Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Bản chỉ dẫn tên người (G – H – K)

G

GÁCNIÊ, Phrăngxi (1839-1873): Sĩ quan hải quân Pháp tham gia đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất, bị quân ta giết chết ở gần Cầu Giấy (Hà Nội) năm 1873.

GĂNGĐI, Môhanđát, Karamsan (1869-1948): Nhà triết học, nhà văn, nhà hoạt động nổi tiếng của phong trào giải phóng dân tộc ấn Độ. Để chống lại thực dân Anh, giành độc lập dân tộc, Găngđi chủ trương không dùng bạo lực và không coi bạo lực là phương thức đấu tranh chính trị. Trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở ấn Độ (1919-1922), Găngđi trở thành lãnh tụ của Đảng Quốc đại và giữ vai trò quan trọng trong việc biến Đảng này thành một tổ chức quần chúng chống đế quốc. Học thuyết đề kháng tiêu cực của Găngđi trở thành tư tưởng chính của Đảng Quốc đại trong cuộc đấu tranh cho nền độc lập ấn Độ. Năm 1946, Găngđi tuyên bố không nhất thiết chỉ dùng phương pháp đấu tranh không bạo lực. Găngđi có ảnh hưởng và uy tín lớn ở ấn Độ. Nhân dân ấn Độ suy tôn là Mahátma nghĩa là “Tâm hồn vĩ đại”. Năm 1948, bị bọn phản động ám sát.

GHINBÔ, Hăngri (1885-1938): Người Pháp; năm 1916, tham gia hội nghị Kientan. Đầu những năm 20 là phóng viên báo L’Humanité ở Đức. Sau chuyển sang phái tơrốtxkít, tiếp tục làm báo.

GIA LONG (1762-1820): Tức Nguyễn ánh, đại diện của thế lực địa chủ phong kiến đã bị phong trào Tây Sơn lật đổ. Để chống lại Tây Sơn, khôi phục chế độ phong kiến, Nguyễn ánh đã cầu cứu quân xâm lược Xiêm (1784); ủng hộ quân xâm lược Thanh; câu kết với tư bản Pháp và ký với Pháp bản hiệp ước năm 1787. Bản hiệp ước gồm 10 khoản, nội dung chủ yếu là:

– Nguyễn ánh nhượng hẳn cho Pháp đảo Côn Lôn; cửa biển Hội An và cam kết để cho tư bản Pháp nắm độc quyền buôn bán trên cả nước, cung cấp binh lính và lương thực cho Pháp khi có chiến tranh.

– Chính phủ Pháp nhận giúp Nguyễn ánh 4 tàu chiến và một đội quân chống lại phong trào Tây Sơn.

Sau khi đàn áp được phong trào Tây Sơn (1802), Nguyễn ánh lên ngôi, hiệu là Gia Long, mở đầu nhà Nguyễn, triều vua cuối cùng ở Việt Nam.

GIÓPPHRƠ, Giôdép Giắccơ Xêxerơ (1852-1931): Thống chế Pháp, đã từng ở Bắc Kỳ, Xuđăng, Mađagátxca từ những năm đầu thế kỷ XX; Tổng tham mưu trưởng quân đội và Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao Pháp năm 1911. Sau khi được phong Thống chế năm 1917, Giópphrơ sang công cán ở Mỹ.

GIƠNUIY, Rigôn đơ: Đô đốc hải quân Pháp đã đem chiến thuyền đến bắn phá cảng Đà Nẵng năm 1858, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam.

GUĐƠ, Êmilơ (1870-1941): Người Pháp, tham gia Hội tam điểm, Phó Đốc lý thành phố, Uỷ viên Uỷ ban thường trực của Đảng Xã hội Pháp. ở Đại hội Tua, 1920, Guđơ bỏ phiếu cho Quốc tế thứ hai.

H

HÀM NGHI (1871-1944): Tức Nguyễn Ưng Lịch, vua thứ 8 nhà Nguyễn, người đứng đầu phe chủ chiến chống thực dân Pháp trong triều đình Huế. Khi kinh đô Huế thất thủ (tháng 7-1885), Hàm Nghi cùng Tôn Thất Thuyết ra phía Bắc tổ chức kháng chiến. Bị thực dân Pháp lùng bắt, phải lánh ở vùng rừng núi tỉnh Quảng Bình, xuống Chiếu Cần vương kêu gọi văn thân, sĩ phu và nhân dân chống Pháp. Tháng 11-1888, bị thực dân Pháp bắt, sau đó đày sang Angiê (thủ phủ của Angiêri ở Bắc Phi).

HĂMLÉT: Nhân vật chính trong vở bi kịch cùng tên của đại văn hào Anh Sếchxpia. Nhân vật Hămlét tượng trưng cho lòng trung hiếu và quả cảm của một thanh niên hoàng tộc trong cuộc đấu tranh chống lại tội ác và sự lừa lọc trong triều đình nước Đan Mạch đầu thế kỷ XVII.

HUYGÔ, Víchto (1802-1885): Nhà văn Pháp; nhà lý luận và chủ soái của trường phái thơ ca lãng mạn Pháp; tác giả của nhiều tập thơ, kịch, tiểu thuyết nổi tiếng. Các tác phẩm của Huygô đả kích chế độ đương thời, lên án những kẻ tàn bạo giày xéo lên hạnh phúc con người và đặt lòng tin vào con người có khả năng từ bóng tối vươn lên những đỉnh cao của ánh sáng chân lý và đạo đức.

K

KHẢI ĐỊNH (1882-1925): Tức Nguyễn Bửu Đảo, vua thứ 12 nhà Nguyễn. Năm 1916, được người Pháp đưa lên ngôi và đứng đầu triều đình đến năm 1925. Khải Định là một hoàng đế bạc nhược, hoàn toàn phụ thuộc vào người Pháp.

KHỔNG TỬ (511- 479 TCN): Tên Khâu, người nước Lỗ, sống vào đời nhà Chu thời Chiến quốc (Trung Quốc). Học rộng, tài cao, là người sáng lập ra đạo Khổng – một trong ba giáo phái lớn nhất Trung Quốc (Khổng giáo, Phật giáo, Lão giáo). Đạo Khổng là nền tảng tư tưởng chính thống của chế độ phong kiến Trung Quốc và ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều nước châu á. Đạo Khổng đề cao lòng ái quốc trung thần, phân định rạch ròi quan hệ vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, coi thường phụ nữ và người lao động.

KƠRISƠNA, Rama (1857-?): Nhà triết học, nhà văn, nhà hoạt động chính trị ấn Độ nổi tiếng, chủ trương đấu tranh đòi giải phóng về chính trị và kêu gọi đoàn kết dân tộc. Năm 1909, bị chính quyền thuộc địa Anh trục xuất khỏi ấn Độ.

cpv.org.vn

Bản chỉ dẫn tên người (D – Đ)

D

DINÔVIÉP, Rađômưxlơxki G.E. (1883-1936): Gia nhập Đảng công nhân dân chủ – xã hội Nga năm 1901. Sau Cách mạng Tháng Mười, là Chủ tịch Xôviết Pêtrôgrát, Uỷ viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Nga (b), Chủ tịch Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Hai lần bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản và được phục hồi; năm 1934, bị khai trừ hẳn khỏi Đảng Cộng sản.

DUY TÂN (1900-1945): Tức Nguyễn Vĩnh San, vua thứ 11 nhà Nguyễn từ năm 1907 đến năm 1916. Duy Tân là người yêu nước và có tinh thần dân tộc. Năm 1916, cùng Thái Phiên và Trần Cao Vân trong tổ chức Việt Nam quang phục hội dựa vào số binh lính bị mộ sang Pháp tổ chức khởi nghĩa ở Huế và miền Nam Trung Kỳ. Công việc bị bại lộ, khởi nghĩa không thành, Duy Tân bị thực dân Pháp đày sang đảo Rêuyniông (châu Phi). Duy Tân là người ham học và có ý chí. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, gia nhập quân đội Đồng minh chống phát xít; năm 1945, mất vì tai nạn máy bay ở châu Phi.

Đ

ĐÁCLƠ, Ôguytxtơ Eđua (1875-1940): Người Pháp, cử nhân văn chương. Năm 1906, sang Đông Dương vào ngạch 4 quan cai trị. Đáclơ làm Công sứ tỉnh Thái Nguyên, chủ trương đàn áp đẫm máu cuộc nổi dậy của binh lính người Việt do Trịnh Văn Cấn chỉ huy, tháng 8-1917.

ĐÁCUYN, Sáclơ (1809-1882): Nhà sinh vật học vĩ đại người Anh; người sáng lập khoa sinh vật học duy vật, lý thuyết về sự tiến hóa của giống loài và cuộc đấu tranh giữa các giống loài. Đácuyn kịch liệt bác bỏ những quan điểm duy tâm của giáo hội về nguồn gốc loài người và các sinh vật. Đácuyn trình bày những luận điểm khoa học của mình trong tác phẩm Nguồn gốc các loài (1859).

ĐAOXƠ, Sáclơ Ghitơ (1865-1951): Nhà tài chính và hoạt động chính trị Mỹ. (Xem chú thích số 53).

ĐỀ THÁM tức Hoàng Hoa Thám (1862-1913): Người lãnh đạo phong trào khởi nghĩa nông dân ở Yên Thế (Hà Bắc), một phong trào đấu tranh yêu nước quyết liệt và bền bỉ của nông dân Việt Nam; bị tay sai thực dân Pháp ám hại năm 1913.

ĐỘI VĂN: Một trong những người chỉ huy cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy (1885-1889) thuộc tỉnh Hưng Yên cũ, do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo. Năm 1889, bị khủng bố, Đội Văn trá hàng, được Pháp cấp cho 500 quân để đánh lại nghĩa quân. Đội Văn mang toàn bộ quân lính và vũ khí gia nhập nghĩa quân Hoàng Hoa Thám đánh lại quân Pháp.

ĐƠ VALƠRA, Imơn (1882-1975): Nhà yêu nước Aixlen, thủ lĩnh cuộc nổi dậy của những người tình nguyện Aixlen năm 1916, lãnh tụ Đảng Xin Pêin năm 1918. Ông hai lần làm Thủ tướng Aixơlen và quyết định Aixơlen đứng trung lập trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Năm 1959, là Tổng thống và năm 1966, được bầu lại làm Tổng thống nước Cộng hoà Aixơlen.

ĐUME, Pôn (1857-1932): Nghị sĩ Quốc hội Pháp (phái cấp tiến) năm 1888, 1895; Bộ trưởng Bộ Tài chính năm 1895-1896, 1921-1922; Toàn quyền Đông Dương năm 1896-1902; Chủ tịch Thượng viện năm 1927; Tổng thống năm 1931; tác giả cuốn sách Indochine – Francaise. Bị ám sát năm 1932.

cpv.org.vn

Bản chỉ dẫn tên người (C)

C

CAIÔ, Giôdép Mari Ôguýtxtơ (1863-1944): Nhiều lần làm Bộ trưởng Bộ Tài chính trong Chính phủ Pháp. Năm 1911, làm Thủ tướng. Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất, đi công cán ở Nam Mỹ và ở Italia. Bị khả nghi nên Chính phủ Clêmăngxô bắt giam năm 1917; bị kết án là tiếp tay không tự nguyện cho kẻ thù năm 1920. Mấy năm sau được tha, rồi lại được bầu làm nghị viên và Bộ trưởng Bộ Tài chính năm 1925, sau làm Chủ tịch Uỷ ban Tài chính của Thượng nghị viện đến năm 1940.

CANH, Sáclơ (1500-1558): Hoàng đế Tây Ban Nha, có tham vọng làm bá chủ thế giới, đã gây nhiều cuộc chiến tranh với Pháp, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Tuynidi, Angiêri, v.v..

CARAKHAN, Lép Mikhailôvích (1889-1937): Nhà hoạt động ngoại giao Xôviết, Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Hoạt động cách mạng từ năm 1904; tham gia Cách mạng Tháng Mười năm 1917. Thư ký Đoàn đại biểu Xôviết tại cuộc đàm phán hoà bình ở Brét. Trong những năm 1918-1920 và 1927-1934, là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Từ 1923-1926, Đại sứ Liên Xô tại Trung Quốc; từ 1937, Đại sứ Liên Xô tại Thổ Nhĩ Kỳ.

CASANH, Mácxen (1869-1958): Nhà hoạt động xuất sắc của phong trào công nhân Pháp và quốc tế. Từ năm 1912 đến 1918, biên tập viên báo L’Humanité , cơ quan trung ương của Đảng Xã hội Pháp và năm 1918 làm chủ bút tờ báo đó. Casanh là một trong những người tích cực ủng hộ và giúp đỡ Nguyễn ái Quốc trong thời gian hoạt động ở Pháp.

Năm 1920, với tư cách là đại biểu của Đảng Xã hội Pháp, Casanh tham gia Đại hội lần thứ II Quốc tế Cộng sản từ năm 1924 đến năm 1943, Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.

Từ năm 1921, Casanh liên tục được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương và Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp.

Năm 1957, Casanh được Đảng và Nhà nước Liên Xô tặng Huân chương Lênin.

CLÊMĂNGXÔ, Gióocgiơ Bănggia (1841-1929): Vốn là thầy thuốc, tham gia hoạt động chính trị sau ngày đế chế thứ hai sụp đổ (4-9-1870), nghị sĩ cấp tiến trong Quốc hội, thuộc phái cực tả, dựa vào những cuộc lật đổ nhiều bộ trưởng và làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ (1906-1909). Clêmăngxô chủ trương ra báo L’Homme libre (1913), đầu Chiến tranh thế giới thứ nhất là báo L’Homme enchainé, tố cáo chế độ kiểm duyệt. Năm 1920, bị thất bại trong tranh cử tổng thống, Clêmăngxô ra nước ngoài và viết sách.

COÓCĐIE, Hăngri (1840-1925): Nhà Đông phương học người Pháp, tác giả của nhiều cuốn sách về phương Đông, đặc biệt là Trung Quốc.

CÔNGXTĂNGTANH I (1868-1923): Vua Hy Lạp; nối ngôi vua cha là Gioócgiơ I năm 1913. Năm 1917, bị bắt đi đày, sau trở về lên ngôi năm 1920 và thoái vị năm 1922.

CÔNTRẮC, Alếchxăngđrơ Vaxiliêvích (1873-1920): Phần tử quân chủ, một trong những kẻ cầm đầu các thế lực phản cách mạng ở Nga, tay sai của khối đồng minh đế quốc (1918-1919), tiếp tay cho hành động can thiệp của các nước đế quốc và gây ra nội chiến chống lại chính quyền Xôviết sau Cách mạng Tháng Mười.

Những đợt tấn công của Hồng quân đã làm lực lượng của Côntrắc tan rã. Côntrắc bị bắt làm tù binh và ngày 7-2-1920, bị xử bắn theo quyết định của Uỷ ban Cách mạng Iếccútxcơ (Liên Xô).

cpv.org.vn

Bản chỉ dẫn tên người (A-B)

A

ARIXTỐT (khoảng 384-322 TCN): Nhà triết học cổ đại Hy Lạp. Arixtốt trù trừ giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, sau ông ngả theo chủ nghĩa duy tâm. Về nhận thức luận, Arixtốt gần với chủ nghĩa duy vật. Là một bộ óc bách khoa, Arixtốt để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về triết học, sinh vật học, đạo đức học, thi pháp và có ảnh hưởng to lớn và lâu dài trong nền văn minh châu Âu.

B

BéCTƠLÔ, Pie Êgien Maxơlen (1827-1907): Nhà hoá học người Pháp. Năm 1876 được bầu làm Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Pêtécbua (Nga).

BÉCTÔNG, Pie Mari Ăngđrê (1882-1968): Luật sư, nghị sĩ Quốc hội của Đảng Xã hội Pháp năm 1919, dự Đại hội Tua năm 1920 (không phải là đại biểu và có tham luận); nghị sĩ Quốc hội của Đảng Cộng sản đến năm 1932, sau đó bỏ Đảng Cộng sản.

BÊHEN, Pinhô đờ (1741-1799): Còn gọi là Bá Đa Lộc, giáo sĩ người Pháp. Dưới danh nghĩa truyền đạo, Bêhen đã tích cực hoạt động do thám và chuẩn bị cho sự can thiệp và xâm lược của thực dân Pháp vào nước ta. Bêhen là kẻ tích cực giúp Nguyễn ánh chống lại sự nghiệp thống nhất đất nước của phong trào Tây Sơn; giúp Nguyễn ánh ký với Pháp bản hiệp ước bán nước năm 1787.

BLĂNG, Giuyn (1881-1960): Tham gia Đảng Xã hội Pháp năm 1905; đại biểu tham dự Đại hội Đảng Xã hội ở Xtraxbua và Tua năm 1920, thuộc phái Quốc tế thứ ba. Năm 1921, được bầu vào Ban lãnh đạo của Đảng Cộng sản Pháp ở Đại hội toàn quốc họp ở Mácxây. Nguyễn ái Quốc được cử làm trợ lý cho Blăng khi làm Chủ tịch phiên họp sáng ngày 30-12-1921. Về sau, ông bỏ Đảng Cộng sản, làm thư ký công đoàn và viết báo.

BÔ, Philíp : Được Bộ Thuộc địa cử làm Toàn quyền Đông Dương ngày 1-7-1902, chính thức nhậm chức ngày 15-10-1902. Ph.Bô làm Toàn quyền Đông Dương đến ngày 25-6-1908.

BÔĐOANH, Pôn: Viên chức cao cấp của chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương; làm quyền Toàn quyền Đông Dương từ tháng 4 đến tháng 9-1922, từ khi Môrixơ Lông về Pháp cho đến khi Méclanh sang thay. Bôđoanh làm Tổng Giám đốc nhà băng năm 1931, Chủ tịch các nhà băng ở Đông Dương từ năm 1941 đến năm 1944.

BÔNĐUIN, Stênli (1867-1947): Lãnh tụ của những người bảo thủ Anh; Thủ tướng Anh năm 1923-1924, 1924-1929 và 1935-1937; là người ủng hộ chính sách thuộc địa và khuyến khích can thiệp vũ trang chống cách mạng Trung Quốc năm 1924-1927. Bônđuin đã cầm đầu vụ đàn áp cuộc tổng bãi công của giai cấp công nhân và cuộc bãi công của công nhân mỏ năm 1926; có thái độ thù địch với Liên Xô năm 1927; thực hành chính sách khuyến khích bọn xâm lược ý, Đức và âm mưu câu kết với nước Đức Hítle chĩa mũi nhọn xâm lược của Đức vào Liên Xô.

BRAO, Giôn (1800-1859): Một trong những người đấu tranh giải phóng người da đen ở Mỹ, tổ chức ra Hội đấu tranh thủ tiêu chế độ nô lệ, lập nhà trường cho người da đen, giúp người nô lệ chạy trốn lánh nạn sang Canađa. Brao cầm đầu một toán người da trắng và da đen đánh chiếm kho vũ khí của chính phủ bang Viếcginia. Trong khi đánh nhau, Brao bị bắt và hai con trai bị giết. Ngày 2-12-1859, bị xử treo cổ.

BUĐINÔ, Lu-i Pie, Emilơ – Gabrien (1875-?): Tốt nghiệp trường các sinh ngữ phương Đông, sang Đông Dương từ năm 1901; làm Phó Công sứ tỉnh Thừa Thiên năm 1910; sau đó làm nhiều việc với tư cách là quan chức của chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương.

cpv.org.vn

Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình Tập trung hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao

Để bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc vườn hoa, cây xanh, thảm cỏ, duy trì vệ sinh môi trường khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quảng trường Ba Đình, Khu Tập kết nhân dân, Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ, tạo cảnh quan luôn “xanh, sạch, đẹp” phục vụ nhân dân và khách quốc tế đến viếng Bác và tham quan khu vực.

QTBD1
Cán bộ, công chức, viên chức, chiến sỹ các lực lượng trong Cụm Di tích lịch sử,
văn hóa Ba Đình vào Lăng viếng Bác dịp 2/9

Thiết thực lập thành tích kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, đội ngũ cán bộ, công nhân của Ban đã thực hiện tốt các nhiệm vụ chuyên môn thường xuyên như chăm sóc vườn hoa, cây xanh, cây cảnh trong khu vực được giao quản lý; bảo đảm vệ sinh mặt đường, vỉa hè, các nhà vệ sinh công cộng luôn sạch sẽ, sẵn sàng để phục vụ khách tham quan. Cụ thể, đã thay thế hàng trăm chậu hoa thời vụ phục vụ những ngày lễ lớn. Đặc biệt, trong công tác phục vụ kỷ niệm Quốc khánh 2/9 đã chuẩn bị và đưa vào trang trí thường xuyên 14.000 cây hoa cúc, 5.380 bầu hoa comos, 635 bầu hoa muống, 9.150 cây hoa torea, 4.300 hoa dừa cạn. Riêng phục vụ trang trí tại các tuyến phố đi bộ, Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình đã chuẩn bị và trang trí bằng biểu tượng hai đóa hoa sen để kính dâng lên Bác, tô điểm thêm các đóa hoa muôn màu sắc tại các khu vực đường Hùng Vương để phục vụ nhân dân và khách tham quan.

QTBD2
Công nhân Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình trang trí cây hoa cây cảnh tại Quảng trường Ba Đình

Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn thường xuyên trong thời gian qua, Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình đã phối hợp với các bên đối tác hoàn thiện báo cáo kinh tế kỹ thuật về cải tạo trồng mới hai hàng tre tại  khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; phối hợp với Công ty Cổ phần Tu bổ Di tích và Thiết kế cảnh quan, chọn mẫu chậu trang trí xung quanh khu vực Lăng; hoàn thành việc bàn giao mặt bằng vườn ươm Phú Thượng cho Ban Quản lý Dự án đường vành đai II theo đúng kế hoạch, tiến độ.

QTBDTrang trí hoa ở cột cờ trước cửa Lăng

Tích cực bám nắm các sở, ban, ngành của thành phố và đã được sự đồng ý của Ủy ban nhân nhân Thành phố Hà Nội tiếp tục bảo đảm vệ sinh quanh khu vực lúc đông người và chuẩn bị tốt các phương án phòng, chống mưa bão.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, Đảng ủy và Lãnh đạo Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình, các cơ quan chuyên môn đã xây dựng các chương trình ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để việc làm đẹp, bảo đảm vệ sinh cảnh quan môi trường xung quanh Lăng, Quảng trường Ba Đình và Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ. Trong đó, về ngắn hạn là bảo đảm, làm đẹp cảnh quan như phục vụ nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ, ngày Tết, ngày trọng đại của đất nước, chuẩn bị đầy đủ các loại cây hoa, cây cảnh chủ động đưa ra phục vụ. Về dài hạn, tích cực nghiên cứu nhân giống các giống hoa mới, áp dụng các tiến bộ khoa học vào việc sản xuất. Tăng cường học hỏi kinh nghiệm ở trong nước, ở nước ngoài để làm tốt nhiệm vụ của mình.

Coi con người là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị. Thời gian qua, Đảng ủy và Lãnh đạo Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình đã từng bước sắp xếp lại tổ chức, bố trí cán bộ đúng với khả năng, năng lực trình độ chuyên môn để có thể phát huy hết khả năng của mình trong công tác. Đồng thời, xây dựng kế hoạch đào tạo, cử viên chức tham gia các khóa đào tạo về lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước tại các cơ sở trong nước trang bị thêm kiến thức, không ngừng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

QTBD a1
Trang trí hoa tại đường Hùng Vương

Hàng năm, được sự quan tâm, chỉ đạo và tạo điều kiện của cấp trên Ban đã từng bước tăng cường đưa máy móc, thiết bị vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động và phần nào giảm bớt khó khăn, vất vả cho người lao động. Đồng thời, đã quan tâm giải quyết đầy đủ các chế độ chính sách cho người lao động, nâng cao đời sống cho người lao động trong toàn Ban, coi đó là một ưu tiên để tạo nguồn nhân lực thực hiện các nhiệm vụ chính trị; tổ chức khám sức khỏe cho người lao động với tỷ lệ lao động khỏe, đạt yêu cầu đạt trên 90%.

Vượt qua nhiều khó khăn, cả chủ quan và khách quan, toàn bộ công chức, viên chức, công nhân lao động thuộc Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình luôn khắc ghi lời Bác, học tập tấm gương và đạo đức của Bác Hồ muôn vàn kính yêu, nỗ lực hết mình thực hiện tốt nhiệm vụ được giao để đáp ứng lòng mong mỏi của nhân dân Thủ đô và cả nước hướng về “Trái tim Ba Đình” với cảnh quan môi trường “xanh, sạch, đẹp”, tạo ấn tượng tốt đối với nhân dân cả nước và du khách quốc tế mỗi khi về Lăng viếng Bác và tham quan Khu Di tích lịch sử – văn hóa Ba Đình./.

Công Thị Hiền 
Phó Trưởng ban, Phụ trách Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình

bqllang.gov.vn

Thư từ Trung Quốc, số 1 (12-11-1924)

Các nữ đồng chí thân mến,

Các đồng chí biết rằng nước tôi, Trung Quốc, bị kìm kẹp tàn nhẫn trong một cái kìm mà những đế quốc nước ngoài là một gọng và những tay sai trung thành của chúng – những bọn quân phiệt Trung Quốc – là gọng khác. Bọn chúng giúp nhau để bóc lột chúng tôi. Mỗi khi chúng thấy phong trào giải phóng nảy sinh – dù của đàn ông hay đàn bà – chúng không từ việc gì để bóp chết nó. Sự áp bức đè nặng lên chúng tôi, nhưng chúng tôi bị áp bức nặng nề hơn gấp nghìn lần đàn ông … Không có chút quyền tự do chính trị, kinh tế và xã hội, chúng tôi bị bóc lột gấp đôi bởi vì là lao động và vì là đàn bà. Việc không có học vấn, tính thụ động, tập tục còn làm cho những nỗi khổ cực của chúng tôi càng nặng nề thêm.

Tiếng vang của cách mạng Nga 3 làm cho chúng tôi dường như thoát khỏi cơn ác mộng đau đớn. Dần dần chúng tôi bắt đầu nghe, nhìn, suy nghĩ và trở nên ý thức được rằng chúng tôi cũng vậy, chúng tôi là những con người như những đàn ông, rằng chúng tôi cũng vậy, chúng tôi phải có quyền sống và làm việc, và sau hết rằng để giành được quyền đó, chúng tôi cũng phải đấu tranh như những đàn ông và cùng với đàn ông chống lại những kẻ bóc lột chúng tôi. Từ đó, những người tiến bộ nhất trong chúng tôi vào Đảng cộng sản, vào Thanh niên cộng sản; những người khác gia nhập đảng cách mạng là Quốc dân đảng. Đảng này có cảm tình thành thật với nước Cộng hoà Xôviết.

Nước Nga cách mạng không chỉ nêu một tấm gương mà còn cho chúng tôi người hướng dẫn nữa. Chúng tôi được may mắn là ở đây có nữ đồng chí, đồng chí Bôrôđin. Đồng chí này nỗ lực làm cho chúng tôi hiểu và làm việc trên con đường giải phóng. Đồng chí tổ chức, giáo dục, khuyến khích, làm thức tỉnh tại mọi nơi mà đồng chí đến. Khi làm cho chúng tôi cảm phục Cách mạng Nga, đồng thời, đồng chí cũng làm cho chúng tôi cảm thấy sự tất yếu của cách mạng Trung Quốc. Đồng chí có cách đặc biệt để nói chuyện với chúng tôi. Những lời rõ ràng, đơn giản và thành thực của đồng chí khiến chúng tôi hiểu được và suy nghĩ. Đồng chí biết khuyến khích những chị đã hiểu chút ít và làm cho những chị khác còn chưa hiểu thì hiểu. Các đồng chí biết rằng chúng tôi, phụ nữ Trung Quốc, còn rất lạc hậu, nhút nhát và hững hờ. Đó là một nhiệm vụ khá khó khǎn để làm cho chúng tôi đột nhiên thoát khỏi tập quán hàng nghìn nǎm đó, vậy mà đồng chí thân mến của chúng tôi đã làm cái đó khéo léo đến thế và ân cần niềm nở đến thế, nếu như tôi có thể bày tỏ như vậy. Các đồng chí hãy ghi nhận đây là một ví dụ: Tháng trước, tại buổi lễ kỷ niệm Cách mạng Nga, do lời kêu gọi của nữ đồng chí Bôrôđin, hơn 3.000 nữ công nhân và nữ sinh viên Quảng Châu đã đi biểu tình với nam giới và đã dự mít tinh. Sau khi nghe người đồng chí chúng ta nói trong một giờ mà bài diễn vǎn bị ngắt quãng bởi những tràng vỗ tay kéo dài, một chị của chúng tôi đã đọc nghị quyết sau đây:

Hôm nay, chúng tôi ở đây để làm lễ kỷ niệm cuộc Cách mạng vĩ đại nhất mà lịch sử đã chứng kiến: Cuộc Cách mạng Nga. Chính nhờ cuộc cách mạng này mà cơ sở của quyền tự do chân chính và quyền bình đẳng thực sự đã được đặt ra cho loài người. Chính nhờ cuộc cách mạng này mà sự giải phóng phụ nữ sẽ có giá trị và có những ý nghĩa đầy đủ, trọn vẹn.

Thay mặt cho tất cả các chị em, cảm ơn nữ đồng chí và cam kết làm việc hết sức mình để hợp sức vào sự chiến thắng cuối cùng của

cách mạng thế giới, mở đầu một cách thắng lợi bởi giai cấp vô sản anh hùng nước Nga.

Nghị quyết này đã được biểu quyết nhất trí với tiếng hô to:

Cách mạng Nga muôn nǎm!

Cách mạng Trung Quốc muôn nǎm!

Đả đảo chủ nghĩa đế quốc!

Người ta chưa bao giờ thấy phấn khởi nhiều như thế trong phụ nữ chúng tôi! Đó thật sự đã là cuộc cách mạng nhỏ!

Trong thư sau, tôi sẽ cho các đồng chí biết chúng tôi hoạt động ở đây như thế nào. Trong khi chờ đợi niềm vui được đọc thư các đồng chí, thay mặt các đồng chí của tôi, xin gửi đến các đồng chí lời chào chân thành nhất.

Quảng Châu, 12-11-1924. LOO SHING YAN1)
Nữ đảng viên Quốc dân đảng

cpv.org.vn

Gửi Chủ tịch đoàn Quốc tế Cộng sản (18-12-1924)

Tôi đến Quảng Châu (4) vào giữa tháng 12. Tôi đã gặp tại đây vài ba nhà cách mạng quốc gia An Nam, trong số này có một người đã xa rời xứ sở từ ba mươi nǎm nay (1). Trong thời gian đó ông ta đã tổ chức nhiều cuộc nổi dậy chống Pháp. Tất cả những cuộc nổi dậy ấy đều đã đưa tới cái chết của mấy tên sĩ quan và binh lính Pháp, sự chiếm đoạt mấy khẩu súng và… là việc người của chúng ta chạy thoát, do không được giúp đỡ và viện trợ.

Mục đích duy nhất của ông này là trả thù cho nước, cho nhà đã bị bọn Pháp tàn sát. Ông không hiểu chính trị, và lại càng không hiểu việc tổ chức quần chúng. Trong các cuộc thảo luận, tôi đã giải thích cho ông hiểu sự cần thiết của tổ chức và sự vô ích của những hành động không cơ sở. Ông đã đồng ý. Và đây là những việc mà chúng tôi bắt đầu cùng nhau tiến hành:

a) Tôi đã vạch một kế hoạch tổ chức và xin gửi kèm bản sao theo đây.

b) Sau khi đã tán thành kế hoạch này, ông đã đưa cho tôi một bản danh sách 10 người An Nam đã cùng ông hoạt động bấy lâu.

c) Tôi đã chọn 5 người quê ở 5 tỉnh khác nhau. Chúng tôi sẽ cử một người An Nam đưa họ tới Quảng Châu. Tôi sẽ huấn luyện cho họ về phương pháp tổ chức. Chúng tôi sẽ gửi họ trở về Đông Dương

hoạt động sau 3 tháng học tập; và chúng tôi sẽ lấy ra một đoàn khác. Trong lúc này, đây là biện pháp duy nhất.

Để chi vào các phí tổn, tôi đã lấy số còn lại trong món tiền đi đường của các đồng chí đã cho tôi (150 đồng) và về sau thì sao ?

Tôi làm việc mỗi ngày vài giờ cho hãng Rôxta; nhưng tiền lương của tôi không cho phép tôi có thể một mình bao cho “các học viên” của tôi. Và khi các học viên đến Quảng Châu, rất có thể rồi sẽ phải đem tất cả hoặc gần tất cả thì giờ của tôi vào việc huấn luyện họ, lúc đó tình hình tài chính của tôi sẽ không có lối thoát. Bởi vậy, tôi đề nghị đồng chí chỉ thị cho các đại diện của đồng chí ở Quảng Châu cũng phải chǎm lo đến Đông Dương.

Tôi thiết tưởng chưa cần phải thảo một bản báo cáo về tình hình Trung Quốc bởi vì các đồng chí Trung Quốc và Nga đã làm việc đó; tuy nhiên, bây giờ tôi lưu ý đồng chí vấn đề tuyên truyền trong phụ nữ và thiếu nhi. Nữ đồng chí Bôrôđin đã phàn nàn là không nhận được tài liệu (báo chí, chương trình, v.v.) mà nữ đồng chí đã xin Mátxcơva. Điều đó đã ngǎn cản không cho công tác của nữ đồng chí ấy tiến triển và cũng có lúc đã cản trở hoàn toàn công tác của nữ đồng chí ấy. Nữ đồng chí ấy đã viết thư nhiều lần cho Quốc tế Phụ nữ, nhưng các bức thư đều không có hồi đáp và không mang lại kết quả.

Mong các đồng chí nhận cho lời chào cộng sản.

Quảng Châu, ngày 18 tháng 12 nǎm 1924. (Trong lúc này tôi là một người Trung Quốc chứ không phải là một người An Nam, và tên tôi là Lý Thuỵ chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc).

———————————-

4. Quảng Châu: Thủ phủ của tỉnh Quảng Đông, đồng thời là một trung tâm hành chính, kinh tế và cách mạng của miền Nam Trung Quốc. Đây là một trong những nơi bị bọn thực dân phương Tây tiến hành xâm lược sớm nhất vào Trung Quốc. Chúng đã xây dựng ở đây nhiều cơ sở công thương nghiệp. Chính vì thế Quảng Châu cũng là một trong những nơi tập trung đông công nhân, có phong trào đấu tranh yêu nước sôi nổi và liên tục nhất. Trước đây, Tôn Trung Sơn đã từng chọn Quảng Châu làm một địa bàn quan trọng để tiến hành cuộc cách mạng chống bọn phong kiến Mãn Thanh. Đến nǎm 1923, được sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông đã thiết lập ở đây một chính phủ cách mạng, thi hành nhiều chính sách tiến bộ. Nhân dân Quảng Châu nhiều lần nổi dậy đấu tranh anh dũng chống xâm lược. Vào tháng 7-1924, cuộc bãi công của công nhân Sa Điện (tô giới của Anh ở Quảng Châu), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, có tiếng vang rất lớn. Tháng 6-1925, cuộc đấu tranh của hàng chục vạn công nhân Quảng Châu phối hợp với phong trào bãi công rầm rộ ở Hương Cảng, Thượng Hải … đã giáng những đòn mạnh mẽ vào bọn thực dân Anh. Phong trào nông dân cũng phát triển nhanh chóng ở Quảng Đông và nhiều nơi khác. Đảng Cộng sản Trung Quốc có ảnh hưởng lớn lao ở vùng này và đã xây dựng được nhiều cơ sở vững chắc trong quần chúng. Tình hình đó tạo nên những thuận lợi nhất định cho phong trào cách mạng của nước ta. Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về đến Quảng Châu tháng ll-1924. (Trước đó, ở đây đã có một số nhà yêu nước của Việt Nam đến hoạt động như cụ Phan Bội Châu và tổ chức Tâm tâm xã). ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Lý Thuỵ, đã tìm hiểu tình hình và thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội (tháng 6-1925) – một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bằng tổ chức cách mạng này, Nguyễn Ái Quốc đã tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và đào tạo nên đội ngũ cán bộ cách mạng đầu tiên của Việt Nam. Tr.8

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

Tình hình Đông Dương (19-12-1924)

Tháng 11 và 12-1924

Tình hình kinh tế:

1. Một tổng ngân sách 76.743.000 đồng Đông Dương đã được biểu quyết. 1/5 số tiền đó là tiền lãi trong việc bán thuốc phiện (14.900.000 đồng Đông Dương).

2. Vào tháng 10, nhiều tỉnh đã bị lụt và bão tàn phá. Những sự thiệt hại không được rõ; Chính phủ không muốn cho biết điều này. Theo những thông tin cá nhân thì có những nơi có tới nửa số dân bị chết đuối hay chết đói. Trừ Nam Kỳ, sự khốn cùng ngự trị ở khắp nơi.

3. Ngân hàng công nghiệp Trung Quốc – mà sự phá sản và sự cứu trợ đã gây nên nhiều tin đồn trong báo chí Pháp – đã hoàn lại tiền cho khách hàng người nước ngoài của nó, nhưng không trả cho Đông Dương chút nào tiền góp 30 triệu phrǎng. Vào những ngày chót này, những chủ nợ người Pháp và người An Nam đã lập thành một mặt trận thống nhất để đòi nợ của họ.

4. Hình như Chính phủ thuộc địa sắp đồng ý cho thương nghiệp Nhật Bản biểu giá thấp nhất. Những người An Nam lo sợ, còn những nhà buôn Pháp chống lại sự đồng ý này.

Tình hình chính trị:

1. Chính phủ cố sức ngǎn cản thanh niên An Nam đi học ở Pháp. Điều đó chắc chắn vì lo sợ tuyên truyền cộng sản.

2. Những tờ báo An Nam đã nói đến một Uỷ ban được lập nên ở Pari, gồm 10 nhà chính trị, nhà báo và nhà tài chính người Pháp. Uỷ ban này có mục đích nghiên cứu khả nǎng bán Đông Dương cho một nước khác. Đó là vấn đề đã nêu ra từ trong chiến tranh.

Cǎn cứ hải quân của Anh ở Xanhgapo, những cuộc diễn tập của hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương và sự xâm nhập khéo léo của Nhật Bản hình như làm cho thực dân Pháp thật sự lo lắng. ở đây, việc lo sợ chủ nghĩa bônsêvích cũng đáng kể.

Bằng nhiều bài diễn vǎn và quảng cáo, Chính phủ thông báo một cuộc cải cách lớn: Chính phủ sắp tổ chức “Đại hội Đông Dương” thường trực. Đại hội sẽ gồm có 27 người Pháp – phần lớn là viên chức – được bầu 4 nǎm một lần; và 17 người An Nam – tất nhiên là được chọn trong số những người trung thành nhất với chủ – được bầu một nǎm một lần. Đại hội có tiếng nói tham khảo cho công việc của Chính phủ, điều đó nghĩa là đại hội này sẽ rất vô tích sự.

3. Chính trị bản xứ:

Có một đảng gọi tên là “Đảng lập hiến An Nam” 5 . Đó không phải là một đảng có tổ chức, mà đơn thuần chỉ là một vài nhà trí thức theo kiểu Pháp đặt tên đảng. Những thủ lĩnh của đảng này là những người theo quốc tịch Pháp (có 250 người Nam Kỳ).

Cương lĩnh của họ. Những yêu sách của họ là như sau:

a) Cải cách giáo dục (hiện nay có 90% trẻ em An Nam không có trường học).

b) Cải cách về tư pháp: cho những người An Nam tốt nghiệp về luật pháp được làm luật sư (tới nay, những người tốt nghiệp ấy thường có thể hành nghề ở Pháp, nhưng không bao giờ ở chính đất nước họ, trừ phi họ được nhập quốc tịch Pháp).

Chuẩn y cho những người An Nam quyền có Ban hội thẩm (hiện nay chỉ có Ban hội thẩm Pháp, vì thế, tất cả những người Pháp đã giết hại người An Nam hay phạm những tội ác khác đối với người bản xứ luôn luôn được miễn nghị).

c) Giới thiệu người An Nam vào Quốc hội Pháp.

d) Mở rộng việc nhập quốc tịch Pháp.

Để trình bày những yêu sách của họ với Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, họ đã phái một người nguyên là tên vô chính phủ người Pháp: Gioócgiơ Grǎnggiǎng.

Báo chí của họ.

a. Do có quyền tự do báo chí như những công dân Pháp, họ lợi dụng điều đó để xuất bản 2 hoặc 4 tờ báo mà 2 tờ lớn nhất có số lượng phát hành mỗi ngày 2000 bản.

b. Họ bao giờ cũng núp sau cái mộc “lòng trung thành” khi phê bình công khai những khuyết điểm của Chính phủ thuộc địa. Trong tất cả các bài báo, họ tuyên bố “vĩnh viễn gắn bó với mẫu quốc”. Họ theo khuynh hướng của Đảng Xã hội cấp tiến Pháp 6 (đảng của Eriô), ít nhất trong lúc này là thần tượng lớn của họ.

c. Họ vốn rất kính trọng Triều đình nước Nam. Đột nhiên, họ đổi giọng và bắt đầu công kích nó khá thậm tệ. Thậm chí họ còn viết: “Tư tưởng cộng hoà đã thắng trên thế giới, và những người An Nam đã dân chủ về cǎn bản, đã được chuẩn bị kỹ để hiểu cái đẹp của nó. Một vương quyền để phô trương chỉ có thể làm mờ ý nghĩa của nó trước quần chúng”.

Điều đó ở An Nam đáng khép tội khi quân. Giả dụ rằng những người ở Đảng lập hiến của chúng ta, đã cảm thấy cái gì đó từ Pari dội về: Đấng uy nghiêm Khờ khạo ngồi trên ngôi vua nước An Nam là người được che chở bởi Anbe Xarô, cựu Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, bị khai trừ khỏi đảng của Eriô, bị khai trừ vì đã bầu cho Poǎngcarê. Khi bỏ đảng, Xarô đã công bố một bức thư ngỏ rất vô lễ gửi Eriô, Chủ tịch đảng này. Eriô sắp thải vua An Nam để trả thù Xarô chǎng? Rất có thể.

Những đảng viên Đảng lập hiến An Nam và chủ nghĩa cộng sản.

Họ là những người có thiện cảm với chủ nghĩa cộng sản ư ? Không hơn gì những người dân chủ xã hội của những nước khác. Tuy nhiên họ khá khôn khéo chiếm lấy mọi cơ hội để làm Chính phủ thuộc địa sợ hãi bóng ma bônsêvích. Về việc Pháp công nhận Liên Xô, họ viết:

“Một số kẻ thực dân đã dự đoán một tương lai đen tối cho Đông Dương, tiếp sau việc Chính phủ Pháp công nhận Liên Xô; trên thực tế, người Nga dự định nâng đỡ những người bản xứ ở các thuộc địa của châu Âu chống lại sự thống trị của nước ngoài tại châu á. Tình hình sục sôi của các sinh linh trong nước chúng tôi do những sai lầm của ách cai trị thực dân thiển cận gây ra thì cái gì cũng có thể xảy ra ở đất nước này (tôi gạch dưới) chỉ cần những phương pháp khai hoá ấy tiếp tục được áp dụng đối với các dân tộc bị lệ thuộc và được bảo hộ”. Đe dọa như thế rồi, họ tiếp tục cho tới cuối bài báo, kêu nài sự hợp tác Pháp- An Nam. Nhưng còn một ví dụ khác nữa. Họ đã in lại một bài của báo Les Continents xuất bản ở Pari của Rơnê Marǎng. Đây là bài báo đó:

“Sự tuyên truyền cộng sản ở những thuộc địa Pháp.

Chúng tôi mới báo tin rằng những người Liên Xô chuẩn bị một chiến dịch tuyên truyền rộng rãi ở những thuộc địa của chúng ta. Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản của Mátxcơva 7 vừa cho thấy chúng ta có lý. Thật vậy, việc thiết lập một Ban thuộc địa gồm có những người Anh, người Bỉ, người Hà Lan và người Tây Ban Nha đã được quyết định.

Trụ sở của Ban này đặt ở Giơnevơ. Nhiệm vụ của nó là dấy lên những sự nổi dậy và khởi nghĩa trong những thuộc địa.

Thuộc địa chính được nhằm tới là Mađagátxca rồi Đahômây. Người ta cũng phải hoạt động ở Tuynidi, ở Marốc, ở Goađơlúp, ở Ǎngtiơ và ở Bắc Kỳ.

Chính phủ Xôviết đã để 10 triệu phrǎng vàng cho Ban sử dụng nhưng những đảng cộng sản Pháp, Anh, Bỉ phải đóng góp nhiều, vì những chi phí dự tính là to lớn.

Những uỷ viên người Pháp của Ban là các ông Casanh, Tơranh, Xeliê, Ghinbô và Côxta.

Đứng trước nguy cơ này, những sự tế nhị quá đáng, khúm núm của ông Đenphốtxơ không thể làm gì hơn. Vấn đề không còn là tìm ra bàn tay của Mátxcơva ở khắp mọi nơi nữa. Phải tố cáo nơi nó ẩn nấp. Không phải bằng cặp mắt bị bưng bít bởi óc bè phái thuộc địa mà chúng ta sẽ tìm được bàn tay ấy. Sau đó, nhất là Nghị viện hiện nay và Chính phủ phải ngay lập tức cho người bản xứ của các thuộc địa những quyền sơ đẳng mà họ đòi (tôi gạch dưới). Những cựu chiến binh, những giáo viên và những viên chức người bản xứ sẽ là những người đầu tiên bị xúc động bởi sự tuyên truyền này… Chính nhờ đấu tranh chống lại các nhà cai trị vụng về và chống lại những thống đốc chuyên chế quá đáng mà chúng ta sẽ làm yên được sự bất bình chính đáng của người bản xứ.

Nếu không thì những nữ thần Xiren sẽ có dịp tốt để ca tụng sự nổi loạn”.

Nguyện vọng của những đảng viên lập hiến An Nam.

G.Grǎnggiǎng, đại biểu của họ ở Pháp đã tóm tắt đúng những nguyện vọng ấy: “Họ chỉ muốn đơn giản là chính sách hợp tác (Pháp- An Nam) được thực hành … Họ muốn được dần dần tham gia vào những công việc của đất nước họ … Không muốn gì hơn”.

Vả lại, tất cả những gì họ đòi là quyền nhập quốc tịch Pháp, miễn trừ quân dịch (4 nǎm đối với người An Nam), bầu cử, v.v.. Họ chỉ đòi cho “lớp thượng lưu đã được giáo dục thôi”. Còn quần chúng thì chẳng được gì.

Chúng ta có thể dùng họ không? Điều đó tuỳ thuộc hai điều: thái độ của Chính phủ Pháp và sự khôn khéo của chúng ta.

Linh tinh –

Một lính Pháp đã giết một người An Nam; hắn đã bị kết án một tháng tù án treo.

200 học sinh trẻ tuổi của một tỉnh ở Nam Kỳ đã biểu tình trước đồn cảnh sát đòi thả hai người bạn của họ bị bắt giữ. Đồng thời, họ doạ bãi khoá nếu các bạn của họ không được thả ngay. Họ đã thắng lợi. Đây là lần đầu tiên, ở Đông Dương xảy ra một việc như vậy. Đó là một dấu hiệu của thời đại.

19-12-1924

———————-

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi một đồng chí trong Quốc tế Cộng sản (22-12-1924)

Đồng chí thân mến,

Tôi gửi đến đồng chí một báo cáo về tình hình Đông Dương. Tôi đã tìm thấy ở đây vài người Đông Dương mà với họ, tôi hy vọng làm được việc gì đó. Xin đồng chí chỉ thị cho những đồng chí người Nga ở đây cũng nhận trách nhiệm về các công việc của Đông Dương, bởi vì một mình tôi không thể làm nhiều được. Tôi đang công tác ở hãng Rôxta. Tôi chỉ gặp đồng chí Malaca một lần; đồng chí ấy ốm và nói với tôi rằng đồng chí cố gắng trở về nước. Tôi nghĩ rằng đồng chí ấy đã về rồi, bởi vì đã rất lâu tôi không gặp nữa.

Tôi sẽ gửi đến đồng chí một báo cáo về công tác chính trị của tôi tiếp sau. Địa chỉ của tôi: ông Lu, Hãng thông tấn Rôxta, Quảng Châu. Nếu đồng chí viết thư về thì nhờ đồng chí nhắn các đồng chí chúng ta gửi những thư của tôi đến đây cho tôi. Tôi tin rằng thế nào cũng có một vài cái.

Chào cộng sản.
Quảng Châu, ngày 22-12-1924.
NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————–

Thư đánh máy bằng tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Vấn đề Đông Dương (1925)

1- Nếu đồng chí đồng ý cho tôi gửi ngay một hoặc hai sinh viên thì điều đó sẽ cho phép tôi tuyên truyền tốt, và nói rằng cách mạng Nga đang và sẽ có thể làm gì cho dân chúng thuộc địa. Điều đó cũng sẽ cho phép tôi – từ nay đến tháng tám – tranh thủ được những phần tử tốt của Quốc dân đảng Đông Dương. Hơn nữa, điều đó cho phép tôi chọn ngay được vài người trong số họ để phái về nước.

2- Tôi không hiểu rõ vì sao đồng chí ngần ngại cho tôi vay tiền. Đó là một việc giữa đồng chí với tôi, và không một ai khác biết được tý nào về việc này. Tiền vay đó sẽ cho phép tôi:

a/ Có được một cơ sở ở trong nước.

b/ Có người sẵn sàng làm tuyên truyền viên.

c/ Thực hiện việc tuyên truyền đến nơi đến chốn và,

d/ Bắt đầu ngay công tác tổ chức.

Không có người nào khác có thể giúp tôi trong việc này, bởi vì tôi là một dây liên lạc giữ bí mật kế hoạch của chúng ta.

3- Tuyên truyền và làm công tác khác, tôi phải:

a/ Dịch tài liệu

b/ In ấn nó

c/ Lấy người từ trong nước đến Quảng Châu

d/ Huấn luyện họ

e/ Phái họ trở về.

Không có tiền, tất cả những điều đó đều không thể làm được. Vì thế tôi muốn đề nghị đồng chí cấp cho một quỹ nào đó.

4- Không có sự đồng ý và sự giúp đỡ của các đồng chí Nga của chúng ta thì tôi sẽ khó mà tránh khỏi sai lầm. Nhưng tôi cũng không nhận được gì nếu không có chỉ thị của đồng chí. Và họ có thể không làm gì cho tôi khi tôi đến tay không.

5- Nếu 4 yêu cầu này không có kết quả thì triển vọng về sau đối với tôi sẽ là như sau:

a/ Tôi không có chứng cứ để chỉ ra được những phần tử tốt nhất ở Quốc dân đảng Đông Dương để nhận họ đến với ta.

b/ Tôi không thể về nước được.

c/ Do đang mắc nợ trên 350 đôla cho công tác đầu tiên, tôi sẽ phải làm việc ít ra là 5 tháng để trả nợ. ở điều kiện đó, tôi sẽ không có thời giờ, không có tiền để làm công tác khác.

Tôi rất hy vọng đồng chí sẽ ủng hộ yêu cầu của tôi.

—————————-

Thư đánh máy bằng tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi một đồng chí ở Quốc tế Cộng sản (5-1-1925)

Đồng chí thân mến,

Quốc dân đảng Đông Dương vừa được thành lập vào ngày 3 tháng này với 3 đảng viên lúc bắt đầu.

Một người sẽ được phái đi Trung Kỳ và Lào. Một người khác (chưa phải là đảng viên) sẽ được phái đến Bắc Kỳ để lấy 5 người đi Quảng Châu học cách làm công tác tổ chức.

Tôi nghĩ có thể tìm nam thanh niên để gửi đi học ở Trường đại học Mátxcơva 8 . Xin đồng chí vui lòng cho biết có thể cho tôi gửi bao nhiêu sinh viên.

Đồng thời, tôi xin đồng chí chỉ thị cho các đồng chí Nga ở đây cũng nhận trách nhiệm về các công việc của Đông Dương bởi vì có một mình, tôi không thể làm quá nhiều việc được.

Quảng Châu, ngày 5-1-25.
Chào cộng sản

N.A.Q

—————————-

Thư đánh máy bằng tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản (10-1-1925)

Quảng Châu, ngày 10-1-1925

Kính gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản,

Các đồng chí thân mến,

Quốc dân đảng (Quốc dân đảng Đông Dương), chiều hôm qua đã kết nạp người đảng viên thứ tư.

Một trong số những đảng viên đó, xế trưa nay, đã đi Trung Kỳ và Lào, với nhiệm vụ là tổ chức những cơ sở ở các xứ đó và tìm thanh niên để đi học Trường đại học cộng sản chủ nghĩa ở Mátxcơva.

Các đồng chí cho tôi biết các đồng chí muốn nhận bao nhiêu sinh viên An Nam vào học Trường đại học ấy.

Ngày 15 sắp tới, một đảng viên thứ hai sẽ được gửi đến Bắc Kỳ để lấy 5 người Bắc Kỳ sang học Trường nông dân ở Quảng Châu. Những người này sẽ học cách tổ chức như thế nào.

Phải chi phí cho phái viên thứ nhất là 290 đôla và cho phái viên thứ hai 230 đôla. Số tiền đó là do số tiền đi đường còn lại của tôi, gộp với số tiền lương mà Rôxta đã ứng trước cho tôi.

Q.D.Đ 1 có thể có nhiều triển vọng, nhưng những phương tiện tài chính của nó rất eo hẹp: ít ra là tới lúc này, những phương tiện ấy chỉ do tôi cung cấp thôi.

Chuyến thư sắp khởi hành rồi. Tôi xin kết thúc bản báo cáo của tôi. Chuyến thư sau, tôi sẽ gửi các đồng chí một bản báo cáo chi tiết hơn.

Xin gửi lời chào cộng sản

NGUYỄN ÁI QUỐC

T.B. Yêu cầu các đồng chí chỉ thị cho các đại diện của các đồng chí ở Quảng Châu cũng phải chǎm lo đến Đông Dương.

———————————-

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn