Tag Archive | Tuổi trẻ Online

Ngày bầu cử đầu tiên – Kỳ 4

Bầu cử ở miệt cù lao

Hàng vạn nhân dân Hà Nội đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội (5-1-1946) - Ảnh tư liệu

TT – “Hãy ra bầu cử, người công dân nước Nam. Hãy ra bầu cử, nghị viện của mình…”. Chàng trai miệt vườn của xứ cù lao Lục Sĩ Thành năm xưa rưng rưng hát lại những lời ca mà 61 năm trước ông và 12 chàng trai khác đã hát liên tục để tuyên truyền cho cuộc bầu cử đầu tiên của nước VN giữa khói lửa ngút trời trên vùng đất Tây Nam bộ.

>> Kỳ 1: Thu phục thù trong giặc ngoài
>> Kỳ 2: Tiếng dân trên báo
>> Kỳ 3: Lá phiếu trong khói lửa

“Tiến lên đường máu”

Chàng trai của ngày xưa ấy là Mười Mẫn, tức Hồ Minh Mẫn, nguyên bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long. Vào ngày 6-1-1946, ông 17 tuổi, là ủy viên ban chấp hành Đoàn Thanh niên cứu quốc xã Hậu Thành (một trong ba xã của cù lao Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, thuộc Cần Thơ thời ấy).

Đó là những ngày tháng khói lửa mịt mù dâng ngập xứ cồn. Quân Pháp đã tái chiếm Vĩnh Long, theo dòng Măng Thít xuôi về chiếm Tam Bình, Trà Ôn và vòng lên cướp lấy Cần Thơ rồi quay về đóng đồn trấn tại huyện lỵ Trà Ôn. Khói lửa chiến tranh lan thành hình vòng cung kéo vệt từ Vĩnh Long đến tận Cần Thơ. Khi tiếng súng nổ rền vùng sông nước heo hút cũng là lúc những cụm lửa bừng lên trên khắp mọi làng xóm: lửa tiêu thổ kháng chiến bốc lên theo lời kêu gọi của Ủy ban Hành chính kháng chiến. Vườn không nhà trống, quân đối phương lấn đến đâu, dân đốt lên ngọn lửa tiêu thổ báo hiệu thêm một lần nữa cảnh nước mất nhà tan giữa đất trời miền Tây Nam bộ. Những cột khói lan ra từ dinh quận Trà Ôn đến tận những ngôi nhà kiên cố một chút tận kênh xa, sông rộng. Pháp chiếm Trà Ôn, hơn 60 người dân Việt bị bắn.

Ở vùng quê nghèo Lục Sĩ Thành phần lớn người dân không biết chữ. Ruộng đất thì làm mướn cho điền chủ, tháng mười âm lịch vác nóp với cái vòng gặt đi qua Ba Xuyên, Bảy Sào gặt mướn tới giáp tết được có 3-4 đồng bạc mang về. Giá lúa hơn hai cắc một giạ. Làm đổ mô hôi, sôi nước mắt, đùng một cái quân Nhật vô vơ vét sạch. Nghèo đói và tăm tối, ấy vậy mà khi cách mạng nổ ra tháng 8-1945, cả cù lao hưởng ứng. Rồi người dân nô nức gia nhập các hội đoàn cứu quốc, gia nhập Thanh niên Cộng hòa vệ binh” (lực lượng chủ lực) và Quốc gia tự vệ cuộc (lực lượng công an). Lần đầu tiên, người dân nghe nói đến những từ độc lập, tự do, dân chủ…

Với ông Mười Mẫn và những chàng trai xứ Lục Sĩ Thành, không khí của những ngày tiền khởi nghĩa vẫn còn ấm nóng. Thời của những bài hát hào hùng của Lưu Hữu Phước với những giai điệu thúc giục những người trai ra đi vì lý tưởng vẫn con nguyên vẹn. Ông Mười Mẫn lúc ấy nhận lãnh nhiệm vụ lập một tổ tuyên truyền gồm 12 thanh niên đoàn viên cứu quốc. Một sự kiện mà ông nhớ đến 61 năm sau là bài hát Tiến lên đường máu trầm hùng, thôi thúc nhiều ngả đường: “Tiến lên đường máu, Quốc dân Việt Nam, non nước nát tan vì quân thù xâm lấn…”. Sau đó, bài hát đã được ông Tư Trân, trưởng ban tuyên truyền bầu cử của Trà Ôn, cải biên thành “Hãy ra bầu cử, người công dân nước Nam. Hãy ra bầu cử, Nghị viện của mình….”. 12 chàng trai trong tổ tuyên truyền mặc áo bà ba, cầm loa mo cau, hát say sưa chào mừng sự kiện lần đầu tiên người dân VN được đi bầu. Họ tuyên truyền làm sao để những nông dân tay lấm chân bùn miệt cù lao hiểu được ý nghĩa lớn lao của việc cầm lá phiếu bầu người đại diện cho mình sẽ khác với việc bầu hội đồng mà từ cha sinh mẹ đẻ tới giờ họ biết có vài lần.

Ông Hồ Minh Mẫn: “Ai cũng muốn tận tay mình bầu một lá phiếu cho nền dân chủ Việt Nam” - Ảnh: T.Hùng

Thùng phiếu nhuộm đỏ máu đào

Trong ngày bầu cử 6-1-1946 tại Nam bộ, câu hỏi được nhiều người dân hỏi nhất là: “Chủ tịch Hồ Chí Minh có ứng cử không?”. Nhiều người thậm chí chưa biết nhiều về khái niệm Quốc hội, nhưng đối với họ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã là một khái niệm gần nhất để họ hình dung về đất nước. Nhiều người khi bỏ phiếu đã cẩn trọng hỏi tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm ở đâu trong lá phiếu để bầu cho đúng. Ban tổ chức đã phải nhiều lần thanh minh rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử tận Hà Nội chứ không ứng cử ở đây, người Cần Thơ phải bầu những người ở chính Cần Thơ để đại diện cho mình. Ông Mẫn nhớ lại: “Không có cảnh một người đi bầu cho cả nhà. Ai cũng muốn tận tay mình bầu một lá phiếu cho nền dân chủ Việt Nam”.

Ông Mười Mẫn đã đẽo thanh tre cho thiệt đẹp rồi chấm vô đĩa mực tàu, viết nắn nót dòng chữ: “Toàn dân tích cực tham gia tổng tuyển cử bầu Quốc hội”. Tờ giấy có chiều cao hơn gang tay, dài chừng sải tay thành một băngrôn treo ngay trước điểm bầu cử. Những tấm đệm bàng được căng lên thành những phòng đăng ký danh sách, phòng bỏ phiếu kín. Một cái bàn gỗ mượn từ nhà dân được đặt cạnh thùng phiếu, những người trong đội tuyên truyền ngồi tại chỗ hướng dẫn người dân cách thức bỏ phiếu hợp lệ, viết giúp phiếu bầu cho phần lớn những người dân chưa hề được cầm viết một ngày.

Bên kia bờ sông là xã Vĩnh Xuân bị quân đối phương chiếm đóng ngày đêm, bên này đường người ta rục rịch kéo nhau đi bầu cử. Ngày 6-1-1946, những thùng phiếu từ bên kia đường chuyển sang bên này đường, đến từng ngôi nhà rồi vội vàng được chuyển đi tránh con mắt hội tề. Các xã bị chiếm đóng của Trà Ôn bấy giờ là Mỹ Hòa, Đông Thành… cũng phải bầu cử như vậy. Nhiều nhân viên bầu cử phải ôm thùng phiếu ra vào nhiều lần mới lấy hết số phiếu cử tri. Rất nhiều nhân viên các tổ bầu cử đã hi sinh khi làm nhiệm vụ ôm thùng phiếu đến các khu dân cư trong vùng quân đối phương chiếm đóng. Máu họ nhuộm đỏ những thùng phiếu cho khát vọng độc lập, chủ quyền.

Tất cả những ứng cử viên vùng Cần Thơ ngày ấy đều là những trí thức, những nhà cách mạng ít nhiều đã có những đóng góp cho phong trào kháng chiến. Cần Thơ lúc bấy giờ có sáu đại biểu là Phan Lương Báu, Trần Ngọc Danh, Đặng Văn Quang, Trần Ngọc Quế, Đỗ Văn Y và Nguyễn Đăng. Họ đều là những người trí thức được đồng bào tín nhiệm. Ông Mười Mẫn cho hay tiêu chí duy nhất để người dân tín nhiệm là thời gian tham gia công cuộc giành và giữ chính quyền của các ứng cử viên.

NGUYỄN VĂN TIẾN HÙNG

Quốc hội khóa I (1946-1960) bầu ngày 6-1-1946

Tổng số đại biểu: 403.

Gồm 333 đại biểu được dân bầu, 70 đại biểu không qua bầu cử, trong đó có 20 đại biểu thuộc Việt Nam Cách mạng đồng minh hội và 50 đại biểu thuộc Việt Nam quốc dân đảng.

Thành phần xã hội trong Quốc hội khóa I như sau:

– Trí thức: 61%.

– Công kỹ nghệ gia: 0,6%.

– Buôn bán: 0,5%.

– Thợ thuyền: 0,6%.

– Nông dân: 22%.

Về tuổi tác:

– Đại biểu từ 18 đến 25 tuổi: 0,7%.

– Đại biểu từ 26 đến 40 tuổi: 70%.

– Đại biểu từ 41 đến 50 tuổi: 18%.

– Đại biểu từ 51 đến 70 tuổi: 0,5%.

(Nguồn: 60 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2006, NXB Thông Tấn 2006)

Ngày 6-1-1946, thủ đô Hà Nội thức dậy cùng những tiếng hô khẩu hiệu, đồng thanh hát những bài ca cách mạng. “Chúng tôi tham gia là vì tin tưởng vào chính quyền cách mạng, tin tưởng vào cụ Hồ”. Lần đầu tiên họ được tham gia ngày hội về quyền con người.

Kỳ tới: Ngày hội của niềm tin

Tuổi trẻ Online

Ngày bầu cử đầu tiên – Kỳ 3

Lá phiếu trong khói lửa

Nhân dân Nam bộ đi bầu cử ngày 6-1-1946 - Ảnh tư liệu

TT – Chúng tôi chuẩn bị bỏ phiếu, một chiếc máy bay Nhật quần đảo trên đầu rồi giội bom xuống. Khói lửa ngút trời. Ai đó hét cho mọi người tản ra rồi chờ ngớt khói lửa thì quay lại bỏ phiếu tiếp. Ở nội thành Sài Gòn, họng súng của quân Pháp lăm le giương cao, sẵn sàng xả đạn để phá hoại cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước VN độc lập.

>> Kỳ 1: Thu phục thù trong giặc ngoài
>> Kỳ 2: Tiếng dân trên báo

Lá phiếu thấm máu

26 tuổi, tôi rời Trường Luật ở Hà Nội, trở về miền Nam với gánh nặng của lời thề tại đền thờ vua Hùng ở miền Bắc. Tôi nhớ ngày ấy, luật sư Dương Đức Hiền (sau này là bộ trưởng Bộ Thanh niên trong Chính phủ Hồ Chí Minh) đã gióng 10 tiếng chuông lễ và trịnh trọng đọc lời thề: “Thề trước vong linh tổ tiên rằng tuổi trẻ chúng tôi nguyện tiếp tục sự nghiệp cứu nước của cha ông, không hề lùi bước trước cạm bẫy, đàn áp của quân cướp nước”. Cho tới tận bây giờ, tôi không thể nào quên cảnh hàng ngàn học sinh, sinh viên đã cúi rạp người lên tiếng: “Xin thề!” vang vọng cả núi rừng. Gánh nặng trên vai ấy càng nặng hơn khi tôi trở thành ứng cử viên đại biểu Quốc hội trong đợt tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa mới thành lập.

Chứng nhân lịch sử: ông Huỳnh Văn Tiểng sinh năm 1920, đắc cử đại biểu Quốc hội năm 1946, là thành viên liên tục năm khóa của Quốc hội từ năm 1946-1975. Ông là giám đốc đầu tiên của Đài truyền hình TP.HCM - Ảnh: T.Hùng

Trưởng ban tổ chức tổng tuyển cử thành phố Sài Gòn lúc bấy giờ là anh Nguyễn Văn Tư, anh em còn gọi là Tư Carê, vốn là công nhân Hãng Ba Son, ủy viên ban lãnh đạo Công đoàn Sài Gòn, ủy viên Ủy ban kháng chiến nội thành Sài Gòn.

Ngày đó, ban tổng tuyển cử sau khi bàn bạc, quyết định công tác tuyên truyền sẽ được chia làm hai địa bàn với tính chất khác nhau. Địa bàn thứ nhất gồm các vùng ngoại thành: Vườn Thơm, Gò Xoài, Bình Chánh, Bình Xuyên, Bà Quẹo, Bà Điểm, Thủ Đức, An Phú Đông, Nhà Bè… Khu vực này chính quyền cách mạng làm chủ, có thể chủ động tổ chức tuyên truyền ngày cũng như đêm về thể lệ, yêu cầu về mục đích ý nghĩa của một cuộc tổng tuyển cử. Người dân ngoại thành ồ ạt đăng ký vào danh sách cử tri. Ban tổ chức lập ra nhiều tiểu ban kiểm tra các phòng phiếu.

Những đợt bỏ phiếu liên tục bị ngắt quãng vì những trận càn quét dưới đất và trên không. Cuộc phổ thông đầu phiếu vùng ngoại thành diễn ra suốt ngày đêm 6-1-1945, như một “phép thử” đối với chính quyền cách mạng còn non trẻ của vùng ngoại thành Sài Gòn.

Địa bàn thứ hai, địa bàn khó nhất, là nội thành Sài Gòn. Bởi chúng tôi biết Sài Gòn những ngày bị tái chiếm là họng súng, lưỡi lê, là mạng lưới mật thám sẵn sàng rình rập, bắt bớ ngăn cản, thậm chí ám sát các đại biểu để có thể chặn đứng cuộc tổng tuyển cử đầu tiên. Tuy du kích nội thành hoạt động sôi nổi để “trừ gian, diệt tề” và gần như làm chủ thành phố về đêm và được sự hỗ trợ của lực lượng du kích ngoại thành từ miền Tây, miền Đông, Bình Xuyên…, nhưng đó là những cuộc chiến thoắt ẩn, thoắt hiện và về mặt chính thức, ban tổ chức tổng tuyển cử không thể mở những cuộc tuyên truyền rộng lớn như ngoại thành.

Trong bối cảnh đó, cán bộ ban tổ chức len lỏi từng gia đình giải thích ý nghĩa, mục đích của tổng tuyển cử và vận động đồng bào nội thành đến tham gia sinh hoạt ở các vùng ven đô. Sau đó, ban tổ chức bí mật đưa các đoàn đại biểu nội thành qua các vòng vây của đối phương ở Phú Thọ, Bà Quẹo…, để qua các vùng đầm lầy của khu vực nông trường Lê Minh Xuân, Phạm Văn Cội bây giờ để đến với An Phú Đông.

Và máu đã đổ. Những cuộc phục kích, bố ráp của quân đối phương đã diễn ra. Có những chuyến đi trót lọt, nhưng chuyến về trở thành những giao tranh đẫm máu. 37 cán bộ ban tổ chức bầu cử đã ngã xuống để bảo vệ những thùng phiếu và những cử tri của mình. Và anh Tư Carê cũng đã ra đi trong ngày gần cuối của đợt bầu cử. Lá phiếu đã thấm đượm nhiều máu, cái giá của độc lập chủ quyền được trả bằng máu của đồng đội, bạn bè tôi.

Ở tuổi 26, tôi đã trở thành một trong những nghị viên đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Kế sách Hồ Chí Minh

Anh Hoàng Quốc Việt thúc giục liên tục: Chuẩn bị lên đường, chuẩn bị lên đường gấp! Vừa bỏ xong lá phiếu của ngày 6-1-1946, chúng tôi lên đường ra Bắc. Nhiệm vụ của những ứng cử viên miền Nam ngoài chuyện bảo vệ bản thân mình khỏi những âm mưu ám sát, bắt cóc của đối phương còn phải có mặt kịp thời tại miền Bắc sau khi có kết quả bầu cử. Chúng tôi phải có mặt tại Hà Nội để chứng minh có một Quốc hội hợp pháp đại diện cho cả dân tộc VN đã được người dân Việt bầu chọn. Đại biểu Nam bộ sẽ là một minh chứng hùng hồn nhất về Quốc hội của nước VN thống nhất.

Ngoài đại biểu Tôn Đức Thắng đi bằng thuyền, những người còn lại trong đoàn của Sài Gòn đi bằng đường bộ. Chúng tôi phải sử dụng toàn bộ các phương tiện có được, từ đi ngựa, đi bộ, đi voi, thuyền… vượt qua rừng sâu núi cách để bằng mọi giá phải về tới Hà Nội đúng ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội đầu tiên. Lúc đầu, chúng tôi đi thuyền. Có đoạn ở cực Nam Trung bộ phải đi bằng ngựa, voi, có lúc bị cọp Khánh Hòa rình rập, nhiều lần bị phục kích ở Quảng Nam, Thừa Thiên.

Từng có hàng chục ngày, anh em trong đoàn sống bằng gạo muối và rau tàu bay. Ra đến Hà Nội, tất cả bị sốt rét. Tôi không dự được ngày họp đầu tiên của Quốc hội. Đến lần họp sau (15-3-1946), tôi đại diện cho đại biểu miền Nam đứng lên tố cáo việc Pháp chiếm đóng trái phép Nam bộ và việc chỉ định 70 đại biểu của Việt Nam quốc dân đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh hội vào Quốc hội mà không qua bầu cử. 26 tuổi, tôi – một trí thức trẻ – đầy ắp nhiệt tình và hết sức hùng biện.

Sau cuộc họp, tôi được Bác Hồ gọi lên và chắc mẩm mình sẽ được khen vì bài hùng biện. Không ngờ, Bác nói đơn giản: “Chú nói rất tốt nhưng phải lưu ý kiểm tra được những điều mình đang nói!”. Tôi bối rối: “Thưa Bác, tất cả những điều đó cháu đã bàn bạc với đoàn trước khi nói”. Bác bảo: “Biết rồi, nhưng ta có thể nói một cách khác mà!”. Tôi hỏi cách nào, Bác lúc đó đứng cách tôi 2m, cầm lấy cây viết chì của Người rồi bất ngờ quăng vào bụng tôi. Tôi giật thót người. Bác cười: “Đó là cách thứ nhất. Và đây là cách thứ hai”. Người nhặt cây bút chì lên, đưa tận tay tôi: “Hãy cầm và đưa trong yên ổn, hòa bình!”. Tôi bừng tỉnh trong một cảm giác có chút xấu hổ và tự hào được Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy cho một bài học đầu tiên về ứng xử trong thời cuộc đầy thách thức.

Một hiện tượng chính trị đầu năm 1946 ở Sài Gòn (sau khi bị thực dân Pháp tái chiếm 3-4 tháng) là Ủy ban hành chính thành phố (đóng ở ngoại ô tây nam) đã tổ chức thành công cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. 40.000 cử tri nội thành đã bỏ phiếu bầu những đại biểu xứng đáng: Tôn Đức Thắng, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Văn Trấn, Hoàng Đôn Văn, Nguyễn Văn Tư. Không có phòng bỏ thăm cố định cho mỗi khu phố nhưng ở khu phố nào, kể cả các khu phố trung tâm, đều có cán bộ chiến sĩ đem thùng phiếu tới nhà, tới ngõ cho đồng bào bỏ thăm. Cả Sài Gòn – Chợ Lớn có hàng trăm thùng phiếu như vậy. 42 cán bộ, chiến sĩ ở Sài Gòn – Chợ Lớn đã hi sinh.

(Nguồn: Địa chí văn hóa TP.HCM và 60 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2006, NXB Thông Tấn 2006)

HUỲNH VĂN TIỂNG (Nguyễn Văn Tiến Hùng ghi)

Khói lửa chiến tranh lan thành hình vòng cung từ Vĩnh Long đến tận Cần Thơ. Bên kia đường là đối phương chiếm đóng ngày đêm, bên này đường người ta kéo nhau đi bầu cử. Ai cũng muốn tận tay mình bỏ phiếu cho nền dân chủ Việt Nam.

Kỳ tới: Bầu cử ở miệt cù lao

Tuổi trẻ Online

Ngày bầu cử đầu tiên – Kỳ 2

Tiếng dân trên báo

TT – Dù cả nước có tới trên 90% người mù chữ, nạn đói vẫn hoành hành, phương tiện và công nghệ truyền thông lạc hậu, thiếu thốn; nhưng không khí tự do, dân chủ, minh bạch và công bằng trên các tờ báo giấy đen, in viết thủ công cũng đủ thổi vào đời sống từ thành thị đến thôn quê một luồng cảm hứng chính trị nồng nhiệt, chân thành. Đó là cảm hứng của người làm chủ cuộc đời.

>> Kỳ 1: Thu phục thù trong giặc ngoài

“Bạn cố mà vận động đi”

Những tháng đầu năm 1945, báo chí cũng giống như mọi lĩnh vực khác đều trở nên nghèo nàn, uể oải bởi chiến sự, nạn đói và loạn lạc. Nhưng sau Cách mạng Tháng Tám, đặc biệt là khi sắc lệnh tổng tuyển cử được ban hành thì chưa bao giờ báo chí, nhân dân quan tâm đến chính trị như vậy. Các đảng phái, lực lượng ngoài Việt minh có khá nhiều ấn phẩm như Việt Nam, Thiết Thực, Đồng Tâm… thì Việt minh và các tổ chức dân chủ yêu nước có các báo Độc Lập, Cứu Quốc, Sự Thật, Cờ Giải Phóng… và các báo địa phương như Việt Nam Độc Lập của Việt Minh Cao Bắc Lạng. Các báo đều dành 80-100% lượng thông tin về tổng tuyển cử. Diễn đàn báo chí đăng tải đủ mọi quan điểm, vùng miền, tầng lớp, mọi giới quyền lợi xung quanh ứng cử và bầu cử.

Đặc biệt, Quốc Hội là tờ nhật báo duy nhất chuyên phản ánh, tuyên truyền cho tổng tuyển cử. Sứ mệnh của tờ báo này chỉ tồn tại đến khi kết thúc tổng tuyển cử. Báo mang tên Quốc Hội do ông Trần Hữu Tri làm chủ nhiệm, trụ sở tại 71 Hàng Trống, Hà Nội (địa chỉ của báo Nhân Dân ngày nay), giá bán 8 hào/tờ. Bình thường ra hai trang/số. Những số đặc biệt ra bốn trang. Báo ra tổng cộng 15 số, từ 17-12-1945 đến 6-1-1946 (thỉnh thoảng có ngày không xuất bản).

Mục đích của báo: định rõ giá trị tổng tuyển cử đối với người trong và ngoài nước; giải thích thể lệ tổng tuyển cử cũng như quyền hạn bổn phận của cử tri và giúp những người ứng cử một cơ quan vận động để giới thiệu khả năng, thành tích và chương trình của mình… Số đầu tiên, báo đã có bài hướng dẫn người tự ra ứng cử. Bài viết: “Bạn cố mà vận động đi! Vận động bằng bất cứ cách nào bạn thích: truyền đơn, biểu ngữ, báo chí, vô tuyến truyền thanh, diễn thuyết… Bạn cứ việc vận động một mình nhưng cũng không ai cấm bạn đi tìm mấy người nữa cùng ra ứng cử trong hạt của bạn… Muốn tất cả mọi công việc được dễ dàng bạn nên liên lạc với ủy ban vận động tuyển cử…”.

Chuyên mục cố định “Chúng tôi phỏng vấn” của báo Quốc Hội số nào cũng đăng bài trao đổi của phóng viên với 1-4 ứng viên. Những nhân vật được phỏng vấn thuộc đầy đủ các giới, lực lượng, tầng lớp. Các ứng viên đưa ra những quan điểm, chương trình kế sách khác nhau nhưng đều chung tâm nguyện: độc lập, đoàn kết và vì nhân dân. Các ứng viên rất thẳng thắn góp ý với dự thảo hiến pháp như: cắt bớt quyền hạn của chính quyền địa phương hay tăng quyền tự chủ của nhân dân. Nhà thơ Xuân Diệu nói: “Tôi sẽ bênh vực cái quyền bãi miễn của dân chúng. Có cái quyền ấy thì mới không ăn hiếp dân được. Không gì khả ố bằng sự ăn hiếp dân”. Phát biểu trên báo, ứng viên nào cũng nói về sở trường, thế mạnh của mình như về tài chính, chăn nuôi, kinh doanh thương mại, y tế, giáo dục… kèm theo những mong muốn có điều kiện giúp dân giúp nước.

“Muốn lo việc nước thì ra ứng cử”

Nhật báo Quốc Hội ra 15 số để phục vụ tổng tuyển cử đầu tiên của nước nhà - Ảnh: Q.Thiện

Trên trang 2 báo Quốc Hội số 3 ra ngày 19-12-1945 trong mục thông báo có đoạn: Thể lệ phát thanh dành cho tất cả mọi người có nhu cầu tự vận động bầu cử trên đài phát thanh. Thời gian từ 5g30-6g30 mỗi buổi chiều. Bất cứ ứng viên nào cũng có thể tham gia, chỉ cần đăng ký và nộp tiền.

Ứng viên sẽ đem đến nhà đài các bài viết giới thiệu về mình hoặc về các chương trình kiến thiết quốc gia của mình và thuê đài đọc. Giá tiền 40 đồng Đông Dương/trang. Khổ giấy thương mại 21×27, chữ đánh máy cách nhau hai dòng. Trên nửa trang thì tính tiền cả trang. Dưới nửa trang cũng tính nửa trang. Bài phải qua kiểm duyệt (theo thể lệ vận động: không đả kích lăng mạ người khác, không phản lại quyền lợi dân tộc, tinh thần độc lập, dân chủ…). Đưa bài trước 24 tiếng để rao cho công chúng đón nghe… Nhà nghiên cứu Lê Mậu Hãn nói: đây là một trong những hình thức vận động bầu cử tiến bộ, dân chủ và công bằng nhất trên thế giới lúc đó.

Ngoài ra các ứng viên còn ra sức in truyền đơn, tổ chức các buổi tuần hành, mittinh, diễn thuyết, đối thoại với công chúng. “Toàn là những phương pháp lịch sự, nhã nhặn với một tinh thần rộng rãi, một ý nghĩa cao quí” (báo Quốc Hội số 5 ngày 21-12-1945). Bất cứ một dấu hiệu thiếu minh bạch hay thiếu công bằng nào cũng có thể bị phát giác và đả kích. Trên các diễn đàn tranh cử cũng luôn nóng bởi những cuộc tranh luận. Tinh thần “Hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử” được Hồ Chủ tịch hiệu triệu thấm nhuần đến tất cả những nhà cách mạng, nhân sĩ trí thức, kỳ hào và cả những người giới cần lao…

Mặc dù dân trí, công nghệ và các phương tiện vận động hết sức đơn giản thô sơ nhưng tỉnh nào cũng có số ứng viên gấp rất nhiều lần tỉ lệ trúng cử. Chủ yếu là người tự ứng cử. Hà Nội lấy sáu đại biểu thì số người ứng cử tới 47. Kiến An lấy 7 thì ứng cử 60. Hà Nam lấy 7 thì cũng ứng cử 52. Và vì vậy Quốc hội đầu tiên của VN đã có 333 đại biểu và 43% số đó là những đại biểu không thuộc đảng phái nào. 57% còn lại thì cũng đại diện cho nhiều đảng phái khác nhau. Chính Quốc hội khóa này, những vị đại biểu này đã trực tiếp chèo lái con thuyền đất nước vượt qua muôn trùng sóng gió buổi khai sinh để đi đến hôm nay.

Cử tri Hà Nội xem danh sách và tiểu sử ứng cử viên trong ngày bầu cử Quốc hội 6-1-1946 - Ảnh tư liệu

Ngày 10-12-1945, danh sách ứng cử viên khu vực Hà Nội được niêm yết rộng rãi. Trong danh sách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng thứ hai sau cụ Nguyễn Văn Tố. Tất cả có 74 ứng cử viên, chọn lấy sáu đại biểu. Một điều bất ngờ với Chủ tịch Hồ Chí Minh là trước ngày tổng tuyển cử, tại Hà Nội, 118 chủ tịch các ủy ban nhân dân và tất cả các đại biểu làng xã tại Hà Nội đã nhất trí công khai một bản kiến nghị yêu cầu cụ Hồ Chí Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc tổng tuyển cử vì Cụ đã được toàn dân suy tôn là Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.Đáp lại nguyện vọng trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời đồng bào: “Tôi rất cảm động được đồng bào quá yêu mà đề nghị: tôi không phải ra ứng cử, đồng bào các nơi khác khắc cử tôi vào Quốc hội. Nhưng tôi là một công dân của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của cuộc tổng tuyển cử đã định. Tôi ra ứng cử ở Hà Nội, nên không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa. Tôi xin cảm tạ đồng bào đã có lòng yêu tôi và yêu cầu toàn thể đồng bào hãy làm tròn nhiệm vụ người công dân trong cuộc tổng tuyển cử sắp tới”.

Chiều 5-1-1946, Bác đến khu học xá (nay là Trường đại học Bách khoa Hà Nội) cùng các ứng cử viên gặp gỡ cử tri. Hôm ấy, trước đông đảo quần chúng có mặt, Bác nói với các ứng viên: “Vừa rồi đây, ta vừa giành được độc lập. Một số ít người đã quên cái công khó nhọc của dân chúng. Ta đã phải hi sinh nhiều mới có cái quyền cầm lá phiếu ngày nay đó”. Bác nhắc nhở các ứng cử viên: “Làm việc nước bây giờ là hi sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ đến lợi chung”. Hướng về các cử tri, Bác căn dặn: “Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai, không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”.

Hơn 90% tổng số cử tri đã tham gia cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước nhà.

(Nguồn: TTXVN và tư liệu của đồng chí Vũ Kỳ)

QUANG THIỆN

_____________________

Tại Sài Gòn, những đợt bỏ phiếu liên tục bị ngắt quãng vì những trận càn quét dưới đất và trên không. “Chúng tôi chuẩn bị bỏ phiếu, một chiếc máy bay Nhật quần đảo trên đầu rồi giội bom xuống. Khói lửa ngất trời”.

Kỳ tới: Lá phiếu trong khói lửa

Tuổi trẻ Online

Anh phụ bếp và tư tưởng cách mạng (*)

TTO – Mỗi một câu chuyện nhỏ về anh Ba ngày ấy, giờ đọc lại, chúng ta đều thấy toát lên tinh thần, con người và sự nghiệp vĩ đại của Người. Điều đó giải thích vì sao sau bao nhiêu năm thăng trầm của cuộc đời, những người bạn đã từng sống và làm việc với Người lại vẫn nhớ rõ hình ảnh anh Ba, anh phụ bếp kỳ lạ ấy đến thế…

>> 5-6-1911: Chuyến ra đi lịch sử
>> Theo dấu chân anh Ba

……………………………..

Ông Thanh, thư ký công đoàn thủy thủ Vinh, giới thiệu tôi với ông Nam. Sau khi chào hỏi, tôi đi ngay vào câu chuyện về anh Ba.

Ông Nam là một người làm bánh rán có tiếng trong thành phố. Ông ta ở trong Ban Chấp hành Công đoàn cứu quốc hải ngoại. Ông có năm người con trai, hai người đi bộ đội và hai người vào tự vệ; người con thứ năm học ở trường đại học Hà Nội; cô Nam, con gái trẻ đẹp 18 xuân xanh và con út của ông bà Nam làm cứu thương.

Ông Nam kể:

“Trước tôi làm việc ở tiệm ăn Các–lơ–tông, một tiệm sang có tiếng ở Luân Đôn. Người làm bếp độ trăm người đủ các hạng. Có cả người Pháp, người Anh, người Đức, người Nga, người châu Á và tôi người Việt Nam. Chính ông Ét-cốp-phi-e, ông vua đầu bếp, được huân chương danh dự, điều khiển nhà bếp. Về ông Ét-cốt-phi-e, có một chuyện đáng kể lại: Tài nấu bếp của ông ta, thế giới đều biết. Những chủ quán lớn nhất trên thế giới trả tiền rất nhiều để mời ông ta làm chủ bếp. Khi có những yến tiệc lớn, người ta mời ông đến làm thức ăn và điều khiển nhà bếp. Lần vua Đức sang thăm Luân Đôn, vua Anh mời ông Ét-cốt-phi-e phụ trách bữa tiệc. Và tất nhiên với một số lương rất hậu. Ông già Ét-cốt-phi-e kiêu hãnh trả lời: “Tôi là người Pháp. Tôi không nấu cho kẻ thù của dân tộc tôi”.

“Vâng, bây giờ chúng ta nói chuyện anh Ba. Vào khoảng một năm trước đại chiến, một hôm, tôi gặp ở phòng lau chùi thìa, nĩa, một người Á đông trẻ tuổi. Tôi không để ý đến anh ấy vì tôi tưởng anh ấy là người Trung Quốc. Đến ngày thứ ba, chính anh ấy đến nói chuyện với tôi bằng tiếng Việt Nam. Cố nhiên tôi rất sung sướng được gặp một người đồng hương. Từ ngày ấy, chúng tôi trở nên đôi bạn thân.

“Ai đưa anh đến đây, đến nước Anh?” – Tôi hỏi anh Ba.

“Tôi đến đây một mình để học tiếng Anh”.

“Hay đấy, nhưng tiếng Anh rất khó học. Đã hai năm tôi ở thành phố này mà không biết hơn, ngoài hai chữ Yes và No (vâng và không).”

“Phải học chứ. Chúng ta sẽ cùng nhau học.”

“Trước khi đến đây, anh làm ở đâu?”

“Hôm thứ nhất, tôi nhận việc cào tuyết trong một trường học. Một công việc rất mệt nhọc. Mình mẩy tôi đẫm mồ hôi mà tay chân thì rét cóng. Và cuốc được đống tuyết cũng rất khó khăn vì tuyết trơn. Sau tám giờ làm công việc này, tôi mệt lử và đói bụng. Tôi đành phải bỏ việc. Ông hiệu trưởng là một người tốt. Ông ấy trả cho tôi cả ngày làm việc sáu đồng và vừa nói vừa cười: “Chính thế, công việc này quá sức anh”.

Hai ngày sau tôi tìm được một việc khác. Lần này thì phải đốt lò. Từ năm giờ sáng, một người nữa với tôi chui xuống hầm để nhóm lửa. Suốt ngày chúng tôi đổ than thay than trong lò. Ở đây thật đáng sợ. Luôn luôn ở trong cảnh tranh tối tranh sáng. Tôi không biết người ta làm cái gì ở tầng trên, vì không bao giờ tôi lên đấy. Người bạn tôi là một người âm thầm, có lẽ anh ta câm. Suốt hai ngày làm việc, anh ta không hề nói một tiếng. Anh vừa làm việc vừa hút thuốc. Khi nào anh ta cần tôi làm việc thì anh ta ra hiệu. Nhưng không nói một tiếng. Trong hầm hết sức nóng, ngoài trời hết sức rét, và không có đủ quần áo, tôi luôn bị cảm. Vì vậy, tôi nghỉ việc luôn hai tuần lễ. Với số tiền để dành, tôi trả tiền phòng, tiền bơ và bánh mì, và sáu bài học chữ Anh. Khi chỉ còn sáu hào nữa, tôi đến sở tìm việc ở Sô–hô, và người ta đưa tôi đến đây”.

Công việc làm từ tám giờ đến mười hai giờ và chiều từ năm giờ đến mười giờ. Hàng ngày, buổi sáng sớm và buổi chiều, anh Ba ngồi trong vườn hoa Hay–đơ (Hyde), tay cầm một quyển sách và một cái bút chì. Hàng tuần vào ngày nghỉ, anh đi học tiếng Anh với một giáo sư người Ý. Ba thường khuyên tôi nên học như Ba, nhưng tôi hết sức lười, bây giờ tôi mới tiếc.

Mỗi ngày có một người dọn dẹp đồ đạc. Những người phục vụ, sau khi dọn chỗ khách ăn, phải dọn bát đĩa bỏ tất cả chén bát và thức ăn lẫn lộn vào trong một cái thang điện đưa xuống bếp. Lúc bấy giờ người dọn dẹp phải để đồ đạc riêng một bên, bát đĩa để riêng một bên để người ta đem đi rửa. Khi đến lượt anh Ba, anh làm rất cẩn thận. Đáng lẽ vứt thức ăn thừa vào một cái thùng, đôi khi còn cả phần tư con gà, những miếng bít-tết to tướng… thì anh giữ gìn sạch sẽ và đưa lại cho nhà bếp. Chú ý đến việc này, ông già Ét-cốp–phi–e hỏi anh: “Tại sao anh không quẳng thức ăn thừa vào thùng, như những người kia?”

“Không nên vứt đi. Ông có thể cho người nghèo những thứ ấy.”

“Ông bạn trẻ của tôi ơi, anh nghe tôi…”, ông Ét-cốt–phi–e vừa nói vừa cười và có vẻ bằng lòng, “…tạm thời anh hãy gác ý nghĩ cách mạng của anh lại một bên, và tôi sẽ dạy cho anh cách làm bếp. Làm ngon và anh sẽ được nhiều tiền. Anh bằng lòng chứ?”

Và ông Ét-cốt–phi–e không để cho anh Ba phải rửa bát nữa mà đưa anh vào chỗ làm bánh, với một số lương cao hơn.

Thật là một việc lớn xảy ra trong nhà bếp, vì chính là lần đầu tiên mà ông “vua bếp” làm như thế. Anh Ba rất giàu tình cảm. Một hôm tôi gặp anh cầm tờ báo và chảy nước mắt. Tôi hỏi anh vì sao buồn thế. Anh đưa cho tôi tờ báo và giải thích: “Anh xem đây. Đây là tin tức ông thị trưởng Coóc (Cook), một nhà đại ái quốc Ailen. Ông ta bị bắt và bị người Anh bỏ tù. Ông ta tuyệt thực. Không những ông không ăn uống, mà còn không nói năng, không cử động nữa. Ông nằm nghiêng một phía im lìm như thế hơn bốn mươi ngày. Da thịt và áo quần phía ấy thối hết. Và ông chết, chết vì Tổ quốc. Can đảm biết bao! Dũng cảm biết bao! Một dân tộc có những người như ông Coóc sẽ không bao giờ đầu hàng.

Chúng ta cũng thế, chúng ta có những người can đảm như ông thị trưởng Coóc. Anh có biết chuyện cụ Tống Duy Tân không? Tôi kể cho anh nghe: Cụ Tống Duy Tân là một nhà đại trí thức, đấu tranh dũng cảm chống bọn xâm lược Pháp. Cụ bị bắt và nhốt vào trong một cái cũi để gửi đến Bộ Tổng tư lệnh Pháp. Ngồi trong cũi, Cụ vẫn làm thơ yêu nước. Khi hết giấy, cụ bẻ gẫy quản bút, lấy cật tre làm dao, và mổ bụng, cắt ruột tự tử. Trong những tờ giấy tìm thấy trong cũi, cuối những bài thơ, người ta còn đọc những chữ: “Thà chết còn hơn đầu hàng”.

Tôi tôn kính tất cả những Tống Duy Tân. Tôi sùng kính tất cả thị trưởng Coóc. Cái chết của họ làm cho tổ quốc họ sống lại, lòng can đảm của họ bất diệt.”

Thế giới đại chiến bùng nổ. Người Pháp ở Luân Đôn nhận lệnh động viên. Nhiều người khóc, nhất là những người đàn bà Pháp.

Người Đức bị bắt nhốt vào trại tập trung. Họ cũng khóc. Lính Anh bị đưa ra mặt trận, cha mẹ, vợ con họ đều khóc.

Anh Ba đến nói với tôi:

“Xin từ biệt anh Nam.”

“Anh đi đâu?”

“Tôi đi Pháp.”

“Không nói chơi chứ? Nước Pháp đang có chiến tranh. Anh đến Pháp làm gì?”

“Tôi đi xem. Tôi sẽ viết thư cho anh.”

Anh Ba bắt tay tôi, chúng tôi hôn nhau. Và cứ thế anh Ba đi, không hành lý. Chiến tranh tiếp tục. Lính Anh bị thương trở về. Cả những người lánh nạn Bỉ cũng đến. Các công việc đều đình trệ. Lôi–Gioóc (Loyd George) lật đổ At–quish (Asquish) và lên làm thủ tướng. Số người nhà bếp của chúng tôi chỉ còn lại một nửa. Đồng vàng và đồng bạc không lưu hành ở Pháp nữa. Quân Đức đã tiến đến sông Mác–nơ (Marne). Nước Pháp bị ngạt thở vì khói lửa chiến tranh. Ở Anh, các thức ăn, thức dùng đều bị Chính phủ hạn chế.

Sau khi rời Luân Đôn, anh Ba viết thư cho tôi. Đại ý thế này:

“Tôi đã gặp nhà ái quốc Phan Chu Trinh. Anh biết không? Ông bị án tử hình. Nhờ hội Nhân quyền và ông Giô–rét (Jaurès) can thiệp, ông Phan được thả và sang Pa–ri. Tôi cũng gặp luật sư Phan Văn Trường và những người khác. Tôi nói với họ: Trong khi vua Duy Tân nổi dậy ở Huế, nhân dân Thái Nguyên và nhiều nơi khác khởi nghĩa, thì chúng ta phải làm gì chứ?”

Từ ngày ấy. Tôi không biết gì về anh Ba nữa…

TRẦN DÂN TIÊN
Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Trẻ, 2005

(còn tiếp)

……………………………

(*): tiêu đề do TTO đặt

Tuổi trẻ Online

Theo dấu chân anh Ba

TTO – Những mẩu chuyện về anh Ba thuở ấy chỉ là những mẩu chuyện góp nhặt. Góp nhặt nhưng độ chân xác của nó được tất cả mọi người tin tưởng, vì chính bản thân con người Hồ Chủ tịch và tinh thần, tư tưởng của Người mồn một trong từng câu chuyện…

>> 5-6-1911: Chuyến ra đi lịch sử

“Tôi là thanh niên, tôi làm được…” (*)

Theo địa chỉ ông Mai mách, anh Trần, người cộng tác trẻ của tôi, đến gặp ông Dân ở Nha Trang. Đây là những điều anh Trần ghi chép: “Ông Dân sáu mươi hai tuổi, chủ một cửa hàng nhỏ sạch sẽ và đông khách, nhà đông con. Ông ta tiếp tôi niềm nở và kể chuyện:

“Tôi có hai con trai đi Vệ quốc quân và một con gái đi cứu thương. Nhà tôi còn ba con nữa; hai mươi hai, hai mươi và mười sáu tuổi, đều là đoàn viên của đoàn Thanh niên cứu quốc. Cả ba đứa đều muốn đi Vệ quốc quân. Khi nào Tổ quốc cần đến chúng nó, tôi sẵn sàng hiến con cho Tổ quốc. Có lẽ điều đó dễ làm cho mẹ cháu buồn, nhưng đàn bà thì bao giờ chẳng thế. Tôi cũng nên nói để ông rõ là bà nhà tôi cũng là đoàn viên phụ nữ cứu quốc. Còn tôi, thủ quỹ của Việt Minh địa phương. Cả gia đình tôi đều làm việc nước. Cả làng này đều thế. Ai cũng là Việt minh, Việt minh, Việt Nam, Việt Nam, Việt minh – Không thể có Việt Nam mà không có Việt minh”.

Ông Dân có tài nói. Ông bắt chuyện này sang chuyện khác rất thần tình. Kéo ông về câu chuyện mà tôi đặc biệt chú ý không phải là dễ. Nhưng sau đó tôi đã thành công.

“Có chứ, tôi còn nhớ anh Ba ấy. Chắc chắn tôi còn nhớ anh ta mặc dầu cách đây đã ba mươi năm.

Tôi ở với ông chủ của tôi ở Xanh A–đơ–ret (Saint–Adresse), một ngoại ô của Ha–vơ–rơ. Một hôm, ông chủ già dẫn về một người trẻ tuổi, gầy yếu, quần áo lôi thôi nhưng có vẻ lanh lợi. Tên anh ta là Ba. Ở nước ngoài mà gặp được một người đông hương thì lập tức người ta dễ trở thành bạn thân. Chúng tôi cũng vậy.

Chúng tôi ở một biệt thự có vườn hoa. Ông chủ già khi rảnh việc thì ở câu lạc bộ thành phố. Bà chủ thường đến nhà người con gái, vợ một nhân viên của công ty. Một bà nấu bếp, một người tốt, nếu anh khéo nịnh thì bà ta cho anh ăn ngon, nhưng khi bà ta cáu thì như một mụ yêu tinh. Một cô sen xinh xinh hay làm dáng, có một “bà mẹ hay ốm” – “Bà mẹ ốm” chính là một chàng thủy thủ. Để đi gặp tình nhân, chị ta lừa chúng tôi luôn và nói là đi thăm mẹ ốm. Trong nhà tất cả là sáu người.

Đồ đồng đánh bóng, đồ đạc lau xong, bàn ghế sạch bụi, thế là ông chủ bà chủ bằng lòng và rất tốt, luôn mồm một điều “con” hai điều “con”. Nhưng phần lớn công việc do cô sen làm. Chị ta muốn cho chóng xong để đi gặp “bà mẹ ốm”.

Vì vậy chúng tôi có rất nhiều thì giờ rảnh. Anh Ba dùng thì giờ chăm bón hoa với người làm vườn hoặc giở những tờ báo có ảnh trong tủ sách ra xem. Sau khi đến được ba ngày, anh hỏi tôi: “Anh Dân, anh có biết chữ quốc ngữ không?”. Tôi hơi thẹn nhưng trả lời thành thật: “Không, tôi không biết”. Anh Ba liền giảng giải và khuyến khích tôi học. Tôi làm theo lời anh. Anh Ba cũng thế, anh học tiếng Pháp với cô sen. Ngày nay tôi đọc được và viết được chính là nhờ anh Ba. Để trả ơn, thỉnh thoảng tôi dẫn anh Ba đi xem chiếu bóng hoặc xem xiếc.

Chúng tôi ở với nhau được một tháng. Một buổi chiều người chủ già đi làm về, nói với anh Ba: “Có một chuyến tàu đi vòng quanh châu Phi. Không có hành khách. Chỉ có hàng hóa. Anh có muốn nhận làm bồi cho các sĩ quan trên tàu ấy không? Họ không đông lắm đâu, và đều là những người tốt, anh sẽ thấy anh không đến nỗi vất vả ở trên tàu. Đồng ý chứ?”

Anh Ba vui vẻ nhận lời. Sau tôi nói với anh: “Ba ơi, khí hậu ở châu Phi rất nóng, nóng hơn ở bên ta. Và một chiếc tàu chở hàng rất tròng trành, rất dễ làm cho anh say sóng. Đi như thế anh dại dột lắm, nhất là một thân một mình, bầu bạn không có…”. Anh Ba nói với tôi: “Anh không nên nói như thế. Tôi là thanh niên, tôi khỏe, tôi chịu được khổ. Và tôi muốn đến xem các nước”.

Ngày hôm sau anh Ba đáp tàu đi, anh có viết thư cho tôi hai ba lần, kể cho tôi nghe vô số chuyện, nói đến người da đen, người Ả-rập, nói đến xứ Tê–nê–ri–pho, xứ Lít–bon, đến những con vẹt… Anh cũng cho biết là người nấu bếp trên tàu cũng là một đồng hương tên là Bốn … Không để cho ông Dân nói hết câu, tôi hỏi: “Ông có biết ông Bốn ấy không?”

“Có, tôi biết. Tôi biết chắc chắn. Anh ta là một người ngớ ngẩn, có khi như là một người điên. Về già, anh ta trở nên khôn ngoan hơn. Anh ta làm việc như một con bò. Anh ta lĩnh được rất nhiều tiền. Nhưng mỗi lần tàu cập bến, anh ta tiêu xài trong hai, ba ngày thì hết sạch số tiện kiếm được trong hai ba tháng. Chả bài bạc gì. Anh ta chỉ thích đi theo gái. Anh ta xấu như con quỷ, nhưng anh ta bắt tình nhân với một cô gái nhảy… Và khi nào hết xu, nàng đuổi anh ra cửa”.

“Bây giờ anh ấy ở đâu?”

“Ông đến Quỳnh Lâm và hỏi Bốn Sẹo thì ở đấy ai cũng biết. Bây giờ anh ta đã khôn ngoan hơn và được mọi người mến”. Để kết luận cuộc phỏng vấn của tôi, tôi hỏi ông Dân:

“Ông có biết anh Ba hiện nay thế nào không?”

“Không, tôi rất tiếc là không biết”.

“Ông có muốn tôi nói cho ông biết không?”

“Còn gì bằng nữa!”

“Ông quay lại xem, anh Ba ấy đây kìa”. Tôi vừa nói vừa chỉ chân dung Hồ Chủ tịch treo trên bàn thờ giữa những bình hoa, bình hương, đèn nến. Ông Dân quay đầu, mở to đôi mắt, há miệng gãi tai. Và ông bật lên như một cái lò xo và kêu:

“Hồ Chủ tịch! Hồ Chủ tịch của chúng ta! A-di-đà-phật! Nhưng làm sao anh biết? Anh nói thật đấy chứ? Ờ, ơ, lạ quá nhỉ. Hồ Chủ tịch là anh Ba ấy ngày xưa. Hay quá nhỉ! Tôi sẽ kể điều đó cho bà nhà tôi nghe, cho các cháu nghe. Chúng nó sẽ mừng biết mấy! Cha của chúng nó được quen biết Cụ Hồ ngày xưa…”

Nhờ anh Ba, tôi trở nên một người khá

Tôi lại tìm đến ông Bốn. Tính tình ông Bốn hoàn toàn khác với ông Dân, và cũng không giống như anh Bốn trai trẻ mà ông Dân đã nói. Đấy là một ông già hơn 60 tuổi, hiền lành. Với một giọng nhè nhẹ, ông kể lại đời mình cho tôi nghe và những mối quan hệ giữa ông với anh Ba hồi ấy. Ông nói:

“Lúc còn trẻ, tôi đi vòng quanh thế giới làm nghề nấu bếp ở trên tàu. Tôi kiếm được rất nhiều tiền. Nhưng tôi không gửi một xu nhỏ về cho gia đình. Tôi chạy theo một cô gái nhảy, có bao nhiêu nó nướng hết.

Tôi đi nhiều, nhưng tôi không thấy gì, không học gì. Tôi hoàn toàn dốt đặc, không biết đọc, chẳng biết viết. Một lần đi trên một chiếc tàu nhỏ chở hàng, tôi có người bạn đồng hương trẻ tuổi, tên là Ba. Sau những giờ làm việc, anh Ba viết và đọc sách. Chính anh đã khuyên tôi học chữ quốc ngữ. Anh Ba có một lối thuyết phục người rất giỏi. Nhờ những lời khuyên bảo và sự giúp đỡ của anh Ba, tôi trở nên một người khá.

Chiếc tàu nhỏ rời Ha–vơ–rơ. Đỗ lại ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, An Giê Ri, Tuy Ni Di và những cửa bể Đông châu Phi cho đến Công Gô. Đến đâu anh Ba cũng để ý xem xét. Mỗi lần tàu cập bến, thế nào anh Ba cũng kiếm cách đi thăm thành phố. Khi trở về, anh có những ảnh và những hộp diêm đầy túi. Anh thích thu thập những thứ ấy.

Đến Đa–ca, biển nổi sóng rất dữ. Tàu không thể vào bờ. Cũng không thể thả ca–nô xuống vì sóng rất to. Để liên lạc với tàu, bọn Pháp trên bờ bắt những người da đen Pháp phải bơi ra chiếc tàu. Một, hai, ba, bốn người da đen nhảy xuống nước. Người này đến người kia, họ bị sóng biển cuốn đi.

Cảnh tượng ấy mọi người coi là thường. Nhưng điều đó làm cho anh Ba hết sức cảm động, anh khóc. Ngạc nhiên, tôi hỏi tại sao? Anh Ba buồn rầu trả lời tôi:

“Những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt. Song những người Pháp thực dân rất hung ác, vô nhân đạo. Ở đâu chúng nó cũng thế. Ở ta, tôi cũng thấy chuyện như thế xảy ra ở Phan Rang. Bọn Pháp cười sặc sụa trong khi đồng bào ta chết đuối vì chúng nó. Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu.”

Chiếc tàu của chúng tôi chở rượu ngon của Boóc–đô và An–giê–ri cho những thuộc địa khác. Tất cả mọi người trên tàu dùng rượu đó. Vì rượu rất nhiều. Tôi đã trông thấy nhiều thủy thủ say rượu suốt chuyến tàu. Chỉ cần dùi một lỗ nhỏ vào thùng rượu, ấn một ống cao su nhỏ vào đấy, hút thật mạnh để đầu ống kia vào một cái chai. Và như thế tha hồ mà uống. Nhưng anh Ba không bao giờ uống rượu và khuyên tôi không nên làm như thế.

Anh Ba rất tốt với mọi người và không bao giờ cãi cọ với ai. Nhưng anh Ba hơi khác thường. Mỗi ngày, anh dậy thật sớm để xem mặt trời mọc. Và trong những đêm trăng, anh hầu như không ngủ, anh đi đi lại lại trên tàu, ngắm trời ngắm bể. Chúng tôi đậu lại ở Tê–nê–rít–pho vào lúc hoàng hôn, biển lặng sóng, hòn đảo giống như một cái chụp đèn khổng lồ để trên mặt biển, phía trên lóng lánh, phía dưới xanh xanh. Chỉ có thế thôi, mà anh Ba ngây người. Anh nhắc đi nhắc lại: “Bốn, anh nhìn kìa! Đẹp quá! Hùng vĩ quá!”

Đến lúc trở về Ha–vơ–rơ, nhớ lời khuyên của anh Ba, tôi không đến thăm cô gái nhảy nữa. Tôi còn đi một vài chuyến, dành được ít tiền thì tôi trở về nước, mở một cửa hàng nhỏ, và lấy vợ. Nghĩ đến tình bạn giữa chúng tôi, tôi đã đặt tên cho đứa con đầu lòng của tôi là Ba, điều đó làm cho những người chung quanh lấy làm lạ. Việc đó cách đây đã ba mươi năm. Ngày giờ đi chóng quá.”

Ông Bốn ngừng lại. Tôi hỏi tiếp:

“Thế còng ông bạn Ba của ông, sau đấy đi đâu?”

“Ba cũng rời chiếc tàu, nói là đi Anh”.

“Tại sao đi Anh?”

“Ba nói để học tiếng Anh”.

“Thế ông có được tin tức của anh Ba không?”

“Có, hai ba lần gì đấy, anh Ba kể cho tôi nghe đã gặp ở Luân Đôn một người đồng hương tên là Nam”.

“Ông có biết ông Nam không?”

“Có, hầu hết chúng tôi biết nhau, vì chúng tôi đều ở cả trong tổ chức”.

“Tổ chức gì?”

“Trước kia là một hội kín, nhưng từ khi nước ta độc lập thì công khai. Chính là công đoàn hải ngoại”.

“Và từ bấy đến nay, anh Ba ấy không viết thư cho ông sao?”

“Rất tiếc là không. Vài năm sau, nghĩa là sau đại chiến Thứ nhất, thỉnh thoảng một ông bạn lại đến nhà tôi đem theo một gói to tướng sách báo và nói với tôi: “Ông Ba nhờ ông giữ hộ những thứ này, trong vài ngày một người bạn tên là X. Sẽ đến lấy”. Cứ thế kéo dài trong mấy năm. Nhưng từ khi cửa hàng của tôi bị người Pháp khám xét thì không thấy anh Ba gửi nữa. Được gặp anh Ba, thì nếu mất nửa gia tài, tôi cũng vui lòng”…

TRẦN DÂN TIÊN
Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Trẻ, 2005

(còn tiếp)

……………………………..

(*): các tiêu đề do TTO đặt

Tuổi trẻ Online

Đi tìm tư liệu về Bác Hồ ở nước Nga

Bác Hồ vào năm 1933 khi vừa từ Trung Quốc trở lại Nga (ảnh do Bảo tàng Hồ Chí Minh thu thập được trong chuyến công tác tại Nga cuối năm 2006)

TT – “Sau một tháng sang Nga tìm tư liệu về Bác, chúng tôi đã có không phải ba trang mà 1.000 trang, trong đó có khoảng gần 30% là tư liệu mới” – ông Chu Đức Tính, giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, chia sẻ những thông tin mới nhất mà các cán bộ bảo tàng mới mang về từ nước Nga.

Là một người làm lưu trữ hơn 20 năm, chị Phạm Thị Lai – trưởng phòng tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh, người phụ trách nhóm công tác – cẩn trọng: “Tất cả sẽ được công bố sau khi chúng tôi đã phân loại, nghiên cứu và trình kết quả lên cấp có thẩm quyền. Có những bí mật mà tôi không đủ thẩm quyền công bố, và thật ra thì ngay ở Nga nó cũng chưa được giải mật”.

Chị Lai kể về một tháng tìm kiếm, làm việc kể từ khi đặt chân xuống sân bay Domodedovo đến khi xách những chiếc vali nặng trĩu tài liệu quí về nước: “Lưu trữ lịch sử chính trị quốc gia Nga là cơ quan lưu trữ lớn nhất nước Nga, có tới 685 phông lưu trữ (phông là đơn vị lưu trữ lớn nhất theo thuật ngữ của chuyên ngành lưu trữ) với 2,1 triệu hồ sơ lưu trữ. Trong đó tư liệu về Đảng Cộng sản VN và Bác Hồ chỉ là một mục lục trong một hồ sơ, với số lượng tài liệu hiện vật khoảng 7.000 trang. Trước đây, thời Liên Xô, các bạn có tặng chúng ta hầu hết các tài liệu mà họ lưu giữ, song chỉ là bản sao chụp, đen trắng, không rõ nét, nay chúng tôi phải tìm cách tiếp cận với hồ sơ gốc để scan. Qui định của cơ quan lưu trữ Nga là mỗi người mỗi ngày chỉ được đọc 5 đơn vị hồ sơ, 1.000 trang cũng tính là một đơn vị mà 1 trang cũng tính là một đơn vị, mà đặt tài liệu vào thứ hai thì thứ tư mới có để đọc”.

Trong số tài liệu mang về, chị Lai thích nhất bức ảnh Bác Hồ vào năm 1933, khi từ Trung Quốc quay lại Nga, với áo dài, khăn, giày, kính như một phú thương Trung Hoa (ảnh). Chị Lai kể: “Bảo tàng của chúng tôi có trưng bày cả bộ quần áo ấy, cả khăn, mũ kính ấy, nhưng chưa có một tài liệu nào, hình ảnh nào cho thấy Bác đã mặc chúng như thế nào. Khi nhìn thấy bức ảnh ấy lần đầu trong lưu trữ Nga, tôi đã nghẹn ngào vì sung sướng. Hay là tấm thẻ Bác chụp để đi dự Đại hội lần 7 của Quốc tế cộng sản năm 1935, với bốn thứ tiếng Anh, Nga, Pháp và Đức, Bác đã gầy và già đi bao nhiêu so với tấm ảnh trong thẻ dự đại hội 5 Quốc tế cộng sản vào năm 1924. Rồi tấm thẻ đảng viên Đảng Cộng sản Pháp năm 1922 với tên Henri Tchen (Henri Trần). Chúng tôi từng thống kê Bác có hơn 160 tên, nhưng mỗi lần gặp một tài liệu với một tên mới của Bác, vẫn không bao giờ hết ngạc nhiên về khả năng phi thường của Người”.

Chị Lai cho biết chuyến đi Nga lần này của đoàn cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh có nhiều điều thú vị: phát hiện khá nhiều thư Bác gửi các lãnh tụ Đảng Cộng sản Liên Xô, hầu hết viết bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, được trợ lý của họ dịch ra tiếng Nga và được cơ quan lưu trữ Nga gìn giữ rất cẩn thận, dù chỉ là hai dòng bút tích. Cũng có những bức thư viết bằng tiếng Nga, rất tình cảm, đặc biệt khi trình bày về các vấn đề thuộc địa. “Chúng tôi cũng đã tìm thấy những bức thư Bác gửi Quốc tế cộng sản xin được quay về Đông Dương, về VN hoạt động. Có những tư liệu về Bác chúng tôi tìm thấy không phải ở “Lưu trữ cá nhân – Nguyễn Ái Quốc” trong Lưu trữ quốc gia, mà ở Lưu trữ cá nhân của Stalin. Tôi hi vọng trong thời gian tới có thể nghiên cứu, báo cáo và công bố những tư liệu này” – chị Lai cho biết.

THU HÀ
Tuổi trẻ Online

Sinh nhật thứ 79 của Bác

Bác Hồ vào năm 1969 - Ảnh tư liệu

Trong cuốn Bác Hồ viết Di chúc (Nhà xuất bản Sự thật, 1989), đồng chí Vũ Kỳ, người đã nhiều năm trực tiếp phục vụ Bác kể lại: Bước sang năm Kỷ Dậu – 1969, Bác đã 79 tuổi. Đúng như Bác viết trong Di Chúc “Khi người ta đã ngoài 70 xuân, thì tuổi càng cao, sức khoẻ càng thấp”. Năm này, sức khoẻ của Bác đã giảm sút nhiều, Bác đi lại phải có người dìu.

Ngày 19 tháng 5 năm ấy, đúng 9 giờ Bác ngồi trước bàn làm việc tiếp tục viết và sửa chữa Di chúc. Bên ngoài trời nắng đẹp, những chùm hoa phượng nở sớm bắt nắng khoe mầu rực rỡ. Mặt hồ lăn tăn gợn sóng, lấp lánh ánh mặt trời. Một làn gió mát rượi ùa vào khung cửa sổ, làm bay bay những sợi tóc bạc trên đầu Bác. Bác ngồi đó, vầng trán mênh mông, ung dung, thanh thản. Bác xem lại toàn bộ bản viết trong 4 năm qua, nhưng chỉ chữa thêm ba chữ ở phần mở đầu. Bác dùng chữ “sẽ” thay cho chữ “phải” trong câu “phòng khi tôi phải đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê Nin và các vị cách mạng đàn anh khác”. Trong câu “Khi người ta đã ngoài 70 tuổi”, Bác thay chữ “tuổi” bằng chữ “xuân“. Không phải ngẫu nhiên Bác gọi cuộc đời 79 năm của mình là 79 mùa xuân. Đầu năm 1946, trong thư gửi cho tuổi trẻ Việt Nam, Bác viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”.

Nhân kỷ niệm ngày sinh nhật, ông Vũ Kỳ xin phép Bác mời chị Lê Thị Quyên (vợ anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi) và chị Lê Thị Châu vào ăn cơm với Bác. Bác gật đầu hài lòng và dặn thêm:

– Chú mời cả chú Tô, trưa nay sang tiếp khách với Bác. Cả chú nữa, trưa nay chú cũng ăn cơm khách với Bác cho vui.

Bác nói với ông Vũ Kỳ và như nói với chính mình:

– Cháu Trỗi hy sinh cách đây đã gần 5 năm rồi đấy chú nhỉ.

Bác trầm ngâm một lúc rồi bảo:

– Chú phải làm cách nào để cháu Quyên bớt buồn và nói với đồng chí Cần nấu món ăn theo kiểu Nam Bộ để hai cháu miền Nam ăn cho ngon miệng.

Bữa trưa ngày 19 tháng 5 cuối cùng trong cuộc đời 79 mùa xuân của Bác Hồ diễn ra thật ấm cúng, thân tình. Bác ăn ngon miệng, vừa ăn vừa nói chuyện rẩt vui.

Buổi chiều, sau khi các bác sỹ thăm bệnh cho Bác, Bác lên nhà sàn viết thư khen các cháu thiếu niên hợp tác xã Măng non thôn Phú Mẫn, xã Hàm Sơn, huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Ninh).

Bác thường có thói quen đọc báo hằng ngày, kể cả các báo địa phương. Qua báo Hà Bắc, được biết các cháu thiếu niên hợp tác xã măng non thôn Phú Mẫn là những thiếu niên vừa học tập tốt, vừa tham gia sản xuất tốt, có nhiều cố gắng trong việc chăm sóc trâu bò của hợp tác xã. Các cháu luôn luôn cho trâu bò ăn no, đi kiểm tra trâu bò ban đêm, mùa rét vận động các xã viên che kín chuồng trại, may áo cho trâu bò, v.v… Nhờ đó nhiều năm trâu bò của hợp tác xã không bị chết đói, chết rét, mà ngày càng béo khoẻ.

Trong thư Bác viết: “Các cháu tuy tuổi còn nhỏ, cũng có thể làm những việc ích nước, lợi dân. các cháu là những người chủ tương lai của nước nhà, của hợp tác xã. Thiếu niên Việt Nam ta ngày nay cả ở hai miền Nam Bắc có nhiều cháu rất dũng cảm, thông minh đã làm nên nhiều việc rất tốt đẹp trong hoc tập, sản xuất và chiến đấu.

Bác mong các cháu thiếu niên ở hợp tác xã Măng non Phú Mẫn luôn luôn cố gắng hơn nữa, học tập những gương của những thiếu niên anh hùng để ngày càng tiến bộ”.

Suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, hầu như năm nào Bác cũng gửi thư cho các cháu thiếu niên, nhi đồng. Đây là lá thư được viết và gửi đúng ngày thiêng liêng- ngày sinh nhật Bác và là thư cuối cùng Bác Hồ gửi cho thiếu nhi Việt Nam.

Sau khi được Bác Hồ gửi thư khen, Chủ nhiệm hợp tác xã Măng non Đặng Đình Chiến được mời tham dự trại hè thiếu nhi quốc tế. Đội thiếu niên thôn Phú Mẫn đã vinh dự được đón tiếp Quyền Chủ tịch nước Nguyễn Hữu Thọ và nhiều đoàn đại biểu thanh niên, thiếu niên trong nước và nước ngoài đã về thăm, trao đổi kinh nghiệm hoạt động.

Làm theo lời Bác dạy, nhiều đội viên thiếu niên năm ấy nay đã trưởng thành như: các sỹ quan quân đội Đặng Đình Chiến, Lê Đình Khang, bác sỹ Lê Danh Quang, tiến sỹ Nguyễn Hữu Tráng, Phó Vụ trưởng (Bộ Công An) Nguyễn Đăng Nghiệm, kỹ sư Nguyễn Văn Lương…38 năm qua các thế hệ thiếu niên thôn Phú Mẫn vẫn duy trì “hợp tác xã Măng non”, tham gia tuyên truyền, cổ động các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, duy trì nền nếp đánh trống báo giờ học buổi tối, hằng tuần tổ chức vệ sinh đường làng, ngõ xóm…góp phần xây dựng quê hương giầu, đẹp.

Theo website Đảng cộng sản Việt Nam

Tuổi trẻ Online

Bác ơi! Tim Bác mênh mông thế…

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hợp tác xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên gặt mùa (1954)

TT – Ngày 1-8-1969, một ngày thu Hà Nội rất đẹp, trời Ba Đình như xanh hơn, rộng hơn. Chim trong vườn Bác thi nhau hót líu lo, rộn ràng.

Đúng 5g30 sáng, đồng chí Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác, đã có mặt ở chân cầu thang nhà sàn, cũng đúng lúc Bác từ trên cầu thang thong thả bước xuống.

Hai người như hai chiếc đồng hồ, không chênh nhau một giây, như anh chị em trong Văn phòng Chủ tịch thường kháo nhau.

Đưa cánh tay trái lên đỡ cánh tay phải của Bác, rồi dắt Bác bước ra con đường ven hồ, Vũ Kỳ hỏi thăm sức khỏe Bác:

– Thưa Bác, đêm qua Bác có ngủ được không ạ?

– Cũng tàm tạm! Bác cố đọc cho xong mấy cuốn Người tốt, việc tốt vừa nhận được, để hôm nay làm việc với các chú bên Ban Tuyên huấn trung ương.

– Thưa Bác, theo hẹn, đúng 8g30 các anh ấy sang. Tối hôm qua anh Hà Huy Giáp lại gọi điện nhắc.

– Chú ấy thật chu đáo, cẩn thận.

Đi thêm một đoạn, Bác dặn người thư ký:

– Danh sách mười thương binh hôm qua Bác thưởng huy hiệu, chú cần trích ngang thành tích, lát nữa chuyển cho chú Giáp để chú ấy khỏi mất công đi sưu tầm. Văn phòng Chủ tịch nước cần nêu gương giành việc về mình để đỡ cho các cơ quan khác.

Cứ thế, hai bác cháu, kẻ trước, người sau vừa đi, vừa hít thở không khí trong lành, vừa nói chuyện rủ rỉ. Gió sớm mai mát lành vờn bay trên mái tóc bạc như cước của Bác. Lúc này trông Bác giống như một tiên ông vừa giáng trần, theo sau là chú tiểu đồng thấp bé, lủn củn nhưng dáng vẻ tinh nhanh lạ thường.

Ngay cả quạt máy Bác cũng không dùng. Quanh năm, Bác chỉ dùng quạt giấy hay quạt làm bằng lá cọ lấy trong vườn. Khi thấy Bác dùng lá cọ làm quạt, nhiều đồng chí trong cơ quan cũng dùng.

Để tránh thất lạc, Bác dùng đầu thuốc lá châm thành chữ B vào quạt của mình. Và một chiếc quạt như thế đã theo Bác đến tận cuối đời.

Chúng ta xem phim Những giây phút cuối đời của Bác Hồ sẽ thấy hình ảnh đồng chí Vũ Kỳ ngồi ở đầu giường bệnh của Bác, tay phe phẩy chiếc quạt lá cọ quạt mát cho Bác.

Khi hai người ra đến sân ximăng, cái sân tiếp giáp với ngôi nhà của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, thì chú tiểu đồng bước chậm lại để tiên ông vượt lên trước, vung hai tay thoải mái. Đến cột bóng rổ, Bác dừng lại, rướn người, cố đưa cánh tay phải lên sát vòng lưới nhiều lần.

Đây là một trong những bài tập mà các thầy thuốc Trung Quốc đề ra cho Bác hồi năm 1966, 1967 khi Bác đi nghỉ ở Ôn Tuyền, Quảng Châu… Đến lượt rướn cuối cùng, có lẽ là cao nhất, Bác đưa mắt cho người thư ký. Người thư ký vội vàng chạy đến, rút trong túi ra mảnh giấy và ghi lại mức rướn mà Bác vừa đạt được…

Đợi người thư ký ghi xong, Bác vui vẻ hỏi:

– Tốt chứ?

– Thưa Bác, kém hôm qua hai phân.

Nghe thế, Bác thoáng vẻ không vui nhưng ngay sau đó Bác lại động viên người thư ký:

– Nhưng không sao. Ngày mai ta lại cố gắng.

Trên đường trở về, Bác ngước lên cửa sổ tầng hai nhà thủ tướng, khum bàn tay làm loa, gọi với lên:

– A lô a lô, chú Tô dậy chưa? Xuống tập thể dục.

Chờ một lát không thấy trả lời, người thư ký thưa với Bác:

– Đêm qua thấy anh Tô thức rất khuya, chắc là chuẩn bị cho ngày mai họp Bộ Chính trị về qui hoạch xây dựng thủ đô và sau đó bàn tiếp về tình hình miền Nam và đấu tranh ngoại giao.

– Thế thì Bác cháu ta về để cho chú ấy ngủ thêm.

8g30, ngay dưới nhà sàn, Bác làm việc với Ban Tuyên huấn trung ương và Thứ trưởng Bộ Văn hóa Hà Huy Giáp về việc xuất bản sách Người tốt, việc tốt. Bác khen sách của một số nhà xuất bản đẹp và nhắc cần giữ phong trào cho thường xuyên.

Bác nhấn mạnh đào tạo con người là vấn đề chiến lược. Phong trào “Người tốt, việc tốt” chính là một trong những biện pháp quan trọng của chiến lược đó.

Làm việc xong, tiễn khách ra về, Bác quay lại dặn đồng chí Vũ Kỳ:

– Chú nhắc nhà bếp chiều nay làm cơm để Bác tiếp đồng chí Mười Cúc nhé. Chú cùng dự với Bác và mời cả chú Tô nữa.

 

Thế Kỷ, là bút danh của đại tá Nguyễn Thế Kỷ. Ông nguyên là trưởng ban tổng kết lịch sử Quân chủng Phòng không.

Cơ duyên khiến ông có cơ hội tiếp xúc lần đầu với Vũ Kỳ, người thư ký riêng của Bác Hồ bắt đầu từ năm 1986, khi Bảo tàng Hồ Chí Minh gửi công văn sang Bộ Quốc phòng đề nghị biệt phái ông sang bảo tàng nhằm chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vào thời gian này, đồng chí Vũ Kỳ đang giữ chức giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh. Đại tá Nguyễn Thế Kỷ đã được chọn làm người thể hiện hồi ký đồng chí Vũ Kỳ. Tháng 4-1989, cuốn Bác Hồ viết di chúc của Vũ Kỳ do Thế Kỷ thể hiện được Nhà xuất bản Sự Thật ấn hành.

 

Đúng 16g15, Bác nghe đồng chí Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc), ủy viên Ban chấp hành trung ương Đảng, phó bí thư Trung ương Cục, báo cáo tình hình miền Nam.

Bác đặc biệt quan tâm đến chiến dịch “Bình định cấp tốc” của Mỹ ngụy đang thực hiện trong cả bốn vùng chiến thuật. Bác căn dặn đồng chí Nguyễn Văn Linh là trong bất cứ tình huống nào cũng phải bám chắc vào dân, dựa vào dân để mà tồn tại…

Mới cách đây chưa đầy ba tháng, Bác vừa viết xong những dòng cuối cùng của di chúc hết sức cảm động: “Năm nay tôi vừa 79 tuổi, đã là hạng người xưa nay hiếm, nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 xuân thì tuổi tác càng cao, sức khỏe càng thấp. Điều đó không có gì lạ. Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?…”.

Khi viết những dòng này, Bác vừa tròn 79 tuổi. Bác đang thanh thản chờ đợi ngày ra đi, ấy thế mà sáng nay vẫn lo lắng đến việc đào tạo con người, chăm lo xây dựng người tốt, việc tốt cho ngày hôm nay và cho mai sau.

Và chiều nay lại gửi trọn vẹn cả tấm lòng về với miền Nam thân yêu, nơi mà Bác đã từng nói “miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”.

* Buổi sáng 3-8-1969, lại có những biểu hiện của những cơn đau thắt ngực. Hội đồng bác sĩ đưa máy móc vào kiểm tra toàn diện cho Bác, trao đổi cặn kẽ với bác sĩ Nhữ Thế Bảo và Lê Ngọc Mẫn về cách điều trị, đặc biệt tránh không được đi lại nhiều và hết sức tránh xúc động.

Cơn đau thắt ngực rạng sáng hôm nay do ảnh hưởng của buổi chiều làm việc với đồng chí Nguyễn Văn Linh hôm qua.

Mấy năm nay, hầu như mỗi lần nghe báo cáo về sự hi sinh của đồng bào miền Nam và sự tàn bạo của kẻ thù là trái tim Bác không sao ngăn được xúc động.

* May sao, ngày 5-8-1969 lại là một ngày vui của Bác. Khi nghe người thư ký báo cáo hai ông bà luật sư Trịnh Đình Thảo và đoàn cán bộ Liên minh các dân tộc, dân chủ và hòa bình miền Nam vừa ra miền Bắc xin được vào thăm Bác, Bác vui vẻ nói ngay:

– Người ta ở xa đến, cần được nghỉ ngơi, mình phải đến tận nơi thăm hỏi mới phải lẽ.

– Thưa Bác, hội đồng bác sĩ vừa căn dặn Bác nên hạn chế đi lại.

Nghe nói vậy, Bác hơi nghiêm nét mặt:

– Đối với miền Nam thì không có hạn chế nào cả. Chú chuẩn bị xe và sang nói với chú Tô cùng đi thăm phái đoàn miền Nam với Bác.

Trong suốt buổi làm việc, nhiều lần Bác phải lấy mùi xoa lau nước mắt khi nghe đồng chí Nguyễn Văn Linh, phó bí thư Trung ương Cục, báo cáo về sự tàn bạo của kẻ thù và những hi sinh mất mát của đồng bào và chiến sĩ miền Nam.

Bác tâm sự với đồng chí Nguyễn Văn Linh:

– Bác đã đề đạt nguyện vọng với trung ương là chuẩn bị cho Bác vào Nam một chuyến. Bác đã bảo chú Vũ Kỳ để râu cải trang nhưng trung ương chưa chấp nhận, cho là tình hình trong đó đang khó khăn. Bác nói là khi còn khó khăn, gian khổ để cho Bác vào mới quí.

Nhưng trung ương bảo hãy chờ một thời gian nữa. Hôm nay gặp đại diện của miền Nam ở đây, Bác lại xin bày tỏ nguyện vọng của Bác. Chú về bàn với các chú trong đó cố gắng làm sao để Bác có thể vào thăm đồng bào và chiến sĩ miền Nam càng sớm càng tốt.

Nghe Bác nói, mọi người đều xúc động, cùng rơm rớm nước mắt và càng thương Bác vô cùng.

Bác biết rất rõ luật sư Trịnh Đình Thảo là một trí thức nổi tiếng tham gia phong trào yêu nước từ năm 1945 ở Sài Gòn – Chợ Lớn, tích cực chống thực dân Pháp xâm lược.

Từ năm 1955 tham gia phong trào hòa bình chống Mỹ và chính quyền tay sai ở miền Nam VN, ba lần bị kẻ thù bắt giam nhưng vẫn một lòng hướng về cách mạng.

Sau năm 1968, luật sư ra chiến khu và tháng 6-1969, tại Đại hội Quốc dân miền Nam VN, được cử giữ chức phó chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam VN.

15g ngày 5-8-1969, ông bà luật sư Trịnh Đình Thảo cùng các ông Lâm Văn Tết, Lê Văn Giáp không ngờ lại được đón Bác đến thăm. Còn Bác thì phấn khởi ra mặt. Bác ôm hôn từng người với nụ cười rạng rỡ, nói rất vui:

– Dân tộc VN nhất định thắng đế quốc Mỹ vì dân tộc VN đại đoàn kết.

* Chiều 12-8, Bác lên hồ Tây thăm phái đoàn đàm phán của ta ở Paris vừa về Hà Nội, không may trên đường về lại gặp cơn dông. Mặc dù người thư ký đã cẩn thận, chu đáo mang theo cho Bác chiếc áo bông nhưng Bác vẫn bị cảm lạnh.

Sáng hôm sau, hội đồng bác sĩ hội chẩn kết luận Bác bị cảm lạnh dẫn đến viêm phế quản, sốt cao, bạch cầu tăng và quyết định điều trị bằng kháng sinh.

Kể từ đó, bệnh tình của Bác có những diễn biến phức tạp và bắt đầu từ ngày 17-8, Bác không ở nhà sàn nữa mà chuyển xuống nhà H67 ở gần nhà sàn, theo chế độ bất động.

Ngôi nhà này xây xong từ năm 1967 nên có ký hiệu là H67, mục đích là để Bác vừa làm việc, vừa có thể xuống hầm tránh máy bay ngay cạnh đấy khi có báo động phòng không. Ở đấy có một chiếc giường một bằng gỗ mộc cho Bác nằm.

Trên giường trải một chiếc chiếu trơn không vẽ hoa, và một chiếc gối một, cũng là gối trơn không có thêu thùa gì cả. Thật ra lúc đầu các đồng chí phục vụ cũng chuẩn bị sẵn cho Bác chiếu hoa và gối thêu hoa nhưng Bác bảo cất đi, Bác không dùng.

Đặc biệt trời Hà Nội nóng nực như thế mà bao nhiêu lần các cán bộ phụ trách đề nghị lắp máy điều hòa nhiệt độ nhưng Bác đều từ chối. Bác nói:

– Các chú thay nhau đề nghị nhiều lần như thế thì chắc đã có máy rồi, vậy các chú chuyển máy điều hòa xuống bệnh viện để bệnh nhân nặng dùng.

Hồ Chủ tịch vĩ đại

TT – Ngày 26-8-1969, thấy tình hình sức khỏe của Bác diễn biến càng xấu, được sự ủy nhiệm của Bộ Chính trị, Quân ủy trung ương ra quyết định thành lập ban chỉ đạo công tác giữ gìn thi hài Bác, trực thuộc Quân ủy trung ương, do thiếu tướng Lê Quang Đạo, ủy viên Trung ương Đảng, ủy viên Quân ủy trung ương, phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, làm trưởng ban.

Trước mắt ban chỉ đạo tổ chức ngay một đoàn xe có nhiệm vụ vận chuyển, hộ tống thi hài Bác trên những con đường và địa điểm mà thi hài Bác sẽ đi qua, bảo đảm bí mật, an toàn tuyệt đối. Đội xe thành lập xong là tổ chức huấn luyện ngay.

Cứ đêm đến là cả đoàn tập hành quân theo phương án đã được phổ biến. Xuất phát từ vườn Bách thảo, đi hết đường Phan Đình Phùng, rẽ phải sang đường Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải, xuống Trần Thánh Tông, theo lối cổng sau về Viện Quân y 108.

Tại Viện 108, từ cuối năm 1968 đã hoàn thành một công trình đặc biệt mang mật danh 75A, do một tiểu đoàn công binh làm suốt mấy tháng trời. Họ làm ban đêm, từ 7g tối đến 4g sáng, đào đắp hàng trăm mét khối đất đá. Sau công trình 75A là một công trình tương tự ở dưới sân khấu hội trường Ba Đình, mang mật danh 75B.

Chỉ những đồng chí có trách nhiệm ở cấp cao mới biết công trình 75A là nơi sẽ tiến hành phẫu thuật phục vụ việc giữ gìn lâu dài thi hài Bác, còn công trình 75B là nơi sẽ để thi hài Bác trong suốt mấy ngày liền phục vụ cho lễ tang quốc gia.

Toàn thể cán bộ chiến sĩ từng ngày đêm lao động cật lực xây dựng công trình, các chiến sĩ lái xe trong đoàn xe đặc biệt, các đồng chí cảnh vệ đêm đêm làm nhiệm vụ đứng gác trên các ngả đường ở Hà Nội… tuyệt nhiên không một ai hay biết là việc mình đang làm phục vụ mục đích gì.

Và đặc biệt, chính Bác Hồ cũng không biết những điều đó. Bác không hề biết rằng sau ngày sinh nhật thứ 77, Bộ Chính trị đã họp phiên bất thường dưới sự chủ trì của đồng chí Lê Duẩn bàn chuyện chăm sóc sức khỏe cho Bác và việc giữ gìn thi hài khi Bác qua đời.

Và đúng ngày 2-9-1967, một tổ bác sĩ gồm ba người được Đảng và Nhà nước ta cử sang Liên Xô học chuyên đề về giữ gìn thi hài. Đó là Nguyễn Gia Quyền – chủ nhiệm khoa giải phẫu Viện 108, Lê Ngọc Mẫn – chủ nhiệm khoa nội tiết Bệnh viện Bạch Mai, Lê Điều – chủ nhiệm khoa ngoại Bệnh viện Việt – Xô.

Cho đến cuối tháng 8-1969, mọi công việc chuẩn bị cho việc giữ gìn thi hài Bác và lễ quốc tang đã cơ bản chuẩn bị xong. Bộ Chính trị đã bố trí thời gian trực tiếp nghe báo cáo và chính thức mời đoàn chuyên gia thi hài Liên Xô sang Hà Nội.

Trong lúc đó, các thầy thuốc giỏi của Trung Quốc do Đảng và Nhà nước ta mời sang từ đầu tháng tám vẫn ngày đêm phối hợp chặt chẽ với hội đồng bác sĩ của ta chăm sóc chạy chữa cho Bác.

Chiều tối 23-8, Viện Quân y 108 cử một tổ công tác gồm hai bác sĩ, hai y tá, một chủ nhiệm khoa dược vào hỗ trợ tổ công tác điều trị cho Bác. Y tá Oanh và Quý được đồng chí Vũ Kỳ trực tiếp giao nhiệm vụ đặc trách làm công tác hộ lý.

Những đêm khuya vắng lặng, trong phòng chỉ còn lại ba ông cháu, những lúc tỉnh, Bác hỏi chuyện về quê hương, gia đình, học tập, công tác và đôi khi hát cho Bác nghe. Y tá Ngô Thị Oanh còn nhớ một lần hát xong, Bác tặng cho một bông hoa hồng.

Ngày 28-8-1969, trên điện tâm đồ xuất hiện diễn biến rối loạn nhịp tim, báo hiệu một cơn nhồi máu khó tránh khỏi. Những cơn đau thắt ngực tăng lên. Hai cháu Oanh và Quý thay nhau xoa ngực cho Bác. Hội đồng bác sĩ mời đoàn chuyên gia y tế Trung Quốc cùng hội chẩn.

Buổi chiều, Bác thiếp đi một lúc vì quá mệt, tỉnh dậy đã thấy vợ chồng đại tướng Võ Nguyên Giáp và chị Đặng Bích Hà đứng bên cạnh, trên tay là một bó hoa huệ 10 bông. Một nụ cười rất tươi nở trên môi Bác.

Có lẽ đây là nụ cười cuối cùng của Bác dành cho hai con người mà Bác rất mực yêu quí. Bác ra hiệu gọi đồng chí Vũ Kỳ và cháu Ngô Thị Oanh lại bên giường, bảo cháu Oanh cắm hoa vào lọ và bảo đồng chí Vũ Kỳ rằng Bác muốn uống một ngụm nước dừa ở cây dừa đầu nhà.

Các bác sĩ tỏ ý không muốn Bác uống nước dừa vì không thích hợp với bệnh tình hiện nay của Bác. Bác đã nói một câu làm cho ai nấy đều xúc động:

– Biết vậy! Nhưng đây là dừa miền Nam.

Ai cũng biết đây là cây dừa do đồng bào miền Nam tặng Bác và suốt 15 năm qua Bác đã chăm sóc với tất cả tình thương yêu tha thiết.

Ngày 29-8-1969, bệnh tình Bác càng nặng thêm. Các đồng chí Bộ Chính trị thay nhau túc trực bên giường Bác.

Bộ Chính trị đã cho kiểm tra lần cuối cùng mọi công tác chuẩn bị. Các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh đã tiếp đoàn chuyên gia thi hài của Liên Xô sang giúp ta.

Sau 20 năm, ngày 20-2-1961, Hồ Chủ tịch về thăm lại Pắc Bó (Cao Bằng). Được gặp lại Người, bà con Pắc Bó vô cùng xúc động! - Ảnh tư liệu

Đoàn gồm sáu người do đồng chí S. Đêvôp, viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, phó chủ tịch Viện Hàn lâm y học Liên Xô, viện trưởng Viện Khoa học giữ gìn thi hài Lênin, làm trưởng đoàn. Các đồng chí đã trực tiếp đến kiểm tra các cơ sở 75A, 75B.

Tối 30-8-1969, Bác lại phải trải qua một cơn đau và sau đó đi vào hôn mê. Những biện pháp tốt nhất được hội đồng bác sĩ khẩn trương sử dụng để cấp cứu. Bác dần dần tỉnh lại. Thấy Thủ tướng Phạm Văn Đồng đang đứng bên cạnh, Bác hỏi ngay:

– Các chú chuẩn bị lễ kỷ niệm quốc khánh đến đâu rồi?

Sau khi nghe Thủ tướng Phạm Văn Đồng báo cáo, Bác dặn:

– Các chú nhớ phải bắn pháo hoa để cho nhân dân và các cháu nhỏ vui mừng đón ngày độc lập của đất nước.

Tiếp đó, Bác lại hỏi tình hình lũ lụt và nhân dịp này Thủ tướng Phạm Văn Đồng báo cáo với Bác ý kiến của Bộ Chính trị đề nghị Bác lên khu sơ tán của trung ương ở Hòa Bình để tiện việc chăm sóc, điều trị cho Bác. Nghe xong, Bác tỏ vẻ không vui và nói ngay:

– Bác không đi đâu cả. Bác không bỏ dân mà đi. Các chú phải tích cực tìm mọi biện pháp bảo vệ cho được đê điều để bảo vệ dân.

Ngày 31-8-1969, sáng sớm, Bác được báo cáo là hôm qua bộ đội tên lửa Hà Nội lập công xuất sắc, bắn rơi một máy bay không người lái của Mỹ. Bác rất vui nói với đồng chí Vũ Kỳ tổ chức gửi tặng một lẵng hoa cho đơn vị lập công.

Cán bộ chiến sĩ sư đoàn phòng không 361 không thể biết Bác Hồ, người tặng hoa cho họ hôm nay, đang sắp phải từ biệt thế giới này.

Ngày 1-9-1969 là một ngày căng thẳng đầy lo âu của mọi người đang túc trực quanh Bác. Lần đầu tiên những người phục vụ nghe tiếng rên của Bác. Điện tâm đồ luôn xuất hiện những ký hiệu xấu. Các đồng chí trong Bộ Chính trị hầu hết đều có mặt, vẻ đau buồn hiện rõ trên từng ánh mắt. Cả dân tộc đang sắp phải gánh chịu một mất mát lớn không gì bù đắp được.

Tuy nhiên, Bác vẫn chưa ra đi. Người thư ký suốt một đời tận tụy với Bác từ những ngày đầu dựng nước lại được Bác giao thêm một nhiệm vụ: nhân dịp kỷ niệm lần thứ 24 Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi vòng hoa tới viếng các liệt sĩ tại nghĩa trang liệt sĩ Hà Nội.

Sau đó Bác còn bảo ông lo tổ chức gửi tặng lẵng hoa của Chủ tịch nước nhân dịp Quốc khánh cho đội cảnh sát khu vực 4, khu phố Ba Đình, đội bảo đảm giao thông đường bộ I.

Ngày 2-9-1969, cả nước tưng bừng kỷ niệm ngày Quốc khánh. Không ai biết người khai sinh ra ngày độc lập của dân tộc đang chuẩn bị lên đường đi xa mãi mãi.

Trời mưa, bộ phận phục vụ đã căng bạt ngoài sân, kê thêm nhiều ghế. Mới tờ mờ sáng, hình như có mối tâm linh mách bảo, các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và các đồng chí trong Bộ Chính trị đều có mặt đông đủ.

Khoảng 9g, một cơn đau đột ngột làm cho Bác phải quặn nghiêng người và cứ thế lịm dần. Máy điện tim chỉ còn thoi thóp và chạy ngang với những đường sáng nhấp nhô yếu ớt. Lúc này, các thầy thuốc Trung Quốc từ từ lần lượt lui ra ngoài.

Bộ phận hồi sức cấp cứu chủ yếu của Viện 108 tập trung làm các động tác hô hấp nhân tạo. Tất cả những người có mặt trong nhà H67 như nín thở, chờ đợi, hi vọng…

Đồng hồ chỉ đúng 9g47 phút.

Nhiều tiếng khóc bỗng òa lên rồi cố nén. Các đồng chí Bộ Chính trị và lãnh đạo cao cấp của Nhà nước đứng xếp hàng quanh giường Bác mặc niệm, rồi lần lượt bước ra ngoài theo yêu cầu của chuyên môn.

Riêng ba đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp cố nán lại, đặt tay lên trán Bác, lên ngực Bác, nước mắt lưng tròng. Đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Quốc Hoàn, Lê Văn Lương phải giục lần nữa mời rời khỏi giường Bác.

Nhưng sau đó vài phút, đại tướng Võ Nguyên Giáp lại một mình quay trở lại, đứng nhìn Bác một lúc lâu nữa.

Đúng 11g, đoàn xe đặc biệt năm chiếc sau bao nhiêu ngày luyện tập, chờ đợi, có mặt ở trước cổng Phủ chủ tịch. Bốn chiếc đỗ lại bên ngoài dàn đội hình theo phương án đã chuẩn bị, chỉ có chiếc hồng thập tự mang biển số PH1468 do đồng chí Nguyễn Văn Hợp lái được lệnh đi tiếp vào nhà H67 chuyển Bác lên xe đi về 75A Viện 108.

Xe Bác đi theo đường Phan Đình Phùng, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải, Lê Thánh Tôn, Trần Thánh Tông, như bao chiếc xe khác đang di chuyển trên đường. Không ai biết, không ai ngờ trong chiếc xe đó có một con người vĩ đại, Bác Hồ yêu quí của toàn dân tộc đang đi về cõi vĩnh hằng.

Ngày lễ độc lập, hai bên hè phố người đi lại tấp nập, nhất là ở các ngã ba, ngã tư. Những lá cờ đỏ sao vàng làm bằng giấy nổi bật giữa những chiếc áo mới màu xanh và khăn quàng đỏ của các em thiếu nhi. Lại có cả tiếng trống ếch nữa.

Ngày lễ độc lập bao giờ cũng là ngày lễ lớn của các em với những bài hát ca ngợi Bác Hồ. Bác Hồ đã đem độc lập, tự do về cho đất nước, cho các em. Đời đời các em nhớ Bác.

Mùng 2-9-1945, mùa thu Hà Nội, Bác về…
Mùng 2-9-1969, mùa thu Hà Nội, Bác đi xa…

Một sự trùng hợp ngẫu nhiên và đẹp đẽ. Vì vậy, cả dân tộc càng nhớ đến Người. Hồ Chí Minh vĩ đại!

THẾ KỶ