Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1945)

Đầu năm1)

Hồ Chí Minh tiếp Sao (Shaw) – viên trung uý phi công Mỹ được Việt Minh cứu thoát 2).

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 90-92.

Tháng 2

Sách Phép dùng binh của ông Tôn Tử do Hồ Chí Minh biên dịch được Việt Minh xuất bản. Mở đầu sách, Người giới thiệu “Ông Tôn Tử là một người quân sự có tiếng nhất ở Trung Quốc. Ông sinh hơn 2.000 năm trước…” và chỉ rõ “Nguyên tắc của Tôn Tử chẳng những dùng về quân sự đúng, mà dùng về chính trị cũng rất hay”, cần thiết cho công tác quân sự và chính trị của cán bộ. Sách gồm 13 chương:

Chương I- Kế hoạch: nêu những điều cần chú ý để “xét rõ tình hình ta với địch”, phải tranh thủ lòng dân, “kế hoạch khéo, lúc thực hành lại cần phải biết tuỳ ứng biến”.

Chương II- Phép chiến tranh: chỉ cách sử dụng “Năm lời dặn của ông Tôn Tử” để giành thắng lợi nhanh, “dùng binh chóng là khôn”, phải biết “lấy lương thực của địch mà dùng”.

Chương III-  Đánh bằng mưu: khẳng định: “dùng binh giỏi nhất, là đánh bằng mưu” cho nên “biết sức ta, biết sức địch thì trăm trận đều thắng. Biết sức ta, mà không biết sức địch thì 1 thắng 1 bại. Không biết ta, không biết địch thì trận nào cũng thua”.

Chương IV- Quân hình: nhằm giúp cho tướng thấy được kẻ địch. “Người tướng giỏi thì luôn luôn giữ đạo đức, và luôn luôn chuẩn bị. Cho nên họ có thể định sự thắng, bại”.

Chương V- Thế của binh: chỉ rõ cách sử dụng phối hợp giữa chính binh (đánh trực tiếp) với kỳ binh (đánh gián tiếp) để giành thắng lợi.

Chương VI- Chỗ mạnh và chỗ yếu: là “chủ động đánh vào chỗ yếu và tránh chỗ mạnh của địch, thì thắng”.

Chương VII- Quân tranh: là cách khéo léo trong đánh địch mà ít hao tổn, như phép “trị tâm”, phép “trị lực”, phép “trị biến” (trấn tĩnh chờ địch xôn xao mới đánh, chờ địch mệt nhọc, đói khát mới đánh, không chủ quan coi thường địch).

Chương VIII- Chín sự biến: chỉ những điều cần tránh khi đóng quân, đánh địch.

Chương IX- Phép hành quân: nêu cách chọn địa hình, địa thế tốt, thuận lợi, tránh những chỗ nguy hiểm, bất lợi để giành thắng lợi, không rơi vào âm mưu, quỷ kế của chúng. “Cho nên binh không cần nhiều lắm nếu biết hợp sức đồng lòng và xét rõ tình hình của địch, thì cũng thắng được”.

Chương X- Địa hình: để “Biết sức ta, biết sức địch, là phải biết dùng thiên thời địa lợi, thì mới thắng”.

Chương XI- Chín thứ đất: phải biết sử dụng mới thắng được.

Chương XII- Phép đánh bằng lửa: giới thiệu cách đánh bằng hoả công để tiêu diệt địch, song “dùng lửa phải theo thiên thời và địa lý”.

Chương XIII- Dùng trinh thám: để “do thám cho rõ tình hình của địch”.

– Theo tài liệu gốc của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 511-546.

Tháng 2

Hồ Chí Minh lên đường đi Côn Minh. Trung uý phi công Mỹ Sao được phép đi theo Người để trở về Bộ Tổng tư lệnh không quân Mỹ ở đó.

Sau năm ngày đi đường trên đất Trung Quốc, hai người chia tay nhau. Hồ Chí Minh tiếp tục đi bộ, còn Sao đi ngựa theo một hướng khác.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 91-92.

Tháng 2, cuối tháng

Với giấy phép đi lại do Tướng Trương Phát Khuê cấp, Hồ Chí Minh trong bộ quân phục Trung Quốc, có hai người3) cùng đi, lại đi dọc tuyến đường mà Người đã đi năm 19404).

Người dừng lại ở Nghi Lương khoảng một tuần lễ. Ở đây, Người giảng giải cho bà con Việt kiều về tình hình cách mạng Việt Nam và kêu gọi họ trở về tham gia đấu tranh.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 90.

– Hoàng Quang Bình: Ở Vân Nam, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 134-138.

Tháng 3, đầu tháng

Tại Côn Minh, nhân danh Việt Nam – lực lượng đã giải thoát cho Trung uý Sao, Hồ Chí Minh tiếp xúc với AGAS. Phía Mỹ cảm ơn Người và gửi Người thuốc men, tiền bạc để tặng thưởng cho những người Việt Nam đã có công cứu Sao, nhưng Người chỉ nhận thuốc, không nhận tiền.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 92.

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, tr. 128-129.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 76.

Tháng 3, khoảng đầu tháng

Trong khi chờ đợi tiếp xúc với Tướng Sênôn (Chennault), Hồ Chí Minh tranh thủ thời gian đến Cơ quan thông tin chiến tranh Mỹ (AOWI) (American of War Information), đọc sách báo, thu thập những thông tin cần thiết, đặc biệt là những tin chiến sự thế giới. Tại đây, Người đã đọc nhiều tài liệu khác nhau, từ tờ Times đến Bách khoa toàn thư Mỹ.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 76.

Tháng 3, ngày 17

Buổi chiều, Hồ Chí Minh gặp Sáclơ Phen (Charles Fenn), Trung uý Mỹ trong OSS5). Hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp6).

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 76.

Tháng 3, ngày 20

Hồ Chí Minh gặp Sáclơ Phen lần thứ hai7) tại quán cà phê Đông Dương ở phố Kim Bích. Hai bên thoả thuận về phương thức hợp tác. Phía Sáclơ Phen nhận cung cấp các phương tiện thông tin liên lạc, người sử dụng các phương tiện ấy và huấn luyện cho người Việt Nam sử dụng chúng. Phía Việt Minh đồng ý cung cấp địa bàn hoạt động.

Theo yêu cầu của Người, Sáclơ Phen nhận lời sẽ thu xếp cuộc gặp gỡ với Tướng Sênôn.

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, tr. 130.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 77.

Tháng 3, ngày 23

Tại một căn phòng thuê của một cửa hiệu8) ở Côn Minh, Hồ Chí Minh tiếp Sáclơ Phen và Ph. Tam9).

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 78.

Tháng 3, ngày 29

11 giờ, Hồ Chí Minh gặp Tướng Sênôn, Tư lệnh không đoàn số 14 của Mỹ ở Hoa Nam10), có Sáclơ Phen và Bécna (Bernard) cùng dự.

Tướng Sênôn cảm ơn Việt Minh đã cứu thoát phi công Mỹ và hỏi Việt Minh có sẵn lòng cứu giúp những phi công Đồng minh rơi ở Đông Dương không? Hồ Chí Minh trả lời rằng bổn phận của những người chống phát xít là làm tất cả những việc gì có thể làm được để giúp đỡ Đồng minh11). Sau đó, Hồ Chí Minh đề nghị với Tướng Sênôn: “Tôi muốn có một tấm ảnh của Ngài, kèm theo chữ ký”.

Sênôn đã tặng Người một tấm ảnh của mình với dòng chữ: “Bạn chân thành của ông, Claire L. Chennault”.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 92.

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, tr. 130.

– Charles Fenn: Ho Chi Minha biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 78-79.

– Tạp chí Lịch sử quân sự, số 164, tháng 8-2005, tr. 90.

Tháng 4

Sau khi tiếp xúc với Tướng Sênôn và OSS, Hồ Chí Minh đáp máy bay đi Bách Sắc12) (Quảng Tây) gặp Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Tại Bách Sắc, Người gặp lại Tướng Trương Phát Khuê13).

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 92.

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, tr. 130.

– King C. Chen: Vietnam and China 1938-1954. Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p. 94.

Tháng 4, trước ngày 12

Tại Bách Sắc, Hồ Chí Minh tìm cách chấn chỉnh lại tổ chức Việt Nam cách mạng đồng minh hội.

Người dự định tổ chức một cuộc đại hội mới, có thêm năm đại biểu Việt Minh ở Đông Hưng tới, trong số này có Hoàng Quốc Việt, Đặng Việt Châu và Dương Đức Hiền.

Đại hội này không thành vì các đảng phái khác không dự.

– King C. Chen: Vietnam and China 1938-1954. Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p. 95.

Tháng 4, ngày 15

Hồ Chí Minh chọn 20 thanh niên14) mang theo giấy thông hành đến để hộ tống Ph.Tam và Mácxin vượt biên giới về Việt Nam.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 79.

Tháng 4, cuối tháng15)

Một buổi chiều tối, Hồ Chí Minh được bố trí gặp A. Pátti tại một quán trà trong làng Chiu-Chou Chieh, cách Tĩnh Tây khoảng 10 km. Cùng dự có Lê Tùng Sơn.

Người đã nói cho A. Pátti biết về tình hình nạn đói ở Việt Nam, về quan điểm của Pháp, Trung Quốc, Anh với vấn đề Việt Nam và Việt Minh sẵn sàng hợp tác với người Mỹ khi nào người Mỹ thấy thích hợp. Người còn thông báo về việc chuẩn bị cho một chính phủ Việt Nam dân chủ độc lập.

Khi được hỏi về những nơi đóng quân của Bộ Chỉ huy Việt Minh và những chi tiết về tổ chức này, Người trả lời: “Việt Minh không phải là một đơn vị mà là một bộ phận của nhân dân Việt Nam, là những tổ chức của công nhân, nông dân hoạt động tại các địa phương và có thể liên lạc được từ Sài Gòn đến Cao Bằng”.

Cuộc trao đổi kéo dài tới quá nửa đêm mới kết thúc.

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 583.

Tháng 4, cuối tháng

Hồ Chí Minh về nước.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 79.

Tháng 4, cuối tháng

Hồ Chí Minh viết cho Sáclơ Phen lá thư đầu tiên. Trong thư, Người phàn nàn là OSS đã gửi tới những người bây giờ đã hợp tác với người Pháp thân Visi (Vichy), những người chống Việt Nam hơn là chống Nhật. Và Người đặt câu hỏi: Vậy chính sách của Mỹ thực sự là gì vậy?

Cũng trong thư này, Người đề nghị cho gửi một số thanh niên sang để được huấn luyện sử dụng điện đài.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 80.

Tháng 4, cuối tháng

Hồ Chí Minh trong bộ quần áo chàm người Nùng, tay chống gậy, cùng một đồng chí trẻ16) đến chiếc lán ở hang Pác Tẻng (chân núi đá Lam Sơn) của gia đình Hoàng Đức Triều (An Định). Người được giới thiệu với gia đình là “đồng chí ông Ké”.

– Hoàng Đức Triều: Bác lại về Lam Sơn, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 258-261.

Tháng 4, cuối tháng

Hồ Chí Minh (bí danh ông Ké) thường họp với Hoàng Quốc Việt, Vũ Anh, Phạm Văn Đồng, Đặng Viết Châu, Dương Đức Hiền… trong một ngôi nhà vắng chủ17) rộng rãi gần chân núi đá.

Có hôm họp trên những mỏm đá mọc ở đầu nguồn Pác Ngườm.

Có lần các đồng chí còn lấy mảnh vải ra đo và bàn về tỷ lệ chiều dài, chiều rộng của lá cờ đỏ sao vàng năm cánh.

– Hoàng Đức Triều: Bác lại về Lam Sơn, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr.262-263.

Tháng 5, một ngày đầu tháng

Hồ Chí Minh đàm đạo về thơ với Hoàng Đức Triều.

Nghe bài thơ Vịnh Cao Bằng của đồng chí, Người gật đầu:

– Được, bài thơ có cái tự hào và chí khí anh hùng! Nếu bớt được điển tích, lời văn trong sáng hơn nữa, sẽ có sức mạnh hơn.

Nghe bản dịch một bài thơ chữ Hán đề trên vách đá chùa Kỳ Sầm, Người hỏi về nguyên tác và nói:

– Quân Nùng vương thật là mất cảnh giác quá nhỉ! Làm việc quân mà mất cảnh giác, không thể thành công được. Bài thơ này nhiều điển tích phải giảng giải quá!…

– Hoàng Đức Triều: Bác lại về Lam Sơn, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 265-266.

Tháng 5, đầu tháng

Hồ Chí Minh gửi cho A. Pátti một bức thư cùng với hai tài liệu khác đề nghị chuyển cho phái đoàn Mỹ ở Hội nghị Liên hợp quốc20, kêu gọi ủng hộ nền độc lập của Việt Nam. Hai tài liệu này được viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh và ký “Đảng quốc dân Đông Dương”.

Ít ngày sau, Người lại gửi một tài liệu thứ hai, kèm theo một mảnh giấy nhỏ viết bằng tiếng Anh hỏi A. Pátti xem các văn kiện trên đã gửi đi Xan Phranxítxcô chưa?

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 102.

Tháng 5, ngày 4

Hồ Chí Minh bắt đầu cuộc hành trình rời Pác Bó về Tân Trào.

Sáng: tại Khuổi Nậm, Hồ Chí Minh tập hợp tiểu đội tự vệ cùng với hai người bạn Đồng minh18), nói rõ ý nghĩa quan trọng của chuyến đi19)rồi trực tiếp phân công từng người, dặn dò cách giữ bí mật và cố gắng tránh đụng độ với địch để bảo toàn lực lượng.

Khoảng 9 giờ sáng, đoàn lên đường20). Hồ Chí Minh mặc bộ quần áo Nùng đã cũ, đội nón chóp quai thao, khăn che gần kín mặt, đeo chiếc túi dết nhỏ có hai nút buộc dây, tay chống gậy.

Trưa: Người nghỉ ăn trưa tại nhà Nông Hiền Hữu21) ở bản Thua Phia, rồi tiếp tục cuộc hành trình22).

Chiều tối: Người đến Đào Ngạn, nghỉ ở nhà đồng chí Nông Văn Giáo (bí danh Phục Việt) xóm Bản Nưa. Tại đây, Người yêu cầu đồng chí Quất tìm liên lạc để sáng hôm sau dẫn đoàn đi Lam Sơn23).

– Hồi ký của Lưu Minh Đức. Tài liệu đánh máy, lưu tại Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Cao Bằng.

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

Tháng 5, ngày 5

Hồ Chí Minh rời Bản Nưa đi Lam Sơn24). Tại Lam Sơn, Người nghỉ chân ở trạm giao thông của Liên tỉnh uỷ25) và đến tối ngủ lại nhà một cơ sở quần chúng26).

– Hồi ký của Lưu Minh Đức. Tài liệu đánh máy, lưu tại Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Cao Bằng.

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

Tháng 5, từ ngày 6 đến ngày 8

Hồ Chí Minh làm việc tại Lam Sơn.

Người họp với các cán bộ Trung ương27) và cán bộ của Liên tỉnh uỷ Cao-Bắc-Lạng28) bàn một số công việc chuẩn bị khởi nghĩa.

– Hồi ký của Lưu Minh Đức. Tài liệu đánh máy, lưu tại Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Cao Bằng.

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

Tháng 5, ngày 9

Sáng, Hồ Chí Minh rời Lam Sơn29). Đi theo Người có tiểu đội cận vệ đặc biệt do Đặng Văn Cáp phụ trách.

Trưa, Hồ Chí Minh đến xã Bình Dương, ăn trưa ở Thin Tăng.

Chiều, Người tiếp tục đi, gần tối đến bản Khuổi Lẩy30) (thuộc xã Thịnh Vượng, châu Nguyên Bình, nay là xã Bình Dương, huyện Hoà An).

Cùng ngày, Người viết một lá thư gửi Sáclơ Phen và Bécna. Thư viết bằng loại bút sắt trên giấy làm bằng rơm của Trung Quốc. Toàn văn như sau:

Ông Bécna và ông Phen thân mến!

Tôi hết lòng cảm ơn các ông về sự giúp đỡ của các ông cho các bạn chúng tôi.

Tôi mong muốn là các bạn của chúng tôi sẽ học được vô tuyến điện và những thứ cần thiết khác cho cuộc đấu tranh chung chống Nhật của chúng ta.

Tôi hy vọng một ngày gần đây nhất sẽ hân hạnh được đón tiếp các ông tại khu căn cứ của chúng tôi. Nếu được thế thì thật là tuyệt.

Cho phép tôi gửi lời chào kính trọng tới tướng Sênôn.

9-5-1945

Chân thành gửi tới các ông lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Thân mến

HỒ

– Bút tích tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồi ký của Lưu Minh Đức. Tài liệu đánh máy, lưu tại Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Cao Bằng.

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 68.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 547.

Tháng 5, ngày 10

Hồ Chí Minh cùng đoàn cán bộ tiếp tục cuộc hành trình hướng tới Ngân Sơn31), Người yêu cầu Đặng Văn Cáp trở lại Lam Sơn32) tiếp tục công việc chế tạo và sửa chữa vũ khí chuẩn bị khởi nghĩa.

– Hồi ký của Lưu Minh Đức. Tài liệu đánh máy, lưu tại Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Cao Bằng.

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 68.

Tháng 5, ngày 11

Hồ Chí Minh tiếp tục cuộc hành trình.

Buổi sáng, khi qua bản Sành, Nà Y (xã Cốc Đán) gặp đúng lúc trời mưa tầm tã.

Buổi chiều, Người đến bản Hoàng Phài (xã Thượng An, huyện Ngân Sơn). Theo sự bố trí của đồng chí Mỹ Đức33), Người nghỉ chân tại một gia đình cơ sở tin cậy. Người sang thăm lớp bình dân đang học ở ngôi nhà đối diện. Được biết lớp này thuộc xã Minh Khai, Người kể cho lớp nghe về tiểu sử của người phụ nữ chiến sĩ cách mạng vẻ vang ấy.

Người ăn cơm tối tại nhà cơ sở rồi dự buổi gặp gỡ thân mật với các cán bộ và quần chúng địa phương. Người nói chuyện về tình hình cách mạng trong nước và thế giới.

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

– Hoàng Mỹ Đức: Hai lần gặp Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 280-281.

Tháng 5, ngày 12

Hồ Chí Minh rời bản Hoàng Phài tiếp tục cuộc hành trình34).

Gần tối, Người đến Khuổi Mản và nghỉ đêm ở nhà Đàm Ngọc Hải.

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

Tháng 5, ngày 13

Hồ Chí Minh tiếp tục đi theo hướng Chợ Rã35).

Dọc đường, Người vui vẻ kể chuyện cho mọi người quên mệt, chỉ dẫn cho các cán bộ trẻ chữa chân đau vì đi bộ nhiều.

Gần tối, Người đến Chợ Rã.

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

– Lời kể của đồng chí Ma Quế Chân, cán bộ hưu trí, một trong những người có mặt trong buổi đón đoàn tại Chợ Rã.

Tháng 5, ngày 14

Hồ Chí Minh cùng đoàn tiếp tục cuộc hành trình36).

Trưa, Người dừng chân, nghỉ ăn cơm ở Pò Cót.

Gần tối, Người đến Bản Chán37).

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

Tháng 5, ngày 15

Hồ Chí Minh cùng với đoàn tiếp tục cuộc hành trình38).

Chiều tối, Người đến Bản Cải (dân tộc Tày) thuộc xã Phương Viên, huyện Chợ Đồn, và nghỉ đêm tại đây39).

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

Tháng 5, ngày 16

Hồ Chí Minh tiếp tục cuộc hành trình40).

Chiều tối, Người tới bản Rủm Tó41)., xã Ngọc Bằng (nay là xã Bằng Lãng, huyện Chợ Đồn).

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

Tháng 5, giữa tháng

Hồ Chí Minh gửi “Bản sách đen” và một tập ảnh chụp người dân Việt Nam trong nạn đói ở Bắc Kỳ cho Pátti và yêu cầu ông ta chuyển cho Đại sứ quán Mỹ ở Trùng Khánh để gửi về Bộ Ngoại giao Mỹ.

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 86.

Tháng 5, khoảng giữa tháng

Hồ Chí Minh yêu cầu Trung uý Giôn (John), báo vụ của cơ quan OSS, điện về Côn Minh đề nghị thả dù cho Người một quyển Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ21.

– Robert Shaplen: The Enigma of Ho Chi Minh, Wesley R. Fichel, Illinois, 1958.

Tháng 5, ngày 17

Hồ Chí Minh và đoàn cán bộ tiếp tục cuộc hành trình. Buổi chiều, Người tới Nà Kiến (xã Nghĩa Tá, huyện Chợ Đồn), gặp Võ Nguyên Giáp lên đón.

– Võ Nguyên Giáp: Từ Pác Bó đến Tân Trào, in trong cuốn Uống nước nhớ nguồn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973, tr. 52.

– Điều tra, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.

Tháng 5, ngày 20

Hồ Chí Minh đến địa phận tỉnh Tuyên Quang.

Người dừng chân ăn trưa ở Pá Hóp (xã Lĩnh Phú, huyện Chiêm Hoá), sau đó đi tiếp qua bản Pài, bản Pình (xã Trung Minh, huyện Yên Sơn).

Tối, Người nghỉ lại ở bản Coóc (nay thuộc xã Hùng Lợi, huyện Yên Sơn).

– Điều tra, khảo cứu tại chỗ, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 21

Hồ Chí Minh và đoàn cán bộ đến Hồng Thái42) (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang). Người nghỉ chân ở đình Hồng Thái.

Sau đó Người vượt sông Đáy đi Tân Trào43).

Khoảng 16 giờ, Hồ Chí Minh và đoàn cán bộ đến Tân Trào.

Theo sự bố trí, Võ Nguyên Giáp đưa Hồ Chí Minh cùng Đinh Đại Toàn và hai người mang điện đài44) đi theo đến nhà Nguyễn Tiến Sự, ở thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang).

Sau bữa cơm chiều, Võ Nguyên Giáp giới thiệu những người khách đặc biệt với gia đình Nguyễn Tiến Sự45) và dặn: “Người ngồi cạnh ông già là đồng chí Đại Toàn. Việc cần liên hệ với các đồng chí ở đây thì cứ trao đổi với Đại Toàn”.

Hai người phụ trách điện đài được bố trí làm việc ở một địa điểm có tán cây rậm rạp trong vườn nhà ông Sự. Hồ Chí Minh nhắc anh em nguỵ trang ăngten của máy vô tuyến điện cho kín đáo.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 185.

– Lương Thị Khanh: Những ngày đầu Bác ở Tân Trào, in trong cuốn Tân Trào 1945-1985. Hội Văn hoá nghệ thuật Hà Tuyên, 1985, tr. 175-182.

– Điều tra, khảo cứu tại chỗ, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 5, sau ngày 24

Hồ Chí Minh và Nguyễn Tiến Sự lên rừng tìm địa điểm làm nơi ở mới. Lần nào đi Người cũng mang theo la bàn và tổ vô tuyến điện. Đến địa điểm thứ ba, ở lưng chừng đồi nứa Nà Lừa, nơi gần con suối nhỏ, Người chọn làm nơi dựng lán46).

– Điều tra, khảo cứu tại chỗ, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 5, cuối tháng

Hồ Chí Minh chuyển từ nhà ông Nguyễn Tiến Sự đến lán Nà Lừa47).

– Song Hào: Bác ở Tân Trào, in trong cuốn Uống nước nhớ nguồn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973. tr. 143.

– Điều tra, khảo cứu tại chỗ, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Viện Hồ Chí Minh.

– Lương Thị Khanh: Những ngày đầu Bác ở Tân Trào, in trong cuốn Bác Hồ ở Tân Trào, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.151.

Tháng 5, cuối tháng

Hồ Chí Minh chỉ thị khẩn trương mở trường đào tạo cán bộ48)

– Hoàng Văn Thái: Lên đường vũ trang, in trong cuốn Tân Trào 1945-1985. Hội Văn hoá nghệ thuật Hà Tuyên, 1985, tr. 62.

Tháng 5, khoảng cuối tháng

Hồ Chí Minh phái một giao thông trao tận tay Pátti tại Côn Minh một thông báo về việc quân Nhật xây dựng công sự ở vùng Cao Bằng và trên đường về Hà Nội.

Người còn gửi kèm theo một mẩu giấy trên đó Người viết một câu tiếng Anh hỏi Pátti đã chuyển hộ hai văn kiện chính trị của Người đi Xan Phranxítxcô chưa?49).

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 102.

Cuối tháng 5, đầu tháng 6

Hồ Chí Minh đến thăm cán bộ học viên Trường Quân chính kháng Nhật tại Tân Trào. Người ân cần hỏi thăm tình hình sinh hoạt, học tập của học viên, tình hình làm ăn của đồng bào.

Anh em chỉ biết Người là một ông cụ người Nùng, nói sõi tiếng Kinh.

– Lời kể của Võ Nguyên Giáp, in trong cuốn Lịch sử Trường Sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn, Trường Sĩ quan lục quân I, Bộ Quốc phòng xuất bản, 1985, tr. 27.

Tháng 6, trước ngày 4

Hồ Chí Minh nghe báo cáo về những nghị quyết của Hội nghị quân sự Bắc Kỳ ngày 15 tháng 4 và chỉ thị: “Nay vùng giải phóng ở miền ngược đã bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, địa thế nối liền với nhau, nên lập thành một khu căn cứ lấy tên là Khu giải phóng. Thống nhất các lực lượng vũ trang lại là rất đúng, nên đặt tên là Quân giải phóng”.

Người còn bàn với Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Lương Bằng làm bản dự thảo về việc thành lập Khu giải phóng và quyết định triệu tập Hội nghị cán bộ toàn khu50) để thống nhất lãnh đạo và triển khai công tác.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 186.

Tháng 6, đầu tháng

Tại thôn Tân Lập (Tân Trào), Hồ Chí Minh đi thăm nơi ăn ở của đơn vị Giải phóng quân. Thấy nền nếp thiếu trật tự, Người gặp đồng chí chỉ huy để góp ý kiến. Đồng chí chỉ huy nói: “Phê bình chúng tôi! Chuyện ấy đã có cấp trên của chúng tôi”b). Người ôn tồn nói: “Tôi là người dân, tôi có quyền phê bình, góp ý với bộ đội chứ!… Bộ đội cách mạng là bộ đội của dân cơ mà!”.

– Song Hào: Bác ở Tân Trào, in trong cuốn Uống nước nhớ nguồn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973. tr. 143-144.

Tháng 6, trong tuần lễ đầu tháng

Hồ Chí Minh điện cho Pátti, báo tin Người đã chuẩn bị sẵn sàng hơn 1.000 quân du kích được huấn luyện tốt, tập trung ở Chợ Chu, Định Hoá.

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 125.

Tháng 6, ngày 9

Hồ Chí Minh viết thư cho Sáclơ Phen. Toàn văn bức thư như sau:

Ông Phen thân mến!

Ông T.51) và người giúp việc của ông ta52) vẫn mạnh khoẻ. Chúng tôi đã trở nên bạn bè thân thiết như anh em một nhà. Tôi hy vọng ông sẽ đến thăm chúng tôi một ngày gần nhất.

Ông làm ơn đưa bức thư này tới người bạn của tôi tên là Tống Minh Phương ở quán cà phê Đông Dương. Mười hoặc mười hai ngày sau đó họ sẽ trao cho ông một gói quà trong đó có lá cờ của Đồng minh. Tôi rất cảm ơn ông nếu ông gửi những thứ đó cho tôi bằng cách nhanh nhất.

Xin gửi ông và ông Bécna cùng các bạn những lời tốt đẹp nhất.

Chúc ông sức khoẻ và may mắn.

9-6-1945

Thân mến

HỒ

– Bút tích tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 80.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 548.

Tháng 6, giữa tháng

Hồ Chí Minh, qua một trong những đầu mối tiếp xúc giữa Người với Pátti, được biết rằng có một toán người Mỹ, do một sĩ quan cấp cao đứng đầu, sẽ được thả dù xuống Tuyên Quang và yêu cầu phía Việt Nam chuẩn bị.

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 126.

Tháng 6, khoảng giữa tháng

Hồ Chí Minh đến xóm Lũng Cò (thuộc xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương) khảo sát địa hình và tìm hiểu tình hình mọi mặt, chọn địa điểm làm sân bay53) để đón quân Đồng minh.

– Lời kể của đồng chí Lê Giản. Tài liệu của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tuyên.

– Điều tra, khảo cứu tại chỗ, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu của Viện Hồ Chí Minh.

– Báo cáo của Thiếu tá E. Tômát (Thomas), Đội trưởng Đội “Con Nai” gửi Thủ trưởng chi nhánh nghiên cứu chiến lược, Sở nghiên cứu chiến lược (OSS) tại Trung Quốc. Bản dịch lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 14 (5 tháng 5 âm lịch)

Vì bận việc nên Hồ Chí Minh không nhận lời mời của gia đình ông Nguyễn Tiến Sự đến ăn Tết Đoan ngọ.

Thấy mẹ con bà Sự mang quà lên biếu, có người khác trong làng bắt cả gà sống lên theo, Người rất trân trọng tấm lòng của đồng bào nhưng từ chối và nói:

“Tôi có phải là thầy cúng đâu mà ông mang gà sống lên. Ông mang về nhà đi”.

– Lương Thị Khanh: Những ngày đầu Bác ở Tân Trào, in trong cuốn Bác Hồ ở Tân Trào, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.151.

Tháng 6, khoảng cuối tháng

Hồ Chí Minh đến thăm lớp báo vụ được tổ chức trên bờ một con suối, gần lán làm việc của Người tại Nà Lừa.

– Hồi ký và băng ghi âm của Lưu Minh Đức, lưu tại Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Cao Bằng và tại Bảo tàng Thông tin.

– Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc: Thông tin các lực lượng vũ trang trước Cách mạng Tháng Tám (bản đánh máy), 1978, tr. 73.

Tháng 6, cuối tháng

Nhận được báo cáo do giao thông hoả tốc chuyển đến đề nghị chuyển nơi ở vào sâu trong núi hơn vì quân Nhật huy động lực lượng lớn sắp đánh vào Tân Trào, Hồng Thái, Hồ Chí Minh chỉ thị:

“Địch không thể vào tới đây nếu ta quyết tâm chiến đấu và biết tổ chức cách đánh chặn chúng lại, mặc dầu lực lượng ta rất nhỏ. Không chuyển vị trí”.

– Song Hào: Bác ở Tân Trào, in trong cuốn Uống nước nhớ nguồn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973, tr. 147.

Tháng 6, ngày 30

Qua vô tuyến điện, Hồ Chí Minh trả lời Pátti rằng Người đồng ý tiếp nhận một toán người Mỹ và yêu cầu cho biết bao giờ thì người Mỹ có thể đến.

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 126.

Khoảng tháng 6, tháng 7

Ở gần Khu giải phóng, Hồ Chí Minh được báo cáo về những bức thư54) dụ dỗ và doạ nạt của phát xít Nhật gửi cán bộ Việt Minh.

Người chỉ thị cho các cấp Việt Minh “chỉ trả lời bọn Nhật bằng tiếng súng chứ không phải bằng lời nói”55).

Các bức thư của địch đều được đốt ngay sau khi đọc.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 95-98.

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1969, tr. 137-139.

Tháng 7, đầu tháng

Hồ Chí Minh chỉ thị cho một số anh em trong cơ quan tạm lánh đi một nơi khác vì có tin một toán thổ phỉ, đặc vụ Tưởng đang tiến vào đèo Gie, dò la căn cứ của ta.

Trước khi lên đường, Người kiểm tra việc gói buộc tài liệu, bố trí hành quân, chuẩn bị vũ khí… và dặn dò mọi người phải hết sức giữ bí mật, không được để lại dấu vết gì.

– Cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân vũ trang: Những ngày được gần Bác. Cục chính trị Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang xuất bản, 1970, tr. 98.

Tháng 7, khoảng đầu tháng

Hồ Chí Minh đến Lũng Cò (xã Thanh La), ở trong nhà ông Ma Văn Yến khoảng mười ngày. Người chỉ đạo việc phục vụ những chuyến bay của Đồng minh.

Khi rời Lũng Cò trở về Nà Lừa, vì ốm mệt, Người phải ngồi cáng trùm chăn kín.

– Lời kể của đồng chí Lê Giản. Tài liệu của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tuyên.

– Điều tra, khảo cứu tại chỗ, phỏng vấn người đồng thời. Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 7, giữa tháng

Khi nghe một chiến sĩ liên lạc của chi đội Quang Trung báo cáo là “4 giờ có máy bay Đồng minh tới”, Hồ Chí Minh hỏi lại:

– Đồng chí nói 4 giờ là 4 giờ nào?

Người lấy đồng hồ ra cho đồng chí liên lạc xem rồi nói:

– Báo cáo quân sự là phải chính xác, nếu không sẽ sai lầm nguy hiểm. Đồng chí cần nói rõ là 4 giờ chiều hay 4 giờ sáng mai?

– Cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân vũ trang: Những ngày được gần Bác. Cục chính trị Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang xuất bản, 1970, tr. 102.

Tháng 7, ngày 17

Sau 20 giờ, Hồ Chí Minh có cuộc thảo luận dài với Thiếu tá E. Tômát56) và H. Pruyniê (H. Prunier) – sĩ quan OSS. Người khẳng định Mặt trận Việt Minh là tập hợp các đảng phái chính trị được tổ chức với mục đích duy nhất là đánh đổ tất cả các chính quyền nước ngoài và đấu tranh cho tự do và độc lập hoàn toàn của Đông Dương. Người cũng nhấn mạnh sự bất bình của nhân dân Việt Nam đối với người Pháp. Vì vậy, không thể để cho Trung uý Môngpho – một sĩ quan người Pháp cũng như những người Pháp khác vào hoạt động ở đây…

– Báo cáo của Thiếu tá E. Tômát, Đội trưởng Đội “Con Nai” gửi Thủ trưởng chi nhánh nghiên cứu chiến lược, Sở Nghiên cứu chiến lược (OSS) tại Trung Quốc. Bản dịch lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 127.

– Báo Quân đội nhân dân, ngày 3-9-2000.

Tháng 7, ngày 19

Hồ Chí Minh có cuộc thảo luận dài với Thiếu tá E. Tômát về khu vực hoạt động của Đội “Con Nai”. Theo Người, “Con Nai” nên tập trung hoạt động trên tuyến đường Thái Nguyên – Bắc Cạn – Cao Bằng (đường thuộc địa số 3), sau khi “thông đồng bén giọt” có thể di chuyển tiếp và hoạt động trên đường Lạng Sơn – Hà Nội.

Người còn khẳng định, Việt Minh có thể nhận một số đội hoạt động của SO (Đội công tác chiến lược “Con Nai”)…

– Báo cáo của Thiếu tá E. Tômát, Đội trưởng Đội “Con Nai” gửi Thủ trưởng chi nhánh nghiên cứu chiến lược, Sở Nghiên cứu chiến lược (OSS) tại Trung Quốc. Bản dịch lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 7, khoảng ngoài 20

Hồ Chí Minh gửi thư cho Thiếu tá E.Tômát. Nguyên văn bức thư như sau:

Gửi Thiếu tá Tômát,

Ngài thân mến,

Tôi gửi Ngài một chai rượu để uống cho ấm người. Tôi tin rằng Ngài sẽ thích thú.

Nếu Ngài viết thư về Côn Minh, hãy chuyển qua người chiến sĩ này.

Kế hoạch của Ngài về sự đầu hàng của Nhật (tối hậu thư, tấn công…) thật tuyệt vời. Tôi tin rằng nó sẽ đem lại kết quả rất tốt.

Sẽ rất tốt nếu Ngài chuyển kế hoạch đó bằng điện tín cho Đại uý Holland.

Trong thời gian tôi đi vắng, nếu cần gì xin Ngài nói với ông Văn hoặc ông Lã.

Chào thân ái

C. M. Hoo”

– Báo Nhân dân cuối tuần, số ra ngày 27-8-1995.

Tháng 7, ngày 21

Hồ Chí Minh tiễn Ph. Tam trở lại Trung Quốc và nhờ Ph. Tam chuyển cho Sáclơ một bức thư. Toàn văn bức thư như sau:

Ông Phen thân mến!

Tôi muốn viết cho ông thư dài để cảm ơn tình cảm của ông đối với tôi. Tiếc thay không thể viết dài được vì sức khoẻ tôi hiện giờ chưa được tốt lắm (nhưng không đến nỗi nguy kịch, ông an tâm).

Điều tôi muốn nói với ông thì ông Tam sẽ nói thay tôi. Nếu ông gặp các ông Bécna, Vinca Reit và Cácten (của cơ quan thông tấn) và những người bạn khác của chúng ta, nhờ ông chuyển tới họ lời chúc mừng tốt đẹp nhất của tôi.

Ông Tam nói là ông sẽ đến đây. Chúng tôi luôn sẵn sàng nồng nhiệt đón ông.

Hãy đến nhanh ông nhé.

Tôi chúc ông mạnh khoẻ và may mắn.

21-7-1945

Thân mến

CM HỒ”

– Bản chụp bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 82.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 549.

Tháng 7, ngày 25

Hồ Chí Minh một lần nữa yêu cầu E. Tômát, nhờ phía Mỹ báo cho người Pháp biết Người có thể nói chuyện với đại diện Pháp ở Côn Minh hoặc ở Bắc Kỳ57).

Người còn gửi Chính phủ Pháp một bản đề nghị gồm năm điểm.

1. Thực hiện phổ thông đầu phiếu để bầu ra một nghị viện quản lý đất nước do một toàn quyền người Pháp làm chủ tịch cho đến khi Việt Nam được hoàn toàn độc lập. Toàn quyền sẽ lập một nội các hay đoàn cố vấn được nghị viện chấp nhận. Quyền hạn chính xác của các quan chức nói trên sẽ được thảo luận sau.

2. Độc lập phải được ban bố cho đất nước trong vòng ít nhất là 5 năm nhưng không được quá 10 năm.

3. Các nguồn lợi thiên nhiên của đất nước phải được trả lại cho nhân dân trong nước với một sự đền bù thích đáng.

4. Mọi quyền tự do do Liên hợp quốc đề ra được bảo đảm thi hành cho người Đông Dương.

5. Cấm chỉ việc bán thuốc phiện.

– Báo cáo của Thiếu tá E. Tômát, Đội trưởng Đội “Con Nai” gửi Thủ trưởng chi nhánh nghiên cứu chiến lược, Sở nghiên cứu chiến lược (OSS) tại Trung Quốc. Bản dịch lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 7, cuối tháng

Tại lán Nà Lừa, Hồ Chí Minh ốm nặng. Người đã uống ký ninh và thuốc cảm, nhưng vẫn sốt cao và luôn mê sảng.

Một hôm, lên lán báo cáo công việc, thấy Người sốt, đồng chí Võ Nguyên Giáp xin ở lại lán với Người. Người mở mắt, khẽ gật đầu. Đêm ấy, tỉnh lại sau cơn sốt, Người nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Một lần khác, Người nói: “Lúc nào cũng phải chú trọng xây dựng chi bộ, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên và phần tử trung kiên. Trong chiến tranh du kích, lúc phong trào lên, ta phải hết sức phát triển, vừa phát triển vừa chú trọng xây dựng căn cứ cho thật vững chắc, để đề phòng lúc khó khăn mới có chỗ đứng chân được”.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.196.

Tháng 7, cuối tháng

Hồ Chí Minh uống thuốc của một cụ lang già người Tày. Thuốc là một thứ củ vừa đào trong rừng về, đem đốt cháy rồi hoà vào trong cháo loãng. Cơn sốt lui dần. Người lại gượng dậy và tiếp tục làm việc.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.197.

Tháng 8, từ ngày 1 đến ngày 6

Hồ Chí Minh tuyển lựa 200 du kích để Đội “Con Nai” huấn luyện sử dụng súng cácbin, M.A.S, tiểu liên Tômxơn, Badoca, cối và lựu đạn…

– Báo cáo của Thiếu tá E. Tômát, Đội trưởng Đội “Con Nai” gửi Thủ trưởng chi nhánh nghiên cứu chiến lược, Sở Nghiên cứu chiến lược (OSS) tại Trung Quốc. Bản dịch lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 8, ngày 6

Qua điện đài của nhóm Tômát, Hồ Chí Minh biết tin Mỹ đã ném bom nguyên tử xuống Hirôsima.

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 134.

Tháng 8, sau ngày 6

Hồ Chí Minh chỉ thị viết nhiều thư hoả tốc, tung giao thông đặc biệt đi các hướng để thúc giục các đại biểu ở các địa phương về Tân Trào họp Hội nghị toàn quốc của Đảng.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.197.

Tháng 8, khoảng ngày 10

Tại lán Nà Lừa, Hồ Chí Minh bàn với một số đồng chí về công việc chuẩn bị Hội nghị toàn quốc của Đảng. Khi Thường vụ chưa ấn định ngày, Người nói: “Nên họp ngay và cũng không nên kéo dài Hội nghị. Chúng ta cần tranh thủ từng giây, từng phút, tình hình sẽ chuyển biến nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội”.

– Nguyễn Lương Bằng: Gặp Bác ở Tân Trào, in trong cuốn Bác Hồ ở Tân Trào, Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Tân Trào – ATK, Hà Nội, 2004, tr. 11.

Tháng 8, ngày 12

Buổi tối, Hồ Chí Minh mặc dù đang yếu mệt, vẫn chăm chú theo dõi diễn biến tình hình thế giới. Qua chiếc đài thu thanh đã cũ, chạy bằng pin, Người nhận được tin của Đài tiếng nói Hoa Kỳ, phát đi từ Xan Phranxítxcô (San Francisco) loan tin: Nhật Bản gửi công hàm cho Mỹ và các nước Đồng minh, đề nghị mở cuộc đàm phán lập lại hoà bình, chấp nhận “ngừng bắn” chứ không chấp nhận “đầu hàng” không điều kiện. Người nhận định: “Có hiện tượng nguy ngập tan rã trong quân đội Nhật”.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đư­ờng lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.197.

Tháng 8, ngày 13

Có tin Nhật đầu hàng Đồng minh, quân đội Nhật ở các nơi ngừng chiến đấu. 23 giờ, Uỷ ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng hạ lệnh khởi nghĩa. Hồ Chí Minh chỉ thị viết nhiều thư hoả tốc, tung giao thông đặc biệt đi các địa phương và chỉ thị. Mệnh lệnh khởi nghĩa phải:

Tập trung lực lượng đánh vào đô thị, đánh chặn quân Nhật rút lui; sau mỗi trận chiến đấu lập tức bổ sung và củng cố bộ đội, để lại một phần ba hoạt động trong địa phương, hai phần ba sẵn sàng đợi lệnh điều động đi nơi khác; củng cố các căn cứ bí mật, quân lương, quân giới… chuẩn bị kháng chiến một khi quân Pháp trở lại…

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.197.

Tháng 8, ngày 14

Theo đề nghị của Hồ Chí Minh, Hội nghị toàn quốc của Đảng được triệu tập tại Tân Trào (Tuyên Quang). Hội nghị nhận định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”. Hội nghị quyết định mục đích của cuộc chiến đấu là giành quyền độc lập hoàn toàn cho đất nước, thành lập chính quyền nhân dân, thi hành Mười chính sách của Việt Minh, định chính sách ngoại giao đối với Đồng minh. Hội nghị đề ra Nghị quyết chủ trương tập trung mọi lực lượng để giành chính quyền, tập trung “nhằm vào ba nguyên tắc:

a) Tập trung – tập trung lực lượng vào những việc chính.

b) Thống nhất – thống nhất về mọi phương diện quân sự, chính trị, hành động và chỉ huy.

c) Kịp thời – kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội”.

Nghị quyết Hội nghị còn thảo luận và bàn bạc nhiều vấn đề khác như: vấn đề ngoại giao, tuyên truyền cổ động, nhiệm vụ quân sự, nhiệm vụ kinh tế, v.v..

– Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.7, tr.424,425.

Tháng 8, ngày 15

Sau khi nhận được tin Nhật chính thức tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện58), Hồ Chí Minh đề nghị Hội nghị toàn quốc của Đảng nên mau chóng kết thúc để các đại biểu khẩn trương quay ngay về các địa phương, kịp thời phát động quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị thông qua quyết nghị gồm 11 vấn đề quan trọng như: tình hình thế giới, tình hình Đông Dương, chủ trương của ta, vấn đề ngoại giao, nhiệm vụ quân sự, vấn đề cán bộ… Hội nghị còn quyết định thành lập Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc lãnh đạo Tổng khởi nghĩa và lập Bộ Tư lệnh giải phóng quân Việt Nam.

– Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.423-433.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.198.

Tháng 8, sau ngày 15

Hồ Chí Minh gửi Trung uý Giôn (John) một lá thư bằng tiếng Anh với nội dung:

Trung uý thân mến,

Nhờ ông gửi giúp về Bộ Tổng hành dinh của ông bức điện tín như sau:

Uỷ ban dân tộc giải phóng của Mặt trận Việt Minh yêu cầu nhà cầm quyền Hoa Kỳ thông báo cho Liên hợp quốc rằng: Chúng tôi đã đứng về phía Liên hợp quốc chống lại bọn Nhật. Nay bọn Nhật đã đầu hàng. Chúng tôi yêu cầu Liên hợp quốc thực hiện lời hứa long trọng của mình là tất cả các dân tộc đều được hưởng dân chủ và độc lập. Nếu Liên hợp quốc nuốt lời hứa long trọng này và không thực hiện cho Đông Dương được hoàn toàn độc lập thì chúng tôi sẽ cương quyết chiến đấu cho đến khi giành được nền độc lập hoàn toàn.

Uỷ ban dân tộc giải phóng Mặt trận Việt Minh.

– Robert Shaplen: The Enigma of Ho Chi Minh, Wesley R. Fichel, Illinois, 1958, p. 54.

Tháng 8, ngày 16

Hồ Chí Minh dự Đại hội quốc dân tại Tân Trào59). Đại hội đã nhiệt liệt tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng và Tổng bộ Việt Minh. Đại hội đã bầu ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ban thường trực của Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam gồm năm người: Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Dương Đức Hiền.

Người vẫn ốm, buổi chiều Người lại lên cơn sốt nên không thể đến dự buổi lễ xuất phát của Quân giải phóng60).

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1969, tr. 144.

– Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 164-165.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.198.

– Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương: Những sự kiện lịch sử Đảng (1920-1945), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, t.1, tr. 639-641.

Tháng 8, ngày 17

Trước đình Tân Trào, thay mặt Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đọc lời tuyên thệ trong buổi lễ ra mắt quốc dân:

“Chúng tôi là những người được Quốc dân đại biểu bầu vào Uỷ ban giải phóng dân tộc để lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân ta. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống quân thù, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, quyết không lùi bước. Xin thề!”.

– Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 165-166.

Tháng 8, ngày 18

Hồ Chí Minh viết Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa gửi quốc dân, đồng bào. Trong thư, Người chỉ rõ: “Bốn năm trước đây, tôi có thư kêu gọi đồng bào ta đoàn kết. Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được ĐỘC LẬP, TỰ DO.

Vừa đây Việt Minh lại triệu tập “Việt Nam quốc dân đại biểu Đại hội”, cử ra UỶ BAN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG VIỆT NAM để lãnh đạo toàn quốc nhân dân kiên quyết đấu tranh kỳ cho nước được độc lập.

Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam cũng như Chính phủ lâm thời của ta lúc này. Hãy đoàn kết chung quanh nó, làm cho chính sách và mệnh lệnh của nó được thi hành khắp nước.

Như vậy thì Tổ quốc ta nhất định mau được độc lập, dân tộc ta nhất định mau được tự do.

Hỡi đồng bào yêu quý!

Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.

Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ.

Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 553-554.

Tháng 8, ngày 18

Hồ Chí Minh gửi thông điệp cho Chính phủ Pháp61) nêu ra đề nghị năm điểm:

1- Chính phủ Pháp công nhận Chính phủ Việt Minh.

2- Việt Minh công nhận quyền của Pháp ở Việt Nam trong vòng từ 5 đến 10 năm, sau đó Chính phủ Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam.

3- Trong 5-10 năm đó, Việt Nam hưởng quyền tự trị đối nội.

4- Chính phủ Pháp hưởng quyền ưu đãi trong kỹ nghệ và thương mại ở Việt Nam.

5- Người Pháp có thể làm cố vấn về ngoại giao.

Đồng thời, qua người Mỹ, Người nhân danh Uỷ ban giải phóng dân tộc gửi thông điệp cho các nước Đồng minh.

– Báo cáo của Hsing Shenchou, ngày 10-10-1945, trong Việt Nam văn kiện hội biên. Dẫn theo King C. Chen: Vietnam and China 1938-1954, Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p. 107.

Tháng 8, khoảng ngày 18

Hồ Chí Minh gửi thư cho Sáclơ Phen. Toàn văn bức thư như sau:

Trung uý Phen thân mến!

Chiến tranh đã kết thúc. Đấy là điều tốt cho mọi người. Tôi cảm thấy áy náy khi những người bạn Mỹ phải rời chúng tôi quá nhanh. Việc ra đi của họ khỏi đất nước này có nghĩa là mối quan hệ giữa ông và chúng tôi sẽ khó khăn hơn.

Chiến tranh đã kết thúc thắng lợi. Nhưng chúng tôi, những nước nhỏ và phụ thuộc, không có phần đóng góp hoặc đóng góp rất ít vào thắng lợi của tự do, của dân chủ. Nếu muốn đóng góp một phần xứng đáng chúng tôi phải tiếp tục chiến đấu. Tôi tin rằng ông và nhân dân Mỹ vĩ đại sẽ luôn luôn ủng hộ chúng tôi.

Tôi cũng tin rằng sớm hay muộn chúng tôi cũng sẽ đạt được mục đích của mình, bởi vì mục đích đó là chính nghĩa. Và đất nước chúng tôi sẽ độc lập. Tôi trông chờ ngày hạnh phúc được gặp ông và những người bạn Mỹ của chúng ta ở Đông Dương hay trên đất Mỹ.

Chúc ông may mắn và sức khoẻ.

Tháng 8-1945

C.M HỒ”

– Bản chụp bức thư đánh máy tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 83.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 550.

Tháng 8, khoảng ngày 18

Hồ Chí Minh gửi thư62) cho Ph. Tam.

Toàn văn bức thư như sau:

Ông Tam thân mến!

Chiến tranh đã kết thúc. Mọi thứ đều thay đổi. Nhưng tình bạn của chúng ta vẫn thế, không bao giờ thay đổi.

Nhưng ông biết đấy, chúng tôi không có phần đóng góp chiến thắng này. Để góp phần mình vào chiến công chung, chúng tôi còn phải chiến đấu gian khổ. Ông hãy tin rằng chúng tôi đã chiến đấu và sẽ chiến đấu cho tới khi chúng tôi đạt được cái mà chúng tôi mong muốn: Độc lập dân tộc.

Tôi thấy áy náy vì những người bạn Mỹ đã rời chúng tôi quá nhanh và do đó mối quan hệ giữa ông và chúng tôi trở nên khó khăn hơn. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên ông. Ông cũng đừng quên chúng tôi nhé! Ngày mai tươi sáng chúng ta sẽ gặp nhau, chúng ta trông chờ ngày đó!

Thưa ông, người bạn được giao nhiệm vụ mua những vòng xuyến cho ông bị ốm và anh ta đã trao công việc đó cho người khác. Nhưng người này lại nhận công tác xa Hà Nội, nên anh ta đã trao công việc đó cho người thứ ba. Người này không thực hiện đúng mà chỉ mua được một số cái mà ông muốn.

Tất cả giá 440 piastres63).

Tôi gửi lại ông những gì mà họ chuyển cho tôi và số tiền còn lại là 2.560 piastres.

Chúc ông sức khoẻ và may mắn. Và chúc ông sớm gặp người bạn đời tốt. Hãy tin ở tôi, tôi sẽ mãi mãi như xưa.

8-1945

Thân mến

C.M Hồ”

– Bản chụp bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Charles Fenn: Ho Chi Minh, a biographical introduction. Studio Vista, London, 1973, p. 83.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 551-552.

Tháng 8, khoảng trước ngày 20

Hồ Chí Minh họp với Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Thái, Hoàng Hữu Kháng và nữ đồng chí Châu. Người nói: “Bây giờ ta có chính quyền, chắc các cô, các chú cũng muốn về Hà Nội. Nhưng chưa được đâu! Lênin đã nói: “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”. Bởi vậy, một số các cô, các chú còn ở lại địa phương đây, giúp đồng bào tổ chức cuộc sống sao cho tươi đẹp hơn, ấm no, văn minh hơn… Biết đâu, chúng ta còn trở lên đây nhờ cậy đồng bào lần nữa…”.

– Lê Giản: Những ngày sóng gió, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1985, tr. 103-106.

Tháng 8, ngày 22

Sáng, Hồ Chí Minh rời Tân Trào về Hà Nội. Người đi theo đường đèo Khế, Cù Vân (nay thuộc huyện Đại Từ, Bắc Thái). Người chưa khỏi bệnh, còn mệt nhiều, có lúc phải nằm cáng.

Khoảng 20 giờ, Người tới Đại Từ.

Khoảng 21 giờ, Người đi ô tô64) đến Thái Nguyên65).

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 100-101.

– Trường Chinh: Bài phát biểu ngày 11-4-1967 với Thành uỷ Hà Nội về Cách mạng Tháng Tám (Bản ghi của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Hà Nội).

– Tài liệu của Tổ Nghiên cứu lịch sử Đảng thuộc Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Bắc Thái.

Tháng 8, ngày 23

Sáng, Hồ Chí Minh đi qua huyện Đa Phúc66) tỉnh Phúc Yên (nay là Sóc Sơn, Hà Nội). Trên đường về Hà Nội, Người trông rất yếu, tóc đốm bạc, râu ba chòm, mặc quần áo nâu, ngồi trên ghế sau một chiếc xe nhỏ, chiếc túi vải chàm đặt trên lòng.

Chiều, Người qua đò sông Hồng ở bến Phú Xá. Trong lúc tạm nghỉ ở đình Phú Xá (bấy giờ được dùng làm chỗ tập tự vệ), Người nghe đồng chí phụ trách công tác đội của Trung ương từ nội thành ra báo cáo về dư luận của đồng bào trước tin quân Đồng minh sẽ vào Đông Dương.

Tối, Người đến nghỉ trong nhà ông Công Ngọc Kha (tức Trần Lộc) ở làng Gạ (nay là làng Phú Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm), là một cơ sở cách mạng tin cậy.

– Thái Bảo: Đưa Bác về Thủ đô, in trong cuốn Bác Hồ với phụ nữ Hà Nội, Nxb. Hà Nội, 1985, tr.18-22.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội, Sở Văn hoá – Thông tin Hà Nội, 1985, tr. 7.

Tháng 8, ngày 25

Sáng, tại làng Gạ, Hồ Chí Minh nghe các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh từ nội thành ra báo cáo tình hình.

Chiều, Người từ làng Gạ đi ô tô vào nội thành Hà Nội. Xe qua Nhật Tân, Yên Phụ, Hàng Đậu, Hàng Giấy, Hàng Đường, Hàng Ngang, vòng đến dừng ở số nhà 35, phố Hàng Cân. Cùng đi có đồng chí Trường Chinh đã đến làng Gạ đón Người từ buổi sáng.

Theo thang gác, Người lên tầng hai nhà số 48, phố Hàng Ngang.

– Trường Chinh: Bài phát biểu ngày 11-4-1967 với Thành uỷ Hà Nội về Cách mạng Tháng Tám (Bản ghi của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Hà Nội).

– Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương: Những sự kiện lịch sử Đảng, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, t. 1, tr. 659-661.

Tháng 8, ngày 26

Buổi sáng, tại ngôi nhà số 48, phố Hàng Ngang (Hà Nội), Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng. Trong cuộc họp này, Người nhất trí với Thường vụ Trung ương Đảng về những chủ trương đối nội và đối ngoại trong tình hình mới, về việc sớm công bố danh sách thành viên Chính phủ lâm thời. Người đề nghị mở rộng hơn nữa thành phần của Chính phủ lâm thời, chuẩn bị ra Tuyên ngôn Độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ ra mắt nhân dân, ngày ra mắt của Chính phủ lâm thời cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hoà. Người nhấn mạnh những việc cần làm ngay trước khi quân đội Tưởng vào Đông Dương tước vũ khí của quân đội Nhật.

Buổi trưa, tại số nhà 48, phố Hàng Ngang, Hồ Chí Minh mời cơm Pátti67).

Người nói chuyện với Pátti đến gần 16 giờ.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 229-231.

– L. A. Patti: Why Vietnam? Trường đại học California xuất bản, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 200.

Tháng 8, ngày 27

Hồ Chí Minh triệu tập cuộc họp của Uỷ ban dân tộc giải phóng. Trong cuộc họp này, Người đề nghị thi hành chính sách đoàn kết rộng rãi, thành lập Chính phủ thống nhất quốc gia bao gồm cả những đại biểu các đảng phái yêu nước và những nhân sĩ không đảng phái, có danh vọng.

Đề nghị của Người được mọi người tán thành.

Nhiều uỷ viên Việt Minh tự nguyện xin rút lui để nhường chỗ cho những người khác thuộc các đảng phái khác.

Người được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Cùng ngày, Người tiếp các bộ trưởng mới tham gia Chính phủ68).

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 101.

Tháng 8, từ ngày 28

Từ nơi ở là ngôi nhà số 48, phố Hàng Ngang (Hà Nội), Hồ Chí Minh hằng ngày đến làm việc tại nhà số 12 phố Ngô Quyền – trụ sở của Chính phủ lâm thời.

Người dành phần lớn thời gian soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 101.

Tháng 8, ngày 29

Hồ Chí Minh gửi một tấm danh thiếp trên đó viết mấy lời ngắn gọn, mời A. Pátti đến gặp trước 12 giờ.

Vào lúc 10 giờ 30, Người tiếp A. Pátti tại số nhà 48, phố Hàng Ngang. Cùng tiếp có đồng chí Trường Chinh. Người nói với Pátti: muốn trao đổi với ông ta về một số kế hoạch hoạt động của Chính phủ lâm thời trong những ngày sắp tới, trong đó có việc tổ chức ngày lễ Độc lập 2-9, giới thiệu các thành viên Chính phủ và chương trình hoạt động của Chính phủ cho mọi người dân được biết. Người cho gọi người phiên dịch đến dịch cho Pátti nghe bản dự thảo Tuyên ngôn Độc lập. Pátti vô cùng ngạc nhiên khi thấy Cụ Hồ đã đưa vào đó một số câu trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ nhưng đã đảo trật tự và thay thế một số từ, đem lại cho nó một ý nghĩa mới.

Trong cuộc gặp hai người còn trao đổi về việc quân Tưởng vào Việt Nam, về “Chương trình quốc hữu hoá” của Chính phủ đối với một số ngành kinh tế quan trọng. Hồ Chí Minh mời Pátti dự lễ Độc lập 2-9. Pátti nhận lời nhưng cũng tỏ ý vì lý do tế nhị có thể sẽ không đến dự được.

– L. A. Patti: Why Vietnam? (Tại sao Việt Nam), Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr. 227-231.

Tháng 8, trước ngày 30

Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời gửi bức công điện cho Tổng thống Mỹ Tơruman, nhờ A. Pátti chuyển giúp về Mỹ.

Nguyên văn bức điện như sau:

“Để bảo đảm có kết quả cho vấn đề mà Uỷ ban Liên tịch các nước Đồng minh có nhiệm vụ phải giải quyết ở Việt Nam, yêu cầu để cho phái đoàn Mỹ được làm một thành viên của Uỷ ban nói trên và đặt quan hệ với Chính phủ chúng tôi… Chúng tôi yêu cầu cho Chính phủ chúng tôi, chính quyền duy nhất hợp pháp ở Việt Nam, và là người duy nhất đã chiến đấu chống Nhật (sic) (hoạt động quân sự do Mặt trận Việt Minh và sĩ quan Mỹ tiến hành) có quyền đại diện trong Uỷ ban đó.

Chính phủ lâm thời nước Cộng hoà Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh”69)

Bức điện được gửi nhằm hai mục đích:

1. Muốn có một nước thứ ba là Mỹ tham dự vô tư vào cuộc thương lượng giữa Pháp và Trung Quốc về Việt Nam, để tránh những nguy cơ có thể có cho nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam do hai nước đó tuỳ tiện nhân nhượng lẫn nhau. 2. Muốn các nước Đồng minh công nhận Chính phủ lâm thời của Hồ Chí Minh là đại diện duy nhất và hợp pháp của Việt Nam trong các vấn đề có liên quan đến chủ quyền của Việt Nam.

Pátti cho biết ông không có nhiệm vụ chính trị và quyền đại diện ngoại giao, nhưng nhận sẽ chuyển bức điện cho Đại sứ Mỹ Hurley. Bức điện được chuyển đi ngày 30-8-1945, số điện 47.

– L. A. Patti: Why Vietnam? (Tại sao Việt Nam), Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr. 237-239; ghi chú trang 524.

Tháng 8, ngày 30

Hồ Chí Minh mời một số đồng chí đến trao đổi, góp ý kiến cho bản dự thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Sau khi đọc bản thảo cho mọi người nghe và hỏi ý kiến, Người nói: trong đời, Người đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 105.

Tháng 8, ngày 31

Hồ Chí Minh bổ sung một số điểm vào bản thảo Tuyên ngôn Độc lập; hỏi cụ thể về tình hình chuẩn bị tổ chức cuộc mít tinh lớn ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) và nhắc nhở Ban tổ chức một số điểm cần chú ý.

– Tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 1

16 giờ 30, Hồ Chí Minh mời A.Pátti và Grélecki dự bữa cơm thân mật trước ngày lễ Độc lập của Việt Nam tại Bắc Bộ phủ. Cùng dự tiếp có Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Hoàng Minh Giám.

Với một giọng thân mật, Hồ Chí Minh tỏ lòng biết ơn đối với những người bạn Mỹ về sự ủng hộ vật chất và tinh thần mà phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam đã nhận được trong mấy năm gần đây, đặc biệt là cảm ơn sự giúp đỡ của Cơ quan phục vụ chiến lược (OSS). Người cũng nhắc đến Tướng Chennault, Đại tá Helliwell, Glass, các Thiếu tá Thomas và Holland cùng những người khác trong toán công tác của họ. Người tỏ ý mong rằng tinh thần “hợp tác hữu ái” đó sẽ tiếp tục phát triển trong các năm tới.

Trong cuộc trò chuyện, Người cũng biểu thị cho người Mỹ và các nước Đồng minh biết lòng tin tưởng và quyết tâm không gì lay chuyển nổi của nhân dân Việt Nam để tự giải phóng mình thoát khỏi “mọi sự cai trị của bên ngoài, dù cho đó là của Pháp, Nhật, Trung Quốc hay bất kỳ ai”. Người cũng nói cho người Mỹ hiểu: phong trào dân tộc của Việt Nam bao gồm một cách dân chủ tất cả các đảng phái cách mạng Việt Nam. Người công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là nhân tố lãnh đạo phong trào dân tộc đó, nhưng các đảng viên trước hết là những người yêu nước, sau đó mới là đảng viên của Đảng.

Người cũng nói về nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 và đề nghị Chính phủ Mỹ yêu cầu quân đội Tưởng vào Việt Nam phải mua bán chứ không được trưng thu các vật phẩm và lương thực trong thời gian họ ở đây để tránh gây ra tình hình người Việt Nam bắt buộc phải tiến hành chiến tranh đối với người Trung Quốc để bảo vệ cuộc sống và gia đình họ.

Pátti nhận lời sẽ chuyển yêu cầu đó của Chính phủ Hồ Chí Minh về Mỹ.

Buổi tiếp kiến kéo dài đến 19 giờ 30 trong không khí cởi mở, thẳng thắn và thân tình.

– L. A. Patti: Why Vietnam? (Tại sao Việt Nam), Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr. 250-254.

Tháng 9, ngày 2

14 giờ.

Trong cuộc mít tinh tại vườn hoa Ba Đình, Hà Nội, trước hàng chục vạn đồng bào Thủ đô, trên diễn đàn cao và trang nghiêm, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trịnh trọng tuyên bố với thế giới:

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Sau khi Chính phủ lâm thời làm lễ tuyên thệ và nhân dân thề một lòng ủng hộ Chính phủ do Hồ Chí Minh lãnh đạo, Người nói:

“Độc lập tự do là của quý báu, quý giá vô ngần, ta đã khổ sở trong bao nhiêu năm mới giành được, cần phải cố gắng giữ gìn, bảo vệ”.

19 giờ, Hồ Chí Minh họp với đại biểu các tỉnh.

Cùng ngày, Người gửi thư cho toàn thể Hoa kiều ở Việt Nam.

Bức thư có đoạn: “Tôi xin thay mặt Chính phủ nhân dân lâm thời Việt Nam và toàn dân Việt Nam đưa bàn tay nồng nhiệt hoan nghênh anh em Hoa kiều sinh sống trên đất nước ta, mong rằng anh em hai nước chúng ta thân mật đoàn kết, có việc gì thì giải quyết với nhau theo nguyên tắc hợp pháp, hợp lý với thái độ kính trọng nhường nhịn lẫn nhau, không được vì những việc tranh chấp nhỏ của cá nhân mà gây điều bất hạnh ngăn cách giữa hai dân tộc”.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr.107-109.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr.6.

_______________________________

1) Có tài liệu nói là cuối năm, nói theo âm lịch (cuối năm Giáp Thân) (B.T).

2Cuối năm 1944, một chiếc máy bay Mỹ lượn trên bầu trời Cao Bằng, bị hỏng máy. Viên trung uý phi công nhảy dù xuống một hòn núi gần tỉnh lỵ. Được tin, thực dân Pháp liền cho bao vây khu rừng, tháo máy và tìm viên phi công. Quân Nhật cũng đến ngay, chiếm lấy chiếc máy bay, buộc tội Pháp để viên phi công trốn thoát và buộc phải tìm giao nộp.

Trung uý Sao đã được Việt Minh cứu thoát, dẫn đường trốn trong một cái hang và hôm sau vượt qua những trạm gác nghiêm ngặt của Pháp. Sao đã vượt qua một quãng đường dài 60 km trong ngót một tháng trời để đến biên giới Việt – Trung (B.T).

3Đồng chí Phùng Thế Tài làm công tác bảo vệ, và đồng chí Đinh Đại Toàn (tức Minh) phục vụ sinh hoạt (B.T).

4) Người muốn gặp lại các đồng chí ở Vân Nam, và nhất là có ý định gặp các cơ quan của Mỹ đóng ở Côn Minh nhằm tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của Đồng minh chống phát xít đối với cách mạng Việt Nam. Lúc bấy giờ tại Côn Minh, Mỹ có trụ sở của Không đoàn thứ 14 dưới sự chỉ huy của tướng Sênôn (Claire L.Chennault), Cơ quan phục vụ chiến lược OSS (The Office of Strategic Service) và Cơ quan cứu trợ không quân AGAS (Air Ground Aid Service) (B.T).

5) Viên trung uý này là người trực tiếp điều khiển nhóm tình báo Đồng minh đang hoạt động trên đất Việt Nam lúc đó (B.T).

6Nhật ký của Sáclơ Phen ghi lại buổi gặp gỡ đó như sau:

“Hồ cùng đến với một thanh niên tên là Fam. Hồ không như tôi tưởng. Trước hết, ông chưa đến nỗi “già”, chòm râu không còn đen nữa (…) nhưng khuôn mặt khoẻ mạnh và đôi mắt lấp lánh. Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Pháp. Tôi hỏi ông là ông muốn gì ở người Mỹ. Ông nói: Chỉ muốn họ công nhận tổ chức của ông. Tôi đã nghe phong phanh người này là cộng sản và tôi đã hỏi về điều đó. Hồ nói rằng người Pháp gọi tất cả những người Việt Nam mong muốn độc lập đều là cộng sản. Tôi đã kể cho ông nghe về công việc của chúng ta và hỏi ông có muốn giúp chúng ta không. Hồ nói là họ có thể giúp được, nhưng không có người sử dụng điện đài và dĩ nhiên không có thiết bị gì cả. Chúng tôi thảo luận về việc tiếp nhận một điện đài, một máy phát và người sử dụng máy móc đó (…). Chúng tôi đã thảo luận về người Pháp, Hồ nhấn mạnh rằng Việt Minh chỉ muốn chống Nhật. Giọng nói của ông rõ ràng và dứt khoát, gây cho tôi một ấn tượng mạnh mẽ. Fam ghi chép. Chúng tôi thoả thuận còn phải gặp nhau nữa. Họ đã ghi tên của họ theo âm Trung Quốc latinh là Fam Fuc Pao và Ho Tchih Ming” (B.T).

7Nhật ký của Sáclơ Phen ghi lại cuộc gặp gỡ này như sau:

“Cuộc gặp với những người Việt Nam diễn ra trong quán cà phê Đông Dương ở phố Kim Bích. Hình như ông chủ quán cà phê này là bạn của họ. Chúng tôi ngồi trên lầu và uống cà phê theo kiểu Pháp rất đặc và rất ngon. Gian phòng còn vắng nhưng Hồ nói là khách có thể vào. Chúng tôi thoả thuận: gọi người Trung Hoa là “bạn”, người Mỹ gọi là “anh em”, người Pháp gọi là “người trung lập”, người Nhật gọi là “bọn chiếm đóng”, người Việt Nam gọi là “người đồng hương”. Người của Hồ giống người Trung Quốc. Vì không có người Việt Nam sử dụng được vô tuyến điện nên tất nhiên phải chọn người Trung Quốc /…./. Tiếp đó, chúng tôi bàn về sự trợ giúp. Fam đã nhắc lại “tiếng nổ lớn” mà Hall đã nói với anh ta. Chúng tôi thoả thuận với nhau là sau này chúng tôi có thể cung cấp thêm vũ khí phát sáng, thuốc men và điện đài khác. Người sử dụng máy móc riêng của chúng tôi có thể huấn luyện lại một số người của ông Hồ để sử dụng được các thứ đó. Hồ cũng muốn được gặp Sênôn. Tôi thoả thuận sẽ thu xếp cuộc gặp đó nếu ông đồng ý không nói với Sênôn bất cứ điều gì về sự ủng hộ và những hứa hẹn giúp đỡ. Hồ đồng ý. Ông già mặc một chiếc quần bông kiểu Tàu và một chiếc áo xanh đã ngả vàng cài khuy đến tận cổ. Đôi dép của ông là dép da thường thấy ở Đông Dương. Bộ râu thưa đã bạc, lông mày màu nâu sáng đã chuyển sang màu xám ở phía trên, nhưng mái tóc hầu như vẫn còn đen tuy cũng đã bắt đầu ngả màu. Người thanh niên, Fam, mặc quần áo Tây, gò má cao, cằm bạnh. Cả hai người nói nhỏ nhẹ, thỉnh thoảng mỉm cười. Chúng tôi cảm thấy chúng tôi cư xử với nhau rất đẹp” (B.T).

8) Nhật ký của Sáclơ Phen miêu tả cửa hiệu này có “tầng dưới nham nhở với những ngọn đèn đỏ, trắng, vàng, với một chiếc thùng đang sôi sùng sục trên bếp lò ở phía sau” (B.T).

9) Ph. Tam là người Mỹ gốc Hoa sẽ cùng về nước với Hồ Chí Minh với trách nhiệm mà nhóm công tác của Sáclơ Phen giao cho. Bécna, người chỉ huy trực tiếp Ph. Tam dặn anh ta chỉ mang những thứ cần thiết nhất gồm một điện đài, một khẩu súng lục và những tư trang gọn nhẹ (B.T).

10) Trần Dân Tiên miêu tả Sênôn là một chiến tướng già dặn, vẻ mặt nghiêm nghị, nhưng lại rất hoà nhã, thậm chí có thể nói là nhân từ(B.T).

11) Nhật ký của Sáclơ Phen ghi về cuộc gặp gỡ này như sau:

“Bécna và tôi có bổn phận đón Hồ vào 10 giờ 30 phút ngày 29-3 cho cuộc gặp vào lúc 11 giờ (…), khi chúng tôi có mặt ở ngoài cơ quan của Sênôn thì chúng tôi được báo là tướng quân đang bận việc. Đúng lúc đó cô thư ký xuất hiện và quả quyết với chúng tôi là ngài còn bận chút xíu nữa thôi (…). Năm phút sau chúng tôi được dẫn vào phòng. Ở đó, Đôrên (Doreen) đã mang sẵn hai chiếc ghế, trong khi chính Sênôn ngồi trên chiếc ghế thứ ba (…). Một cảnh tượng kỳ dị: Sênôn trong bộ comlê trang nhã có đính huân chương, Bécna trong bộ soóc bằng vải kaki, còn tôi trong bộ quần áo bằng vải gabađin và chiếc mũ thuỷ quân lục chiến. Ông già mặc chiếc áo ngắn tay, dài tới đầu gối và đi xăngđan, Đôrên trong bộ quần áo kaki.

Sênôn nói với Hồ là ông ta rất biết ơn về việc cứu người phi công. Hồ nói ông sẽ rất vui lòng giúp đỡ người Mỹ, đặc biệt là Tướng Sênôn – người mà ông rất ngưỡng mộ. Họ chuyện trò về những con hổ biết bay (chỉ các huyền thoại về đơn vị không quân 14 được mệnh danh làphi hổ dưới quyền Sênôn). Sênôn rất hài lòng về việc ông già biết chuyện đó. Chúng tôi tiếp tục nói chuyện về việc cứu phi công sau này”(B.T).

12) Tại đây, Người được biết Việt Nam cách mạng đồng minh hội đã có nhiều biến đổi trong sáu tháng qua kể từ khi Người rời Liễu Châu: Nguyễn Hải Thần, Trương Bội Công, Nghiêm Kế Tổ, Vũ Hồng Khanh, Nông Kính Du và Trần Báo đã rời Đệ tứ chiến khu đi Vân Nam hoặc Quý Châu. “Lớp huấn luyện đặc biệt của người Việt Nam” chỉ có 140 người ở lại Bách Sắc. Trên thực tế, Việt Nam cách mạng đồng minh hội đã ngừng hoạt động, mặc dù Lê Tùng Sơn, Bồ Xuân Luật và Trương Trung Phụng còn có mặt. Nguyên nhân chính là do thất bại của quân Trung Quốc ở Quảng Tây và một phần là do chính sách của Tiêu Văn đối với các lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng. Nhưng có một điều không thay đổi, đó là các nhóm Việt Minh vẫn hoạt động tích cực ở vùng biên giới. Việt Nam cách mạng đồng minh hội không còn ở Liễu Châu vì Liễu Châu đã rơi vào tay Nhật từ ngày 11-11-1944. Bách Sắc là một thị trấn nhỏ nhưng quan trọng về chiến lược ở phía tây – nam tỉnh Quảng Tây (B.T).

13) Trả lời cuộc phỏng vấn của King C. Chen, Trương Phát Khuê khẳng định cuộc gặp gỡ này (B.T).

14) Con số này do Ph. Tam cung cấp cho Sáclơ Phen, Tam viết:

“Những người hộ tống đã tới vào ngày 15-4. Bốn giờ sáng hôm sau chúng tôi cải trang thành những người buôn lậu vùng biên giới, cho tất cả trang bị vào những chiếc làn mây. Chúng tôi sóng đôi cuốc bộ tới biên giới lúc 15 giờ, chờ tối vượt biên giới. Chuyến đi dài ngày này dễ bị cướp nên chúng tôi tháo súng ra khỏi bao và cầm sẵn trong tay (…)” (B.T).

15) Theo Ph. Devillers trong cuốn Paris – Sai Gon – Hanoi (Gallimard, Julliard, Paris, 1988) thì cuộc gặp mặt này diễn ra vào tối ngày 27-4-1945. Sau này, A. Pátti kể lại: “Con người mảnh khảnh, nhỏ bé và kỳ lạ ấy gặp tôi với nụ cười niềm nở. Ông Hồ không yêu cầu gì cả, ông chỉ trình bày cho tôi nghe giá trị tiềm tàng của tổ chức quân sự, chính trị của mình” (B.T).

16) Đồng chí Hoàng Văn Lộc (B.T).

17) Đó là nhà đồng chí Kê Minh. Bấy giờ theo chủ trương “vườn không nhà trống” sơ tán chống Nhật, các gia đình ở đây đều lên ở trên núi đá. Khu vực họp, được trung đội tự vệ vũ trang do Trung đội trưởng Lê Văn Nhưng (bí danh Phúc Hưng) chỉ huy canh gác bảo vệ (B.T).

18) Đó là hai sĩ quan Mỹ (trong đó có một người gốc Hoa) sang giúp ta về kỹ thuật vô tuyến điện đã nói trong sự kiện ngày 15-4-1945 (B.T).

19) Hành trình của Hồ Chí Minh từ Pác Bó đi Tân Trào chia làm hai chặng: Pác Bó – Lam Sơn, và Lam Sơn – Tân Trào (B.T).

20Tuyến đường đi của đoàn khởi đầu từ Khuổi Nậm, dọc bờ suối Lênin, qua các bản Bó Bẩm, Pác Bó, Bản Hong, Bản Hoàng, Nà Mạ, Thua Phia (xã Xuân Hoà, nay là xã Nà Sao, Hà Quảng) (B.T).

21 Đồng chí Nông Hiền Hữu (bí danh Quất) lúc đó là Chủ nhiệm Việt Minh châu Hà Quảng. Cùng ăn cơm trưa với Hồ Chí Minh có hai người “Đồng minh”, đồng chí Quất và đồng chí Đinh Đại Toàn (người phụ trách sinh hoạt của Hồ Chí Minh ở Trung Quốc cùng về) (B.T).

22 Đoàn không qua ngã ba Đôn Chương mà thẳng xuống bản Giàng, sau đó ra đường cái hiện nay, đi Ngườm Lầm, rẽ vào Yên Luật (xã Xuân Hoà). Đến gần đền thờ Yên Luật, Hồ Chí Minh cùng đoàn nghỉ chân và tiểu đội trinh sát cho người đi thăm dò đoạn đường Kéo Tác để vượt đèo sang xã Đào Ngạn (huyện Hà Quảng) (B.T).

23 Đồng chí Quất đã tìm được đồng chí Cao Chung, lúc bấy giờ đang họp Ban Việt Minh xã tại Luống Nọi (xã Phù Ngọc) (B.T).

24 Rời Bản Nưa (xã Đào Ngạn), đoàn cán bộ đi qua Bó Hang – Lũng Mỏ, vượt đèo Phin Đen đi Luống Nọi (xã Phủ Ngọc), nghỉ uống nước tại nhà đồng chí Thế Hùng (khoảng 20 phút) để trinh sát đi thăm dò quãng đường phải vượt qua vì đường ôtô thường có giặc Nhật qua lại. Đến Vỏ Nuống (xã Nam Tuấn, huyện Hoà An), đoàn nghỉ chân uống nước ở nhà đồng chí Hồng Quân, sau đó vượt Phó Lài đi Phin Gào, vượt Bằng Giang, qua Pác Cám (xã Bình Long) theo đường mòn ven núi đến vùng núi đá Lam Sơn (xã Hồng Việt, huyện Hoà An) (B.T).

25Lúc bấy giờ đặt ở nhà đồng chí Nụ, bản Nà Dương, xã Hồng Việt (B.T).

26 Nhà ông Lý Văn Thạc ở bản Bó Phía (B.T).

27 Các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Đặng Việt Châu, Vũ Anh, Phạm Văn Đồng, Đặng Văn Cáp (B.T).

28 Đồng chí Bình Dương, đồng chí Lã (B.T).

29 Hành trình của đoàn bắt đầu từ Lam Sơn, đi Hào Lịch (xã Hoàng Tung). Đến bản Pác Phiêng, đoàn dừng chân mấy phút nhận quà tặng và lời chúc mừng của đại biểu nhân dân (dân tộc Tày) rồi qua Bó Lệnh (xã Hoàng Tung) ra ngã ba bản Tấn (B.T).

30 Người được bố trí ngủ đêm tại nhà ông Minh, một cơ sở tốt ở gần sông Khuổi Lẩy. Việc ăn, nghỉ của Người tại đây do đồng chí Lê Quang Kháng, phụ trách Ban Việt Minh khu Quang Trung bố trí (B.T).

31 Huyện Ngân Sơn thuộc tỉnh Bắc Kạn. Từ Khuổi Lẩy, đoàn đi men theo đường sông đến bản Tổng Lằn, rẽ lên quốc lộ 3 (Cao Bằng, Thái Nguyên) tại khu vực đèo Bele, đi khoảng 4 km trên quốc lộ rồi rẽ xuống bản Lũng Sao của người Dao Tiền (xã Thượng An, huyện Ngân Sơn), nghỉ đêm tại đấy (B.T).

32Tại Lam Sơn, Đặng Văn Cáp được giao nhiệm vụ lập một “nhà chữa súng” đặt trong một hang đá nhỏ cạnh hang đá lớn là nơi sau này, năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp tổng kết chiến dịch Biên giới (B.T).

33Đồng chí Hoàng Mỹ Đức, người đã được gặp Hồ Chí Minh ở Trung Quốc hơn một nửa năm trước đó (B.T).

34Các đồng chí Gia Quốc Toàn và Đồng Quang Tuân phụ trách Ban Việt Minh được giao nhiệm vụ đưa đoàn đến Tân Trào. Theo đường mòn, đoàn đi qua xã Trung Hoà, xã Hà Hiệu, đến Khuổi Mản (B.T).

35Đoàn qua bản Cốc Lót, cắt ngang quốc lộ ở Hà Hiệu (đường đi Tĩnh Túc), đi dọc theo một nhánh sông Năng, qua Nà Vài, Phiêng Dòn, Nà Thi, Bản Non (B.T).

36 Mờ sáng, đoàn rời châu lỵ. Ban đón tiếp ở Chợ Rã đã nắm cơm để đoàn mang theo vượt núi Cứu Quốc (Phia Bioc) là dãy núi cao có đỉnh trên 1500 m.

Đoàn đi Kéo Cảo (xã Thượng Giáo) cây cối xanh tươi. Ngắm nhìn rặng cây, Người khuyên cán bộ địa phương nên chăm sóc, bảo vệ cây.

Đoàn đi qua bản Pác Phai dưới chân núi Phia Bioc, qua Phia Khao, Kéo Càng Lô, Lũng Quốc, Nà Hai (B.T).

37Bản Chán (xã Đồng Phúc, huyện Chợ Rã) là điểm cuối cùng trên đất Cao Bằng (B.T).

38Đoàn đi qua địa phận xã Đồng Phúc (Ba Bể), đến xã Bằng Phúc, thuộc huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Thái), vượt đèo Kèo Khôm, tới xã Phương Viên (B.T).

39Ở nhà ông Lý Cao, bấy giờ là Chủ nhiệm Cách mạng xã. Ông Cao được Nông Văn Lạc thông báo “chuẩn bị đón thượng cấp” (B.T).

40 Đoàn rời Bản Cải, đi châu lỵ Chợ Đồn, qua khỏi Chợ Đồn khoảng hơn 1 km, trên đường đi Bản Pịt thì nghe tiếng súng Nhật ở châu lỵ. Đoàn rẽ vào rừng Khuổi Luông, dừng lại nghe ngóng.

Hồ Chí Minh cùng một bộ phận rời đèo Khuổi Khuy tới xã Bằng Viễn, đi đường rừng vòng sau đồn cũ xuống Khuổi Tráng ra khe Nậm Cảng, tới bản Duồng. Lúc này đã xế chiều, đoàn nghỉ ăn cơm tại nhà ông Lý Quý.

Bộ phận kia sau khi nghe được tin báo quân Nhật đã đi xa, lại tiếp tục hành quân theo hướng cũ đã định, qua Chợ Đồn, đến ngã ba gặp trung đội tự vệ vũ trang do Vũ Yến chỉ huy ra đón.

Sau bữa cơm chiều ở bản Duồng, trời còn sáng, đoàn cán bộ đi tiếp khoảng 4 km đến bản Rủm Tó (B.T).

41 Người nghỉ đêm ở nhà ông Triệu Văn Cam, một cơ sở tin cậy (B.T).

42 Người đi qua Thành Coóc (xã Hùng Lợi), xuống làng Chạp (xã Trung Yên), làng Nha (xã Kim Quan Thượng), làng Đồn (xã Thanh La) vượt đèo Chắn, vào Hồng Thái (xã Tân Trào). Cùng đi có đồng chí Võ Nguyên Giáp. Các đồng chí phụ trách phân khu Nguyễn Huệ như Song Hào, Tạ Xuân Thu, Lê Trung Đình, tổ chức đón Người (B.T).

43Các đồng chí Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm Việt Minh xã Hồng Thái chở đò đưa Người và một số cán bộ cùng đi qua bến Vực sang bên kia sông Đáy. Còn số đông cán bộ đi trong đoàn thì lội qua sông ở quãng bến Dâu, cách bến Vực chừng 50 m (B.T).

44Tức Ph. Tam và Mácxin (B.T).

45 Nguyễn Tiến Sự lúc này là Chủ nhiệm Việt Minh xã Tân Trào (B.T).

46 Lán Nà Lừa (thuộc thôn Tân Lập) cách nhà ông Nguyễn Tiến Sự khoảng 1 km (B.T).

47 Bà Lương Thị Khanh kể: “Hôm ra đi, cháu Khoái (con trai độc nhất của ông bà Nguyễn Tiến Sự) cứ níu áo theo sau. Cụ liền nói với tôi để cho cháu ra ở với Ông Cụ vài hôm cho vui. Tôi đồng ý, mà cũng không ngăn được, vì trẻ con được người già yêu thì nó cứ theo. Nhưng ở với Ông Cụ được hai tối, nhớ tôi, cháu lại về” (B.T).

48 Trường Quân chính kháng Nhật được mở tại Khuổi Kịch (đông bắc xã Tân Trào) do đồng chí Hoàng Văn Thái làm Hiệu trưởng kiêm Chính trị viên. Nhiều học viên của trường về sau là cán bộ cao cấp trong quân đội (B.T).

49 Ngay hôm nhận được thư, Pátti trả lời người giao thông rằng đã gửi hai văn kiện ấy đến các nhà chức trách hữu quan ở Trùng Khánh(B.T).

50Theo chỉ thị của Người, Hội nghị này đã được triệu tập ngày 4-6-1945. Hội nghị quyết định xây dựng Khu giải phóng toàn quốc, Tân Trào được chọn làm Thủ đô Khu giải phóng (B.T).

b Để bảo vệ lãnh tụ, việc Bác về Tân Trào vẫn được giữ bí mật hoàn toàn, ngay cả đối với đồng chí chỉ huy đơn vị Giải phóng quân này(B.T).

51 Ông T.: Ph. Tam, phụ trách điện đài, người của Đồng minh (B.T).

52 Tức Mácxin (B.T).

53 Trần Dân Tiên cho biết: “Người Mỹ muốn xây dựng một sân bay cho máy bay cỡ nhỏ có thể lên xuống được, thì đã tìm được địa điểm một cách dễ dàng. Họ dự tính một tuần lễ mới có thể xây dựng xong sân bay, nhưng chỉ trong hai ngày công việc đó đã hoàn thành”(B.T).

54Cuối thư thường có những lời lẽ đại loại:

“Các anh hãy chọn lấy một trong hai con đường: hoặc là hợp tác thân thiện với Nhật, hoặc là bị Nhật tiêu diệt…” (B.T).

55 Có những trường hợp cán bộ du kích trả lời bằng một chữ “Cambronne”. Cambronne (1770-1842) là một vị tướng Pháp. Khi chỉ huy trận địa cuối cùng ở Oatéclô, bị quân địch vây hãm và bức hàng, ông trả lời bằng một câu đã đi vào lịch sử: “Thà chết không hàng”.

Từ đó “Cambronne” trở thành từ đồng nghĩa của mệnh đề “Thà chết không hàng” (B.T).

56 Chiều 17 tháng 7, Đội “Con Nai” gồm 5 người do Thiếu tá tình báo Mỹ E. Tômát phụ trách nhảy dù xuống Tân Trào (B.T).

57 Yêu cầu này đã được E. Tômát chuyển cho Bộ chỉ huy AGAS ở Côn Minh ngay (B.T).

58Trưa ngày 15-8-1945, Đài phát thanh Tokyo đã truyền đi bản tuyên bố của Nhật hoàng Hirô Hitô chấp nhận Bản tuyên bố Pốtxđam của tứ cường, tức Bản tuyên bố của Liên Xô, Anh, Mỹ, Trung Quốc, đòi Nhật Bản đầu hàng không điều kiện (B.T).

59 Đại hội tiến hành ở đình Tân Trào trong hai ngày 16 và 17-8-1945. Tham dự có hơn 60 đại biểu Bắc, Trung, Nam và đại biểu kiều bào ở nước ngoài, đại biểu của các đảng phái chính trị, các đoàn thể nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo (B.T).

60 Theo Võ Nguyên Giáp: “Chiều 16-8, một đơn vị Giải phóng quân tập hợp dưới cờ làm lễ xuất phát tiến về Nam” (B.T).

61 Theo Robert Shaplen trong The Enigma of Ho Chi Minh, Wesley R. Fichel, Illinois, 1958, thông điệp đã đến tay Lêông Pinhông (Léon Pignon), và Giăng Xanhtơny (Jean Sainteny), lúc đó là đại diện của Pháp (B.T).

62 Thư đánh máy, ký tên C.M. Hoo bằng bút mực, không ghi ngày tháng năm (B.T).

63 Được để riêng một vài dòng và gạch dưới trong bản đánh máy.

Piastres: đơn vị tiền Đông Dương thời thuộc Pháp (B.T).

64 Trần Đăng Ninh đưa xe lên đón Người (B.T).

65Uỷ ban nhân dân lâm thời tỉnh Thái Nguyên tuyên bố thành lập chiều ngày 20-8-1945 trong một cuộc mít tinh lớn của quần chúng tổ chức tại sân vận động thị xã ngay khi cuộc bao vây tiến công quân Nhật ở thị xã vừa giành được chiến thắng to lớn đầu tiên (B.T).

66 Theo sự bố trí của đồng chí Trần Đăng Ninh, nữ đồng chí Thái Bảo (lúc đó mang bí danh Thuận, Chủ tịch huyện Đa Phúc) có nhiệm vụ đi cùng xe với Bác, đưa Bác suốt địa phận huyện mình phụ trách. Hết địa phận Đa Phúc, có đồng chí Trần Độ đón Người (B.T).

67 L.A. Pátti, thiếu tá tình báo Mỹ, đã có quan hệ với Hồ Chí Minh trong thời gian Người hoạt động ở Trung Quốc. Ngày 22-8-1945, Pátti đáp máy bay của Đồng minh đến Hà Nội (B.T).

68 Thành phần của Chính phủ lâm thời được công bố ngày 28-8-1945 như sau:

Chủ tịch: Hồ Chí Minh (Việt Minh).

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Hồ Chí Minh (Việt Minh).

Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Võ Nguyên Giáp (Việt Minh).

Bộ trưởng Bộ Tài chính: Phạm Văn Đồng (Việt Minh).

Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền: Trần Huy Liệu (Việt Minh).

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Chu Văn Tấn (Việt Minh).

Bộ trưởng Bộ Lao động: Lê Văn Hiến (Việt Minh).

Bộ trưởng Bộ Giáo dục: Vũ Đình Hoè (Đảng Dân chủ).

Bộ trưởng Bộ Thanh niên: Dương Đức Hiền (Đảng Dân chủ).

Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Vũ Trọng Khánh (Đảng Dân chủ).

Bộ trưởng Bộ Kinh tế: Nguyễn Mạnh Hà (Công giáo).

Bộ trưởng Bộ Y tế: Phạm Ngọc Thạch (không đảng phái).

Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội: Nguyễn Văn Tố (không đảng phái).

Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính: Đào Trọng Kim (không đảng phái).

Bộ trưởng không bộ: Cù Huy Cận và Nguyễn Văn Xuân (B.T).

69 Bức điện này do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ký thay (B.T).

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Advertisement