Tag Archive | Tin tức

Bác Hồ với báo Đảng

4-5.a.jpgICTnews – Sau 50 năm cầm bút, Bác Hồ đã cống hiến cho sự nghiệp báo chí cách mạng nước ta và thế giới hàng nghìn bài báo, dưới 53 bút danh khác nhau.

Tính từ bài báo đầu tiên của Bác là “Vấn đề người bản xứ” đăng trên báo Nhân đạo của Pháp, ngày 2/8/1919 đến bài báo cuối cùng là “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” đăng báo Nhân Dân, ngày 1/6/1969 thì sau 50 năm cầm bút, Người đã cống hiến cho sự nghiệp báo chí cách mạng nước ta và thế giới hàng nghìn bài báo, dưới 53 bút danh khác nhau.

Trong căn phòng nhỏ tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, ông Bùi Kim Hồng, Giám đốc Khu di tích bồi hồi kể lại việc Bác Hồ đã sử dụng phương tiện báo chí đại chúng như là một trong những hoạt động yêu nước của Người.

Hàng ngày, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn sắp xếp thời gian thích hợp để nắm bắt thông tin tổng hợp qua sách báo. Bác đọc báo rất nhanh và rất chính xác, chỗ nào có vấn đề cần chú ý hoặc liên quan đến các cấp, các ngành Bác đều ghi chép, đánh dấu những thông tin cần xử lý. Với gương người tốt, việc tốt Bác dùng bút bi hoặc bút chì màu đỏ ghi bên cạnh dấu (-) (nghĩa là thưởng huy hiệu), chỗ nào cần lưu ý Bác đánh dấu (/), vấn đề nào chưa rõ Bác đánh dấu (?) và yêu cầu văn phòng xác minh lại. Khi đã xem xong Bác vạch hai vạch //, thỉnh thoảng Bác cũng sử dụng các loại chữ Hán, Nga, Pháp, Anh làm ký hiệu bên lề trang báo. Bác còn ghi tóm tắt thông tin vào cuốn sổ nhỏ, hoặc cho cắt dán để làm tư liệu. Gặp những chữ báo in sai, Bác đánh dấu và nói để báo sửa. Bài nào cần nghiên cứu, Bác nhắc các đồng chí giúp việc cắt dán lưu lại theo chuyên đề: về Đảng, về các ngành, về miền Nam và tin thế giới…

Một lần đến thăm trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, Bác nói với những cán bộ viết báo được cử đi học: “Các chú phải nhớ là viết cho ai, viết cái gì, nhằm mục đích gì. Phải viết cho dân hiểu để dân làm, phải nghe lời phê bình hàng ngày của dân”. Cũng vì thế, mỗi khi xem báo Đảng thấy có sai sót Bác nhắc ngay để rút kinh nghiệm. Đôi khi Bác còn làm vài con tính để kiểm tra báo đăng đã đúng chưa, số liệu kết quả có khớp không? Bác đặc biệt quan tâm đến báo Nhân Dân vì đây là cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng. Sáng nào cũng vậy, cứ 6h30 sáng là tờ Nhân Dân đã có mặt trên bàn làm việc của Bác.

4-5.b.jpgMột bài báo của Bác đăng trên tờ Le Paria (Người cùng khổ)

Bác thường xuyên viết bài, phê bình và góp ý cho báo, căn dặn bài viết cho báo phải ngắn gọn để đăng được nhiều bài, người đọc đỡ tốn thời gian. Khi nào báo đăng văn kiện của Đảng và Nhà nước thì ra thêm phụ trương khổ nhỏ cho cán bộ, đảng viên dễ lưu giữ và tiện tra cứu. Bác còn yêu cầu báo Nhân Dân mỗi tháng hai lần tổng hợp tình hình trong nước và quốc tế cho Bác.

Ngày 18/1/1957 đến thăm báo Nhân Dân, Bác căn dặn các anh chị em phóng viên phải viết đúng, viết hay. Nếu viết sai hay in sai phải đính chính. Nhà báo cần biết ngoại ngữ và phải thương yêu, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau.

Bác cũng thường xuyên xem báo địa phương, báo các ngành. Bác không quên khen thưởng những thành tích và nhắc nhở những sai lầm. Những hiện tượng sai trái, tham ô, cửa quyền… các tệ nạn xã hội cũ còn rớt lại, Bác nghiêm khắc phê bình… Bài báo về những sai lầm trong ba khoán, đăng báo Hà Nội mới trên bàn làm việc của Bác vẫn còn bút tích ghi: K.g.đ.c Trường Chinh những sai lầm về “ba khoán”. Xem xong xin trả lại cho B’. Bác còn chú ý theo dõi mục: Ý kiến bạn đọc. Có lần xem báo Lao Động có vần thơ vui ở mục “Nói thật không mất lòng”, phê bình một công trường để nhà tắm nữ trống trải, chị em làm việc xong không có nơi để tắm. Bác đã gửi bài báo và ý kiến xuống công trường để các đồng chí lãnh đạo sửa chữa.

Những ngày tháng cuối cùng, tuy yếu mệt nhưng Bác vẫn theo dõi sát tình hình đất nước qua báo chí. Trên bàn làm việc tại nơi Bác điều trị bệnh và đi xa, bên cạnh những chồng báo hàng ngày Bác đang đọc dở là những nét chì đỏ của Bác khoanh tròn trong bản tin “Nichxơn hoãn rút thêm quân”, dấu bút đỏ trên bài “Nam Bắc một nhà là anh em ruột thịt quyết không thể chia cắt được” đăng báo Thống Nhất, còn có bài báo “Phê bình và sửa chữa khuyết điểm ở chi bộ Phú Thành (Nghệ An)” đăng trên báo Nhân Dân được Bác lưu giữ để theo dõi phong trào vận động quần chúng xây dựng Đảng ở cơ sở. Những tờ báo và bản tin cuối cùng Bác xem đều phát hành vào ngày 24/8/1969.

Quan điểm lý luận và hoạt động báo chí thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn phù hợp, gắn bó với cuộc sống và phục vụ lợi ích nhân dân. Bác rất coi trọng đối tượng và hiệu quả tuyên truyền báo chí. Vì vậy, những người làm báo của Đảng cần phải luôn ghi nhớ lời dạy của Người: “Báo của ta là báo của nhân dân, phải nói thật với dân. Thổi phồng khó khăn làm dân sợ, dân hoang mang là sai, là không tốt. Nhưng ngược lại nói quá dễ dàng, tưởng để động viên nhưng khi dân thấy sự thật không đúng như thế, dân không tin ta nữa, không xem báo nữa! Muốn viết trung thực thì phải đến tận nơi, phải nghiên cứu, phải suy nghĩ nên viết cái gì và viết như thế nào”.

Ngọc Tuấn (ghi)
qdnd.vn

Bác Hồ với Báo chí cách mạng Việt Nam (Bài 2)

(BLC) – Bác Hồ không chỉ là nhà chính trị lỗi lạc, danh nhân văn hoá thế giới mà còn là một nhà báo vĩ đại. Bác là người sáng lập ra nền báo chí cách mạng Việt Nam, người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Mở đầu là tờ báo Thanh niên, số ra đầu tiên vào ngày 21/6/1925. Đây là tờ báo của Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội – Tổ chức tiền thân của Đảng cộng sản Việt Nam. Với vai trò và ý nghĩa lịch sử của tờ Báo Thanh niên đối với cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã quyết định lấy ngày 21.6 hàng năm làm ngày báo chí cách mạng Việt Nam.

Trong 50 năm hoạt động cách mạng kể từ khi Bác tìm ra con đường cứu nước, (năm 1919) cũng là 50 năm gắn liền với hoạt động báo chí, Bác đã viết trên 2.000 bài báo, 3.000 bài thơ, gần 500 trang chuyện và ký với nhiều thứ tiếng, nhiều thể loại, nhiều chủ đề hấp dẫn với tinh thần cách mạng rất cao. Mỗi bài báo, mỗi bài thơ, mỗi câu chuyện trên báo đều là những lời hiệu triệu, huấn thị và là ánh sáng soi đường cho dân tộc Việt nam. Chính từ cách viết độc đáo, những tác phẩm báo chí xuất sắc, tinh thần cách mạng triệt để và tấm gương đạo đức trong sáng của Bác đã tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân làm cách mạng, đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập báo chí cách mạng Việt Nam.

Kế thừa và phát huy Chủ nghĩa Mác Lê-Nin về báo chí cùng với hoạt động thực tiễn phong phú, Bác đã để lại cho dân tộc, những người làm báo Việt Nam một di sản vô cùng quí giá – Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng. Đó là những quan điểm, tư tưởng, kinh nghiệm vô cùng phong phú, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của báo chí cách mạng; về vị trí, vai trò chức năng của báo chí trong sự nghiệp cách mạng; về các tính chất cơ bản của báo chí như tính chính trị, tính tư tưởng, tính chiến đấu, tính Đảng, tính nhân dân, tính chân thật và tính khoa học…; về nghĩa vụ và trách nhiệm của người làm báo với tư cách là chiến sỹ cách mạng trên mặt trận báo chí và là chiến sỹ tiền phong trong sự nghiệp cách mạng; đạo đức báo chí và phong cách làm báo, viết báo… Điều này chính Bác là người đi đầu vận dụng thực hiện và là tấm gương sáng về đạo đức của người làm báo cách mạng Việt Nam.

Phóng viên Báo Lai Châu xuống cơ sở.

Về bản chất và vai trò của báo chí cách mạng, Bác khẳng định báo chí là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, nó như là một vũ khí sắc bén của Đảng, nhà nước để góp phần “Chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Để đảm bảo tính tư tưởng, tính Đảng của báo chí thì trong đó phải thể hiện tính chiến đấu, tính giáo dục và tính quần chúng cao. “Báo chí phục vụ nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền cổ động cho Chủ nghĩa Mác Lê-Nin và mang chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước đến với nhân dân”. “Báo chí của ta thì cần phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, hoà bình thế giới”.

Phóng viên Báo Lai Châu trao đổi nghiệp vụ. 

Báo chí là người tuyên truyền cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung và luôn có tính chiến đấu cao để bảo vệ lợi ích cho nhân dân, Bác nói: “Báo chí của ta không phải để cho số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính quần chúng và tính chiến đấu”. Báo chí phải đi tiên phong đấu tranh không khoan nhượng với những gì đi ngược lại quyền lợi của nhân dân và sự phát triển của lịch sử dân tộc. “Đối với bản thân báo chí, bản thân người làm báo phải có tính chiến đấu mới làm báo tốt được”.

Báo chí cũng là một mặt trận, tờ báo như một thứ vũ khí sắc bén, nhanh nhạy, đại chúng, tuyên truyền cổ động, huấn luyện, giáo dục mọi người hiểu, nhớ và làm theo. Bác cho rằng: “Tờ báo như những lớp huấn luyện giản đơn, thiết thực và rộng khắp, nó dạy bảo chúng ta những điều cần biết làm về tuyên truyền, tổ chức lãnh đạo và công tác. Hằng ngày nó giúp nâng cao trình độ chính trị và năng suất công tác của chúng ta. Nếu cứ nhắm mắt làm việc, mà không xem báo Đảng thì khác nào nhắm mắt đi đêm, nhất là lúng túng hỏng việc”.

Bác nhắc nhở các cơ quan báo chí: “bên cạnh việc đấu tranh chống cái xấu phải cổ vũ nhân tố mới, nêu gương người tốt, việc tốt, lấy gương người tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng tổ chức cách mạng, xây dựng cuộc sống mới, con người mới”. Để làm tốt nhiệm vụ của mình Bác yêu cầu các cơ quan báo chí, người làm báo phải gần gũi quần chúng hơn nữa, cách làm việc của báo chí phải cải thiện hơn nữa, tích cực xây dựng lối sống mới, biểu dương người tốt, việc tốt, thúc đẩy nâng cao tinh thần nhân dân… Báo chí cách mạng là phải quan tâm bảo vệ Đảng, đường lối của Đảng, vững vàng lập trường, quan tâm sửa chữa sai lầm của mình, quan tâm chống tiêu cực và quan tâm chống kẻ thù…

Bác xác định báo chí cách mạng là tiếng nói của Đảng và là diễn đàn của nhân dân. Báo chí phản ánh những ý kiến xây dựng của nhân dân, nói lên tâm tư nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân đối với công cuộc xây dựng đất nước. Đồng thời báo chí cũng quyết liệt chống tham nhũng buôn lậu, chống lại tội ác và các tệ nạn xã hội, chống lại những biểu hiện tha hoá sa sút về phẩm chất, đạo đức và lối sống. Vì vậy, báo chí phải giữ vững vai trò “lãnh đạo dư luận”, nghĩa là phải định hướng dư luận đúng đắn, lành mạnh, phải nâng cao tinh thần đấu tranh của nhân dân. Mỗi tờ báo phải thể hiện ý chí nguyện vọng và sức mạnh của tập thể, của cộng đồng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người, xây dựng xã hội mới văn minh tiến bộ.

Quan điểm nhất quán của Bác khi đề cập đến báo chí cách mạng là phải xác định được mục đích, tôn chỉ, nhiệm vụ và coi báo chí là một lĩnh vực quan trọng: “Trong cuộc kiến thiết nước nhà có 4 vấn đề cần phải chú ý đến cùng, phải coi trọng ngang nhau: Chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá. Báo chí vừa là bộ phận cấu thành của văn hoá, vừa là phương tiện cổ vũ, truyền bá thực thi văn hoá, nó là đội quân đi đầu trong công tác tư tưởng”.

Đối với người làm báo, Bác rất quan tâm đến tư tưởng chính trị và đạo đức người làm báo: “đối với bản thân báo chí, bản thân người làm báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để tập hợp và hướng dẫn nhân dân”. “Cán bộ báo chí là chiến sỹ cách mạng, cây bút trang giấy là vũ khí của họ, ngòi bút của các bạn là vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”. Bác luôn nhắc nhở các nhà báo sống phải trung thực, phải luôn tự hỏi mình “Viết cho ai xem? viết để làm gì? Viết về cái gì? Viết như thế nào?”.

Tính chân thật luôn được coi là đạo đức của người làm báo cách mạng. Nhà báo cách mạng cũng là người cách mạng nên nhà báo cũng phải có đạo đức cách mạng, người làm báo cách mạng phải luôn rèn luyện đạo đức cách mạng và đạo đức báo chí cách mạng. Bác khuyên “Muốn trở thành nhà báo giỏi phải học tập và rèn luyện không ngừng”. Bác căn dặn cán bộ báo chí “Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hoá, chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động”. “Tất cả những người làm báo… phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ; chính trị đúng thì mọi việc mới đúng. Nhà báo phải góp phần nâng cao chất lượng báo chí để nó làm tròn nhiệm vụ cao cả của nó là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng”.

Theo Bác nhà báo phải viết chân thật vì chân thật là sức mạnh, là niềm tin. Mỗi bài báo đều bắt nguồn từ thực tế cuộc sống với những con số, những sự kiện được xem xét kiểm tra, chọn lọc. Bài viết phải đem cho người đọc lượng thông tin cao và chính xác, viết phải đúng sự thật không được bịa ra, không nên nêu ẩu, chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ chớ nói, chớ viết.

Bác Hồ cũng rất quan tâm đến nội dung bài viết, tức là bài viết phải đúng sự thực và coi đó như một tiêu chuẩn đạo đức nhà báo: “Không biết rõ, hiểu rõ chớ nói chớ viết. Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết chớ nói chớ viết càn”. “Không nên chỉ nói cái tốt mà giấu đi cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn”.

Về cách diễn đạt nhất là sử dụng ngôn ngữ, Bác luôn nhắc nhở các nhà báo phải giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, coi tiếng nói là tài sản của dân tộc, phải giữ gìn, quí trọng và phát triển nó…

Đã 87 năm trôi qua kể từ khi tờ Báo Thanh niên đầu tiên do Bác sáng lập và 44 năm Bác của chúng ta đã đi xa, song những quan điểm, tư tưởng và tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác vẫn còn in đậm trong lòng dân tộc Việt Nam. Những người làm báo Việt Nam hôm nay thật vinh dự và tự hào có Bác Hồ, một nhà báo cách mạng vĩ đại, một người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức Bác Hồ để trở thành nhà báo cách mạng là nghĩa vụ và trách nhiệm của những người làm báo Việt Nam. Nhớ công ơn, công lao trời biển của Người, những người làm báo Việt Nam nguyện khổ công rèn luyện, mài giũa ngòi bút, tự trao dồi và nâng cao cho mình bản lĩnh chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp và tác phong, đạo đức của người làm báo cách mạng để xứng đáng là học trò của Người và yêu cầu nhiệm vụ mới đang đặt ra.

Nguyễn Cảnh Phượng
baolaichau.vn

Bác Hồ với các nhà báo

Bác Hồ tặng hoa và ân cần thăm hỏi các nhà báo. Ảnh tư liệu

(BG)-Trước năm 1954, tại Chiến khu Việt Bắc, mấy anh em nhà báo có tăng gia được mấy cây cải lớn sang biếu Bác. Ở rừng thiếu rau lắm, Bác hỏi: Tại sao cây rau to? Sau khi nghe anh em trình bày, Bác nói: “Các chú làm báo cũng như trồng rau, phải chọn chỗ đất nào tốt nhất trồng rau cho cây rau mau to. Các chú làm báo cũng phải chọn đề tài, chọn vấn đề tức là chọn chỗ, chọn việc, làm sao cho phát triển như cây rau, mới thành công”. Nhà báo Trần Quang Huy qua nhiều năm làm báo, rất thấm thía những lời dạy của Bác.

Năm 1960, nhà báo Trần Kiên, phóng viên báo Nhân Dân thường trú tại Mát-xcơ-va kể: “Một buổi sáng tháng 11-1960, đọc báo Văn học Liên Xô tôi rất vui mừng thấy có đăng bài của Bác Hồ viết về nhà văn nổi tiếng Lép Tôn-xtôi. Bài của Bác ngắn gọn, đọc rất hay và xúc động. Tôi bàn với đồng chí phiên dịch người Nga dịch bài đó sang tiếng Pháp, rồi tôi vội vàng dịch bài báo sang tiếng Việt và điện về nhà… Bài báo được đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 21-11-1960. Vài hôm sau, Bác đến thăm Đại sứ quán ta. Tôi vội cầm máy ảnh sang đón Bác. Thấy tôi, Bác hỏi:

– Chú là phóng viên thường trú phải không?

– Dạ, thưa Bác vâng ạ!

– Bác vừa nhận được báo Nhân Dân… Sao bài của Bác thiếu một câu…?
Tôi giật thót mình. Trời lạnh mà người toát mồ hôi. Tôi nhận lỗi và Bác dịu dàng dặn:

– Làm việc gì cũng phải chu đáo, cẩn thận!

Cũng tại chiến khu Việt Bắc, nhà báo Quang Đạm kể, một hôm Bác gọi tới hỏi:

– Chú làm gì? Trước chú có viết báo không?

Nhà báo Quang Đạm thưa:

– Thưa Bác, cháu chưa viết báo. Trước cháu làm hướng đạo; Thời kỳ ở Cục thông tin Bộ Tổng tham mưu, cháu chuyên làm mật mã…

Bác cười:

– Trước chú làm mật mã, tức là chú viết một cái gì mà không ai nắm được luật, thì không hiểu được, không đọc được, không sử dụng được. Bây giờ làm báo thì chú phải làm ngược lại, chú phải viết thế nào cho ai cũng hiểu được.

Năm 1951, bắt đầu có thuế nông nghiệp, sau đó giảm tô, giảm tức. Đồng chí Hà Xuân Trường có viết một truyện ký với đầu đề “Thửa ruộng vỡ hoang” nói về sự nghèo khó của người nông dân, không có ruộng phải đi làm thuê, sau đó cách mạng chia ruộng đất đăng suốt nhiều kỳ trên báo Nhân Dân. Bác đọc suốt cả bốn số báo, rồi viết thư sang cơ quan báo hỏi: “Còn dài nữa không? Viết gòn gọn chứ!…”.

Mọi người hiểu ý Bác nhắc như vậy là rất đúng, báo Nhân Dân lúc đó khổ hẹp, chưa ra hàng ngày, mà cho đăng bài dài như vậy, làm hạn chế bao nhiêu bài, tin tức cập nhật cần thiết hơn.

Nhà báo Thanh Phong, nguyên phóng viên báo Nhân Dân thường trú tại Nghệ An kể lại. Năm 1961 Bác về thăm quê. Lúc Bác đang tần ngần, nước mắt rơm rớm bước vào ngôi nhà lá đơn sơ mà Bác đã từng sống trong những ngày thơ ấu, đoàn người đi theo im lặng, không ai muốn phá vỡ những phút thiêng liêng đó, thì bỗng có tiếng “roạt”… Thì ra một nữ phóng viên nhiếp ảnh muốn chụp được hình ảnh của Bác trước ngôi nhà cũ, đã trèo lên đống rạ giữa vườn để chụp, chẳng may đống rạ bị đổ. Cô phóng viên hốt hoảng lắm, song Bác bước ngay lại, đỡ cô lên và trìu mến hỏi:

– Cháu có đau không? Lần sau cẩn thận nhé!

Rồi Bác bảo tiếp:

– Cháu chưa chụp được ảnh phải không? Bây giờ cháu chụp nhé!

Nói xong, Bác trở lại chậm rãi bước trước cửa nhà để cô phóng viên chụp bức ảnh theo ý muốn.

*       *

*

Qua các mẩu chuyện trên, Bác đã chỉ bảo rất cụ thể những chi tiết về nghiệp vụ làm báo cả tình yêu thương của Bác dành cho các nhà báo nói riêng và cả dân tộc Việt Nam nói chung… Bởi chính Bác là nhà báo lớn, người đã sáng lập ra nền báo chí Cách mạng Việt Nam.

Lê Hồng bảo Uyên (Biên soạn)
baobacgiang.com.vn

Bác Hồ với các nhà báo nước ngoài

Trên con đường đi tìm độc lập, tự do cho Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu một cách sâu sắc báo chí là một vũ khí sắc bén của cách mạng. Báo chí như V.I.Lênin khẳng định, là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể. Ngay từ những ngày đầu hoạt động, Bác Hồ đã viết báo để phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng của mình.

Đầu tiên Bác viết báo bằng tiếng Pháp cho những tờ “Đời sống thợ thuyền”, “Nhân loại” và những tờ báo cánh tả khác ở Pháp. Trong khi cộng tác với các báo cánh tả, Bác nhận thấy là người Pháp biết quá ít, cũng có thể nói là nhiều người chẳng biết gì về Việt Nam. Bác muốn viết nhiều những bài báo nói về tình hình của xứ Đông Dương thuộc địa, về bọn thực dân tàn ác đã mang đến cho người dân Đông Dương nhiều đau khổ. Mỗi bài báo của Bác như mũi tên, hòn đạn làm náo động dư luận Pháp và có ảnh hưởng lớn trong các nước thuộc địa.

Đối với các nhà báo nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn là một người bạn lớn. Những nhà báo quốc tế khi đến Việt Nam đều mong muốn được gặp Người.

Trong chiến khu Việt Bắc, trước ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, nhà báo Ô-xtrây-li-a Uyn-phrết Bớc-sét đã gặp Bác Hồ. Ông viết: “Dường như không thể tin được, nhưng thực sự chẳng có gì đáng nghi ngờ. Con người mảnh khảnh với chòm râu dài từ trong cánh rừng bước ra, gậy cầm tay, áo vắt vai, không phải ai khác mà chính là Cụ Hồ Chí Minh truyền thuyết. Được người Pháp đưa tin đã chết đến vài chục lần. Cụ vẫn ở đó tay dang rộng, mảnh dẻ, nhưng không thể nào nhầm được. Không thể nào quên được buổi gặp gỡ đầu tiên đó, với vẻ ấm cúng và thông minh trong đôi mắt nâu thẫm của Người. Đầu tiên, Cụ Hồ Chí Minh ân cần hỏi thăm về sức khoẻ của tôi.

Trên đường đến Việt Nam, tôi nghe đài sóng ngắn và thấy rằng phần nhiều tin từ Hà Nội bị Pháp chiếm đóng, đều nói về một địa điểm gọi là Điện Biên Phủ. Người Pháp đã chiếm được địa điểm này, làm một căn cứ để tấn công Việt Minh từ phía sau và để quét sạch các sở chỉ huy của họ. Câu hỏi đầu tiên của tôi là điều gì đang xảy ra ở Điện Biên Phủ?

Cụ Hồ lật ngửa chiếc mũ lưỡi trai che nắng của Người xuống bàn, đưa mấy ngón tay mảnh khảnh vòng quanh vành mũ và nói: “Đây là rừng núi, nơi có các lực lượng của chúng tôi. Dưới kia là thung lũng Điện Biên Phủ, ở đó là người Pháp với những đội quân tinh nhuệ nhất. Họ sẽ không bao giờ ra được – tuy có thể mất một ít thời gian”.

– Một Xta-lin-grát ở Đông Dương?

– Trên một phạm vi khiêm tốn, vâng, hơi giống Xta-lin-grát!”(1).

Và sau vài lần gặp gỡ, Bớc-sét viết: “Như tôi đã phát hiện trong nhiều cuộc gặp về sau, nét điển hình ở Cụ Hồ Chí Minh là chỉ với một vài từ, hoặc một vài hình ảnh, Cụ có thể trình bày được những vấn đề rất phức tạp! Hình ảnh những quân tinh nhuệ nhất của đội quân viễn chinh Pháp bị nhốt vào đáy mũ lưỡi trai của Cụ, sẽ là một cuộc chiến đấu lịch sử Điện Biên Phủ khi lên đến đỉnh cao”(2).

Chúng ta biết, Uyn-phrết Bớc-sét là một nhà báo nổi tiếng. Ông đã đem hết nhiệt tình của một nhà báo để ủng hộ những cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Bớc-sét là nhà báo nước ngoài đã có mặt ở Hà Nội trong những ngày giải phóng Thủ đô 1954. Ông cũng là tác giả của cuốn sách “Phía bắc vĩ tuyến 17” được xuất bản ở nhiều nước. Trên bìa cuốn sách được in bằng tiếng Anh này, Bớc-sét đã ghi: “Tác giả bày tỏ niềm tin rằng không có sức mạnh nào có thể ngăn cản được nhân dân Việt Nam bắt tay với nhau qua hàng rào giả tạo đó để quét sạch nó!”.

Trong cuốn Hồi ký của mình, Bớc-sét viết: “Tôi đến Hải Phòng để theo dõi việc lá cờ Pháp bị hạ xuống lần đầu tiên ở phía Bắc vĩ tuyến 17 và việc các quan chức quân sự và hành chính cuối cùng xuống tàu chiến đi Sài Gòn. Vét-xa đánh dấu sự kiện lịch sử này, bằng việc cho Gioóc-giơ chào đời ở một bệnh viện Hà Nội”(3) (Vét-xa là vợ của Bớc-sét, cùng đến Việt Nam trong thời gian đó và sinh con trai ở Hà Nội).

Năm 1957, Bác Hồ sang thăm Mát-xcơ-va. Lúc đó Bớc-sét và Vét-xa cũng có mặt ở đó và cả hai cùng ra đón Bác. Sau này Bớc-sét đã kể lại một kỷ niệm lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho vợ chồng ông: “Một phần thưởng mà chúng tôi sớm nhận được để bù lại nỗi nhớ nhung Việt Nam là chỉ sau vài tuần chúng tôi đến Mát-xcơ-va, Cụ Hồ Chí Minh đã đến thăm chính thức Liên Xô. Nghi lễ đón tiếp có 21 phát súng đại bác, quốc ca hai nước, diễu hành của đội danh dự, giới thiệu với đoàn ngoại giao, rồi đến đoàn báo chí. Cụ Hồ đã trông thấy chúng tôi đứng ở hàng thứ ba trong giới báo chí. Trước sự lo sợ của nhân viên an ninh, lễ tân và trước cả sự ngạc nhiên của đoàn ngoại giao, Cụ Hồ đã rời hàng danh dự của những người đứng đón chào Cụ và bước đến chỗ chúng tôi, đặt bó hoa lớn mà Cụ vừa nhận được khi bước xuống máy bay vào tay của Vét-xa. Những thành viên khác của phái đoàn cũng làm giống như vậy, chuyển các bó hoa của họ cho chúng tôi và ôm hôn chúng tôi trước sự ngạc nhiên của các nhân viên an ninh và lễ tân.

Tính giản dị và quan hệ trước sau như một với bạn cũ của Cụ Hồ Chí Minh luôn luôn đứng trên mọi thứ nghi lễ ngoại giao. Một vài ngày sau, sau vài lần gọi giây nói, một xe hòm đen lớn chở chúng tôi đến một biệt thự đã từng là nơi ở của Xtalin trong khu rừng ngoại ô Mát-xcơ-va. Và ở đó, chúng tôi ăn cơm sáng với Cụ Hồ Chí Minh. Đó là một toà nhà gạch khá đơn giản, một số tường của nó có thể dễ dàng ngã xuống khi người ta bấm vào một cái nút để cho những người bảo vệ có thể chạy ra ngoài, đối phó với những kẻ xâm nhập. Bác Hồ kể cho chúng tôi nghe về những phát triển ở Việt Nam kể từ lúc chúng tôi ra đi. Bữa cơm sáng chỉ là sự nối lại của một tình bạn thân thiết và nói lên tình cảm thân ái của Cụ Hồ Chí Minh”. Và Bớc-sét đã ghi lại một sự kiện nữa: “Những biểu hiện chú ý đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh hầu như chắc chắn đã giúp chúng tôi giải quyết được một trong những khó khăn lớn. Việc cung cấp nhà ở cho những nhà ngoại giao và nhà báo là do cơ quan phục vụ ngoại giao đoàn phụ trách và cho đến trước khi có cuộc đi thăm của Bác Hồ, mỗi lần tôi hỏi về nhà cửa thì chỉ được đáp bằng những cái nhìn lạnh lẽo. Nhưng sau đó, thình lình tôi được cấp chỗ ở tại khu Vi-xốt-ni Đôm, một khu nhà đẹp nhìn xuống sông Mát-xcơ-va, cách nửa dặm về phía Crem-li. Cùng ở với chúng tôi trong ngôi nhà đó là những nhân vật nổi tiếng như nữ diễn viên ba-lê Ga-li-na U-la-nô-va và nhà viết xã luận A-lếch-xăng-đrơ Tva-đốp-xki. Người ta nói rằng trước kia chính Xtalin trực tiếp duyệt danh sách những người được ở ngôi nhà này”(4).

Một nhà báo Chi-lê viết: Trong cách đối xử với chúng tôi, Người thân ái một cách đặc biệt, nhất là khi Người nói với chúng tôi bằng tiếng Tây Ban Nha. Người đã từng đến Châu Mỹ La-tinh, làm phụ bếp trên những chiếc tàu buôn. Con người từng bôn ba ở nước ngoài, từng kiếm sống bằng nghề nấu bếp bình thường ấy đứng trước chúng tôi giản dị thế, mặc dù Người có sức hút khổng lồ trên thế giới. Hình như nhà báo nào đã có vinh dự gặp Bác, đều ghi lại những ấn tượng đặc biệt!

Một trong những niềm yêu thích của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đọc sách báo. Trong phòng làm việc của Người luôn có các tờ báo xuất bản ở trong nước và cả báo chí nước ngoài nữa. Người đọc kỹ, ghi những nhận xét vào bên cạnh những bài báo mà Người quan tâm. Nhiều đêm khuya, công việc xong. Người ngả lưng trên giường, mở chiếc đài nhỏ nghe những buổi phát thanh trong và ngoài nước và Người nói: Tôi muốn nghe tiếng nói của nhân loại!

Trong Phủ Chủ tịch, phía sau có một khoảng đất rộng chừng 100 mét vuông, trải sỏi. Bao quanh phía ngoài là một giàn hoa hình bán nguyệt. Giàn hoa rực rỡ màu đỏ tím của hoa, màu xanh của lá, hoà nhập với cảnh quan của khu vườn nổi tiếng. Chính ở nơi đây, với bộ bàn ghế giản dị, Bác Hồ đã tiếp và trả lời phỏng vấn của nhiều nhà báo nước ngoài. Sau này, nhiều người trở lại Việt Nam đứng dưới giàn hoa này đã xúc động nói: Chúng tôi rất nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người rất hiểu chúng tôi. Người là người anh, người bạn và cũng là Bác Hồ của chúng tôi! Năm 1946, trong dịp Bác Hồ sang thăm Pháp, bà Ăng-đrê Vi-ô-lit, tác giả cuốn Đông Dương kêu cứu đã giới thiệu với Người, một cô gái trẻ 18 tuổi, một nhà báo mới vào nghề, đang tập sự ở toà soạn Báo Se Soir (Chiều Nay). Hồ Chủ tịch vui vẻ đến gần, Người nói một cách trìu mến bằng tiếng Pháp: Con gái của tôi! Đó chính là Ma-đơ-len Ri-phô! Tuy còn trẻ nhưng cô gái xinh đẹp và dũng cảm này đã từng là một chiến sỹ chống phát-xít. Bác Hồ ân cần nói với cô: Làm báo là một nghề chân chính!

Sau này, Ri-phô đã nhiều lần sang Việt Nam. Nhiều bài báo của chị nói về cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đã được in trên Báo Nhân đạo, giúp nhân dân Pháp hiểu rõ cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc ta.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, trong một cuộc tiếp xúc với các nhà báo ở Phủ Chủ tịch tại Hà Nội, Bác Hồ đã chủ động đến bên cạnh Ma-đơ-len Ri-phô, Người nói một cách vui vẻ:

– Ô kìa các vị hãy nhìn cô gái nhỏ nhắn này! Cô ấy không còn nhận ra tôi nữa chắc?

– Ma-đơ-len Ri-phô xúc động, nói:

– Thưa Bác, không, con gái của Người vẫn nhận ra Người đấy chứ! Nhưng con thật không ngờ Người vẫn nhớ đến con!

Khi nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Ma-đơ-len Ri-phô lại sang Việt Nam. Chị đã cùng nhà báo Bớc-sét vượt Trường Sơn vào vùng giải phóng miền Nam Việt Nam. Ri-phô cũng mặc quần áo bà ba đen, đội mũ tai bèo, đi dép lốp cao su và khăn rằn trên vai như những cô gái du kích miền Nam.

Chị đã viết những cuốn phóng sự nổi tiếng: Trong căn cứ Việt Cộng và ở miền Bắc Việt Nam viết dưới bom đạn và chị đã gửi tặng Bác Hồ cả hai cuốn sách đó, với lời đề tặng:

Kính tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự biết ơn sâu sắc và tất cả tấm lòng yêu mến của con đối với Người, với Đảng, với nhân dân của Người, đang chiến đấu và chiến thắng những tên phát-xít mới!

(1,2,3,4) Hồi ký Bớc-sét, NXB Thông tin lý luận, H.1985, các trang 254, 255, 276, 286, 287, 288.

Theo Bùi Công Bính/tapchixaydungdang
Kim Yến(st)
bqllang.gov.vn

Hồ Chủ tịch với báo chí cách mạng Việt Nam

Ngày 21/6/1925, số báo Thanh niên đầu tiên do Bác Hồ sáng lập đã trở thành thời điểm lịch sử đáng ghi nhớ của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Trong chặng đường hoạt động cách mạng của mình, Bác đã sớm thấy được lợi khí cách mạng của báo chí và Bác cũng là người đã sử dụng sắc bén báo chí để làm một trong những phương tiện quan trọng nhằm chiến đấu cho sự nghiệp cứu nước. Ngày 01/4/1922, tại Pháp, Bác sáng lập báo Le Paria (Người cùng khổ). Tại Trung Quốc, Bác cho ra đời tờ Thanh niên; tại Thái Lan, Bác thành lập báo Thân ái, Đồng Thanh. Năm 1943, hai năm sau khi về nước Bác cho ra đời tờ Việt Nam Độc lập. Năm ngày sau khi khai sinh nước Việt Nam độc lập, Bác cùng Trung ương Đảng thành lập Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam.

Mối quan tâm và quan điểm nhất quán của Bác khi đề cập báo chí cách mạng là xác định được mục đích và nhiệm vụ của nó. Bác nói: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có 4 vấn đề cần phải chú ý đến cùng, phải coi quan trọng ngang nhau là chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Báo chí vừa là bộ phận cấu thành của văn hóa vừa là phương tiện cổ vũ, truyền bá thực thi văn hóa. Nó là đội quân đi đầu trong công tác tư tưởng”.

Trong thư gửi cho lớp học viết báo đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – lớp học viết báo mang tên nhà báo, chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng, Bác đề ra yêu cầu của báo là phải xác định nhiệm vụ, mục đích, tôn chỉ, đối tượng và hình thức. Tuy rất dễ hiểu nhưng những lời dạy của Bác lại mang tính lý luận rất kinh điển của báo chí hiện đại, sát đúng tình hình cách mạng của đất nước vừa mới giành độc lập. Bác nói: Nhiệm vụ của báo là tuyên truyền cổ động, huấn luyện giáo dục và tổ chức dân chúng, để đưa dân chúng đến mục đích kháng chiến và kiến quốc. Để đi đến kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công thì tôn chỉ của tờ báo là đoàn kết toàn dân, thi đua ái quốc. Đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng. Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo. Muốn được dân chúng ham chuộng coi tờ báo ấy là của mình thì hình thức cách sắp đặt bài vở, cách in phải sáng sủa.

Báo chí Đảng phải tuyên truyền, cổ động, tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, là diễn đàn của quần chúng nhân dân với các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước. Bác chỉ ra những khuyết điểm mà báo chí chúng ta thường gặp là: tuyên truyền không kịp thời, chính trị suông quá nhiều, Bác nhắc nhở báo chí phải thật sự tôn trọng sự kiện. Bởi “nhà báo là người có khả năng tạo ra dư luận để ủng hộ hoặc phê phán một hiện tượng xã hội, vì thế mà phải công tâm, phải có phẩm chất trung thực”.

Với vốn kinh nghiệm của một nhà báo cách mạng tài năng, Bác đã hướng dẫn các nhà báo một số điểm cần lưu ý khi viết báo: Gần gũi dân chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực, ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài, để xem báo nước ngoài và học kinh nghiệm của người. Khi viết xong một bài, tự mình phải xem lại 3,4 lần, sửa chữa lại cho cẩn thận. Tốt hơn nữa là đưa nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi họ những câu nào, chữ nào khó hiểu thì sửa lại cho dễ hiểu.

Những lời căn dặn của Bác đối với những người làm báo, viết báo đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY TÂN PHÚ
tanphu.hochiminhcity.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với báo chí cách mạng Việt Nam

Từ ngày Báo Thanh niên ra số đầu tiên đến tháng 8-1945, trong vòng 20 năm, hoạt động báo chí nước ta luôn gắn liền với cuộc vận động cách mạng của nhân dân. Sau bao năm bôn ba ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước và sáng lập tờ Việt Nam độc lập, nhằm kêu gọi nhân dân đoàn kết đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp.

Hàng loạt tờ báo, tạp chí khác cũng được thành lập như Cứu quốc, Cờ giải phóng, Tạp chí Cộng sản và nhiều tờ báo ở các địa phương đã góp phần tuyên truyền đường lối cứu nước trong cán bộ, nhân dân.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, báo chí cách mạng được Đảng trao cho sứ mệnh là người tiên phong trong việc tuyên truyền, giáo dục về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phản ánh thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với quan điểm xuyên suốt: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Đây cũng là mục tiêu, là tiêu chí quy định chức năng, nhiệm vụ; đồng thời cũng là môi trường phát triển của nền báo chí nước nhà.

Với Bác Hồ, mặc dù bận rất nhiều công việc của một vị Chủ tịch nước, nhưng Người vẫn luôn quan tâm đến sự phát triển của nền báo chí cách mạng. Nói về mục tiêu của báo chí cách mạng, trong phát biểu tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ II (4-1959), Người chỉ rõ: “Về nội dung viết, mà các cô các chú gọi là đề tài thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một đề tài là chống thực dân, đế quốc, chống phong kiến, địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác đối với báo chí là như vậy đó”.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ đã viết khoảng 2000 bài báo, tác phẩm với nhiều thể loại, và được ký bằng 174 tên gọi, bí danh và bút danh khác nhau. Đó là những tác phẩm lý luận quan trọng, là cẩm nang chỉ đường cho Đảng và nhân dân ta trong các giai đoạn cách mạng.

Ảnh tư liệu

Theo Người, giữa cách mạng và báo chí có sự thống nhất hữu cơ, bởi vì “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Đối với một vấn đề, mọi người bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó, quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý. Chân lýlà cái gìcó lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chân lý là Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là đích phấn đấu của báo chí cách mạng Việt Nam trong suốt 80 năm qua.

Để thực hiện được chân lý đó, Người khẳng định: “Phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên, các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng”. Tính tư tưởng cao của báo chí suy cho cùng chính là điều này.

Xuất phát từ mục đích hoạt động của nền báo chí cách mạng là vì dân và từ vai trò to lớn của báo chí đối với xã hội, Người nhắc nhở những người làm báo: “Không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết. Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn”. Để báo chí luôn là diễn đàn của nhân dân, Người khẳng định: “Một tờ báo không được đại đa số (dân chúng) ham muốn thì không xứng đáng là một tờ báo”, và “không riêng gì viết sách, viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”.

Cũng là để bảo vệ quyền lợi của nhân dân, nên với Hồ Chí Minh, báo chí không chỉ là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể; mà còn là vũ khí sắc bén chống lại mọi biểu hiện phản động, tiêu cực đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, của đất nước; báo chí là công cụ đấu tranh xã hội, đấu tranhdân tộc và đấu tranh giai cấp. Trong bức điện gửi Hội Nhà báo Á Phi (ngày 24-4-1965), Người viết: “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng”. Với đội ngũ các nhà báo nước ta Người nhắc nhở: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng, cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén”, “ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”, “cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”.

Trong cách thể hiện, Người cho rằng, để báo chí hoàn thành sứ mệnh là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng; là cầu nối giữa các quốc gia,là phương tiện để các cộng đồng hiểu biết nhau hơn, “cho nên, làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung, về cách viết”. Theo tư tưởng đó, Đảng ta khẳng định: báo chí, một mặt phải chủ động, sáng tạo “làm tốt công tác thông tin đối ngoại, giúp cho cộng đồng quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có thông tin kịp thời, đúng đắn về tình hình đất nước, tranh thủ sự đồng tình của nhân dân ta”. Mặt khác “không ngừng nâng cao chất lượng chính trị, văn hóa, khoa học công nghệ, nghề nghiệp, từng bước hiện đại hóa”.

Có thể nói, với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 80 năm qua báo chí cách mạng Việt Nam đã trưởng thành vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, nội dung và hình thức; cũng như sự lớn mạnh chưa từng có của đội ngũ những người làm báo. Đặc biệt, trong gần 20 năm đổi mới, báo chí nước ta đã đi đầu trong việc định hướng tư tưởng, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tích cực đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; là một trong những động lực trực tiếp tham gia và thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Theo Hà Nội Mới
congdoanbinhthanh.org.vn

Phong cách báo chí Hồ Chí Minh

Kỷ niệm 87 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6-1925 / 21-6-2012)

QĐND – Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Hồ Chí Minh còn là nhà báo vĩ đại của dân tộc, Người đã khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam và dắt dẫn báo chí nước ta phát triển và trưởng thành. Các phẩm chất tuyệt vời “đại nhân, đại trí, đại dũng” của Bác đều dành cho cách mạng-vì dân tộc và nhân loại cần lao. Là nhà cách mạng lỗi lạc, lại được xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn hóa uyên thâm, bản thân lại có năng khiếu bẩm sinh về báo chí và văn chương, Người đã sử dụng báo chí (và văn chương) làm một thứ vũ khí sắc bén trong hoạt động cách mạng. Các tác phẩm của Người có giá trị to lớn về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Riêng về báo chí, kể từ năm 1919 cho đến năm 1969, Bác Hồ đã viết hơn 2000 bài báo, thuộc nhiều thể loại, với nhiều bút danh, tạo nên một phong cách đặc sắc-phong cách báo chí Hồ Chí Minh.

Phong cách báo chí Hồ Chí Minh là sự tổng hòa những đặc điểm độc đáo, sinh động và giàu tính thẩm mỹ về tư tưởng, đạo đức, về đề tài, thể loại, kết cấu và văn phong, cũng như các hình thức thể hiện trong các tác phẩm báo chí của Bác. Cơ sở tư tưởng của phong cách báo chí Hồ Chí Minh là: Vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân, kết hợp với đạo đức cao cả và trong sáng của Người là: “Cần-kiệm-liêm-chính, chí công vô tư”. Đấy cũng là mục đích, là nội dung khái quát các tác phẩm báo chí của Bác Hồ.

Đề tài các tác phẩm báo chí Hồ Chí Minh rất đa dạng. Bác không viết chuyên sâu về một đề tài, như nhiều nhà báo, nhà văn chuyên nghiệp. Bác không bỏ qua một đề tài nào, một vấn đề nào, một sự việc nào liên quan đến đời sống của nhân dân ta và cách mạng quốc tế. Bác viết về mọi đối tượng: Về ta, về bạn, về địch. Đề tài quan trọng, tập trung nhất của Bác là viết về ta. Bác viết về mọi tầng lớp nhân dân: Nam, phụ, lão, ấu, về công-nông-binh-trí thức, những người buôn bán, những người theo các loại tôn giáo và các nhà tư sản dân tộc có lòng yêu nước thương nòi-để kêu gọi: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”! Bác đi vào những đề tài thiết thực nhất đối với nhân dân và đất nước. Viết về “Đời sống mới”, Bác chỉ ra những nội dung cụ thể, là: “Sốt sắng yêu Tổ quốc”, “Sẵn lòng công ích”, cho đến cách ăn mặc, làm việc, biết cư xử và “biết ham học”, v.v.. Bác viết về Tết Trung thu, sức khỏe và thể dục, bình dân học vụ, “Đạo đức công dân”; “Tìm người tài đức” phục vụ cho kháng chiến và kiến quốc, cho đến các vấn đề của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, v.v..

Hồ Chí Minh là nhà báo vĩ đại của dân tộc. Ảnh: internet

Thể loại báo chí của Bác rất phong phú. Bác vận dụng mọi hình thức thể loại để biểu đạt nội dung, nhằm mục đích: “Giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng” (Lời Bác trong bài “Cách viết”, 8-1953). Từ các bài nói, bài viết, bài thơ, các bức thư (đăng báo) cho đến các thể tài tin, bài, phóng sự, ký sự, bút ký hay tùy bút (chủ yếu Bác viết vào những năm 20 của thế kỷ XX) được Bác dùng xen kẽ, kết hợp với nhau, tuy Bác không ghi là “phóng sự”, “ký sự”, “bút ký” hay “tùy bút” dưới nhan đề bài viết của mình. Nếu chỉ căn cứ vào lý luận về thể loại theo cách hiểu cũ, rập khuôn, máy móc, sẽ không thể hiểu hết được các vấn đề hình thức thể loại của các tác phẩm báo chí Hồ Chí Minh. Nói cách khác, là một nhà báo vĩ đại, kỳ tài, Bác Hồ không lệ thuộc vào hình thức thể loại của bài viết, chỉ cốt trình bày tốt nhất nội dung, thể hiện rõ nhất chính kiến của mình. Vì vậy, Người đã sáng tạo, bổ sung, đem lại nhiều vấn đề mới mẻ, độc đáo và khoáng đạt cho lý luận về thể loại của tác phẩm báo chí ngày nay và trong tương lai-kể cả ở Việt Nam và thế giới. Thường là Bác kết hợp một vài thể loại trong bài viết của mình, tạo nên một sắc diện tươi tắn, sinh động và biến hóa cho tác phẩm, nhằm làm cho quần chúng “nhớ được”, “hiểu được” và “làm được” (chữ Bác dùng). Bác nói: “Cần làm cho món ăn tinh thần được phong phú, không nên bắt mọi người chỉ được ăn một món thôi. Cũng như vào vườn hoa, cần làm cho mọi người thấy được nhiều loài hoa đẹp” (trích bài “Cách viết”).

Kết cấu bài viết của Bác chặt chẽ, gọn gàng. Bác thường vào đề bằng lời trực tiếp. Nhiều bài viết của Bác không phải cứ theo khuôn mẫu: Mở bài, thân bài và kết luận, mà chỉ có hai phần: Đặt vấn đề và giải quyết vấn đề. Ngay trong phần đặt vấn đề, cũng đã có ý giải quyết vấn đề, nhưng ý tứ rất rõ ràng, mạch lạc. Mỗi phần trong một bài, Bác chỉ nêu một, hai ý lớn; mỗi ý được diễn đạt bằng một, hai câu hoặc đoạn văn ngắn gọn. Văn phong của Bác đa dạng, thể hiện bộ óc thông minh trác tuyệt, tâm hồn lộng gió thời đại và sự am hiểu văn hóa Đông-Tây, kim-cổ của Người vô cùng sâu rộng. Viết về kẻ địch, Bác thường dùng lối văn châm biếm ý nhị nhưng ý tứ rất sâu xa, sắc sảo, thông minh đến kỳ lạ; văn phong vừa có tính chất báo chí, vừa có tính chất nghệ thuật văn chương. Viết về ta, viết cho quần chúng nhân dân, Bác lại dùng lời văn nôm na, vận dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ của dân tộc, diễn đạt theo cách nói, cách nghĩ, cách cảm của quần chúng.

Các tác phẩm báo chí của Bác thường rất ngắn, viết “thiết thực” và kịp thời, không lạm dụng tiếng nước ngoài. Nét độc đáo này cũng xuất phát từ định hướng tư tưởng: “Viết cho ai?”, “Viết để làm gì?” của Bác. Phê phán cái lối viết “rau muống”, nghĩa là tràng giang đại hải, làm cho người đọc như bị “chắt chắt vào rừng xanh”, Bác dạy các nhà báo: “Phải viết gọn gàng, rõ ràng, vắn tắt”, vì “trình độ của đại đa số đồng bào ta bây giờ không cho phép đọc dài, điều kiện giấy mực của ta không cho phép viết dài và in dài, thì giờ của ta, người lính đánh giặc, người dân đi làm không cho phép xem lâu” (trích bài “Cách viết”). Bác không lạm dụng tiếng nước ngoài, mặc dù Người thông thạo nhiều ngoại ngữ. Bác nói: “Các ông viết báo nhà mình hay dùng chữ quá. Những chữ tiếng ta có mà không dùng, lại dùng cho được chữ kia”. Bác dạy: “Chớ ham dùng chữ. Những chữ mà không biết rõ thì chớ dùng”. Bác khuyên các nhà báo phải “học cách nói, tiếng nói của quần chúng”, và chính Bác đã làm gương về mặt này. Vì thế, ngôn ngữ báo chí Hồ Chí Minh rất giản dị, trong sáng, đậm đà tính dân tộc.

Phong cách báo chí Hồ Chí Minh là mẫu mực tuyệt vời của báo chí cách mạng nước ta 87 năm qua và còn mãi mãi, có tiếng vang lớn đối với báo chí quốc tế. Những tác phẩm báo chí bất hủ của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã tạo nên phong cách báo chí Hồ Chí Minh, có sức mạnh lớn lao động viên nhân dân làm nên những thành tựu huy hoàng của cách mạng Việt Nam, trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc, tạo dựng vị thế Việt Nam trên thế giới, khích lệ chúng ta vững bước tiến hành công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế ngày nay.

ĐÀO NGỌC ĐỆ
qdnd.vn

Bác Hồ với báo chí cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một chiến sỹ cách mạng lỗi lạc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam mà còn là một cây bút xuất sắc, một nhà báo lớn, Người khai sinh nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Tại Đại hội lần thứ III những người viết báo Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng, cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén… (8/9/1962). Ảnh: Tư liệuTại Đại hội lần thứ III những người viết báo Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng, cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén… (8/9/1962). Ảnh: Tư liệu

Trong hành trình đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã học cách viết báo, làm báo. Với Bác, báo chí phục vụ mục đích trong sáng và cao cả của Đảng, của sự nghiệp cách mạng, là công cụ để tuyên truyền khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân ta, biểu dương những cái tốt, người tốt, việc tốt, ngăn chặn và đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực.

Báo chí Hồ Chí Minh là báo chí cách mạng, báo chí phục vụ và phụng sự sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân và của dân tộc. Bác là nhà báo với ý nghĩa chân chính nhất của nghề báo. Không chú ý đến tên tuổi và sự nghiệp mà chỉ quan tâm đến cái đích thiêng liêng đó.

Bài báo đầu tiên của Người giống như một mũi tên bắn chính diện vào kẻ thù ngay trên đất nước của bọn chúng, bài “Yêu sách của nhân dân Việt Nam” được gửi đến hội nghị Versailles (Véc xây) năm 1919 và Người vạch trần bản chất bóc lột, vô nhân đạo của thực dân qua bài “Tâm địa thực dân”.

Chính vì mục đích đó, năm 1922, tại Pháp, Bác đã tham gia sáng lập tờ báo “Le Paria” (Người cùng khổ) và được coi là “linh hồn” của tờ báo, Người vừa làm chủ bút, chủ biên, giữ quỹ, phát hành và bán báo. Với báo “Người cùng khổ”, bằng ngòi bút sắc sảo, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần tội ác của bọn xâm lược tại các thuộc địa để cho nhân dân Pháp và nhân dân thế giới thấy rõ và ủng hộ cho cuộc chiến tranh chính nghĩa đòi quyền sống, quyền con người, quyền dân tộc của các dân tộc thuộc địa. Năm 1924, Người sáng lập báo “Quốc tế nông dân”. Đặc biệt, đến năm 1925, tờ báo “Thanh niên” – cơ quan ngôn luận của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội ra số đầu tiên ngày 21/6/1925 là điểm mốc đáng nhớ, đánh dấu sự ra đời của nền báo chí cách mạng Việt Nam hay nói cách khác là sự mở đầu cho cả một dòng báo chí ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã dùng tờ báo làm công cụ tuyên truyền con đường cách mạng giải phóng dân tộc, để tập hợp và giác ngộ quần chúng, chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp của báo chí cách mạng và nêu cao trách nhiệm của báo chí, của nhà báo trước xã hội, Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định lấy ngày 21/6 hàng năm là Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của báo chí đối với sự nghiệp cách mạng, vì vậy Bác rất cẩn trọng trong từng câu chữ, ý tứ, nội dung các bài báo mình viết. Bác luôn quan niệm phải viết sao cho dân chúng hiểu và quan tâm đọc. Bác có một thói quen là thường đem những bài báo sau khi viết xong cho những người xung quanh nghe và góp ý, kể cả khi Người đã làm Chủ tịch nước. Vì thế, văn phong của Bác thường ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu, dễ nhớ mà vẫn thể hiện những nội dung quan trọng cần truyền bá tới người dân.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ đã viết khoảng 2.000 bài báo, tác phẩm với nhiều thể loại, và được ký bằng 174 tên gọi, bí danh và bút danh khác nhau. Đó là những tác phẩm lý luận quan trọng, là cẩm nang chỉ đường cho Đảng và nhân dân ta trong các giai đoạn cách mạng.

Tháng 4/1959, tại Đại hội lần thứ II của Hội Nhà báo Việt Nam, Người chỉ rõ “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ”. Để báo chí luôn là diễn đàn của nhân dân, phục vụ nhân dân, Người khẳng định “Một tờ báo không được đại đa số (dân chúng) ham muốn thì không xứng đáng là một tờ báo” và “Không riêng vì viết sách, viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt điều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”.

Tháng 9/1962, tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam, Bác nói “Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Trong cách thể hiện, người cho rằng “Làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, nội dung, cách viết”. Mục đích “Viết để làm gì? Viết để cho ai xem? Viết như thế nào?” chính là những yếu tố giúp báo chí hoàn thành sứ mệnh là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng; là cầu nối để các cộng đồng hiểu nhau hơn. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, Người đòi hỏi báo chí cách mạng không ngừng học tập, nâng cao trình độ hiểu biết chính trị và bản lĩnh nghề nghiệp. Do vậy, người làm báo cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, không ngại khó khăn, hy sinh, vì nhân dân phục vụ; cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động. Người nhấn mạnh vai trò “chiến sỹ” của người làm báo, đòi hỏi nhà báo phải kiên định lập trường, giữ vững quan điểm báo chí cách mạng, không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt. Hơn ai hết, nhà báo phải là người chí công vô tư, có hiểu biết rộng và nhất là có cái tâm trong sáng. Người dạy, báo chí là một nghề, cho nên người làm báo cách mạng cần được bồi dưỡng lập trường cách mạng vững vàng, thường xuyên rèn luyện đạo đức, được đào tạo nghề nghiệp, biết ngoại ngữ… Những người làm báo phải biết trau dồi kiến thức, học tập lý luận, lăn lộn trong thực tiễn và gắn bó với nhân dân.

Theo dòng chảy của cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, học tập, vận dụng và phát triển tư tưởng, quan điểm của Bác Hồ, báo chí cách mạng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, hiện nay cả nước có 954 cơ quan báo chí; trong đó 706 cơ quan báo in, 67 đài phát thanh truyền hình và có trên 17.000 nhà báo thuộc cơ quan báo chí được cấp thẻ nhà báo. Trong suốt chặng đường phát triển, báo chí Việt Nam và đội ngũ các nhà báo đã không ngừng cố gắng, cống hiến và làm tốt vai trò là người tuyên truyền cổ động, giáo dục, giác ngộ dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung của sự nghiệp cách mạng nước nhà.

Hiện nay, đất nước ta ngày càng phát triển bền vững và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên các lĩnh vực, đòi hỏi cơ quan báo chí và những người làm báo tiếp tục phát huy truyền thống báo chí cách mạng 87 năm qua, hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, luôn quán triệt quan điểm có tính nguyên tắc, đó là báo chí đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, vừa là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức, chính trị, xã hội, nghề nghiệp, vừa là diễn đàn của nhân dân; tích cực tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới; đồng thời tiếp tục tuyên truyền và thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, các nghị quyết chuyên đề của Trung ương và “tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo tinh thần Chỉ thị 03/TW của Bộ Chính trị.

Phan Văn Phấn
(Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy)

baolamdong.vn

Tự phê bình (20-5-1951)

Dao có mài, mới sắc.

Vàng có thui, mới trong.

Nước có lọc, mới sạch.

Người có tự phê bình, mới tiến bộ. Đảng cũng thế.

Tự PHÊ BìNH Là Gì? Là thật thà nhận, công khai nhận trước mặt mọi người những khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa.

Điều đó nói thì dễ, nhưng làm thì khó. Khó là vì người ta hay có lòng tự ái. Thừa nhận cái sai, cái dốt, cái kém của mình, thì sợ mất thể diện, mất uy tín, mất địa vị.

Đó là lòng tự ái dại dột, khác nào có bệnh mà giấu bệnh. Giấu bệnh, thì càng ngày bệnh càng nặng, đến khi quá nặng không chữa được nữa, thì chết. Giấu khuyết điểm thì khuyết điểm càng ngày càng to, đến khi to quá, không sửa chữa được nữa, thì mọi việc đều hỏng.

Ai cũng cần tắm rửa cho mình mẩy sạch sẽ. Thì ai cũng cần tự phê bình cho tư tưởng và hành động được đúng đắn.

Những người cách mạng càng phải kiên quyết thực hành tự phê bình. Không thực hành tự phê bình, thì không xứng đáng là người cách mạng.

Khổng Tử nói: “Có lỗi, thì chớ sợ sửa đổi”.

Tǎng Tử (học trò của Khổng Tử) nói: “Mỗi ngày, tôi tự kiểm thảo ba lần”.

Mác, Ǎngghen, Lênin, Xtalin dạy chúng ta rằng: “Tự phê bình là một thứ vũ khí sắc bén nhất của cách mạng”.

Làm cách mạng mà không dùng cái vũ khí sắc bén nhất của cách mạng hoặc chỉ dùng nó một cách qua loa, thì cách mạng thế nào?

Thật thà tự phê bình chẳng những giúp cho mình sửa chữa, giúp cho mình tiến bộ mà còn giúp cho người khác biết để mà tránh. Một thí dụ: Đảng ta có mấy chục vạn đảng viên. Nếu đồng chí A phạm một điều sai lầm, liền thật thà tự phê bình, thì các đảng viên khác đều biết mà tránh, không phạm sai lầm ấy nữa. Trái lại, nếu đồng chí A không thật thà tự phê bình, để cho các đảng viên khác cũng phạm khuyết điểm ấy, thì cả Đảng cộng lại thành mấy chục vạn khuyết điểm! Như vậy, đồng chí A chẳng những dối mình, mà lại dối Đảng, là có tội với cách mạng, có tội với Đảng, có tội với Tổ quốc, với nhân dân.

Tự phê bình rồi để sửa chữa, để tiến bộ, cho nên phải thật thà, phải triệt để, mới có kết quả. Nếu chỉ làm cho qua chuyện, chỉ có hình thức thì vô ích.

Vừa rồi, cán bộ vài nơi ở Liên khu IV đã phạm những bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Hồ Chủ tịch viết thư phê bình và bảo cán bộ các cấp phải thật thà tự phê bình trước nhân dân.

Những nơi cán bộ làm đúng như lời Hồ Chủ tịch, thì nhân dân rất vui vẻ hǎng hái, và cũng tự phê bình. Cán bộ và nhân dân đều tiến bộ, càng đoàn kết, mà công việc càng chạy.

Song cũng có nơi cán bộ tự phê bình qua loa, hình thức. Thậm chí khi đọc thư của Hồ Chủ tịch trước nhân dân, họ chỉ đọc những chỗ phê bình dân, còn những chỗ phê bình cán bộ thì họ không đọc. Thế là những cán bộ ấy đã không thật thà tự phê bình, đã dối trên, lừa dưới. Mà nào có lừa dối được ai! Vì chính nhân dân đã trực tiếp báo cáo với Hồ Chủ tịch cái thái độ không xứng đáng của các cán bộ đó.

Mong rằng, những cán bộ ấy mau mau sửa đổi, kịp thời và thật thà tự phê bình.

Mong rằng các cán bộ cấp khu, cấp tỉnh chú ý đến việc đó.

Mong rằng các cán bộ và đảng viên khắp nơi noi theo bức thư của Hồ Chủ tịch mà gây một phong trào tự phê bình và phê bình thật thà, thiết thực, rộng khắp, thường xuyên.

Tự PHÊ BìNH PHảI THế NàO?

Ngày nào cũng phải ǎn cho khỏi đói, rửa mặt cho khỏi bẩn, thì ngày nào cũng phải tự phê bình cho khỏi sai lầm.

Nghĩa là tự phê bình phải thường xuyên, chứ không phải chờ có khai hội mới tự phê bình, không phải khi làm khi không.

Tự phê bình phải thật thà. Khi tự mình kiểm điểm cũng như khi tự phê bình trước mọi người, có khuyết điểm gì nói hết, không giấu giếm chút gì. Phải tìm cho ra vì sao mà sai lầm. Sai lầm ấy sẽ thế nào? Dùng cách gì mà sửa chữa? và phải kiên quyết sửa chữa.

Tự phê bình và sửa khuyết điểm có khi dễ, nhưng cũng có khi khó khǎn, đau đớn, vì tự ái, vì thói quen, hoặc vì nguyên nhân khác. Đó là một cuộc đấu tranh. Tự mình, không đánh thắng được khuyết điểm của mình, mà muốn đánh thắng kẻ địch, tự mình không cải tạo được mình, mà muốn cải tạo xã hội, thì thật là vô lý. Vì vậy người cách mạng nhất định phải thật thà tự phê bình và kiên quyết chữa khuyết điểm.

Mấy điểm chung mà tất cả mọi đảng viên phải tự hỏi để tự phê bình:

– Hôm nay, ta đã làm tròn nhiệm vụ Đảng và Chính phủ giao cho ta chưa?

– Ta đã làm được gì ích lợi cho kháng chiến?

– Ta đã làm được gì trong công cuộc thi đua ái quốc?

Mỗi người lại phải tuỳ theo công việc của mình mà tự phê bình những điểm riêng. Thí dụ:

Binh sĩ thì phải tự hỏi: Đã chấp hành đầy đủ mệnh lệnh cấp trên, giữ gìn kỷ luật, kính trọng nhân dân, tiết kiệm đạn dược, diệt được nhiều địch chưa? v.v..

Công nhân thì phải tự hỏi: Ta đã nâng cao kỹ thuật, tǎng gia sản xuất chưa? …

Nông dân thì phải tự hỏi: Ta đã chǎm lo cày bừa, ra sức thi đua thực hiện “vụ mùa thắng lợi” chưa?…

Cán bộ chính quyền và Đảng thì phải tự hỏi: Ta đã tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh chưa? Đã thực hiện cần kiệm liêm chính chưa? Đã làm chu đáo những công việc Chính phủ và Đảng giao phó cho ta chưa?…

Lao động trí óc thì phải tự hỏi: Ta đã phát minh, sáng tác gì ích lợi cho đồng bào, cho kháng chiến?

C.B.

Báo Nhân dân , số 9, ngày 20-5-1951.
cpv.org.vn

Duyên nợ của Bác với báo chí

duyen no bac voi bao chi anh

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phòng làm việc của Người ở chiến khu Việt Bắc

Báo chí của ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ cho nhân dân. Mục đích của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, giữ gìn hòa bình thế giới. Mỗi tờ báo như báo của nông dân, báo của công nhân, báo của thanh niên, báo của phụ nữ… nên có đặc điểm của nó…

Nói đến báo chí trước hết phải nói đến những người làm báo chí. Các cô, các chú đã có những ưu điểm như đã đóng góp vào cuộc kháng chiến thắng lợi, xây dựng hòa bình và đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Nhiều đồng chí đã cố gắng làm việc. Gần đây, sau khi nghiên cứu chỉ thị của Trung ương, các đồng chí đã thấy rõ công việc báo chí là rất quan trọng, và đã thấy được những ưu điểm và khuyết điểm của mình. Như thế là tiến bộ.

Bệnh dùng chữ

Ưu điểm của các cô, các chú không ít. Nhưng khuyết điểm thì còn nhiều. Trong các đồng chí cũng còn có người hoặc ít hoặc nhiều chưa thoát khỏi ảnh hưởng tư sản và tiểu tư sản, cho nên nắm vấn đề chính trị chw\được chắc chắn. Nói về văn nghệ, Bác thú thật có ít thì giờ xem các bài văn nghệ. Có lẽ vì thế mà có lúc xem đến thì thấy cách viết thường ba hoa, dây cà, dây muống; và hình như viết là để đếm dòng lấy tiền, có những bài nhạt nhẽo thế nào ấy.

Còn viết về chính trị thì khô khan và có hai cái tệ: một là rập khuôn, hai là dùng quá nhiều chữ nước ngoài. Cái bệnh dùng chữ, là phổ biến trong tất cả các ngành. Đáng lẽ báo chí phải chống lại cái bệnh đó, nhưng trái ngược lại báo chí lại tuyên truyền cho cái tệ đó. Cố nhiên, có những chữ không thể dịch được thì ta phải mượn chữ nước ngoài. Ví dụ: những chữ kinh tế, chính trị… thì ta phải dùng. Hoặc có những chữ nếu dịch ra nếu dịch ra thì mất cả ý nghĩa, như chữ “độc lập”. Nếu “Việt Nam độc lập” mà nói “Việt Nam đứng một” thì không thể nghe được.

Nhưng có những tiếng ta sẵn có, thì tại sao lại dùng chữ nước ngoài. Ví dụ: vì sao không nói “đường to” mà lại nói “đại lộ”, không nói “người bắn giỏi” mà lại nói “xạ thủ”, không nói “hát múa” mà lại nói “ca vũ”?… Những ví dụ như vậy nhiều lắm, nhiều lắm. Các báo Nhân dân, Thời mới, Quân đội nhân dân… đều dùng chữ nhiều lắm.

Tóm lại chúng ta dùng chữ nhiều quá, có khi lại còn dùng sai nữa. Mong rằng báo chí cố gắng sửa đổi cái tệ ấy đi. Tiếng nói là một thứ của rất quý báu của dân tộc, chúng ta phải hết sức giữ gìn lấy nó, chớ để bệnh nói chữ lấn át nó đi.

Khoa học ngày càng phát triển, có những chữ mới mà ta chưa có, thì ta phải mượn. Ví dụ: ta phải nói “kilô”, vì nếu nói chữ “cân”, thì không đúng nghĩa là 1.000 gram. Song những chữ dùng tiếng ta cũng đúng nghĩa thì cứ dùng tiếng ta hơn. Có những người hình như sợ nói tiếng ta thì nói xấu hổ thế nào ấy! Họ làm cho các cháu học sinh cũng bị lây bệnh nói chữ, như “phụ đạo”, “giáo cụ trực quan”… Thật là tai hại!

Nghề báo – khó như mọi nghề khác

Mấy khuyết điểm nữa: Sau khi nghiên cứu chỉ thị của Trung ương về báo chí, có một số đồng chí tiến bộ, nhưng cũng có một số vì trình độ văn hóa chính trị còn kém thì đâm ra bi quan và muốn đổi làm nghề khác. Họ không biết rằng nghề nào cũng khó, không có nghề nào dễ. Phải có ý chí tự lập, tự cường, kém thì phải cố mà học. Chúng ta phải làm thế nào để vượt được khó khăn, làm tròn nhiệm vụ. Người cách mạng gặp khó khăn thì phải đánh thắng khó khăn, chứ không chịu thua khó khăn. “Không có việc gì khó, có chí thì làm nên”. Câu nói đó rất đúng.

Có người chỉ muốn làm cái gì để “lưu danh thiên cổ” cơ. Muốn viết bài cho oai, muốn đăng bài mình lên các báo lớn. Cái đó cũng không đúng. Những khuyết điểm đó đều do chủ nghĩa cá nhân đẻ ra. Họ không thấy rằng: làm việc gì có ích cho nhân dân, cho cách mạng đều là vẻ vang. Bất kì việc gì mà mình là tròn nhiệm vụ đều là vẻ vang. Trong các anh hùng, chiến sĩ lao động có người là công nhân, là nông dân, có người làm thầy thuốc, có người đánh giặc giỏi… và có người dọn cầu xia cũng trở thành chiến sĩ. Tóm lại, trong lao động không có nghề gì là hèn, chỉ có lười biếng mới là hèn. Làm tròn nhiệm vụ thì công tác nào cũng vẻ vang.

Nói về Hội Nhà báo. Đó là một tổ chức chính trị và nghiệp vụ. Nhiệm vụ của hội là phải làm cho hội viên đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau để nâng cao trình độ chính trị và nghiệp vụ. Có như thế thì Hội nhà báo mới làm tròn nhiêm vụ của mình, và những người làm báo mới phục vụ tốt nhân dân, phục vụ tốt cách mạng.

Viết báo – là viết cho nhân dân

Chúng ta hãy đặt câu hỏi: Báo chí phải phục vụ ai?

Có người nói ở các nước tư bản có tự do báo chí và báo chí không có giai cấp. Nói vậy đúng không. Ví dụ: Các báo Pháp như báo Figaro, báo Nước Pháp buổi chiều… một mặt nó ru ngủ nhân dân, chia rẽ nhân dân, làm cho nhân dân mất chí khí phấn đấu, mất tinh thần đoàn kết giai cấp. Mặt khác, nó phục vụ giai cấp tư bản. Đó là những tờ báo chính trị. Lại còn những tờ báo “giật gân”, báo nói về ái tình, báo chuyên về lôi chuyện bí mật của những người có tiền ra để tống tiền… Tất cả báo chí ấy đều phục vụ lợi ích cho giai cấp bóc lột. Báo chí Pháp có thật tự do không? Không! Ví dụ báo Nhân đạo thường bị bọn thống trị tìm mọi cách để phá: nào phạt tiền, nào cho bọn du côn phá phách, nào làm khó khăn về giấy in, nhiều khi báo bị tịch thu…

Báo chí của ta phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới. Chính vì thế cho nên tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, v.v…) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng.

Báo chí của ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ cho nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu.

Mục đích chung của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, giữ gìn hòa bình thế giới. Nhưng mỗi tờ báo như báo của nông dân, báo của công nhân, báo của thanh niên, báo của phụ nữ… nên có đặc điểm của nó. Về hình thức thì không rập khuôn; rập khuôn thì báo nào cũng thành khô khan, làm cho người xem dễ chán.

Về trách nhiệm báo chí, Lênin có nói: báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung. Vì vậy, nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập tốt chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình. Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công.

Trong nghề báo ta có những kinh nghiệm của ta, nhưng ta cũng cần phải học thêm kinh nghiệm của các nước anh em. Muốn thế, thì những người làm báo ít nhất cũng cần biết một thứ tiếng nước ngoài.

…Trên đây nói nhiều về người viết báo. Nhưng trong nghề làm báo còn có nhiều ngành khác, như ngành in mà các cô, các chú thích nói chữ gọi là ngành “ấn loát” cũng rất quan trọng. Bởi vì có những lúc không cẩn thận, in thiếu dấu, thiếu nét, hoặc in lờ mờ không rõ. Người viết bài thích dùng chữ, như gọi người đánh cá là “ngư dân”, rồi người đi in lại in thiếu dấu ở chữ u, hóa ra “ngu dân”. Đấy chỉ là một ví dụ để thấy rằng việc in cũng phải làm cho tốt.

Việc phát hành cũng rất quan trọng. Phải làm thế nào cho báo có nhiều người xem. Giá tiền báo cũng cần phải đúng mức. Trong công tác, người viết, người in, người sửa bài, người phát hành… đều phải khớp với nhau.

Bác học viết báo

Có đồng chí hỏi kinh nghiệm làm báo của Bác. Kinh nghiệm của Bác là kinh nghiệm ngược. Bác học viết báo Pháp trước, rồi học viết báo Trung Quốc, rồi sau mới học viết báo Việt Nam. Còn học thì một là học trong đời sống của mình, hai là học ở giai cấp công nhân.

Lúc ở Paris, tuy biết nhiều tội ác của thực dân Pháp, nhưng không biết làm thế nào để nêu được. Một đồng chí công nhân ở tòa báo Đời sống thợ thuyền (La vie ouvrière) cho Bác biết báo ấy có mục “tin tức vắn”, mỗi tin chỉ năm ba dòng thôi, bà bảo Bác có tin tức gì, thì cứ viết, đồng chí ấy sẽ sửa lại cho. Từ đó, ngoài những giờ lao động, Bác bắt đầu viết những tin rất ngắn. Mỗi lần viết làm hai bản, một bản đưa cho báo, một bản thì giữ lại. Lần đầu tiên thấy tin được đăng thì rất sung sướng. Mỗi lần đều đem tin đã đăng trên báo so sánh với bài mình đã viết, xem sai chỗ nào. Về sau đồng chí ấy bảo Bác cố viết dài thêm vài dòng nữa, rồi lại vài dòng nữa… Cứ thế kéo dài đến 15, 20 dòng rồi đến cả một cột dài. Lúc đó đồng chí ấy lại bảo: “Thôi, bây giờ phải rút viết ngắn lại, cũng những việc như vậy nhưng phải viết cho rõ, cho gọn”.

Các báo đăng bài của mình đều là báo phái “tả”, đều nghèo, không trả cho mình đồng tiền nào. Mình ngày thì đi làm, tối đi mít tinh, tuy khá vất vả, nhưng vẫn cố gắng viết để nêu tội ác của bọn thực dân.

Khi đã biết viết báo, mình lại muốn viết tiểu thuyết. Nhưng lại e rằng biết chữ Tây võ vẽ như mình thì viết tiểu thuyết sao được. Tình cờ đọc một truyện ngắn của L. Tônxtôi thấy viết một cách rất giản dị, dễ hiểu, thì cho rằng mình cũng viết được. Từ đó mình bắt đầu viết truyện ngắn.

Lúc đó mình sống ở khu phố công nhân nghèo, hiểu rõ đời sống của họ, mình cứ viết những điều mắt thấy tai nghe. Viết xong đưa đến Nhân đạo và nói với đồng chí phụ trách về văn nghệ: “Đây là lần đầu tiên tôi thử viết truyện ngắn, nhờ đồng chí xem và sửa lại cho”. Đồng chí ấy xem xong rồi bảo: “Được lắm, chỉ cần sửa lại một vài chỗ thôi”. Cách mấy hôm sau, thấy mấy truyện ngắn của mình được đăng báo thì sướng lắm. Sướng hơn nữa là nhà báo trả cho 50 phờrăng tiền viết bài. Chà! Lần đầu tiên được trả tiền viết báo! Với 50 phờrăng có thể sống 25 ngày không phải đi làm, tha hồ tham gia mít tinh, tha hồ viết báo, tha hồ đi xem sách….

Kinh nghiệm học viết báo của Bác là như thế.

Bác làm chủ bút

Có một thời gian mình làm cả chủ bút, chủ nhiệm, giữ quỹ, phát hành và bán báo của tờ báo Le Paria (Người cùng khổ). Các đồng chí thuộc địa Á – Phi viết bài và quyên tiền, còn bao nhiêu công việc mình đều bao hết. Cách bán báo: bán cho anh em công nhân Việt Nam, họ không biết chữ Pháp nhưng họ vẫn mua vì họ biết báo này chửi Tây, mua rồi họ nhờ anh em công nhân Pháp đọc cho họ nghe.

Một cách nữa là: ở Paris có những chỗ bán báo lấy hoa hồng. Là đồng chí với nhau cả, các anh chị ấy bán hộ cho mình mà không lấy hoa hồng, và họ bán được khá nhiều. Vì các số báoLe Paria vừa ra đều “được” Bộ Thuộc địa Pháp mua gần hết. Còn báo gửi đi các thuộc địa thì mấy chuyến đều bị tịch thu và người đưa báo thì bị bắt bỏ tù. Về sau, anh em thủy thủ Pháp bí mật chuyển hộ, thì không xảy ra việc gì. Nhưng rồi bọn thực dân cũng dò ra. Sau cùng phải dùng đồng hồ có chuông mà gửi. Cách gửi như vậy đắt lắm, nhưng báo đều đến được các thuộc địa.

Cách thứ tư: trong những cuộc mít tinh, mình đưa báo ra phát, rồi nói: “Báo này nói cho các đồng chí biết bọn thực dân áp bức chúng tôi như thế nào. Báo này để biếu thôi, nhưng đồng chí nào có lòng giúp cho báo, thì chúng tôi cảm ơn”. Kết quả là: nếu đem bán thì 100 tờ báo được 5 phờrăng, nhưng “biếu không” thì có khi được tới 10, 15 phờrăng. Vì anh em công nhân có một, hai xu hoặc một, hai phờrăng cũng cho cả.

Khi đi qua Liên Xô đồng chí L. phóng viên báo Tiếng còi bảo mình viết bài và dặn phải viết rõ sự thật: việc đó ai làm, ở đâu, ngày tháng nào… và viết phải ngắn gọn. Cách đây mấy năm, mình trở lại Liên Xô. Đồng chí L. lại bảo mình viết. Nhưng L. lại bảo: chớ viết khô khan quá. Phải viết cho văn chương. Vì ngày trước khác, người đọc báo chỉ muốn biết những việc thật. Còn bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc.

Khi đến Hoa Nam, mình lại tập viết báo Trung Quốc. Mỗi lần viết xong, mình sửa đi sửa lại mấy lần rồi mới gửi đến Cứu vong nhật báo…. Thấy bài mình đã được đăng lại được đóng khung, điều đó khuyến khích mình tiếp tục viết. Nói tóm lại, mình phải học tập không ngừng và phải luôn luôn khiêm tốn.

Đến ngày Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ra tờ báo Thanh niên thì mình lại học viết tiếng ta. Lúc ấy, vấn đề khó khăn là làm thế nào để gửi báo về nước cho đến tay người đọc.

Năm 1941, mình bí mật về nước. Theo lời dạy của Lênin: tờ báo là công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức và lãnh đạo, cho nên mình cố gắng ra một tờ báo ngay, và phải làm rất bí mật vì luôn luôn có mật thám của Pháp, Nhật và Bảo Đại rình mò. Điều kiện sinh hoạt thì bữa đói, bữa no. Làm báo thì phải có đá in. Mấy đồng chí đi lấy trộm những tấm bia đá, rồi mài mấy ngày mới thành bản in. In thì phải viết chữ trái lên đá, thế là phải có một đồng chí phải hì hục tập viết chữ trái. Mấy số báo đầu, ba, bốn anh em cùng làm, nhưng in cứ toe toét, chỉ in được ít và xấu xí. Nhưng về sau cứ tiến bộ dần, mỗi lần in được gần 300 số. Phải đặt bia đá “nhà in” ở ba chỗ khác nhau. Khi động chỗ này thì chạy đến chỗ khác mà in, và báo vẫn ra đúng kì. Địch chịu không làm gì được.

Vấn đề giấy cũng gay. Lúc bấy giờ ai mua nhiều giấy địch cũng nghi, và theo dõi. Các chị em mỗi người đi chợ mua năm, mười tờ, nói dối là mua cho con cháu học, rồi góp lại để in báo.

In bản đá, muốn sửa chữa phải dùng a xít, mà a xít thì mua đâu được? Có đồng chí đã nghĩ ra cách dùng chanh thay a xít. Chị em lại mua chanh để ủng hộ báo.

Còn việc phát hành: Để báo ở các hang đá bí mật Các đồng chí phụ trách cơ sở Việt Minh cứ đến đó mà lấy. Báo bán hẳn hoi, chứ không biếu.

Thế là mọi việc đều dựa vào quyết tâm của mình, dựa vào lực lượng và sáng kiến của quần chúng.

Đồng bào địa phương rất thích đọc báo, vì báo viết điều gì cũng thấm thía với họ. Đồng bào còn tự động tổ chức những tổ đọc báo và bí mật đưa tin tức cho báo. Đồng bào lại tìm đến cách tuyên truyền cho lính dõng đọc báo để làm “binh vận”.

Đề tài duy nhất

Về nội dung viết, mà các cô, các chú gọi là “đề tài”, thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một “đề tài” là chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác với báo chí là như vậy đó.

Kết luận: kinh nghiệm của 40 năm là: không sợ khó, có quyết tâm. Không biết thì phải cố gắng học, mà cố học thì nhất định học được. Bây giờ các cô, các chú có điều kiện học tập dễ dàng hơn Bác trước kia. Mong các cô, các chú cố gắng và tiến bộ!

HỒ CHÍ MINH

Trích bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ hai Hội nhà báo Việt Nam, 16-4-1959 Hồ Chí Minh toàn tập

Theo quangbinh.gov.vn
Tâm Trang (st)
cpv.org.vn

Dạy tốt, học tốt theo lời Bác Hồ dạy

QĐND – Sự nghiệp giáo dục và đào tạo đang đứng trước bước ngoặt quan trọng: Tự vượt chính mình để làm theo lời Bác Hồ dặn: Dù khó khăn, gian khổ đến đâu cũng phải thi đua “dạy tốt, học tốt”, “trồng người” vì lợi ích trăm năm…

Năm học vừa qua, toàn ngành giáo dục đã có sự khởi động cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, được dư luận đồng tình ủng hộ. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cũng được triển khai đều khắp, nội dung thiết thực với công tác dạy và học. Đã có sự chuyển biến mới trong các kỳ thi cùng với tăng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục… Phát huy kết quả bước đầu đó, đáp ứng cao hơn yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, trong năm học mới, toàn ngành giáo dục tiếp tục triển khai mạnh mẽ cuộc vận động: Nói không với tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tích trong giáo dục và mở rộng thêm: Nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo và việc ngồi nhầm lớp của học sinh.

Đó là yêu cầu rất cao, đòi hỏi mỗi nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục rèn luyện tư cách, phẩm chất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, chấp hành pháp luật, không vi phạm đạo đức nhà giáo, thường xuyên tự học, nâng cao trình độ. Các học sinh, sinh viên sẽ triển khai các hoạt động theo chủ đề với trọng tâm là tăng cường ý thức và ý chí học tập vì đất nước, vì bản thân, tu dưỡng đạo đức, xây dựng nếp sống văn minh, tuân thủ nội quy nhà trường và pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia công tác xã hội và các hoạt động tình nguyện. Phát triển hệ thống khảo thí và kiểm định chất lượng, tiếp tục đổi mới công tác thi, kiểm tra đánh giá theo yêu cầu phản ánh đúng chất lượng. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Nâng cao năng lực của hệ thống quản lý giáo dục từ trung ương đến địa phương và năng lực quản lý của các trường. Củng cố và tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, phát triển mạng lưới trường, lớp học, phòng học bộ môn, nhà công vụ cho giáo viên; thu hút các nguồn lực cho xây dựng cơ sở vật chất, trường, lớp học, thiết bị giáo dục bằng những chính sách và quy hoạch rõ ràng…

Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện là yêu cầu rất cao, đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, bảo đảm các yêu cầu về giáo dục chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh; giáo dục thể chất; giáo dục thẩm mỹ; giáo dục hướng nghiệp; giáo dục trật tự an toàn giao thông và giáo dục pháp luật; giáo dục phòng, chống các tệ nạn xã hội, tội phạm; giáo dục bản sắc văn hóa các dân tộc; thực hiện nghiêm chỉnh Nghị định số 116/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ về giáo dục quốc phòng – an ninh và các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác giáo dục quốc phòng – an ninh trong ngành giáo dục và đào tạo.

Bằng tất cả trách nhiệm và tình cảm của mình, cùng với toàn dân, toàn quân ta quyết góp phần tạo chuyển biến mới trên mặt trận diệt giặc dốt, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài cho đất nước. Các cơ quan, đơn vị có kế hoạch cụ thể, tham gia giáo dục truyền thống anh hùng của đất nước, dân tộc và quân đội ta; giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; giáo dục kiến thức quốc phòng, hướng nghiệp binh nghiệp; nêu gương sáng Bộ đội Cụ Hồ cho học sinh noi theo. Đồng thời, góp phần giảm bớt khó khăn về cơ sở vật chất, trang, thiết bị dạy học; tổ chức xóa mù chữ, phổ cập giáo dục; chủ động phối hợp với địa phương nơi đóng quân phòng, chống thiên tai bão, lũ, khắc phục kịp thời hậu quả, nhanh chóng khôi phục nền nếp dạy và học…

Đất nước trong thời bình song trước diễn biến phức tạp của thời cuộc, sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ được đào tạo, bồi dưỡng bài bản, theo một hệ thống khoa học. Vì vậy, nhiệm vụ của các nhà trường quân đội trong năm học mới rất nặng nề. Bằng các bài giảng kết hợp lý thuyết với thực hành, tổng kết và rút ra bài học kinh nghiệm, các nhà trường góp phần rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, truyền thống quyết chiến quyết thắng, nâng cao chất lượng tổng hợp, củng cố và tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ. Tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, nâng cao chất lượng đào tạo. Điều chỉnh nội dung và phương thức đào tạo phù hợp với chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tiếng trống trường vang dậy khắp non sông, mở ra năm học 2007-2008 và ngày “Toàn dân đưa trẻ đến trường”. Năm học mới với quyết tâm nâng cao chất lượng toàn diện, thúc giục toàn quân, toàn dân đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo chuyển biến toàn diện theo lời Bác dạy, đáp ứng yêu cầu nhân lực thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

qdnd.vn

Những điều Bác Hồ dạy về cách làm báo

Ngày 21/6/1925, Tờ báo Thanh Niên do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, chỉ đạo và là người biên tập chính ra số đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của báo chí cách mạng Việt Nam. Các tổ chức cách mạng ở trong nước dùng tờ báo này để tuyên truyền, giác ngộ và giáo dục quần chúng, làm cầu nối truyền ánh sáng tư tưởng cách mạng của Bác về cho dân tộc, góp phần to lớn cho sự nghiệp giải phóng đất nước.

anh bac ho voi nha baoHồ Chủ tịch chụp ảnh lưu niệm với các nhà báo trong nước và nước ngoài đưa tin và chụp ảnh về Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3 (9/1960). Ảnh: T.L

Theo giáo sư, tiến sĩ Tạ Ngọc Tấn, Giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, trong khoảng 50 năm cầm bút, Bác đã viết hơn 2.000 bài báo, 276 bài thơ, gần 500 trang truyện và ký, Bác có gần 200 bút danh. Người đã để lại cho các thế hệ nhà báo nhiều bài học lớn về nghề báo, trong đó có cách viết, cách nói.

Sở dĩ Bác Hồ hết sức chú trọng đến cách nói và cách viết vì đó là công cụ để biểu đạt tư duy, quan điểm và tình cảm của con người với nhau. Quan điểm của Người về phong cách người làm báo rất rõ ràng. Trước khi nói về cách làm báo và viết báo, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến tư cách của người làm báo, coi người làm báo là người chiến sỹ cách mạng trên mặt trận tư tưởng. Người luôn đặt ra những câu hỏi cụ thể: Viết để làm gì, viết cho ai, viết cái gì và viết như thế nào?

Như vậy, Người đã nói dễ hiểu về mục đích, đối tượng phục vụ, nội dung và phương pháp làm báo. Người còn chỉ cho các nhà báo thấy rõ cần phải thường xuyên học tập, suốt đời rèn luyện không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị và bản lĩnh nghề nghiệp của mình. Là vị lãnh tụ uyên thâm, thông thạo nhiều ngoại ngữ, Người lại am hiểu nhiều nền văn hóa và dày dạn kinh nghiệm nên đã in đậm dấu ấn tốt đẹp trong các tác phẩm báo chí của mình. Nhà báo lão thành Phan Quang nhận xét: “Bác đã thể hiện bằng Pháp văn rất nhuần nhị, trí tuệ và hiện đại. Qua tiếng Pháp, những áng văn chính luận khúc triết, những truyện ký tài hoa, những tiểu phẩm sắc sảo, pha chút hài hước làm say mê lòng người(1). Khi đọc những tác phẩm của  Bác Hồ, nhà văn Hoài Thanh viết: “Có một điều lạ hết sức. Tôi cứ nghĩ không biết làm sao mà giữa bao nhiêu công việc bề bộn, Bác lại có thể viết được nhiều như vậy. Những anh, chị em còn trai tráng và chuyên nghề viết cũng ít người viết được như thế. Chưa nói gì khác, riêng khối lượng sức lao động đó cũng là một bài học lớn đối với chúng ta. Nhưng chuyên cần mà không vất vả. Sự làm việc chuyên cần hình như đã biến thành một điệu sống tự nhiên. Câu văn của Bác không lúc nào thấy khắc khổ. Nó không khô khan mà còn chứa chan tình cảm”(2).

Với quan niệm báo chí cách mạng là một mặt trận chiến đấu của cách mạng, Bác Hồ chỉ rõ: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút trang giấy là vũ khí sắc bén của họ. Bác nói thêm: “Bài báo là tờ hịch cách mạng. Đã là nhà báo, chiến sỹ cách mạng, bất cứ người cầm bút nào trên mặt trận báo chí cách mạng phải hiểu rõ mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng là gì? Từng giai đoạn lịch sử đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ khác nhau. Khi đất nước còn trong vòng nô lệ phải làm thức tỉnh và động viên nhân dân đứng lên làm cách mạng đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân. Khi đã có chính quyền thì động viên sức mạnh toàn dân tộc giữ gìn chính quyền, bảo vệ thành quả cách mạng, tiến hành các cuộc kháng chiến chống xâm lược, giành độc lập thống nhất đất nước, đưa đất nước tiến lên một giai đoạn phát triển mới. Tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam (ngày 8/9/1962 Người chỉ rõ: “Nhiệm vụ của báo chí là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của báo chí đòi hỏi người làm báo phải có đủ phẩm chất của người cán bộ cách mạng, không ngại gian khó, hy sinh (kể cả hy sinh tính mạng), vì nhân dân phục vụ. Người làm báo phải dùng cây bút, trang giấy làm vũ khí sắc bén chiến đấu cho mục đích vẻ vang của cách mạng, chứ không phải làm báo để lưu danh thiên cổ, muốn viết cho ai, muốn đăng bài mình lên các báo lớn. Cũng tại Đại hội II Hội Nhà báo Việt Nam, Bác nhận xét rằng, ưu điểm cũng còn nhiều và một trong những khuyết điểm đó là nắm vấn đề chính trị không được chắc chắn. Bác căn dặn: “…tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Ở Đại hội lần thứ III Hội nhà báo Việt Nam (1962) Bác  lại nói: “Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng,  cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ; đi sâu thực tế, đi sâu quần chúng lao động. Bác còn nói: “Báo chí của ta đã có một vị trí quan trọng trong dư luận thế giới. Địch rất chú ý, bạn rất quan tâm đến báo chí ta. Cho nên làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung, về cách viết.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người am hiểu tuyệt vời sức mạnh của ngôn từ và sự tác động của nó vào đời sống tinh thần, đạo đức, tư tưởng, tình cảm và hành động của quần chúng. Người từng nói: “Tờ báo chỉ là giấy trắng, mực đen mà thôi. Nhưng, với giấy trắng, mực đen ấy, người ta có thể viết những tối hậu thư, người ta có thể viết những bức thư yêu đương. Người cũng nói: “Ngòi bút của các bạn cũng là vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà. Từ quan điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở các nhà báo phải sử dụng đúng sức mạnh của ngòi bút, ngôn từ để phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc.

Người cũng đã nhiều lần chỉ rõ: “Đối tượng của tờ báo là đại đa số quần chúng, một tờ báo không được đa số ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo; muốn được dân chúng ham chuộng, coi tờ báo ấy là của mình thì: nội dung  tức là các bài viết  phải đơn giản, dễ hiểu, phổ thông, thiết thực, hoạt bát và hình thức  – tức cách sắp đặt các bài, cách in  phải sạch sẽ sáng sủa.

Với tư cách là một nhà báo lỗi lạc, dày dạn  kinh nghiệm và đức tính khiêm tốn, Bác đã truyền đạt cho những người viết báo một cách đơn giản, dễ hiểu: “Khi viết xong thì nhờ anh em xem và sửa giùm. Chớ tự ái, cho mình là tuyệt rồi. Tự ái là tự phụ, mà tự phụ là kẻ địch ngăn chặn con đường tiến bộ của chúng ta. Đó là bài học lớn cho những người làm báo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bản chất của báo chí cách mạng là ngoài tính chiến đấu, tính khoa học, tính giai cấp, tính chân thực, khách quan, còn phải được thể hiện một cách đơn giản, dễ hiểu, đại chúng, sinh động để báo chí làm tròn nhiệm vụ mà LêNin từng chỉ rõ: Tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức và giáo dục tập thể để đa số những người bị bóc lột, bị áp bức ghê gớm của chủ nghĩa tư bản trên thế giới cũng có thể hiểu được. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyên các nhà báo: “Phải học cách nói, tiếng nói của quần chúng, chớ ham dùng chữ. Bác phê phán lối viết lằng nhằng, tràng giang, đại hải, dây cà, dây muống, không hợp với trình độ và thời gian của quần chúng; thường nói một chiều và đôi khi thổi phồng thành tích mà ít hoặc không nói đúng mức đến khó khăn và khuyết điểm của ta; thiếu cân đối, tin nên dài thì viết  ngắn, nên ngắn lại viết dài, khuyết điểm nặng nhất là dùng từ nước ngoài quá nhiều và nhiều khi dùng không đúng.

Nhà văn hoá Hà Huy Giáp viết: “Hồ Chủ tịch rất chú trọng cách viết. Người rất cẩn trọng ngay đến cách dùng một từ nhỏ, một dấu chấm câu, cách bố cục một bài viết. Hồ Chủ tịch là một nhà ngôn ngữ nghiêm khắc. Cũng như Lê-nin, Người dùng rất ít chữ mà là những chữ đúng nhất, cần thiết nhất, để một viện sĩ hàn lâm đến người nông dân đều có thể hiểu được(3).

Tìm hiểu những điều Bác dạy, những người làm báo phải luôn ý thức được báo chí ta phải phục vụ công  nông  binh, phục vụ quần chúng. Làm sao để tờ báo, tạp chí, sách đến được từng người, từng nhà, nhân dân ta, kiều bào ta và bạn bè thế giới. Đồng thời làm sao để quần chúng tự nguyện, tự giác đến với báo chí nhiều nhất. Đó là nguyên lý của báo chí cách mạng. Vì thế, phải nói những điều thiết thực, đúng đường lối chính trị, ít tếu, viết, vẽ dễ hiểu, phổ thông, trình bày rõ ràng, ít tiếp sang các trang khác, đặc biệt phải viết ngắn vì đồng bào không có thì giờ đọc dài, người lính không cho phép xem lâu.

Những lời căn dặn của Người về báo chí và những bài học kinh nghiệm về cách nói, cách viết báo càng suy ngẫm, càng soi rọi vào thực tiễn càng thấy vẫn nguyên giá trị truyền nghề cho các thế hệ làm báo ở nước ta hôm nay và mai sau.

Theo Nguyễn Văn Thanhwww.baohoabinh.com.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn