sắc, văn bằng, v.v. có ích cho lịch sử. Chính phủ công nhận nguyên tắc những khoản trợ cấp hàng năm của toàn quốc, tỉnh và của mỗi người cho Đông Dương Bác Cổ học Viện.

– Báo Cứu quốc, số 101, ngày 26-11-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 103-104.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 24

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với đại diện Việt Nam Quốc dân Đảng ký bản cam kết Tinh thành đoàn kết 5). Trong đó, hai bên đảm bảo không công kích lẫn nhau bằng lời nói và bằng hành động, cùng kêu gọi đoàn kết, cùng kêu gọi ủng hộ Nam Bộ kháng chiến.

19 giờ 30, Người dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ bàn về các vấn đề: đê điều, tổ chức Bộ Nội vụ và Tổng tuyển cử.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 66 về việc Chính phủ, Bộ Y tế hoặc quân đội có thể trưng dụng các y sĩ, dược sĩ ra giúp việc.

– Bản cam kết Tinh thành đoàn kết, lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, phông Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 518.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 25

Tại Nhà hát thành phố Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Lễ khai mạc Đại hội Thanh niên Cứu quốc toàn xứ Bắc Bộ.

Nói chuyện với Đại hội, Người thông báo cho Đại hội về tình hình quốc tế, tình hình trong nước và đề ra một số nhiệm vụ cho thanh niên:

– Chuẩn bị luôn luôn: một mặt ủng hộ cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, một mặt chuẩn bị chiến đấu ở Trung và Bắc Bộ.

– Cứu đói: mang gạo từ chỗ có đến chỗ không có. Quyên gạo, khuyến nông, không để thừa một tấc đất hoang nào.

– Chuẩn bị Tổng tuyển cử: tuyên truyền cho nhân dân hiểu rõ bổn phận của mình trong cuộc Tổng tuyển cử.

Người phê bình các tổ chức thanh niên còn hẹp hòi, không thu hút nhiều giai tầng, chưa lôi kéo được đại đa số thanh niên, chưa giúp đỡ nữ thanh niên, chưa có kế hoạch, phương hướng… và đề nghị thanh niên hãy thực hiện khẩu hiệu: “Làm, phải cho thắng, nhất định không cho bại!”.

– Báo Cứu quốc, số 101, ngày 26-11-1945.

– Báo La République, số 9, ngày 2-12-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 105-106.

Tháng 11, ngày 27

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thanh niên toàn quốc tích cực thực hiện chính sách đối với Hoa kiều 6). Sau khi nhắc lại truyền thống tốt đẹp trong quan hệ hợp tác giữa người Việt và Hoa kiều đã có từ trước đây, Người kêu gọi thanh niên phải đi đầu trong việc thực hiện chính sách “Hoa – Việt thân thiện”; đồng thời, phải ngăn ngừa những âm mưu ly gián hòng gây xích mích giữa người Việt Nam với Hoa kiều, phá hoại tình cảm giữa hai dân tộc.

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về các vấn đề: tiếp tế gạo, lập Ban Thanh tra đặc biệt và công tác ngoại giao. Người nói: “Ta cầm quyền trong lúc khó khăn: có người Tàu, người Tây, người Nhật, lại thêm nạn đói, các Bộ thiếu liên lạc, Chính phủ thiếu kế hoạch chung. Vấn đề dùng người khó, tuy rằng ta rất rộng”. Người thông báo Việt Nam Quốc dân Đảng muốn giữ các Bộ: Nội vụ, Kinh tế, Tài chính, Giáo dục, Quốc phòng, Thanh niên, Kiều vụ và muốn người của đảng này giữ chức Đổng lý Nội các.

– Báo Cứu quốc, số 103, ngày 28-11-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 107-108.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 28

16 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về chính sách ngoại giao. Hội đồng đã khẳng định:

1. Ngoại giao đối với Pháp: Nguyên tắc của Chính phủ là:

a- Nhất quyết đòi quyền độc lập.

b- Chỉ có thể nhượng bộ ít nhiều về kinh tế, văn hoá.

2. Ngoại giao đối với Trung Hoa:

Cùng một nguyên tắc là không nhượng bộ về vấn đề độc lập của Việt Nam.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 67 về việc cử một Uỷ ban tối cao tiếp tế và cứu tế gồm: Bộ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế, Bộ trưởng Bộ Cứu tế, Bộ trưởng Bộ Canh nông, để nghiên cứu và thi hành những biện pháp cần thiết nhằm tăng sức sản xuất của đồng ruộng, để tiếp tế và cứu tế cho nhân dân trong toàn cõi Việt Nam.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 29

17 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về các vấn đề: Tổng tuyển cử, giải quyết việc quân đội Trung Hoa dân quốc canh gác Đài phát thanh và giữ tại Ga Hà Nội chiếc máy bay của ông Vĩnh Thuỵ mới gửi ra; việc cử một phái viên của Chính phủ Việt Nam vào Nam Bộ.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 30

16 giờ 45, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn việc kỷ niệm ba tháng độc lập (2-9 – 2-12) và việc ứng cử vào Quốc hội. Người được phân công ứng cử tại Hà Nội.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 68 cho phép các nhà chức trách quân sự hoặc hành chính được phép trưng dụng động sản của tư nhân và trưng tập người vào việc bảo vệ, củng cố nền độc lập trên toàn cõi Việt Nam. Chính phủ sẽ bồi thường theo 12 điều khoản được quy định trong Sắc lệnh này.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Cuối tháng

Từ 9 giờ đến 14 giờ, tại Bộ Tư lệnh quân đội Trung Hoa ở Việt Nam (khu vực Bệnh viện Hữu Nghị hiện nay), Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp tướng Chu Phúc Thành để giải quyết một vụ rắc rối, nhằm giải quyết tình hình căng thẳng do quân đội Tưởng Giới Thạch gây ra 7).

        – Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 310-311.

 _________________________

1) Để biểu thị sự ủng hộ cuộc chiến đấu oanh liệt của đồng bào Nam Bộ chống Pháp xâm lược, cả nước tổ chức “Ngày kháng chiến” vào ngày 5-11-1945.

2) Tham ô.

3) Tờ báo của Việt Nam Quốc dân Đảng.

4) United Nations Relief and Rehabilitation Administration. (Cơ quan cứu trợ và khôi phục của Liên hợp quốc).

5) Trong buổi ký cam kết có Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Lê Tùng Sơn, Cù Huy Cận, Phan Trâm. Cả 5 người cùng với Hồ Chí Minh đều ký vào bản Tinh thành đoàn kết (Tinh thành: có lòng thành hết mực).

6) Khi quân Tưởng do Lư Hán chỉ huy vào tước vũ khí quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra, chúng sách nhiễu, cướp phá tài sản của nhân dân ta ở một số nơi và làm chỗ dựa cho bọn phản động Việt quốc, Việt cách làm bậy. Vì thế, thanh niên ta ở nhiều nơi đã có phản ứng. Trước tình thế không có lợi cho ta lúc bấy giờ, và thực hiện chính sách “mềm dẻo” để tập hợp lực lượng, Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi này.

7) Tướng Chu Phúc Thành vu cáo một cán bộ của ta đã đi chiếc xe của Chủ tịch Hồ Chí Minh và gây ra vụ bắn chết một Pháp kiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch rõ sự vu cáo trắng trợn trên đây. Chu Phúc Thành chuyển sang trách cứ Chính quyền ta không đảm bảo được trật tự an ninh… Cuối cùng chúng vẫn giữ xe và người lái xe của Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy cớ “để truy tìm hung thủ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh phải điện thoại về Bắc Bộ phủ để đưa xe khác đi đón Người!

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1945 – tháng 10)

Tháng 10, ngày 1

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Lễ bế giảng khoá IV Trường Quân chính Việt Nam. Phát biểu với các học viên, Người nhấn mạnh: thời gian huấn luyện tuy ngắn ngủi, chưa thể cung cấp cho mọi người những kiến thức đầy đủ, nhưng đó là những điều cơ bản giúp anh em ứng dụng ngay vào công tác trước mắt, định rõ một hướng đi cho khỏi lầm đường, điều quan trọng là phải “vừa làm vừa học, nghiên cứu không những trong sách vở mà ngay trong những công tác của mình”.

Người căn dặn mọi người phải có những đức tính mà đã là cán bộ thì cần phải có:

1. Không tự kiêu, không có cái bệnh làm “quan cách mạng”.

2. Phải siêng năng, siêng nghe, siêng thấy, siêng đi, siêng nghĩ, siêng nói, siêng làm.

3. Cầu tiến bộ luôn luôn, không lúc nào ngừng nghiên cứu, tự luyện, sửa chữa những khuyết điểm.

4. Trung thành với mục đích cách mạng: giữ cho nước nhà được độc lập, nòi giống được tự do.

17 giờ, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo: buổi sáng tướng Trung Hoa Hà Ứng Khâm và tướng Mỹ Mắc Clơrơ (R.B. Mac Clure) đã tới Hà Nội.

Cùng ngày, Người gửi báo Thiếu Sinh bức thư dưới đây:

“Gửi báo Thiếu Sinh,

Báo trẻ em đã ra đời. Báo đó là báo của trẻ em, vậy các em nên giúp cho báo: Gửi tin tức, tranh vẽ và viết bài cho báo.

Nên đọc cho trẻ em chưa biết chữ nghe. Nên làm cho báo phát triển.

Hồ Chí Minh”.

– Báo Cứu quốc, số 58, ngày 4-10-1945.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Thiếu Sinh, số 1, ngày 1-10-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 34-35.

Tháng 10, ngày 3

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho công bố chính sách ngoại giao bốn điểm của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 41, bãi bỏ tất cả các công sở và các cơ quan trước đây thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương được thiết lập ở Hà Nội hoặc các nơi khác trên lãnh thổ Việt Nam; quy định bất động sản và động sản ở tất cả các công sở trên đều phải giữ nguyên vẹn và chuyển giao cùng với những nhân viên hiện tòng sự tại đây sang các bộ của Chính phủ lâm thời Việt Nam theo sự phân phối của Chính phủ.

– Báo Cứu quốc, số 57, ngày 3-10-1945.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 4

Hai bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chống nạn thất học7 và Thiếu óc tổ chức – Một khuyết điểm lớn trong các Uỷ ban nhân dân (ký bút danh Quyết Thắng), đăng trên báo Cứu quốc, số 58.

Trong bài Chống nạn thất học, Người nêu rõ một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc lúc này là nâng cao dân trí: “Muốn giữ vững nền độc lập. Muốn làm cho dân mạnh nước giầu. Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”. Và Người kêu gọi: “Những người đã biết chữ  hãy dạy cho những người chưa biết chữ… Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi. Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn người làm không biết thì chủ nhà bảo, các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho những người không biết chữ ở hàng xóm láng giềng.”…

Bài Thiếu óc tổ chức – Một khuyết điểm lớn trong các Uỷ ban nhân dân, nêu những thiếu sót chung trong phần lớn các Uỷ ban nhân dân, đó là “bệnh lộn xộn, thiếu tổ chức”, biểu hiện ở chỗ phân công công việc không rõ ràng, rành mạch, có kế hoạch nhưng sơ sài, việc sử dụng người không đúng chỗ, v.v..

Kết luận, bài báo viết: “Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa”.

17 giờ 30, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo về việc đại tá Mỹ Nótlingơ (Nordlinger) đã đề nghị với Chính phủ Việt Nam lập một Uỷ ban gồm có Uỷ viên Hội Hồng thập tự Mỹ, một số người Pháp và người Việt Nam để lo tiếp tế gạo cho dân Bắc Bộ; việc Người đã nói chuyện với tướng Hà Ứng Khâm và việc thả dần tù binh Pháp nhưng cấm tù binh mang khí giới.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 42 quy định cách đánh thuế vào các tiền lãi thương mại, kỹ nghệ, canh nông, lương bổng…

– Báo Cứu quốc, số 58, ngày 4-10-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 36-39.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 5

Bài viết Tinh thần tự động trong Uỷ ban nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh (ký bút danh Chiến Thắng), đăng trên báo Cứu quốc, số 59, nhận xét về tình trạng nhiều Uỷ ban nhân dân chỉ biết thi hành một cách máy móc mệnh lệnh của cấp trên mà không biết vận dụng vào hoàn cảnh của  địa phương, nhiều uỷ viên Uỷ ban không chịu nghĩ cách thực hiện nhiệm vụ được phân công sao cho có hiệu quả mà nhất nhất điều gì cũng chờ đợi ở “thượng cấp”, như vậy là không có tinh thần tự động.

“Tự động là không phải tựa vào ai, là tự mình biết biến báo xoay xở, tự mình biết thực hành công tác theo nhiều hình thức mới mẻ, phong phú”. Nhưng “Tự động không phải là tự tiện…, không coi kỷ luật chính trị vào đâu, muốn làm gì là cứ tự ý làm bừa đi, chẳng bàn hỏi thảo luận với ai, không theo pháp luật Chính phủ ban hành, không dựa vào ý nguyện dân chúng”.

Kết luận, Người nhắc nhở: “Các nhân viên trong các Uỷ ban nhân dân phải rèn cho có một tinh thần tự động mạnh mẽ, nhưng phải bỏ tính cái gì cũng tự tiện”.

17 giờ 30, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo cuộc gặp gỡ với hai ông Hà Ứng Khâm, Mắc Clơrơ diễn ra rất vui vẻ và thân mật. Người cho biết đã nhận được thư của Lư Hán về việc ông ta cử những người Trung Hoa làm giám đốc các công sở và yêu cầu người Việt Nam hợp tác với họ. Theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, Người nhận lời sẽ gặp Lư Hán bàn về việc định rõ quyền hạn của những ông giám đốc Trung Hoa.

– Báo Cứu quốc, số 59, ngày 5-10-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 40-41.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 6

16 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức họp báo để nói về chính sách ngoại giao và nội trị của Chính phủ từ sau ngày 2-9-1945.

Về ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc, Mỹ và Pháp. Người nói: “Hai nước Trung Hoa và Việt Nam có liên lạc với nhau về kinh tế và chính trị, thì hai dân tộc không thể không có sự tương trợ, tương thân.

Với Mỹ – những phái bộ Mỹ đến Việt Nam đã tỏ rõ với Chính phủ lâm thời một cảm tình đặc biệt. Đó là thứ cảm tình giao tế quân nhân phái bộ Mỹ đối với mình… Các đại biểu phái bộ Mỹ vẫn chủ trương thuyết là quân nhân không có quyền nói chính trị.

Với Pháp – rất đơn giản, là Chính phủ buộc Pháp phải công nhận nền độc lập của nước ta. Được thế, về vấn đề khác cũng có thể giải quyết rất dễ dàng”.

Về nội trị, Người nhấn mạnh: Chính phủ Dân chủ Cộng hoà lâm thời phải là công bộc của dân, phải làm sao cho dân tộc Việt Nam có Danhvới thế giới, tranh được Lợi với thế giới.

Cùng ngày, Chủ tịch gặp Pinhông tại Hà Nội. 

– Báo Cứu quốc, số 61, ngày 8-10-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 42-44.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/ Julliard, Paris, 1988, p.98.

Tháng 10, ngày 7

9 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Lễ khai mạc Triển lãm Văn hoá tại trụ sở cũ của Hội Khai trí Tiến Đức. Trước số sách báo ít ỏi của ta được xuất bản trong thời kỳ bị Pháp – Nhật đô hộ, Người nói: Văn hoá Việt Nam dưới sự áp bức của đế quốc vẫn cố thở, cố tìm cách phát triển…

Sang phòng triển lãm tranh của các họa sĩ có tên tuổi như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung, Người nhận xét: “Những bức tranh này tỏ rõ các nghệ sĩ của ta lâu nay đều đã cố gắng tìm một con đường đi. Nhưng tiếc một điều là không muốn đi ở dưới đất mà cứ muốn vụt lên trời; chất mơ mộng nhiều quá, mà cái chất thật của sự sinh hoạt lại quá ít”.

Người còn nhắc nhở: “… Văn hoá là một cấu trúc thượng tầng. Nhưng cơ sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi, văn hoá mới kiến thiết được và đủ điều kiện phát triển được. Ngày nay, trước khi đi đến sự kiến thiết nước nhà, chúng ta còn phải qua một thời kỳ tranh đấu cực kỳ khổ sở. Giới văn hoá cũng phải cùng các giới đồng bào đi qua chặng đường ấy. Mong rằng anh em văn hoá đã cố gắng, xin cố gắng mãi lên!”.

– Báo Cứu quốc, số 61, ngày 8-10-1945.

Tháng 10, ngày 8

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự Lễ khai giảng Lớp huấn luyện đầu tiên đào tạo cán bộ phụ trách Bình dân học vụ các tỉnh Bắc Bộ tại Hà Nội. Tại buổi Lễ, Người nói: Trong lúc Chính phủ còn nghèo, Bình dân học vụ có sáng kiến dựa vào dân là rất tốt. Sau khi phân tích ba nhiệm vụ cách mạng có liên quan với nhau là chống nạn đói, nạn dốt và nạn ngoại xâm, Người chỉ rõ: Chống nạn thất học cũng quan trọng như chống ngoại xâm.

Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Khoan hồng mà không nhu nhược (ký bút danh Chiến Thắng) đăng trên báo Cứu quốc, số 61, nói rõ chính sách khoan hồng, chính đại của Chính phủ, “chỉ coi bọn thực dân Pháp là kẻ thù chính cần tiêu diệt, còn đối với dân chúng Pháp chịu thừa nhận quyền độc lập Việt Nam thì nó vẫn thân thiện và sẵn sàng bảo vệ cho sinh mạng và tài sản. Đối với quan lại cũ, trừ những bọn đại gian, đại ác, Chính phủ Cộng hoà ta cũng tỏ một độ lượng không để tâm moi ra những tội cũ… Thái độ đó của Chính phủ tỏ rõ một ý muốn duy nhất làm sao đem lại cho dân chúng được tự do độc lập hoàn toàn..”..

Bài báo phê phán một số Uỷ ban  địa phương đã có những hành vi trái phép, trái với chính sách khoan hồng của Chính phủ như bắt bớ lung tung, tịch thu bừa bãi không phải vì quyền lợi của dân chúng mà chỉ vì tư thù, tư lợi, gây ảnh hưởng xấu tới Chính phủ. Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định: “Nói như vậy không phải là các Uỷ ban nhất thiết không bắt bớ ai, tuyệt đối không tịch thu tài sản của ai. Những bọn thực dân tàn bạo và bọn tay sai của chúng mưu mô xâm phạm chủ quyền Việt Nam, phá hoại nền độc lập của ta, các Uỷ ban cần thẳng tay phanh thây chẻ xác chúng ra để làm gương cho kẻ khác.

Phải khoan hồng nhưng không nhu nhược, như vậy mới thực là biết phụng sự quyền lợi quốc gia”.

17 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ. Người thông báo về việc quốc dân sẽ treo cờ Trung Hoa và đại biểu của Chính phủ sẽ gặp Lư Hán để chúc mừng ngày Quốc khánh của Trung Hoa Dân quốc (10-10); về việc gặp Lư Hán, Alétxăngđri và một đại tá Mỹ. Người cho biết, buổi trưa Người đã tiếp phóng viên Hãng Thông tấn France Press; còn việc chở gạo từ trong Nam ra Bắc, nếu người Mỹ cần người Việt Nam giúp thì người Việt Nam sẽ sẵn lòng giúp.

Khi Hội đồng thảo luận về việc Bộ Cứu tế sẽ đi thu gạo để giúp dân đói, Người nói sẽ cho đăng một bài báo về việc quyên gạo là tuyệt đối không bắt buộc.

– Báo Cứu quốc, số 61, ngày 8-10-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 45-46.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Vương Kiêm Toàn: Nhớ lại những lần được gặp Bác và nhận thư của Bác, in trong cuốn Bác Hồ sống mãi với chúng ta (Hồi ký)**, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 88-89.

Tháng 10, ngày 9

7 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ. Mở đầu cuộc họp, Người thông báo về việc chở gạo từ trong Nam ra đã đến Nam Định và việc đại biểu Công nhân Cứu quốc Hà Nội nhờ Người chuyển 1.000 đồng tới các chiến sĩ Nam Bộ. Khi bàn tới vấn đề kinh tế, Người cho biết vừa gặp ông Nótlingơ bàn về việc chuyển gạo từ Nam ra Bắc và việc Hội Hồng thập tự Mỹ sẽ chở gạo giúp Chính phủ. Tiếp đó, Hội đồng bàn về các vấn đề y tế, cứu tế, lao động và giáo dục.

Cùng ngày, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Đoàn đại biểu Công nhân thành Hoàng Diệu do ông Trần Danh Tuyên dẫn đầu đến yết kiến. Người đã trả lời các vấn đề về tổ chức trong công nhân, vấn đề đối nội, đối ngoại của Nhà nước ta trước sự tấn công của thù trong giặc ngoài. Về đối ngoại, Người chỉ rõ: Chúng ta phải hết sức khôn khéo, đứng trước bất kỳ kẻ thù nào, người cách mạng cũng phải hiểu rõ chúng là ai; mạnh yếu chỗ nào, tranh thủ và cô lập ai?…

Trước khi chia tay, Người căn dặn: “Trước mắt, các chú cần tổ chức Hội nghị Công nhân nhằm biểu dương lực lượng và động viên anh em chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu mới”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 48, về việc tạm thời sử dụng đạo luật cũ đối với các công ty, các hãng kỹ nghệ, thương mại ngoại quốc ở Việt Nam trong khi chờ đợi đạo luật mới được ban hành, nhưng Chính phủ Việt Nam có quyền kiểm soát nếu cần.

– Sắc lệnh số 50, về việc cấm hẳn xuất cảng ra ngoại quốc thóc, gạo, ngô, đỗ hoặc các chế phẩm thuộc về ngũ cốc.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hoàng Quốc Việt: Con đường theo Bác, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1990, tr. 198-201.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 10

10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các ông uỷ viên tuyên truyền Bắc Bộ, uỷ viên thị chính thành phố Hà Nội và đại biểu các đoàn thể cứu quốc đến dự Lễ kỷ niệm “Song thập” (10-10), ngày Quốc khánh của Trung Hoa dân quốc do tướng Lư Hán tổ chức tại nơi làm việc của ông ta (Phủ Toàn quyền Pháp trước đây).

Các đoàn đại biểu đứng giàn thành hàng trước cửa dinh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lư Hán và một số đại biểu đứng trên thềm.

Sau lời chúc mừng do đại diện cho các giới Việt Nam đọc, Lư Hán cảm ơn và nói:

“Cảm tình giữa hai dân tộc Hoa – Việt không sao tả hết, nhưng rút lại trong một câu là hai dân tộc hợp tác chặt chẽ trên các con đường tiến thủ”.

Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh vào Phòng khánh tiết dự tiệc.

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ. Trong phần đầu của cuộc họp, Người thông báo việc đi dự Lễ kỷ niệm “Song thập”. Sau đó, Hội đồng bàn dự án Sắc lệnh về quốc tịch và các vấn đề khác.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 43, về việc thiết lập một Quỹ tự trị cho Trường Đại học Việt Nam. Quỹ này gồm các khoản trợ cấp của Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các địa phương cùng động sản và bất động sản do tư nhân quyên góp. Quỹ thành lập một Hội đồng quản trị do ông Giám đốc Đại học vụ làm Chủ tịch, ông Đổng Lý – Văn phòng Bộ quốc gia Giáo dục, ông Phó Giám đốc Đại học vụ, các ông giám đốc các trường đại học và mỗi trường gồm một đại biểu là giáo sư, một đại biểu là sinh viên và ba vị thân hào trong nước điều hành.

– Sắc lệnh số 44, về việc lập một Hội đồng Cố vấn học chính để nghiên cứu và đệ trình Chính phủ chương trình giáo dục của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và theo dõi việc thi hành chương trình ấy khi đã được duyệt y.

– Sắc lệnh số 45, về việc thiết lập một Ban đại học Văn khoa tại Hà Nội.

– Sắc lệnh số 46, quy định về cách tổ chức đoàn thể luật sư trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tạm giữ như cũ với một số sửa đổi và quy định tiêu chuẩn mới cho luật sư được liệt danh vào Toà thượng thẩm Hà Nội và Sài Gòn.

– Sắc lệnh số 47, về việc tạm thời sử dụng bộ luật cũ, trừ một số điểm thay đổi được ấn định trong Sắc luật này.

– Báo Cứu quốc, số 65, ngày 12-10-1945.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 11

8 giờ, tại Nhà hát thành phố Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Lễ xuất phát của đoàn Tiễu trừ giặc đói.

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ. Người thông báo về việc vừa tiếp đại biểu Đoàn Công thương Cứu quốc, nghe những kiến nghị của các nhà công thương về thuế môn bài và về cuộc gặp Tiêu Văn vừa qua. Về việc người Trung Hoa kiểm duyệt thông tin và tuyên truyền ở Đài phát thanh, Người nhận lời sẽ gặp Lư Hán để thoả thuận về vấn đề này. Về vấn đề đê điều, Người đồng ý sẽ trực tiếp đến một địa điểm chữa đê và cùng đắp đê với dân một buổi.

– Báo Cứu quốc, số 65, ngày 12-10-1945.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 12

Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Sao cho được lòng dân, ký bút danh Chiến Thắng, đăng trên báo Cứu quốc, số 65, nêu lên tình trạng Uỷ ban nhân dân ở một vài nơi “tiếng phàn nàn oán thán nhiều hơn tiếng người khen. Dân chúng tín nhiệm ở Chính phủ trung ương nhiều hơn các Uỷ ban địa phương”. Phân tích hiện tượng trên, bài báo cho rằng đó là do các ông chủ tịch, các ông uỷ viên mắc “cái tật ngông nghênh cậy thế cậy quyền”, đi đến chỗ lạm dụng chức vụ, hách dịch, làm nhiều điều quá tệ, nên không những không được dân yêu mà còn bị dân khinh, dân ghét.

Muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, như bài báo đã viết, “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh,… hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được ta đặc biệt chú ý… Nói tóm lại, muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”.

17 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ. Người báo cáo trước Hội đồng về việc gặp các ông Lư Hán và Galơgơ trao đổi nhiều vấn đề trong quan hệ Việt – Hoa 1) và Việt – Mỹ.

Sau khi ông Trần Huy Liệu báo cáo về vấn đề thông tin, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Bộ Tuyên truyền hoạt động tốt và có nhiều kết quả, nhưng cần phải có một kế hoạch để mọi nơi cứ theo đó mà làm, chẳng hạn tuyên truyền về độc lập, về trật tự, về Hoa – Việt thân thiện, về việc nên bảo hộ cho kiều dân ngoại quốc thuộc bất cứ quốc tịch nào”.

Bàn về vấn đề đổi tiền Việt lấy tiền Quan Kim, Người cho biết đã nói chuyện với người Mỹ và nhờ họ giúp, nhưng họ trả lời đây là “một vấn đề ngoại giao”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 49, quy định các công văn, điện văn, công điện, trát, đơn từ, báo chí, chúc từ, v.v. kể từ ngày ký Sắc lệnh này phải có tiêu đề: VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ NĂM THỨ NHẤT.

– Sắc lệnh số 51B, về việc cho phép ông Giám đốc Ngân khố Trung ương Việt Nam lấy số tiền 1.335.772đ 34, quỹ của AFIC miền Bắc gửi ngân khố Trung ương, giao cho Bộ trưởng Bộ Cứu tế để mua trữ gạo.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 47-48.

– Báo Cứu quốc, số 65, ngày 12-10-1945.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 13

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Giới công thương Việt Nam, hoan nghênh giới công thương đã đoàn kết lại thành Công thương cứu quốc đoàn và gia nhập Mặt trận Việt Minh8, đem vốn làm ích nước lợi dân. Người chỉ rõ: “Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nước nhà, thì giới Công – Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng. Chính phủ nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp giới Công – Thương trong công cuộc kiến thiết này”.

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ. Người thông báo về việc ông Nótlingơ đề nghị cử một Uỷ ban gồm có người Mỹ, người Việt Nam và người Pháp đi Hải Phòng nhận gạo. Về việc này, Người đã nói rõ: Chính phủ Việt Nam hoàn toàn tín nhiệm người Mỹ, không cần lập Uỷ ban. Nếu người Mỹ cần, Chính phủ Việt Nam sẽ cử một người Việt Nam để giúp Mỹ.

Người còn thông báo triển vọng việc thu xếp để ông Nguyễn Hải Thần tham gia Chính phủ.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà trí thức Hoàng Xuân Hãn tại Bắc Bộ phủ. Cuộc nói chuyện kéo dài hơn một tiếng đồng hồ mặc dầu ông Hoàng Xuân Hãn đã hai lần xin cáo biệt.

Mở đầu là những ý kiến về bộ máy chính quyền mới. Khi ông Hãn nêu ý kiến chính quyền còn có thái độ độc tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói có thể Uỷ ban địa phương làm bậy chứ Chính phủ không có ý chuyên quyền, “còn nói Chính phủ độc tài thì có đâu. Trong nội các có nhiều người không phải ở trong Mặt trận Việt Minh”.

Về vấn đề đối xử với trí thức, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói Chính phủ không bài xích trí thức, nhưng có người làm sai thì Chính phủ phải nhận lỗi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn hỏi: “Trí thức theo cụ Nguyễn Hải Thần nhiều phải không?”. Ông Hãn trả lời: “Nếu cụ Nguyễn Hải Thần chỉ kéo bè kéo đảng mà thôi thì chắc họ không theo”.

Lúc tiễn ông Hãn ra về, Chủ tịch Hồ Chí Minh cảm ơn và nói: “Hôm nay, ông cho tôi biết được nhiều điều”.

Ông Hoàng Xuân Hãn, năm 1971, khi nhớ lại cuộc gặp gỡ này đã viết: “Tôi đứng dậy, từ giã, xuống lầu, cảm động vì đã có dịp tỏ nhiều lời tâm huyết, vì thấy vận mệnh của dân nước đè trên vai một vị thâm niên gầy ốm, nhưng tinh thần tinh anh, mặc tĩnh, thâm trầm và cử chỉ ôn tồn, gãy gọn và kiên quyết”.

– Báo Cứu quốc, số 66, ngày 13-10-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 49.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hoàng Xuân Hãn: Một vài ký vãng về Hội nghị Đà Lạt, Tập san Sử Địa (Sài Gòn), số tháng 10-1971.

Tháng 10, ngày 14

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cảm ơn các giám mục và đồng bào Công giáo Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Bình về lời hứa của các vị trong bức thư gửi cho Người nói rằng: “Dù phải hy sinh xương máu để kiến thiết một nước nhà tự do hạnh phúc hoàn toàn, thì chúng tôi cũng sẵn sàng không ngần ngại”.

Thư của Người viết: “Câu nói nhiệt thành đó tỏ rằng các vị là những người chân chính yêu nước, đồng thời cũng là những chân chính tín đồ của đức Giêsu. Đức Giêsu hy sinh vì muốn loài người được tự do hạnh phúc, đồng bào ta cả Lương cả Giáo cũng vì tự do hạnh phúc cho toàn dân mà hy sinh phấn đấu”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cho Thống chế Tưởng Giới Thạch đề nghị Trung Hoa dân quốc yêu cầu Liên hiệp quốc cho phép Việt Nam tham gia Uỷ ban cố vấn Viễn Đông.

– Báo Cứu quốc, số 70, ngày 18-10-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 50.

– Bảo tàng Hồ Chí Minh: Biên niên sự kiện Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Hà Nội, 2004, tr. 30.

Tháng 10, ngày 15

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời cho các cháu nhi đồng Phước Diên, Quảng Yên (nay thuộc Quảng Ninh) và Cẩm Giàng, Hải Dương. Người thay mặt cho tất cả “đồng bào lớn tuổi” cảm ơn các cháu, tuy còn nhỏ, đã biết góp sức nhỏ bé của mình vào công cuộc giữ gìn đất nước bằng việc “nhịn ăn quà để góp tiền vào Quỹ Độc lập”. Người khen: “các cháu đã tỏ ra là những cháu chắt rất xứng đáng của tổ tiên Hồng – Lạc, và rất xứng đáng là “tiểu chủ ông” của nước nhà”.

16 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ. Người nhắc nhở Chính phủ nên tìm cách động viên tinh thần dân chúng, phải làm cho lòng yêu nước của nhân dân biến thành hành động trong sinh hoạt hàng ngày, phải tìm những khẩu hiệu rõ ràng, giản dị, dễ thực hành.

Bàn về công tác ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng người Mỹ có cảm tình với ta nhưng đó là tình cảm cá nhân, không có tính cách chính thức. Việc ngoại giao với Trung Hoa không được rõ rệt vì sự khác nhau trong lời nói và hành động giữa cấp trên và cấp dưới của họ. Người cho rằng: cần phải nhẫn nại, nhún nhường và phải tìm cách trực tiếp liên hệ với Chính phủ Trung ương của Trung Hoa.

Trong ngày, Người còn tiếp J. Xanhtơny và Capuýt (Caput), đảng viên Đảng Xã hội Pháp.

Cùng ngày, báo Quyết Thắng – cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung Bộ đăng ý kiến của Hoàng thân Lào Xuphanuvông, nói về hàng chục lần Hoàng thân tiếp kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh 2):

“Hồ Chủ tịch thật là một người sáng suốt. Trong khi ở Hà Nội, tôi được tiếp kiến Người 30 lần hết sức thân mật. Đến bữa ăn, chúng tôi cùng ăn với nhau vài bát cơm với một ít mắm ruốc. Nhiều lúc câu chuyện kéo dài 2-3 giờ. Tôi chỉ sợ cụ Hồ làm việc nhiều. Tôi sợ Cụ ốm”…

– Báo Cứu quốc, số 67, ngày 15-10-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 51.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Philippe Devillers:  Histoire du Vietnam de 1940 à 1952, Seuil, Paris, 1952, p. 204.

– Báo Quyết Thắng – cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung Bộ, số 3, ngày 15-10-1945.

Tháng 10, ngày 16

17 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ. Hội đồng đã thông qua Sắc lệnh về thể lệ Tổng tuyển cử, định ngày Tổng tuyển cử là chủ nhật 23-12-1945 và thông qua số lượng đại biểu cho từng địa phương.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 17

Thư gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bài viết của Người nhan đề Bỏ cách làm tiền ấy đi (ký bút danh Chiến Thắng), đăng trên báo Cứu quốc, số 69.

Trong bức thư gửi Uỷ ban nhân dân các cấp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Sau khi nhấn mạnh trách nhiệm của các cơ quan Chính phủ “từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. Người đã nghiêm khắc phê phán những “lỗi lầm rất nặng nề” mà nhiều cán bộ phạm phải như làm việc trái phép, cậy thế, hủ hoá, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo… đã khiến dân oán thán kêu ca, làm mất lòng tin cậy của dân, làm hại đến uy tín của Chính phủ. Cuối thư, Người thẳng thắn cảnh tỉnh: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”.

Bài Bỏ cách làm tiền ấy đi đã phê phán việc làm của một ông Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã nọ đã “sốt sắng làm tiền cho dân” bằng cách bán các ngôi thứ trong làng như chánh phó lý, khán thủ, v.v.. Theo tác giả, đó là “một phương pháp cũ rích chả có ý nghĩa gì, có ảnh hưởng xấu vô cùng là khác”, những cuộc “làm tiền” giúp quỹ này, quỹ khác “phải đem theo nó một ý nghĩa tuyên truyền nữa mới được. Sao cho người ta nhận thấy rằng đồng tiền của người ta bỏ ra là một viên gạch để góp vào việc xây đắp nền móng quốc gia”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Điện văn cho Tổng thống Mỹ Tơruman qua cơ quan đại diện đặt ở Côn Minh (Trung Quốc), nêu rõ lập trường của Chính phủ Việt Nam: Về nguyên tắc, nhân dân Việt Nam hoàn toàn ủng hộ việc thành lập Uỷ ban tư vấn 3) đối với khu vực Viễn Đông của Liên hợp quốc; phản đối việc Pháp đại diện cho nhân dân Việt Nam tại Uỷ ban này, vì sự đại diện ấy thiếu cơ sở pháp lý và cơ sở thực tế; chỉ có Việt Nam là có đủ điều kiện cử đại diện vào Uỷ ban tư vấn này. Bức điện có đoạn: “Chúng tôi tin chắc rằng tại Uỷ bannày, Việt Nam có thể mang lại sự đóng góp có hiệu quả cho việc giải quyết các vấn đề còn tồn tại ở Viễn Đông; trái lại, sự vắng mặt của Việt Nam sẽ gây ra tình trạng bất ổn định và đặc tính nhất thời cho những giải pháp đạt được bằng cách khác. Vì thế chúng tôi bày tỏ đề nghị tha thiết được tham gia vào Uỷ ban tư vấn của Viễn Đông”.

17 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ, thảo luận các vấn đề về cứu tế, tàn quân Pháp ở Tiên Yên, công chức ở Huế, viên chức Pháp xin giấy chứng nhận mức lương.

Tối, tại chùa Quán Sứ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự bữa cơm chay do Cố vấn Vĩnh Thuỵ chủ toạ.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 51, quy định thể lệ Tổng tuyển cử gồm 12 khoản, 70 điều, ấn định ngày bầu cử, đơn vị bầu cử… Trong đó, điều 1 của Sắc lệnh ấn định ngày 23-12-1945 sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử trong toàn quốc.

Cùng ngày tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp 79 cán bộ và uỷ viên vừa tốt nghiệp Lớp huấn luyện đào tạo cán bộ phụ trách Bình dân học vụ “Nhóm huấn luyện Hồ Chí Minh”. Tại buổi tiếp, Người khen ngợi mọi người đã có nhiều cố gắng học tập và dặn dò thêm: “Khi về địa phương, các cô các chú cố gắng làm tròn nhiệm vụ được giao”.

– Báo Cứu quốc, số 69, ngày 17-10-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 52-58.

– United States – Vietnam relations 1945-1967, U.S. Government printing office, Washington, 1971, p.73.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Vương Kiêm Toàn: Nhớ lại những lần được gặp và nhận thư của Bác, in trong cuốn Bác Hồ sống mãi với chúng ta (Hồi ký)**, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 89.

Tháng 10, ngày 18

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào tỉnh Lao Cai 4), thông báo cho đồng bào biết cuộc Cách mạng Tháng Tám đã thành công, Tuyên ngôn Việt Nam độc lập đã tuyên bố, vua Bảo Đại đã tự nguyện thoái vị, chính thể Dân chủ Cộng hoà đã thành lập. Người kêu gọi: “Từ đây đồng bào chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ, phải tranh đấu đến cùng kỳ để mưu tự do hạnh phúc cho dân tộc” và tin rằng “đồng bào Lao Cai sẽ nhiệt liệt hưởng ứng Lời kêu gọi của Chính phủ. Tất cả nhân dân Lao Cai, không phân biệt trai gái, già trẻ, giàu nghèo, lương giáo, không phân biệt Mán, Mường, Mèo, v.v., cùng nhau hăng hái đứng lên phấn đấu để củng cố nền độc lập của nước nhà và xây dựng nền hạnh phúc tự do cho dân chúng”.

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề cổ động dân chúng. Người đề nghị:

– Để nâng cao tinh thần dân chúng, Chính phủ nên động viên dân mỗi gia đình nên tự viết một khẩu hiệu, ví dụ: “Quyết độc lập, ủng hộ chiến sĩ Nam Bộ”, dán ở trong nhà.

– Chính phủ nhắc nhở đồng bào cần kiệm, bớt xa xỉ và nhờ các báo viết bài cổ động.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 59-60.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, trước ngày 19

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện văn tới Hội nghị liên Phi 5), bày tỏ sự cảm kích của nhân dân Việt Nam trước quyết định của Hội nghị ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống bọn thực dân Pháp giành nền độc lập dân tộc. Bức điện có đoạn: “Lời quyết nghị của Hội nghị liên Phi tỏ rõ tinh thần đoàn kết của các dân tộc nhược tiểu ở Đông Dương, Nam Dương quần đảo (Inđônêxia), Ấn Độ và các dân tộc Phi châu, trên con đường tranh đấu để giữ quyền độc lập và tự do, đã tốn biết bao xương máu mới giành lại được”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 63.

Tháng 10, ngày 19

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ để nghe thông báo kết quả việc thảo luận với Trung Hoa về việc chở gạo từ Nam ra Bắc (Người Trung Hoa lấy 2/3 và ta lấy 1/3), về vấn đề chiến sự ở Nam Bộ, vấn đề người dân tộc thiểu số Rađê hợp tác với Chính phủ và vấn đề kinh tế (thuế, muối, giá hàng, chống đầu cơ, tiền Quan Kim).

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 20

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho những người Pháp ở Đông Dương. Trong thư, nhân danh “một người bạn chân thật của những người Pháp lương thiện”, Người bày tỏ sự kính phục đối với dân tộc Pháp là những người đầu tiên truyền bá rộng rãi lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, đã cống hiến rất nhiều cho khoa học, văn hoá của nhân dân Pháp và văn minh của nhân loại. Người khẳng định nhân dân Việt Nam luôn mong muốn thân thiện hữu nghị với tất cả những người bạn Pháp lương thiện và kêu gọi những người Pháp ở Đông Dương hãy vì hoà bình mà chấm dứt sự đổ máu vô ích.

Sáng, tại Nhà hát thành phố Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Lễ xuất phát của 500 đội viên tuyên truyền xung phong. Người khen ngợi tinh thần hăng hái của anh em và căn dặn những điều cần thiết mà tuyên truyền viên phải có:

1. Phải biết rõ mục đích tuyên truyền, phải đặt kế hoạch công tác;

2. Phải biết chịu kham khổ;

3. Phải biết nhẫn nại;

4. Chớ lên mặt “quan cách mạng”;

5. Chú ý cách diễn đạt ý tưởng. Phải hết sức phổ thông, cố đi sâu vào dân chúng. Tránh những danh từ khó hiểu. “Làm sao cho được 50 người hiểu rõ còn hơn là được 500 người chỉ hiểu lờ mờ”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Lễ khai mạc “Ngày cứu quốc” của sinh viên tại Ấu trĩ viên (nay là Cung Thiếu nhi Hà Nội). Người khen ngợi tinh thần sáng tạo của sinh viên và khuyên anh em luôn nêu cao tinh thần cần kiệm, thanh khiết, tuyên truyền tinh thần đoàn kết nhân dân.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 52, quy định về việc xá tội cho các tội phạm bị kết án trước ngày 19-8-1945, nếu có đơn xin xá miễn gửi Uỷ ban nhân dân tỉnh nơi mình ở và được Uỷ ban nhân dân Kỳ chuyển lên Bộ Tư pháp xét.

– Sắc lệnh số 53, quy định tạm thời những người thuộc quốc tịch Việt Nam.

– Báo Cứu quốc, số 72 và 74, ngày 20 và ngày 23-10-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 64-67.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 21

9 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Cố vấn Vĩnh Thuỵ, các Uỷ viên Bắc Bộ và quan chức cao cấp Trung Hoa đến dự ngày thụ lễ Đức Khổng Tử ở Quốc Tử Giám, do Hội Tư văn Hà Nội tổ chức.

– Báo Cứu quốc, số 73, ngày 22-10-1945.

Tháng 10, ngày 22

8 giờ 20, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo về hai bức thư do Người thảo gửi Bộ Ngoại giao Mỹ và Hội Ngoại giao nhân dân Mỹ.

Trong thư gửi Bộ Ngoại giao Mỹ, Người nêu rõ những yêu cầu của Chính phủ Việt Nam:

+ Vấn đề liên quan tới Việt Nam phải được thảo luận tại cuộc họp đầu tiên của Uỷ ban tư vấn Viễn Đông.

+ Đại biểu Việt Nam phải được tới dự để phát biểu những quan điểm của Chính phủ Việt Nam.

+ Phái một Uỷ ban điều tra tới Nam Việt Nam.

+ Nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam phải được Liên hợp quốc9 công nhận.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cố vấn Vĩnh Thuỵ gửi cho Thống chế Tưởng Giới Thạch bức thư dưới đây:

Hà Nội, ngày 22-10-1945

Thưa Ngài Thống chế Tưởng Giới Thạch

Nhờ Bộ trưởng Chen chuyển giúp.

Thưa Ngài,

Chúng tôi rất hân hạnh được thông báo rằng: chúng tôi – Hồ Chí Minh, Chủ tịch lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cố vấn tối cao Vĩnh Thuỵ (trước đây là Hoàng đế Bảo Đại) mong được tới Trùng Khánh để tỏ lòng tôn kính đối với quý Ngài và thăm Bộ trưởng Chen. Nếu được Ngài chấp thuận, chúng tôi sẽ rất cảm kích và mong nhận được sự trả lời của Ngài.

Xin trân trọng kính chào Ngài.

Kính thư,

Hồ Chí Minh

Vĩnh Thuỵ”

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– United States-Vietnam relations 1945-1967, U.S.Government printing office, Washington, 1971, p.83.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 68-71.

– Bản chụp bức thư, lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, phông Hồ Chí Minh (bản Anh văn).

Tháng 10, trước ngày 23

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời các nhà báo về thái độ hiện thời của Chính phủ Việt Nam đối với Trung Hoa và Pháp.

Với Trung Hoa, Người nhấn mạnh truyền thống hữu nghị lâu đời giữa hai nước về mọi phương diện văn hoá, chính trị, kinh tế. “Cái quan hệ ấy càng ngày càng thêm sâu xa, mà có thể càng ngày càng thêm mật thiết”. Chính sách của Việt Nam đối với Trung Hoa, “lúc này tóm lại là phải thân thiện”.

Đối với Pháp, Người tuyên bố: “Đối với bọn thực dân Pháp cố tâm dùng võ lực lập lại chủ quyền của chúng ở đây, chúng ta nhất định chống lại chúng kỳ cùng… Nhưng chúng ta không chống tất cả nước Pháp, tất cả dân chúng Pháp. Nếu có những người Pháp muốn qua đây điều đình một cách hoà bình thì điều kiện căn bản của cuộc điều đình ấy là người Pháp phải thừa nhận nền độc lập của Việt Nam”.

– Báo Cứu quốc, số 74, ngày 23-10-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 72-74.

Tháng 10, ngày 23

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo tình hình và bàn về các vấn đề: địa tô, tài chính, giao thông, v.v.. Cuối cuộc họp, Người đề nghị “Mỗi buổi họp nên dành nửa giờ để báo cáo, còn thì bàn những vấn đề to”. Hội đồng tán thành đề nghị này.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 24

16 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ để thảo luận và góp ý kiến sửa chữa Bản dự thảo Hiến pháp.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 25

15 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ, thảo luận về vấn đề kinh tế (canh nông, tiền tệ, thóc giống, trâu bò, gạo) và góp ý kiến bổ sung, sửa chữa Bản dự thảo Hiến pháp.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 26

Tại Nhà hát thành phố Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Hội nghị đại biểu công nhân Bắc Bộ. Phát biểu tại Hội nghị, Người nhấn mạnh: công nhân phải tăng cường đoàn kết để giữ vững độc lập, công nhân lúc này phải tránh mọi đòi hỏi chưa đúng lúc, giữ gìn kỷ luật và bình tĩnh trong mọi tình huống. Công nhân hãy tin tưởng vào Chính phủ lâm thời và tuân theo Chính phủ.

17 giờ 15, Người dự họp Hội đồng Chính phủ, nghe báo cáo về tình hình quân Pháp đánh ra ngoại vi Sài Gòn về hướng Thủ Đức và Mỹ Tho, bàn về các vấn đề mở Trường huấn luyện lái máy bay, tổ chức phát động trong cả nước “Ngày kháng chiến” 6), việc rút tiền ở nhà băng và tiếp tế gạo.

– Bài phát biểu tại Hội nghị, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 27

9 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp báo với các phóng viên Hãng Thông tấn Mỹ, các phóng viên Trung Hoa (Trung ương Thông tấn xã, Trung ương nhật báo, Thanh niên nhật báo, Vân Nam nhật báo, Chính nghĩa báo), Hãng Thông tấn Pháp AFP và hơn 20 phóng viên Việt Nam. Người tuyên bố: “Buổi họp hôm nay là buổi họp báo giới quốc tế, đúng với câu: “Tứ hải nhất gia” 7). Nước Pháp hiện giờ coi là nước địch của Việt Nam nhưng người đại biểu Pháp ngồi đây vẫn là bạn thân của tôi”. Sau đó, Người trả lời vắn tắt về các vấn đề thời hạn công bố Hiến pháp Việt Nam, Quốc dân đại hội, thể lệ Tổng tuyển cử, thái độ của Chính phủ Việt Nam với  Lào và Campuchia, vấn đề tài chính và các đảng phái trong Chính phủ Việt Nam. Người khẳng định phương châm của Chính phủ Việt Nam là: “Đoàn kết toàn dân – quyết tâm vì chính nghĩa, quyết giữ độc lập bằng mọi giá”.

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề khắc phục khó khăn về tài chính (in giấy bạc, lập ngân hàng…).

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Tổng thống Mỹ H. Tơruman, Nguyên soái Liên Xô J.Xtaline và Thủ tướng Anh M. Attlec…

– Báo Cứu quốc, số 77, ngày 29-10-1945.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 28

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cho Thống chế Tưởng Giới Thạch, kịch liệt phản đối việc quân đội Anh tiếp tay cho quân đội Pháp thực hiện âm mưu tái chiếm Việt Nam và yêu cầu: “Thứ nhất, ban bố lệnh chấm dứt tàn sát một dân tộc đang bảo vệ các quyền chính đáng của mình theo các nguyên tắc ghi trong Hiến chương Đại Tây Dương10 và Hiến chương Xan Phranxixcô11. Thứ hai, công nhận nền độc lập hoàn toàn của nước Cộng hoà Việt Nam”.

– United States – Vietnam relations 1945-1967, U.S.Government printing office, Washington, 1971, p.91.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 75-76.

Tháng 10, ngày 29

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ quyết chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ nền độc lập của Việt Nam và để chiến thắng giặc ngoại xâm. Lời kêu gọi có đoạn:

“Đồng bào trong Nam, trong một tháng nay, đã tỏ rõ tinh thần vững chắc, hùng dũng, đáng làm gương cho lịch sử thế giới. Ngày nay, trước tình trạng khó khăn, toàn thể quốc dân Việt Nam hồi hộp theo cuộc chiến đấu ở Nam Bộ. Nhưng thời cuộc càng khó khăn chừng nào, tôi chắc rằng tinh thần anh chị em càng cương quyết hơn chừng ấy. Trước nạn ngoại xâm, toàn thể quốc dân đã đoàn kết chặt chẽ thành một khối kiên cố, thành một lực lượng thống nhất mà không đội xâm lăng nào đánh tan được”..

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề chống nạn đói. Người đề nghị lập Hội Cứu đói gồm đại biểu Chính phủ, một vị sư, một vị cố đạo Thiên Chúa, những tư gia có sáng kiến và kêu gọi cả người Trung Hoa, Ấn Độ dùng đủ mọi phương pháp để tiết kiệm gạo.

 – Báo Cứu quốc, số 77, ngày 29-10-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 77-78.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 30

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ. Lời kêu gọi viết:

“Trong cuộc chống xâm lăng này, các bạn đã là bức Vạn Lý Trường Thành vững chắc. Các bạn phải thống nhất mặt trận thanh niên, đoàn kết, nêu cao tinh thần tin tưởng ở sức mạnh của dân tộc. Những gương hy sinh anh dũng của các bạn đã sáng rọi khắp nước. Những chiến công oanh liệt của các bạn đã làm cho toàn thể đồng bào thêm kiên quyết.

Hỡi anh chị em thanh niên Nam Bộ!

Tôi thề cùng các bạn giữ vững nền độc lập tự do của nước Việt Nam. Dẫu có phải hy sinh đến nửa số dân tộc, ta cũng quyết hy sinh. Cuộc kháng chiến tự vệ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam phải toàn thắng”.

17 giờ 30, Người dự họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về những hoạt động quân sự của Pháp và Trung Hoa ở nước ta.

– Bản chụp bức thư, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 79.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 31

17 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề in Bản dự thảo Hiến pháp đã được Hội đồng xem xét, vấn đề khai giảng các trường đại học, vấn đề thiếu gạo.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10

Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng ông S. L. Nordlinger trong phái đoàn cứu trợ nhân đạo Mỹ bức tranh thêu Chim Hạc 8).

– Bức tranh Chim Hạc này hiện trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội (do bà Jane Coyle, thân nhân của ông S. L. Nordlinger tặng lại Bảo tàng Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 116 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh).

________________________________

1) Việc quân đội Trung Hoa đóng quân cả ở nhà thờ đạo, Lư Hán thoả thuận sẽ ra lệnh cho quân rút khỏi nhà thờ.

Việc người Trung Hoa cho phép một số người Pháp trở lại làm việc ở nhà máy điện. Lư Hán nói sẽ điều tra và cho rằng người Trung Hoa hay người Việt Nam trông coi cũng được, miễn là có điện và nước.

Việc người Trung Hoa kiểm soát Đài phát thanh, Lư Hán nói: họ có bổn phận kiểm soát, nhưng hứa sẽ dễ dãi đối với người Việt Nam dùng Đài phát thanh.

– Việc đổi tiền Việt và tiền Trung Hoa cần làm cho rõ ràng và nhất luật. Lư Hán hứa sẽ thương lượng cụ thể và sẽ ra lệnh cho quân đội đổi đúng giá.

– Việc xuất cảng vàng, Lư Hán hứa ra lệnh cấm xuất cảng vàng.

– Việc kiểm soát xe hơi, Lư Hán thoả thuận để cả người Trung Hoa và người Việt Nam kiểm soát.

2) Cuộc gặp mặt ngày 30-9-1945 do Uỷ ban nhân dân Trung Bộ tổ chức tại Thuận Hoá nhằm thiết chặt mối tình chiến đấu Việt – Lào. Tại cuộc gặp này còn có hai đại biểu Việt Minh, bà Vĩnh Thuỵ – cựu Nam phương Hoàng hậu, nhiều phụ nữ công nhân, Phật giáo, Văn hoá, báoQuyết thắngQuyết chiến

3) Có một số tài liệu dịch là Hội đồng tư vấn…

4) Lao Cai là tỉnh địa đầu biên giới, đồng bào Lao Cai vì đường sá xa xôi, việc thông tin liên lạc khó khăn, nên không biết rõ tình hình, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư này.

5)  Hội nghị các nước châu Phi họp tại Măngsétxtơ (Anh).

6) Mang ý nghĩa ủng hộ cuộc kháng chiến Nam Bộ và phong trào giải phóng ở các thuộc địa khác.

7) Bốn biển một nhà.

8) Thực tế, ông S. L. Nordlinger là đại tá Mỹ, chỉ huy đội quân G5 chuyên hoạt động giải thoát tù nhân chiến tranh trong thời gian Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1945 – tháng 9)

Tháng 9, ngày 2

14 giờ, trong cuộc mít tinh tại vườn hoa Ba Đình, trước hàng chục vạn đồng bào, trên diễn đàn cao và trang nghiêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập1, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Thay mặt Chính phủ lâm thời2 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Người khẳng định: “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” và trịnh trọng tuyên bố với thế giới:

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Sau khi Chính phủ lâm thời làm lễ tuyên thệ và nhân dân thề một lòng ủng hộ Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, Người nói:

“Độc lập tự do là của quý báu, quý giá vô ngần, ta đã khổ sở trong bao nhiêu năm mới giành được, cần phải cố gắng giữ gìn, bảo vệ”.

19 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp với đại biểu các tỉnh.

Cùng ngày, Người gửi thư cho toàn thể Hoa kiều ở Việt Nam. Bức thư có đoạn: “Tôi xin thay mặt Chính phủ lâm thời Việt Nam và toàn dân Việt Nam đưa bàn tay nồng nhiệt hoan nghênh anh em Hoa kiều sinh sống trên đất nước ta, mong rằng anh em hai nước chúng ta thân mật, đoàn kết, có việc gì thì giải quyết với nhau theo nguyên tắc hợp pháp hợp lý với thái độ kính trọng nhường nhịn lẫn nhau, không được vì những việc tranh chấp nhỏ của cá nhân mà gây điều bất hạnh ngăn cách giữa hai dân tộc”.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh Niên, Hà Nội, 1994, tr. 101-109.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr. 1, 4, 6.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Sao Mới, 1990, tr. 198-200.

Tháng 9, ngày 3

Sáng, tại Bắc Bộ phủ (trụ sở tạm thời của Chính phủ), Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ toạ phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Phiên họp được tiến hành giản đơn, không có nghi thức.

Người trình bày trước Hội đồng Chính phủ Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bao gồm sáu vấn đề:

1. Giải quyết nạn đói. Người đề nghị Chính phủ “phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất. Trong khi chờ đợi ngô, khoai và những thứ lương thực phụ khác, phải ba bốn tháng mới có, tôi đề nghị mở một cuộc lạc quyên. Mười ngày một lần, tất cả đồng bào chúng ta nhịn ăn một bữa. Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại phát cho người nghèo”.

2. Giải quyết nạn dốt. “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”.

3. Phải có một hiến pháp dân chủ. Người đề nghị Chính phủ “tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v”.

4. Phải giáo dục nhân dân trừ bỏ những thói xấu do chế độ thực dân đã dùng mọi thủ đoạn để đầu độc và hủ hoá dân ta, Người đề nghị “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH“.

5. Đề nghị bỏ ngay ba thứ thuế: thuế thân, thuế chợ, thuế đò và “tuyệt đối cấm hút thuốc phiện”.

6. Đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và Lương – Giáo đoàn kết.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thông báo Về việc tiếp chuyện đại biểu các đoàn thể. Trong thông báo, Người lưu ý:

“1. Gửi thơ nói trước, để tôi sắp thì giờ, rồi trả lời cho bà con, như vậy thì khỏi phải chờ đợi mất công.

2. Mỗi đoàn đại biểu, xin chớ quá 10 vị.

3. Mỗi lần tiếp chuyện, xin chớ quá 1 tiếng đồng hồ”.

Buổi chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Ácsimét Patti tại Bắc Bộ phủ (nay là Nhà khách Chính phủ, 12 phố Ngô Quyền, Hà Nội). Người thông báo: Hội đồng Chính phủ lâm thời đã họp vào buổi sáng, thông qua một chương trình công tác gồm sáu điểm.

Nhắc đến sự kiện ngày 2 tháng 9 quân Pháp đã gây rối ở Sài Gòn, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ để các nhà chức trách Đồng minh biết rằng, dù đảng nào hay nhóm nào gây ra cuộc rối loạn thì Việt Minh sẽ có trách nhiệm đảm bảo không để cho tình hình đó tái diễn.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 121-123.

– Võ Nguyên Giáp: Những năm tháng không thể nào quên, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, tr. 40-44.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr. 8-10.

– Ácsimét L.A. Patti: Tại sao Việt Nam, Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr. 262-264.

Tháng 9, ngày 4

Tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trò chuyện với ông Đặng Thai Mai. Người hỏi thăm chuyện  gia đình, hỏi về ông nội, bà nội ông Đặng Thai Mai. Sau đó, Người kể chuyện về người chú ruột của ông Mai là Đặng Thúc Hứa (ông Hai Cày) khi hai người cùng sống và hoạt động ở Xiêm. Lúc sau Người nói: Bác bận lắm, chỉ gặp chú một lát thôi. Chú còn yếu lắm, phải lo mà chữa bệnh. Khoẻ rồi ra giúp nước.

– Đặng Thai Mai: Kỷ niệm về những lần gặp Bác Hồ, in trong cuốn Bác Hồ sống mãi với chúng ta (Hồi ký)**, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 25-26.

Tháng 9, ngày 5

8 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Cựu hoàng Bảo Đại (tức Vĩnh Thuỵ) vừa từ Huế ra trong khoảng 1 giờ.

Sau 10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp ông Phạm Khắc Hoè, người cùng ông Vĩnh Thuỵ đi từ Huế ra Hà Nội.

15 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm ông Vĩnh Thuỵ, ở số nhà 51, Đại lộ Gămbétta (nay là số nhà 51, phố Trần Hưng Đạo), Hà Nội.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi quốc dân3. Toàn văn như sau:

“Quốc dân đồng bào!

Nhân dân Việt Nam hoan nghênh quân Đồng minh kéo vào Việt Nam để tước khí giới quân Nhật, nhưng cương quyết phản đối quân Pháp kéo vào Việt Nam, vì mục đích của họ chỉ là hãm dân tộc Việt Nam vào vòng nô lệ một lần nữa.

Hỡi đồng bào!

Hiện một số quân Pháp đã lọt vào nước ta. Đồng bào hãy sẵn sàng đợi lệnh Chính phủ để chiến đấu!

Chủ tịch Hồ Chí Minh”

– Phạm Khắc Hoè: Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, Nxb. Thuận Hoá, 1987, tr. 109-113.

– Báo Cứu quốc, số 36, ngày 5-9-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr. 11.

Tháng 9, ngày 7

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các phóng viên báo chí trong nước. Trả lời câu hỏi của các nhà báo về tiểu sử và hoạt động cách mạng của Chủ tịch, Người nói: “Từ khi ra đời, tôi đã thấy nước mình bị nô lệ. Không muốn sống cảnh nô lệ nữa, ngay từ thuở thiếu niên, tôi đã đấu tranh để giải phóng đất nước. Có lẽ đó là công lao duy nhất của tôi”.

19 giờ, Người tiếp đoàn đại biểu Uỷ ban Văn hoá lâm thời Bắc Bộ. Nói chuyện với các đại biểu về nhiệm vụ của văn hoá trong giai đoạn nước nhà mới giành được độc lập, Người nói: “Tôi mong rằng các ngài trong giới văn hoá nhận thấy rõ nhiệm vụ của các ngài trong lúc này là: củng cố nền độc lập của Việt Nam, sửa soạn gây dựng cho đất nước một nền văn hoá mới… Bổn phận của các ngài là lãnh đạo tư tưởng của quốc dân, đấu tranh cho nền độc lập và kiến thiết một nền văn hoá mới. Cái văn hoá mới này phải cần phải có tính cách khoa học, tính cách đại chúng, thì mới thuận với trào lưu tiến hoá của tư tưởng hiện đại”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Bộ Tổng tham mưu, Cục Chính trị và Phòng Quân nhu.

– Sự khiêm tốn của một vĩ nhân, Báo La République, số 9, ngày 2-12-1945.

– Tạp chí Tri Tân, số 205, ngày 20-9-1945, tr.3-4.

Tháng 9, ngày 8

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thông điệp cho Tưởng Giới Thạch. Toàn văn như sau:

“Kính gửi Tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch,

Quân đội Trung Hoa tới Yên Bái bị một bọn cướp công kích, bọn cướp lấy danh hiệu của Việt Minh. Chính phủ lâm thời Dân chủ Cộng hoà Việt Nam đã tức khắc phái quân đến giúp đỡ quân Trung Hoa và tiễu trừ bọn cướp.

Xin kính chúc Tổng tư lệnh”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 14-SL về cuộc Tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội. Sắc lệnh gồm bảy điều, quy định: Trong thời hạn hai tháng kể từ ngày ký Sắc lệnh này sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc dân đại hội. Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền tuyển cử và ứng cử, một Uỷ ban dự thảo Hiến pháp bảy người sẽ được thành lập…

– Báo Cứu quốc, số 39, ngày 10-9-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr. 12.

– Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 30-31.

Tháng 9, ngày 10

Tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì bữa tiệc “chào mừng” tướng Tiêu Văn (một bộ hạ tin cậy của Trương Phát Khuê vừa từ Trung Quốc đến Việt Nam). Ácsimét Patti cũng được mời tới dự.

Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng tiếng Trung Quốc nói đôi lời chào mừng ngắn gọn, sau đó giới thiệu ông Chu Văn Tấn phát biểu.

Tiêu Văn cảm ơn sự qúi mến khách của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau đó, Người mời Tiêu Văn sang phòng bên cạnh để nói chuyện riêng.

Sau khi Tiêu Văn ra về, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện thêm với Ácsimét Patti, Người dự đoán không thể tránh khỏi một cuộc chiến tranh trong tương lai.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 23, về việc cử ông Vĩnh Thuỵ làm Cố vấn Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

– Sắc lệnh số 29B, về việc lưu dụng và cho nghỉ việc một số quan chức cũ ngành toà án ở Hà Nội.

– Ácsimét L.A. Patti: Tại sao Việt Nam, Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr. 291-294.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, trước ngày 11

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Trưởng phái đoàn quân sự số 5 kiêm Uỷ viên Cộng hoà Pháp tại Đông Dương  J. Xanhtơny.

– Báo Cứu quốc, số 40, ngày 11-9-1945.

Tháng 9, ngày 11

Bài Cách tổ chức các Uỷ ban nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh (ký bút danh Chiến Thắng) đăng trên báo Cứu quốc, số 40, giới thiệu về tính chất, cách tổ chức và nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân các cấp cùng các thành viên trong Uỷ ban.

Kết luận, bài báo viết: “Xem như trên, Uỷ ban nhân dân tổ chức và làm việc theo một tinh thần mới, một chế độ dân chủ mới, khác hẳn các cơ quan do bọn thống trị cũ đặt ra”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr. 15.

Tháng 9, ngày 13

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Lễ khai giảng Trường Quân chính Việt Nam (trước là Trường Quân chính kháng Nhật). Người nhận làm hiệu trưởng của Trường và căn dặn học viên “chớ quên rằng làm cách mạng là vì Tổ quốc, vì dân tộc”, phải cố gắng rèn luyện, nắm chắc mục tiêu bảo vệ nền độc lập dân tộc, có tinh thần anh dũng hy sinh, xung phong, chịu kham khổ, nhẫn nại và phải chống thói quan liêu.

Sau 10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu các tôn giáo (Gia tô giáo, đạo Phật, đạo Cao Đài). Người nói: “Dân tộc giải phóng thì tôn giáo mới được giải phóng. Lúc này chỉ có quốc gia mà không phân biệt tôn giáo nữa, mỗi người đều là công dân của nước Việt Nam và có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập hoàn toàn của Tổ quốc”.

13 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và dự Lễ kỷ niệm Lý Bát Đế 1) tại làng Đình Bảng, Bắc Ninh.

Sau khi thắp hương làm lễ trước bàn thờ Lý Bát Đế, Người nói chuyện với bà con đến dự lễ:

“Chắc đồng bào ta cũng biết ở Nam Bộ, chúng ta đang đánh giặc ngoại xâm; ở Bắc Bộ, đồng bào nhiều tỉnh bị nạn lụt, hạn hán, thật là đói khổ. Vậy bổn phận của chúng ta là phải ủng hộ đồng bào Nam Bộ, giúp đỡ đồng bào Bắc Bộ. Như thế là đồng bào đã giúp Chính phủ giữ cho nền độc lập được vững vàng. Bây giờ, Chính phủ là Chính phủ của dân thì chắc các cụ cũng nên thể theo ý dân, và nên hết sức cần kiệm cho xứng đáng là dân con trong lúc Tổ quốc đang lâm nạn”.

14 giờ 30, Người rời Đình Bảng về Hà Nội.

16 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp ông Nguyễn Tường Phượng (tạp chí Tri Tân), Người nói: Văn hoá với chính trị có quan hệ chặt chẽ với nhau. Có chính trị mới có văn hoá, xưa kia chính trị bị đàn áp, nền văn hoá của ta vì thế không nảy sinh được. Nay nước ta đã độc lập, tinh thần được giải phóng, cần có một nền văn hoá hợp với khoa học và hợp cả với nguyện vọng của dân.

Cùng ngày, Người còn tiếp đại biểu của nhóm Thanh niên cựu binh sĩ Hà Nội.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 31, quy định trong thời kỳ này những cuộc biểu tình phải khai trình trước 24 giờ với các Uỷ ban nhân dân sở tại.

– Sắc lệnh số 33A, về việc Ty Liêm phóng có thể bắt những hạng người nguy  hiểm cho nền Dân chủ Cộng hoà Việt Nam để đưa đi an trí và các quy định cho việc này.

– Sắc lệnh số 33B, về việc Sở Liêm phóng, Sở Cảnh sát bắt người thì trong 24 giờ phải lập biên bản để hoặc thả ngay, hoặc tư sang Toà án Quân sự, hoặc ông Biện lý Tòa án Tư pháp, và phải nêu rõ lý do nếu thả bị can.

– Sắc lệnh số 33C, về việc lập Toà án Quân sự ở Bắc Bộ (Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình), ở Trung Bộ (Vinh, Huế, Quảng Ngãi), ở Nam Bộ (Sài Gòn, Mỹ Tho). Sắc lệnh quy định: Toà án Quân sự sẽ xử tất cả những ai có hành động phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Binh sĩ sẽ xử theo quân luật. Những quyết nghị của Toà án Quân sự sẽ đem thi hành ngay (không có quyền chống án) trừ trường hợp tử hình, cần có thời gian cho tội nhân xin ân giảm nếu họ muốn và phải được ghi vào bản án, nếu không bản án thành vô giá trị…

Sắc lệnh cũng quy định về các mức án và cách tổ chức một Toà án Quân sự.

– Sắc lệnh số 33Đ, quy định về việc phóng thích các tội nhân bị kết án trước ngày 19 -8-1945.

– Báo Cứu quốc, số 43, 45 và 47, ngày 14,17 và ngày 19-9-1945.

– Bác Hồ với Hà Bắc, Ty Văn hoá Hà Bắc xuất bản, 1972, tr. 17.

– Tạp chí Tri Tân, số 205, ngày 20-9-1945, tr.1.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 15

Nhân dịp Tết Trung Thu, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho thiếu nhi cả nước. Bức thư có đoạn: “Các em vui cười hớn hở, Già Hồ cũng vui cười hớn hở với các em. Đố các em biết vì sao? Một là vì Già Hồ rất yêu mến các em. Hai là vì Trung thu năm ngoái, nước ta còn bị áp bức, các em còn là bầy nô lệ trẻ con. Trung thu năm nay, nước ta đã được tự do và các em đã thành những người tiểu quốc dân của một nước độc lập… Trung thu này, Già Hồ không có gì gửi tặng các em. Chỉ gửi tặng các em một trăm cái hôn thân ái”.

– Báo Cứu quốc, số 45, ngày 17-9-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr. 16.

Tháng 9, ngày 16

9 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tướng Lư Hán.

Trong cuộc gặp, Lư Hán nêu lên nhiều vấn đề như: tỉ giá hối đoái giữa đồng đôla với đồng quan kim của Trung Quốc, vấn đề các đường giao thông nối liền với Hải Phòng và biên giới Việt – Trung phải được sửa chữa, vấn đề cung cấp lương thực cho quân đội chiếm đóng, vấn đề xung đột giữa người Việt Nam với quân đội Tưởng.

Cuối buổi tiếp, Lư Hán nói rõ sự có mặt của Trung Quốc ở Đông Dương là vấn đề “thuần tuý quân sự và nhằm đáp ứng lại yêu cầu của các cường quốc Đồng minh để giải giáp và hồi hương quân Nhật”. Nhiệm vụ đó sẽ kết thúc khi hoàn thành công việc trên.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào toàn quốc nhân dịp “Tuần lễ VÀNG”4. Trong thư, Người nêu rõ ý nghĩa của “Tuần lễ VÀNG” và kêu gọi mọi người, nhất là các nhà giàu có, tích cực quyên góp vàng để phụng sự Tổ quốc, để xứng đáng với sự hy sinh phấn đấu của các chiến sĩ trên các mặt trận.

Trong ngày, Người lấy danh nghĩa “một người đồng chí già” viết thư gửi các đồng chí ở Nghệ An “để san sẻ ít nhiều kinh nghiệm”. Sau khi khẳng định những thắng lợi to lớn của cách mạng nước ta, Người nói rõ những khó khăn của việc xây dựng chế độ mới và những khuyết điểm của cán bộ địa phương như “chật hẹp và bao biện”, “lạm dụng hình phạt”, “kỷ luật không đủ nghiêm”, “lên mặt làm quan cách mạng”… đã làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể5… Bức thư có đoạn: “Những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động.

Chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay,

Chúng ta không sợ có khuyết điểm,

Chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi,

Chúng ta phải lấy lòng “chí công vô tư”.

Chúng ta phải hiểu rõ và theo đúng chính sách của Chính phủ thì những khuyết điểm nói trên sẽ dễ sửa đổi và sự toàn dân đoàn kết sẽ càng vững vàng”.

– Ácsimét L.A. Patti: Tại sao Việt Nam, Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr. 294-297.

– Báo Cứu quốc, số 45 và 46, ngày 17 và ngày 18-9-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr. 19-21.

Tháng 9, ngày 18

10 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp khoảng 30 nhà tư sản có tiếng ở Hà Nội. Người động viên các vị có tài sản lớn nên hăng hái đóng góp để cho “Tuần lễ VÀNG” ở Thủ đô có kết quả và để tỏ rõ cho thế giới biết người Việt Nam đồng lòng giúp nước.

Chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tướng Galơgơ (Gallagher), Trưởng đoàn phái bộ Mỹ tại Hà Nội.

– Báo Cứu quốc, số 47 và 48, ngày 19 và ngày 21-9-1945.

Tháng 9, ngày 19

Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhan đề  Chính phủ là công bộc của dân, ký bút danh Chiến Thắng, đăng trên báo Cứu quốc, số 46. Bài báo khẳng định: “Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”. Chính vì vậy, Uỷ ban nhân dân các cấp “là hình thức Chính phủ địa phương” phải chọn những người công tâm, trung thực, sốt sắng với quyền lợi của dân chúng, có năng lực làm việc, được nhân dân tín nhiệm, không lợi dụng chức vụ để hà hiếp, sách nhiễu dân và phải thực hiện tự do dân chủ cho dân chúng.

Buổi tối, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Nguyễn Tường Tam, thủ lĩnh Đảng Đại Việt.

Nguyễn Tường Tam đề nghị hợp nhất Đại Việt của ông với Việt Minh, nhưng đề nghị đó không được chấp nhận.

– Báo Cứu quốc, số 46, ngày 19-9-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 22-23.

– Ácsimét L.A. Patti: Tại sao Việt Nam, Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr. 335.

Tháng 9, ngày 20

Tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp mặt của các đại biểu các sĩ quan Bảo an binh cũ ủng hộ Chính phủ. Tại cuộc gặp, Người nói:

“Lòng người thì đồng mà hoàn cảnh không đồng, tỷ như có người muốn cúng vàng vào Quỹ Độc lập mà không có vàng, có người muốn xung vào quân đội mà yếu đuối quá. Có thể nói tấm lòng nhiệt thành ái quốc của các bạn ai cũng rõ, nhưng vì hoàn cảnh khác nhau, các bạn phải gắng giúp Chính phủ những cái có thể được. Hoặc lăn lộn trong bộ đội hoặc về tham gia giúp đỡ ở địa phương. Chính phủ lúc nào cũng chăm lo đến nhân tài của Tổ quốc”.

16 giờ, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo về việc gặp các ông Tiêu Văn, Hoàng Cường và một số nhân vật trọng yếu Trung Hoa. Người cho biết những đề nghị của phía Trung Hoa, thời hạn tước khí giới quân Nhật và những khó khăn giữa hai bên (Việt Nam  – Trung Hoa) nên giải quyết ôn hoà với nhau.

Trong đêm Trung thu đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa gửi thư cho thiếu nhi Việt Nam. Lời thư viết:

Các em,

… Tết Trung thu là của các em. Mà cũng là một cuộc biểu tình của các em để tỏ lòng yêu nước và để ủng hộ nền độc lập.

Các em phải ngoan, ở nhà phải nghe lời bố mẹ, đi học phải siêng năng; đối với bầu bạn phải yêu kính. Các em phải thương yêu nước ta. Mong các em mai sau lớn lên thành những người dân xứng đáng với nước độc lập tự do”.

Cùng ngày, Người còn lấy danh nghĩa “một người bạn già” viết Thư gửi các vị phụ lão. Bức thư có đoạn:

“Con cháu ta, thanh niên sức khoẻ thì gánh việc nặng, chúng ta già cả, không làm được công việc nặng nề, thì khua gậy đi trước, để khuyến khích bọn thanh niên và san sẻ những kinh nghiệm của chúng ta cho họ. Chúng ta là bậc phụ lão, cần phải tinh thành đoàn kết trước để làm gương cho con cháu ta”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 34 về việc lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để đệ trình Quốc hội, gồm bảy vị:

Hồ Chí Minh, Vĩnh Thuỵ, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu.

– Báo Cứu quốc, số 48 và 49, ngày 21 và ngày 22-9-1945.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 24-25.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 32.

Tháng 9, ngày 21

19 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ để xem xét vấn đề lao động (việc sử dụng và thải hồi công nhân); tài chính (lập ngân sách, bãi bỏ viên chức xấu và những điều bất công về lương bổng); thái độ của Pháp, Quốc dân Đảng Trung Hoa và Mỹ đối với Chính phủ; yêu sách của Nhật ở địa phương.

Về việc quân Đại Việt ở Vĩnh Yên xin hàng, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn nên thu xếp nhanh chóng và lấy lượng khoan hồng để đối xử với họ.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 22

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tướng  E. Galơgơ, Trưởng đoàn phái bộ Mỹ. Cùng dự có L.A. Patti.

Người hỏi ý kiến người Mỹ về việc người Pháp đề nghị có cuộc gặp gỡ và cho biết vấn đề đó cũng đã được trao đổi với tướng Lư Hán.

Người cũng cho biết sẽ gặp gỡ nếu người Pháp đồng ý hội họp ở Trung Quốc và có một quan chức Mỹ tham gia như một quan sát viên.

17 giờ 15, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo việc gặp đại diện của tướng Lư Hán để dàn xếp một số việc xảy ra (quân đội của Quốc dân Đảng vô cớ tước vũ khí quân đội Việt Nam ở Sơn La và Yên Bái, đuổi nhân viên Việt Nam ở ga Yên Viên, v.v.). Về việc giao thiệp với Mỹ, Người cho biết Mỹ sẵn sàng thương lượng với ta.

Tại cuộc họp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ nên ra thông cáo về việc Chính phủ sắp mở cửa lại Trường Đại học Việt Nam.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 36 về việc bãi bỏ trong toàn cõi Việt Nam các nghiệp đoàn Nông sản và Lâm sản, Kỹ nghệ, Khoáng sản, Thương mại (nội thương và ngoại thương), Vận tải, Ngân hàng. Tài sản còn lại của các nghiệp đoàn ấy sẽ sáp nhập vào các cơ quan kinh tế có liên quan đến ngành hoạt động của nghiệp đoàn.

– Ácsimét L.A. Patti: Tại sao Việt Nam, Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr. 345.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– THE OSS AND HO CHI MINH – Unexpected Allies in the War against Japan, Dixee R. Bartholomew-Feis University Press of Kansas.

Tháng 9, ngày 23

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp tướng Lư Hán, tỏ ý bất bình về hành động xâm lược của Pháp ở miền Nam và đề nghị Trung Quốc không làm như vậy đối với miền Bắc.

– Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh, Tiểu sử, Nxb. Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2006, tr. 359.

Tháng 9, ngày 24

19 giờ 30, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo cho biết người Mỹ muốn được chụp ảnh và xin tiểu sử các ông bộ trưởng; họ còn nói nên in nhiều ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh để tuyên truyền. Cuối cuộc họp, Người căn dặn cần giữ bí mật những điều bàn bạc trong Hội đồng Chính phủ.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 25

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư mời thiếu tá Mỹ A.Pátti (A.Patti) và ông Cáptơních (Capthenique), ông Cơnáp (Knapp) tới dự bữa cơm thân mật vào lúc 19 giờ 30, tại nhà số 8, phố Lê Thái Tổ (Hà Nội).

Trong bữa cơm, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đến tình hình “cuộc chiến tranh không tuyên bố” giữa Pháp và Việt Nam đã bắt đầu và “cuộc xung đột công khai” cũng không còn xa nữa.

Người còn nói với Pátti rằng nhân dân Việt Nam đang “triển khai kế hoạch hoạt động chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh lâu dài chống người Pháp”.

Người tỏ ý tiếc khi biết tin Đoàn OSS sắp rời khỏi Hà Nội và Người nhờ chuyển một bức thư tới Tổng thống Mỹ Tơruman thông báo về những việc làm sai trái của người Anh ở miền Nam Việt Nam như cấm các báo chí, cung cấp vũ khí và đạn dược cho người Pháp, tước vũ khí các lực lượng cảnh sát Việt Nam. Bức thư có đoạn:

“Các biện pháp này là một sự vi phạm rõ ràng đến những quyền tự nhiên của nhân dân Việt Nam, đe doạ trực tiếp nền an ninh trong nước, và là nhân tố làm mất ổn định và hoà bình ở Đông Nam Á.

Chính phủ lâm thời Cộng hoà Việt Nam phản đối mạnh mẽ và yêu cầu Ngài can thiệp với các nhà chức trách Anh bãi bỏ các biện pháp nói trên”.

16 giờ, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo việc Người đã gặp phóng viên Hãng Thông tấn Associated Pressvà nói cho họ biết Chính phủ Việt Nam vẫn tôn trọng những quyền lợi đặc biệt của người Pháp ở Việt Nam.

Khi bàn về việc cứu tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo, sáng hôm nay đã có cuộc họp giữa người Mỹ, người Pháp và người Việt Nam về việc chở gạo từ miền Nam ra miền Bắc. Người Pháp muốn độc quyền chở và phân phối gạo. Người cho biết sẽ nói với người Mỹ không để người Pháp một mình làm việc đó. Để cứu đói, Người sẽ kêu gọi quốc dân mỗi tuần nhịn ăn một bữa để lấy gạo giúp đồng bào. Mỗi tuần, mỗi người để ra một bơ gạo giúp đồng bào đói.

– Ácsimét L.A. Patti: Tại sao Việt Nam, Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr. 350-352.

– Bản chụp bức thư, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 26

Qua Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam Bộ nhân vụ thực dân Pháp được quân đội Anh giúp sức đã nổ súng đánh chiếm trụ sở Uỷ ban nhân dân Nam Bộ tại Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh), ngày 23-9-19456. Trong thư có đoạn:

“Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ. Chúng ta nên nhớ lời nói oanh liệt của nhà đại cách mạng Pháp: “Thà chết tự do hơn sống nô lệ”.

Tôi chắc và đồng bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và nhân dân hiện đang hy sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập của nước nhà”.

Người còn căn dặn thêm: “Đối với những người Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, ta phải canh phòng cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng. Phải làm cho thế giới, trước hết là làm cho dân Pháp biết rằng: chúng ta là quang minh chính đại. Chúng ta chỉ đòi quyền độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù tư oán, làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người cướp nước”.

Cùng ngày, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhan đề Muốn thành cán bộ tốt, phải có tinh thần tự chỉ trích, ký bút danh Chiến Thắng, đăng trên báo Cứu Quốc, số 51, nhắc nhở cán bộ nếu không muốn bị lạc hậu, muốn theo kịp tình hình và thích hợp được với tình thế, thì “cần phải nhận thức và tự giáo dục không ngừng, cần phải có sự thành thực tự vạch ra những khuyết điểm sai lầm để bồi bổ và sửa đổi đi..”.. Bài báo kết luận: “Không chịu tự phê bình, tự chỉ trích thì không bao giờ tấn tới được”.

17 giờ, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo đã điện cho tướng Anh Grâyxi (Gracey) kháng nghị việc quân Pháp đánh Sài Gòn và nói rằng Người lấy tư cách là Chủ tịch Chính phủ và tư cách cá nhân, đã thảo một bài hiệu triệu đồng bào Nam Bộ với tinh thần “Thà chết tự do, không sống nô lệ”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 37, quy định các địa phương thuộc thẩm quyền xét xử của các Toà án Quân sự theo Sắc lệnh số 33C, ngày 13-9-1945.

– Sắc lệnh số 39, về việc lập Uỷ ban dự thảo thể lệ Tổng tuyển cử gồm chín vị: Trần Huy Liệu, Vũ Đình Hoè, Cù Huy Cận, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Hữu Đang (đại biểu Văn hoá Cứu quốc), Nguyễn Văn Chúc (đại biểu Công nhân Cứu quốc), Nguyễn Hữu Tiêu (đại biểu Nông dân Cứu quốc), cô Tâm Kính (đại biểu Phụ nữ Cứu quốc) và Lê Văn Giạng (đại biểu của Thanh niên).

– Báo Cứu quốc, số 51 và 54, ngày 26 và ngày 29-9-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 26-28.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 27

Sáng, tại Nhà hát thành phố Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Đại hội Thanh niên Hà Nội nhằm thống nhất các tổ chức thanh niên Hà Nội và phát triển công cuộc vận động thanh niên để kịp đáp ứng với tình hình hiện tại.

Phát biểu tại Đại hội, Người thẳng thắn chỉ rõ khuyết điểm của các tổ chức thanh niên hiện nay là chưa đoàn kết, còn chia rẽ, chưa hợp thành được một mặt trận thống nhất, thiếu chủ động, việc gì cũng đợi mệnh lệnh của cấp trên. Người mong muốn tổ chức thanh niên của Hà Nội phải trở thành “một khối thanh niên khuôn mẫu cho thanh niên toàn xứ và toàn quốc”.

16 giờ 30, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo việc đã gặp Tiêu Văn 2), tiếp phóng viên Hãng Thông tấnFrance Press và nhận tiếp ông Alétxăngđri (Alessandri) vào 14 giờ ngày 28 tháng 9.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 38 về việc bỏ hẳn loại thuế môn bài hạng chính tang 3) dưới 50 đồng, hạng từ 50 đồng trở lên miễn hẳn số bách phân phụ thu cho ngân sách Bắc, Trung, Nam Bộ và cho ngân sách hàng tỉnh.

– Báo Cứu quốc, số 53, ngày 28-9-1945.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 29-30.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 28

Tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các đại diện của Pháp là Alétxăngđri và Pinhông (Pignon). Dự buổi tiếp có Hoàng Minh Giám và Mítxôphơ (Missoffe). Người nói: Việt Nam và Pháp phải kết giao thân thiện với nhau. Người rất bất bình trước những sự việc diễn ra ở Sài Gòn và cho rằng đổ máu chỉ chấm dứt khi Việt Nam giành được độc lập. Đồng thời, Người khẳng định những quyền lợi kinh tế, văn hoá và quân sự của Pháp ở Việt Nam vẫn được bảo đảm.

Sau khi Alétxăngđri thông báo những điều kiện nếu phía Việt Nam muốn gặp G. Đácgiăngliơ 4), Chủ tịch Hồ Chí Minh hẹn sẽ trả lời vào ngày 1 tháng 10.

16giờ, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết về việc tiếp Alétxăngđri vừa diễn ra và thông báo việc Người sẽ gặp, nói chuyện với Lư Hán về một số từ ngữ ý nghĩa mơ hồ và có mấy đoạn có tính cách can thiệp vào nội trị của Việt Nam trong bản Tuyên bố của Lư Hán tại lễ đầu hàng của quân đội Nhật. Người nhắc nhở Bộ Cứu tế, Bộ Tuyên truyền động viên nhân dân thực hiện 10 ngày nhịn ăn một bữa.

Cũng tại cuộc họp này, bản Tuyên bố về chính sách ngoại giao của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, do Chủ tịch Hồ Chí Minh dự thảo, đã được Hội đồng thông qua.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước cùng “sẻ cơm nhường áo”, ra sức cứu đói. Bức thư có đoạn:

“Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng.

Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước:

Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”.

 – Philippe Devillers: Paris  Saigon  Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, p.95.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 31.

– J. Xanhtơni: Câu chuyện về một nền hoà bình bị bỏ lỡ, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 72.

Tháng 9, ngày 29

16 giờ 30, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo Người đã gặp và nói chuyện với tướng Galơgơ về việc Thiếu tá Mỹ P. Điuây (Peter Dewey) bị bắn chết ở Sài Gòn và cho biết đã gửi Tổng thống Mỹ H.Tơruman một bức thư bày tỏ lòng thương cảm của người Việt Nam đối với nạn nhân.

Người thông báo với Hội đồng Chính phủ, ngày 30 tháng 9, sẽ gặp Tiêu Văn để nói chuyện về Nguyễn Hải Thần theo yêu cầu của Tiêu Văn ngày 27 tháng 9.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 40 về việc lập thêm một Toà án Quân sự ở Nha Trang và được tổ chức theo quy tắc đã ấn định ở Sắc lệnh ngày 13-9-1945, đồng thời quy định các địa phương thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án Quân sự Nha Trang.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 30

Buổi tối, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời cơm A. Pátti trước khi rời Hà Nội.

Dự bữa cơm tiễn này còn có các ông Võ Nguyên Giáp, Dương Đức Hiền, Nguyễn Mạnh Hà và Trần Huy Liệu.

A. Pátti nhớ lại:

“Ông Hồ chìa bàn tay mảnh khảnh đón tôi và nói: “Đây quả là một dịp không hay. Mong rằng ông chỉ xa chúng tôi một thời gian”. Sau khi tôi đã thăm hỏi những người khác, ông Hồ và tôi dẫn cả đoàn tới bàn tiệc. Câu chuyện vẫn chung chung, vừa nói bằng tiếng Pháp và bằng tiếng Anh…

Sau bữa cơm, chúng tôi ngồi lại chung quanh bàn chừng mươi mười lăm phút. Trừ ông Hồ và ông Giáp, mọi người xin rút lui sau khi đã chúc tôi một cuộc hành trình thú vị và tỏ ý mong tôi sẽ sớm trở lại để thăm hoặc công tác ở Việt Nam”.

Sau khi mọi người ra về, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn trao đổi thêm một số vấn đề.

– Ácsimét L.A. Patti: Tại sao Việt Nam, Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr. 366-367.

Trong tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho học sinh cả nước nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bức thư có đoạn:

“Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 32-33.

____________________

1) Xem Bác Hồ với Hà Bắc, ngày giỗ Lý Bát Đế (8 vị Vua họ Lý) là ngày 8 tháng 8 năm Ất Dậu (tức ngày 13-9-1945). Báo Cứu quốc, số 80, ngày 1-11-1945, đăng tin vào ngày 31-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đình Bảng dự Lễ kỷ niệm Lý Bát Đế.

2) Tại cuộc họp này, Tiêu Văn yêu cầu có một bản Tuyên cáo về sự hợp tác giữa Việt Minh và Việt Nam Cách mệnh đồng minh, có chữ ký của hai bên, và đòi bố trí cho Nguyễn Hải Thần và Trương Trung Phụng giữ địa vị cao trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

3) Chính tang: Phần thuế chính nộp cho ngân sách nhà nước để phân biệt với phụ thu.

4) Trong buổi gặp này Alétxăngđri đưa ra ba điều kiện đối với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nếu phía Việt Nam muốn gặp Đácgiăngliơ: một là, thả những lính dù Pháp bị ta bắt; hai là, báo chí và đài phát thanh không được gây phẫn kích đối với người Pháp; ba là, bảo vệ tính mạng và tài sản của Pháp kiều.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Lời giới thiệu)

HỒ CHÍ MINH – BIÊN NIÊN TIỂU SỬ

Tập 3

      1945 – 1946

~ * ~

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

VIỆN HỒ CHÍ MINH

~ * ~

HỒ CHÍ MINH
BIÊN NIÊN TIỂU SỬ

TẬP 3

1945 – 1946

(Xuất bản lần thứ hai, có sửa chữa, bổ sung)

~ * ~

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HÀ NỘI – 2006

~ * ~

TỔNG CHỦ BIÊN 

GS. ĐẶNG XUÂN KỲ 

PHÓ TỔNG CHỦ BIÊN 

GS. SONG THÀNH

 ~ * ~

NHÓM BIÊN SOẠN TẬP 3

PGS, TS. LÊ VĂN TÍCH (Chủ biên)

PGS, TS. PHẠM HỒNG CHƯƠNG

CVCC. NGUYỄN HUY HOAN

ThS. NGUYỄN THỊ GIANG

NCVCC. NGÔ VĂN TUYỂN


LỜI GIỚI THIỆU

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử, tập 3, ghi lại những sự kiện hoạt động cách mạng vô cùng sôi động của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ngày đầu tiên nước Việt Nam giành lại Độc lập 2-9-1945 đến ngày bắt đầu Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946.

Tuy thời gian chỉ có 16 tháng, nhưng đây là một giai đoạn lịch sử vô cùng sôi động và phong phú; mỗi ngày, mỗi giờ đã diễn ra biết bao sự kiện quan trọng, quan hệ đến sự tồn vong của chính quyền cách mạng và hướng đi của cuộc kháng chiến.

Cũng chính ở giai đoạn lịch sử đầy cam go thử thách lớn lao này mà thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện sinh động và trở thành nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Người đã sáng suốt, chủ động lựa chọn những đối sách đúng đắn nhằm giải quyết kịp thời, có hiệu quả những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp trong tình thế vận nước như “nghìn cân treo sợi tóc”; bình tĩnh trước những biến cố phức tạp, linh hoạt chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua ghềnh thác, từng bước tiến lên. Những hoạt động phong phú và sáng tạo đó của Người có thể khái quát ở những điểm sau đây:

– Xây dựng và củng cố Nhà nước cách mạng: tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, xây dựng và thông qua Hiến pháp, xác lập cơ sở pháp lý và những nguyên tắc dân chủ của chính quyền nhân dân; chủ toạ các phiên họp của Hội đồng Chính phủ, ký hơn 200 Sắc lệnh về tổ chức bộ máy Nhà nước, các bộ và Uỷ ban hành chính các cấp, về tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân…

– Xây dựng và mở rộng khối đoàn kết toàn dân; thi hành chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc: tranh thủ các nhân sĩ, trí thức, quan lại cũ (kể cả Bảo Đại và hoàng tộc) để họ tin tưởng và hợp tác với chính quyền mới; chủ tọa Hội nghị  đại biểu các dân tộc thiểu số ở miền Bắc, thăm Nhà thờ Phát Diệm, thăm Chùa Bà Đá, viết thư thăm hỏi nhiều chức sắc tôn giáo… với mục đích đoàn kết Lương – Giáo, xây dựng thành công khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sức mạnh tổng hợp chuẩn bị bước vào kháng chiến.

– Thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt để ứng phó với từng loại kẻ thù nhằm giữ vững độc lập và chủ quyền dân tộc như: tạm thời hoà hoãn với quân đội Tưởng Giới Thạch, thoả mãn một phần đòi hỏi của họ để rảnh tay đối phó với kẻ thù chính là bọn thực dân Pháp xâm lược, rồi lại tạm thời hoà hoãn với Pháp để quân Tưởng rút về nước.

Nổi bật trong những hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ này là việc ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 giữa Chính phủ Việt Nam với đại diện Pháp ở Hà Nội và chuyến đi thăm chính thức nước Pháp nhân dịp Hội nghị Phôngtennơblô nhóm họp, nhằm giương cao ngọn cờ độc lập và thiện chí hoà bình của nước Việt Nam mới. Để có thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến, Người đã ký với Pháp bản Tạm ước 14-9-1946.

– Vừa chỉ đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ vừa chỉ đạo việc chuẩn bị mọi mặt để bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc lâu dài: phát triển lực lượng vũ trang; xây dựng căn cứ địa Việt Bắc; công bố một số bài viết về chiến lược, chiến thuật quân sự dưới bút danh Q.Th. nhằm xác định tư tưởng, phương hướng của cuộc kháng chiến; cải tổ Chính phủ, lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến; viết bản chỉ thị “Công việc khẩn cấp bây giờ”, đặt cơ sở cho việc hoạch định đường lối kháng chiến kiến quốc sau đó.

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử, tập 3, tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc chỉ đạo đã được giới thiệu trong Lời giới thiệu ở đầu tập 1. Nguồn tư liệu chính dựa vào để biên soạn các sự kiện là biên bản các phiên họp của Hội đồng Chính phủ, các Sắc lệnh của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, một số sự kiện, thư từ, bài viết,… được nêu lên trong các hồi ký của những người cùng thời ở trong nước hoặc ngoài nước, là cộng sự hay đối lập với Người. Ngoài ra, một phần quan trọng các sự kiện của tập này được khai thác từ báo Cứu quốc, cơ quan ngôn luận chính thức của Mặt trận Việt Minh.

So với lần xuất bản thứ nhất (1995), lần xuất bản này đã bổ sung, sửa chữa và nâng tổng số sự kiện theo đơn vị ngày là trên 440 sự kiện với trên 1.300 đầu sự kiện, làm chỉ dẫn 71 tên người, làm mới 33 chú thích sự kiện (so với lần thứ nhất: 410 sự kiện ngày với gần 1.000 đầu sự kiện, 55 chỉ dẫn tên người, không có chú thích sự kiện). Khoảng 1/7 số sự kiện còn lại được xác minh lại và có bổ sung, chỉnh lý về nội dung, bổ sung nguồn sự kiện có độ tin cậy cao hơn, như từ bộ Hồ Chí Minh – Toàn tập, xuất bản lần thứ hai: tập 3, tập 4 (1995), bộVăn kiện Đảng Toàn tập: tập 7, tập 8 (2000). Phần chỉ dẫn tên người và chú thích sự kiện cuối sách cũng được xác minh và biên soạn lại theo các tư liệu mới nhất. Vì vậy, Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử, tập 3, xuất bản lần thứ hai này không chỉ được bổ sung về số lượng sự kiện, nội dung mới mà còn được nâng cao về chất lượng khoa học.

Mặc dầu đã hết sức cố gắng, song vì những khó khăn về tư liệu, do sách báo thời kỳ kháng chiến chưa phản ánh hết, hoặc còn đang lưu giữ trong các kho tư liệu của nhiều cơ quan và gia đình mà chúng tôi chưa có điều kiện tiếp cận, khai thác, cho nên lần xuất bản này cũng khó tránh khỏi còn những sai sót. Chúng tôi rất mong nhận được những góp ý chân thành của các cán bộ lão thành cách mạng, các nhà nghiên cứu, cùng đông đảo bạn đọc gần xa để lần xuất bản sau được tốt hơn.

Hà Nội, tháng 8 năm 2006
NHÓM BIÊN SOẠN

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Chú thích và bản chỉ dẫn tên người)

CHÚ THÍCH

1. Sự kiện thành lập Đảng:

Vào những năm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên vào nửa cuối năm 1929 đầu năm 1930.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chính cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là phải làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 10-1929, kỳ bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên Nam Kỳ họp đại hội, tuyên bố giải tán Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và thành lập An Nam Cộng sản Đảng. Tháng 1-1930, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng nửa năm, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam năm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng theo chủ nghĩa Mác-Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước lại có ba tổ chức cộng sản. Như thế chỉ làm yếu sự thống nhất về tư tưởng, chính trị, tổ chức và hành động của giai cấp vô sản, làm giảm sức mạnh của phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Vì vậy, việc thành lập một đảng duy nhất của giai cấp công nhân theo chủ nghĩa Mác-Lênin là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các nhóm cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, chấp hành chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất có giá trị như một Đại hội thành lập Đảng. Hội nghị đã thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắtlà cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Hội nghị chấm dứt sự khủng hoảng trong phong trào yêu nước chống Pháp, chấm dứt tình trạng phân tán, chia rẽ của phong trào cộng sản Việt Nam, thống nhất các tổ chức cộng sản trong nước thành một Đảng Cộng sản duy nhất làm cho sức mạnh của hạt nhân lãnh đạo tăng lên gấp bội. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là “một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam”. Tr. 5.

2. Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba): tổ chức cách mạng quốc tế của giai cấp vô sản, trung tâm lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân thế giới, hoạt động từ năm 1919 đến năm 1943.

Do ảnh hưởng to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và sau khi Quốc tế thứ hai đã hoàn toàn phản bội chủ nghĩa Mác, cuộc đấu tranh của Lênin và những người cộng sản chân chính chống bọn cơ hội chủ nghĩa đã thúc đẩy sự ra đời của các Đảng Cộng sản và tổ chức cộng sản ở nhiều nước trên thế giới. Để giúp các tổ chức cộng sản này lãnh đạo phong trào cách mạng các nước đi theo con đường của chủ nghĩa Mác chân chính, tháng 1-1919, dưới sự lãnh đạo của Lênin, Hội nghị đại biểu của 8 Đảng Cộng sản và nhóm cộng sản đã kêu gọi tất cả các Đảng Cộng sản, các tổ chức xã hội chủ nghĩa phái tả tham gia Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba).

Hưởng ứng lời kêu gọi đó, tháng 3-1919, dưới sự lãnh đạo của Lênin, các Đảng Cộng sản và nhóm cộng sản của 30 nước đã tiến hành Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva.

Quốc tế Cộng sản đã có công lao trong việc tổ chức và lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Quốc tế Cộng sản đã rất chú trọng tới vấn đề giải phóng dân tộc. Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin được Đại hội II Quốc tế Cộng sản (1920) thông qua đã đặt nền tảng chính trị và tư tưởng cho việc giải quyết đúng đắn những vấn đề phức tạp của phong trào giải phóng dân tộc. Trên con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đọc Luận cương, hoàn toàn tin theo Lênin và Quốc tế thứ ba.

Tháng 5-1943, căn cứ vào hoàn cảnh mới và đặc điểm phát triển cách mạng mỗi nước, Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản với sự tán thành của đa số các Đảng Cộng sản, đã thông qua nghị quyết giải tán tổ chức quốc tế này. Tr. 7.

3. Trường đại học Phương Đông (tên gọi tắt của Trường đại học cộng sản của những người lao động Phương Đông): thành lập tại Mátxcơva (Liên Xô trước đây) năm 1921 theo quyết định của Quốc tế Cộng sản, để đào tạo cán bộ cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Tại đây, các học viên được trang bị những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, phương pháp tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng. Trong thời gian học tập, các học viên phải nắm vững các môn quan trọng như chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế chính trị, lịch sử phong trào công nhân quốc tế, lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc, v.v..

Trong gần 20 năm tồn tại, Trường đại học Phương Đông đã đào tạo cho các nước phương Đông hàng ngàn cán bộ, trong đó có những người về sau trở thành cán bộ lãnh đạo có uy tín của các Đảng Cộng sản ở các nước.

Quan tâm sâu sắc tới phong trào giải phóng dân tộc và vấn đề đào tạo cán bộ cách mạng cho các nước thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã viết rất nhiều bài báo cổ vũ, giới thiệu Trường đại học Phương Đông. Từ năm 1925, sau khi về hoạt động ở Quảng Châu (Trung Quốc), cùng với việc mở các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng, Người đã lựa chọn và cử nhiều cán bộ Việt Nam và một số nước ở châu Á, sang học tập tại Trường đại học Phương Đông. Người luôn luôn quan tâm theo dõi việc học tập và sự tiến bộ của các đồng chí này.

Trong số những cán bộ Việt Nam được đào tạo tại Trường đại học Phương Đông có nhiều đồng chí sau này đã trở thành những lãnh đạo xuất sắc của Đảng ta như các đồng chí Trần Phú, Lê Hồng Phong… Tr. 10.

4. Cuộc bạo động Yên Bái:

Cuộc khởi nghĩa do Việt Nam Quốc dân Đảng tổ chức và thực hiện vào đầu năm 1930.

Việt Nam Quốc dân Đảng là một tổ chức cách mạng theo xu hướng quốc gia tư sản, thành lập ngày 25-12-1927.

Việt Nam Quốc dân Đảng không có một đường lối chính trị thật rõ rệt, thành phần kết nạp chủ yếu là tiểu tư sản, trí thức thành thị, học sinh, công chức, người làm nghề tự do, do đó hoạt động của Đảng bị hạn chế, không liên kết được với phong trào đấu tranh của công nhân và nông dân. Đảng cũng chưa có tổ chức chặt chẽ trong toàn quốc; cơ sở vững nhất chủ yếu ở Bắc Kỳ. Do đường lối không rõ ràng, tổ chức không chặt chẽ, lại kết nạp đảng viên dễ dàng, để bọn mật thám chui vào nên đầu năm 1930, cơ sở đảng bị vỡ ở nhiều nơi, nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt. Trước tình hình đó, các lãnh tụ của Đảng là Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu quyết định khởi nghĩa, vì cho rằng: đằng nào Đảng cũng bị khủng bố và bị tiêu diệt, cho nên cứ bạo động, “không thành công cũng thành nhân”.

Kế hoạch bạo động được đưa ra, nhưng bị lộ nên phải làm sớm mấy ngày.

Theo kế hoạch này: lực lượng chính là binh sĩ Việt Nam trong quân đội Pháp. Du kích là phụ. Vũ khí cũng do binh sĩ khởi nghĩa chuyển cho. Bạo động nổ ra ở tất cả mọi nơi, rồi đưa tất cả lực lượng chiếm một thành phố lớn. Nguyễn Khắc Nhu chỉ huy các tỉnh Sơn Tây, Phú Thọ, Yên Bái. Nguyễn Thái Học chỉ huy ba tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An.

Trước khi nổ ra bạo động, do người liên lạc bị Pháp bắt nên hai lãnh tụ không liên lạc được với nhau.

Khởi nghĩa bắt đầu nổ ra vào đêm 9 rạng sáng ngày 10-2-1930. Nghĩa quân chiếm các đồn Pháp ở Yên Bái. Một số bộ phận binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp phản chiến tham gia vào quân khởi nghĩa. Nghĩa quân chiếm được nhà dây thép, nhà ga, phát truyền đơn, hô hào quần chúng và binh lính hưởng ứng. Nhưng còn một bộ phận binh lính Việt Nam đã không tham gia khởi nghĩa. Ngay sáng hôm sau, thực dân Pháp đã phản công; cuộc bạo động bị thất bại. Trong vòng một tuần, phong trào khởi nghĩa bị dập tắt ở các nơi. Nguyễn Thái Học và các lãnh tụ khác bị bắt và bị xử tử. Việt Nam Quốc dân Đảng cũng bị tan rã.

Trong lúc Việt Nam Quốc dân Đảng chuẩn bị khởi nghĩa, Nguyễn Ái Quốc đang ở Xiêm (Thái Lan). Nghe tin đó, Người đã nhận xét: “Cuộc bạo động nổ ra lúc này là quá sớm, và khó thành công”. Người muốn gặp các lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân Đảng để “bàn lại kế hoạch” nhưng không thực hiện được. Trong lúc Nguyễn Ái Quốc vượt biên giới Thái Lan đến Trung Quốc, cuộc bạo động vẫn được chuẩn bị và đã nổ ra như trên. Tr. 14.

5. Đoàn Thanh niên Cộng sản quốc tế (Quốc tế Thanh niên Cộng sản): tổ chức quốc tế của thanh niên lao động cách mạng. Theo sáng kiến của Lênin, Đại hội lần thứ nhất của thanh niên xã hội chủ nghĩa được triệu tập ở Béclin (Đức) từ ngày 20 đến ngày 26-11-1919 (có 29 đại biểu của 13 nước tham dự) đã thông qua nghị quyết thành lập Quốc tế Thanh niên Cộng sản. Tổ chức này đã gia nhập Quốc tế Cộng sản với tư cách là một phân bộ.

Quốc tế Thanh niên Cộng sản có những bộ phận riêng của mình ở 56 nước. Các cơ quan lãnh đạo của Quốc tế Thanh niên Cộng sản là Đại hội quốc tế và Ban chấp hành. Quốc tế Thanh niên Cộng sản hoạt động dưới sự lãnh đạo về tư tưởng và tổ chức của Quốc tế Cộng sản. Nó đã có tác dụng quan trọng trong việc tuyên truyền, giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin trong thanh niên, đề ra mục tiêu, phương pháp cho thanh niên trong sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới.

Năm 1943, cùng với việc giải tán Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Thanh niên Cộng sản cũng tự giải tán. Tr. 29.

6. Trường Quốc tế Lênin: trường dành cho những người cộng sản nước ngoài, nhằm giúp đỡ các Đảng Cộng sản trong công tác đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt. Trường Quốc tế Lênin thành lập năm 1926, theo quyết định của Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản, nhằm mục đích:

– Giúp đỡ các chi bộ của Quốc tế Cộng sản, nâng cao trình độ lý luận Mác – Lênin và kinh nghiệm chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô cũng như giai cấp vô sản nhiều nước châu Âu khác.

– Nghiên cứu kinh tế thế giới và các bộ phận của nó, đặc biệt về quan hệ các nước tư bản chủ nghĩa, thuộc địa và Liên Xô.

– Nghiên cứu những vấn đề chiến lược và sách lược của Quốc tế Cộng sản, những kinh nghiệm tổ chức và chính trị của các Đảng Cộng sản các nước và nhận xét, phê bình những công tác hiện thời của Quốc tế Cộng sản… Kết thúc các khoá học, học viên thường được đi thực tế ở nhiều vùng, nhiều nhà máy, xí nghiệp ở Liên Xô. Các giảng viên đa số là người Liên Xô.

Trong những năm 1934-1935, Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu tại Trường Quốc tế Lênin. Để bảo đảm bí mật, đồng chí có bí danh tại trường là Lin, bí số 375. Nguyễn Ái Quốc là đại biểu do Đảng Cộng sản Đông Dương gửi đến học, do đó, lúc đầu Người được xếp trong nhóm nghiên cứu nói tiếng Trung Quốc. Sau được chuyển sang nhóm nói tiếng Pháp cho phù hợp hơn.

Nhiều lãnh tụ khác của các nước xã hội chủ nghĩa sau này, đã từng là học viên của Trường Quốc tế Lênin. Tr. 56.

7. Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản: Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản họp từ ngày 25 tháng 7 đến ngày 20-8-1935 tại Mátxcơva. Hơn 500 đại biểu đại diện cho 65 Đảng Cộng sản trên thế giới về dự Đại hội.

Đại hội nhận định rằng nguy cơ phát xít và chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa phát xít đang đe doạ nghiêm trọng hoà bình và an ninh của các dân tộc. Đại hội chỉ rõ điều kiện chủ yếu để đấu tranh thắng lợi là thực hiện sự thống nhất và phát huy tính tích cực cách mạng của giai cấp công nhân, đồng thời phải mở rộng đoàn kết với nông dân và các tầng lớp khác, nhằm thành lập mặt trận rộng rãi ở các nước trên cơ sở mặt trận thống nhất của giai cấp công nhân. Do đó, Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản đã quyết định nhiệm vụ trước mắt của các Đảng Cộng sản là thành lập mặt trận nhân dân rộng rãi ở các nước, chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh, bảo vệ hoà bình. Khẩu hiệu trung tâm của các Đảng Cộng sản lúc này là “đấu tranh cho hoà bình”.

Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương gồm các đồng chí Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai và Hoàng Văn Nọn đã tham dự và đọc tham luận tại Đại hội. Đại hội cũng đã công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là một bộ phận của Quốc tế Cộng sản.

Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc đang công tác, học tập ở Liên Xô. Người đã tham dự Đại hội với tư cách là đại biểu của Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Người đã tích cực tham gia vào các công việc của Đại hội, đồng thời, mang hết sức mình giúp đoàn đại biểu Đảng ta hoàn thành nhiệm vụ ở Đại hội. Tr. 60.

8. Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa: Trước kia, những người cộng sản ở các nước Đông Dương và thuộc địa được cử sang học tập ở Liên Xô thường học trong một ban đặc biệt của Trường đại học cộng sản của những người lao động phương Đông, thành lập năm 1921 (tiếng Nga viết tắt là KYTB). Đến năm 1932, Ban này tách ra thành Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa (tiếng Nga viết tắt là NINKP, đọc là Ninkapê), trực thuộc Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản. Tr. 65.

9. Notre Voix (Tiếng nói của chúng ta): tuần báo công khai bằng tiếng Pháp của Đảng Cộng sản Đông Dương, xuất bản tại Hà Nội trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936-1939). Trong thời gian trở lại hoạt động ở Trung Quốc (1938), Nguyễn Ái Quốc đã theo dõi sát sao cuộc vận động thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Dưới danh nghĩa một nhà báo Trung Quốc, Người viết một số bài báo gửi đăng trên tờNotre Voix. Trên các bài báo đó, Người đều ghi: Quế Lâm, ngày… và ký tên P.C. Lin. Thông qua những bài báo này, Người truyền đạt cho Đảng ta những nội dung chính về đường lối, chủ trương của Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản và góp phần chỉ đạo cách mạng trong nước. Tr. 82.

10. Chủ nghĩa Tờrốtxki: một trường phái tư tưởng của những kẻ đi theo đường lối và quan điểm phản động của Tờrốtxki. Đó là khuynh hướng tư tưởng cơ hội chủ nghĩa “tả” khuynh, đối lập với chủ nghĩa Lênin. Trong phong trào công nhân Nga, Tờrốtxki là kẻ luôn luôn chống lại Lênin trên những vấn đề cơ bản của cách mạng như: vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản, tính tất yếu của liên minh công nông, thái độ của Đảng đối với cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, khả năng thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong một nước…

Chủ nghĩa Tờrốtxki có ảnh hưởng đến một số phần tử cơ hội chủ nghĩa trong các Đảng Cộng sản ở các nước. Các Đảng Cộng sản đã tiến hành đấu tranh không khoan nhượng chống bọn tờrốtxkít trên các mặt tư tưởng và chính trị để thực hiện đúng đắn đường lối Mác – Lênin do Quốc tế Cộng sản đề ra.

Ở nước ta, bọn tờrốtxkít được chính quyền thực dân Pháp lợi dụng, đã ra sức khiêu khích và chống phá cách mạng. Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ thái độ của Đảng Cộng sản Đông Dương đối với bọn chúng: “Đối với bọn tờrốtxkít, không thể có một thoả hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị…”. Tr. 86.

11. Việt Nam hưởng ứng Trung Quốc kháng địch hậu viện hội (Hội những người Việt Nam hưởng ứng Trung Quốc chống địch): một tổ chức quần chúng do Việt kiều yêu nước ở Côn Minh lập ra để thu hút các lực lượng yêu nước ủng hộ Trung Quốc kháng chiến chống phát xít Nhật, đồng thời phân hoá những phần tử phản động của Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh hội ở vùng này.

Tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương ở Côn Minh đã lãnh đạo Hội này tiến hành một số công tác tuyên truyền, liên lạc… lấy danh nghĩa công khai của Hội đã được chính quyền Quốc dân Đảng cho phép, để hoạt động cách mạng. Tr. 100.

12. Khởi nghĩa Nam Kỳ: Sống dưới hai tầng áp bức của Pháp và Nhật, nhân dân Việt Nam vô cùng cực khổ. Năm 1940, thực dân Pháp bắt binh lính người Việt đi đánh nhau với quân Thái Lan. Việc đó gây hoang mang và bất bình trong binh lính người Việt Nam và gia đình họ. Phong trào chống chiến tranh, phản đối việc điều ra mặt trận đã lan rộng và sôi nổi trong binh lính người Việt và nhân dân Nam Kỳ. Trước tình hình sôi sục đó, tháng 7-1940, Xứ uỷ Nam Kỳ quyết định khởi nghĩa trước khi xin chỉ thị của Trung ương.

Nhận định rằng cuộc khởi nghĩa đó chưa được chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, chưa có đủ điều kiện khách quan và chủ quan, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 11-1940 đã quyết định đình chỉ cuộc khởi nghĩa và cử đồng chí Phan Đăng Lưu về truyền đạt quyết định của Trung ương. Nhưng lệnh khởi nghĩa đã được phát đi.

Đêm 23-11-1940, cuộc khởi nghĩa đã nổ ra rất anh dũng. Nhiều đồn bốt địch bị hạ, nhiều cầu, cống, đường sá… bị phá, chính quyền địch ở một số xã và quận hoang mang, tan rã. Chính quyền cách mạng những nơi đó được thành lập, đã thực hiện những quyết định dân chủ, bảo vệ trị an, xét xử bọn phản cách mạng… Lá cờ đỏ sao vàng đã xuất hiện lần đầu tiên.

Nhưng sau đó, thực dân Pháp điều động lục quân Pháp và cả lính lê dương từ Bắc Kỳ vào tàn sát rất dã man nhân dân khởi nghĩa.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tuy thất bại, nhưng đã tỏ rõ lòng căm thù sâu sắc của nhân dân ta đối với bọn thực dân Pháp, tinh thần đấu tranh vô cùng anh dũng của quần chúng cách mạng. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ cùng với cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra trước đó ít lâu là những tiếng súng báo hiệu cuộc khởi nghĩa toàn quốc đang đến, nhân dân các dân tộc Đông Dương đã kiên quyết đứng lên dùng bạo lực cách mạng để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức của bọn thực dân và bè lũ tay sai. Tr. 117.

13. Việt Nam độc lập đồng minh hội: Một tổ chức quần chúng do ông Hồ Học Lãm, một chí sĩ yêu nước sống ở Trung Quốc, đứng ra vận động thành lập ở Nam Kinh đầu năm 1936, có đăng ký chính thức với Trung ương Quốc dân Đảng Trung Quốc nhằm tạo danh nghĩa hợp pháp cho hoạt động của những người yêu nước và cách mạng Việt Nam ở Nam Kinh; đồng thời cũng để tranh thủ sự giúp đỡ của Chính phủ Trung Quốc đối với các dân tộc nhỏ yếu theo Di chúc của Tôn Trung Sơn. Tuy nhiên, Hội cũng mới chỉ có cái tên được đăng ký chứ chưa có hoạt động gì trong thực tế.

Cuối năm 1940, Nguyễn Ái Quốc về đến Quảng Tây, lực lượng cách mạng của ta tại đây ngày càng lớn mạnh. Thời gian này, ông Hồ Học Lãm cũng đã chuyển về Quế Lâm chữa bệnh. Để tạo danh nghĩa hoạt động, theo chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, cần tận dụng danh nghĩa hợp pháp của Việt Nam độc lập đồng minh hội (gọi tắt là Việt Minh) đã đăng ký ở Nam Kinh trước đây. Người cho lập ra Biện sự xứ hải ngoại (Văn phòng làm việc) của Việt Nam độc lập đồng minh hội ở Quế Lâm, do ông Hồ Học Lãm làm Chủ nhiệm và đồng chí Phạm Văn Đồng (bí danh Lâm Bá Kiệt) làm Phó chủ nhiệm, để quan hệ với Lý Tế Thâm. Từ đó, tổ chức Việt Nam độc lập đồng minh hội gọi tắt là Việt Minh đã có những hoạt động nổi bật và được biết đến một cách rộng rãi ở hải ngoại.

Đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước chủ toạ Hội nghị Trung ương lần thứ 8, thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, cũng gọi tắt là “Việt Minh”, chỉ đạo xây dựng thí điểm các Hội Cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh ở Cao Bằng, sau đó phát triển ra cả nước, tập hợp lực lượng đoàn kết của toàn dân tộc, dẫn đến thắng lợi lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Như vậy, tuy có sự trùng hợp về tên gọi nhưng giữa Việt Nam độc lập đồng minh hội do ông Hồ Học Lãm lập ra ở Nam Kinh và Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, về thực chất vẫn là hai tổ chức có vai trò lịch sử rất khác nhau. Tr. 118.

14. Việt Nam dân tộc giải phóng uỷ viên hội: Cuối năm 1940, chính quyền Quốc dân Đảng (Trung Quốc) âm mưu chuẩn bị thực hiện chủ trương “Hoa quân nhập Việt” (quân đội của Tưởng Giới Thạch sẽ thay mặt Đồng minh vào Việt Nam sau chiến tranh). Chúng giao cho Trương Bội Công, người Việt Nam sang Trung Quốc và làm việc cho Quốc dân Đảng nhiều năm, giả danh “cách mạng” đứng ra thành lập tổ chức Việt Nam dân tộc giải phóng uỷ viên hội. Tổ chức này, trên danh nghĩa kết nạp những người Việt Nam có tinh thần đấu tranh chống phát xít Nhật giải phóng đất nước, nhưng thực chất đó là một tổ chức làm tay sai cho Quốc dân Đảng Trung Quốc. Nhờ có sự đấu tranh kiên quyết và khôn khéo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương, Trương Bội Công và đồng bọn đã bị lột trần mặt nạ và bị cô lập, chỉ còn là một tổ chức trên danh nghĩa. Tr. 118.

15. Báo Việt Nam độc lập: Cơ quan tuyên truyền của Ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng, do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ở Pác Bó.

Mục đích của tờ báo là “cốt làm cho dân ta biết, biết các việc, biết đoàn kết, đặng đánh Tây, đánh Nhật làm cho Việt Nam độc lập, bình đẳng tự do” (Việt Nam độc lập, số 101 (tức số 1), ngày 1-8-1941). Các bài đăng trên báo Việt Nam độc lập luôn luôn chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chính của dân tộc là phát xít Nhật – Pháp và bọn tay sai, tố cáo những tội ác dã man của địch, kịp thời vạch trần những âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt của chúng trên mọi lĩnh vực. Tờ báo đã cổ động mọi tầng lớp nhân dân tham gia các Hội cứu quốc như Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc… Báo cũng thường xuyên có các bài phân tích sâu sắc, nhạy bén về tình hình và nhiệm vụ cách mạng, giúp cho cán bộ và nhân dân hiểu đúng tình hình và hành động đúng với chủ trương của Đảng.

Trong thời gian hoạt động ở Cao Bằng, mặc dù bận nhiều công việc chung của cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành cho báo Việt Nam độc lập sự chỉ đạo trực tiếp và Người còn tham gia duyệt bài, viết bài, có khi cả việc trình bày, minh hoạ và in báo. Nhiều thơ ca của Người lần đầu tiên in trên báo này và thường không ký tên. Báo Việt Nam độc lập dưới sự chỉ đạo và tham gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ số 1, ngày 1-8-1941 đến tháng 8-1942, Người ra nước ngoài công tác là trên 30 số, 400 bản, mỗi tháng ra 3 số, mỗi số trên 2 trang, khổ nhỏ, in đá. Báo Việt Nam độc lập số 1 đánh số 101 và tiếp theo 102, 103 với ý nghĩa kế tục lịch sử của những tờ báo cách mạng ra đời từ trước đó.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra nước ngoài công tác, đồng chí Phạm Văn Đồng được phân công trực tiếp chỉ đạo tờ báo đến tháng 4-1945.

Lúc đầu, Việt Nam độc lập là của Ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng. Sau này, căn cứ địa cách mạng mở rộng ra hai tỉnh Cao Bằng và Bắc Cạn, báo Việt Nam độc lập trở thành cơ quan của liên tỉnh bộ Việt Minh – Cao Bằng – Bắc Cạn, từ số 229 đến số 286 (tức là từ số 129 đến số 186), rồi liên tỉnh bộ Việt Minh ba tỉnh Cao Bằng – Bắc Cạn – Lạng Sơn, từ số 287 đến số 325 (tức là từ số 187 đến số 225). Sau Cách mạng Tháng Tám, báo Việt Nam độc lập tiếp tục xuất bản ở Cao – Bắc – Lạng, rồi Cao Bằng. Tr. 144.

16. Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945): Cuộc chiến tranh do bọn phát xít Đức, Italia, Nhật gây ra với âm mưu chia lại thị trường thế giới và tiêu diệt Liên Xô. Do tính chất của cuộc chiến tranh và âm mưu của các thế lực phát xít, cuộc chiến tranh nổ ra ở từng vùng có tính chất khác nhau. Từ tháng 5-1939 đến tháng 6-1941 diễn ra chiến tranh giữa nước Đức phát xít với các nước đế quốc; từ tháng 6-1941 đến tháng 8-1945, cuộc chiến tranh chủ yếu diễn ra trên mặt trận Xô – Đức và từ tháng 12-1941 đến tháng 9-1945, cuộc chiến tranh do phát xít Nhật gây ra ở châu Á Thái Bình Dương.

Với quy mô và sự ác liệt của nó, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai cuốn hút 76 nước tuyên bố trong tình trạng chiến tranh, động viên 110 triệu lượt người tham gia vào quân đội, phục vụ chiến tranh, trong đó 60 triệu người bị chết, 90 triệu người bị thương, tàn phế, gây thiệt hại vật chất lên tới 4000 tỷ USD.

Kết quả của cuộc chiến tranh là sự thắng lợi của lực lượng Đồng minh như Liên Xô, Mỹ, Anh, v.v., trong đó Liên Xô đóng vai trò quyết định. Các lực lượng phát xít đã bị tiêu diệt. Liên Xô không những đã giành được thắng lợi vẻ vang trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại (1941-1945) mà còn trực tiếp giải phóng nhân dân nhiều nước châu Âu khỏi tai họa phát xít. Thắng lợi ấy đã tạo điều kiện cho nhiều nước châu Á hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ và tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tr. 152.

17. Đồng minh: Liên minh các nước chống chủ nghĩa phát xít trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), hình thành vào cuối năm 1941 đầu năm 1942.

Tháng 1-1942, tại Oasinhtơn (Mỹ), 26 nước Đồng minh trong đó có Liên Xô, Anh, Mỹ ký chung vào bản Tuyên ngôn chống phát xít xâm lược và bảo đảm trong cuộc chiến tranh này không có sự giảng hoà riêng rẽ. Nhưng mục đích của việc ký Tuyên ngôn đó rất khác nhau. Liên Xô ký Tuyên ngôn này nhằm tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, khôi phục chế độ dân chủ ở châu Âu; còn Mỹ và Anh ký Tuyên ngôn nhằm đánh bại thế lực của Đức và Nhật để xác lập quyền bá chủ thế giới. Về sau, các chính phủ Mỹ và Anh đã phản bội Đồng minh, phá hoại tất cả các điều khoản trong Tuyên ngônTr. 173.

18. Nhật ký trong tù: Tháng 8-1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Cao Bằng sang Trung Quốc với danh nghĩa đại biểu của Việt Nam độc lập đồng minh và Phân bộ quốc tế chống xâm lược của Việt Nam để tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Khi đến Túc Vinh (một thị trấn thuộc huyện Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc), Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam. Trong hơn một năm, Người bị giam trong khoảng 30 nhà tù của 13 huyện ở tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian này, Người đã ghi Nhật ký trong tù, bằng chữ Hán.

Tập Nhật ký gồm 134 bài, có số thứ tự trước mỗi bài, được ghi vào một cuốn sổ tay, bìa màu xanh. Trang đầu có vẽ hình hai cánh tay bị xích kèm theo bài thơ không đề với bốn câu thơ:

Thân thể ở trong lao,

Tinh thần ở ngoài lao;

Muốn nên sự nghiệp lớn,

Tinh thần càng phải cao.

Số thứ tự và tên các bài thơ trong tập này là theo Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia xuất bản lần thứ hai, Hà Nội, tập 3, 1995 đánh số 1 từ bài không số. Vì vậy, số thứ tự các bài thơ trong tập sách này so với sách Hồ Chí Minh: Nhật ký trong tù, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1990, cao hơn 1 số. Tr.179.

19. Chiến thuật du kích: Tác phẩm đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về quân sự. Hiện nay ngoài cuốn Chiến thuật du kích (quyển II) do Việt Minh xuất bản năm 1942 còn có cuốn Chiến thuật du kích do Việt Minh xuất bản tháng 5-1944.

Chiến thuật du kích được viết ngắn gọn, giản dị nhưng đầy đủ, phù hợp với việc huấn luyện quân sự và điều kiện hoạt động của thời kỳ này. Tr. 188.

20. Liên hợp quốc: một tổ chức quốc tế được thành lập tại Hội nghị của đại diện 51 nước họp tại Xan Phranxítxcô (Mỹ), từ ngày 25 tháng 4 đến ngày 26-6-1945 trên cơ sở liên minh tự nguyện của các nước có chủ quyền, nhằm giữ gìn hoà bình và phát triển sự hợp tác giữa các nước.

Theo Hiến chương của Liên hợp quốc, nhiệm vụ của Liên hợp quốc là giữ gìn hoà bình và an ninh bằng cách áp dụng những biện pháp chung nhằm ngăn ngừa và loại trừ những mối đe doạ với hoà bình và chống lại những hành động xâm lược, phát triển quan hệ thân thiện giữa các dân tộc và thực hiện sự hợp tác nhằm giải quyết những vấn đề quốc tế có tính chất kinh tế, xã hội, văn hoá, nhân đạo cũng như phát triển sự tôn trọng nhân quyền và quyền tự do căn bản của con người, không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, tiếng nói và tín ngưỡng. Liên hợp quốc thành lập theo nguyên tắc bình đẳng đối với tất cả mọi thành viên và không can thiệp vào công việc nội bộ của bất cứ nước nào.

Những cơ quan chủ yếu của Liên hợp quốc là Đại hội đồng, Hội đồng bảo an, Hội đồng kinh tế và xã hội, Hội đồng bảo trợ, Toà án quốc tế và Ban thư ký.

Năm 1977, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập tổ chức quốc tế này. Việt Nam cùng các nước yêu chuộng hoà bình đã và đang đấu tranh để bảo vệ những nguyên tắc dân chủ của Liên hợp quốc. Tr. 241.

21. Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ: Trong cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ chống chủ nghĩa thực dân Anh (1775-1781), đã tổ chức các cuộc đại hội đại biểu để thảo luận những biện pháp chống bọn thực dân Anh. Đại hội lần thứ hai họp ở Philađenphia năm 1775 đã cử ra một uỷ ban do Giépphécxơn làm Chủ tịch để thảo ra một bản nghị quyết tuyên bố các xứ thuộc địa là những nước tự do độc lập, tách khỏi phạm vi, quyền lực của Anh hoàng. Bản dự án nghị quyết này được đại biểu 13 bang thông qua ngày 4-7-1776 và trở thành Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ.

Bản Tuyên ngôn Độc lập này thể hiện nguyện vọng của các dân tộc thuộc địa ở Bắc Mỹ đấu tranh để giành lại độc lập, tự do cho nhân dân Mỹ lúc bấy giờ.

Sau khi giành được độc lập, giai cấp tư sản Mỹ lên nắm chính quyền đã phản bội quyền lợi của nhân dân, thi hành chính sách phân biệt chủng tộc, áp bức bóc lột nhân dân trong nước, đồng thời xâm lược các nước khác. Chúng đã thực hiện những thủ đoạn tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, áp dụng chính sách thâm độc và nham hiểm của chủ nghĩa thực dân mới, thống trị về mặt kinh tế và lũng đoạn về chính trị nhằm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới, chà đạp trắng trợn lên những nguyên tắc tự do, bình đẳng đã ghi trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ.

Vận dụng tinh thần, tư tưởng tự do, bình đẳng – tiêu biểu cho nguyện vọng độc lập, tự do của nhân dân Mỹ, khi soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích một câu trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, khẳng định quyền bình đẳng, tự do và độc lập của nhân dân Việt Nam.
Tr. 250.


 

BẢN CHỈ DẪN TÊN NGƯỜI

C

CHENNAULT, Claire Lee (Sênôn) (1890 – 1958): sinh tại Texas.

Năm 1920, vào không quân Mỹ với quân hàm trung uý. Nổi tiếng về kỹ thuật bay lão luyện và táo bạo, cầm đầu phi đội được mệnh danh là “Ba người trên một hình thang bay” trong thập kỷ 30 của thế kỷ XX. Năm 1937, bị buộc từ chức vì tai điếc, sang Trung Quốc làm cố vấn cho không lực Trung Hoa. Năm 1941, tổ chức một phi đoàn tình nguyện người Mỹ ở Trung Quốc – phi đoàn Phi hổ (Cọp bay), tham gia chống Nhật. Năm 1942, Mỹ tham chiến, Sênôn được gọi tái ngũ phục vụ không quân Mỹ với quân hàm chuẩn tướng, được chỉ huy không lực cơ động ở Trung Hoa, và năm 1943, được thăng thiếu tướng, là Tư lệnh phi đoàn 14 không quân Mỹ.

Sênôn rời Bộ tư lệnh không quân ngày 15-7-1945 và đến ngày 31 tháng 10 năm đó ra khỏi không quân. Trở lại Trung Quốc năm 1946, Sênôn tổ chức ngành hàng không dân dụng cho Tưởng Giới Thạch và tiếp tục điều khiển công ty ở Đài Loan cho đến tháng 1-1949, năm 1958 mất tại Niu Oócliân (New Orleans).

CƯỜNG ĐỂ (1882-1951): tên thật là Nguyễn Phúc Đản, cháu đích tôn của Hoàng Thái tử Nguyễn Phúc Cảnh (con Vua Gia Long), tước Kỳ ngoại hầu. Được Phan Bội Châu và Nguyễn Hàm đưa lên làm Hội trưởng Hội Duy tân, thành lập cuối năm 1904 tại Quảng Nam với tôn chỉ đấu tranh chống Pháp. Tháng 1-1907, sang Nhật học tại Trường võ bị Chấn Vũ, sau chuyển sang học tại Trường Đông Á Đồng văn. Tháng 2-1909, ông bị Nhật trục xuất. Tháng 12-1912, là Hội trưởng Việt Nam Quang phục hội do Phan Bội Châu thành lập tại Quảng Đông, Trung Quốc, kiêm Bộ trưởng Bộ Tổng vụ của Hội. Ông đã sang Đức năm 1913 và sang Anh năm 1914. Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, ông từ Anh về Trung Quốc và ở đó đến năm 1919, sau đó lại sang Nhật. Từ năm 1923, ông được Nhật trực tiếp nuôi dưỡng. Cuối năm 1931, nhận được tin Nguyễn Ái Quốc bị giam và ốm tại Hồng Kông, Cường Để đã gửi thư và một số tiền giúp Nguyễn Ái Quốc chữa bệnh.

Tháng 12 – 1939, Cường Để thành lập tổ chức Việt Nam Phục quốc đồng minh hội (Hội phục quốc), đặt bản doanh tại Đài Loan. Ngày 11-1-1944, được Nhật và giáo phái Cao Đài hỗ trợ, ông phát đi bức thông điệp sẽ trở về Tổ quốc. Sau vụ Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945, Cường Để bị Nhật bỏ rơi và sống lưu vong tại Nhật đến khi mất.

D

DIỆP KIẾM ANH (1897 – 1986): người Quảng Đông. Năm 1917, học tại Vân Nam giảng võ đường. Sau khi tốt nghiệp, đi theo Tôn Trung Sơn. Năm 1924, tham gia sáng lập Trường Sĩ quan lục quân Hoàng Phố.

Tháng 7-1927, bí mật tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 11-1927, cùng Trương Thái Lôi, Diệp Đĩnh lãnh đạo Quảng Châu khởi nghĩa, là Phó tổng chỉ huy Hồng quân công – nông. Từ năm 1928 đến năm 1930, học tập ở Liên Xô. Năm 1931, đến khu Xôviết Trung ương. Năm 1934, tham gia Vạn lý trường chinh.

Là Nguyên soái, từng giữ chức Phó chủ tịch Uỷ ban quân sự cách mạng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó chủ tịch và Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.

Là người bạn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông từng dẫn đầu đoàn đại biểu quân sự Trung Quốc sang thăm Việt Nam năm 1960.

E

ÊRENBUA, Ilia (1891-1967): nhà văn ưu tú, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Liên Xô, là đại biểu Xôviết tối cao Liên Xô khoá III và khoá IV. Trong thời kỳ cách mạng 1905-1907, I. Êrenbua tham gia tổ chức bí mật của Đảng Bônsơvích; năm 1908 bị bắt, bị chính quyền Nga hoàng kết án, buộc phải sang Pháp sống lưu vong. Từ năm 1915 đến năm 1917, làm phóng viên và viết ký sự về chiến tranh cho hai tờ báo Nga ở Mátxcơva và Pêtơrôgrát. Năm 1917, trở về nước Nga. Từ năm 1918 đến năm 1924, cho ra nhiều tập thơ và tiểu thuyết tỏ rõ thái độ phê phán và phủ định đối với xã hội châu Âu và chiến tranh đế quốc, đã được Lênin đánh giá tốt. Cuối những năm 20 và đầu những năm 30 của thế
kỷ XX, ông đã thâm nhập vào cuộc sống, miêu tả công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Xôviết. Những năm 1936-1939, I. Êrenbua sống và hoạt động ở Tây Ban Nha. Các tác phẩm nổi tiếng như Pari sụp đổ (Giải thưởng quốc gia năm 1942), Bão táp (Giải thưởng quốc gia năm 1948),
 v.v. là những bức tranh tổng hợp của nhiều nước trong Chiến tranh thế giới thứ hai, ca ngợi tinh thần đấu tranh anh dũng của nhân dân Xôviết và khơi dậy lòng căm thù đối với chủ nghĩa phát xít. Êrenbua còn là một chiến sĩ hoà bình nổi tiếng thế giới được trao tặng giải thưởng Hoà bình quốc tế Lênin về công lao “củng cố hoà bình giữa các dân tộc”. Ông mất ở Mátxcơva năm 1967.

G

GIENKIN PH. C (Jenkin F.C.): Luật sư Ph. C. Gienkin tới Hồng Kông năm 1912. Ông bào chữa thành công nhiều vụ án nổi tiếng ở Hồng Kông.

Những năm 1930-1933, luật sư Ph. C. Gienkin được luật sư Ph. H. Lôdơbi uỷ nhiệm bào chữa cho Tống Văn Sơ (Nguyễn Ái Quốc) lúc bị bắt giam ở Hồng Kông trước toà án Hồng Kông. Tại phiên toà thứ 9, luật sư Ph. C. Gienkin thay mặt Nguyễn Ái Quốc tuyên bố kháng án lên Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh. Ông sống giản dị và được nhiều đồng nghiệp, bầu bạn quý mến.

H

HÍTLE A. (Adolf Hitler) (1889-1945): nhà hoạt động chính trị người Đức gốc Áo, Quốc trưởng Đức trong thời kỳ nước Đức phát xít, tội phạm chiến tranh số một trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sinh ra ở Braonao (Áo), trong một gia đình nông dân và viên chức tiểu tư sản (cha làm viên chức hải quan). Mồ côi cha từ năm 14 tuổi. Sau khi mẹ chết (12-1908), Hítle sống lang thang ở Viên (Áo). Tháng 8-1914 đi lính, hai lần bị thương và được tặng thưởng “Chữ thập sắt”. Tháng 9-1919, gia nhập một nhóm chính trị ở Muynkhen (Muchen, cg. Muyních). Năm 1921, thành lập Đảng Công nhân quốc gia Xã hội Đức (tức Đức Quốc xã). Cuốn sách Cuộc chiến đấu của tôi (1924) tuyên truyền tư tưởng chiến tranh, âm mưu lập lại trật tự mới, bá chủ thế giới. Hítle chủ mưu đốt toà nhà Quốc hội nhằm vu cho những người cộng sản là thủ phạm, để lấy cớ tiến hành cuộc khủng bố Đảng Cộng sản Đức và người Do Thái, thiết lập nền thống trị độc tài của Đảng Quốc xã. Sau khi Hinđenbua (P. von Hindenburg) chết (1934), Hítle được cử làm Quốc trưởng. Từ đó, Hítle ráo riết chuẩn bị cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (9-1939 – 5-1945). Ngày 30-4-1945, quân đội Liên Xô đánh bại quân đội phát xít Đức, Hítle tự sát.

HOÀNG SÂM (1915 – 1968): Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, tên thật là Trần Văn Kỳ, quê ở huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình. Tham gia cách mạng từ năm 1927, năm 1942 là Tỉnh uỷ viên tỉnh Bắc Cạn. Năm 1944, khi Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân thành lập, được cử làm Trung đội trưởng và sau đó là Đại đội trưởng. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, là Uỷ viên Quân uỷ hội và được giao phụ trách Quân khu II. Những năm 1946-1950, là Khu trưởng Khu II, chỉ huy Mặt trận Tây Tiến. Từ năm 1951, là phái viên Bộ Quốc phòng trong các chiến dịch tại Đại đoàn 304, 312. Từ năm 1953, là Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304, Chỉ huy trưởng Mặt trận Trung Lào, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 320. Năm 1955, làm Phó Chủ tịch Uỷ ban Quân chính Hải Phòng. Trong kháng chiến chống Mỹ, là Tư lệnh quân khu Trị Thiên. Hy sinh năm 1968. Đại biểu Quốc hội khoá II, III. Được tặng Huân chương Quân công hạng Nhất và nhiều Huân chương cao quý khác, được truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh (1999).

HOÀNG VĂN THÁI (1915-1986): tên thật là Hoàng Văn Xiêm, nhà hoạt động cách mạng và quân sự Việt Nam, Đại tướng (1980), quê ở Tân An, Tiền Hải, Thái Bình. Tham gia cách mạng từ năm 1936, đảng viên Đảng Cộng sản (1936); tháng 9-1940, bị thực dân Pháp bắt giam một thời gian. Năm 1941, học quân sự ở Trung Quốc; tháng 12-1944, tham gia Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, phụ trách công tác tham mưu, trinh sát. Tháng 3 đến tháng 7-1945, chỉ huy cánh quân cướp chính quyền ở Chợ Đồn, phụ trách Trường Quân chính kháng Nhật ở Tân Trào. Tháng 8-1945, tham gia cướp chính quyền ở Lục An Châu và đưa quân về phối hợp cướp chính quyền ở Tuyên Quang. Tháng 10-1945, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao tổ chức Bộ Tổng tham mưu. Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (1945-1953). Trong kháng chiến chống Pháp, làm Tham mưu trưởng các chiến dịch lớn như Biên giới (1950), Điện Biên Phủ (1954). Năm 1958, Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn; năm 1960, kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục Thể thao của Chính phủ. Trong Kháng chiến chống Mỹ, đã trải qua các chức vụ như: Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quân khu V; năm 1966, Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam; những năm 1967-1973, Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam; Phó Bí thư Quân uỷ miền Nam, chỉ đạo, chỉ huy nhiều chiến dịch lớn ở Nam Bộ. Năm 1974, Thứ trưởng Quốc phòng, Phó Tổng tham mưu trưởng thứ nhất, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương. Tác giả của một số tác phẩm chính trị và lịch sử quân sự có giá trị về lịch sử quân sự hiện đại. Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khoá II, IV, V; đại biểu Quốc hội khoá VII. Được tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Hai, hạng Ba; Huân chương Chiến thắng hạng Nhất và nhiều huân chương cao quý khác.

HOÀNG VĂN THỤ (1906-1944): người dân tộc Tày, quê ở huyện Văn Uyên (nay là huyện Văn Lãng), tỉnh Lạng Sơn. Tham gia cách mạng từ năm 1926. Bỏ học, sang Trung Quốc, gia nhập đội quân Bắc phạt, được phong trung uý.

Năm 1932, làm ở Sở tu giới (sửa chữa vũ khí) Long Châu. Tại đây, bắt liên lạc được với Lê Hồng Phong rồi trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1933.

Năm 1935, về nước, hoạt động tại Việt Bắc, làm Chủ bút báo Tranh đấu, cơ quan ngôn luận của Mặt trận phản đế Việt Bắc, viết báo Lao động, lãnh đạo phong trào Mặt trận dân chủ ở Bắc Kỳ.

Khi Xứ uỷ Bắc Kỳ lập lại, được bổ sung vào Xứ uỷ rồi vào Thường vụ, khi Lương Khánh Thiện bị bắt, được cử làm Bí thư Xứ uỷ (khoảng năm 1939).

Năm 1940, được cử vào Trung ương và tại Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (tháng 4-1940) được cử vào Ban Thường vụ Trung ương. Đầu năm 1941, được Trung ương cử ra chắp nối liên lạc với Quốc tế Cộng sản và bộ phận hải ngoại của Đảng. Tháng 1-1941, gặp Nguyễn Ái Quốc tại Tân Khư (Quảng Tây, Trung Quốc).

Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8, phụ trách công tác binh vận, là một trong những người sáng lập ra báo Cờ giải phóng.

Tháng 8-1943, bị thực dân Pháp bắt, và bị xử bắn ngày 24-5-1944, tại Bạch Mai.

HOÀNG QUỐC VIỆT (1905-1992): tên thật là Hạ Bá Cang, quê ở Đáp Cầu, Võ Giàng, Bắc Ninh. Tham gia cách mạng từ năm 1925 và gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1928. Năm 1930, là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Đông Dương do Hội nghị hợp nhất cử ra. Năm 1937, là Thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ. Từ tháng 5-1941, là Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1945, là Uỷ viên Thường vụ Trung ương. Từ năm 1951 đến năm 1957, là Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và là Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam. Năm 1960, là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 1976, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1977, được bầu làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 1983, là Chủ tịch danh dự của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

HỒ HỌC LÃM: tên thật là Hồ Xuân Lan, hiệu là Hinh Sơn (1883-1943), quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An, là cháu Hồ Bá Ôn và là chú của Hồ Tùng Mậu. Ông Lãm có tinh thần yêu nước, xuất dương từ phong trào Đông Du, đã tốt nghiệp khoá II Học viện Quân sự Bảo Định, đã từng làm giáo viên Trường Quân sự Hoàng Phố, và làm việc trong quân đội Trung Quốc (Quốc dân Đảng). Ông là người sáng lập của Việt Nam độc lập đồng minh hội, tổ chức ở Nam Kinh năm 1936. Ông Lãm đã tiếp xúc với Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1930. Có công lớn trong việc giúp đỡ các nhà cách mạng Việt Nam tại Trung Quốc. Ông mất năm 1943 tại Liễu Châu.

HỒ TÙNG MẬU (1896-1951): tên thật là Hồ Bá Cự, quê ở huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ lúc còn trẻ và đã nhiều năm hoạt động ở Thái Lan và Trung Quốc. Năm 1923, cùng Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng Thái lập ra nhóm Tâm tâm xã.

Ông là một trong những người đầu tiên tham gia tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam – Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên – và đã tham dự các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng ở Quảng Châu, do Nguyễn Ái Quốc tổ chức.

Ông còn là người tích cực liên hệ với Hội quốc tế Cứu tế đỏ và vận động luật sư Lôdơbi đấu tranh về mặt pháp lý đòi chính quyền Anh ở Hồng Kông phải trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc khi Người bị chúng bắt giam trái phép tại Hồng Kông (1931). Bị trục xuất khỏi tô giới Anh, ông bị thực dân Pháp bắt tháng 6-1931 đưa về nước, kết án tử hình, sau giảm xuống chung thân. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được Đảng và Nhà nước ta giao giữ nhiều chức vụ quan trọng như Chủ tịch Uỷ ban hành chính kháng chiến Liên khu V (1946), Tổng thanh tra Chính phủ (1947). Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Hồ Tùng Mậu đã hy sinh trên đường đi công tác tại Thanh Hoá ngày 23-7-1951. Ông được Đảng và Nhà nước ta truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

L

LÊ QUẢNG BA (1914-1988): tên thật là Đàm Văn Mông, nhà hoạt động cách mạng và quân sự Việt Nam, Thiếu tướng, người dân tộc Tày, quê Cao Bằng. Tham gia cách mạng từ năm 1935. Đảng viên Đảng Cộng sản (1936), phụ trách đội quân du kích đầu tiên ở Cao Bằng (1941). Từ năm 1944 đến năm 1945, Uỷ viên quân sự liên tỉnh Cao – Bắc – Lạng, phái viên Kỳ bộ Việt Minh ở Cao – Bắc – Lạng. Trong kháng chiến chống Pháp, lần lượt giữ các chức vụ: Khu trưởng Khu Hà Nội, Khu trưởng Chiến khu 12 và Chỉ huy trưởng Chiến dịch Thập vạn đại sơn. Từ tháng 12-1949, Tư lệnh Liên khu Việt Bắc. Tháng 5-1951, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 316, tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Từ năm 1960, làm Trưởng Ban Dân tộc Trung ương và đảm nhiệm nhiều trọng trách khác, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khoá III, đại biểu Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI. Được tặng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân chương cao quý khác.

LÊ THIẾT HÙNG (1908-1986): tên thật là Lê Văn Nghiệm, Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1948), quê ở xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925). Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930. Năm 1940, sau khi tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc), về nước hoạt động ở căn cứ địa cách mạng Cao – Bắc – Lạng, tổ chức và làm chính trị viên Đội vũ trang đặc biệt, Giám đốc Trường Quân sự Cao Bằng. Tháng 8-1945, chỉ huy lực lượng vũ trang giành chính quyền ở Thất Khê – Na Sầm – Đồng Đăng. Sau Cách mạng Tháng Tám, làm Khu trưởng Khu IV, Tổng chỉ huy tiếp phòng quân (3-1945); Tổng thanh tra quân đội, chỉ huy mặt trận Bắc Cạn – Tuyên Quang; Hiệu trưởng Trường Bổ túc cán bộ Quân đội trung cấp (1947 – 1950); Cục trưởng Cục Quân huấn; Hiệu trưởng Trường Lục quân Việt Nam (1950-1954); Tư lệnh pháo binh Việt Nam (1954-1963); Đại sứ Việt Nam tại Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (từ năm 1963); Phó Trưởng Ban Đối ngoại của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (5-1970). Được tặng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân chương cao quý khác.

LÊ HỒNG PHONG (1902-1942): tên thật là Lê Huy Doãn, sinh ra trong một gia đình nông dân ở làng Đông Thôn, tổng Thông Lạng (nay là xóm 10, xã Hưng Thông), huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.

Năm 1924, Lê Hồng Phong tham gia nhóm Tâm tâm xã, tham gia lớp huấn luyện Quảng Châu do Nguyễn Ái Quốc phụ trách và gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Sau khi tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố và Trường Hàng không Quảng Châu, được Chính phủ Quảng Châu và Nguyễn Ái Quốc giới thiệu đi học tại Liên Xô. Tại Liên Xô, Lê Hồng Phong đã học Trường Lý luận quân sự không quân Lêningrát, sau đó học Trường đào tạo phi công Bôrítxgơlépxcơ và từ cuối năm 1928 đến năm 1931 được chuyển đến học và tốt nghiệp Trường đại học Phương Đông (khoá 3 năm).

Cuối năm 1931, Lê Hồng Phong được về nước để tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng với nhiệm vụ trước mắt là khôi phục lại hệ thống tổ chức của Đảng, và đầu những năm 30 của thế kỷ XX, trên thực tế, đồng chí đã trở thành người đứng đầu Ban Chỉ huy ở ngoài.

Tháng 3-1935, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Ma Cao (Trung Quốc) bầu Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư của Đảng.

Lê Hồng Phong là Trưởng đoàn đại biểu Đảng ta tham dự Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva (1935) và được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.

Tháng 7-1936, Lê Hồng Phong triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng họp tại Thượng Hải (Trung Quốc) để bàn về chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng, mở đầu thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam, thời kỳ Mặt trận dân chủ (1936-1939). Đồng chí nhiều lần bị thực dân Pháp bắt và chế độ nhà tù hà khắc của chúng đã giết hại đồng chí ngày 5-9-1942 tại nhà tù Côn Đảo.

LÔDƠBI, Ph. H (Loseby, Francis Henry) (1883-1967): Luật sư Ph. H. Lôdơbi sinh tại Anh trong một gia đình có truyền thống về luật. Ông nội và bố đều là luật sư. Sau khi tốt nghiệp luật, Ph. H. Lôdơbi làm luật sư trong quân đội Anh. Năm 1926, ông sang Hồng Kông làm việc trong Văn phòng luật sư Rớtxơ và Co (RUSS & Co). Năm 1928, ông mua văn phòng này. Năm 1931, ông là cố vấn luật bào chữa thành công trong vụ án Tống Văn Sơ (Nguyễn Ái Quốc) – một vụ án nổi tiếng ở Hồng Kông.

Đầu năm 1960, theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, luật sư Ph. H. Lôdơbi cùng phu nhân và con gái đã sang thăm Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa gia đình luật sư thăm nhiều nơi, tặng quà, ảnh kỷ niệm cho gia đình luật sư. Năm 1967, biết tin luật sư Ph. H. Lôdơbi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua cơ quan Đại diện thương mại Việt Nam tại Hồng Kông đã gửi vòng hoa viếng và căn dặn trên băng tang của vòng hoa chỉ ghi “Hồ Chí Minh”. Năm 1969, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, bà Lôdơbi và con gái đã gửi điện chia buồn.

LÝ TẾ THÂM: một lãnh tụ của Hội đồng cách mạng Quốc dân Đảng Trung Quốc. Sau tháng 10-1949, là Phó chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Chức vụ chính thức ở Quế Lâm là Chánh Văn phòng Quế Lâm của Hội đồng Quân sự Trung Quốc.

LÝ PHÚ XUÂN (1900-1975): người Trường Sa, Hồ Nam (Trung Quốc). Năm 1919, sang Pháp tham gia phong trào “Cần công kiệm học”. Năm 1922, gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Là một trong những người lãnh đạo Tổng bộ tổ chức của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở châu Âu. Năm 1925, về nước. Là đại diện của Đảng trong Quân đoàn 2 Bắc phạt, kiêm Chủ nhiệm Ban chính trị, quyền Bí thư Tỉnh uỷ Giang Tây. Sau làm Trưởng ban Tuyên truyền và quyền Bí thư tỉnh Quảng Đông.

Đầu năm 1930, khi biết tin Nguyễn Ái Quốc đến Hồng Kông tổ chức Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Lý Phú Xuân đã đến thăm Người và tỏ ý rất vui mừng đón nhận sự kiện quan trọng của cách mạng Việt Nam. Năm 1931, lên căn cứ địa cách mạng Trung ương, phụ trách Bí thư Tỉnh uỷ Giang Tây.

Trong thời kỳ chiến tranh kháng Nhật, làm Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Trưởng Ban Tài chính Kinh tế Trung ương, Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương. Trong thời kỳ chiến tranh giải phóng, làm Phó Chủ tịch Chính phủ nhân dân Đông Bắc, Phó chính uỷ quân khu Đông Bắc.

Sau ngày thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, đồng chí đảm nhận nhiều chức vụ: Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế Tài chính Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Tổng lý Quốc vụ viện. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 5 (khoá VI) Đảng Cộng sản Trung Quốc, được bầu làm Uỷ viên Trung ương dự khuyết. Từ Đại hội VII đến Đại hội X, là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ nhất (khoá VIII), là Uỷ viên Bộ Chính trị. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 5 (khoá VIII), là Bí thư Ban Bí thư Trung ương; Hội nghị Trung ương 11 (khoá VIII) đã bầu đồng chí làm Uỷ viên Thường trực Bộ Chính trị.

M

MÁCTY, Ăngđơrê (1886-1956): Nhà hoạt động chính trị nổi tiếng của Đảng Cộng sản Pháp, người đã tham gia tổ chức và lãnh đạo cuộc phản chiến của hải quân Pháp trên chiến hạm Phơrăngxơ (France), khi được điều đến Biển Đen tham gia cuộc chiến tranh can thiệp của 14 nước đế quốc nhằm chống lại cuộc Cách mạng Nga vào năm 1919; được mệnh danh là “Anh hùng Hắc Hải”, được hải quân Liên Xô lấy tên ông đặt cho một chiến hạm của mình.

Ông gia nhập Đảng Cộng sản năm 1928, sau đó trở thành một trong những nhà lãnh đạo nổi tiếng của Đảng Cộng sản Pháp lúc bấy giờ.

Tại Đại hội VII (1935) của Quốc tế Cộng sản, ông được bầu vào Ban Chấp hành và Ban Bí thư Quốc tế Cộng sản.

Năm 1952, ông bị đưa ra khỏi Đảng Cộng sản Pháp. Ông qua đời năm 1956, trước khi được khôi phục lại đảng tịch.

N

NGUYỄN LƯƠNG BẰNG (1904-1979): tức Sao Đỏ. Quê ở xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Khi lớn lên, làm công nhân tàu biển. Năm 1925, được gặp Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (Trung Quốc) và bắt đầu hoạt động cách mạng và được Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên cử về nước hoạt động. Năm 1928, từ Hải Phòng, được tổ chức phái đi công tác tại Hồng Kông, Quảng Châu, Thượng Hải. Ông gia nhập nhóm cộng sản đầu tiên của người Việt Nam ở Trung Quốc.

Năm 1931, bị mật thám Pháp bắt đưa về nước và bị kết án 20 năm tù khổ sai. Năm 1932, vượt ngục và tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1933, lại bị thực dân Pháp bắt, bị kết án tù chung thân và đày đi Sơn La. Năm 1943, lại vượt ngục và trở về hoạt động cách mạng. Năm 1944, đồng chí được Đảng chỉ định làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách công tác tài chính và binh vận. Năm 1945, tại Hội nghị toàn quốc của Đảng, đồng chí được bầu làm Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tại Đại hội quốc dân Tân Trào, được bầu vào Uỷ ban dân tộc giải phóng toàn quốc. Từ sau Cách mạng Tháng Tám, đồng chí liên tục là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và từ Đại hội III đến Đại hội IV, là Trưởng Ban Kiểm tra Trung ương Đảng.

Đồng chí lần lượt giữ các chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam; Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam tại Liên Xô; Tổng thanh tra của Chính phủ. Tại Quốc hội khoá III, kỳ họp thứ năm, đồng chí được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau khi nước nhà thống nhất, Quốc hội khoá VI cử đồng chí làm Phó Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

NGUYỄN THỊ MINH KHAI (1910 – 1941): còn có tên là Vịnh, con một viên chức xe lửa ở thành phố Vinh, Nghệ An. Năm 1927, Nguyễn Thị Minh Khai tham gia tổ chức Hội Hưng Nam (tiền thân của Tân Việt cách mạng Đảng). Đầu năm 1930, Nguyễn Thị Minh Khai được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng. Năm 1930, Nguyễn Thị Minh Khai được cử sang công tác tại Văn phòng chi nhánh Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản (trụ sở tại Hồng Kông, Trung Quốc).

Tháng 7-1935, đồng chí là thành viên trong đoàn đại biểu do Đảng ta cử đi Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva. Tại Đại hội, với biệt danh Phan Lan, đồng chí đã đọc bản tham luận về vai trò của phụ nữ Đông Dương trong cuộc đấu tranh cách mạng.

Về nước, đồng chí được cử vào Xứ uỷ Nam Kỳ và trực tiếp làm Bí thư Thành uỷ Sài Gòn – Chợ Lớn.

Ngày 30-7-1940, Nguyễn Thị Minh Khai bị thực dân Pháp bắt và giết hại vào ngày 26-8-1941.

NGUYỄN HẢI THẦN (1878-1959): tên thật là Vũ Hải Thu, quê ở Đại Từ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông cũ. Năm 1905, theo Phan Bội Châu sang Trung Quốc, đã theo học các Trường võ bị Hoàng Phố, Hồ Nam, Thiều Quang, vốn là thành viên Việt Nam Quang phục hội sau là đảng viên Đại Việt, tham gia quân đội Quốc dân Đảng, được cử làm liên trưởng (tương đương như đại đội trưởng) kiêm tri huyện. Sau khi Phan Bội Châu bị bắt, đưa về nước, Nguyễn Hải Thần tự coi mình là người kế tục của Phan Bội Châu ở Quảng Châu.

Năm 1931, Nguyễn Hải Thần về Quảng Châu mở cửa hàng xem số tử vi. Sau đó được Tưởng tập hợp cùng Vũ Hồng Khanh và một số người có tư tưởng chống Cộng lập ra Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Năm 1945, Nguyễn Hải Thần theo đoàn quân của Tiêu Văn về Việt Nam.

Để thực hiện sách lược tạm hoà hoãn với quân Tưởng nhằm tập trung lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ, ngày 1-1-1946, Nguyễn Hải Thần được cử giữ chức Phó chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và sau đó được bổ sung vào Quốc hội không qua bầu cử và giữ chức Phó chủ tịch Chính phủ liên hiệp chính thức.

Sau khi quân Tưởng rút về Trung Quốc, Nguyễn Hải Thần bỏ trốn theo quân Tưởng về Nam Kinh. Năm 1947, Nguyễn Hải Thần lại về Quảng Châu tiếp tục mở cửa hàng tử vi và sống ở Trung Quốc cho đến khi qua đời (1959).

NGUYỄN TƯỜNG TAM (1905-1963): tức Nhất Linh, quê gốc ở Quảng Nam. Nguyễn Tường Tam là người cầm đầu nhóm Tự lực văn đoàn, Chủ nhiệm báo Phong hoá và Ngày nay. Năm 1940, đứng ra lập đảng Đại Việt Dân chính thân Nhật. Do sách lược của Chính phủ ta tạm thời hoà hoãn với Tưởng, tháng 3-1946, Nguyễn Tường Tam được bổ sung vào Quốc hội không thông qua bầu cử và giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp quốc dân. Được cử làm Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ đi dự Hội nghị Đà Lạt (16-4-1946) và thành viên trong đoàn đại biểu Chính phủ ta dự Hội nghị Phôngtennơblô. Nhưng Nguyễn Tường Tam đã bỏ nhiệm vụ. Sau đó theo Vũ Hồng Khanh đi Vân Nam (Trung Quốc) rồi tiếp tục làm tay sai cho thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ. Chết năm 1963 tại Sài Gòn.

P

PHẠM VĂN ĐỒNG (1906-2000): quê xã Đức Tây, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Tham gia phong trào học sinh, sinh viên để tang chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh và bị đuổi học. Năm 1926, dự lớp huấn luyện chính trị do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức tại Quảng Châu. Năm 1927, về hoạt động ở Nam Kỳ và được cử vào kỳ bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1929, bị bắt và bị kết án 10 năm tù, đày đi Côn Đảo. Năm 1936, được trả lại tự do, ra hoạt động công khai tại Hà Nội. Năm 1940-1941, hoạt động tại miền Nam Trung Quốc, sau đó trở về nước tham gia tổ chức xây dựng căn cứ địa cách mạng Cao – Bắc – Lạng.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, được cử vào Chính phủ lâm thời, làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, được bầu vào Quốc hội liên tục từ khoá I đến khoá VII.

Từ năm 1947, được cử giữ nhiều trọng trách: Đại diện Chính phủ tại Nam Trung Bộ, Phó Thủ tướng Chính phủ (1949), rồi Thủ tướng Chính phủ (1955), sau đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đến năm 1987. Ông là Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ ta tham gia các Hội nghị Phôngtennơblô (1946), Hội nghị Giơnevơ (1954), Hội nghị Băngđung (1955) và nhiều Hội nghị quốc tế khác.

Ông là Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng (1947), Uỷ viên chính thức (1949). Từ năm 1951 đến năm 1986, ông liên tục được bầu là Uỷ viên Trung ương Đảng, Uỷ viên Bộ Chính trị. Từ năm 1987, là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

PHÙNG CHÍ KIÊN (1901-1941): tên thật là Nguyễn Vỹ, quê ở làng Mỹ Quang Thượng, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Năm 1926, sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức và gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, vào học Trường Quân sự Hoàng Phố, tham gia Quảng Châu Công xã (12-12-1927). Năm 1931, được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang Liên Xô học Trường đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Năm 1934, được Quốc tế Cộng sản cử về hoạt động tại Hồng Kông, tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài.

Năm 1935, dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng tại Ma Cao (Trung Quốc), được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương. Năm 1936, về nước hoạt động, chỉ đạo phong trào cách mạng ở Sài Gòn. Được ít lâu, Trung ương Đảng lại điều sang Trung Quốc thay Lê Hồng Phong về nước hoạt động, chỉ đạo công tác đảng ở ngoài nước. Ở Trung Quốc, đã được gặp Nguyễn Ái Quốc và cùng Người về nước hoạt động đầu năm 1941. Tháng 5-1941, tham dự Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Sau Hội nghị Trung ương, đồng chí được cử làm chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân thứ nhất. Hy sinh ngày 20-8-1941 trong lúc đang chỉ huy đơn vị chiến đấu tại Ngân Sơn, Bắc Cạn.

T

THÁI SƯỚNG (1900-1990): người Vĩnh Phong, huyện Tương, Hồ Nam (Trung Quốc). Tên thật là Hàm Hi (nữ). Năm 1919, sang Pháp tham gia phong trào “Cần công kiệm học”. Năm 1923, vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1924, sang Liên Xô vào học Trường đại học Phương Đông. Năm 1925, về nước, liên tục đảm nhận nhiều chức vụ: Bí thư Uỷ ban Phụ nữ Khu uỷ Lưỡng Quảng (Quảng Đông – Quảng Tây), Trưởng ban phụ nữ tỉnh Giang Tây, Uỷ viên Uỷ ban Phụ nữ Trung ương Trung Quốc.

Năm 1930, biết tin Nguyễn Ái Quốc đến Hồng Kông chuẩn bị tổ chức Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Thái Sướng đã đến thăm Người và tỏ ý rất vui mừng đón nhận sự kiện quan trọng của cách mạng Việt Nam.

Năm 1931, là Trưởng ban tổ chức Tỉnh uỷ Giang Tây, Trưởng ban phụ nữ và Chủ tịch Uỷ ban Giám sát công nông của Chính phủ Xôviết tỉnh Giang Tây. Sau đó là Tỉnh uỷ viên Thiểm Cam Ninh, Bộ trưởng Bộ Phụ nữ liên khu Thiểm Cam Ninh. Năm 1941, đảm trách Bí thư Uỷ ban Phụ nữ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1945, trúng cử vào Ban Chấp hành Hội liên hiệp Phụ nữ dân chủ thế giới. Năm 1948, làm Phó Chủ tịch tổ chức này. Sau khi thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, một thời gian dài đảm nhiệm công tác lãnh đạo Hội liên hiệp Phụ nữ toàn quốc, là Chủ tịch Hội các khoá I, II, III. Sau năm 1975, được bầu làm Phó Uỷ viên trưởng Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá IV và V. Năm 1978, được bầu làm Chủ tịch danh dự Hội liên hiệp Phụ nữ toàn quốc. Là đại biểu Quốc hội từ khoá I đến khoá V.

Tại các Đại hội của Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ VII, VIII, IX, X, XI, đều được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

THOREZ, Maurice (Tôrê, Môrixơ) (1900-1964): nhà hoạt động chính trị Pháp và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tháng 3-1919, tham gia Đảng Xã hội Pháp và tích cực hoạt động đấu tranh để thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp (1924), Uỷ viên Bộ Chính trị và Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1925), Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp (1930-1964), Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản (1928-1943).

TÔN TỬ: là cách gọi suy tôn Tôn Vũ, nhà quân sự lớn sống ở cuối thế kỷ VI trước Công nguyên, tướng nước Ngô dưới triều vua Hạp Lư thời Xuân Thu (722-481 trước Công nguyên), tác giả Tôn Tử binh pháp, bộ binh thư sớm nhất trên thế giới, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được đánh giá cao.

TỐNG KHÁNH LINH (1894-1981): xuất thân trong một gia đình đại tư sản (họ Tống là một trong bốn đại gia tộc Tưởng, Tống, Khổng, Trần ở Trung Quốc). Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Wesley (Mỹ), là thư ký của Tôn Dật Tiên năm 1912, sau theo Tôn trốn sang Nhật và từ năm 1915 trở thành Tôn Trung Sơn phu nhân. Sau khi Tôn Trung Sơn mất, bà đã lãnh đạo cánh tả của Quốc dân Đảng, là nhà hoạt động xã hội, một nhà yêu nước và dân chủ nổi tiếng, đã giúp đỡ nhiều đảng viên cộng sản. Tác phẩm Phấn đấu cho nước Trung Hoa mới được giải thưởng Stalin năm 1952. Sau năm 1949, là Phó Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. 15 ngày trước khi qua đời, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà là một người bạn quen biết từ năm 1924 ở Quảng Châu, đã giúp Hồ Chí Minh nối được liên lạc với tổ chức vào năm 1938 ở Thượng Hải.

TRẦN PHÚ (1904 – 1931): Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, quê ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Năm 1925, tham gia Hội Phục Việt, tổ chức đầu tiên của Tân Việt cách mạng Đảng. Năm 1926, tham dự lớp huấn luyện cách mạng ở Quảng Châu (Trung Quốc) do Nguyễn Ái Quốc tổ chức, sau đó được cử sang học tại Trường đại học Phương Đông Liên Xô.

Tháng 4-1930, Trần Phú về nước, được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Khởi thảo Luận cương cách mạng tư sản dân quyền. Bản luận cương được Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (10-1930) thông qua. Tại Hội nghị này, Trần Phú được bầu làm Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng.

Ngày 19-4-1931, Trần Phú bị thực dân Pháp bắt. Ở trong tù, do bị kẻ thù tra tấn hết sức dã man và bệnh nặng, sức yếu không qua khỏi, đồng chí đã hy sinh ngày 6-9-1931.

TRƯƠNG PHÁT KHUÊ (1896-1980): tự là Hướng Hoa, người Thuỷ Hưng, tỉnh Quảng Đông. Từ trẻ đã tham gia Đồng minh hội (tên đầy đủ là Trung Quốc cách mạng Đồng minh hội, thành lập năm 1905 tại Tôkyô, Nhật Bản; do ba tổ chức hợp thành: Trung Hưng hội, Hoa Hưng hội, Quang Phục hội, do Tôn Trung Sơn làm Hội trưởng). Tốt nghiệp Trường dự bị Sĩ quan lục quân 2. Đã từng làm Quân đoàn trưởng Quảng Đông. Sau năm 1925, nhậm chức Sư trưởng Sư 12 Quân đoàn 4 của Quân cách mạng quốc dân (tên gọi quân đội trong thời kỳ Quốc – Cộng hợp tác lần thứ nhất), rồi sau đó là Quân đoàn trưởng. Năm 1929, nhậm chức Tổng tư lệnh lộ quân thứ ba của Hội Đảng Cứu quốc Quân vùng Quế Lâm. Từ năm 1930, nhậm chức Chỉ huy trưởng lộ quân thứ nhất thuộc Phương diện quân thứ nhất của Quốc dân Đảng, Tổng chỉ huy tiền phương. Tiếp đó là Chủ nhiệm công tác bình định biên khu Tô Triết (Tô Châu và Triết Giang), Tổng tư lệnh tập đoàn quân thứ 8, Tổng tư lệnh Binh đoàn 2 Chiến khu
thứ 9, Tư lệnh Chiến khu 4 và 6 (Đệ tứ chiến khu và Đệ lục chiến khu). Từ cuối năm 1943, trong quá trình chỉ đạo cải tổ Việt Nam cách mạng đồng minh hội, Trung tướng – Tư lệnh Đệ tứ chiến khu Trương Phát Khuê thấy rõ sức mạnh của Việt Minh do Hồ Chí Minh là lãnh tụ, nên đã trả lại tự do cho Hồ Chí Minh và giao cho Người chuẩn bị kế hoạch triệu tập Hội nghị đại biểu các đoàn thể cách mạng hải ngoại của Việt Nam cách mạng đồng minh hội tại Bộ Tư lệnh Đệ tứ chiến khu từ ngày 25 đến ngày 28-3-1944. Tại Hội nghị này, Hồ Chí Minh được bầu vào Ban Chấp hành cách mạng Đồng minh hội.

Sau khi kết thúc cuộc kháng chiến, Trương Phát Khuê nhậm chức Chủ nhiệm hành chính tỉnh Quảng Đông. Năm 1949, quyền Tổng thống Lý Tôn Nhân cử ông làm Tổng tư lệnh lục quân. Tháng 7 – 1949, ông từ chức về Hồng Kông cư trú.

TRƯỜNG CHINH (1907-1988): tên thật là Đặng Xuân Khu, nhà hoạt động cách mạng, nhà thơ (bút danh Sóng Hồng), nhà báo, quê ở làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1925, gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1927. Từ năm 1936 đến năm 1939, là Uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ, đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương trong Uỷ ban Mặt trận dân chủ Bắc Kỳ. Năm 1940, là quyền Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1941, là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương và năm 1951, được bầu lại là Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam. Năm 1958, là Phó thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ tịch Uỷ ban Khoa học Nhà nước. Tại Đại hội III (1960), Đại hội IV (1976), Đại hội V (1982), được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, là Uỷ viên Bộ Chính trị. Từ năm 1960 đến năm 1981, là Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Năm 1981, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ tháng 7-1986 đến trước Đại hội VI của Đảng, lần thứ ba ông được bầu vào cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

TƯỞNG GIỚI THẠCH (1887-1975): người tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Từng học quân sự ở Nhật. Năm 1923, giữ chức Tham mưu trưởng Tổng hành dinh Chính phủ quân sự Quảng Đông. Được Tôn Trung Sơn cử đi khảo sát về quân sự ở Liên Xô, rồi về nước giữ chức Hiệu trưởng Trường Quân sự Hoàng Phố (1924). Sau khi Tôn Trung Sơn mất, Tưởng Giới Thạch giữ chức Chủ tịch Ban Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng, Tổng tư lệnh quân đội Chính phủ Quốc dân. Năm 1943, tái nhiệm chức Chủ tịch Chính phủ Quốc dân Đảng. Năm 1948, làm Tổng thống. Tháng 1-1949, Tưởng Giới Thạch từ chức; cùng năm rút ra Đài Loan tiếp tục giữ chức Tổng tài Quốc dân Đảng và Tổng thống Trung Hoa dân quốc ở Đài Loan.

V

VAXILIÊVA, Vêra (1900-1959): sinh tại Vitépxkaia, đảng viên Đảng Cộng sản (b) Nga từ năm 1918. Tốt nghiệp Đại học “Giáo sư đỏ”, chuyên ngành Lịch sử phương Đông. Nhiều năm đồng chí làm công tác trong bộ máy của Đảng. Từ năm 1931, là chuyên viên của Quốc tế Cộng sản về Đông Dương, đồng thời làm giáo viên, chủ nhiệm một khoa của Trường đại học Phương Đông. Tháng 5-1935, Vêra Vaxiliêva đã viết thư gửi Ban Thư ký Phương Đông thuộc Quốc tế Cộng sản trình bày về những nguyện vọng của Nguyễn Ái Quốc muốn thiết lập mối liên lạc với Đảng và đã chuyển Người tới Trường Lênin tại Mátxcơva làm công tác nghiên cứu. Từ năm 1936, Vêra Vaxiliêva làm Trưởng phòng nghiên cứu Đông Dương với nhiệm vụ chính là xây dựng các kế hoạch nghiên cứu của Phòng, sưu tập lịch sử của Đảng Cộng sản Đông Dương, kiêm công tác giảng dạy cho nghiên cứu sinh và sinh viên về công tác đảng. Vêra Vaxiliêva đã có nhiều đóng góp quan trọng vào công tác của Quốc tế Cộng sản trong việc chỉ đạo và xây dựng Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí đã viết một số tác phẩm về Đông Dương; là một trong những người đã tham gia góp ý, soạn thảo Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dươngnăm 1932.

Từ năm 1939 đến năm 1957, đồng chí công tác tại Viện Kinh tế thế giới, từ năm 1957 đến năm 1959 tại Viện Nghiên cứu Phương Đông thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. Năm 1955, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Liên Xô, Vêra Vaxiliêva đã đến gặp Người. Sau đó, đồng chí được Người mời sang thăm Việt Nam, nhưng do bị ốm nên chuyến thăm không thành.

VAYĂNG CUTUYARIÊ, Pôn (1892-1937): nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà hoạt động chính trị-xã hội nổi tiếng của Đảng Cộng sản Pháp, sinh tại Pari trong một gia đình quý tộc. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông bị đẩy ra mặt trận trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), nhờ đó ông nhận ra được bản chất tàn bạo của chiến tranh đế quốc và những nỗi đau khổ, chết chóc mà nhân dân lao động phải gánh chịu.

Chịu ảnh hưởng tư tưởng của Giăng Giôrét, Các Liếpnếch và Lênin, ông đã đến với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Ông gia nhập Đảng Xã hội Pháp; tại Đại hội Tua năm 1920, ông đã cùng với Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ ba và trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp, nhiều năm được bầu làm Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp, nghị sĩ Quốc hội, Chủ nhiệm báo L’ Humanité từ năm 1928 đến năm 1937.

Vayăng Cutuyariê là một người đồng chí, người bạn thân thiết của Nguyễn Ái Quốc, chính ông đã giới thiệu Nguyễn Ái Quốc vào Đảng Xã hội Pháp, giúp Nguyễn làm quen với các nhân vật nổi tiếng của Đảng lúc bấy giờ: Mácxen Casanh, Giăng Lôngghê, G. Môngmútxô và nhiều người khác. Năm 1933, cũng chính Vayăng Cutuyariê đã tích cực giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc chắp nối được liên lạc với tổ chức sau khi thoát khỏi nhà ngục Hồng Kông để trở lại Liên Xô.

VÕ NGUYÊN GIÁP: sinh ngày 25-8-1911, tại làng An Xá, xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Ninh, tỉnh Quảng Bình. Sớm tham gia phong trào yêu nước và gia nhập Tân Việt cách mạng Đảng. Thời kỳ 1936-1939, hoạt động công khai tại Hà Nội. Năm 1940, sang Trung Quốc, được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sau đó cùng Người trở về tham gia xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Cao – Bắc – Lạng. Võ Nguyên Giáp là người được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tháng 12-1944, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tại Hội nghị toàn quốc của Đảng năm 1945 ở Tân Trào, được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông được cử giữ nhiều trọng trách trong bộ máy nhà nước: Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Quân sự uỷ viên hội, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ ta tại Hội nghị trù bị Đà Lạt. Năm 1948, được phong quân hàm Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ông được giao nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ huy quân đội qua nhiều chiến dịch từ Việt Bắc Thu Đông (1947) đến Biên giới (1950), Điện Biên Phủ (1954), và cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1975).

Từ Đại hội II (1951) đến Đại hội IV (1976), liên tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị. Đại hội V (1982), được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông là đại biểu Quốc hội liên tục từ khoá I đến khoá VII. Từ năm 1955, được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ, sau này là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng liên tục cho đến năm 1991. Hiện là Chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

VŨ HỒNG KHANH: tên thật là Vũ Văn Giản, người làng Thổ Tang, huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1928, Vũ Hồng Khanh tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng. Sau vụ bạo động của Quốc dân Đảng ở Yên Bái (đầu năm 1930) thất bại, chạy sang Trung Quốc lợi dụng danh nghĩa Quốc dân Đảng để đầu cơ cách mạng. Năm 1945, theo chân quân đội Tưởng về nước. Cuối tháng 6-1946, theo chân quân đội Tưởng lại chạy sang Trung Quốc.

Năm 1949, khi cách mạng Trung Quốc thắng lợi, Vũ Hồng Khanh theo tàn quân của Bạch Sùng Hy chạy về Cao Bằng và ra làm cho Pháp. Năm 1954, Vũ Hồng Khanh chạy vào miền Nam. Năm 1979, Vũ Hồng Khanh được Chính phủ ta khoan hồng cho về quê Thổ Tang và mất tại đây năm 1993.

VƯƠNG MINH (1904-1974): tức Trần Thiệu Vũ, nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, quê ở Kim Đại, tỉnh An Huy.

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ hai (khoá VI) của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Vương Minh được bầu bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương, Uỷ viên Bộ Chính trị. Từ Hội nghị Trung ương lần thứ ba (9-1930), sau khi thanh toán đường lối tả khuynh của Lý Lập Tam, ông được cử đứng đầu Ban Chấp hành Trung ương.

Trong quá trình hoạt động, Vương Minh đã lẫn lộn “cách mạng dân chủ” và “cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Về mặt chính trị, chủ trương đấu tranh với tất cả các lực lượng không phải cách mạng, phủ nhận việc liên hiệp với các giai cấp tiến bộ, giải quyết không đúng mối quan hệ giữa các cấp ở Trung Quốc. Về quân sự, lúc đầu ông thực hiện chủ nghĩa “mạo hiểm”, sau đó lại đổi thành chủ nghĩa “bảo thủ” và “tháo chạy”. Về tổ chức, ông theo chủ nghĩa bè phái. Đường lối đó đã thống trị trong Đảng Cộng sản Trung Quốc bốn năm, gây ra những tổn thất to lớn cho Đảng và sự nghiệp cách mạng Trung Quốc.

Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Tuân Nghĩa (Quý Châu) tháng 1-1935 đã xác lập đường lối Mao Trạch Đông, xoá bỏ đường lối Vương Minh.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1945)

Đầu năm1)

Hồ Chí Minh tiếp Sao (Shaw) – viên trung uý phi công Mỹ được Việt Minh cứu thoát 2).

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 90-92.

Tháng 2

Sách Phép dùng binh của ông Tôn Tử do Hồ Chí Minh biên dịch được Việt Minh xuất bản. Mở đầu sách, Người giới thiệu “Ông Tôn Tử là một người quân sự có tiếng nhất ở Trung Quốc. Ông sinh hơn 2.000 năm trước…” và chỉ rõ “Nguyên tắc của Tôn Tử chẳng những dùng về quân sự đúng, mà dùng về chính trị cũng rất hay”, cần thiết cho công tác quân sự và chính trị của cán bộ. Sách gồm 13 chương:

Chương I- Kế hoạch: nêu những điều cần chú ý để “xét rõ tình hình ta với địch”, phải tranh thủ lòng dân, “kế hoạch khéo, lúc thực hành lại cần phải biết tuỳ ứng biến”.

Chương II- Phép chiến tranh: chỉ cách sử dụng “Năm lời dặn của ông Tôn Tử” để giành thắng lợi nhanh, “dùng binh chóng là khôn”, phải biết “lấy lương thực của địch mà dùng”.

Chương III-  Đánh bằng mưu: khẳng định: “dùng binh giỏi nhất, là đánh bằng mưu” cho nên “biết sức ta, biết sức địch thì trăm trận đều thắng. Biết sức ta, mà không biết sức địch thì 1 thắng 1 bại. Không biết ta, không biết địch thì trận nào cũng thua”.

Chương IV- Quân hình: nhằm giúp cho tướng thấy được kẻ địch. “Người tướng giỏi thì luôn luôn giữ đạo đức, và luôn luôn chuẩn bị. Cho nên họ có thể định sự thắng, bại”.

Chương V- Thế của binh: chỉ rõ cách sử dụng phối hợp giữa chính binh (đánh trực tiếp) với kỳ binh (đánh gián tiếp) để giành thắng lợi.

Chương VI- Chỗ mạnh và chỗ yếu: là “chủ động đánh vào chỗ yếu và tránh chỗ mạnh của địch, thì thắng”.

Chương VII- Quân tranh: là cách khéo léo trong đánh địch mà ít hao tổn, như phép “trị tâm”, phép “trị lực”, phép “trị biến” (trấn tĩnh chờ địch xôn xao mới đánh, chờ địch mệt nhọc, đói khát mới đánh, không chủ quan coi thường địch).

Chương VIII- Chín sự biến: chỉ những điều cần tránh khi đóng quân, đánh địch.

Chương IX- Phép hành quân: nêu cách chọn địa hình, địa thế tốt, thuận lợi, tránh những chỗ nguy hiểm, bất lợi để giành thắng lợi, không rơi vào âm mưu, quỷ kế của chúng. “Cho nên binh không cần nhiều lắm nếu biết hợp sức đồng lòng và xét rõ tình hình của địch, thì cũng thắng được”.

Chương X- Địa hình: để “Biết sức ta, biết sức địch, là phải biết dùng thiên thời địa lợi, thì mới thắng”.

Chương XI- Chín thứ đất: phải biết sử dụng mới thắng được.

Chương XII- Phép đánh bằng lửa: giới thiệu cách đánh bằng hoả công để tiêu diệt địch, song “dùng lửa phải theo thiên thời và địa lý”.

Chương XIII- Dùng trinh thám: để “do thám cho rõ tình hình của địch”.

– Theo tài liệu gốc của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 511-546.

Tháng 2

Hồ Chí Minh lên đường đi Côn Minh. Trung uý phi công Mỹ Sao được phép đi theo Người để trở về Bộ Tổng tư lệnh không quân Mỹ ở đó.

Sau năm ngày đi đường trên đất Trung Quốc, hai người chia tay nhau. Hồ Chí Minh tiếp tục đi bộ, còn Sao đi ngựa theo một hướng khác.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 91-92.

Tháng 2, cuối tháng

Với giấy phép đi lại do Tướng Trương Phát Khuê cấp, Hồ Chí Minh trong bộ quân phục Trung Quốc, có hai người3) cùng đi, lại đi dọc tuyến đường mà Người đã đi năm 19404).

Người dừng lại ở Nghi Lương khoảng một tuần lễ. Ở đây, Người giảng giải cho bà con Việt kiều về tình hình cách mạng Việt Nam và kêu gọi họ trở về tham gia đấu tranh.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 90.

– Hoàng Quang Bình: Ở Vân Nam, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 134-138.

Tháng 3, đầu tháng

Tại Côn Minh, nhân danh Việt Nam – lực lượng đã giải thoát cho Trung uý Sao, Hồ Chí Minh tiếp xúc với AGAS. Phía Mỹ cảm ơn Người và gửi Người thuốc men, tiền bạc để tặng thưởng cho những người Việt Nam đã có công cứu Sao, nhưng Người chỉ nhận thuốc, không nhận tiền.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 92.

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, tr. 128-129.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 76.

Tháng 3, khoảng đầu tháng

Trong khi chờ đợi tiếp xúc với Tướng Sênôn (Chennault), Hồ Chí Minh tranh thủ thời gian đến Cơ quan thông tin chiến tranh Mỹ (AOWI) (American of War Information), đọc sách báo, thu thập những thông tin cần thiết, đặc biệt là những tin chiến sự thế giới. Tại đây, Người đã đọc nhiều tài liệu khác nhau, từ tờ Times đến Bách khoa toàn thư Mỹ.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 76.

Tháng 3, ngày 17

Buổi chiều, Hồ Chí Minh gặp Sáclơ Phen (Charles Fenn), Trung uý Mỹ trong OSS5). Hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp6).

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 76.

Tháng 3, ngày 20

Hồ Chí Minh gặp Sáclơ Phen lần thứ hai7) tại quán cà phê Đông Dương ở phố Kim Bích. Hai bên thoả thuận về phương thức hợp tác. Phía Sáclơ Phen nhận cung cấp các phương tiện thông tin liên lạc, người sử dụng các phương tiện ấy và huấn luyện cho người Việt Nam sử dụng chúng. Phía Việt Minh đồng ý cung cấp địa bàn hoạt động.

Theo yêu cầu của Người, Sáclơ Phen nhận lời sẽ thu xếp cuộc gặp gỡ với Tướng Sênôn.

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, tr. 130.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 77.

Tháng 3, ngày 23

Tại một căn phòng thuê của một cửa hiệu8) ở Côn Minh, Hồ Chí Minh tiếp Sáclơ Phen và Ph. Tam9).

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 78.

Tháng 3, ngày 29

11 giờ, Hồ Chí Minh gặp Tướng Sênôn, Tư lệnh không đoàn số 14 của Mỹ ở Hoa Nam10), có Sáclơ Phen và Bécna (Bernard) cùng dự.

Tướng Sênôn cảm ơn Việt Minh đã cứu thoát phi công Mỹ và hỏi Việt Minh có sẵn lòng cứu giúp những phi công Đồng minh rơi ở Đông Dương không? Hồ Chí Minh trả lời rằng bổn phận của những người chống phát xít là làm tất cả những việc gì có thể làm được để giúp đỡ Đồng minh11). Sau đó, Hồ Chí Minh đề nghị với Tướng Sênôn: “Tôi muốn có một tấm ảnh của Ngài, kèm theo chữ ký”.

Sênôn đã tặng Người một tấm ảnh của mình với dòng chữ: “Bạn chân thành của ông, Claire L. Chennault”.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 92.

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, tr. 130.

– Charles Fenn: Ho Chi Minha biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 78-79.

– Tạp chí Lịch sử quân sự, số 164, tháng 8-2005, tr. 90.

Tháng 4

Sau khi tiếp xúc với Tướng Sênôn và OSS, Hồ Chí Minh đáp máy bay đi Bách Sắc12) (Quảng Tây) gặp Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Tại Bách Sắc, Người gặp lại Tướng Trương Phát Khuê13).

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 92.

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, tr. 130.

– King C. Chen: Vietnam and China 1938-1954. Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p. 94.

Tháng 4, trước ngày 12

Tại Bách Sắc, Hồ Chí Minh tìm cách chấn chỉnh lại tổ chức Việt Nam cách mạng đồng minh hội.

Người dự định tổ chức một cuộc đại hội mới, có thêm năm đại biểu Việt Minh ở Đông Hưng tới, trong số này có Hoàng Quốc Việt, Đặng Việt Châu và Dương Đức Hiền.

Đại hội này không thành vì các đảng phái khác không dự.

– King C. Chen: Vietnam and China 1938-1954. Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p. 95.

Tháng 4, ngày 15

Hồ Chí Minh chọn 20 thanh niên14) mang theo giấy thông hành đến để hộ tống Ph.Tam và Mácxin vượt biên giới về Việt Nam.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 79.

Tháng 4, cuối tháng15)

Một buổi chiều tối, Hồ Chí Minh được bố trí gặp A. Pátti tại một quán trà trong làng Chiu-Chou Chieh, cách Tĩnh Tây khoảng 10 km. Cùng dự có Lê Tùng Sơn.

Người đã nói cho A. Pátti biết về tình hình nạn đói ở Việt Nam, về quan điểm của Pháp, Trung Quốc, Anh với vấn đề Việt Nam và Việt Minh sẵn sàng hợp tác với người Mỹ khi nào người Mỹ thấy thích hợp. Người còn thông báo về việc chuẩn bị cho một chính phủ Việt Nam dân chủ độc lập.

Khi được hỏi về những nơi đóng quân của Bộ Chỉ huy Việt Minh và những chi tiết về tổ chức này, Người trả lời: “Việt Minh không phải là một đơn vị mà là một bộ phận của nhân dân Việt Nam, là những tổ chức của công nhân, nông dân hoạt động tại các địa phương và có thể liên lạc được từ Sài Gòn đến Cao Bằng”.

Cuộc trao đổi kéo dài tới quá nửa đêm mới kết thúc.

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 583.

Tháng 4, cuối tháng

Hồ Chí Minh về nước.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 79.

Tháng 4, cuối tháng

Hồ Chí Minh viết cho Sáclơ Phen lá thư đầu tiên. Trong thư, Người phàn nàn là OSS đã gửi tới những người bây giờ đã hợp tác với người Pháp thân Visi (Vichy), những người chống Việt Nam hơn là chống Nhật. Và Người đặt câu hỏi: Vậy chính sách của Mỹ thực sự là gì vậy?

Cũng trong thư này, Người đề nghị cho gửi một số thanh niên sang để được huấn luyện sử dụng điện đài.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 80.

Tháng 4, cuối tháng

Hồ Chí Minh trong bộ quần áo chàm người Nùng, tay chống gậy, cùng một đồng chí trẻ16) đến chiếc lán ở hang Pác Tẻng (chân núi đá Lam Sơn) của gia đình Hoàng Đức Triều (An Định). Người được giới thiệu với gia đình là “đồng chí ông Ké”.

– Hoàng Đức Triều: Bác lại về Lam Sơn, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 258-261.

Tháng 4, cuối tháng

Hồ Chí Minh (bí danh ông Ké) thường họp với Hoàng Quốc Việt, Vũ Anh, Phạm Văn Đồng, Đặng Viết Châu, Dương Đức Hiền… trong một ngôi nhà vắng chủ17) rộng rãi gần chân núi đá.

Có hôm họp trên những mỏm đá mọc ở đầu nguồn Pác Ngườm.

Có lần các đồng chí còn lấy mảnh vải ra đo và bàn về tỷ lệ chiều dài, chiều rộng của lá cờ đỏ sao vàng năm cánh.

– Hoàng Đức Triều: Bác lại về Lam Sơn, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr.262-263.

Tháng 5, một ngày đầu tháng

Hồ Chí Minh đàm đạo về thơ với Hoàng Đức Triều.

Nghe bài thơ Vịnh Cao Bằng của đồng chí, Người gật đầu:

– Được, bài thơ có cái tự hào và chí khí anh hùng! Nếu bớt được điển tích, lời văn trong sáng hơn nữa, sẽ có sức mạnh hơn.

Nghe bản dịch một bài thơ chữ Hán đề trên vách đá chùa Kỳ Sầm, Người hỏi về nguyên tác và nói:

– Quân Nùng vương thật là mất cảnh giác quá nhỉ! Làm việc quân mà mất cảnh giác, không thể thành công được. Bài thơ này nhiều điển tích phải giảng giải quá!…

– Hoàng Đức Triều: Bác lại về Lam Sơn, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 265-266.

Tháng 5, đầu tháng

Hồ Chí Minh gửi cho A. Pátti một bức thư cùng với hai tài liệu khác đề nghị chuyển cho phái đoàn Mỹ ở Hội nghị Liên hợp quốc20, kêu gọi ủng hộ nền độc lập của Việt Nam. Hai tài liệu này được viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh và ký “Đảng quốc dân Đông Dương”.

Ít ngày sau, Người lại gửi một tài liệu thứ hai, kèm theo một mảnh giấy nhỏ viết bằng tiếng Anh hỏi A. Pátti xem các văn kiện trên đã gửi đi Xan Phranxítxcô chưa?

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 102.

Tháng 5, ngày 4

Hồ Chí Minh bắt đầu cuộc hành trình rời Pác Bó về Tân Trào.

Sáng: tại Khuổi Nậm, Hồ Chí Minh tập hợp tiểu đội tự vệ cùng với hai người bạn Đồng minh18), nói rõ ý nghĩa quan trọng của chuyến đi19)rồi trực tiếp phân công từng người, dặn dò cách giữ bí mật và cố gắng tránh đụng độ với địch để bảo toàn lực lượng.

Khoảng 9 giờ sáng, đoàn lên đường20). Hồ Chí Minh mặc bộ quần áo Nùng đã cũ, đội nón chóp quai thao, khăn che gần kín mặt, đeo chiếc túi dết nhỏ có hai nút buộc dây, tay chống gậy.

Trưa: Người nghỉ ăn trưa tại nhà Nông Hiền Hữu21) ở bản Thua Phia, rồi tiếp tục cuộc hành trình22).

Chiều tối: Người đến Đào Ngạn, nghỉ ở nhà đồng chí Nông Văn Giáo (bí danh Phục Việt) xóm Bản Nưa. Tại đây, Người yêu cầu đồng chí Quất tìm liên lạc để sáng hôm sau dẫn đoàn đi Lam Sơn23).

– Hồi ký của Lưu Minh Đức. Tài liệu đánh máy, lưu tại Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Cao Bằng.

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

Tháng 5, ngày 5

Hồ Chí Minh rời Bản Nưa đi Lam Sơn24). Tại Lam Sơn, Người nghỉ chân ở trạm giao thông của Liên tỉnh uỷ25) và đến tối ngủ lại nhà một cơ sở quần chúng26).

– Hồi ký của Lưu Minh Đức. Tài liệu đánh máy, lưu tại Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Cao Bằng.

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

Tháng 5, từ ngày 6 đến ngày 8

Hồ Chí Minh làm việc tại Lam Sơn.

Người họp với các cán bộ Trung ương27) và cán bộ của Liên tỉnh uỷ Cao-Bắc-Lạng28) bàn một số công việc chuẩn bị khởi nghĩa.

– Hồi ký của Lưu Minh Đức. Tài liệu đánh máy, lưu tại Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Cao Bằng.

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

Tháng 5, ngày 9

Sáng, Hồ Chí Minh rời Lam Sơn29). Đi theo Người có tiểu đội cận vệ đặc biệt do Đặng Văn Cáp phụ trách.

Trưa, Hồ Chí Minh đến xã Bình Dương, ăn trưa ở Thin Tăng.

Chiều, Người tiếp tục đi, gần tối đến bản Khuổi Lẩy30) (thuộc xã Thịnh Vượng, châu Nguyên Bình, nay là xã Bình Dương, huyện Hoà An).

Cùng ngày, Người viết một lá thư gửi Sáclơ Phen và Bécna. Thư viết bằng loại bút sắt trên giấy làm bằng rơm của Trung Quốc. Toàn văn như sau:

Ông Bécna và ông Phen thân mến!

Tôi hết lòng cảm ơn các ông về sự giúp đỡ của các ông cho các bạn chúng tôi.

Tôi mong muốn là các bạn của chúng tôi sẽ học được vô tuyến điện và những thứ cần thiết khác cho cuộc đấu tranh chung chống Nhật của chúng ta.

Tôi hy vọng một ngày gần đây nhất sẽ hân hạnh được đón tiếp các ông tại khu căn cứ của chúng tôi. Nếu được thế thì thật là tuyệt.

Cho phép tôi gửi lời chào kính trọng tới tướng Sênôn.

9-5-1945

Chân thành gửi tới các ông lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Thân mến

HỒ

– Bút tích tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồi ký của Lưu Minh Đức. Tài liệu đánh máy, lưu tại Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Cao Bằng.

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 68.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 547.

Tháng 5, ngày 10

Hồ Chí Minh cùng đoàn cán bộ tiếp tục cuộc hành trình hướng tới Ngân Sơn31), Người yêu cầu Đặng Văn Cáp trở lại Lam Sơn32) tiếp tục công việc chế tạo và sửa chữa vũ khí chuẩn bị khởi nghĩa.

– Hồi ký của Lưu Minh Đức. Tài liệu đánh máy, lưu tại Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Cao Bằng.

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 68.

Tháng 5, ngày 11

Hồ Chí Minh tiếp tục cuộc hành trình.

Buổi sáng, khi qua bản Sành, Nà Y (xã Cốc Đán) gặp đúng lúc trời mưa tầm tã.

Buổi chiều, Người đến bản Hoàng Phài (xã Thượng An, huyện Ngân Sơn). Theo sự bố trí của đồng chí Mỹ Đức33), Người nghỉ chân tại một gia đình cơ sở tin cậy. Người sang thăm lớp bình dân đang học ở ngôi nhà đối diện. Được biết lớp này thuộc xã Minh Khai, Người kể cho lớp nghe về tiểu sử của người phụ nữ chiến sĩ cách mạng vẻ vang ấy.

Người ăn cơm tối tại nhà cơ sở rồi dự buổi gặp gỡ thân mật với các cán bộ và quần chúng địa phương. Người nói chuyện về tình hình cách mạng trong nước và thế giới.

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

– Hoàng Mỹ Đức: Hai lần gặp Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 280-281.

Tháng 5, ngày 12

Hồ Chí Minh rời bản Hoàng Phài tiếp tục cuộc hành trình34).

Gần tối, Người đến Khuổi Mản và nghỉ đêm ở nhà Đàm Ngọc Hải.

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

Tháng 5, ngày 13

Hồ Chí Minh tiếp tục đi theo hướng Chợ Rã35).

Dọc đường, Người vui vẻ kể chuyện cho mọi người quên mệt, chỉ dẫn cho các cán bộ trẻ chữa chân đau vì đi bộ nhiều.

Gần tối, Người đến Chợ Rã.

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

– Lời kể của đồng chí Ma Quế Chân, cán bộ hưu trí, một trong những người có mặt trong buổi đón đoàn tại Chợ Rã.

Tháng 5, ngày 14

Hồ Chí Minh cùng đoàn tiếp tục cuộc hành trình36).

Trưa, Người dừng chân, nghỉ ăn cơm ở Pò Cót.

Gần tối, Người đến Bản Chán37).

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

Tháng 5, ngày 15

Hồ Chí Minh cùng với đoàn tiếp tục cuộc hành trình38).

Chiều tối, Người đến Bản Cải (dân tộc Tày) thuộc xã Phương Viên, huyện Chợ Đồn, và nghỉ đêm tại đây39).

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

Tháng 5, ngày 16

Hồ Chí Minh tiếp tục cuộc hành trình40).

Chiều tối, Người tới bản Rủm Tó41)., xã Ngọc Bằng (nay là xã Bằng Lãng, huyện Chợ Đồn).

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

Tháng 5, giữa tháng

Hồ Chí Minh gửi “Bản sách đen” và một tập ảnh chụp người dân Việt Nam trong nạn đói ở Bắc Kỳ cho Pátti và yêu cầu ông ta chuyển cho Đại sứ quán Mỹ ở Trùng Khánh để gửi về Bộ Ngoại giao Mỹ.

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 86.

Tháng 5, khoảng giữa tháng

Hồ Chí Minh yêu cầu Trung uý Giôn (John), báo vụ của cơ quan OSS, điện về Côn Minh đề nghị thả dù cho Người một quyển Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ21.

– Robert Shaplen: The Enigma of Ho Chi Minh, Wesley R. Fichel, Illinois, 1958.

Tháng 5, ngày 17

Hồ Chí Minh và đoàn cán bộ tiếp tục cuộc hành trình. Buổi chiều, Người tới Nà Kiến (xã Nghĩa Tá, huyện Chợ Đồn), gặp Võ Nguyên Giáp lên đón.

– Võ Nguyên Giáp: Từ Pác Bó đến Tân Trào, in trong cuốn Uống nước nhớ nguồn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973, tr. 52.

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

Tháng 5, ngày 20

Hồ Chí Minh đến địa phận tỉnh Tuyên Quang.

Người dừng chân ăn trưa ở Pá Hóp (xã Lĩnh Phú, huyện Chiêm Hoá), sau đó đi tiếp qua bản Pài, bản Pình (xã Trung Minh, huyện Yên Sơn).

Tối, Người nghỉ lại ở bản Coóc (nay thuộc xã Hùng Lợi, huyện Yên Sơn).

– Điều tra, khảo cứu tại chỗ, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 21

Hồ Chí Minh và đoàn cán bộ đến Hồng Thái42) (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang). Người nghỉ chân ở đình Hồng Thái.

Sau đó Người vượt sông Đáy đi Tân Trào43).

Khoảng 16 giờ, Hồ Chí Minh và đoàn cán bộ đến Tân Trào.

Theo sự bố trí, Võ Nguyên Giáp đưa Hồ Chí Minh cùng Đinh Đại Toàn và hai người mang điện đài44) đi theo đến nhà Nguyễn Tiến Sự, ở thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang).

Sau bữa cơm chiều, Võ Nguyên Giáp giới thiệu những người khách đặc biệt với gia đình Nguyễn Tiến Sự45) và dặn: “Người ngồi cạnh ông già là đồng chí Đại Toàn. Việc cần liên hệ với các đồng chí ở đây thì cứ trao đổi với Đại Toàn”.

Hai người phụ trách điện đài được bố trí làm việc ở một địa điểm có tán cây rậm rạp trong vườn nhà ông Sự. Hồ Chí Minh nhắc anh em nguỵ trang ăngten của máy vô tuyến điện cho kín đáo.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 185.

– Lương Thị Khanh: Những ngày đầu Bác ở Tân Trào, in trong cuốn Tân Trào 1945-1985. Hội Văn hoá nghệ thuật Hà Tuyên, 1985, tr. 175-182.

– Điều tra, khảo cứu tại chỗ, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 5, sau ngày 24

Hồ Chí Minh và Nguyễn Tiến Sự lên rừng tìm địa điểm làm nơi ở mới. Lần nào đi Người cũng mang theo la bàn và tổ vô tuyến điện. Đến địa điểm thứ ba, ở lưng chừng đồi nứa Nà Lừa, nơi gần con suối nhỏ, Người chọn làm nơi dựng lán46).

– Điều tra, khảo cứu tại chỗ, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 5, cuối tháng

Hồ Chí Minh chuyển từ nhà ông Nguyễn Tiến Sự đến lán Nà Lừa47).

– Song Hào: Bác ở Tân Trào, in trong cuốn Uống nước nhớ nguồn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973. tr. 143.

– Điều tra, khảo cứu tại chỗ, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Viện Hồ Chí Minh.

– Lương Thị Khanh: Những ngày đầu Bác ở Tân Trào, in trong cuốn Bác Hồ ở Tân Trào, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.151.

Tháng 5, cuối tháng

Hồ Chí Minh chỉ thị khẩn trương mở trường đào tạo cán bộ48)

– Hoàng Văn Thái: Lên đường vũ trang, in trong cuốn Tân Trào 1945-1985. Hội Văn hoá nghệ thuật Hà Tuyên, 1985, tr. 62.

Tháng 5, khoảng cuối tháng

Hồ Chí Minh phái một giao thông trao tận tay Pátti tại Côn Minh một thông báo về việc quân Nhật xây dựng công sự ở vùng Cao Bằng và trên đường về Hà Nội.

Người còn gửi kèm theo một mẩu giấy trên đó Người viết một câu tiếng Anh hỏi Pátti đã chuyển hộ hai văn kiện chính trị của Người đi Xan Phranxítxcô chưa?49).

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 102.

Cuối tháng 5, đầu tháng 6

Hồ Chí Minh đến thăm cán bộ học viên Trường Quân chính kháng Nhật tại Tân Trào. Người ân cần hỏi thăm tình hình sinh hoạt, học tập của học viên, tình hình làm ăn của đồng bào.

Anh em chỉ biết Người là một ông cụ người Nùng, nói sõi tiếng Kinh.

– Lời kể của Võ Nguyên Giáp, in trong cuốn Lịch sử Trường Sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn, Trường Sĩ quan lục quân I, Bộ Quốc phòng xuất bản, 1985, tr. 27.

Tháng 6, trước ngày 4

Hồ Chí Minh nghe báo cáo về những nghị quyết của Hội nghị quân sự Bắc Kỳ ngày 15 tháng 4 và chỉ thị: “Nay vùng giải phóng ở miền ngược đã bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, địa thế nối liền với nhau, nên lập thành một khu căn cứ lấy tên là Khu giải phóng. Thống nhất các lực lượng vũ trang lại là rất đúng, nên đặt tên là Quân giải phóng”.

Người còn bàn với Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Lương Bằng làm bản dự thảo về việc thành lập Khu giải phóng và quyết định triệu tập Hội nghị cán bộ toàn khu50) để thống nhất lãnh đạo và triển khai công tác.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 186.

Tháng 6, đầu tháng

Tại thôn Tân Lập (Tân Trào), Hồ Chí Minh đi thăm nơi ăn ở của đơn vị Giải phóng quân. Thấy nền nếp thiếu trật tự, Người gặp đồng chí chỉ huy để góp ý kiến. Đồng chí chỉ huy nói: “Phê bình chúng tôi! Chuyện ấy đã có cấp trên của chúng tôi”b). Người ôn tồn nói: “Tôi là người dân, tôi có quyền phê bình, góp ý với bộ đội chứ!… Bộ đội cách mạng là bộ đội của dân cơ mà!”.

– Song Hào: Bác ở Tân Trào, in trong cuốn Uống nước nhớ nguồn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973. tr. 143-144.

Tháng 6, trong tuần lễ đầu tháng

Hồ Chí Minh điện cho Pátti, báo tin Người đã chuẩn bị sẵn sàng hơn 1.000 quân du kích được huấn luyện tốt, tập trung ở Chợ Chu, Định Hoá.

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 125.

Tháng 6, ngày 9

Hồ Chí Minh viết thư cho Sáclơ Phen. Toàn văn bức thư như sau:

Ông Phen thân mến!

Ông T.51) và người giúp việc của ông ta52) vẫn mạnh khoẻ. Chúng tôi đã trở nên bạn bè thân thiết như anh em một nhà. Tôi hy vọng ông sẽ đến thăm chúng tôi một ngày gần nhất.

Ông làm ơn đưa bức thư này tới người bạn của tôi tên là Tống Minh Phương ở quán cà phê Đông Dương. Mười hoặc mười hai ngày sau đó họ sẽ trao cho ông một gói quà trong đó có lá cờ của Đồng minh. Tôi rất cảm ơn ông nếu ông gửi những thứ đó cho tôi bằng cách nhanh nhất.

Xin gửi ông và ông Bécna cùng các bạn những lời tốt đẹp nhất.

Chúc ông sức khoẻ và may mắn.

9-6-1945

Thân mến

HỒ

– Bút tích tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 80.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 548.

Tháng 6, giữa tháng

Hồ Chí Minh, qua một trong những đầu mối tiếp xúc giữa Người với Pátti, được biết rằng có một toán người Mỹ, do một sĩ quan cấp cao đứng đầu, sẽ được thả dù xuống Tuyên Quang và yêu cầu phía Việt Nam chuẩn bị.

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 126.

Tháng 6, khoảng giữa tháng

Hồ Chí Minh đến xóm Lũng Cò (thuộc xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương) khảo sát địa hình và tìm hiểu tình hình mọi mặt, chọn địa điểm làm sân bay53) để đón quân Đồng minh.

– Lời kể của đồng chí Lê Giản. Tài liệu của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tuyên.

– Điều tra, khảo cứu tại chỗ, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Viện Hồ Chí Minh.

– Báo cáo của Thiếu tá E. Tômát (Thomas), Đội trưởng Đội “Con Nai” gửi Thủ trưởng chi nhánh nghiên cứu chiến lược, Sở nghiên cứu chiến lược (OSS) tại Trung Quốc. Bản dịch lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 14 (5 tháng 5 âm lịch)

Vì bận việc nên Hồ Chí Minh không nhận lời mời của gia đình ông Nguyễn Tiến Sự đến ăn Tết Đoan ngọ.

Thấy mẹ con bà Sự mang quà lên biếu, có người khác trong làng bắt cả gà sống lên theo, Người rất trân trọng tấm lòng của đồng bào nhưng từ chối và nói:

“Tôi có phải là thầy cúng đâu mà ông mang gà sống lên. Ông mang về nhà đi”.

– Lương Thị Khanh: Những ngày đầu Bác ở Tân Trào, in trong cuốn Bác Hồ ở Tân Trào, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.151.

Tháng 6, khoảng cuối tháng

Hồ Chí Minh đến thăm lớp báo vụ được tổ chức trên bờ một con suối, gần lán làm việc của Người tại Nà Lừa.

– Hồi ký và băng ghi âm của Lưu Minh Đức, lưu tại Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Cao Bằng và tại Bảo tàng Thông tin.

– Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc: Thông tin các lực lượng vũ trang trước Cách mạng Tháng Tám (bản đánh máy), 1978, tr. 73.

Tháng 6, cuối tháng

Nhận được báo cáo do giao thông hoả tốc chuyển đến đề nghị chuyển nơi ở vào sâu trong núi hơn vì quân Nhật huy động lực lượng lớn sắp đánh vào Tân Trào, Hồng Thái, Hồ Chí Minh chỉ thị:

“Địch không thể vào tới đây nếu ta quyết tâm chiến đấu và biết tổ chức cách đánh chặn chúng lại, mặc dầu lực lượng ta rất nhỏ. Không chuyển vị trí”.

– Song Hào: Bác ở Tân Trào, in trong cuốn Uống nước nhớ nguồn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973, tr. 147.

Tháng 6, ngày 30

Qua vô tuyến điện, Hồ Chí Minh trả lời Pátti rằng Người đồng ý tiếp nhận một toán người Mỹ và yêu cầu cho biết bao giờ thì người Mỹ có thể đến.

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 126.

Khoảng tháng 6, tháng 7

Ở gần Khu giải phóng, Hồ Chí Minh được báo cáo về những bức thư54) dụ dỗ và doạ nạt của phát xít Nhật gửi cán bộ Việt Minh.

Người chỉ thị cho các cấp Việt Minh “chỉ trả lời bọn Nhật bằng tiếng súng chứ không phải bằng lời nói”55).

Các bức thư của địch đều được đốt ngay sau khi đọc.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 95-98.

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1969, tr. 137-139.

Tháng 7, đầu tháng

Hồ Chí Minh chỉ thị cho một số anh em trong cơ quan tạm lánh đi một nơi khác vì có tin một toán thổ phỉ, đặc vụ Tưởng đang tiến vào đèo Gie, dò la căn cứ của ta.

Trước khi lên đường, Người kiểm tra việc gói buộc tài liệu, bố trí hành quân, chuẩn bị vũ khí… và dặn dò mọi người phải hết sức giữ bí mật, không được để lại dấu vết gì.

– Cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân vũ trang: Những ngày được gần Bác. Cục chính trị Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang xuất bản, 1970, tr. 98.

Tháng 7, khoảng đầu tháng

Hồ Chí Minh đến Lũng Cò (xã Thanh La), ở trong nhà ông Ma Văn Yến khoảng mười ngày. Người chỉ đạo việc phục vụ những chuyến bay của Đồng minh.

Khi rời Lũng Cò trở về Nà Lừa, vì ốm mệt, Người phải ngồi cáng trùm chăn kín.

– Lời kể của đồng chí Lê Giản. Tài liệu của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tuyên.

– Điều tra, khảo cứu tại chỗ, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 7, giữa tháng

Khi nghe một chiến sĩ liên lạc của chi đội Quang Trung báo cáo là “4 giờ có máy bay Đồng minh tới”, Hồ Chí Minh hỏi lại:

– Đồng chí nói 4 giờ là 4 giờ nào?

Người lấy đồng hồ ra cho đồng chí liên lạc xem rồi nói:

– Báo cáo quân sự là phải chính xác, nếu không sẽ sai lầm nguy hiểm. Đồng chí cần nói rõ là 4 giờ chiều hay 4 giờ sáng mai?

– Cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân vũ trang: Những ngày được gần Bác. Cục chính trị Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang xuất bản, 1970, tr. 102.

Tháng 7, ngày 17

Sau 20 giờ, Hồ Chí Minh có cuộc thảo luận dài với Thiếu tá E. Tômát56) và H. Pruyniê (H. Prunier) – sĩ quan OSS. Người khẳng định Mặt trận Việt Minh là tập hợp các đảng phái chính trị được tổ chức với mục đích duy nhất là đánh đổ tất cả các chính quyền nước ngoài và đấu tranh cho tự do và độc lập hoàn toàn của Đông Dương. Người cũng nhấn mạnh sự bất bình của nhân dân Việt Nam đối với người Pháp. Vì vậy, không thể để cho Trung uý Môngpho – một sĩ quan người Pháp cũng như những người Pháp khác vào hoạt động ở đây…

– Báo cáo của Thiếu tá E. Tômát, Đội trưởng Đội “Con Nai” gửi Thủ trưởng chi nhánh nghiên cứu chiến lược, Sở Nghiên cứu chiến lược (OSS) tại Trung Quốc. Bản dịch lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 127.

– Báo Quân đội nhân dân, ngày 3-9-2000.

Tháng 7, ngày 19

Hồ Chí Minh có cuộc thảo luận dài với Thiếu tá E. Tômát về khu vực hoạt động của Đội “Con Nai”. Theo Người, “Con Nai” nên tập trung hoạt động trên tuyến đường Thái Nguyên – Bắc Cạn – Cao Bằng (đường thuộc địa số 3), sau khi “thông đồng bén giọt” có thể di chuyển tiếp và hoạt động trên đường Lạng Sơn – Hà Nội.

Người còn khẳng định, Việt Minh có thể nhận một số đội hoạt động của SO (Đội công tác chiến lược “Con Nai”)…

– Báo cáo của Thiếu tá E. Tômát, Đội trưởng Đội “Con Nai” gửi Thủ trưởng chi nhánh nghiên cứu chiến lược, Sở Nghiên cứu chiến lược (OSS) tại Trung Quốc. Bản dịch lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 7, khoảng ngoài 20

Hồ Chí Minh gửi thư cho Thiếu tá E.Tômát. Nguyên văn bức thư như sau:

Gửi Thiếu tá Tômát,

Ngài thân mến,

Tôi gửi Ngài một chai rượu để uống cho ấm người. Tôi tin rằng Ngài sẽ thích thú.

Nếu Ngài viết thư về Côn Minh, hãy chuyển qua người chiến sĩ này.

Kế hoạch của Ngài về sự đầu hàng của Nhật (tối hậu thư, tấn công…) thật tuyệt vời. Tôi tin rằng nó sẽ đem lại kết quả rất tốt.

Sẽ rất tốt nếu Ngài chuyển kế hoạch đó bằng điện tín cho Đại uý Holland.

Trong thời gian tôi đi vắng, nếu cần gì xin Ngài nói với ông Văn hoặc ông Lã.

Chào thân ái

C. M. Hoo”

– Báo Nhân dân cuối tuần, số ra ngày 27-8-1995.

Tháng 7, ngày 21

Hồ Chí Minh tiễn Ph. Tam trở lại Trung Quốc và nhờ Ph. Tam chuyển cho Sáclơ một bức thư. Toàn văn bức thư như sau:

Ông Phen thân mến!

Tôi muốn viết cho ông thư dài để cảm ơn tình cảm của ông đối với tôi. Tiếc thay không thể viết dài được vì sức khoẻ tôi hiện giờ chưa được tốt lắm (nhưng không đến nỗi nguy kịch, ông an tâm).

Điều tôi muốn nói với ông thì ông Tam sẽ nói thay tôi. Nếu ông gặp các ông Bécna, Vinca Reit và Cácten (của cơ quan thông tấn) và những người bạn khác của chúng ta, nhờ ông chuyển tới họ lời chúc mừng tốt đẹp nhất của tôi.

Ông Tam nói là ông sẽ đến đây. Chúng tôi luôn sẵn sàng nồng nhiệt đón ông.

Hãy đến nhanh ông nhé.

Tôi chúc ông mạnh khoẻ và may mắn.

21-7-1945

Thân mến

CM HỒ”

– Bản chụp bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 82.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 549.

Tháng 7, ngày 25

Hồ Chí Minh một lần nữa yêu cầu E. Tômát, nhờ phía Mỹ báo cho người Pháp biết Người có thể nói chuyện với đại diện Pháp ở Côn Minh hoặc ở Bắc Kỳ57).

Người còn gửi Chính phủ Pháp một bản đề nghị gồm năm điểm.

1. Thực hiện phổ thông đầu phiếu để bầu ra một nghị viện quản lý đất nước do một toàn quyền người Pháp làm chủ tịch cho đến khi Việt Nam được hoàn toàn độc lập. Toàn quyền sẽ lập một nội các hay đoàn cố vấn được nghị viện chấp nhận. Quyền hạn chính xác của các quan chức nói trên sẽ được thảo luận sau.

2. Độc lập phải được ban bố cho đất nước trong vòng ít nhất là 5 năm nhưng không được quá 10 năm.

3. Các nguồn lợi thiên nhiên của đất nước phải được trả lại cho nhân dân trong nước với một sự đền bù thích đáng.

4. Mọi quyền tự do do Liên hợp quốc đề ra được bảo đảm thi hành cho người Đông Dương.

5. Cấm chỉ việc bán thuốc phiện.

– Báo cáo của Thiếu tá E. Tômát, Đội trưởng Đội “Con Nai” gửi Thủ trưởng chi nhánh nghiên cứu chiến lược, Sở nghiên cứu chiến lược (OSS) tại Trung Quốc. Bản dịch lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 7, cuối tháng

Tại lán Nà Lừa, Hồ Chí Minh ốm nặng. Người đã uống ký ninh và thuốc cảm, nhưng vẫn sốt cao và luôn mê sảng.

Một hôm, lên lán báo cáo công việc, thấy Người sốt, đồng chí Võ Nguyên Giáp xin ở lại lán với Người. Người mở mắt, khẽ gật đầu. Đêm ấy, tỉnh lại sau cơn sốt, Người nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Một lần khác, Người nói: “Lúc nào cũng phải chú trọng xây dựng chi bộ, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên và phần tử trung kiên. Trong chiến tranh du kích, lúc phong trào lên, ta phải hết sức phát triển, vừa phát triển vừa chú trọng xây dựng căn cứ cho thật vững chắc, để đề phòng lúc khó khăn mới có chỗ đứng chân được”.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.196.

Tháng 7, cuối tháng

Hồ Chí Minh uống thuốc của một cụ lang già người Tày. Thuốc là một thứ củ vừa đào trong rừng về, đem đốt cháy rồi hoà vào trong cháo loãng. Cơn sốt lui dần. Người lại gượng dậy và tiếp tục làm việc.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.197.

Tháng 8, từ ngày 1 đến ngày 6

Hồ Chí Minh tuyển lựa 200 du kích để Đội “Con Nai” huấn luyện sử dụng súng cácbin, M.A.S, tiểu liên Tômxơn, Badoca, cối và lựu đạn…

– Báo cáo của Thiếu tá E. Tômát, Đội trưởng Đội “Con Nai” gửi Thủ trưởng chi nhánh nghiên cứu chiến lược, Sở Nghiên cứu chiến lược (OSS) tại Trung Quốc. Bản dịch lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 8, ngày 6

Qua điện đài của nhóm Tômát, Hồ Chí Minh biết tin Mỹ đã ném bom nguyên tử xuống Hirôsima.

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 134.

Tháng 8, sau ngày 6

Hồ Chí Minh chỉ thị viết nhiều thư hoả tốc, tung giao thông đặc biệt đi các hướng để thúc giục các đại biểu ở các địa phương về Tân Trào họp Hội nghị toàn quốc của Đảng.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.197.

Tháng 8, khoảng ngày 10

Tại lán Nà Lừa, Hồ Chí Minh bàn với một số đồng chí về công việc chuẩn bị Hội nghị toàn quốc của Đảng. Khi Thường vụ chưa ấn định ngày, Người nói: “Nên họp ngay và cũng không nên kéo dài Hội nghị. Chúng ta cần tranh thủ từng giây, từng phút, tình hình sẽ chuyển biến nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội”.

– Nguyễn Lương Bằng: Gặp Bác ở Tân Trào, in trong cuốn Bác Hồ ở Tân Trào, Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Tân Trào – ATK, Hà Nội, 2004, tr. 11.

Tháng 8, ngày 12

Buổi tối, Hồ Chí Minh mặc dù đang yếu mệt, vẫn chăm chú theo dõi diễn biến tình hình thế giới. Qua chiếc đài thu thanh đã cũ, chạy bằng pin, Người nhận được tin của Đài tiếng nói Hoa Kỳ, phát đi từ Xan Phranxítxcô (San Francisco) loan tin: Nhật Bản gửi công hàm cho Mỹ và các nước Đồng minh, đề nghị mở cuộc đàm phán lập lại hoà bình, chấp nhận “ngừng bắn” chứ không chấp nhận “đầu hàng” không điều kiện. Người nhận định: “Có hiện tượng nguy ngập tan rã trong quân đội Nhật”.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đư­ờng lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.197.

Tháng 8, ngày 13

Có tin Nhật đầu hàng Đồng minh, quân đội Nhật ở các nơi ngừng chiến đấu. 23 giờ, Uỷ ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng hạ lệnh khởi nghĩa. Hồ Chí Minh chỉ thị viết nhiều thư hoả tốc, tung giao thông đặc biệt đi các địa phương và chỉ thị. Mệnh lệnh khởi nghĩa phải:

Tập trung lực lượng đánh vào đô thị, đánh chặn quân Nhật rút lui; sau mỗi trận chiến đấu lập tức bổ sung và củng cố bộ đội, để lại một phần ba hoạt động trong địa phương, hai phần ba sẵn sàng đợi lệnh điều động đi nơi khác; củng cố các căn cứ bí mật, quân lương, quân giới… chuẩn bị kháng chiến một khi quân Pháp trở lại…

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.197.

Tháng 8, ngày 14

Theo đề nghị của Hồ Chí Minh, Hội nghị toàn quốc của Đảng được triệu tập tại Tân Trào (Tuyên Quang). Hội nghị nhận định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”. Hội nghị quyết định mục đích của cuộc chiến đấu là giành quyền độc lập hoàn toàn cho đất nước, thành lập chính quyền nhân dân, thi hành Mười chính sách của Việt Minh, định chính sách ngoại giao đối với Đồng minh. Hội nghị đề ra Nghị quyết chủ trương tập trung mọi lực lượng để giành chính quyền, tập trung “nhằm vào ba nguyên tắc:

a) Tập trung – tập trung lực lượng vào những việc chính.

b) Thống nhất – thống nhất về mọi phương diện quân sự, chính trị, hành động và chỉ huy.

c) Kịp thời – kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội”.

Nghị quyết Hội nghị còn thảo luận và bàn bạc nhiều vấn đề khác như: vấn đề ngoại giao, tuyên truyền cổ động, nhiệm vụ quân sự, nhiệm vụ kinh tế, v.v..

– Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.7, tr.424,425.

Tháng 8, ngày 15

Sau khi nhận được tin Nhật chính thức tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện58), Hồ Chí Minh đề nghị Hội nghị toàn quốc của Đảng nên mau chóng kết thúc để các đại biểu khẩn trương quay ngay về các địa phương, kịp thời phát động quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị thông qua quyết nghị gồm 11 vấn đề quan trọng như: tình hình thế giới, tình hình Đông Dương, chủ trương của ta, vấn đề ngoại giao, nhiệm vụ quân sự, vấn đề cán bộ… Hội nghị còn quyết định thành lập Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc lãnh đạo Tổng khởi nghĩa và lập Bộ Tư lệnh giải phóng quân Việt Nam.

– Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.423-433.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.198.

Tháng 8, sau ngày 15

Hồ Chí Minh gửi Trung uý Giôn (John) một lá thư bằng tiếng Anh với nội dung:

Trung uý thân mến,

Nhờ ông gửi giúp về Bộ Tổng hành dinh của ông bức điện tín như sau:

Uỷ ban dân tộc giải phóng của Mặt trận Việt Minh yêu cầu nhà cầm quyền Hoa Kỳ thông báo cho Liên hợp quốc rằng: Chúng tôi đã đứng về phía Liên hợp quốc chống lại bọn Nhật. Nay bọn Nhật đã đầu hàng. Chúng tôi yêu cầu Liên hợp quốc thực hiện lời hứa long trọng của mình là tất cả các dân tộc đều được hưởng dân chủ và độc lập. Nếu Liên hợp quốc nuốt lời hứa long trọng này và không thực hiện cho Đông Dương được hoàn toàn độc lập thì chúng tôi sẽ cương quyết chiến đấu cho đến khi giành được nền độc lập hoàn toàn.

Uỷ ban dân tộc giải phóng Mặt trận Việt Minh.

– Robert Shaplen: The Enigma of Ho Chi Minh, Wesley R. Fichel, Illinois, 1958, p. 54.

Tháng 8, ngày 16

Hồ Chí Minh dự Đại hội quốc dân tại Tân Trào59). Đại hội đã nhiệt liệt tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng và Tổng bộ Việt Minh. Đại hội đã bầu ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ban thường trực của Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam gồm năm người: Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Dương Đức Hiền.

Người vẫn ốm, buổi chiều Người lại lên cơn sốt nên không thể đến dự buổi lễ xuất phát của Quân giải phóng60).

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1969, tr. 144.

– Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 164-165.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.198.

– Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương: Những sự kiện lịch sử Đảng (1920-1945), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, t.1, tr. 639-641.

Tháng 8, ngày 17

Trước đình Tân Trào, thay mặt Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đọc lời tuyên thệ trong buổi lễ ra mắt quốc dân:

“Chúng tôi là những người được Quốc dân đại biểu bầu vào Uỷ ban giải phóng dân tộc để lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân ta. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống quân thù, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, quyết không lùi bước. Xin thề!”.

– Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 165-166.

Tháng 8, ngày 18

Hồ Chí Minh viết Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa gửi quốc dân, đồng bào. Trong thư, Người chỉ rõ: “Bốn năm trước đây, tôi có thư kêu gọi đồng bào ta đoàn kết. Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được ĐỘC LẬP, TỰ DO.

Vừa đây Việt Minh lại triệu tập “Việt Nam quốc dân đại biểu Đại hội”, cử ra UỶ BAN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG VIỆT NAM để lãnh đạo toàn quốc nhân dân kiên quyết đấu tranh kỳ cho nước được độc lập.

Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam cũng như Chính phủ lâm thời của ta lúc này. Hãy đoàn kết chung quanh nó, làm cho chính sách và mệnh lệnh của nó được thi hành khắp nước.

Như vậy thì Tổ quốc ta nhất định mau được độc lập, dân tộc ta nhất định mau được tự do.

Hỡi đồng bào yêu quý!

Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.

Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ.

Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 553-554.

Tháng 8, ngày 18

Hồ Chí Minh gửi thông điệp cho Chính phủ Pháp61) nêu ra đề nghị năm điểm:

1- Chính phủ Pháp công nhận Chính phủ Việt Minh.

2- Việt Minh công nhận quyền của Pháp ở Việt Nam trong vòng từ 5 đến 10 năm, sau đó Chính phủ Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam.

3- Trong 5-10 năm đó, Việt Nam hưởng quyền tự trị đối nội.

4- Chính phủ Pháp hưởng quyền ưu đãi trong kỹ nghệ và thương mại ở Việt Nam.

5- Người Pháp có thể làm cố vấn về ngoại giao.

Đồng thời, qua người Mỹ, Người nhân danh Uỷ ban giải phóng dân tộc gửi thông điệp cho các nước Đồng minh.

– Báo cáo của Hsing Shenchou, ngày 10-10-1945, trong Việt Nam văn kiện hội biên. Dẫn theo King C. Chen: Vietnam and China 1938-1954, Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p. 107.

Tháng 8, khoảng ngày 18

Hồ Chí Minh gửi thư cho Sáclơ Phen. Toàn văn bức thư như sau:

Trung uý Phen thân mến!

Chiến tranh đã kết thúc. Đấy là điều tốt cho mọi người. Tôi cảm thấy áy náy khi những người bạn Mỹ phải rời chúng tôi quá nhanh. Việc ra đi của họ khỏi đất nước này có nghĩa là mối quan hệ giữa ông và chúng tôi sẽ khó khăn hơn.

Chiến tranh đã kết thúc thắng lợi. Nhưng chúng tôi, những nước nhỏ và phụ thuộc, không có phần đóng góp hoặc đóng góp rất ít vào thắng lợi của tự do, của dân chủ. Nếu muốn đóng góp một phần xứng đáng chúng tôi phải tiếp tục chiến đấu. Tôi tin rằng ông và nhân dân Mỹ vĩ đại sẽ luôn luôn ủng hộ chúng tôi.

Tôi cũng tin rằng sớm hay muộn chúng tôi cũng sẽ đạt được mục đích của mình, bởi vì mục đích đó là chính nghĩa. Và đất nước chúng tôi sẽ độc lập. Tôi trông chờ ngày hạnh phúc được gặp ông và những người bạn Mỹ của chúng ta ở Đông Dương hay trên đất Mỹ.

Chúc ông may mắn và sức khoẻ.

Tháng 8-1945

C.M HỒ”

– Bản chụp bức thư đánh máy tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 83.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 550.

Tháng 8, khoảng ngày 18

Hồ Chí Minh gửi thư62) cho Ph. Tam.

Toàn văn bức thư như sau:

Ông Tam thân mến!

Chiến tranh đã kết thúc. Mọi thứ đều thay đổi. Nhưng tình bạn của chúng ta vẫn thế, không bao giờ thay đổi.

Nhưng ông biết đấy, chúng tôi không có phần đóng góp chiến thắng này. Để góp phần mình vào chiến công chung, chúng tôi còn phải chiến đấu gian khổ. Ông hãy tin rằng chúng tôi đã chiến đấu và sẽ chiến đấu cho tới khi chúng tôi đạt được cái mà chúng tôi mong muốn: Độc lập dân tộc.

Tôi thấy áy náy vì những người bạn Mỹ đã rời chúng tôi quá nhanh và do đó mối quan hệ giữa ông và chúng tôi trở nên khó khăn hơn. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên ông. Ông cũng đừng quên chúng tôi nhé! Ngày mai tươi sáng chúng ta sẽ gặp nhau, chúng ta trông chờ ngày đó!

Thưa ông, người bạn được giao nhiệm vụ mua những vòng xuyến cho ông bị ốm và anh ta đã trao công việc đó cho người khác. Nhưng người này lại nhận công tác xa Hà Nội, nên anh ta đã trao công việc đó cho người thứ ba. Người này không thực hiện đúng mà chỉ mua được một số cái mà ông muốn.

Tất cả giá 440 piastres63).

Tôi gửi lại ông những gì mà họ chuyển cho tôi và số tiền còn lại là 2.560 piastres.

Chúc ông sức khoẻ và may mắn. Và chúc ông sớm gặp người bạn đời tốt. Hãy tin ở tôi, tôi sẽ mãi mãi như xưa.

8-1945

Thân mến

C.M Hồ”

– Bản chụp bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 83.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 551-552.

Tháng 8, khoảng trước ngày 20

Hồ Chí Minh họp với Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Thái, Hoàng Hữu Kháng và nữ đồng chí Châu. Người nói: “Bây giờ ta có chính quyền, chắc các cô, các chú cũng muốn về Hà Nội. Nhưng chưa được đâu! Lênin đã nói: “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”. Bởi vậy, một số các cô, các chú còn ở lại địa phương đây, giúp đồng bào tổ chức cuộc sống sao cho tươi đẹp hơn, ấm no, văn minh hơn… Biết đâu, chúng ta còn trở lên đây nhờ cậy đồng bào lần nữa…”.

– Lê Giản: Những ngày sóng gió, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1985, tr. 103-106.

Tháng 8, ngày 22

Sáng, Hồ Chí Minh rời Tân Trào về Hà Nội. Người đi theo đường đèo Khế, Cù Vân (nay thuộc huyện Đại Từ, Bắc Thái). Người chưa khỏi bệnh, còn mệt nhiều, có lúc phải nằm cáng.

Khoảng 20 giờ, Người tới Đại Từ.

Khoảng 21 giờ, Người đi ô tô64) đến Thái Nguyên65).

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 100-101.

– Trường Chinh: Bài phát biểu ngày 11-4-1967 với Thành uỷ Hà Nội về Cách mạng Tháng Tám (Bản ghi của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Hà Nội).

– Tài liệu của Tổ Nghiên cứu lịch sử Đảng thuộc Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Bắc Thái.

Tháng 8, ngày 23

Sáng, Hồ Chí Minh đi qua huyện Đa Phúc66) tỉnh Phúc Yên (nay là Sóc Sơn, Hà Nội). Trên đường về Hà Nội, Người trông rất yếu, tóc đốm bạc, râu ba chòm, mặc quần áo nâu, ngồi trên ghế sau một chiếc xe nhỏ, chiếc túi vải chàm đặt trên lòng.

Chiều, Người qua đò sông Hồng ở bến Phú Xá. Trong lúc tạm nghỉ ở đình Phú Xá (bấy giờ được dùng làm chỗ tập tự vệ), Người nghe đồng chí phụ trách công tác đội của Trung ương từ nội thành ra báo cáo về dư luận của đồng bào trước tin quân Đồng minh sẽ vào Đông Dương.

Tối, Người đến nghỉ trong nhà ông Công Ngọc Kha (tức Trần Lộc) ở làng Gạ (nay là làng Phú Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm), là một cơ sở cách mạng tin cậy.

– Thái Bảo: Đưa Bác về Thủ đô, in trong cuốn Bác Hồ với phụ nữ Hà Nội, Nxb. Hà Nội, 1985, tr.18-22.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội, Sở Văn hoá – Thông tin Hà Nội, 1985, tr. 7.

Tháng 8, ngày 25

Sáng, tại làng Gạ, Hồ Chí Minh nghe các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh từ nội thành ra báo cáo tình hình.

Chiều, Người từ làng Gạ đi ô tô vào nội thành Hà Nội. Xe qua Nhật Tân, Yên Phụ, Hàng Đậu, Hàng Giấy, Hàng Đường, Hàng Ngang, vòng đến dừng ở số nhà 35, phố Hàng Cân. Cùng đi có đồng chí Trường Chinh đã đến làng Gạ đón Người từ buổi sáng.

Theo thang gác, Người lên tầng hai nhà số 48, phố Hàng Ngang.

– Trường Chinh: Bài phát biểu ngày 11-4-1967 với Thành uỷ Hà Nội về Cách mạng Tháng Tám (Bản ghi của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Hà Nội).

– Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương: Những sự kiện lịch sử Đảng, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, t. 1, tr. 659-661.

Tháng 8, ngày 26

Buổi sáng, tại ngôi nhà số 48, phố Hàng Ngang (Hà Nội), Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng. Trong cuộc họp này, Người nhất trí với Thường vụ Trung ương Đảng về những chủ trương đối nội và đối ngoại trong tình hình mới, về việc sớm công bố danh sách thành viên Chính phủ lâm thời. Người đề nghị mở rộng hơn nữa thành phần của Chính phủ lâm thời, chuẩn bị ra Tuyên ngôn Độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ ra mắt nhân dân, ngày ra mắt của Chính phủ lâm thời cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hoà. Người nhấn mạnh những việc cần làm ngay trước khi quân đội Tưởng vào Đông Dương tước vũ khí của quân đội Nhật.

Buổi trưa, tại số nhà 48, phố Hàng Ngang, Hồ Chí Minh mời cơm Pátti67).

Người nói chuyện với Pátti đến gần 16 giờ.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 229-231.

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 200.

Tháng 8, ngày 27

Hồ Chí Minh triệu tập cuộc họp của Uỷ ban dân tộc giải phóng. Trong cuộc họp này, Người đề nghị thi hành chính sách đoàn kết rộng rãi, thành lập Chính phủ thống nhất quốc gia bao gồm cả những đại biểu các đảng phái yêu nước và những nhân sĩ không đảng phái, có danh vọng.

Đề nghị của Người được mọi người tán thành.

Nhiều uỷ viên Việt Minh tự nguyện xin rút lui để nhường chỗ cho những người khác thuộc các đảng phái khác.

Người được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Cùng ngày, Người tiếp các bộ trưởng mới tham gia Chính phủ68).

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 101.

Tháng 8, từ ngày 28

Từ nơi ở là ngôi nhà số 48, phố Hàng Ngang (Hà Nội), Hồ Chí Minh hằng ngày đến làm việc tại nhà số 12 phố Ngô Quyền – trụ sở của Chính phủ lâm thời.

Người dành phần lớn thời gian soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 101.

Tháng 8, ngày 29

Hồ Chí Minh gửi một tấm danh thiếp trên đó viết mấy lời ngắn gọn, mời A. Pátti đến gặp trước 12 giờ.

Vào lúc 10 giờ 30, Người tiếp A. Pátti tại số nhà 48, phố Hàng Ngang. Cùng tiếp có đồng chí Trường Chinh. Người nói với Pátti: muốn trao đổi với ông ta về một số kế hoạch hoạt động của Chính phủ lâm thời trong những ngày sắp tới, trong đó có việc tổ chức ngày lễ Độc lập 2-9, giới thiệu các thành viên Chính phủ và chương trình hoạt động của Chính phủ cho mọi người dân được biết. Người cho gọi người phiên dịch đến dịch cho Pátti nghe bản dự thảo Tuyên ngôn Độc lập. Pátti vô cùng ngạc nhiên khi thấy Cụ Hồ đã đưa vào đó một số câu trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ nhưng đã đảo trật tự và thay thế một số từ, đem lại cho nó một ý nghĩa mới.

Trong cuộc gặp hai người còn trao đổi về việc quân Tưởng vào Việt Nam, về “Chương trình quốc hữu hoá” của Chính phủ đối với một số ngành kinh tế quan trọng. Hồ Chí Minh mời Pátti dự lễ Độc lập 2-9. Pátti nhận lời nhưng cũng tỏ ý vì lý do tế nhị có thể sẽ không đến dự được.

– L. A. Patti: Why Vietnam? (Tại sao Việt Nam), Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr. 227-231.

Tháng 8, trước ngày 30

Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời gửi bức công điện cho Tổng thống Mỹ Tơruman, nhờ A. Pátti chuyển giúp về Mỹ.

Nguyên văn bức điện như sau:

“Để bảo đảm có kết quả cho vấn đề mà Uỷ ban Liên tịch các nước Đồng minh có nhiệm vụ phải giải quyết ở Việt Nam, yêu cầu để cho phái đoàn Mỹ được làm một thành viên của Uỷ ban nói trên và đặt quan hệ với Chính phủ chúng tôi… Chúng tôi yêu cầu cho Chính phủ chúng tôi, chính quyền duy nhất hợp pháp ở Việt Nam, và là người duy nhất đã chiến đấu chống Nhật (sic) (hoạt động quân sự do Mặt trận Việt Minh và sĩ quan Mỹ tiến hành) có quyền đại diện trong Uỷ ban đó.

Chính phủ lâm thời nước Cộng hoà Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh”69)

Bức điện được gửi nhằm hai mục đích:

1. Muốn có một nước thứ ba là Mỹ tham dự vô tư vào cuộc thương lượng giữa Pháp và Trung Quốc về Việt Nam, để tránh những nguy cơ có thể có cho nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam do hai nước đó tuỳ tiện nhân nhượng lẫn nhau. 2. Muốn các nước Đồng minh công nhận Chính phủ lâm thời của Hồ Chí Minh là đại diện duy nhất và hợp pháp của Việt Nam trong các vấn đề có liên quan đến chủ quyền của Việt Nam.

Pátti cho biết ông không có nhiệm vụ chính trị và quyền đại diện ngoại giao, nhưng nhận sẽ chuyển bức điện cho Đại sứ Mỹ Hurley. Bức điện được chuyển đi ngày 30-8-1945, số điện 47.

– L. A. Patti: Why Vietnam? (Tại sao Việt Nam), Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr. 237-239; ghi chú trang 524.

Tháng 8, ngày 30

Hồ Chí Minh mời một số đồng chí đến trao đổi, góp ý kiến cho bản dự thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Sau khi đọc bản thảo cho mọi người nghe và hỏi ý kiến, Người nói: trong đời, Người đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 105.

Tháng 8, ngày 31

Hồ Chí Minh bổ sung một số điểm vào bản thảo Tuyên ngôn Độc lập; hỏi cụ thể về tình hình chuẩn bị tổ chức cuộc mít tinh lớn ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) và nhắc nhở Ban tổ chức một số điểm cần chú ý.

– Tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 1

16 giờ 30, Hồ Chí Minh mời A.Pátti và Grélecki dự bữa cơm thân mật trước ngày lễ Độc lập của Việt Nam tại Bắc Bộ phủ. Cùng dự tiếp có Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Hoàng Minh Giám.

Với một giọng thân mật, Hồ Chí Minh tỏ lòng biết ơn đối với những người bạn Mỹ về sự ủng hộ vật chất và tinh thần mà phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam đã nhận được trong mấy năm gần đây, đặc biệt là cảm ơn sự giúp đỡ của Cơ quan phục vụ chiến lược (OSS). Người cũng nhắc đến Tướng Chennault, Đại tá Helliwell, Glass, các Thiếu tá Thomas và Holland cùng những người khác trong toán công tác của họ. Người tỏ ý mong rằng tinh thần “hợp tác hữu ái” đó sẽ tiếp tục phát triển trong các năm tới.

Trong cuộc trò chuyện, Người cũng biểu thị cho người Mỹ và các nước Đồng minh biết lòng tin tưởng và quyết tâm không gì lay chuyển nổi của nhân dân Việt Nam để tự giải phóng mình thoát khỏi “mọi sự cai trị của bên ngoài, dù cho đó là của Pháp, Nhật, Trung Quốc hay bất kỳ ai”. Người cũng nói cho người Mỹ hiểu: phong trào dân tộc của Việt Nam bao gồm một cách dân chủ tất cả các đảng phái cách mạng Việt Nam. Người công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là nhân tố lãnh đạo phong trào dân tộc đó, nhưng các đảng viên trước hết là những người yêu nước, sau đó mới là đảng viên của Đảng.

Người cũng nói về nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 và đề nghị Chính phủ Mỹ yêu cầu quân đội Tưởng vào Việt Nam phải mua bán chứ không được trưng thu các vật phẩm và lương thực trong thời gian họ ở đây để tránh gây ra tình hình người Việt Nam bắt buộc phải tiến hành chiến tranh đối với người Trung Quốc để bảo vệ cuộc sống và gia đình họ.

Pátti nhận lời sẽ chuyển yêu cầu đó của Chính phủ Hồ Chí Minh về Mỹ.

Buổi tiếp kiến kéo dài đến 19 giờ 30 trong không khí cởi mở, thẳng thắn và thân tình.

– L. A. Patti: Why Vietnam? (Tại sao Việt Nam), Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr. 250-254.

Tháng 9, ngày 2

14 giờ.

Trong cuộc mít tinh tại vườn hoa Ba Đình, Hà Nội, trước hàng chục vạn đồng bào Thủ đô, trên diễn đàn cao và trang nghiêm, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trịnh trọng tuyên bố với thế giới:

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Sau khi Chính phủ lâm thời làm lễ tuyên thệ và nhân dân thề một lòng ủng hộ Chính phủ do Hồ Chí Minh lãnh đạo, Người nói:

“Độc lập tự do là của quý báu, quý giá vô ngần, ta đã khổ sở trong bao nhiêu năm mới giành được, cần phải cố gắng giữ gìn, bảo vệ”.

19 giờ, Hồ Chí Minh họp với đại biểu các tỉnh.

Cùng ngày, Người gửi thư cho toàn thể Hoa kiều ở Việt Nam.

Bức thư có đoạn: “Tôi xin thay mặt Chính phủ nhân dân lâm thời Việt Nam và toàn dân Việt Nam đưa bàn tay nồng nhiệt hoan nghênh anh em Hoa kiều sinh sống trên đất nước ta, mong rằng anh em hai nước chúng ta thân mật đoàn kết, có việc gì thì giải quyết với nhau theo nguyên tắc hợp pháp, hợp lý với thái độ kính trọng nhường nhịn lẫn nhau, không được vì những việc tranh chấp nhỏ của cá nhân mà gây điều bất hạnh ngăn cách giữa hai dân tộc”.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr.107-109.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr.6.

_______________________________

1) Có tài liệu nói là cuối năm, nói theo âm lịch (cuối năm Giáp Thân) (B.T).

2Cuối năm 1944, một chiếc máy bay Mỹ lượn trên bầu trời Cao Bằng, bị hỏng máy. Viên trung uý phi công nhảy dù xuống một hòn núi gần tỉnh lỵ. Được tin, thực dân Pháp liền cho bao vây khu rừng, tháo máy và tìm viên phi công. Quân Nhật cũng đến ngay, chiếm lấy chiếc máy bay, buộc tội Pháp để viên phi công trốn thoát và buộc phải tìm giao nộp.

Trung uý Sao đã được Việt Minh cứu thoát, dẫn đường trốn trong một cái hang và hôm sau vượt qua những trạm gác nghiêm ngặt của Pháp. Sao đã vượt qua một quãng đường dài 60 km trong ngót một tháng trời để đến biên giới Việt – Trung (B.T).

3Đồng chí Phùng Thế Tài làm công tác bảo vệ, và đồng chí Đinh Đại Toàn (tức Minh) phục vụ sinh hoạt (B.T).

4) Người muốn gặp lại các đồng chí ở Vân Nam, và nhất là có ý định gặp các cơ quan của Mỹ đóng ở Côn Minh nhằm tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của Đồng minh chống phát xít đối với cách mạng Việt Nam. Lúc bấy giờ tại Côn Minh, Mỹ có trụ sở của Không đoàn thứ 14 dưới sự chỉ huy của tướng Sênôn (Claire L.Chennault), Cơ quan phục vụ chiến lược OSS (The Office of Strategic Service) và Cơ quan cứu trợ không quân AGAS (Air Ground Aid Service) (B.T).

5) Viên trung uý này là người trực tiếp điều khiển nhóm tình báo Đồng minh đang hoạt động trên đất Việt Nam lúc đó (B.T).

6Nhật ký của Sáclơ Phen ghi lại buổi gặp gỡ đó như sau:

“Hồ cùng đến với một thanh niên tên là Fam. Hồ không như tôi tưởng. Trước hết, ông chưa đến nỗi “già”, chòm râu không còn đen nữa (…) nhưng khuôn mặt khoẻ mạnh và đôi mắt lấp lánh. Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Pháp. Tôi hỏi ông là ông muốn gì ở người Mỹ. Ông nói: Chỉ muốn họ công nhận tổ chức của ông. Tôi đã nghe phong phanh người này là cộng sản và tôi đã hỏi về điều đó. Hồ nói rằng người Pháp gọi tất cả những người Việt Nam mong muốn độc lập đều là cộng sản. Tôi đã kể cho ông nghe về công việc của chúng ta và hỏi ông có muốn giúp chúng ta không. Hồ nói là họ có thể giúp được, nhưng không có người sử dụng điện đài và dĩ nhiên không có thiết bị gì cả. Chúng tôi thảo luận về việc tiếp nhận một điện đài, một máy phát và người sử dụng máy móc đó (…). Chúng tôi đã thảo luận về người Pháp, Hồ nhấn mạnh rằng Việt Minh chỉ muốn chống Nhật. Giọng nói của ông rõ ràng và dứt khoát, gây cho tôi một ấn tượng mạnh mẽ. Fam ghi chép. Chúng tôi thoả thuận còn phải gặp nhau nữa. Họ đã ghi tên của họ theo âm Trung Quốc latinh là Fam Fuc Pao và Ho Tchih Ming” (B.T).

7Nhật ký của Sáclơ Phen ghi lại cuộc gặp gỡ này như sau:

“Cuộc gặp với những người Việt Nam diễn ra trong quán cà phê Đông Dương ở phố Kim Bích. Hình như ông chủ quán cà phê này là bạn của họ. Chúng tôi ngồi trên lầu và uống cà phê theo kiểu Pháp rất đặc và rất ngon. Gian phòng còn vắng nhưng Hồ nói là khách có thể vào. Chúng tôi thoả thuận: gọi người Trung Hoa là “bạn”, người Mỹ gọi là “anh em”, người Pháp gọi là “người trung lập”, người Nhật gọi là “bọn chiếm đóng”, người Việt Nam gọi là “người đồng hương”. Người của Hồ giống người Trung Quốc. Vì không có người Việt Nam sử dụng được vô tuyến điện nên tất nhiên phải chọn người Trung Quốc /…./. Tiếp đó, chúng tôi bàn về sự trợ giúp. Fam đã nhắc lại “tiếng nổ lớn” mà Hall đã nói với anh ta. Chúng tôi thoả thuận với nhau là sau này chúng tôi có thể cung cấp thêm vũ khí phát sáng, thuốc men và điện đài khác. Người sử dụng máy móc riêng của chúng tôi có thể huấn luyện lại một số người của ông Hồ để sử dụng được các thứ đó. Hồ cũng muốn được gặp Sênôn. Tôi thoả thuận sẽ thu xếp cuộc gặp đó nếu ông đồng ý không nói với Sênôn bất cứ điều gì về sự ủng hộ và những hứa hẹn giúp đỡ. Hồ đồng ý. Ông già mặc một chiếc quần bông kiểu Tàu và một chiếc áo xanh đã ngả vàng cài khuy đến tận cổ. Đôi dép của ông là dép da thường thấy ở Đông Dương. Bộ râu thưa đã bạc, lông mày màu nâu sáng đã chuyển sang màu xám ở phía trên, nhưng mái tóc hầu như vẫn còn đen tuy cũng đã bắt đầu ngả màu. Người thanh niên, Fam, mặc quần áo Tây, gò má cao, cằm bạnh. Cả hai người nói nhỏ nhẹ, thỉnh thoảng mỉm cười. Chúng tôi cảm thấy chúng tôi cư xử với nhau rất đẹp” (B.T).

8) Nhật ký của Sáclơ Phen miêu tả cửa hiệu này có “tầng dưới nham nhở với những ngọn đèn đỏ, trắng, vàng, với một chiếc thùng đang sôi sùng sục trên bếp lò ở phía sau” (B.T).

9) Ph. Tam là người Mỹ gốc Hoa sẽ cùng về nước với Hồ Chí Minh với trách nhiệm mà nhóm công tác của Sáclơ Phen giao cho. Bécna, người chỉ huy trực tiếp Ph. Tam dặn anh ta chỉ mang những thứ cần thiết nhất gồm một điện đài, một khẩu súng lục và những tư trang gọn nhẹ (B.T).

10) Trần Dân Tiên miêu tả Sênôn là một chiến tướng già dặn, vẻ mặt nghiêm nghị, nhưng lại rất hoà nhã, thậm chí có thể nói là nhân từ(B.T).

11) Nhật ký của Sáclơ Phen ghi về cuộc gặp gỡ này như sau:

“Bécna và tôi có bổn phận đón Hồ vào 10 giờ 30 phút ngày 29-3 cho cuộc gặp vào lúc 11 giờ (…), khi chúng tôi có mặt ở ngoài cơ quan của Sênôn thì chúng tôi được báo là tướng quân đang bận việc. Đúng lúc đó cô thư ký xuất hiện và quả quyết với chúng tôi là ngài còn bận chút xíu nữa thôi (…). Năm phút sau chúng tôi được dẫn vào phòng. Ở đó, Đôrên (Doreen) đã mang sẵn hai chiếc ghế, trong khi chính Sênôn ngồi trên chiếc ghế thứ ba (…). Một cảnh tượng kỳ dị: Sênôn trong bộ comlê trang nhã có đính huân chương, Bécna trong bộ soóc bằng vải kaki, còn tôi trong bộ quần áo bằng vải gabađin và chiếc mũ thuỷ quân lục chiến. Ông già mặc chiếc áo ngắn tay, dài tới đầu gối và đi xăngđan, Đôrên trong bộ quần áo kaki.

Sênôn nói với Hồ là ông ta rất biết ơn về việc cứu người phi công. Hồ nói ông sẽ rất vui lòng giúp đỡ người Mỹ, đặc biệt là Tướng Sênôn – người mà ông rất ngưỡng mộ. Họ chuyện trò về những con hổ biết bay (chỉ các huyền thoại về đơn vị không quân 14 được mệnh danh làphi hổ dưới quyền Sênôn). Sênôn rất hài lòng về việc ông già biết chuyện đó. Chúng tôi tiếp tục nói chuyện về việc cứu phi công sau này”(B.T).

12) Tại đây, Người được biết Việt Nam cách mạng đồng minh hội đã có nhiều biến đổi trong sáu tháng qua kể từ khi Người rời Liễu Châu: Nguyễn Hải Thần, Trương Bội Công, Nghiêm Kế Tổ, Vũ Hồng Khanh, Nông Kính Du và Trần Báo đã rời Đệ tứ chiến khu đi Vân Nam hoặc Quý Châu. “Lớp huấn luyện đặc biệt của người Việt Nam” chỉ có 140 người ở lại Bách Sắc. Trên thực tế, Việt Nam cách mạng đồng minh hội đã ngừng hoạt động, mặc dù Lê Tùng Sơn, Bồ Xuân Luật và Trương Trung Phụng còn có mặt. Nguyên nhân chính là do thất bại của quân Trung Quốc ở Quảng Tây và một phần là do chính sách của Tiêu Văn đối với các lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng. Nhưng có một điều không thay đổi, đó là các nhóm Việt Minh vẫn hoạt động tích cực ở vùng biên giới. Việt Nam cách mạng đồng minh hội không còn ở Liễu Châu vì Liễu Châu đã rơi vào tay Nhật từ ngày 11-11-1944. Bách Sắc là một thị trấn nhỏ nhưng quan trọng về chiến lược ở phía tây – nam tỉnh Quảng Tây (B.T).

13) Trả lời cuộc phỏng vấn của King C. Chen, Trương Phát Khuê khẳng định cuộc gặp gỡ này (B.T).

14) Con số này do Ph. Tam cung cấp cho Sáclơ Phen, Tam viết:

“Những người hộ tống đã tới vào ngày 15-4. Bốn giờ sáng hôm sau chúng tôi cải trang thành những người buôn lậu vùng biên giới, cho tất cả trang bị vào những chiếc làn mây. Chúng tôi sóng đôi cuốc bộ tới biên giới lúc 15 giờ, chờ tối vượt biên giới. Chuyến đi dài ngày này dễ bị cướp nên chúng tôi tháo súng ra khỏi bao và cầm sẵn trong tay (…)” (B.T).

15) Theo Ph. Devillers trong cuốn Paris – Sai Gon – Hanoi (Gallimard, Julliard, Paris, 1988) thì cuộc gặp mặt này diễn ra vào tối ngày 27-4-1945. Sau này, A. Pátti kể lại: “Con người mảnh khảnh, nhỏ bé và kỳ lạ ấy gặp tôi với nụ cười niềm nở. Ông Hồ không yêu cầu gì cả, ông chỉ trình bày cho tôi nghe giá trị tiềm tàng của tổ chức quân sự, chính trị của mình” (B.T).

16) Đồng chí Hoàng Văn Lộc (B.T).

17) Đó là nhà đồng chí Kê Minh. Bấy giờ theo chủ trương “vườn không nhà trống” sơ tán chống Nhật, các gia đình ở đây đều lên ở trên núi đá. Khu vực họp, được trung đội tự vệ vũ trang do Trung đội trưởng Lê Văn Nhưng (bí danh Phúc Hưng) chỉ huy canh gác bảo vệ (B.T).

18) Đó là hai sĩ quan Mỹ (trong đó có một người gốc Hoa) sang giúp ta về kỹ thuật vô tuyến điện đã nói trong sự kiện ngày 15-4-1945 (B.T).

19) Hành trình của Hồ Chí Minh từ Pác Bó đi Tân Trào chia làm hai chặng: Pác Bó – Lam Sơn, và Lam Sơn – Tân Trào (B.T).

20Tuyến đường đi của đoàn khởi đầu từ Khuổi Nậm, dọc bờ suối Lênin, qua các bản Bó Bẩm, Pác Bó, Bản Hong, Bản Hoàng, Nà Mạ, Thua Phia (xã Xuân Hoà, nay là xã Nà Sao, Hà Quảng) (B.T).

21 Đồng chí Nông Hiền Hữu (bí danh Quất) lúc đó là Chủ nhiệm Việt Minh châu Hà Quảng. Cùng ăn cơm trưa với Hồ Chí Minh có hai người “Đồng minh”, đồng chí Quất và đồng chí Đinh Đại Toàn (người phụ trách sinh hoạt của Hồ Chí Minh ở Trung Quốc cùng về) (B.T).

22 Đoàn không qua ngã ba Đôn Chương mà thẳng xuống bản Giàng, sau đó ra đường cái hiện nay, đi Ngườm Lầm, rẽ vào Yên Luật (xã Xuân Hoà). Đến gần đền thờ Yên Luật, Hồ Chí Minh cùng đoàn nghỉ chân và tiểu đội trinh sát cho người đi thăm dò đoạn đường Kéo Tác để vượt đèo sang xã Đào Ngạn (huyện Hà Quảng) (B.T).

23 Đồng chí Quất đã tìm được đồng chí Cao Chung, lúc bấy giờ đang họp Ban Việt Minh xã tại Luống Nọi (xã Phù Ngọc) (B.T).

24 Rời Bản Nưa (xã Đào Ngạn), đoàn cán bộ đi qua Bó Hang – Lũng Mỏ, vượt đèo Phin Đen đi Luống Nọi (xã Phủ Ngọc), nghỉ uống nước tại nhà đồng chí Thế Hùng (khoảng 20 phút) để trinh sát đi thăm dò quãng đường phải vượt qua vì đường ôtô thường có giặc Nhật qua lại. Đến Vỏ Nuống (xã Nam Tuấn, huyện Hoà An), đoàn nghỉ chân uống nước ở nhà đồng chí Hồng Quân, sau đó vượt Phó Lài đi Phin Gào, vượt Bằng Giang, qua Pác Cám (xã Bình Long) theo đường mòn ven núi đến vùng núi đá Lam Sơn (xã Hồng Việt, huyện Hoà An) (B.T).

25Lúc bấy giờ đặt ở nhà đồng chí Nụ, bản Nà Dương, xã Hồng Việt (B.T).

26 Nhà ông Lý Văn Thạc ở bản Bó Phía (B.T).

27 Các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Đặng Việt Châu, Vũ Anh, Phạm Văn Đồng, Đặng Văn Cáp (B.T).

28 Đồng chí Bình Dương, đồng chí Lã (B.T).

29 Hành trình của đoàn bắt đầu từ Lam Sơn, đi Hào Lịch (xã Hoàng Tung). Đến bản Pác Phiêng, đoàn dừng chân mấy phút nhận quà tặng và lời chúc mừng của đại biểu nhân dân (dân tộc Tày) rồi qua Bó Lệnh (xã Hoàng Tung) ra ngã ba bản Tấn (B.T).

30 Người được bố trí ngủ đêm tại nhà ông Minh, một cơ sở tốt ở gần sông Khuổi Lẩy. Việc ăn, nghỉ của Người tại đây do đồng chí Lê Quang Kháng, phụ trách Ban Việt Minh khu Quang Trung bố trí (B.T).

31 Huyện Ngân Sơn thuộc tỉnh Bắc Kạn. Từ Khuổi Lẩy, đoàn đi men theo đường sông đến bản Tổng Lằn, rẽ lên quốc lộ 3 (Cao Bằng, Thái Nguyên) tại khu vực đèo Bele, đi khoảng 4 km trên quốc lộ rồi rẽ xuống bản Lũng Sao của người Dao Tiền (xã Thượng An, huyện Ngân Sơn), nghỉ đêm tại đấy (B.T).

32Tại Lam Sơn, Đặng Văn Cáp được giao nhiệm vụ lập một “nhà chữa súng” đặt trong một hang đá nhỏ cạnh hang đá lớn là nơi sau này, năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp tổng kết chiến dịch Biên giới (B.T).

33Đồng chí Hoàng Mỹ Đức, người đã được gặp Hồ Chí Minh ở Trung Quốc hơn một nửa năm trước đó (B.T).

34Các đồng chí Gia Quốc Toàn và Đồng Quang Tuân phụ trách Ban Việt Minh được giao nhiệm vụ đưa đoàn đến Tân Trào. Theo đường mòn, đoàn đi qua xã Trung Hoà, xã Hà Hiệu, đến Khuổi Mản (B.T).

35Đoàn qua bản Cốc Lót, cắt ngang quốc lộ ở Hà Hiệu (đường đi Tĩnh Túc), đi dọc theo một nhánh sông Năng, qua Nà Vài, Phiêng Dòn, Nà Thi, Bản Non (B.T).

36 Mờ sáng, đoàn rời châu lỵ. Ban đón tiếp ở Chợ Rã đã nắm cơm để đoàn mang theo vượt núi Cứu Quốc (Phia Bioc) là dãy núi cao có đỉnh trên 1500 m.

Đoàn đi Kéo Cảo (xã Thượng Giáo) cây cối xanh tươi. Ngắm nhìn rặng cây, Người khuyên cán bộ địa phương nên chăm sóc, bảo vệ cây.

Đoàn đi qua bản Pác Phai dưới chân núi Phia Bioc, qua Phia Khao, Kéo Càng Lô, Lũng Quốc, Nà Hai (B.T).

37Bản Chán (xã Đồng Phúc, huyện Chợ Rã) là điểm cuối cùng trên đất Cao Bằng (B.T).

38Đoàn đi qua địa phận xã Đồng Phúc (Ba Bể), đến xã Bằng Phúc, thuộc huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Thái), vượt đèo Kèo Khôm, tới xã Phương Viên (B.T).

39Ở nhà ông Lý Cao, bấy giờ là Chủ nhiệm Cách mạng xã. Ông Cao được Nông Văn Lạc thông báo “chuẩn bị đón thượng cấp” (B.T).

40 Đoàn rời Bản Cải, đi châu lỵ Chợ Đồn, qua khỏi Chợ Đồn khoảng hơn 1 km, trên đường đi Bản Pịt thì nghe tiếng súng Nhật ở châu lỵ. Đoàn rẽ vào rừng Khuổi Luông, dừng lại nghe ngóng.

Hồ Chí Minh cùng một bộ phận rời đèo Khuổi Khuy tới xã Bằng Viễn, đi đường rừng vòng sau đồn cũ xuống Khuổi Tráng ra khe Nậm Cảng, tới bản Duồng. Lúc này đã xế chiều, đoàn nghỉ ăn cơm tại nhà ông Lý Quý.

Bộ phận kia sau khi nghe được tin báo quân Nhật đã đi xa, lại tiếp tục hành quân theo hướng cũ đã định, qua Chợ Đồn, đến ngã ba gặp trung đội tự vệ vũ trang do Vũ Yến chỉ huy ra đón.

Sau bữa cơm chiều ở bản Duồng, trời còn sáng, đoàn cán bộ đi tiếp khoảng 4 km đến bản Rủm Tó (B.T).

41 Người nghỉ đêm ở nhà ông Triệu Văn Cam, một cơ sở tin cậy (B.T).

42 Người đi qua Thành Coóc (xã Hùng Lợi), xuống làng Chạp (xã Trung Yên), làng Nha (xã Kim Quan Thượng), làng Đồn (xã Thanh La) vượt đèo Chắn, vào Hồng Thái (xã Tân Trào). Cùng đi có đồng chí Võ Nguyên Giáp. Các đồng chí phụ trách phân khu Nguyễn Huệ như Song Hào, Tạ Xuân Thu, Lê Trung Đình, tổ chức đón Người (B.T).

43Các đồng chí Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm Việt Minh xã Hồng Thái chở đò đưa Người và một số cán bộ cùng đi qua bến Vực sang bên kia sông Đáy. Còn số đông cán bộ đi trong đoàn thì lội qua sông ở quãng bến Dâu, cách bến Vực chừng 50 m (B.T).

44Tức Ph. Tam và Mácxin (B.T).

45 Nguyễn Tiến Sự lúc này là Chủ nhiệm Việt Minh xã Tân Trào (B.T).

46 Lán Nà Lừa (thuộc thôn Tân Lập) cách nhà ông Nguyễn Tiến Sự khoảng 1 km (B.T).

47 Bà Lương Thị Khanh kể: “Hôm ra đi, cháu Khoái (con trai độc nhất của ông bà Nguyễn Tiến Sự) cứ níu áo theo sau. Cụ liền nói với tôi để cho cháu ra ở với Ông Cụ vài hôm cho vui. Tôi đồng ý, mà cũng không ngăn được, vì trẻ con được người già yêu thì nó cứ theo. Nhưng ở với Ông Cụ được hai tối, nhớ tôi, cháu lại về” (B.T).

48 Trường Quân chính kháng Nhật được mở tại Khuổi Kịch (đông bắc xã Tân Trào) do đồng chí Hoàng Văn Thái làm Hiệu trưởng kiêm Chính trị viên. Nhiều học viên của trường về sau là cán bộ cao cấp trong quân đội (B.T).

49 Ngay hôm nhận được thư, Pátti trả lời người giao thông rằng đã gửi hai văn kiện ấy đến các nhà chức trách hữu quan ở Trùng Khánh(B.T).

50Theo chỉ thị của Người, Hội nghị này đã được triệu tập ngày 4-6-1945. Hội nghị quyết định xây dựng Khu giải phóng toàn quốc, Tân Trào được chọn làm Thủ đô Khu giải phóng (B.T).

b Để bảo vệ lãnh tụ, việc Bác về Tân Trào vẫn được giữ bí mật hoàn toàn, ngay cả đối với đồng chí chỉ huy đơn vị Giải phóng quân này(B.T).

51 Ông T.: Ph. Tam, phụ trách điện đài, người của Đồng minh (B.T).

52 Tức Mácxin (B.T).

53 Trần Dân Tiên cho biết: “Người Mỹ muốn xây dựng một sân bay cho máy bay cỡ nhỏ có thể lên xuống được, thì đã tìm được địa điểm một cách dễ dàng. Họ dự tính một tuần lễ mới có thể xây dựng xong sân bay, nhưng chỉ trong hai ngày công việc đó đã hoàn thành”(B.T).

54Cuối thư thường có những lời lẽ đại loại:

“Các anh hãy chọn lấy một trong hai con đường: hoặc là hợp tác thân thiện với Nhật, hoặc là bị Nhật tiêu diệt…” (B.T).

55 Có những trường hợp cán bộ du kích trả lời bằng một chữ “Cambronne”. Cambronne (1770-1842) là một vị tướng Pháp. Khi chỉ huy trận địa cuối cùng ở Oatéclô, bị quân địch vây hãm và bức hàng, ông trả lời bằng một câu đã đi vào lịch sử: “Thà chết không hàng”.

Từ đó “Cambronne” trở thành từ đồng nghĩa của mệnh đề “Thà chết không hàng” (B.T).

56 Chiều 17 tháng 7, Đội “Con Nai” gồm 5 người do Thiếu tá tình báo Mỹ E. Tômát phụ trách nhảy dù xuống Tân Trào (B.T).

57 Yêu cầu này đã được E. Tômát chuyển cho Bộ chỉ huy AGAS ở Côn Minh ngay (B.T).

58Trưa ngày 15-8-1945, Đài phát thanh Tokyo đã truyền đi bản tuyên bố của Nhật hoàng Hirô Hitô chấp nhận Bản tuyên bố Pốtxđam của tứ cường, tức Bản tuyên bố của Liên Xô, Anh, Mỹ, Trung Quốc, đòi Nhật Bản đầu hàng không điều kiện (B.T).

59 Đại hội tiến hành ở đình Tân Trào trong hai ngày 16 và 17-8-1945. Tham dự có hơn 60 đại biểu Bắc, Trung, Nam và đại biểu kiều bào ở nước ngoài, đại biểu của các đảng phái chính trị, các đoàn thể nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo (B.T).

60 Theo Võ Nguyên Giáp: “Chiều 16-8, một đơn vị Giải phóng quân tập hợp dưới cờ làm lễ xuất phát tiến về Nam” (B.T).

61 Theo Robert Shaplen trong The Enigma of Ho Chi Minh, Wesley R. Fichel, Illinois, 1958, thông điệp đã đến tay Lêông Pinhông (Léon Pignon), và Giăng Xanhtơny (Jean Sainteny), lúc đó là đại diện của Pháp (B.T).

62 Thư đánh máy, ký tên C.M. Hoo bằng bút mực, không ghi ngày tháng năm (B.T).

63 Được để riêng một vài dòng và gạch dưới trong bản đánh máy.

Piastres: đơn vị tiền Đông Dương thời thuộc Pháp (B.T).

64 Trần Đăng Ninh đưa xe lên đón Người (B.T).

65Uỷ ban nhân dân lâm thời tỉnh Thái Nguyên tuyên bố thành lập chiều ngày 20-8-1945 trong một cuộc mít tinh lớn của quần chúng tổ chức tại sân vận động thị xã ngay khi cuộc bao vây tiến công quân Nhật ở thị xã vừa giành được chiến thắng to lớn đầu tiên (B.T).

66 Theo sự bố trí của đồng chí Trần Đăng Ninh, nữ đồng chí Thái Bảo (lúc đó mang bí danh Thuận, Chủ tịch huyện Đa Phúc) có nhiệm vụ đi cùng xe với Bác, đưa Bác suốt địa phận huyện mình phụ trách. Hết địa phận Đa Phúc, có đồng chí Trần Độ đón Người (B.T).

67 L.A. Pátti, thiếu tá tình báo Mỹ, đã có quan hệ với Hồ Chí Minh trong thời gian Người hoạt động ở Trung Quốc. Ngày 22-8-1945, Pátti đáp máy bay của Đồng minh đến Hà Nội (B.T).

68 Thành phần của Chính phủ lâm thời được công bố ngày 28-8-1945 như sau:

Chủ tịch: Hồ Chí Minh (Việt Minh).

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Hồ Chí Minh (Việt Minh).

Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Võ Nguyên Giáp (Việt Minh).

Bộ trưởng Bộ Tài chính: Phạm Văn Đồng (Việt Minh).

Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền: Trần Huy Liệu (Việt Minh).

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Chu Văn Tấn (Việt Minh).

Bộ trưởng Bộ Lao động: Lê Văn Hiến (Việt Minh).

Bộ trưởng Bộ Giáo dục: Vũ Đình Hoè (Đảng Dân chủ).

Bộ trưởng Bộ Thanh niên: Dương Đức Hiền (Đảng Dân chủ).

Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Vũ Trọng Khánh (Đảng Dân chủ).

Bộ trưởng Bộ Kinh tế: Nguyễn Mạnh Hà (Công giáo).

Bộ trưởng Bộ Y tế: Phạm Ngọc Thạch (không đảng phái).

Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội: Nguyễn Văn Tố (không đảng phái).

Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính: Đào Trọng Kim (không đảng phái).

Bộ trưởng không bộ: Cù Huy Cận và Nguyễn Văn Xuân (B.T).

69 Bức điện này do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ký thay (B.T).

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)