Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Bình đẳng (1-6-1922)

Để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột giết người, chủ nghĩa tư bản thực dân luôn luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lý tưởng: Bác ái, Bình đẳng, v.v..

Nhưng, hãy xem tay chiến sĩ về bình đẳng ấy đã thực hiện bình đẳng như thế nào.

Cùng làm một việc trong cùng một xưởng, người thợ da trắng vẫn được trả lương hậu hơn nhiều so với bạn đồng nghiệp khác màu da.

Trong các công sở, những người bản xứ mặc dầu đã làm việc lâu nǎm và mặc dầu rất thành thạo công việc, vẫn chỉ lĩnh một khoản tiền công chết đói, trong khi một người da trắng mới được vào, làm công việc ít hơn, thì lại lĩnh lương bổng nhiều hơn.

Có những thanh niên bản xứ đã học qua các trường đại học của chính quốc và đậu bằng tiến sĩ y khoa hoặc luật khoa, vẫn không thể làm được nghề nghiệp của mình trong nước mình nếu họ không vào quốc tịch Pháp. (Mọi người đã biết, một người bản xứ muốn được vào quốc tịch Pháp như vậy thì khó khǎn và nhục nhã như thế nào rồi).

Phải bỏ ruộng nương và nhà cửa đǎng vào lính “tình nguyện”, những người dân bản xứ ra lính đã được nếm mùi ngay ý nghĩa mỹ miều của cái thứ “công bằng” quái gở mà họ đang phải bảo vệ này.

Cùng một cấp bậc, nhưng người da trắng gần như bao giờ cũng được xem là cấp trên của người bản xứ. Người sĩ quan bản xứ phải chào và tuân lệnh sĩ quan da trắng. Cái chế độ đẳng cấp phân biệt “nhân chủng – quân sự” ấy lại còn rõ rệt hơn nữa khi những người lính da trắng và lính khác màu da cùng đi chung trên một chuyến xe lửa hoặc tầu thuỷ. Ví dụ như việc mới nhất gần đây:

Hồi tháng nǎm, chiếc tàu Ligiê chở 600 lính người Mangát từ Pháp sang Mađagátxca. Các hạ sĩ quan người bản xứ thì chen chúc dưới hầm tàu, còn đồng nghiệp của họ, những hạ sĩ quan da trắng, thì được đường hoàng nằm trong các buồng dành riêng.

Hẳn những người anh em khác màu da chúng ta, nóng sôi lên vì các nồi súpde nếu không phải vì lý tưởng, và tỉnh dậy vì tiếng động ầm ầm của chân vịt quay hay vì tiếng gọi của lương tri, có thể suy nghĩ và hiểu rằng cái chủ nghĩa tư bản tốt đẹp kia vẫn coi họ và bao giờ cũng chỉ coi họ như những kẻ ôlô malôtô (1) mà thôi.

N.A.Q

Báo L’Humanité, ngày 1-6-1922.
cpv.org.vn

———————————

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Lời than vãn của Bà Trưng Trắc (24-6-1922)

Quốc vương nước Nam sắp làm “khách của nước Pháp”. Gọi là có lời chào mừng tí ti, chúng tôi kính dâng ngài giấc mộng này của đồng chí Nguyễn ái Quốc của chúng tôi, người bầy tôi trung thành của ngài.

Đêm tối quằn quại dưới làn mưa nhỏ hạt dầm dề. Mảnh trăng vàng vọt cố bíu trên những mái lều tranh. Cây đẫm ướt đầm đìa nước mắt tuôn rơi. Gió thổi qua những cụm lá mệt mỏi va nhau thành tiếng kinh rợn. Cành cây vặn vẹo như những cánh tay ma quái, và những đám nước bị từng cơn gió đột ngột quất, cứ nức nở. Cảnh vật nước Nam, lồng trong cây cỏ um tùm, vốn tươi vui và thơ mộng thế dưới ánh trăng, nay buồn thảm lạ lùng. Cơn hấp hối đang chơi vơi khắp. Tai ương lảng vảng đâu đây.

ánh sáng lừ đừ của những cây nến thơm chấp chới đầu ngọn bấc cong queo, hắt lên những cây cột sơn mài nhẵn bóng trong cung điện những bóng đen lung lay và những con mắt hấp háy. Bọn quan hoạn lim dim uể oải trên chiếc chiếu trải dưới đất ở một góc nhà. Như cảm thấy được có im lặng đang bò lê.

Trống canh vừa điểm ba tiếng. Tùng, tùng, tùng! Các anh là người phương Tây, các anh chẳng hiểu thế là thế nào cả, hử? Tùng, tùng, tùng! Nhân nó lên năm thế là ba giờ của các anh đấy. Đây là thời khắc ban đêm lúc lương tri cất cao tiếng. Lúc các đống mả khạc ra những kẻ nằm bên trong, họ lìa khỏi những tấm liệm he hé mở, để ra ngoài đi dò đi dẫm, cất lên tiếng rú hoan lạc. Lúc đầu óc con người đầy rẫy những bóng hình, mộng mị. Tùng, tùng, tùng! Nhân nó lên ba, thì ấy là con số chín, con số tận cùng trong những con số chẳng thể chia cũng chẳng thể nhân, mà theo vua Phục Hi thì nó biểu hiện sự suy đốn của một sinh linh được coi như cùng tột (dương cửu) (1) .

Đó chính là lúc Thiên tử nằm mơ. Ngài mơ thấy những con rồng chạm trên tủ, bàn bỗng biến động, hoá thành những con rắn gớm ghiếc, mở thao láo những con mắt đỏ ngầu tia máu. Còn những con phụng hoàng (2) , giống chim tượng trưng cho uy quyền vua chúa, thì vươn chiếc cổ dài ngoẵng tua tủa lông, quệt mỏ xoè cánh, y hệt đám gà trống cáu kỉnh, đáng ghét. Mọi vật bằng ngọc thạch, bằng châu báu, đều xỉn đi, xám xịt lại. Tất cả cứ từ từ quay tròn, và tan dần, tan dần. Rồi một bóng ma trùm khăn, trăng trắng hiện lên. Nhà vua kinh hoàng run lên lập cập, vì không phải vua chúa nào cũng đều can đảm như Hămlét (3) , và thông minh như thế thì lại càng không. Ngài muốn kéo chiếu che mặt mà không được.

Đường bệ và giận dữ, bóng ma nói với vị chủ hoàng cung thế này:

– Mi có nhận ra ta không, đứa con khốn khổ kia ơi! Ta là một trong những người khai sáng nước Nam tươi đẹp này đây. Ta là Trưng Trắc, năm 39 (1) đã cùng em gái ta là Trưng Nhị và đồng bào đánh đuổi bọn xâm lăng, trả thù chồng, giải thoát quê hương. Đừng có run lên như thế, con ơi! Mà phải lắng nghe lấy lời mẹ bảo! Chẳng hay mi có biết rằng, theo tập tục nghìn năm của nước Nam ta xưa cũ thì Hoàng đế là chịu mệnh trời để trị dân, vì thế mà được coi là con của trời, cha mẹ của dân?

“Vua muốn xứng với lòng trời và làm tròn nhiệm vụ chí tôn của mình thì phải chịu khổ trước dân và chia sướng sau dân. Vua phải tuân lệnh trời, mà tiếng dân chính là truyền lại ý trời. Bằng không thì ấy là trời đoạn tuyệt, tổ tiên từ bỏ, nhân dân ruồng rẫy.

“Giở sử đất nước ra mà xem, mi sẽ thấy tổ tiên đã treo bao tấm gương đạo đức và dũng cảm, chí khí và tự tôn. Lý Bôn (544) (2), với một nhúm nghĩa sĩ, đã nổi dậy và bẻ gãy ách đô hộ của Hán tộc. Ngô Quyền (938) đã phá tan đạo quân nước ngoài kéo vào đánh chiếm đất đai Tổ quốc ta.

“Dân ta sống trong hạnh phúc và thịnh vượng dưới triều nhà Đinh. Năm 980 (3) , Lê Đại Hành đã dũng cảm không chịu khuất phục trước yêu sách của láng giềng hùng mạnh hơn mình gấp bội, ông đã đánh thắng địch, giết chết tướng địch. Do đó đã giải thoát được đồng bào khỏi nạn nô dịch.

“Quân Mông Cổ đi đến đâu phá sạch đấy, đã bị nhà Trần vẻ vang của chúng ta đánh bại (1225) (4) . Lê Lợi đã hùng dũng đứng ra lãnh đạo cuộc cách mạng nước Nam, đập tan chế độ tàn bạo và hạch sách mà những kẻ tự xưng là bảo hộ ta bắt ta chịu.

…..

“Thật là nhục nhã thậm tệ, thật là chán ngán ghê gớm, thật là cay đắng ê chề xiết bao cho các vị, nếu từ những tầng mây, tổ tiên mi phải trông thấy dân tộc mà các vị đã giành được tự do nay chịu phận nô lệ, đất nước đã được các vị giải thoát nay lâm vào cảnh nô dịch, kẻ kế tục ngai vàng của các vị nay sống trong ươn hèn.

“Mặc dầu lễ nghi không cho phép các vị nguyên thủ nước ta rời khỏi cung cấm, thế nhưng chúng ta vẫn phải đau buồn nhận thấy rằng vẫn có những bậc quân trưởng phải lưu vong.

“Năm 1407 (1) , Tầu (phong kiến) đánh nhau với ta; nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao tự do hơn là nhờ quân đông sức mạnh, nước Nam đã thắng. Chinh chiến lúc đó thế là lại bắt đầu. Giặc biết rằng không khuất phục được ta bằng uy lực, đã dùng chiến tranh hao mòn. Trần Đế Quỹ đã lãnh đạo dân Nam đoạt được thắng lợi, sau thấy dân cùng kiệt, đói khát, máu đổ xương rơi. Ông biết rằng giặc chỉ muốn hại mình ông, và chúng bắt được ông rồi thì dân Nam sẽ được yên ổn. Vì vậy ông ra nộp mình; ông nộp mình để dân ông đỡ hao tổn sinh linh, xương máu. Bị cầm tù giải đi, ông nhảy xuống sông tự tử. Ông thà chết vinh chứ không sống nhục. Ngày nay, mỗi buổi mặt trời mọc lên lặn xuống, muôn nghìn ánh hào quang vàng óng quây trên dòng sông trong nước bạc long lanh, tạo nên đài kỷ niệm vĩnh cửu cho linh hồn bất diệt của con người chiến bại vĩ đại đó…

“Tiếp đó là Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân – người ở ngôi ngay trước mi. Chính những kẻ xưng xưng là tôn trọng phong tục, luật lệ nước ta đã đày ải ba vị và mai đây sẽ dùng mi làm món đồ rao hàng thuộc địa, cổ động đế quốc. Có thấy không, con! Chẳng thể bao giờ trong niên giám nước mi lại có một vua Nam nào chịu làm tôi tớ đến như mi, lại có một cuộc ngự giá tuần du nào thảm hại đến mức này. Trước đây, mi đã từng phạm tội báng bổ là bệ lên bàn thờ linh thiêng của ông vải hình ảnh ghê tởm của thằng da trắng ngái ngủ và bụng phệ nọ, nó sặc lên mùi tỏi, ớn mùi thây ma. Tại sao, ừ, tại sao mi lại làm thế? Nay mi lại sắp lẩn xa tôn miếu. Tay mi sẽ không thắp hương vào những tiết đầu xuân, đầu thu nữa. Mi sẽ không tự tay mở hương án dâng hoa quả đầu mùa và cúng cơm mới nữa. Vẫn hay, con ạ! rằng tất cả những cái ấy chẳng qua đều là nghi lễ cổ hủ ! nhưng mi cũng thừa biết rằng chỉ còn độc nghĩa vụ đó là mi còn làm được với tổ tiên và mi cũng chỉ còn độc cái uy tín đó mà thôi trước mắt thần dân.

“Giờ thì mi lại sắp làm tệ hại hơn nữa. Mi sắp ca ngợi công đức của những đứa bóc lột và hiếp đáp dân mi. Mi sắp phô trương sự thịnh vượng của đất nước mi, cái thịnh vượng được sắp đặt đâu ra đấy trong trí tưởng tượng quá giàu của bọn bóc lột. Mi sắp tâng bốc công ơn vô ngần và tưởng tượng của nền văn minh đã thâm nhập sơn hà xã tắc của mi bằng mũi nhọn của lưỡi lê và bằng họng súng ca-nông.

“Ôi, nhìn, hãy nhìn nào, đứa con thảm thương kia ơi! Hãy nhìn quanh mi! Thấy chăng Trung Hoa đang thức tỉnh, Nhật Bản đang duy tân…? Thấy chăng toàn cầu đang tiến, chỉ có dân mi là, nhờ mi và lũ quan thượng của mi, cứ phải chìm ngập mãi trong vũng lầy dốt nát và tôi đòi khốn nạn?

“Hãy nhìn Triều Tiên, Ai Cập và ấn Độ, tất cả các nước đó đều đang đứng lên đòi hỏi quyền lợi, công lý và tự do!

“Chính giữa lúc đó thì mi… Im… Nghe kìa! Nghe thấy chăng… Nghe thấy chăng những tiếng kêu gào…? A! Người ta đến kia kìa, đông quá, tất cả những người dân nước Nam đã bị thiệt mạng cho cuộc chiến tranh ở châu Âu. Người ta đến đòi những gì mà bọn quan thầy mi đã cùng mi hứa hẹn với người ta, anh em người ta. Trả lời người ta đi nào! A! Người ta giận dữ, người ta bỏ đi.

“Bây giờ thì người ta quay lưng đi rồi, người ta đang đi đến phía đằng kia. Có thấy người ta không? Đằng kia ấy, nơi mặt trời đang mọc huy hoàng khôn xiết, nơi tung bay kiêu hãnh lá cờ Nhân đạo và Lao động. Đấy! Chính đấy là nơi yên nghỉ tâm linh những người đã khuất, là tương lai của dân tộc mà mi đã phụng sự chẳng ra gì!

“Gà sắp gáy sáng. Sao Bắc đẩu tiến ngang trời. Nhạc tiên đang giục giã ta. Thôi, chào!”.

Mồ hôi nhớp nháp đẫm trán vị chúa thượng đang ngủ. Ngài muốn kêu lên. Nhưng không kêu được. Lưỡi ngài líu lại vì sợ.

Một quan hoạn bước vào, khom khom cái lưng ba lần, rồi the thé cái giọng đàn bà:

– Ngai dưới (1) ! Đã có lệnh lên đường của Tòa Khâm truyền sang rồi đấy ạ!

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 24-6-1922.

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d\’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, năm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

(4) Báo L\’Humanité: Tờ báo hằng ngày của Đảng Xã hội Pháp do Giǎng Giôrét sáng lập nǎm 1904. Sau Đại hội lần thứ XVIII (Đại hội Tua), Đảng Cộng sản Pháp thành lập, báo L\’Humanité trở thành cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Pháp.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 24-6-1922.
cpv.org.vn

————————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d\’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, năm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

(4) Báo L\’Humanité: Tờ báo hằng ngày của Đảng Xã hội Pháp do Giǎng Giôrét sáng lập nǎm 1904. Sau Đại hội lần thứ XVIII (Đại hội Tua), Đảng Cộng sản Pháp thành lập, báo L\’Humanité trở thành cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Pháp.

Những kẻ đi khai hoá (1-7-1922)

Dưới đầu đề “Bọn kẻ cướp ở thuộc địa”, đồng chí Víchto Mêrích đã thuật lại cho chúng ta nghe sự độc ác không thể tưởng tượng được của một viên quan cai trị thuộc địa nọ đã đổ nhựa cao su vào bộ phận sinh dục của một người phụ nữ da đen khốn khổ. Sau đó, hắn bắt chị phải đội một tảng đá lớn đứng phơi nắng cho đến chết.

Tên công chức dâm bạo đó hiện đang tiếp tục những thành tích của hắn trong một tỉnh khác với chức vị cũ.

Khốn thay, những việc bỉ ổi như vậy lại không hiếm gì ở cái nơi mà báo chí của các nhà cầm quyền thường gọi là “nước Pháp hải ngoại”.

Hồi tháng 3 nǎm 1922, một nhân viên nhà đoan Bà Rịa (Nam Kỳ) đã đánh gần chết một phụ nữ An Nam làm nghề gánh muối, lấy cớ rằng người này đã làm mất giấc ngủ trưa của hắn, vì làm ồn ào ngoài hiên nhà hắn ở.

Hay ho nữa là người đàn bà này còn bị doạ đuổi khỏi nơi làm việc nếu bà thưa kiện gì.

Hồi tháng 4, một nhân viên nhà đoan khác đến thay cũng thật xứng đáng với tên trước về những hành động tàn ác của hắn.

Một bà cụ người An Nam, cũng làm nghề gánh muối, vì bị khấu lương nên cãi nhau với mụ cai. Mụ cai đến thưa với viên đoan. Viên này chẳng xét xử gì cả, tát bà cụ thợ muối hai cái thật mạnh và khi bà cụ già đáng thương cúi xuống nhặt nón, thì nhà khai hoá ấy, chưa vừa lòng với trận đòn mà hắn vừa trừng phạt bà cụ, liền đá một cái rất mạnh vào bụng bà cụ khiến cho máu ộc ngay ra lênh láng.

Khi bà cụ người An Nam đáng thương bị ngã quay xuống đất, đáng lẽ phải cấp cứu cho bà, thì người cộng tác viên của ông Xarô ấy lại cho gọi lý trưởng đến và ra lệnh cho lý trưởng đem người bị thương đi nơi khác. Lý trưởng từ chối không làm. Viên đoan liền cho gọi chồng người bị nạn đến, – ông này bị mù, – ra lệnh bắt ông phải đem vợ đi. Hiện nay, bà cụ già khốn khổ đó đang nằm nhà thương.

Bạn có muốn đánh cuộc rằng hai ông đoan của chúng ta ở Nam Kỳ, cũng như bạn đồng nghiệp của họ là vị quan cai trị nọ ở châu Phi, có bị làm rầy rà gì không ? Họ hẳn đã được thǎng chức nữa kia đấy.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 4, ngày 1-7-1922.
cpv.org.vn

Thù ghét chủng tộc (1-7-1922)

Vì nói đến đấu tranh giai cấp và quyền bình đẳng giữa con người mà đồng chí Ludông của chúng ta đã bị kết án là đã tuyên truyền thù ghét chủng tộc. Vậy ta hãy xem tình yêu thương giữa các chủng tộc đã được quan niệm và thực hiện ở Đông Dương như thế nào trong thời gian gần đây.

Hôm nay, chúng ta sẽ không nói đến tội ác của chính quyền thực dân là dùng rượu và thuốc phiện để đầu độc quần chúng và làm cho họ ngu muội đi. Việc ấy các đồng chí chúng ta trong đảng đoàn nghị sĩ tất sẽ có ngày bàn đến.

Mọi người đều biết rõ những thành tích lớn lao của tên quan cai trị sát nhân Đáclơ. Tuy nhiên đâu có phải chỉ mình hắn mới có những thủ đoạn tàn ác đối với người bản xứ như thế.

Một gã Puốcxinhông nào đó, đã hùng hổ nhảy ra đánh một người An Nam chỉ vì người này dám tò mò và cả gan nhìn ngôi nhà của người Âu trong mấy giây đồng hồ. Hắn đánh anh và cuối cùng giết anh bằng một phát súng lục bắn vào đầu.

Một nhân viên sở hoả xa, đã dùng roi mây đánh một người lý trưởng Bắc Kỳ.

Ông Béc đấm vỡ sọ người lái xe cho ông ta.

Ông thầu khoán Brét, sau khi cho chó cắn một người An Nam đã trói tay người này lại, đá cho đến chết.

Ông Đépphi, chủ sở thuế đã giết chết người đầy tớ An Nam của ông ta bằng một cái đá hết sức mạnh vào mạng mỡ.

Ông Hǎngri, thợ máy ở Hải Phòng, nghe ngoài phố có tiếng ồn ào; cửa nhà ông vừa mở thì một người đàn bà An Nam chạy xộc vào, sau lưng có một người đàn ông đuổi theo. Hǎngri tưởng là một người bản xứ đang đuổi một Con gái (1) , liền vớ lấy khẩu súng sǎn nổ một phát. Người đàn ông ngã vật xuống chết ngay. Đó là một người Âu. Hỏi thì Hǎngri trả lời: “Tôi tưởng đây là một thằng bản xứ”.

Một người Pháp buộc ngựa của mình vào một cái chuồng trong đó đã có sẵn con ngựa cái của một người bản xứ. Con ngựa đực nhảy chồm lên, làm cho người Pháp tức điên ruột. Ông ta đánh người bản xứ hộc cả máu mồm, máu mũi, rồi đem trói lại treo lên cầu thang.

Một nhà truyền giáo (Vâng! một vị linh mục nhân từ) nghi một học sinh trường thầy dòng người bản xứ ǎn cắp của mình 1.000 đồng, ông ta trói người học sinh này lại, treo lên xà nhà, tra khảo. Người học sinh đáng thương ấy ngất đi. Họ hạ anh xuống. Khi anh hồi tỉnh, họ lại treo lên tra khảo. Anh đã gần chết. Có lẽ hôm nay thì chết rồi.

Vân vân và vân vân.

Toà án có trừng phạt những tên đó, những con người đi khai hoá đó hay không ?

Có tên thì trắng án, có tên thì không ai đụng đến lông chân. Sự tình là như vậy. ấy thế mà bây giờ thì:

– Bị cáo Ludông, đến lượt anh nói đi!

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 4, ngày 1-7-1922.
cpv.org.vn

——————————

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Con người biết mùi hun khói (20-7-1922)

Xin tặng Nahông (1) , người đã bị quân phiệt thực dân ám hại, bài ký này.

“Chính cuộc chinh phục hệ thống thuộc địa đã rèn luyện tài nǎng chiến đấu của số đông những nhà chỉ huy quân sự lớn của ta, những con người đã đưa ta đến chiến thắng, đã được dư luận Pháp ca ngợi vinh quang và chiến công ngay khi mang lá cờ nước ta đến dưới những bầu trời châu Phi hay châu Á”.

Anbe Xarô
Bộ trưởng Bộ Thuộc địa

Haútxa (2) , tháng 1 nǎm 1998.

Thành phố Haútxa cờ xí tưng bừng. Tưởng đâu như một vị chúa xuân đã gõ cây đũa thần lên gỗ ván khô khốc ở các bao lơn và các cửa sổ, làm mọc ra muôn vàn tấm lá đỏ phấp phới yêu kiều trước gió. Đây là lễ kỷ niệm lần thứ nǎm mươi ngày thành lập Cộng hoà liên hiệp Phi. Chưa bao giờ dân chúng lại tham gia với mức độ ấy những hội hè loại này. Từ sáng sớm, các đường phố, các quảng trường y như một dòng sông người. Từng đoàn học sinh, giương cờ đi đầu, vừa diễu qua các phố vừa hát Quốc tế ca, được dân chúng vỗ tay hoan nghênh. Trên quảng trường Xôviết, một cụ già hô hào đám đông. Đó là cố Kimengô, mệnh danh là Con người biết mùi hun khói.

Cụ Kimengô, tuổi đã chín mươi, là một cựu chiến sĩ của quân đội cách mạng, một trong những người sáng lập Cộng hoà da đen. Được phú bẩm một trí thông minh đặc biệt sắc sảo, lại am hiểu tường tận mọi sự kiện chính trị và xã hội của thời đại, cụ Kimengô không những đã ra sức thức tỉnh anh em cùng màu da ra khỏi giấc ngủ mê say của con người nô lệ, mà còn cố gắng phá tan mọi thành kiến dân tộc và chủng tộc, tập hợp những người bị bóc lột thuộc các màu da trong cuộc đấu tranh chung. Cụ đã thành công. Kimengô là một trong số hiếm những người đã chịu gian khổ lớn để gieo hạt và được hưởng hạnh phúc lớn gặt vụ mùa thắng lợi. Mái tóc cụ bạc phơ như tuyết khuôn rực rỡ bộ mặt màu mun. Đôi mắt cụ hiền dịu và nhìn sâu thẳm. Miệng cụ luôn tươi cười, dù trước những nguy nan nghiêm trọng nhất hay trong những giờ phút đen tối nhất. Từ toàn bộ con người cụ toát ra nhân từ và cao quý. Cụ đáng tôn kính và được tôn kính.

Chúng tôi đến nơi thì cụ đã nói được nửa chừng, và đây là những lời mà chúng tôi nghe được:

“… Có những từ ngữ mà người già các bác trước kia thường nghe thường nói, thì nay không còn trong từ ngữ của các cháu nữa. Và như thế là tốt. Bây giờ các bác nói đến toà án, cảnh sát, quân đội, nhà tù, thuế khoá, thì các cháu chẳng mấy người hiểu những cái đó là cái gì.

“Thời bác thì nước Cộng hoà của chúng ta là thuộc địa Pháp. Trong nước, có người giàu và người nghèo. Người giàu là những kẻ hưởng tất cả, tuy gì cũng chẳng làm. Người nghèo là những kẻ gì

cũng làm, mà chẳng được hưởng gì cả. Người nghèo phải chịu chết chóc cho người giàu khi nào bọn này bất hoà với nhau: cái đó gọi là thuế máu. Người nghèo làm ra được cái gì đều phải nộp cho người giàu: cái đó gọi là thuế tiền.

“Vậy nhé, bọn tư bản da trắng lấy nước ta làm thuộc địa xong, nó bắt các bác phải nộp các thứ thuế, mặc dầu các bác nào có của nả gì đâu. Nộp thì không có gì để nộp; để khỏi bị hành hạ, các bác phải bỏ trốn vào rừng. Chúng nó đem chó và đem súng đuổi theo, các bác đành phải ẩn vào một cái hang, ngày nay gọi là hang Tuẫn nạn.

“Bọn bác hơn hai trǎm mạng, đàn ông có, đàn bà có, trẻ em có. Cứ tưởng rằng như thế là tạm yên thân, nên mặc dầu phải chịu ẩm, chịu tối, chịu đói, cực lắm, các bác có ý định cứ nán lại đó càng lâu càng hay, vì biết rằng bọn nó vẫn rình ở ngoài hang với súng ống. Hang tối như bưng ngày cũng như đêm, bác chẳng biết ở trong đó bao lâu.

“Chẳng trông thấy gì hết, chẳng nghe thấy gì hết, trừ tiếng chó sủa dữ dội, xa xǎm, nhắc nhở rằng tình thế vẫn hiểm nghèo.

“Một ngày nọ, nói đúng hơn là một đêm nọ, các bác ngửi thấy có cái mùi khét lẹt tràn vào chỗ náu trong lòng đất. Mùi khét nặng lên nhanh và trở thành không thể chịu nổi. Gì thế? Chẳng ai biết… Trẻ nhỏ thì khóc, đàn bà thì la, đàn ông thì chửi. Hoảng loạn! Chạy đi ư? Nhưng chạy đâu chứ? Khủng khiếp quá! Tiếng rǎng lập cập, tiếng thét xé tai, tiếng nấc, tiếng thân người đổ xuống, tiếng khóc điên rồ, làm cho cái xó tối ám khói đó hệt như là một địa ngục.

“Bấy giờ bác ở tận cuối hang. Bác theo bản nǎng nhắm mắt, ngậm miệng, áp mặt vào vách hang. Như thế cảm thấy dễ thở hơn và ngủ đi lúc nào không biết. Tỉnh dậy thì thấy có tia sáng chiếu chếch vào mặt, đấy là một kẽ hở qua đất, nhờ đó mà bác thở được và thoát chết. Bác nhằm đào một lối ra phía đó, nhưng chỉ mệt xác vô ích. Bác bèn quyết định thôi đành liều mạng cứ phía cửa hang mà ra. Quờ quạng và dẫm qua hai trǎm xác chết hun mới trở lại được với khoảng trời tự do.

“Bác ǎn cỏ, ǎn rễ cây, đi lang thang hết làng này sang làng nọ; cuối cùng thì được bố của đồng chí người da trắng này đây thu nhận về nuôi như con. Ông đã dạy dỗ bác theo những nguyên tắc của tình hữu ái và của chủ nghĩa cộng sản; ông cũng đã cho bác biết tên thằng da trắng vì muốn thu thuế mà đã hun các bác chết ngạt một cách man rợ như vậy.

“Thằng hun khói, tên nó là Bruye, là đại diện của nước Pháp và là công sứ ở Haútxa”.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 20-7-1922.
cpv.org.vn

——————————

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

“Hỏng mắt, con tạc tượng Người”

Lê Duy Ứng sinh ra ở làng Cổ Hiền, xã Hiền Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Truyền thống quê hương sớm khơi dậy trong Lê Duy Ứng tinh thần hiếu học. Thừa hưởng tài năng của người cha, một “Anh Bộ đội Cụ Hồ” thời chống Pháp và tính chịu thương, chịu khó của bà mẹ hay lam hay làm, ngay từ khi học lớp 1, Ứng đã bộc lộ khả năng vẽ tranh. Bức tranh đầu tiên Ứng nhận giải thưởng, được treo trưng bày tại phòng tranh của huyện nhà có tên “Xấu nên tránh, tốt nên theo”.

hong mat a1
Họa sĩ Lê Duy Ứng trước chân dung Bác Hồ

Tốt nghiệp phổ thông, Ứng trở thành sinh viên Trường Mỹ thuật Hà Nội. Học chưa hết năm thứ 3, cũng như cả thế hệ thanh niên “Ba sẵn sàng” thời đó, nghe theo tiếng gọi non sông, Lê Duy Ứng tạm “Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”. Sau một thời gian huấn luyện tại Nhã Nam (Yên Thế, Bắc Giang), Ứng trở thành lính trinh sát.

Năm 1972, Ứng có mặt tại chiến trường Quảng Trị nóng bỏng, được biên chế vào Ban Tuyên huấn Trung đoàn 101. Tại chiến trường ác liệt này, họa sĩ Lê Duy Ứng có được nhiều ký họa phản ánh cuộc sống chiến đấu của quân và dân Quảng Trị anh hùng. Năm 1973, theo chân các anh Giải phóng quân, tham gia đánh trận Cửa Việt thắng lợi, ông vẽ bức tranh “Chiến thắng Cửa Việt” tặng Đại tướng Lê Trọng Tấn, Tư lệnh Sư đoàn 312, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Kể lại chuyện này người họa sĩ già, Đại tá Lê Duy Ứng đã bước sang tuổi “xưa nay hiếm” bồi hồi: “Đó là giai đoạn hào hùng của dân tộc. Bắt đầu chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, chúng tôi tiến vào giải phóng Huế, Đà Nẵng để “tiến về giải phóng Thành Đô” như câu hát cửa miệng của chiến sĩ ta “Thần tốc! Thần tốc! Thần tốc” xốc tới. Thiếu tướng Lê Linh, Chính ủy Quân đoàn 2, gọi tôi lên, cho tôi xem bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và yêu cầu tôi vẽ tranh cổ động treo trên xe tiến vào thành phố mang tên Bác. Tôi đã vẽ bức tranh “Hành quân thần tốc, xốc tới lập công”. Và ngay lúc ấy, tôi nghĩ đến hình ảnh Bác nên vẽ bức “Bác đang cùng chúng cháu hành quân” để cổ vũ tinh thần đồng đội”.

Sáng 28-4-1975, trong trận đánh căn cứ Nước Trong, cách cửa ngõ Sài Gòn 30 cây số, Lê Duy Ứng đang ngồi trên chiếc xe tăng 847 làm nhiệm vụ quay phim, chụp ảnh, vẽ ký họa, thì súng chống tăng của giặc bắn đứt xích xe bên phải. Chiếc tăng khựng lại, quay ngang đường hắt Lê Duy Ứng xuống vệ đường ngất lịm “khi tôi tỉnh dậy – ông Ứng kể – sờ thấy người đồng đội bên cạnh đã hy sinh, mắt tôi lòng thòng ra bên ngoài, khắp người đầy máu, đầu óc vẫn tỉnh táo. Tôi nghĩ chắc mình khó qua, tôi dồn sức lực còn lại, vẽ một cái gì thật có ý nghĩa trong giờ phút lịch sử này. Tôi nghĩ đến hình ảnh danh họa Diệp Minh Châu, thay mặt đồng bào miền Nam vẽ tranh bằng máu tặng Bác. Thế là tôi lấy máu đang ứa ra ở mắt của mình vẽ chân dung Bác với nền là lá cờ đỏ sao vàng tung bay phất phới. Tên bức tranh là “Ánh sáng – niềm tin”, với lời chú thích “Con nguyện dâng Người tuổi thanh xuân…”.  Đồng đội kịp đưa ông vào Viện Quân y Nha Trang điều trị một tháng trước khi chuyển ra chữa chạy tại Viện Mắt Trung ương, Hà Nội.

Họa sĩ Lê Duy Ứng trầm ngâm ngước đôi mắt “nhìn” tôi. Thực ra mắt ông đã mù trở lại sau một thời gian dài được Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Nhân mổ ghép giác mạc, trả cho họa sĩ đôi mắt sáng để ông thỏa chí vẽ tranh, nặn tượng. Ông tâm sự: “Những ngày đầu tiên khi biết mình bị hỏng mắt là những ngày buồn nhất trong cuộc đời tôi. Là họa sĩ, không nhìn thấy thì còn làm gì được nữa. Nhiều lúc tuyệt vọng tôi chỉ muốn chết. Vào lúc khó khăn nhất của cuộc đời, gia đình, đồng đội ở bên cạnh, động viên, an ủi, giúp tôi tiếp tục sống, chiến đấu, chiến thắng bệnh tật.

Thượng tá Đào Xuân Trà, Viện phó kiêm Trưởng khoa Mắt bảo tôi: “Tôi sang Liên Xô thấy có những người mù không nhìn thấy gì nhưng nặn tượng rất giỏi, Ứng thử nặn tượng xem”. Một lần nữa tôi thấy mình “sống lại”, không vẽ được thì tôi nặn tượng”. Bức tượng đầu tiên Lê Duy Ứng tạc là tượng Bác Hồ. Ông đặt tên cho bức tượng bằng hai câu thơ: “Hỏng mắt con tạc tượng Người/ Niềm tin ánh sáng trọn đời trong con”. Ông kể tiếp “Ngày đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp xem tôi tạc tượng, vô cùng xúc động, Đại tướng động viên tôi: “Ứng tạc tượng Bác rất giống. Ứng có đôi bàn tay vàng đấy”. Từ đó họa sĩ Lê Duy Ứng tập trung làm nhiều tượng và gặt hái nhiều thành công với 41 cuộc triển lãm, khoảng 3.000 tranh, 500 tượng, 500 bức kí họa chiến trường, 8 giải thưởng trong và ngoài nước.

Ông nhâm nhi cùng tôi một tách trà Thái đặc sánh, chậm rãi nói những lời như đúc kết kinh nghiệm cho chính mình “Một người bình thường làm nghệ thuật đã thấy gian khổ thì với những người hỏng mắt như tôi gian khổ nhân lên gấp bội. Nhiều lần thất bại, nhiều khi tôi thấy chán nản, tuyệt vọng, thấy mình vô dụng. Những lúc ấy tôi lại nhớ đến lời dạy của Bác Hồ “Làm việc theo khả năng của mình. Thương binh tàn nhưng không phế”. Học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tá, họa sĩ, Lê Duy Ứng với nghị lực phi thường, vượt lên chính mình, sống có ích cho đời, luôn xứng đáng là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo.

Lê Sĩ Tứ
Theo http://www.anninhthudo.vn
Thu Hiền
(st)

bqllang.gov.vn

Nghệ nhân say mê khảm chân dung Hồ Chủ tịch

Với lòng ngưỡng mộ dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 20 năm qua, nghệ nhân Nguyễn Đình Vinh (Tiên Du, Bắc Ninh) đã truyền thần thành công hàng trăm bức ảnh chân dung về Người bằng vỏ ốc trên nền đồng tinh xảo.

Chiều cuối tháng 8 tại cơ sở sản xuất của anh ở xã Liên Bão (Tiên Du, Bắc Ninh), anh Nguyễn Đình Vinh đang miệt mài thể hiện từng nét khắc trên bức khảm truyền thần chân dung Hồ Chủ tịch. “Khó nhất là khâu thể hiện khuôn mặt, đặc biệt là bộ râu của Bác. Ngoài việc làm cho giống thì phải thể hiện được cái hồn của tác phẩm”, vừa quệt mồ hôi, anh vừa chia sẻ với khách.

nghe nhan kham trai 1
Anh Vinh bên tác phẩm đầu tay được giải nhất về tuổi trẻ sáng tạo

Sinh năm 1976 tại mảnh đất nổi tiếng với nghề khảm trai truyền thống, thôn Ngọ, xã Chuyên Mỹ (Phú Xuyên, Hà Nội), ngay từ nhỏ, Nguyễn Đình Vinh đã thích khảm trai. Học hết cấp 2, anh nghỉ học và quyết tâm theo đuổi ước mơ trở thành nghệ nhân khảm trai.

Anh may mắn được theo học nghệ nhân Trần Bá Dinh, người nghệ nhân dân gian đã “giữ lửa” cho làng. Với 7 năm kiên trì học hỏi, cộng thêm tố chất thông minh, không ngại khó, ngại khổ nên anh được thầy Dinh yêu mến và truyền thụ cho những bí quyết về nghề khảm truyền thần.

Khác những người thợ trong làng, ngay từ ngày đầu bước vào nghề, Nguyễn Đình Vinh đã chọn hình ảnh Hồ Chí Minh để thể hiện. “Ngày nhỏ, tôi thường được nghe cha kể về tấm gương đạo đức của Bác Hồ kính yêu, hình ảnh của Bác trở nên thân thiện. Vì thế tôi muốn thể hiện tình yêu và lòng tôn kính Bác qua tác phẩm của mình”, anh Vinh tâm sự.

Thời gian đầu vào nghề đầy khó khăn, nhiều bức chân dung phải truyền thần lại nhiều lần, mỗi lần như thế anh không nản mà tâm niệm: “Không có gì là không thể làm được, tất cả là do mình đã cố gắng hết sức hay chưa mà thôi”. Và anh lại miệt mài khảm cho đến khi tác phẩm thật ưng ý.

Nỗ lực từng ngày, năm 1998, tác phẩm truyền thần chân dung Hồ Chủ tịch khảm ốc trên nền đồng đầu tiên của anh đã được Tỉnh Đoàn tặng giải Nhất Tuổi trẻ sáng tạo. Anh cũng là nghệ nhân đi tiên phong trong lĩnh vực mới mẻ này. Năm 2008, anh được Hội tinh hoa làng nghề Việt Nam tặng Bằng khen công nhận bức chân dung Bác Hồ cười là tác phẩm đẹp nhất và tinh hoa nhất.

nghe nhan kham trai 2
Bức chân dung “Bác Hồ cười” được hội tinh hoa làng nghề Việt Nam
công nhận là tác phẩm đẹp nhất, tinh hoa nhất. Ảnh: 
Nguyễn Anh.

Anh chia sẻ, nhìn qua thì tưởng khảm ốc đơn giản, nhưng để tạo ra một tác phẩm không dễ chút nào, đòi hỏi người thợ phải có trí tưởng tượng phong phú, sự kiên trì và niềm đam mê sáng tạo. Để hoàn thành một tác phẩm chân dung Bác khảm ốc trên nền đồng với kích thước 30×40 cm, anh phải mất khoảng một tháng làm việc liên tục.

Theo anh, truyền thần chân dung rất khó, đặc biệt là chân dung Hồ Chủ tịch vì đòi hỏi nghệ nhân phải thổi được hồn để tạo nên sức sống chân thực trong tác phẩm. Bên cạnh đó phải chú ý quan sát từng chi tiết, từ nếp nhăn trên trán hay nếp nhăn bên mí mắt, chòm râu cũng như nét mặt trong từng thời kỳ thì mới tạo nên sự thành công.

Dành nhiều thời gian để nghiên cứu những bức ảnh của Hồ Chủ tịch qua các thời kỳ, đặc biệt là sự thay đổi trên khuôn mặt, anh Vinh chia sẻ: “Những năm kháng chiến chống Pháp nhìn vào đôi mắt và nét mặt Bác thấy lòng quyết tâm giải phóng dân tộc của Người, nhưng những năm cuối đời khuôn mặt Bác lại hiền từ, nhân hậu khiến mỗi khi nhìn vào tôi cảm thấy tâm hồn mình trong sáng hơn, yêu đời hơn”.

Nhiều người trong làng đã tìm đến nhờ làm những bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh để cho vào khung ảnh treo trong nhà, anh đều vui vẻ nhận lời. Anh nhẩm tính sau hơn 20 năm gắn bó với nghề anh đã truyền thần thành công gần 1.000 bức chân dung lớn nhỏ về Bác.

Người đàn ông ngoài 30 tuổi này đang ấp ủ kế hoạch làm một bức chân dung Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập ở Quảng trường Ba Đình. “Bức tranh sẽ được gắn thiết bị cảm biến thâu lời Bác đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập để mỗi khi ngắm Bác tôi lại được nghe Bác đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, được cảm nhận giây phút lịch sử của đất nước”, anh tâm sự.

Với sự cống hiến và tâm huyết trong nghề, nghệ nhân Nguyễn Đình Vinh đã nhận được nhiều bằng khen của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam năm 2009, Bằng chứng nhận Doanh nhân tiêu biểu, Bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Cúp 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Theo trithucthoidai.vn
Phương Thúy
(st)

bqllang.gov.vn

Cha con nhà tình báo và bức ảnh cô bé ngồi trong lòng Bác Hồ

Cô bé Đào Thị Minh Vân sinh đúng vào đêm 19/12/1946, khi tiếng súng Toàn quốc kháng chiến chống Pháp  vừa nổ. Cha cô là Đào Phúc Lộc, một  người dường  như sinh ra là để làm công tác tình báo, phản gián. Từ năm 1939, căn nhà thuê ở hẻm Cô Ba Chìa, Hải Phòng, nơi chị em ông tá túc đã thành nơi nuôi giấu, trị bệnh cho đồng chí Tô Hiệu, đồng thời cũng là nơi bí mật gặp gỡ, hội họp bàn bạc kế hoạch của nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Đông Dương. Tại đây, giữa năm 1939, Đào Phúc Lộc đã được đồng chí Tô Hiệu kết nạp vào Đảng. Năm đó, anh mới 16 tuổi.

Tháng 5 năm 1945, được sự tiếp sức của Quốc Dân đảng Trung Quốc, lực lượng Việt Cách tại Quảng Ninh do Vũ Kim Thành chỉ huy đã đánh chiếm thị xã Móng Cái. Với chiêu bài hợp tác chống Nhật, chúng đã đề nghị hợp tác với đội vũ trang tuyên truyền của Việt Minh, nhưng đầy dã tâm. Ngay sau đó, chúng trở mặt, bắt, giam lỏng và  âm mưu thủ tiêu toàn đội.

Bằng bản lĩnh và tài thuyết khách, Đào Phúc Lộc tay không tấc sắt đã một mình vào tận hang ổ Việt Cách ngăn chặn được âm mưu của chúng và lập kế phục rượu cho cả đám Việt Cách say mềm, giải thoát cho 33 chiến sỹ. Trong số này có chị Hoàng Minh Phụng, sau này đã trở thành vợ anh. Lấy họ của chị, anh đã đặt cho mình một cái tên mới là Hoàng Minh Đạo, hàm nghĩa là “con đường sáng”, con đường cứu nước.

Ngày 27/5/1948, Minh Vân mới 18 tháng tuổi, bà Hoàng Minh Phụng đã qua đời vì bạo bệnh tại chiến khu Việt Bắc. Ông Hoàng Minh Đạo gửi cô về Hà Nội nhờ một cơ sở cách mạng là gia đình bà Nguyễn Thị Kíu, một thương gia giàu có ở 41 Lò Sũ, Hà Nội nuôi hộ. Với vai trò Trưởng phòng Phản gián thuộc Cục Tình báo Trung ương vừa được tổ chức lại, tháng 10 năm 1948, Hoàng Minh Đạo được Bộ Quốc phòng biệt phái vào miền Nam giữ vai trò Trưởng ban Quân báo Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Kể từ đó, ông không một lần có dịp trở lại thăm con. Minh Vân cũng không một lần còn được thấy mặt cha. Nhà tình báo xuất sắc Hoàng Minh Đạo đã hy sinh trên dòng Vàm Cỏ Đông ngay vào đêm Noel 24/12/1969.

Theo yêu cầu của chính đồng chí Bí thư Nguyễn Văn Linh, Trung ương Cục miền Nam đã hai lần tổ chức tìm kiếm dấu vết thi thể ông. Cả hai cuộc tìm kiếm ròng rã đều do Tư lệnh Phân khu I Sài Gòn – Gia Định Tám Lê Thanh (sau này là Trung tướng Tám Lê Thanh, Chính ủy Bộ đội Biên phòng Việt Nam) trực tiếp chỉ huy, đều không mang lại kết quả.

Khi hy sinh, Hoàng Minh Đạo đang là Bí thư Phân khu I Khu Sài Gòn – Gia Định kiêm Chính ủy Lực lượng Biệt động Sài Gòn. Trước đó, trong một thời gian dài, ông đã từng là người thiết lập nên cả một mạng lưới tình báo cách mạng ở miền Nam, từng giữ trọng trách Phó ban Binh vận Trung ương Cục. Đêm hy sinh, ông đang trên đường về Trung ương Cục dự Hội nghị. Trong hành lý mà ông mang theo có một bộ tài liệu tuyệt mật, độc bản đánh giá đầy đủ về thắng lợi, tổn thất, tương quan lực lượng giữa ta và địch sau Tết Mậu Thân 1968. Đó là tài liệu hết sức quan trọng với cả ta lẫn địch. Nếu đoạt được nó, chắc chắn phía địch sẽ triệt để khai thác tuyên truyền để tạo ra sự phá hoại mang tính chiến lược đối với phong trào cách mạng và công cuộc giải phóng miền Nam.

Thế nhưng, cho đến tận ngày chiến tranh kết thúc và hơn 5 năm sau đó, phía ta không tìm lại được tập tài liệu nhưng phía địch vẫn chưa bao giờ có một câu một dòng nào đề cập đến nó, chứng tỏ chúng không thu giữ được, cũng không hề hay biết gì về tập tài liệu này. Đến tận phút cận kề cái chết, Hoàng Minh Đạo vẫn dùng chút hơi thở cuối cùng để cất giấu hoặc tiêu hủy tài liệu, bảo vệ bí mật của Đảng, của cách mạng. Và ông đã là người chiến thắng!

Vài ngày sau đêm bão lửa, ông Năm Tờ, một người dân sống bằng nghề đóng giàn đáy trên sông Vàm Trảng, một nhánh chia  nước từ sông Vàm Cỏ Đông đã phát hiện ra một xác chết đang trôi bập bềnh theo con  nước. Lúc này, lính bảo an và dân vệ đang ráo riết tuần tra lục soát. Đoán chắc đó là cán bộ cách mạng đã hy sinh trước đó mấy đêm, ông Năm Tờ đã cùng một số người dân ấp An Thới, xã An Hoà, huyện Trảng Bàng, Tây Ninh tìm cách đánh lừa địch, giấu cái xác trên sông nhiều ngày. Đợi đến khi địch ngừng cuộc lùng sục, họ đã vớt thi thể lên, bí mật đưa về tẩm liệm, chôn cất trên phần đất của bà Tư Khánh, một người dân thôn An Thới. Ngôi mộ bí mật, không mộ chí quanh năm không khi nào vắng bóng khói hương.

Sau nhiều năm tháng tìm kiếm, ngày 4/4/1998, cô con gái Đào Thị Minh Vân mới tìm được nơi người cha của cô yên nghỉ. Nhờ 2 chiếc răng bọc bạc ở hàm dưới, những đồng chí đồng đội của cha cô đi cùng cô trong chuyến kiếm tìm đã nhận ra ngay người dưới mộ là Hoàng Minh Đạo – người anh lớn, người thầy, người đồng chí đồng  đội mà họ hằng kính trọng, yêu quý.

Tất nhiên, những trang tư liệu hào hùng về nhà tình báo, liệt sỹ Hoàng Minh Đạo, thì phải mãi sau này bà Minh Vân mới có dịp tìm hiểu tường tận. Còn suốt những năm tháng tuổi thơ, ngoài cái tên thật là Đào Phúc Lộc, cô hầu như không biết gì về thân phận và nhiệm vụ của cha mình.

cha con nha tinh baoBé Đào Thị Minh Vân ngồi trong lòng Bác Hồ.

Sau năm 1954, cô mới biết cha mình hoạt động cách mạng, vì nhiệm vụ nên còn phải ở lại miền Nam chiến đấu lâu dài. Minh Vân có thêm nhiệm vụ là chăm sóc bé Đào Minh Ngọc, em cùng cha khác mẹ được đưa từ miền Nam ra và cũng được gửi nhờ gia đình bà Kíu nuôi nấng.

Bà Bùi Ngọc Hường, người vợ thứ hai của Hoàng Minh Đạo, mẹ kế của Minh Vân chỉ tập kết ra Bắc một thời gian ngắn, sau đó lại quay về Nam tham gia chiến đấu. Người con thứ hai của bà với Hoàng Minh Đạo tên là Đào Thị Minh Thu, ngày mẹ xuống tàu tập kết (tháng 10 năm 1954) chỉ mới hơn một tháng tuổi nên đành phải gửi nhờ một gia đình cơ sở ở Cần Thơ nuôi hộ.

Tháng 6 năm 1961, sau  khi bà Hường trở về Nam, hai người có thêm một con gái nữa, đặt tên là Đào Thị Minh Hồng. Như thể định mệnh, những người con của nhà tình báo Hoàng Minh Đạo đều phải dự phần chia ly với cha mẹ. Từ tấm bé, mỗi người được gửi một phương, chẳng ai được sống sum vầy cùng cha mẹ.

Ở miền Bắc, họa hoằn lắm Minh Vân mới một lần được nhận thư cha. Thư chuyển bằng đường giao liên bí mật, đi mất nhiều tháng trời mới đến tay người nhận nên cô bé cũng chẳng thể biết chính xác cha viết thư cho mình từ đâu. Trong bức thư nhận được vào cuối năm 1962, ông Năm Thu (một bí danh  khác của Hoàng Minh Đạo) thông báo cho Minh Vân biết: “Ba hiện làm ăn ở Nam Vang. Ba bị bệnh gan to, lách to… Ba nhớ các con nhiều và yêu hai con lắm!”. Phần tái bút, ông ghi: “Ba đã nhận được tấm ảnh con ngồi trong lòng Ông Nội. Ba rất hạnh phúc và phấn khởi!”.

Đọc thư, Minh Vân rất sung sướng  nhưng… không hiểu gì cả. Cô nói với bạn bè: “Ông nội mất trước khi ba mẹ mình lấy nhau. Vậy mà ba lại bảo đã nhận được ảnh mình ngồi trong lòng ông nội. Không khéo công việc nhiều quá, ba mình lẩm cẩm mất rồi”.

Sau ngày miền Nam giải phóng, cô cán bộ ngành Ngoại giao Đào Thị Minh Vân được cử vào miền Nam công tác. Cô đã có dịp gặp rất nhiều đồng chí, đồng đội, những  người anh em thân thiết của cha mình. Các bác Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), Hai Văn (Phan Văn Đáng, Phó Bí thư Trung ương Cục), Tư Thắng (Huỳnh Việt Thắng, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao), Bảy Dự (Nguyễn Võ Danh, Phó Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh), Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Mai Chí Thọ, Thượng tướng Cao Đăng Chiếm, Thượng tướng Lâm Văn Thê, Trung tướng Hà Ngọc Tiếu, Thiếu tướng Cao Pha… đều nhắc đến cha cô với tất cả sự kính trọng, khâm phục và tiếc thương. Người cha đã khuất, qua hồi ức của những bạn bè đồng chí thân thiết nhất đã sống lại trong lòng cô con gái như một nhân cách lớn, một đời đầy phấn đấu hy sinh với những đóng góp lớn cho cách mạng và dân tộc.

Tất nhiên, ông không hề lẩm cẩm. Một hôm, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã mời Minh Vân đến, trao lại cho cô một tập tài liệu cá nhân lẫn hình ảnh của liệt sỹ Đào Phúc Lộc mà ông đã cẩn trọng gìn giữ hàng chục năm ròng. Chọn riêng một tấm ảnh sáng, rõ nhất trong toàn bộ xấp ảnh, đồng chí Nguyễn Văn Linh nói với cô: “Vì công tác, ba cháu thường  xuyên phải vào ra vùng địch nên đã gửi những tấm ảnh này lại cho bác Út (tức bác Nguyễn Văn Linh) giữ giùm. Tấm ảnh này Bộ Quốc phòng gửi vào cho ba cháu hồi đầu năm 1962. Nhiều chú bác, ở Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam rồi Thành ủy Sài Gòn – Gia Định đã từng chuyền tay nhau ngắm tấm ảnh đặc biệt này. Giữa rừng sâu gian khổ hay dưới địa đạo tối tăm, bức ảnh này đã trở thành nguồn động viên to lớn đối với tất cả cán bộ, chiến sỹ tại cơ quan đầu não của cách mạng ở miền Nam. Với những cô chú có con em tập kết hoặc được gửi ra miền Bắc học tập, tấm ảnh càng quý giá. Nó đã giúp nhiều người tăng phần yên tâm tin tưởng, rằng con em mình ở miền Bắc đang được Bác Hồ, Đảng, Chính phủ và đồng bào ngoài đó hết lòng quan tâm chăm sóc. Với riêng ba Đạo của cháu, đó là một vinh dự lớn. Giờ bác giao lại cho cháu. Cháu hãy sống xứng đáng với tư cách là người có mặt trong tấm ảnh. Ba cháu sẽ không mong gì hơn thế”.

Đỡ tấm ảnh, cô gái xúc động trào nước mắt. Không cần ai gợi nhớ hay giải thích, Minh Vân cũng nhận ra ngay cô bé đang ngồi giữa lòng Bác Hồ trong tấm ảnh ấy chính là mình. Năm 1958, Minh Vân chưa đầy 12 tuổi. Cô là học sinh nhỏ nhất trong số 98 học sinh Việt Nam được gửi sang Tiệp Khắc học tập tại Trường Thiếu nhi Quốc tế của nước Bạn. Một hôm, Bác Hồ và Chủ tịch nước Tiệp Khắc cùng khá đông cán bộ cao cấp của hai Nhà nước đến thăm trường. Một cán bộ trong đoàn khách hỏi anh Đoàn Minh Dũng, người phụ trách Đoàn học sinh Việt Nam: “Cháu Minh Vân là cháu nào?”. Anh Dũng gọi ra, Minh Vân đã hết sức sung sướng khi bất ngờ nhận được thư và quà của cha mình. Quà là một chiếc bấm móng tay, một chiếc kéo nhỏ và một chiếc bút máy. Lá thư chỉ có mấy dòng, ghi trong một tờ giấy nhỏ bằng những con chữ cũng nhỏ li ti: “Có chú làm ăn ở chỗ ba ra, ba gửi cho con mấy món quà nhỏ mà ba nghĩ là con gái ba cần dùng đến. Ba yêu con và nhớ con nhiều. Ký tên: Lộc”.

Sau những tiết mục văn nghệ, đoàn học sinh được Bác Hồ chia kẹo. Khi chụp ảnh, ai cũng cố chen vào để được đứng ngồi gần Bác. Minh Vân bé quá, không làm sao chen được, suýt nữa đã oà khóc. Bất ngờ, người cán bộ chuyển thư và quà lúc nãy đã tìm, bế bổng Minh Vân lên và đặt cô bé ngồi vào lòng Bác. Sung sướng quá, ngỡ như được ngồi giữa lòng một ông Tiên, đầu óc Minh Vân cứ bồng bềnh, không để ý gì đến bao nhiêu ánh đèn flash của máy quay phim, máy ảnh đang loé lên liên hồi đến loá cả mắt.

Thời khắc đó, cô bé nhớ như in. Nhưng còn quá non nớt, cô lại không kịp nhận ra nỗi xúc động của cha mình khi viết trong thư là “đã được nhìn thấy ảnh con ngồi trong lòng Ông Nội”. Phải gần 20 năm sau, ký ức mới có dịp vỡ oà. Có lẽ, để đến được tay người cha – người lính đang chiến đấu ở miền Nam, bức ảnh ấy đã phải chu du gần nửa vòng trái đất, vượt trăm sông nghìn núi với muôn trùng lửa đạn, đủ biết tấm lòng của hậu phương lớn miền Bắc đối với đồng bào, đồng chí ở miền Nam sâu nặng đến mức nào.

Bức ảnh đó là một thời khắc lịch sử, là kỷ vật vô giá của người cha để lại. Với bà Minh Vân, cho đến khi mái đầu đã bạc, mãi mãi vẫn là kỷ vật thiêng liêng nhất

Nguyễn Hồng Lam
Theo Báo Công an nhân dân
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

 

 

 

Tượng đài Hồ Chí Minh tại Hungary (Châu Âu)

Nằm cách Thủ đô Budapest chừng 220km, Zalaegerszeg là một đô thị nhỏ, thủ phủ của tỉnh Zala (khu vực Tây – tả ngạn sông Danube), được biết đến như một trong những thành phốnhiều cây xanh và hoa lá nhất của Cộng hòa Hungary. Tuy nhiên, đối với cộng đồng Việt Nam tại Hungary, thành phố có hơn 700 năm tuổi này lại mang một ý nghĩa đặc biệt khác: Tại đây, cho đến giờ, vẫn tọa lạc một tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, có lẽ là độc nhất vô nhị trong vùng Đông – Trung Âu!

H1Đất nước Hungary

Hồ Chủ tịch trong lòng các bạn Hungary

Tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh không hề xa lạ với người dân Hungary. Dẫn đầu phái đoàn Việt Nam trong chuyến thăm chính thức Hungary kéo dài 4 ngày vào mùa hè năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những ấn tượng và kỷ niệm sâu sắc trong lòng những bạn bè Hungary. Trong các hồi tưởng, nhiều ký giả, chính khách Hungary đã cảm nhận ở Bác hình ảnh của một nhà ái quốc vì dân vì nước, một vị hiền triết phương Đông với những tư tưởng thâm trầm.

Sự tôn trọng mà đất nước Hungary dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, thiện cảm của người dân nước này với cuộc chiến giành độc lập của Việt Nam đã khiến Hungary trở thành một người bạn thân thiết với Việt Nam trong thời gian chiến tranh. Hungary đã có những hỗ trợ đáng kể và quý báu cho miền Bắc, trong phong trào quyên góp ủng hộ Việt Nam, trong việc đào tạo nhiều thế hệ du học sinh – trong đó, có nhiều học viên quân sự – để nhiều người trong số họ trở thành các chuyên gia đầu ngành, phục vụ hiệu quả cho cuộc chiến tranh vệ quốc.

Trong những năm tháng ấy, tên của Hồ Chủ tịch đã được đặt cho Trường Cao đẳng Sư phạm ở thành phố Eger, tại nhiều vùng trên toàn quốc, những pho tượng bán thân, phù điêu mang hình Bác được đặt ở những Quảng trường, vườn hoa… Tuy nhiên, tượng đài kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thành phố Zalaegerszeg là món quà quý báu duy nhất của nhân dân Hungary đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thời gian và thời cuộc.

Để tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời của tượng đài Hồ Chí Minh cách đây hơn 3 thập niên, chúng tôi đã có dịp trao đổi với ông Hóbor József, một người bạn nhiệt thành của Việt Nam, người đã có những “hệ lụy” sâu sắc với tượng đài. Ông cho biết:

“Dạo ấy, Việt Nam rất được yêu quý ở Hungary: Một năm sau ngày thống nhất, đất nước của các bạn được coi như xứ sở được ưa chuộng nhất trong khối Xã hội chủ nghĩa. Tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đồng nghĩa với tự do, ái quốc, với sự thống nhất của những lý tưởng cánh tả và xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh đã trở thành một khái niệm, từ đó đến giờ, và ngay cả những địch thủ của ông cũng không thể nói được gì xấu về ông”.

“Cũng trong thời gian ấy, tại Xí nghiệp May ở thành phố Zalaegerszeg (gần nơi tượng đài tọa lạc), có rất nhiều phụ nữ Việt Nam làm việc. Đây có lẽ cũng là một lý do khiến thành phố quyết định dựng tượng Bác Hồ”.

Một tác phẩm lớn từ tay một điêu khắc gia lớn

Những năm 70 thế kỷ trước, Zalaegerszeg là một trong số các thành phố phát triển năng động nhất của Hungary, đồng thời, cũng là một đô thị rất để tâm đến những giá trị văn hóa. Trong khuôn viên của thành phố, có rất nhiều pho tượng giá trị và khi nảy ra ý định dựng tượng đài Hồ Chí Minh, Ban lãnh đạo thành phố cũng đã “cầu viện” tới một bậc thày trong nền điêu khắc Hungary: Ông Marton László (1925-2008).

H2Ông Marton László

Được coi là một trong những điêu khắc gia vĩ đại nhất của Hungary trong mọi thời đại, từng được Giải Kossuth (phần thưởng cao quý bậc nhất cho những đóng góp xuất sắc trên bình diện văn hóa và nghệ thuật), Marton László là tác giả của chừng 150 pho tượng trên toàn quốc, trong số đó, có hơn 40 pho tượng đặt tại Budapest.

Các tác phẩm của ông được trưng bày tại Phòng Trưng bày Quốc gia Hungary và nhiều thành phố lớn trên thế giới, như Paris, London, Berlin, Vatican…, cũng như, trong những bộ sưu tập cá nhân của các nhân vật nổi tiếng như Hoàng đế Nhật Bản, hoặc Hoàng tử xứ Wales. Pho tượng đồng thi hào József Attila, đặt bên cạnh Nhà Quốc hội Hungary, hướng ra bờ sông Danube, là một kiệt tác nổi tiếng của ông.

Có thể đặt tượng đài Hồ Chí Minh trong loạt các tác phẩm khắc họa những danh nhân Hungary và quốc tế của Márton László. Thể hiện hình tượng Bác Hồ một cách dung dị, nhưng rất sắc nét và có hồn, mang dáng dấp một “Ông Ké Cao Bằng”, dẫn đường cho quần chúng lao khổ, nhà điêu khắc Hungary đã tránh được lối mòn của trường phái “hiện thực xã hội chủ nghĩa” thịnh hành thời ấy, với những nét khoa trương, lên gân không cần thiết.

Được khai trương đúng vào dịp kỷ niệm 1 năm Ngày Việt Nam thống nhất (30-4-1976), tượng đài Hồ Chí Minh đã đoạt giải của Bộ Văn hóa Hungary năm 1977 và trở thành một phần của nét văn hóa thành phố Zalaegerszeg. Sau khi Hungary thay đổi thể chế chính trị, nhiều pho tượng thời xã hội chủ nghĩa đã bị dẹp bỏ, nhưng đúng như nhận xét của ông Hóbor József, “bằng một cách nào đó, vẻ đẹp của bức tượng và hình tượng Hồ Chí Minh đã không cho phép người ta đụng vào tượng đài”.

Biểu tượng của tình hữu nghị Hungary – Việt Nam

Đối với cộng đồng Việt Nam tại Hungary, tượng đài Hồ Chí Minh ở thành phố Zalaegerszeg chỉ được biết đến một cách rộng rãi từ năm 2005 qua một dịp rất ngẫu nhiên và lý thú.

H3Tượng đài Hồ Chí Minh ở thành phố Zalaegerszeg

Trong lễ kỷ niệm 60 năm thoát khỏi ách phát-xít Đức (tổ chức tại Nhà Quốc hội Hungary), đã có sự hiện diện của Đại sứ Việt Nam Trần Hữu Tùng, cũng là một cựu du học sinh Việt Nam tại Hungary thập niên 60 thế kỷ trước. Ông Hóbor József hồi tưởng: “Bỏ qua mọi nghi lễ ngoại giao, tôi đã tiến đến trò chuyện với ngài đại sứ và cho ông biết rằng, tại nơi tôi ở, thành phố Zalaegerszeg, có một tượng đài Hồ Chí Minh rất đẹp, mời các bạn Việt Nam đến thăm và nhân cơ hội đó, có thể thắt chặt mối quan hệ giữa thành phố Zalaegerszeg và Việt Nam”.

Vài bữa sau, tại Ngày Thơ ca Hungary (12 tháng 4 hàng năm) tổ chức ở Zalaegerszeg, được biết Hồ Chủ tịch đồng thời cũng là một nhà thơ, ông Balogh Mikós, một chính khách Đảng Xã hội Hungary, khi ấy là nghị sĩ Quốc hội và thành viên Hội đồng thành phố, đã đến đặt hoa tại tượng đài và đọc một số thi phẩm của Bác. Thành phố Zalaegerszeg có một truyền thống đẹp là mỗi thành viên Hội đồng thành phố đều nhận phần gìn giữ, chăm sóc một pho tượng đặt tại thành phố, và ông Balogh Miklós – cũng là một người bạn Hungary có mối giao tình đẹp đẽ với Việt Nam – đã nhận phần chăm sóc tượng đài Hồ Chí Minh.

Nhờ sự tích cực của các ông Hóbor József và Balogh Miklós, cũng như của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hungary, tượng đài Hồ Chí Minh tại Zalaegerszeg đã trở thành một điểm đến hàng năm của các đoàn thể Việt Nam tại Hungary và trong nước.

Theo Tienphong.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Nghệ nhân đan ghế mây tặng Bác Hồ

“Suốt cuộc đời làm nghề mây tre đan, hạnh phúc lớn nhất của chúng tôi là được đan ghế tặng Bác Hồ. Hiện nay, chiếc ghế tinh xảo vẫn đang được trưng bày trang trọng ở nhà sàn của Bác”, nghệ nhân 70 tuổi Nguyễn Văn Minh tự hào về đôi tay tài hoa của mình.

Trong căn nhà cấp 4 đơn sơ nằm cuối con ngõ nhỏ của làng Ngọc Động xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên (Hà Nam), nghệ nhân Nguyễn Văn Minh, tóc đã ngả màu muối tiêu nhưng đôi mắt vẫn tinh anh, đôi tay thoăn thoắt vừa đan ghế mây vừa hào hứng kể về những ngày tháng hạnh phúc nhất của cuộc đời.

nghe nhan 1
Nghệ nhân Nguyễn Văn Minh luôn tự hào
về những ngày đan ghế mây tặng Hồ Chủ tịch.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm nghề mây tre đan, từ nhỏ, ông Minh đã sớm theo nghề của gia đình. Năm 10 tuổi, ông Minh trở thành thợ lành nghề trẻ nhất của làng Ngọc Động. Năm 1957, khi vừa bước sang tuổi 16, làng Ngọc Động được tin khánh thành ngôi nhà sàn ở Phủ Chủ tịch. Suốt đêm, những nghệ nhân của làng cứ trằn trọc, thao thức không biết tặng Hồ Chủ tịch cái gì. Sau khi ý tưởng tự làm ghế mây để tặng được cả làng thông qua, toàn bộ dân Ngọc Động cùng nhau thi đua tay nghề, chọn ra tốp thợ giỏi nhất để làm bộ ghế đặc biệt. Vượt qua những nghệ nhân kì cựu, chàng trai Nguyễn Văn Minh trở thành thợ trẻ nhất trong tốp 7 người được làm ghế mây để tặng Bác.

Sau khi họp bàn, phân công người chọn mây, uốn khung, kéo sợi, sơn màu, người thợ trẻ được phân công khâu quan trọng nhất của chiếc ghế là kéo sợi mây. Trong mấy tháng, những người thợ thay nhau vào các khu rừng già ở vùng Tây Bắc và Thanh Hóa để chọn những cây mây có tuổi đời trên 20 năm, không bị cụt ngọn, không bị kiến đục, thân phủ màu vàng óng. Sau khi xử lí bằng cách ngâm dưới bùn nhão và phơi khô, cây mây được kéo thành các sợi nhỏ rồi chuốt thật bóng và dẻo.

Tiếp theo, các nghệ nhân phải đi chọn những cây gỗ quý, có tuổi đời trăm năm, không mối mọt để làm khung ghế. Trong hơn 1 tháng, những sợi mây nhỏ xíu nhưng vàng óng được đan thành một bộ ghế với những đường nét tinh xảo. Đến khâu cuối cùng, các nghệ nhân phải lên vùng Phú Thọ hái quả cây sơn để lọc mủ và đun 3 ngày 3 đêm trên lửa để làm nên một loại sơn dầu đen bóng, phủ lên khung chiếc ghế mây.

Bộ ghế salon mây 6 chiếc và một ghế chao dài 1,8 mét, rộng nửa mét, hai bên có tay vịn, khung ghế có thể lắc lư qua lại được hoàn thành trong sự ngỡ ngàng của người dân Ngọc Động. Bộ ghế hoàn thành, cả làng kéo đến xem và trầm trồ khen ngợi.

Sau đó, những người làng Ngọc Động cùng nhau mở hội, đưa chiếc ghế theo đường xe lửa đến Phủ Chủ tịch. Cuối năm 1957, Hồ Chủ tịch về ở và làm việc tại nhà sàn, chiếc ghế chao được kê ở tầng 1 dành cho Bác nghỉ ngơi sau những giờ phút làm việc căng thẳng.

“Ngày bộ ghế được đặt trong Phủ Chủ tịch, được Bác Hồ sử dụng, những người thợ Ngọc Động chúng tôi mừng đến rơi nước mắt. Tài năng của những nghệ nhân chúng tôi được Bác Hồ và Chính phủ ghi nhận, điều mà không phải làng nghề nào cũng may mắn có được”, lão nghệ nhân 70 tuổi mân mê chiếc ghế chao mây trong nhà riêng vừa tâm sự.

Cụ Minh cho biết, chiếc ghế mây cụ đang sử dụng chính là phiên bản của chiếc ghế chao trong nhà sàn Bác Hồ. Sau khi đóng xong chiếc ghế tặng Bác, nghệ nhân Minh đã đo lại tất cả các thông số và kích thước, vài năm sau, cụ Minh đã làm thêm một chiếc ghế y nguyên để làm kỉ niệm.

nghe nhan 2
Chiếc ghế mây trong nhà ông Minh được
làm theo nguyên bản chiếc ghế trong Phủ Chủ tịch.

Năm 1958, Hợp tác xã Việt Tiến của tổ hợp làng nghề Ngọc Động nhận được một món quà 50 đồng và lá thư của Hồ Chủ tịch với lời nhắn: “Bác đã nhận được quà của các chú. Bác trích tiền tiết kiệm của Bác dành dụm được tặng các chú 50 đồng làm vốn để các chú khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống mây tre đan ở địa phương”. Số tiền Hồ Chủ tịch tặng được dùng để mở rộng xưởng sản xuất. Từ đó, các thế hệ nghệ nhân của làng nghề Ngọc Động luôn quyết tâm phát triển nghề mây tre đan như là một hướng thoát nghèo và vươn lên làm giàu.

Hiện nay, Ngọc Động là một trong những làng nghề mây tre đan nổi tiếng cả nước, hàng triệu sản phẩm mây tre đan của làng nghề đã vươn sang các thị trường khó tính ở Châu Âu, Châu Mỹ, Tây Á…

Năm 1990, nhân kỉ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghệ nhân Nguyễn Văn Minh cùng nhóm nghệ nhân gồm Nguyễn Văn Truyền, Nguyễn Văn Bính và Nguyễn Thế Chính được mời ra Hà Nội để sửa lại bộ ghế mây trong nhà sàn. Nhìn lại bộ sản phẩm ngày xưa vẫn được đứng cạnh những món quà khác của bạn bè khắp năm châu trong ngôi nhà sàn giản dị, những người thợ làng Ngọc Động xúc động đến nao lòng. Một số sợi mây bị đứt nhanh chóng được các nghệ nhân sửa lại theo nguyên bản. Sau đợt này, ông Minh được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huy hiệu Hồ Chí Minh.

nghe nhan 3
Tốp thợ làm ghế mây trong một lần ra thăm nhà Bác.

“Với chúng tôi, được đan ghế tặng Bác Hồ là niềm tự hào lớn nhất. Những ngày sinh nhật, ngày giỗ Bác, những người thợ Kim Động năm xưa lại bồi hồi xúc động. Bác Hồ không chỉ là vị lãnh tụ mà còn là người cha rất đỗi thân thương”, lão nghệ nhân Nguyễn Văn Minh bồi hồi tâm sự.

Nguyên Khoa
Theo 
vnexpress.net

Phương Thúy (st)
bqllang.gov.vn

Thư ngỏ gửi ông Anbe Xarô, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa (25-7-1922)

Thưa ngài,

Chúng tôi hoàn toàn hiểu rõ rằng, đối với dân bản xứ ở thuộc địa nói chung và đối với dân An Nam nói riêng, lòng thương yêu của Ngài thật là bao la rộng rãi.

Dưới quyền cai trị của Ngài, dân An Nam đã được hưởng phồn vinh thật sự và hạnh phúc thật sự, hạnh phúc được thấy nhan nhản khắp trong nước, những ty rượu và ty thuốc phiện, những thứ đó song song với những sự bắn giết hàng loạt, nhà tù, nền dân chủ và tất cả bộ máy tinh vi của nền vǎn minh hiện đại, đã làm cho người An Nam tiến bộ nhất châu á và sung sướng nhất trần đời.

Hành động nhân ái ấy đủ để chúng tôi không cần nhắc lại tất cả những hành động khác như: bắt lính và bắt mua công trái, đàn áp đẫm máu, truất ngôi và đầy biệt xứ một ông vua, xâm phạm và làm ô uế những nơi linh thiêng, v.v..

Thật đúng như câu thơ chữ Hán đã tả: Gió âu yếm thổi chiều quạt phẩy, mưa nghĩa nhân đón vết xe lǎn (26) . Được nắm quyền tối cao cai quản các thuộc địa, danh vọng của Ngài càng cao bao nhiêu thì sự quan tâm đặc biệt của Ngài đối với những người Đông Dương càng tǎng lên bấy nhiêu. Ngài đã cho thiết lập ngay ở Pari một cơ quan đặc trách để theo dõi những người bản xứ cư trú trên đất Pháp, đặc biệt là theo dõi những người Đông Dương, như một tờ báo thuộc địa đã nói rõ.

Nhưng chỉ “theo dõi” không thôi thì thấy hình như chưa xứng với tấm lòng thương yêu của Ngài như bậc cha mẹ, nên Ngài còn muốn gia ơn hơn nữa. Vì vậy mà gần đây, Ngài đã ban cho mỗi người An Nam – người An Nam yêu quý, như ngài thường nói – nhiều người “hầu cận” đặc biệt. Tuy những người này còn ấu trĩ trong nghệ thuật của Séclốc Hôm (1) , nhưng họ cũng đã tỏ ra rất tận tụy và rất đáng yêu. Chúng tôi chỉ còn biết khen ngợi họ và ca tụng người cầm đầu họ là Ngài.

Chúng tôi thành thật lấy làm cảm động được Ngài dành cho vinh dự đó, và chúng tôi có lẽ sẽ tiếp nhận vinh dự đó với tấm lòng biết ơn sâu sắc nhất, nếu vinh dự ấy đối với chúng tôi xét ra không phải là có hơi thừa, và không gây ra những sự ghen tị và suy bì.

Trong lúc Nghị viện đang tìm cách tiết kiệm chi tiêu, hạn chế số nhân viên các cơ quan hành chính; trong lúc ngân sách bị thâm hụt nhiều, nông nghiệp và công nghiệp thiếu nhân công; trong lúc phải hạn chế tiền lương của người lao động và trong lúc việc phục hồi dân số đòi hỏi phải sử dụng mọi nǎng lực vào việc sản xuất, – trong lúc như thế, chúng tôi lại cứ tiếp nhận những đặc ân riêng cho cá nhân mình, gây ra lãng phí sức lực của những người công dân bị đày vào cảnh vô công rồi nghề như những người “hầu cận” nói trên, và gây ra sự tiêu phí tiền bạc mà giai cấp vô sản đã đổ mồ hôi sôi nước mắt mới kiếm ra được, – thì quả là không yêu nước tý nào.

Vì vậy, tuy rằng vẫn là kẻ đội ơn Ngài, chúng tôi cũng trân trọng xin Ngài miễn cho cái đặc ân ấy, đối với chúng tôi thì nó quý hoá thật, nhưng đối với nước nhà thì lại là quá lãng phí.

Nếu Ngài nhất thiết cần biết hằng ngày chúng tôi làm gì thì rất dễ thôi: cứ mỗi buổi sáng chúng tôi sẽ phát hành một bản tin về sự đi lại của chúng tôi và Ngài chỉ việc đọc là biết.

Vả lại, thời khoá biểu của chúng tôi rất giản đơn và hầu như cố định.

Sáng: Từ 8 đến 12 giờ ở xưởng máy.

Chiều: ở phòng báo chí (dĩ nhiên là báo của phái tả), hoặc ở thư viện.

Tối: ở nhà riêng, hoặc dự những buổi nói chuyện bổ ích.

Chủ nhật và ngày lễ: Thǎm nhà bảo tàng hay những nơi bổ ích khác.

Chỉ có thế thôi!

Hy vọng rằng cách này vừa tiện, vừa hợp lý có thể làm Ngài hài lòng được, chúng tôi xin kính gửi Ngài, v.v..

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 25-7-1922.
cpv.org.vn

Khai hoá giết người (1-8-1922)

Cũng trên mục diễn đàn này, gần đây chúng tôi đã nêu lên một loạt những vụ giết người mà thủ phạm là những kẻ đi “khai hóa” của chúng ta, nhưng vẫn không bị trừng phạt. Than ôi! quyển sổ đoạn trường ấy cứ mỗi ngày một dài thêm, thật là đau xót.

Lại mới đây thôi, một người An Nam, trạc 50 tuổi, làm công cho sở xe lửa Nam Kỳ đã 25 năm nay, bị một viên chức người da trắng giết. Sự việc như sau:

Anh Lê Văn Tài điều khiển bốn người An Nam khác làm việc dưới quyền mình. Phận sự của họ là đóng cầu mỗi khi có xe lửa đi qua và mở cầu cho tầu bè qua lại. Theo lệnh đã quy định thì phải đóng cầu 10 phút trước khi xe lửa đi qua.

Ngày 2 tháng 4, hồi 16 giờ 30, một người trong bọn họ mới đóng cầu và hạ tín hiệu xuống, vừa lúc một chiếc thuyền máy công đi đến, trên thuyền chở một viên chức xưởng đóng tàu của hải quân đi săn về. Chiếc thuyền máy kéo còi lên. Nhân viên người bản xứ liền ra đứng giữa cầu, phất cờ đỏ báo cho những người trên thuyền máy biết rằng xe lửa sắp chạy qua và do đó cầu đã đóng rồi. Và sau đây là câu chuyện đã xảy ra: Chiếc thuyền máy ghé sát vào trụ cầu. Người viên chức Pháp liền nhảy lên bờ và hầm hầm tiến về phía người An Nam. Anh này khôn ngoan, chạy trốn về phía nhà ông Tài là “xếp” của mình. Người viên chức kia đuổi theo, lấy đá ném anh ta. Nghe có tiếng ồn ào, Tài liền chạy ra đón vị đại diện của nền văn minh, viên này mắng ngay: “Đồ súc vật, tại sao mày

không mở ra ?”. Vốn không biết tiếng Pháp, Tài chỉ còn biết trả lời bằng cách trỏ vào cái tín hiệu đỏ. Cử chỉ đơn giản ấy làm cho ông cộng tác viên của Ngài Lông nổi xung lên. Không phân phải trái gì, ông ta nhảy xổ vào Tài và sau khi đã “khiền” cho một trận, còn đẩy anh vào một đống than hồng ở gần đó.

Người An Nam gác cầu ấy bị bỏng một cách rùng rợn, được chở đến nhà thương, và sau sáu hôm cực kỳ đau đớn anh đã chết tại nhà thương.

Người viên chức kia vẫn được vô sự không có gì phải lo lắng cả. Trong lúc ở Mácxây, người ta triển lãm cảnh phồn thịnh giả tạo (27) của xứ Đông Dương thì ở An Nam đang có những người bị chết đói. ở bên này, người ta ca tụng lòng trung thành, còn ở bên kia, người ta đang giết người! Như vậy nghĩa là thế nào hỡi Đấng chí tôn Khải Định và Cụ lớn Xarô ?

NGUYỄN A.Q.

T.B.- Trong khi tính mệnh của một người An Nam bị xem như thân con chó, không đáng giá một đồng trinh, thì Ngài Tổng thanh tra Rêna, bị sướt có một chút da ở cánh tay mà được lĩnh 120.000 phrăng tiền bồi thường. Ôi, bình đẳng! Bình đẳng quý hoá thay!

Báo Le Paria, số 5, ngày 1-8-1922.
cpv.org.vn

—————————

(27) Hội chợ triển lãm thuộc địa Mácxây: Nǎm 1922, tại thành phố Mácxây (miền Nam nước Pháp), Chính phủ Pháp mở Hội chợ triển lãm thuộc địa, trưng bày các sản vật mang từ các thuộc địa của Pháp sang, để nói lên sự giàu có của thuộc địa và công lao khai hoá của người Pháp, đồng thời kêu gọi tư bản Pháp bỏ vốn kinh doanh và khai thác ở các thuộc địa. Tr.95.