Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Những câu chuyện về Hội nghị Paris: Báo Nhân Đạo với cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân Việt Nam

Báo L’Humanité (Nhân Đạo) của Đảng Cộng sản Pháp là một công cụ đấu tranh thực sự trong chiến dịch ủng hộ hòa bình.

Trước tháng 5-1968, L’Humanité bóc mẽ “những thủ thuật để làm chậm giờ đám phán”. Trong các cuộc đàm phán ban đầu, Đảng Cộng sản Pháp (PCF) tố cáo thái độ của Harriman, người dẫn đầu phái đoàn Mỹ từ chối nói về ngừng ném bom và các hành động chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong khi hội nghị được tổ chức là vì lý do này. Mỹ cũng sẽ phải đơn phương chịu trách nhiệm về 3 tháng cuối của chiến tranh đặc biệt đầy chết chóc khi từ chối ký Hiệp định ngày 20-10-1972 và quyết định tiếp tục ném bom Hà Nội trong tháng 12 cùng năm. Mỹ cũng bị lên án đã sử dụng Hội nghị Paris để làm giảm ý chí chống chiến tranh của dân chúng. Từ tháng 8-1972, PCF tố cáo thái độ của Nixon cho tung tin đồn về những tiến triển như là thủ thuật bầu cử trong khi đàm phán vẫn dậm chân tại chỗ. Năm 1969, Bộ Chính trị PCF lo ngại về thái độ của chính quyền Mỹ: “Nixon có ý đồ che đậy chính sách hiếu chiến qua các tuyên bố và các biện pháp có thể nhất thời tạo ra những ảo tưởng. Ông ta có ý đồ làm cho người ta tin rằng người Việt Nam không có đề xuất gì và rằng hai bên Việt Nam chịu trách nhiệm về sự chậm chễ trong đàm phán ở Paris. Do vậy, quan trọng là phải tiến hành một chiến dịch chính trị có hệ thống để làm sáng tỏ tất cả những vấn đề này và đồng thời, tìm kiếm tất cả các phương tiện để phát triển hành động.”

Trước các thái độ xấu này, PCF dành cho phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam sự ủng hộ vô điều kiện. L’Humanité tạo ra một diễn đàn thực sự cho các nhà đàm phán Việt Nam là Xuân Thủy và Nguyễn Thị Bình… Các tuyên bố của họ được đăng lại hàng tuần. “Trong khi Mỹ hoàn toàn bị động tại Hội nghị Paris, nơi mà vai trò của phái đoàn chính quyền Nixon cho tới giờ là tránh mọi tiến triển để đi tới một giải pháp thương lượng, thì bà Bình đã 5 lần đưa ra những đề xuất mà tất cả các nhà quan sát thừa nhận là nghiêm túc và linh hoạt”.

Nguyễn Thế Mai (dịch)
daidoanket.vn

Hiệp định Paris, nhìn từ người Mỹ phản chiến

Jerry Elmer, người Mỹ phản chiến nổi tiếng thế giới và là tác giả cuốn “Tội phạm vì hòa bình” kể vể bầu không khí cực kỳ căng thẳng ở Mỹ những ngày trước khi Hiệp định Paris được ký kết.

>> Ảnh gây chấn động về cuộc chiến ở Việt Nam

Elmer là nghiên cứu viên thuộc Quỹ Hòa giải của Mỹ, thành lập từ năm 1915 với mục tiêu hành động vì hòa bình, công lý và phi bạo lực. Cuốn sách “Tội phạm vì hòa bình” của ông được nhà xuất bản Thế giới ấn hành năm 2005, và tái bản lần thứ ba vào tháng 1/2013, nhân kỷ niệm 40 năm ngày Hiệp định Paris được ký kết

Cuộc chạy đua vào chiếc ghế tổng thống năm 1972 diễn ra giữa ứng cử viên chủ trương hoà bình, thượng nghị sĩ George McGovern, và đương kim tổng thống Richard Nixon, người đã duy trì và leo thang cuộc chiến tại Việt Nam trong 4 năm tại nhiệm.

Ngày 30/4/1970, Mỹ xâm lược Campuchia. Tháng 2/1971, Mỹ tấn công Lào. Cuộc đàm phán nhằm kết thúc chiến tranh ở bán đảo Đông Dương, bắt đầu từ tháng 5/1968, đã qua hàng trăm phiên kín và công khai, vẫn tiếp tục tại Paris nhưng có vẻ chưa đi đến đâu.

Chiều ngày thứ năm 26/10, 11 ngày trước cuộc bầu cử, Henry Kissinger, Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ khi đó, (sau là Ngoại trưởng Mỹ) tổ chức cuộc họp báo tại Nhà Trắng tuyên bố một tin chấn động về cuộc đàm phán hòa bình. “Hòa bình trong tầm tay”, Kissinger tuyên bố. Ngày hôm sau, những từ này thành tiêu đề cho mọi trang nhất của các tờ báo của Mỹ: “Hòa bình trong tầm tay”.

Tuyên bố đầy bất ngờ của Kissinger sau đó trở thành cảm hứng cho một “thành ngữ”, vẫn được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống ngày nay ở Mỹ – “bất ngờ tháng 10”. Bất ngờ tháng 10 là tuyên bố đột ngột về một tin tức hết sức tốt lành, xuất hiện ngay trước cuộc bầu cử. Tin này không sai, chỉ có điều nó bao hàm dụng ý khi được công bố vào thời điểm chiến lược ngay trước cuộc bầu cử.

Thực tế, Kissinger không nói dối. Một tuần trước đó, ngày 20/10, Kissinger và người đàm phán của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Lê Đức Thọ đã hoàn tất thỏa thuận về việc chấm dứt sự tham gia trực tiếp của quân đội Mỹ tại Việt Nam, thực hiện lệnh ngừng bắn và trao trả tất cả tù nhân chiến tranh của cả hai bên.

Video: Lễ ký kết hiệp đinh Paris năm 1973

Trong những tháng trước cuộc bầu cử, để đáp lại những cuộc biểu tình đòi hỏi hòa bình từ bên trong Mỹ, ít nhất 35 dự án luật về nội dung chống chiến tranh được đệ trình lên quốc hội Mỹ. Một số chỉ là những nghị quyết không ràng buộc, nhưng một số khác mang tính quyết định khi cắt kinh phí cho chiến tranh. Ví dụ ngày 24/7, Thượng nghị viện đã phê chuẩn Phụ lục Cooper-Brooke thi hành việc rút hoàn toàn quân khỏi Việt Nam để đổi lấy việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phóng thích các tù binh chiến tranh.

Trong cuộc họp với Tổng tham mưu trưởng Liên quân Mỹ vào mùa thu, Nixon xem xét đến tinh thần phản đối chiến tranh đang dâng cao trong Thượng viện, và nói: “Mỹ đã đi trước một bước, chỉ còn thiếu việc cắt giảm ngân sách”.

Ông Lê Đức Thọ và Henry Kissinger tại Paris năm 1973. Ảnh: AFP

Bận rộn với tình hình chính trị trong nước, Nixon và Kissinger đã không thông báo cho đồng minh của mình ở Việt Nam – chính quyền Sài Gòn và tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, về thỏa thuận đạt được giữa Kissinger và Lê Đức Thọ. Vì vậy, cấp phó của Kissinger, tướng Alexander Haig, được phái đi Sài Gòn để xoa dịu Thiệu và thuyết phục Thiệu ủng hộ thỏa thuận này. Nhưng hẳn nhiên là Thiệu nhận ra chính quyền của ông ta, vốn đã không được lòng dân nay lại không được sự hỗ trợ quân sự của Mỹ, thì sẽ sụp đổ. Thiệu không đồng tình với thỏa thuận ngày 20/10 và đưa cho Haig một danh sách dài những phản đối cụ thể của mình.

Kết quả là đến ngày 20/11, lần gặp tiếp theo của Kissinger và ông Lê Đức Thọ tại Paris, Kissinger yêu cầu thay đổi 69 điểm trong văn bản ngày 20/10, nhằm xoa dịu Thiệu. Lập trường của Mỹ là hoàn toàn không hợp lý, chính Kissinger thừa nhận việc này trong cuốn hồi ký “Những năm tháng ở Nhà Trắng”, trang 1459.

Đoàn đại biểu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tất nhiên là tức giận với hành động của chính quyền Nixon: thống nhất về một hiệp ước hòa bình hoàn chỉnh vào ngày 20/10 để rồi thất hứa chỉ trong một tháng sau đó. Ngày 24/11, tại Paris, Kissinger và Haig đe dọa đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về một cuộc leo thang chiến tranh nếu đoàn không đồng ý với những thay đổi.

Đến ngày 16/12, đàm phán hoàn toàn thất bại và ngày 18/12, Mỹ bắt đầu chiến dịch ném bom hai thành phố đông dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng.

Trong 12 ngày đêm ném bom, 200 máy bay B-52 đã bay hơn 700 chuyến và các máy bay chiến đấu, máy bay ném bom nhỏ hơn đã bay hơn 1.200 chuyến bổ sung. Những máy bay này thả xuống 20.000 tấn bom. B-52 rải thảm hai thành phố, san bằng mọi thứ trên mặt đất. Xét trên cả ba khía cạnh pháp luật, đạo đức và thực tiến, việc ném bom hai thành phố kể trên đều là bất hợp pháp. Đánh bom dân thường là vi phạm luật quốc tế và là tội ác chống lại loài người.

Ngoài ra, phong trào vì hòa bình nổi lên mạnh mẽ sau vụ ném bom Giáng sinh và các cuộc biểu tình nổ ra khắp đất nước Mỹ cũng như tại các nước khác.

Quốc hội Mỹ nhanh chóng có những hồi đáp với phong trào hòa bình. Ngày 2/1/1973, Hạ viện quyết định cắt kinh phí cho cuộc chiến và ngày 4/1, Thượng viện cũng ra quyết định tương tự. Nixon và Kissinger lâm vào tình cảnh không mong muốn.

Tuy nhiên, các quan chức Mỹ lập luận rằng cần phải có những hành động mạnh mẽ mới có hòa bình, rằng chính cuộc đánh bom đã xúc tiến sự ký kết Hiệp định Paris. Cuối tháng 1/1973, trong bản ghi nhớ bí mật của tổng thống Nixon cho tổng tham mưu trưởng liên quân khi đó là Bob Haldeman, Nixon viết: “Chỉ có hành động cứng rắn mà chúng ta đã thực hiện hồi tháng 12 mới có thể thuyết phục đối phương, và chúng ta không lâm vào cảnh phải nhượng bộ Quốc hội hơn nữa”

Nhưng quan điểm này thực ra không đúng với sự thật. Trên thực tế, các điều khoản và quy định định trong Hiệp định Paris ký ngày 27/1/1973 là hoàn toàn trùng khớp với bản thỏa thuận 20/10/1972.

Người dân Mỹ tổ chức nhiều cuộc biểu tình trong những năm 1970 để phản đối chiến tranh tại Việt Nam. Biểu ngữ của người biểu tình viết: “Chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam và Đông Dương ngay bây giờ”. Ảnh: Linzik

Cụ thể, trong biên bản tháng 10, nguyên văn Điều 1, Chương I, như sau: “Mỹ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam được công nhận trong Hiệp định Geneva năm 1954”. Các từ ngữ trong phiên bản tháng 1 không sai một chữ.

Một điểm gây chú ý nữa trong Hiệp định Paris là Điều II, Mục 3, Phần b, yêu cầu lệnh ngừng bắn trên thực địa tại miền nam Việt Nam, không giống như Hiệp định Geneva năm 1954, cho phép tái vũ trang ở miền bắc và nam lấy vĩ tuyến 17 làm căn cứ. Trong biên bản tháng 10 có viết: “Các lực lượng vũ trang của hai đảng ở miền nam Việt Nam được duy trì tại chỗ”. Phiên bản tháng 1 cũng giống hệt như vậy. Từng phần, từng phần của hai biên bản cũng giống nhau như đúc.

Thật đáng buồn! Vụ ném bom Giáng sinh không hề “cần thiết” và không có một chút tác động nào đến Hiệp định. Mục đích duy nhất của cuộc ném bom chỉ là tàn phá nền kinh tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ đó tìm cách kéo dài thời gian tồn tại cho chính phủ mà Mỹ hậu thuẫn ở Sài Gòn mà thôi.

Tôi hy vọng những nỗi buồn sẽ nguôi ngoai, như trong một bài thơ của Hồ Chí Minh viết trong tập Nhật ký trong tù:

Sự vật vần xoay đà định sẵn
Hết mưa là nắng hửng lên thôi!
… Người cùng vạn vật đều phơi phới
Hết khổ là vui vốn lẽ đời.

Vũ Hà (lược dịch)
vnexpress.net

Ảnh gây chấn động về cuộc chiến ở Việt Nam

Larry Burrows, phóng viên ảnh chiến trường, ghi lại một ngày sinh tử của binh lính Mỹ trên một chiếc trực thăng tháng 3/1965, tạo nên bộ ảnh tư liệu quý giá về sự ác liệt của cuộc chiến.

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris dẫn đến việc Mỹ phải rút toàn bộ quân ra khỏi Việt Nam, tạp chí Life giới thiệu lại bộ ảnh “Một ngày cùng bay với Yankee Papa 13” – từng đăng tải ngày 19/4/1965 và gây chấn động dư luận bởi nó cho thấy mức độ ác liệt của cuộc chiến. Trong lần tái xuất này, Life đưa ra những bức ảnh chưa từng công bố trong cả phóng sự.

Mùa xuân năm 1965, chỉ trong vài tuần, 3.500 lính thủy đánh bộ Mỹ được điều đến Việt Nam. Larry Burrows, một phóng viên ảnh người Anh khi đó 39 tuổi, làm việc cho tạp chí Life, gửi về tổng bộ “báo cáo từ Đà Nẵng” và chỉ ít ngày sau, cả thế giới phải rúng động bởi phóng sự về chuyến bay tử thần.

Đội trực thăng của Thủy quân lục chiến Mỹ với nhiều máy bay Yankee Pappa (YP) tập trung ở Đà Nẵng để thực hiện nhiệm vụ vận chuyển một tiểu đoàn của quân đội Việt Nam Cộng hòa đến một địa điểm cách thành phố 32 km trong ngày 31/3/1965.

Một ngày trước khi thực hiện nhiệm vụ, James Farley, 21 tuổi, cùng với xạ thủ của mình, Wayne Hoilien, 20 tuổi, đi chơi và thăm thú trên đường phố Đà Nẵng. Trong ảnh, Farley tinh nghịch thử một chiếc mũ.

Farley, chỉ huy chiếc Yankee Papa 13, hăm hở cầm khẩu súng máy M-60 lên trực thăng.

Yankee Papa 13 là một trong 17 trực thăng tham gia nhiệm vụ. Phi công chính và phụ đã sẵn sàng, xạ thủ Hoilen lên đạn cho khẩu M-60.

Trực thăng đáp xuống cánh đồng, những người trên máy bay nhảy xuống tham chiến.

Trực thăng và lính Mỹ trên đồng lúa, nhìn từ máy bay Yankee Papa 13.

Một chiếc trong đội, YP 3, bị hạ. Từ phía YP 3, một xạ thủ bị thương – trung sĩ Owens, chạy về phía YP 13 trong khi Farley đứng đón ở cửa.

“Trong buồng lái chiếc YP 3, chúng tôi nhìn thấy phi công đã đổ sập thân hình xuống bàn điều khiển. Anh ta không cử động. Mặt anh ta đầy máu và có một lỗ ở cổ. Chúng tôi tin rằng anh ta đã chết”, Phóng viên Burrows vừa chụp ảnh vừa ghi âm. “Tôi quỳ xuống đất để tránh đạn”.

Farley tiếp tục bắn để thoát khỏi hiện trường. Anh ta vừa nã đạn ra ngoài vừa nhìn chằm chằm vào viên phi công phụ của trực thăng YP 3 đang nằm trên sàn.

Farley lấy đồ sơ cứu cho vết thương của phi công phụ Magel của YP 3, trong khi Hoilen chăm sóc cho xạ thủ Owens (đeo kính đen) ngồi gục mặt cạnh đó. Owens bị vỡ vai vì đạn.

Kiệt sức trước những căng thẳng, Farley bước qua xác Magel trong khi Hoilien cố gắng an ủi Owens. Đột nhiên, Farley chửi thề rồi bật khóc. Ban đầu anh ta còn giấu mọi người nhưng về sau không quan tâm ai đang nhìn mình khóc.

Về đến Đà Nẵng, Owens được đưa xuống khỏi máy bay để đi chữa trị vết thương.

Trên sàn máy bay đầy vỏ đạn đã sử dụng trong trận chiến.

Farley và Hoilien, kiệt quệ sau chuyến bay, nói với những người khác rằng nếu chỉ ở lại trên cánh đồng đó thêm 10 giây nữa thôi thì họ sẽ trúng đạn và không bao giờ quay về được nữa.

Trong kho tiếp tế, tay che mặt, James Farley òa khóc vì một ngày mệt mỏi và đau thương trên chiến trường.

6 năm sau khi đăng phóng sự “Một ngày cùng Yankee Papa 13”, Larry Burrows tử nạn cùng 3 phóng viên khác khi chiếc trực thăng chở họ bị bắn rơi trên đất Lào tháng 2/1971.

 

Vũ Hà (Ảnh: LIFE)
vnexpress.net

Ông Lê Đức Thọ ‘mổ xẻ’ cố vấn Mỹ ở bàn đàm phán Paris

“Ông Thọ ở Paris đã mổ xẻ tôi bằng những con dao rất nhọn, với tay nghề của một nhà phẫu thuật”, cố vấn tổng thống Mỹ Kissinger đã thừa nhận.

>> Hiệp định Paris, đỉnh cao của nền ngoại giao Việt Nam / Lần đầu tiên trưng bày cuốn Hiệp định Paris

Kéo dài 5 năm (1968-1973), cuộc đấu trí bằng ngoại giao để đi đến ký kết hiệp định Paris đã diễn ra căng thẳng, khốc liệt không kém cuộc chiến trên mặt trận quân sự. Đưa B52 ồ ạt tấn công vào Bắc Việt Nam và thủ đô Hà Nội, Mỹ âm mưu đưa nơi đây về thời kỳ đồ đá, buộc đoàn đàm phán tại Paris phải ký kết hiệp định với điều khoản có lợi cho Mỹ.

Nhưng Tổng thống Nixon đã nhầm. Mỗi đợt bay của phi công Mỹ vào Bắc Việt Nam không phải một cuộc dạo chơi. Pháo cao xạ, tên lửa, không quân… của Việt Nam đã hợp đồng tác chiến, tạo nên một trận địa lửa, sẵn sàng bắn rơi bất cứ B52 nào xâm phạm. Với thiệt hại nặng nề và không làm Hà Nội nao núng, Mỹ phải tuyên bố dừng ném bom miền Bắc, trở lại bàn đàm phán, ký hiệp định Paris.

40 năm trôi qua, ông Lưu Văn Lợi, thư ký của cố vấn Lê Đức Thọ dù tuổi đã cao, nhưng vẫn không thể nào quên được những ngày đấu tranh ngoại giao ở Paris. Ông kể, khi đoàn xuất phát năm 1968, Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Lê Duẩn đã dặn ông Lê Đức Thọ là “Anh sang bây giờ sẽ là tư lệnh ở mặt trận ngoại giao. Làm thế nào thì làm nhưng anh phải đạt được là Mỹ cút, quân ta ở lại”.

Cố vấn Lê Đức Thọ và cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ, tiến sĩ Henry Kissinger chúc mừng nhau sau lễ ký tắt. Ảnh tư liệu.

Thời điểm đó Trung Quốc muốn Việt Nam tiếp tục đánh, chưa đàm phán vội, mà đàm thì phải có điều kiện, còn Liên Xô thì khuyên nên sớm ký hiệp định nếu có lợi để chấm dứt chiến tranh. Khi đoàn của cố vấn Lê Đức Thọ qua Pháp dừng lại ở Bắc Kinh, họ phê phán là Việt Nam vội quá, nhượng bộ Mỹ nhiều quá và nếu họp, đáng lẽ phải họp ngay trong vùng như Campuchia, Myanmar hay Lào.

Ông Lợi nhớ, các phiên họp riêng giữa ông Xuân Thủy, Lê Đức Thọ và Kissinger (cố vấn của Tổng thống Mỹ Nixon) đều là những ngày làm việc dài, có ngày tới 13 tiếng, lấn sang cả đêm. Ông Lê Đức Thọ sinh năm 1911, khi ấy đã hơn 60 tuổi, nhiều hơn Kissinger gần một giáp. Cố vấn Mỹ vào đầu cuộc họp riêng thường đưa những chuyện dài lê thê, chiều tối mới đưa việc chính ra tranh cãi. Đó là lúc ông ta nghĩ rằng “ông già” kia mệt mỏi rồi, dễ ừ, dễ gật.

Thế nhưng đàm phán càng muộn ông Lê Đức Thọ càng tỉnh táo, làm cho đối phương phải thốt lên: “Ông Thọ ở Paris đã mổ xẻ tôi bằng những con dao rất nhọn, với tay nghề của một nhà phẫu thuật. Có những lúc ông ấy nói hàng tiếng liền, tôi bảo tôi đã nghe nhiều lần thì ông Thọ bảo nghe nhiều lần nhưng chưa thuộc, tôi nói lại”.

Tháng 10/1972, Mỹ nhượng bộ không đòi quân Bắc Việt Nam rút, chỉ yêu cầu có một số biểu hiện như hồi hương một ít, di chuyển quân tượng trưng để máy bay Mỹ chụp ảnh, chứng minh cho người dân Mỹ thấy rằng cũng đòi được quân Bắc Việt Nam rút lui.

Nguyên trưởng đoàn đàm phán Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình tâm sự, vào cuối năm 1972, tình hình so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho Việt Nam. Trong lúc đó nội bộ Mỹ mâu thuẫn gay gắt giữa Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa, vấn đề bầu cử tổng thống Mỹ đang cận kề. Bộ Chính trị chỉ thị cho đoàn đàm phán ở Paris đấu tranh để buộc Mỹ đi vào giải quyết thực chất vấn đề chiến tranh Việt Nam.

Bà cho biết, các cuộc họp riêng giữa ông Lê Đức Thọ và cố vấn Kissinger diễn ra dồn dập trong những ngày đầu tháng 10/1972. Đến 20/10 hai bên căn bản nhất trí trên văn bản dự thảo Hiệp định Paris do phía Việt Nam đưa ra. Tổng thống Nixon gửi công hàm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoan nghênh thiện chí của ta và đề nghị ngày 31/10/1972 sẽ ký kết.

Bà Nguyễn Thị Bình kí hiệp định Paris. Ảnh tư liệu.Bà Nguyễn Thị Bình ký hiệp định Paris. Ảnh tư liệu.

Nhưng ngày 22/10, Tổng thống Nixon lại gửi công hàm nêu khó khăn với Nguyễn Văn Thiệu nên chưa thể ký kết hiệp định như đã thỏa thuận. “Chúng tôi ở Paris lúc đó hiểu ngay là Mỹ lật lọng muốn kéo dài đàm phán để vượt qua bầu cử”, bà Bình nói. “Quả thật, sau ngày 7/11, Tổng thống Nixon được tái cử, trong cuộc họp ngày 23/11 giữa ta với Mỹ, Kissinger trắng trợn đòi sửa lại 60 điều trong văn bản thỏa thuận”.

Tối ngày 18/12/1972, máy bay B52 của Mỹ bắt đầu dội bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và nhiêu nơi khác. Tại cuộc họp bốn bên thường lệ ở Trung tâm hội nghị quốc tế Kleber, đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa tuyên bố ngừng họp để phản đối hành động tráo trở và leo thang chiến tranh của Mỹ.

“Thực tế cuộc tập kích bằng B52 của Mỹ làm anh chị em chúng tôi tại hai đoàn đàm phán ở Paris hết sức lo lắng, không biết chúng ta sẽ đối phó ra sao. Nhưng khi được tin chiếc B52 đầu tiên bị bắn hạ, chúng tôi vô cùng sung sướng”, bà Bình nói.

Sau 12 ngày đêm ném bom dữ dội xuống Hà Nội và các tỉnh, 34 máy bay B52 của Mỹ bị hạ, âm mưu hủy diệt Hà Nội và Bắc Việt Nam không thành. Mỹ không những thất bại nặng nề về quân sự mà cả về chính trị, ngoại giao. Cả thế giới lên án Mỹ. Cả Anh, đồng minh thân cận nhất của Mỹ, cũng lên tiếng phản đối. Vài ngày sau chính quyền Nixon gửi công hàm đề nghị họp lại và chấp nhận hoàn toàn dự thảo Hiệp định đã thỏa thuận hồi tháng 10/1972.

“Như vậy có thể nói Mỹ muốn dùng cuộc tập kích bằng B52 uy hiếp chúng ta. Nhưng thắng lợi to lớn của trận Điện Biên Phủ trên không của quân dân ta đã đánh bại âm mưu của Mỹ, buộc họ phải chấp nhận những đòi hỏi cơ bản của nhân dân Việt Nam vì độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia”, vị trưởng đoàn đàm phán khẳng định.

Ông Lý Văn Sáu, người phát ngôn của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại hội nghị Paris cho biết, trong cuộc đấu tranh ngoại giao kéo dài 5 năm ấy, điều quan trọng nhất là giữ bí mật. Paris là nơi dư luận chú ý, cũng là nơi gián điệp chú ý. Thời đó, tuy chưa có điện thoại di động, chưa có phương tiện ghi âm như bây giờ, nhưng gián điệp cũng có đủ phương tiện để hành nghề.

“5 năm ở Paris, chúng ta giữ được bí mật về đường lối, chính sách, về chủ trương, lập trường, phải nói đấy là một thành công rất lớn”, ông Sáu nói.

Ông kể, hai đoàn luôn giữ được độc lập, nhưng cũng kết hợp chặt chẽ, thống nhất làm việc. Đoàn của Chính phủ cách mạng lâm thời có khoảng 40 người, chia làm nhiều ban. Ban nghiên cứu, bàn và tham mưu, Ban tiếp xúc, đi gặp gỡ bạn bè Pháp và quốc tế, gặp gỡ kiều bào, Ban báo chí và Ban Hậu cần, bộ phận nào biết việc bộ phận ấy. Ngay cả những cuộc họp công khai cũng giữ bí mật đến cùng.

“Tại Paris, mỗi đoàn có một phòng hội nghị, nguyên tắc không trao đổi với nhau. Phòng họp của từng đoàn thiết kế rất đặc biệt, làm tường hai lớp, có một loạt loa phóng thanh ở xung quanh. Ta vào trong, đóng cửa lại rồi phát nhạc. Trong này mình nói chuyện với nhau, bên ngoài chỉ nghe thấy nhạc”, ông Sáu cho biết.

Sau sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968, bốn bên tham chiến tại Việt Nam gồm Mỹ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa phải ngồi vào bàn đàm phán khi chưa bên nào giành thắng lợi bằng quân sự. Đoàn miền Bắc (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) do ông Xuân Thủy làm trưởng đoàn, ông Lê Đức Thọ là cố vấn. Đoàn miền Nam (Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) lúc đầu do ông Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn, về sau do bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao, làm trưởng đoàn.

Hoàng Thùy trích lược “Đối mặt B52”
vnexpress.net

Hiệp định Paris, đỉnh cao của nền ngoại giao Việt Nam

Kết thúc thắng lợi sau gần 5 năm đàm phán, Hiệp định Paris là kết quả của cuộc đấu tranh khốc liệt trên chiến trường và mặt trận ngoại giao.

>> Lần đầu tiên trưng bày cuốn Hiệp định Paris

Sáng 25/1, lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội. Nguyên trưởng đoàn đàm phán Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình khẳng định Hiệp định Paris ký ngày 27/1/1973 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, dẫn đến đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

“Đây là kết quả của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm lâu dài và gian khổ, đầy hy sinh thử thách của nhân dân ta, tiến hành trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, là kết quả của đường lối độc lập tự chủ cùng với sự tranh thủ đoàn kết quốc tế rộng rãi”, bà Bình nói.

Bà Bình chia sẻ, cuộc đấu tranh về quân sự, chính trị trên chiến trường tạo thế cho cuộc đấu tranh về ngoại giao. Trong hơn 4 năm 8 tháng đàm phán, có 174 cuộc họp công khai tại Trung tâm hội nghị Quốc tế Kléber – Paris, mấy chục cuộc gặp riêng giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và trưởng đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với ông Kissinger, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Nixon (Mỹ).

Hai đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được nhận danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ảnh: Hoàng Thùy.

Theo bà Bình, việc Mỹ phải chấp nhận đàm phán với sự có mặt của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại hội nghị bốn bên ở Paris là thắng lợi chính trị, ngoại giao bước đầu trên bàn hội nghị. Qua việc này, Mỹ đã thừa nhận một thực tế ở miền Nam: các tầng lớp nhân dân, mà đại diện chân chính duy nhất là Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, đang đấu tranh chống lại sự có mặt của Mỹ và chính quyền thân Mỹ. Điều này cũng bác bỏ luận điệu của Mỹ là miền Bắc xâm lược miền Nam.

Tại cuộc đàm phán, hai đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã làm rõ trước thế giới lập trường: Mỹ đưa quân vào Việt Nam gây chiến tranh, vì vậy Mỹ phải rút quân vô điều kiện. Mục tiêu trước sau như một là độc lập dân tộc và thống nhất tổ quốc, nước Việt Nam là một, người Việt Nam dù ở miền Nam hay miền Bắc đều có quyền và nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược.

“Những lý lẽ trên đã tỏa đi khắp các nước, khơi dậy tình cảm mến phục đối với một dân tộc nhỏ dám đứng lên chống lại nước lớn để bảo vệ quyền được sống trong độc lập, tự do”, bà Bình nói và cho hay một phong trào đoàn kết quốc tế rộng lớn đã hình thành bao gồm không chỉ người cộng sản mà còn là những người yêu chuộng hòa bình, kể cả người “có thành kiến với cộng sản”, “không tán thành chủ nghĩa xã hội”. Một số chính phủ nước tư bản cũng đứng về cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam.

Năm 1972, khi tương quan lực lượng trên chiến trường nghiêng về quân giải phóng, cố vấn Lê Đức Thọ đã trao cho Kissinger bản dự thảo hiệp định không đòi hỏi giải quyết cả gói “quân sự và chính trị” như trước mà tập trung vào việc đòi Mỹ phải rút quân, các vấn đề miền Nam sẽ do các bên miền Nam tự giải quyết.

Mỹ đã tìm nhiều cách để không chấp thuận yêu cầu chính đáng của Việt Nam, trong đó có cuộc không kích tàn bạo bằng B52 trong 12 ngày đêm xuống Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố của miền Bắc cuối tháng 12/1972. Thế nhưng, đòn đánh cuối cùng của Mỹ đã thất bại thảm hại, B52 liên tiếp bị bắn rơi và có nguy cơ tuyệt chủng trên bầu trời Hà Nội.

Theo nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, bị phản đối trong nước, cô lập trên trường quốc tế, lại thiệt hại lớn về không lực, Mỹ không thể buộc Việt Nam thay đổi lập trường nên phải chấm dứt chiến dịch vào ngày 30/12/1972, đề nghị nối lại đàm phán tại Paris và ký kết Hiệp định Paris trên cơ sở dự thảo mà cố vấn Lê Đức Thọ đã đưa ra trước đó. Theo đó Mỹ phải rút đi hoàn toàn, quân giải phóng ở lại tại chỗ, các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam phải được đảm bảo, Việt Nam là của người Việt Nam.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao Việt Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Ảnh: Hoàng Thùy.

“Cuộc chiến đấu không dùng súng đạn mà bằng đấu trí, đấu lý, nhưng cũng vô cùng khó khăn, nhất là những cuộc đàm phán bí mật. Động lực chính giúp chúng tôi kiên trì đấu tranh và hoạt động tích cực, đó là vì lợi ích tối cao của dân tộc, là niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến của nhân dân ta”, bà Bình cho hay.

Tham dự lễ kỷ niệm, bà Hélène Luc, Chủ tịch danh dự Hội hữu nghị Pháp – Việt cho biết, đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến Pháp ngày 10/5/1968, đúng vào lúc Pháp đang sôi sục phản đối chiến tranh. Dưới chân tháp Eiffel, đông đảo công nhân và sinh viên cùng hô vang “Ho, Ho, Hồ Chí Minh” để chống lại các cuộc chiến tranh xâm lược. Là bí thư thị ủy Choisy le Roi, bà đã sắp xếp chỗ ăn ở, đi lại cho đoàn đàm phán của Việt Nam.

Bà kể, tướng De Gaulle (dù muộn) đã ý thức được sai lầm của Pháp ở chiến trường Điện Biên Phủ nên cảnh báo với Tổng thống Mỹ rằng Mỹ sẽ không thể thắng. Tướng De Gaulle và sau này là Bộ trưởng Ngoại giao Maurice Schuman đã hỗ trợ Việt Nam bằng cách tạo thuận lợi cho các cuộc gặp chính thức cũng như bí mật giữa cố vấn Lê Đức Thọ và Kissinger tại biệt thự trên phố Darthé.

Bà Hélène Luc nhớ, sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, dẫu bị buộc ngồi vào bàn đàm phán, Tổng thống Mỹ vẫn hy vọng sẽ giữ được miền Nam Việt Nam nên mặc cả “Hãy ngừng cung cấp lương thực và vũ khí cho các lực lượng chiến đấu ở Việt Nam, đổi lại chúng tôi sẽ ngừng ném bom”. Nhưng đoàn Việt Nam thì kiên trì nhắc đi nhắc lại: “Dân tộc Việt Nam là một, cần phải chấp nhận thực tế ấy”. Còn Bộ trưởng Xuân Thủy luôn khẳng định “chúng tôi sẽ không bao giờ nhượng bộ, Bắc Nam chắc chắn sẽ thống nhất”.

“Ở Choisy le Roi chúng tôi cũng tổ chức kỷ niệm ngày ký Hiệp định Paris. Chúng tôi sẽ kể cho các thế hệ trẻ nghe về chủ nghĩa anh hùng của các bạn, về tình hữu nghị gắn bó sâu sắc của hai dân tộc chúng ta. Tòa thị chính Choisy le Roi sẽ tham gia sản xuất bộ phim tư liệu kể về quá trình đàm phán hiệp định, trình chiếu trước ngày 21/3 tại thành phố của chúng tôi, trên truyền hình Pháp và truyền hình Việt Nam”, bà Hélène Luc nói.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh Hiệp định Paris là sự minh chứng hùng hồn cho chân lý “đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo”, củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa.

Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao Việt Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Thắng lợi đó, trước hết bắt nguồn từ thắng lợi của cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng với những nỗ lực phi thường, quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do, thống nhất đất nước của quân và dân trên các chiến trường, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, phải xuống thang và cuối cùng phải ký Hiệp định Paris.

Theo Chủ tịch nước, thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước mà trực tiếp là cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ.

“Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Paris đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công”, Chủ tịch nước khẳng định.

Người đứng đầu nhà nước đúc rút, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris để lại nhiều bài học sâu sắc, có ý nghĩa lớn trong tình hình hiện nay. Trước hết là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng mở ra mặt trận ngoại giao, bài học về kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia dân tộc, bài học về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, xây dựng lực lượng…

“Kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris, chúng ta ghi lòng tạc dạ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, chúng ta ghi nhớ công lao của đồng bào, đồng chí, chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh… Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ đã ủng hộ, cổ vũ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta vì độc lập, tự do, hòa bình và công lý”, Chủ tịch nước nói.

Sau sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968, bốn bên tham chiến tại Việt Nam gồm Mỹ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa phải ngồi vào bàn đàm phán khi chưa bên nào giành thắng lợi bằng quân sự. Phía ta có 2 đoàn: Đoàn miền Bắc, tức là nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do ông Xuân Thủy làm trưởng đoàn, ông Lê Đức Thọ là cố vấn, thay mặt Bộ chính trị. Đoàn miền Nam, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lúc đầu do ông Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn, về sau do bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao, làm trưởng đoàn.

Tại lễ kỉ niệm 40 năm ngày kí kết hiệp định Paris, hai đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam được nhận danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Hoàng Thùy
vnexpress.net

“Hiệp định Paris – đỉnh cao thắng lợi ngoại giao VN”

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm. (Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)

Lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1), sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân Việt Nam và nền ngoại giao Việt Nam, tổ chức ngày 25/1, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; các Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, các vị khách quốc tế, các thành viên phái đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, các cán bộ, chiến sỹ đã tham gia phục vụ Hội nghị Paris đã đến dự.

Tại buổi lễ, các đại biểu đã cùng ôn lại những kỷ niệm về cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ của quân, dân ta trên chiến trường và cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris nhằm mục tiêu buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Cách đây 40 năm, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20; đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân Việt Nam sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao chống Mỹ xâm lược.

Hiệp định đã mở ra một cục diện mới với thế mạnh áp đảo của Việt Nam trên chiến trường, tạo tiền đề vững chắc cho quân và dân tiến lên “đánh cho ngụy nhào” với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Paris đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công.

Song song với đấu tranh trên bàn đàm phán, các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế tại Hội nghị Paris làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh giải phóng và thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam; vạch trần những thủ đoạn, mưu đồ đen tối, tính chất phi nghĩa, tàn bạo của cuộc chiến tranh xâm lược của địch, đã góp phần quan trọng tạo nên Phong trào nhân dân thế giới rộng lớn chống Mỹ, ủng hộ Việt Nam – một Phong trào mang tính lịch sử và thời đại, tiêu biểu cho lương tri của loài người, đã tác động rất lớn tới dư luận tiến bộ Mỹ, thúc đẩy sự lớn mạnh của phong trào phản chiến ngay trong lòng nước Mỹ.

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao Việt Nam thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ, chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước mà trực tiếp là cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ.

Chủ tịch nước bày tỏ, kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ghi lòng tạc dạ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người đã đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; ghi nhớ công lao của biết bao đồng bào, đồng chí, chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh để làm nên những chiến công chói lọi; ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của các thành viên: Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa do đồng chí Xuân Thủy làm Trưởng đoàn và Đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do bà Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn, đặc biệt là vai trò và những cống hiến to lớn của cố vấn Lê Đức Thọ; biết ơn chân thành các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ, cổ vũ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam vì độc lập, tự do, hòa bình và công lý.

Chủ tịch nước cũng khẳng định Hội nghị Paris và Hiệp định Paris để lại nhiều bài học sâu sắc, có ý nghĩa lớn trong tình hình hiện nay. Trước hết là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng mở ra mặt trận ngoại giao, phát huy thế mạnh của ngoại giao, phối hợp với các mặt trận chính trị, quân sự; lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất các mặt trận, “vừa đánh, vừa đàm,” tạo ra sức mạnh tổng hợp, giành toàn thắng.

Thứ hai là bài học về kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia dân tộc; vận dụng đúng đắn phương châm ngoại giao Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn biến,” tạo thời cơ, kéo địch vào đàm phán, chủ động tấn công ngoại giao và kết thúc đàm phán khi điều kiện chín muồi; xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế rộng rãi đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam để làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris.

Thứ ba là bài học về tầm quan trọng của thực lực. Bác Hồ dạy: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Cái chiêng có to, tiếng mới lớn.” Thắng lợi của Hội nghị Paris bắt nguồn từ những thắng lợi trên chiến trường, từ sự lớn mạnh không ngừng về thế và lực của ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó là sức mạnh của chính nghĩa, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế; sức mạnh từ sự kết hợp tài tình giữa các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao; giữa đánh và đàm, giữa chiến trường và bàn đàm phán

Thứ tư là bài học về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Để vượt qua những thách thức lớn, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phương cách cực kỳ quan trọng, bảo đảm thắng lợi. Cuộc chiến đấu vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta thắng lợi vì đã phát huy được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công.”

Thứ năm là bài học về xây dựng lực lượng. Từ Hội nghị Geneva năm 1954 đến Hội nghị Paris, đội ngũ cán bộ ngoại giao đã trưởng thành vượt bậc, được chuẩn bị và trang bị kỹ cả về kiến thức đối ngoại và nghệ thuật đàm phán. Cùng với sự chỉ đạo sát sao, Đảng và Nhà nước đã chọn lựa, tin tưởng giao trách nhiệm cho những cán bộ đối ngoại bản lĩnh nhất, xuất sắc nhất tham gia hai đoàn đàm phán, góp phần rất quan trọng làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris.

Chủ tịch nước nhấn mạnh các bài học của Hội nghị Paris là hành trang quý giá để đất nước vững bước tiến vào giai đoạn hội nhập quốc tế, đưa quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, củng cố, nâng cao thế và lực của đất nước. Phát huy truyền thống tốt đẹp của ngoại giao Việt Nam và những bài học quý giá của Hội nghị Paris, công tác đối ngoại cần quát triệt, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ Đại hội XI của Đảng đã đề ra, trong đó cần tập trung tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại; kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; là bạn là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đối ngoại phục vụ sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước; xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại tuyệt đối trung thành, suốt đời phấn đấu vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Chủ tịch nước nêu rõ, Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn tin tưởng và kỳ vọng rằng, phát huy tinh thần Hội nghị Paris, công tác đối ngoại nhất định sẽ tiếp tục đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa; ghi tiếp các mốc son mới trong sự nghiệp xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tại buổi lễ, Chủ tịch nước đã trao tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho hai đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vì những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

Tại buổi lễ, Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, nguyên trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã phát biểu nhấn mạnh thắng lợi của Việt Nam tại cuộc đàm phán Paris là minh chứng tập trung nhất về sự đúng đắn, tài tình của đường lối sách lược của nền ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tỉnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam

Nguyên Phó Chủ tịch nước nhấn mạnh, nếu không có Tết Mậu Thân 1968, không có cuộc giải phóng tỉnh Quảng Trị và 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt xung quanh Thành cổ Quảng trị, không có trận Điện Biên Phủ trên không, không có Miền Bắc – Hậu phương lớn hỗ trợ cho tiền tuyến lớn phía Nam thì không có Hội nghị Paris về Việt Nam, không thể có Đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Bên cạnh đó, không thể không kể đến hàng triệu, hàng triệu người trên thế giới ở châu Âu, châu Á-Phi-Mỹ Latinh, châu Đại dương, phong trào phản chiến ở Mỹ bằng nhiều hình thức đã góp phần vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam.

Đại diện các đoàn khách quốc tế dự buổi lễ, bà Helene Luc, Thượng nghị sỹ danh dự Thượng viện Pháp, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp-Việt nhấn mạnh Hiêp định Paris cũng là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, những người đã đồng hành ủng hộ, giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ.

Hiệp định Paris đã củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa; đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, vì hòa bình và công lý. Sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp là một phần của lịch sử kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam, tiếp tục đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bí thư Đoàn Thanh niên Bộ Ngoại giao Lê Việt Phương thay mặt tuổi trẻ cả nước khẳng định, ý nghĩa lịch sử và các bài học quý báu từ quá trình đàm phán và kí kết Hiệp định Paris là hành trang vô cùng quý giá theo suốt thế hệ thanh niên trên con đường phụng sự Tổ quốc, bày tỏ lòng biết ơn chân thành với cống hiến, công lao to lớn của thế hệ đi trước; nhấn mạnh sẵn sàng nhận nhiệm vụ, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Hoàng Giang (TTXVN)
vietnamplus.vn

Hiệp định Paris và đòn tấn công ngoại giao quyết định

(VOV) -Việc Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đưa ra 2 dự thảo vào chiều 8/10/1972 nằm ngoài dự đoán của đoàn Mỹ.

Ông Phạm Văn Chương, thành viên đoàn đàm phán tại Paris, nguyên Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Việt Nam đoàn kết và hợp tác Á-Phi-Mỹ Latinh, Phó Chủ tịch Quỹ Hòa bình và Phát triển Việt Nam nhấn mạnh: 30 năm chúng ta phải kháng chiến chống hai đế quốc xâm lược và đều kết thúc bằng hai Hiệp định kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình, đó là Hiệp định Geneve (1954) và Hiệp định Paris (1973). So với Hiệp định Geneve, có thể nói, những gì đạt được trong Hiệp định Paris đã đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của đấu tranh ngoại giao của Việt Nam.

Bản dự thảo gây bất ngờ với đoàn Mỹ

Các tài liệu lịch sử ghi lại: Chiều 8/10/1972, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đưa ra dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và dự thảo “Thảo thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam”. Dự thảo Hiệp định này nằm ngoài dự đoán của đoàn Mỹ.

Cố vấn Lê Đức Thọ và trợ lý Tổng thống Mỹ Henry Kissinger đóng vai trò quan trọng trong các cuộc đàm phán về Hiệp định Paris.

Sức mạnh tấn công của bản dự thảo Hiệp định này là ở chỗ tạm gác nhiều vấn đề chính trị nội bộ miền Nam, tạm gác yêu cầu xóa bỏ chính quyền Sài Gòn và gạt Thiệu, tạm gác bàn về bầu cử, hiến pháp… mà tập trung giải quyết các vấn đề chính trị và quân sự liên quan đến Mỹ như vấn đề Mỹ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, ngừng bắn, Mỹ rút quân, trao trả tù binh hai bên, Mỹ chịu trách nhiệm hàn gắn vết thương chiến tranh.

Chiều 9/10/1972, phía Mỹ cũng đưa ra một dự thảo hiệp định trong đó chấp nhận nhiều điều khoản và vấn đề đoàn Việt Nam đã nêu.

Việc đưa dự thảo Hiệp định là một bước có ý nghĩa đột phá trong đàm phán, làm lập trường của hai bên gần nhau và chuyển từ đàm phán theo khung giải pháp (9 điểm, 10 điểm) sang đàm phán thẳng các điều khoản của Hiệp định, buộc Mỹ không thể lẩn tránh, kéo dài quá trình thương lượng. Ta và Mỹ giải quyết toàn bộ không cần nghị định thư, không cần đưa ra diễn đàn 4 bên, tạo khả năng nhanh chóng đạt thỏa thuận.

Tuy nhiên, cuộc tranh luận, đàm phán vẫn diễn ra gay gắt và kéo dài trong suốt ba ngày. Đến ngày 11/10/1972, hai bên căn bản đạt thỏa thuận về các điều khoản của Hiệp định. Hai vấn đề cuối cùng là vấn đề trao trả tù binh và vấn đề thay thế vũ khí được giải quyết thông qua trao đổi công hàm giữa người đứng đầu hai Chính phủ. Đến ngày 20/10/1972, hai bên đạt thỏa thuận cuối cùng, dự định ký Hiệp định ngày 31/10/1972. Với văn bản Hiệp định hai bên đã thỏa thuận, Việt Nam đã đạt được các mục tiêu đề ra đó là Mỹ chấm dứt chiến tranh và rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Dập tắt ý đồ kéo dài đàm phán

Sáng 26/10/1972, tại phiên họp thứ 164, Bộ trưởng Xuân Thủy đã thông báo việc Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố nội dung dự thảo Hiệp định đã được hai bên thỏa thuận và dự định ký vào ngày 31/10/1972, nhưng phía Mỹ không giữ lời hứa, viện những lý do không chính đáng để liên tiếp thay đổi những điều thuộc nội dung Hiệp định và thời gian đã thỏa thuận.

Việc công bố dự thảo Hiệp định là một đòn tấn công lớn và được dư luận rộng rãi đồng tình. Trách nhiệm không ký được Hiệp định theo thỏa thuận hoàn toàn thuộc về phía Mỹ; Thiệu bị cô lập và bị lên án. Liên Xô, Trung Quốc và nhiều nước ủng hộ tuyên bố trên. Nhiều người trong chính giới Mỹ cũng đòi Nixon ký hiệp định đã thỏa thuận.

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đón Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh đến Paris để ký hiệp định hòa bình, sân bay Bourget ngày 25 tháng Giêng 1973.

Hai bên họp từ ngày 20 đến 25/11/1972, Mỹ đã đòi sửa tới 69 điểm trong văn bản đã thỏa thuận ngày 20/10/1972 trong đó tập trung vào việc: đòi miền Bắc cùng rút quân; biến miền Nam thành một quốc gia; giành thế hợp pháp cho Sài Gòn, phủ nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời; giảm nhẹ cam kết của Mỹ. Các đề nghị sửa đổi này đã bị phía ta phê phán gay gắt.

Trong phiên họp ngày 24/11/1972, Kissinger xin được đọc bức điện của Tổng thống Nixon gửi với những lời lẽ đe dọa ngừng đàm phán, tiếp tục các hoạt động quân sự nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không sẵn sàng chấp nhận yêu cầu của Mỹ.

Cố vấn Lê Đức Thọ đã nói thẳng với Kissinger là đe dọa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chẳng có tác dụng gì, thiện chí của Việt Nam tiến tới hòa bình cũng phải có mức độ nhất định, nhân nhượng quá chỉ còn là đầu hàng trá hình… Ta kiên quyết đấu tranh, Mỹ phải lùi một bước là: rút lại những điều ám chỉ quân miền Bắc, nhận có tên Chính phủ Cách mạng lâm thời trong Hiệp định.

Chiến thắng quyết định trên 2 mặt trận

Chiến thắng oanh liệt “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972 của quân dân Việt Nam quyết định thành công khi hai đoàn đàm phán bước vào vòng đàm phán cuối cùng tại Paris.

Do không đạt được đòi hỏi của mình, Mỹ ngừng đàm phán và mở cuộc tiến công 12 ngày đêm bằng máy bay B52 vào Hà Nội và miền Bắc. Tuy nhiên, chiến thắng oanh liệt “Điện Biên phủ trên không” đã buộc Mỹ trở lại bàn đàm phán.

Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình (giữa) ký Hiệp định Paris năm 1973

Ông Phạm Văn Chương, thành viên đoàn đàm phán tại Paris, nguyên Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Việt Nam đoàn kết và hợp tác Á-Phi-Mỹ Latinh, Phó Chủ tịch Quỹ Hòa bình và Phát triển Việt Nam cho rằng: “Có một mối liên quan hữu cơ giữa những gì diễn ra trên bàn đàm phán và trên chiến trường. Đầu năm 1969 bắt đầu họp 4 bên rồi, nhưng đến tháng 1/1973 Hiệp định mới được ký. Để có kết quả đó là cả một năm 1972 với 81 ngày đêm thành cổ Quảng Trị bị cày nát, với 12 ngày đêm khói lửa ở Hà Nội, nơi mà ý chí quật cường của quân và dân ta không thể bị đánh bại”.

Và kết quả là ngày 27/1/1973, bốn Ngoại trưởng bốn bên dự Hội nghị Paris đã chính thức ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam cùng các Nghị định thư liên quan./.

Ngọc Thành/VOVonline
vov.vn

Ngôi nhà hòa bình tại Gif-sur -Yvette tại Pháp

Ngày 22/11/1972, nhân dịp kỷ niệm 40 năm, ngày diễn ra các cuộc đàm phán bí mật chuẩn bị cho việc ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại Hòa bình ở Việt Nam, phóng viên TTXVN tại Pháp đã đến thăm ngôi nhà mang tên“Maison du Gros Tilleul”, nơi đã diễn ra những cuộc đàm phán bí mật này giữa ông Lê Đức Thọ và ông Henry Kissinger. Đó là ngôi nhà số 106, nằm tại Avenue du Général Leclerc của thị trấn Gif-sur-Yvette, cách Paris hơn 30 km về phía tây nam.

Sân trước Ngôi nhà hòa bình.

Đến thăm ngôi nhà đúng vào ngày này cách đây 40 năm, nơi diễn ra sự kiện lịch sử trên đây, chúng tôi thấy kiến trúc phía trước và bề ngoài của ngôi nhà không gần như không thay đổi, so với những tấm ảnh tư liệu chúng tôi đã được xem. Chỉ khác trước cổng nó được gắn tấm biển mang dòng chữ : “Trong ngôi nhà này, ngày 22/11/1972 đã diễn ra những cuộc đàm phán bí mật về hòa bình ở Việt Nam giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ” (Dans cette maison s’ouvrent le 22 Novembre 1972 les pourparlers de paix au Vietnam entre Henry Kissinger et Lê Duc Tho). Tấm biển màu trắng giản dị khuất sau những chiếc lá của đám cây leo nên không mấy thu hút được sự chú ý của khách qua đường hay người dân địa phương, nhưng nó mang một ý nghĩa lịch sử quan trọng, nó gắn liền với một thời kỳ lịch sử của cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam trước đây, với sự ủng hộ mạnh mẽ nhân dân Pháp.

Trò chuyện với phóng viên TTXVN tại Pháp, nhà nhiếp ảnh Bernard Minier, chủ nhà hiện nay cho biết, với tấm biển nhỏ này ngôi nhà đã được công nhận là một trong rất nhiều các di tích lịch sử ở Pháp, vì thế trong khuôn khổ các tour du lịch quanh thị trấn Gif-sur-Yvettet thỉnh thoảng khách du lịch cũng được đưa đến ghé thăm nơi đây. Phía trong của ngôi nhà cũng được sửa lại nhiều tuy nhiên những kiến trúc cơ bản của các phòng vẫn được giữ nguyên, như nơi trước đây là phòng ăn trưa của các đoàn đàm phán nay được chuyển thành khách và phòng họp chính của các bên đã trở thành studio chụp ảnh của ông Bernard Minier.

Bằng sự chân tình và cởi mở, ông Bernard Minier kể lại lịch sử của ngôi nhà. ông cho biết thêm, Maison du Gros Tilleul từng là nơi ở nhà của họa sĩ Pháp Fernand Leger, đảng viên PCF, được giao quản lý căn nhà này từ năm 1955. Sau khi họa sỹ qua đời, Đảng Cộng sản Pháp đã tạo điều kiện cho Việt Nam sử dụng nơi này (từ tháng 10.1972) để tổ chức các cuộc gặp bí mật với phía Mỹ. Theo ông, nơi đây được chọn làm địa điểm diễn ra các cuộc họp bí mật của phái đoàn Việt Nam và phía Mỹ, vì nó khá kín đáo, xa thủ đô Paris, tiện đường giao thông đi lại, nhất là gần sân bay Orly.

Là người chứng kiến sự kiện lịch sử này, khi đó ông còn là cậu thanh niên mới 17 tuổi. Ông đã từng tham gia cuộc biểu tình rộng lớn tại Paris, xuống đường đấu tranh ủng hộ cuộc chiến tranh vì hòa bình của nhân nhân Việt Nam. Ông nói: “Đây thực sự trở thành ngày hội mà ông không thể quên”.

Khi phát hiện ngôi nhà, dù không thể thấy được những gì diễn ra bên trong, nhưng ông biết rằng nơi đó diễn ra sự kiện quan trọng, với sự bảo vệ chặt chẽ của hàng rào cảnh sát. Nhiều nhiều phóng viên muốn ghi lại hình ảnh cuộc gặp gỡ giữa Lê Đức Thọ và H.Kisinger, đã phải trèo lên mái nhà của người hàng xóm phía sau, được bao quanh bởi hàng cây thông mới trồng. Đó là nhà của hai nhà hai khoa học Việt kiều Trần Thanh Vân – Lê Kim Ngọc, những người sáng lập hội Aide à l’Enfance du Vietnam (AEVN- Hội bảo trợ trẻ em Việt Nam tại Pháp) đã từng được biết đến ở Paris từ cuối năm 1970 qua hoạt động bán thiếp giáng sinh quanh các nhà thờ để gây quỹ ủng hộ Việt Nam.

Hôm nay, 40 năm sau, hàng cây tùng này đã vươn rất cao, đủ để chắn ngang tầm nhìn giữa hai nhà, vẫn trong buổi gặp gỡ với Bernard Minier, ông cho biết cho dù trong ngôi nhà không còn để lại lưu vật nào của thời kỳ đó, và ngôi nhà có những thay đổi, nhưng ông vẫn còn thấy tất cả như còn hiện hữu rõ nét trong trí nhớ của ông.

Mặt khác, trong cuộc trò chuyện với nhà khoa học Việt kiều Trần Thanh Vân, tại ngôi nhà của chính ông ở phía sau Maison du Gros Tilleul, ông Vân cho biết dù không biết gì nhiều về cuộc đàm phán bí mật giữa phái đoàn Việt Nam và Mỹ, nhưng gia đình ông vẫn tạo điều kiện thuận lợi để các phóng viên có thể ghi được những hình ảnh lịch sử quý giá khi đó. Đồng thời ông cho biết thêm vào điểm đó nhiều báo chí Pháp như la Croix, le Figaro, … đã có bài ghi lại sự kiện này và sự trùng hợp đặc biệt với việc ông đang bàn bạc vào năm 1972, với tổ chức AEVN để xây dựng làng trẻ mồ côi Việt Nam SOS ở Đà Lạt vào năm 1974 cùng nhiều công trình khác nữa mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Bài và ảnh: Lê Hà – Nguyễn Tuyên (P/v TTXVN tại Pháp)
baotintuc.vn

Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi ngoại giao

Ngày 25/1, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội, đã diễn ra trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973-27/1/2013).

Lễ kỷ niệm do Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Ngoại giao tổ chức.

Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân ta và nền ngoại giao Việt Nam.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, các vị khách quốc tế, các thành viên phái đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, các cán bộ, chiến sỹ đã tham gia phục vụ Hội nghị Paris đã đến dự.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm. Ảnh: Nguyễn Khang – TTXVN.

Tại buổi lễ, các đại biểu đã cùng ôn lại những kỷ niệm về cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ của quân, dân ta trên chiến trường và cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris nhằm mục tiêu buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Cách đây 40 năm, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20; đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân ta sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao chống Mỹ xâm lược. Hiệp định đã mở ra một cục diện mới với thế mạnh áp đảo của Việt Nam trên chiến trường, tạo tiền đề vững chắc cho quân và dân ta tiến lên “đánh cho ngụy nhào” với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Paris đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công. Song song với đấu tranh trên bàn đàm phán, các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế tại Hội nghị Paris làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh giải phóng và thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam; vạch trần những thủ đoạn, mưu đồ đen tối, tính chất phi nghĩa, tàn bạo của cuộc chiến tranh xâm lược của địch, đã góp phần quan trọng tạo nên Phong trào nhân dân thế giới rộng lớn chống Mỹ, ủng hộ Việt Nam – một Phong trào mang tính lịch sử và thời đại, tiêu biểu cho lương tri của loài người, đã tác động rất lớn tới dư luận tiến bộ Mỹ, thúc đẩy sự lớn mạnh của phong trào phản chiến ngay trong lòng nước Mỹ.

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ, chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước mà trực tiếp là cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ.

Chủ tịch nước bày tỏ, kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ghi lòng tạc dạ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người đã đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; ghi nhớ công lao của biết bao đồng bào, đồng chí, chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh để làm nên những chiến công chói lọi; ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của các thành viên: Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa do đồng chí Xuân Thủy làm Trưởng đoàn và Đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn, đặc biệt là vai trò và những cống hiến to lớn của đồng chí cố vấn Lê Đức Thọ; biết ơn chân thành các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ, cổ vũ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta vì độc lập, tự do, hòa bình và công lý.

Chủ tịch nước khẳng định, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris để lại nhiều bài học sâu sắc, có ý nghĩa lớn trong tình hình hiện nay.Trước hết là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta mở ra mặt trận ngoại giao, phát huy thế mạnh của ngoại giao, phối hợp với các mặt trận chính trị, quân sự; lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất các mặt trận, “vừa đánh, vừa đàm”, tạo ra sức mạnh tổng hợp, giành toàn thắng. Thứ hai là bài học về kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia dân tộc; vận dụng đúng đắn phương châm ngoại giao Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, tạo thời cơ, kéo địch vào đàm phán, chủ động tấn công ngoại giao và kết thúc đàm phán khi điều kiện chín muồi; xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế rộng rãi đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta để làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris. Thứ ba là bài học về tầm quan trọng của thực lực.

Bác Hồ dạy: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Cái chiêng có to, tiếng mới lớn”. Thắng lợi của Hội nghị Paris bắt nguồn từ những thắng lợi trên chiến trường, từ sự lớn mạnh không ngừng về thế và lực của ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó là sức mạnh của chính nghĩa, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế; sức mạnh từ sự kết hợp tài tình giữa các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao; giữa đánh và đàm, giữa chiến trường và bàn đàm phán. Thứ tư là bài học về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Để vượt qua những thách thức lớn, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phương cách cực kỳ quan trọng, bảo đảm thắng lợi.

Cuộc chiến đấu vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta thắng lợi vì đã phát huy được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Thứ năm là bài học về xây dựng lực lượng. Từ Hội nghị Geneva năm 1954 đến Hội nghị Paris, đội ngũ cán bộ ngoại giao đã trưởng thành vượt bậc, được chuẩn bị và trang bị kỹ cả về kiến thức đối ngoại và nghệ thuật đàm phán. Cùng với sự chỉ đạo sát sao, Đảng và Nhà nước ta đã chọn lựa, tin tưởng giao trách nhiệm cho những cán bộ đối ngoại bản lĩnh nhất, xuất sắc nhất tham gia hai đoàn đàm phán, góp phần rất quan trọng làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, các bài học của Hội nghị Paris là hành trang quý giá để đất nước vững bước tiến vào giai đoạn hội nhập quốc tế, đưa quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, củng cố, nâng cao thế và lực của đất nước. Phát huy truyền thống tốt đẹp của ngoại giao Việt Nam và những bài học quý giá của Hội nghị Paris, công tác đối ngoại cần quát triệt, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ Đại hội XI của Đảng đã đề ra, trong đó cần tập trung tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại;

Kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; là bạn là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đối ngoại phục vụ sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước; xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại tuyệt đối trung thành, suốt đời phấn đấu vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Chủ tịch nước nêu rõ, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn tin tưởng và kỳ vọng rằng, phát huy tinh thần Hội nghị Paris, công tác đối ngoại nhất định sẽ tiếp tục đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa; ghi tiếp các mốc son mới trong sự nghiệp xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tại buổi lễ, Chủ tịch nước đã trao tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho hai đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vì những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

Tại buổi lễ, Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, nguyên trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã phát biểu nhấn mạnh thắng lợi của Việt Nam tại cuộc đàm phán Paris là minh chứng tập trung nhất về sự đúng đắn, tài tình của đường lối sách lược của nền ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tỉnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nguyên Phó Chủ tịch nước nhấn mạnh, nếu không có Tết Mậu Thân 1968, không có cuộc giải phóng tỉnh Quảng Trị và 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt xung quanh Thành cổ Quảng trị, không có trận Điện Biên Phủ trên không, không có Miền Bắc- Hậu phương lớn hỗ trợ cho tiền tuyến lớn phía Nam thì không có Hội nghị Paris về Việt Nam, không thể có Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Bên cạnh đó, không thể không kể đến hàng triệu, hàng triệu người trên thế giới ở châu Âu, châu Á- Phi- Mỹ la tinh, châu Đại dương, phong trào phản chiến ở Mỹ bằng nhiều hình thức đã góp phần vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam.

Đại diện các đoàn khách quốc tế dự buổi lễ, bà Helene Luc, Thượng nghị sĩ danh dự Thượng viện Pháp, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp- Việt nhấn mạnh, Hiêp định Paris cũng là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, những người đã đồng hành ủng hộ, giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ. Hiệp định Paris đã củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa; đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, vì hòa bình và công lý. Sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp là một phần của lịch sử kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam, tiếp tục đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bí thư Đoàn Thanh niên Bộ Ngoại giao Lê Việt Phương thay mặt tuổi trẻ cả nước khẳng định, ý nghĩa lịch sử và các bài học quý báu từ quá trình đàm phán và kí kết Hiệp định Paris là hành trang vô cùng quý giá theo suốt thế hệ thanh niên trên con đường phụng sự Tổ quốc, bày tỏ lòng biết ơn chân thành với cống hiến, công lao to lớn của thế hệ đi trước; nhấn mạnh sẵn sàng nhận nhiệm vụ, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

TTXVN/ Tin tức
baotintuc.vn

Những tấm lòng Việt kiều với Hiệp định Paris

Họ là những nhân tố không thể thiếu góp phần tạo nên thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập Dân tộc và là sự cổ vũ lớn cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới vì tự do và hòa bình.

Triển lãm ảnh về hoạt động của các đoàn đàm phán.

Tại cuộc míttinh kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris (27/1/1973-27/1/2013) về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam diễn ra ngày 24/1 tại trụ sở Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, nhiều cô bác Việt kiều và bạn bè Pháp yêu mến Việt Nam tham dự mít tinh đã chia sẻ với phóng viên TTXVN những tình cảm đoàn kết, hữu nghị và kỷ niệm gắn bó với nhân dân Việt Nam.

Nhân dịp này, ông Pierre Laurent, bí thư toàn quốc Đảng cộng sản Pháp (PCF), đã bảy tỏ sự biết ơn và sự cám ơn đối với những đảng viên có nhiều đóng góp trong cuộc đấu tranh chống thực dân, những người bạn Pháp luôn bên cạnh nhân dân Việt Nam như Henri Martin, Raymond Dien, Madeleine Rifaud, Charles Fourniau, Raymon Aubarac…

Ông nói không chỉ rất tự hào về điều đó, mà càng tự hào hơn khi các cuộc đàm phán diễn ra tại Paris và các văn kiện lịch sử đã được ký tại tại đây, tạo tiền đề cho Việt Nam kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và thống nhất đất nước.

Đánh giá về sự giúp đỡ và ủng hộ của thành viên PCF, nhân dân tiến bộ vì hòa bình trên toàn thế giới cũng như của cộng đồng người Việt Nam tại Pháp, Đại sứ Dương Chí Dũng khẳng định hỗ trợ của họ cho các đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn đại biểu Chính phủ cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam là “những tình cảm tốt đẹp, sự giúp đỡ quý báu”- là “chất kết dính” để bà con tiếp tục tăng cường đoàn kết, gắn bó hơn nữa, giúp đỡ lẫn nhau để xây dựng cộng đồng ngày càng phát triển thịnh vượng.

Nhìn lại 40 năm qua, ông Jean Joel Lemarchand, phó Thị trưởng thứ nhất Choisy-Le-Roi, cho biết ông không thể quên những tình cảm gắn bó ông với Việt Nam khi đó ông là thư ký đặc biệt của nghị sỹ, Thị trưởng thành phố Choisy-Le-Roi, ông Fernand Dupuy, lúc bấy giờ. Những cuộc tiếp đón và làm việc của khi Thị trưởng thành phố Fernand Dupuy với đoàn đại biểu Miền Bắc – Việt Nam đến lưu trú Trường của PCF, nơi ông cũng từng học trong vòng 4 tháng, luôn “trở về đầy ắp trong ông”.

Khi đó, ông là một sinh viên triết học, ông nhớ như in những cuộc biểu tình lớn ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa vì hòa bình của nhân dân Việt Nam diễn ra tại Choisy-Le-Roi và Paris, khi ông tham gia và hô lớn tên của bà Bình, hô vang khẩu hiệu “Việt Nam sẽ chiến thắng”. Theo ông, đây là “ngôi trường của hòa bình, tình hữu nghị và sự thân quen”, nó thể hiện tình cảm của thành phố Choisy-Le-Roi đối với bạn bè Việt Nam.

Cũng như ông Jean Joel Lemarchand, bà Raymond Dien, tuy đang phải ngồi xe đẩy nhưng rất sôi nổi và hào hứng khi được hỏi về những tình cảm của mình dành cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Ngoài việc tham gia các cuộc biểu phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam, bà là người nằm ngang đường ray ngăn cản các đoàn tàu chở vũ khí đạn dược sang Việt Nam và đã bị cảnh sát bắt giam. Ngày nay, bà vẫn tiếp tục chia xẻ, ủng hộ nạn nhân và giúp đỡ những đứa trẻ tàn tật bẩm sinh do tác hại của chất độc da cam, những khó khăn của gia đình họ.

Bà Raymond Dien.

Bà Nicole Trampoglieri, chủ tịch Hội hữu nghị Pháp-Việt tại Choisy-le-Roi cho biết, cách đây 40 năm, khi mới 18 tuổi bà đã tham gia biểu tình ủng hộ Việt Nam. Sau đó, khi là sinh viên bà vẫn biểu tình để ủng hộ, bảo vệ Việt Nam, bảo vệ hòa bình và quan hệ hữu nghị giữa hai nước.

Thật cảm động khi bà kể lại, bà không thể nào quên đó khi cô con gái đầu lòng ra đời đúng vào tháng 1/1972 và bà lấy tên “Lan” (tên Việt Nam) đặt cho con, dạy những từ “Hô Chí Minh …chiến thắng”….! (Ho Chi Minh Vaincra) khi con bắt đầu bi bô tập nói.

Bà chia sẻ : “tôi thực sự cảm động vì cuộc kháng chiến vì hòa bình của các bạn”. Theo bà, Việt nam đối với bà đó là “Việt Nam của thế hệ trẻ” – “Việt Nam của sự giác ngộ về chính trị”. Với bà đây thật sự là một tình cảm mãnh liệt và bà luôn “giơ cao ngọn cờ tình hữu nghị Pháp-Việt”.
Bác Lâm Bá Châu – người tham gia lãnh đạo phong trào Việt kiều tại Pháp thời đó.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Pháp, bác Lâm Bá Châu, người tham gia lãnh đạo phong trào Việt Kiều thực hiện các nhiệm vụ của đoàn giao cách đây 40 năm cho biết thế hệ của bác ai cũng nhớ kỷ niệm sâu sắc nhất là khi các bạn sinh viên quốc tế hết lòng ủng hộ Việt Nam, đặc biệt là sinh viên Mỹ.

Ngoài việc tham gia các cuộc biểu tình của sinh viên ủng hộ chính phủ cách mạng lâm thời Miền Nam, các bạn sinh viên Mỹ không bao giờ ủng hộ cho phái đoàn Mỹ hay chính quyền Sài Gòn. Những sinh viên Mỹ, Pháp hay sinh viên quốc tế khác họ đều phản đối chiến tranh, ủng hộ Việt Nam.
Bác Đào Thị Hoàng Anh, 76 tuổi, cho biết, hồi đó bà được giao việc lo hậu cần, trang trí nhà, tham gia may hơn trăm chiếc màn gió (rideau) cho đoàn đại biểu Việt Nam và lo chỉnh trang trang phục cho bà Nguyễn Thị Bình, bà Dung… ở Verrière-le-Buisson khi đến tham gia đàm phán.

Trước khi đi dự hội nghị, ông Xuân Thủy nói rằng: “Cô Hoàng Anh cố gắng lo trang phục thật đẹp cho các chị, vì sẽ có hàng triệu cặp mắt chăm chú dõi cho nên phải mặc cho phù hợp”.
Bà Hoàng Anh cho biết từ những việc nhỏ nhất, nếu có thể, bà đều sẵn sàng và cố gắng giúp cho đoàn đàm phán.
Làm sao có thể kể hết sự ủng hộ và giúp đỡ của bà con cộng đồng người Việt tại Pháp khi đó. Có những sự ủng hộ công khai, có những sự giúp đỡ thầm lặng, có những điều chỉ có thể cảm nhận, nhưng tất cả đều là những đóng góp vô giá tạo thành quả hôm nay.

Nhóm Phóng viên TTXVN tại Pháp
baotintuc.vn

40 năm ngày ký Hiệp định Paris: Những câu chuyện ít kể

Trong khoảng thời gian gần 5 năm đàm phán Hiệp định Paris, ít ai biết đến những người lính bảo vệ cho đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trên chặng đường hoạt động và đấu tranh tại Pháp. Cũng ít ai hiểu rằng vì sao và bằng cách nào Paris lại được lựa chọn là địa điểm diễn ra cuộc đàm phán… Những ký ức ấy vẫn đậm sâu trong tâm trí những “người trong cuộc”, những nhân chứng lịch sử của một sự kiện ngoại giao lớn.

* Gặp người bảo vệ đoàn đàm phán

Dù 40 năm đã đi qua, nhưng hình ảnh các đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam vẫn in đậm trong tâm tưởng của ông Lê Việt Hưng (Lê Việt Bắc), nguyên Đại tá, nguyên trưởng phòng Bộ Tư lệnh cảnh vệ, nguyên thành viên đội bảo vệ đoàn đám phán.

Cuối tháng 4/1968, là một trong năm đồng chí được Cục cảnh vệ (nay Bộ Tư lệnh cảnh vệ Bộ Công an) giao nhiệm vụ bảo vệ đoàn đàm phán Hiệp định Paris (với 5 bí danh: Bắc, Trung, Nam, Thống, Nhất), ông được mang bí danh Lê Việt Bắc. Ngày 9/5/1968, đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do ông Xuân Thủy dẫn đầu đến Paris. Lúc đầu, đoàn được bố trí ở khách sạn Lutetia, số 45 Đại lộ Raspail, quận 16 Paris . Vài ngày sau, vì nhiều lý do, đoàn đã chuyển đến ở tại Trường Đảng Choisy Le Roi. Đối với ông, được làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh cho đoàn đàm phán để chấm dứt chiến tranh, giành lại hòa bình ở Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng và vinh dự lớn . Trong suốt thời gian đó, Choisy le Roi đã được giữ bí mật, tới mức không có mấy người dân ở chính thành phố này biết chỗ đoàn sống và hoạt động. Lực lượng bảo vệ đồng chí Xuân Thủy, đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa gồm 5 người, lực lượng cảnh sát bảo vệ vòng ngoài do Cảnh sát Pháp, với 2 trạm gác đảm nhận.

Do thất bại ở hai miền nước ta, nhất là sau cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và đồng ý hội nghị đàm phán với đại diện của Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa, sau đó với đại diện của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Từ đây, ông Lê Việt Hưng được chuyển qua bảo vệ cho đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Sau gần 3 năm làm nhiệm vụ, ông Hưng vinh dự tự hào đã góp phần bảo đảm an toàn tuyệt đối cho hai đoàn đàm phán, giành thắng lợi lớn trên mặt trận ngoại giao… Trong quá trình công tác, ông được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Tự do, do Chính phủ Lào tặng và nhiều huân, huy chương khác… Năm 1993, ông nghỉ hưu tại xóm Đồng Văn, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn (Nghệ An) với quân hàm Đại tá. Nay ông đã tròn 80 tuổi đời, 50 tuổi Đảng.

* Paris, địa điểm tốt cho cuộc đàm phán

Ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ L.B Giôn-xơn tuyên bố ngừng ném bom Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị cùng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nói chuyện. Ngày 3/4/1968, Chính phủ ta tuyên bố đồng ý cử đại diện tiếp xúc với phía Mỹ nhằm xác định việc Mỹ chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện việc ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để hai bên có thể bắt đầu các cuộc nói chuyện về thực chất. Từ ngày 4/4 cho đến cuối tháng 4/1968, hai bên đưa ra những địa điểm để cùng chọn cho cuộc nói chuyện.

Từng tham gia nhiều công việc trước và sau Hiệp định Paris, trong đàm phán “bí mật” và đàm phán công khai, chứng kiến nhiều sự kiện thể hiện những thuận lợi cho ta của địa điểm Paris, ông Võ Văn Sung, nguyên Tổng đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp trong thời gian đàm phán Paris, nguyên Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp cho biết: “Paris là địa điểm đàm phán mà ta và Mỹ đã nhất trí lựa chọn theo đề xuất của ta. Qua những gì xảy ra, cho đến giờ, tôi càng thấy Paris quả là địa điểm rất tốt cho ta trong cuộc đàm phán với Mỹ. Phía Mỹ từng đồng ý với ta họp ở Paris hai bên, rồi bốn bên, nhưng sau ngày 27 tháng Giêng 1973, họ lại tỏ ra không thích địa điểm này lắm. Khi cùng ta bàn việc họp Hội nghị Quốc tế về Việt Nam cuối tháng 2 năm 1973, ban đầu Mỹ không muốn chọn Paris làm địa điểm. Nhưng do ta kiên trì và vì những lý do khác, cuối cùng phía Mỹ mới chịu đồng ý”.

Theo nhận định của ô ng Võ Văn Sung: Nhìn tổng quát, có thể nói Paris là địa điểm có môi trường đàm phán, đấu tranh dư luận, tranh thủ quốc tế vào loại tốt nhất cho hai Đoàn đàm phán của ta, trong đó những yếu tố thuận lợi là: chính giới Pháp, phong trào quần chúng, lực lượng cánh tả, báo giới và đặc biệt là cộng đồng người Việt tại Pháp. Chính phủ Pháp đã rất hoan nghênh việc ta đề nghị chọn Paris làm địa điểm đàm phán và đã tạo mọi thuận lợi cho các cuộc đàm phán (đàm phán hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ năm 1968; đàm phán bốn bên từ năm 1969 đến 1973; đàm phán “bí mật” Lê Đức Thọ-Kissinger từ năm 1970 đến 1973 và cuộc đàm phán hai bên miền Nam Việt Nam ở La Celle-Saint Cloud từ tháng 3/1973 đến tháng 4/1974).

Nhớ những kỷ niệm trong 12 ngày đêm Mỹ dội bom Hà Nội năm 1972, ông Võ Văn Sung kể lại: “Trong những ngày đó, gần như ngày nào ông Bộ trưởng Ngoại giao Pháp lúc đó là Maurice Schuman và tôi cũng có những cuộc gặp, có lúc còn gọi điện thoại cho nhau cả vào đêm khuya để thông tin tình hình và trao đổi ý kiến vì phía Pháp cần có thông tin để có thái độ và phía ta cũng mong muốn phía Pháp góp phần lên án cuộc ném bom của Mỹ vào Hà Nội. Đối với cuộc đàm phán, Chính phủ Pháp đã tạo mọi thuận lợi cho các đoàn, đặc biệt là cảnh sát Pháp đã rất vất vả để lo an ninh cho các đoàn trong năm năm. Theo tôi biết, trong lịch sử của Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Kleber, chưa hề có cuộc thương lượng quốc tế nào chiếm dụng phòng họp của Trung tâm liên tục gần 5 năm như cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Hoa Kỳ”.

Viết Hùng – Nguyễn Hồng Điệp
baotintuc.vn

Hiệp định Paris – đỉnh cao nghệ thuật ‘vừa đánh vừa đàm’

Bị thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam và trong chiến dịch 12 ngày đêm đánh phá Hà Nội bằng B52, ngày 27/1/1973, Hoa Kỳ buộc phải ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Kéo dài suốt 5 năm với gần 250 cuộc họp và gặp riêng, Hội nghị Paris là đỉnh cao nghệ thuật “vừa đánh vừa đàm” của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Thắng lợi của cuộc đàm phán đã buộc Mỹ phải rút hoàn toàn quân xâm lược về nước, mở đường cho cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1975, kết thúc oanh liệt cuộc kháng chiến chống ngoại xâm kéo dài suốt 30 năm của dân tộc Việt Nam, thu trọn non sông về một mối.

Nhân kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris, Thông tấn xã Việt Nam trân trọng giới thiệu những bức ảnh tư liệu về Hội nghị Hòa bình Paris về Việt Nam:

Ngày 3/6/1968, đông đảo các chính khách và Việt kiều tại Paris ra sân bay Bretigny (Pháp) đón đ/c Lê Ðức Thọ, Cố vấn đặc biệt của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Paris. Ảnh: Văn Lượng-TTXVN.

Sáng 4/11/1968, Đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam do Bà Nguyễn Thị Bình, Phó Trưởng đoàn dẫn đầu đến Paris (Pháp) dự Hội nghị bốn bên về Việt Nam. Ảnh: Văn Lượng-TTXVN.

Chữ ký của các các bên trong Văn bản Hiệp định Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ảnh: Tư liệu TTXVN.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đón Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Duy Trinh ở Phủ Chủ tịch sau khi ký Hiệp định Paris trở về Việt Nam. Đông đảo đại diện các đoàn ngoại giao đến chúc mừng, chia vui trước thắng lợi lịch sử của nhân dân ta. Ảnh: Tư liệu – TTXVN.

Quang cảnh Cuộc nói chuyện chính giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Hoa Kỳ về hòa bình tại Việt Nam tại Phòng họp Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Paris ngày 13/5/1968. (Đoàn Việt Nam ngồi phía bên phải).  Ảnh Tư liệu – TTXVN.

Ngày 9/5/1968, đông đảo kiều bào Việt Nam và nhân dân Paris cùng các phóng viên quốc tế tập trung tại sân bay Bourget đón đồng chí Xuân Thủy, đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến tham dự cuộc đàm phán với đại diện Chính phủ Mỹ về hòa bình tại Việt Nam. Ảnh Tư liệu – TTXVN.

Ngày 25/01/1969, Hội nghị bốn bên về Hòa bình tại Việt Nam chính thức khai mạc phiên toàn thể đầu tiên, gồm 4 đoàn đại biểu: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa. Ảnh:Tư liệu – TTXVN.

Thái độ lật lọng và hành động leo thang chiến tranh của chính quyền Mỹ đã gây nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ khắp thế giới. Ngày 20/01/1973, cùng với hàng trăm cuộc biểu tình chống chiến tranh nổ ra ở nhiều nước trên thế giới, nhân dân Mỹ tổ chức biểu tình lớn ở Thủ đô Oasinhtơn, trong khi Richard M.Nixon làm lễ nhậm chức Tổng thống, đòi Mỹ ký ngay Hiệp định hòa bình, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Ảnh: Tư liệu – TTXVN.

Thực hiện Hiệp định Hòa bình Paris, trong hai ngày 28 và 29/3/1973, tại sân bay Gia Lâm, 107 nhân viên quân sự Mỹ (đợt cuối cùng) được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao trả cho Hoa Kỳ. Ảnh: Văn Bảo – TTXVN.

Hiệp định Hòa bình Paris được ký kết, Mỹ buộc phải rút quân về nước. 11h30 phút ngày 30/4/1975, xe tăng Quân giải phóng đánh chiếm Dinh Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn, kết thúc oanh liệt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Ảnh: Mai Hưởng – TTXVN.

TTXVN/ Tin tức
baotintuc.vn