Tag Archive | Tin tức

Hồ Chí Minh, nhà Trung Quốc học uyên bác

Trong bài “Hồ Chí Minh, nhà Trung Quốc học đương đại vĩ đại nhất của Việt Nam”, nhà ngoại giao công tác nhiều nǎm ở Trung Quốc Dương Danh Dy đã nghiên cứu về Bác, lãnh tụ thiên tài còn là một nhà ngoại giao hiểu biết sâu sắc về Trung Quốc. Bài viết cho thấy tác giả đã thai nghén, ấp ủ đề tài này từ những nǎm tháng Bác còn sống. Nhiều suy tư và kinh nghiệm đọc, kinh nghiệm sống của tác giả đã dồn cho công việc nghiên cứu này.

Nhân kỷ niệm 111 nǎm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quốc Tế trân trọng giới thiệu một số đoạn trong bài viết rất có giá trị này của tác giả Dương Danh Dy*.

…Chúng ta đều biết, Bác Hồ xuất thân trong một gia đình khoa bảng, ngay từ nhỏ đã được học chữ Hán một cách cơ bản. Trình độ Hán ngữ của Bác chắc chắn đã được bổ sung và nâng cao khi Người quen biết một số nhà hoạt động cách mạng Trung Quốc ở Paris (1917-1923) như Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân… (trong đó có cả nhà thơ Trung Quốc Tiêu Tam mà Bác là người giới thiệu vào Đảng Cộng sản Pháp) cũng như trong những lần Người hoạt động và bị bọn Quốc Dân đảng giam giữ ở Trung Quốc: lần thứ nhất từ nǎm 1924-1927 ở Quảng Châu (tôi dự đoán Bác đã nói được tiếng Trung Quốc trong thời gian ở Pháp – vì khi ở Quảng Châu danh nghĩa công khai của Bác là phiên dịch cho cố vấn người Liên Xô, Bôrôđin với Đảng Cộng sản Trung Quốc). Lần thứ hai từ nǎm 1938 đến đầu nǎm 1941, người từ Liên Xô qua Trung Quốc trở về nước. Lần thứ ba từ tháng 8/1942 đến tháng 9/1943, Bác bị bọn phản động Quốc Dân đảng giam giữ tại Quảng Tây.

Sự tinh thông Hán ngữ của Bác thể hiện ở những bài thơ Bác làm bằng chữ Hán mà chúng ta đều biết qua tập “Ngục trung nhật ký” và những bài khác. Những bài thơ làm theo thể Đường luật của Bác hay đến mức mà Quách Mạt Nhược – nhà vǎn hoá lớn của Trung Quốc phải thốt lên, nếu để lẫn với thơ Đường khó phân biệt được (đại ý). Đấy là trình độ viết. Còn trình độ nghe và nói của Bác ra sao. Ta hãy nghe người Trung Quốc đánh giá: “Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng lâu dài ở Trung Quốc, rất tinh thông Hán ngữ. Khi xem vở kịch Truy Ngư, không cần phiên dịch cũng hiểu được tám, chín phần nếu như không muốn nói là tất cả (xin mở ngoặc – đó là một trình độ rất cao). Hồ Chí Minh hiểu rõ vǎn hóa Trung Quốc, ngày 1/8/1959 đến thǎm Bảo tàng Lư Sơn. Khi vào phòng nghỉ thấy trên một chiếc bàn lớn đã để sẵn giấy Tuyên, nghiên mực và mấy chiếc bút lông to nhỏ khác nhau, vừa nhìn Hồ Chí Minh đã biết ngay dụng ý của chủ nhân là muốn mình đề chữ. Vì vậy sau khi Bí thư Đảng uỷ Cục quản lý Lư Sơn đề nghị, Người đã đi đến trước bàn hỏi các đồng chí Trung Quốc: dùng ngón tay viết có được không? Bí thư Đảng uỷ trả lời xin tuỳ Hồ Chủ tịch!

Thế là Hồ Chí Minh nghiêng người về phía trước, nhúng ngón tay vào nghiên mực viết ba chữ Hán rất có lực “Lư Sơn hảo” (Lư Sơn đẹp). Viết xong, Người rửa tay, dùng bút lông đề lạc khoản “tháng 8/1959, Hồ Chí Minh”. Bức đề chữ này được treo ở phòng trưng bày của Bảo tàng Lư Sơn.

*

…Tháng 8/1960, Hồ Chí Minh đến Trung Quốc, lúc này bất đồng Trung – Xô đã công khai bộc lộ, Mao Trạch Đông sau khi trình bày với Hồ Chí Minh những nguyên nhân gây nên bất đồng đã biểu thị sẽ dùng phương thức “đoàn kết – phê bình – đoàn kết” để đối xử với Liên Xô. Hồ Chí Minh đồng ý nguyên tắc đó nhưng cho rằng “phương pháp mà các đồng chí Trung Quốc sử dụng có lúc dường như không hiểu lắm tính cách cá nhân đồng chí phương Tây cho nên hiệu quả không tốt”.

– Nói rất đúng, chúng tôi cũng phải chú ý phương thức phê bình. Mao Trạch Đông nói.

Để trình bày rõ hơn nữa quan điểm của mình, Hồ Chí Minh đã thuận tay cầm lấy bao thuốc lá giơ lên trước mặt nói: “Lấy việc mời người hút thuốc lá làm ví dụ, cầm cả bao thuốc mời người ta, người ta sẽ vui lòng nhận ngay; còn nếu quǎng điếu thuốc lá lên bàn nói “hút thuốc đi”, sẽ có người không vừa ý”. Vừa nói Hồ Chí Minh vừa quǎng thuốc lá lên bàn, rồi nói tiếp: “Sự thực không hẳn như vậy, nhưng tập quán cá nhân có khác nhau. Người phương Tây nói chung không thích phương thức mời sau. Nguyên tắc phê bình là đã biết thì nói, đã nói thì nói hết. Thế nhưng phương thức nói làm người ta không thích thì hiệu quả không tốt”.

Mao Trạch Đông gật đầu, tán thành cách nói của Hồ Chí Minh: “Phải dùng ngôn ngữ khoa học, giống như Mác, Ǎnghen, Lênin đã phê bình. Không thô bạo, phê bình phải chuẩn xác, rõ ràng, sinh động!

– Phải thêm tình đồng chí. Hồ Chí Minh bổ sung.

*

…Còn có thể nêu nhiều dẫn chứng, cho thấy sự am hiểu sâu sắc vǎn hóa Trung Quốc của Hồ Chí Minh, ở đây xin phép nêu một nhận định: Bác không những hiểu biết sâu sắc mà còn vận dụng một cách sáng tạo, dân tộc hoá những câu nói – ý nghĩ hay của Trung Quốc cổ đại vào hoàn cảnh Việt Nam đương đại:

Phải thẳng thắn nói rằng một số câu nói của Bác, mà hiện nay chúng ta thường nhắc, như:

– “Vì lợi ích mười nǎm trồng cây; vì lợi ích trǎm nǎm trồng người” bắt nguồn từ câu: “Thập niên chi kế, mạc như thụ mộc; bách niên chi kế, mạc như thụ nhân” trong “Quản tử – Quyền tu”.

– “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”, bắt nguồn từ câu: “Bất hoạn quả nhi hoạn bất quân” trong “Luận Ngữ” hoặc dịch câu thơ của Lỗ Tấn: “Hoàn mi lãnh đối thiên phu chỉ, phủ thủ cam vi nhụ tử ngưu” thành: “Trợn mắt xem khinh ngàn lực sĩ, cúi đầu làm ngựa đứa nhi đồng” trong dịp Đảng Lao động Việt Nam công khai ra mắt. v.v…

Tôi cảm thấy: không những Bác am hiểu sâu sắc vǎn hóa Trung Quốc mà trong tâm hồn Người dường như có một chỗ rất sâu kín, rất trân trọng, rất tình cảm dành cho nền vǎn hóa đó, đến nỗi nó đi vào Di chúc của Bác một cách hết sức tự nhiên. “Nhân sinh thất thập cổ lai hy” (người bảy mươi tuổi xưa nay hiếm) Bác trích và dịch thơ Đỗ Phủ và tự hào rằng mình đã vượt xa cái ngưỡng tuổi đó (nhưng có lẽ chính là để an ủi con cháu trước khi Người đi xa).

*

…Để kết thúc bài viết này, tôi muốn kể lại hai mẩu chuyện nữa về nhà Trung Quốc học – Hồ Chí Minh của chúng ta:

– Nǎm 1956, Chủ tịch đoàn Xô viết tối cao Liên Xô – Vôrôxilôp sang thǎm nước ta, cùng đi trong đoàn có Fêđôtôp, Thứ trưởng Ngoại giao – nhà Trung Quốc học, nhà vǎn của Liên Xô. Trong dịp đó, Bác đã đến thǎm nơi ở của Chủ tịch Vôrôxilôp. Để đáp lễ, Chủ tịch Vôrôxilôp đề nghị tới thǎm nơi ở của Bác, nhưng Bác từ chối (lúc đó Bác đang ở trong cǎn phòng của người thợ sửa chữa điện của Phủ Toàn quyền cũ). Chủ tịch Vôrôxilôp giao nhiệm vụ phải đến thǎm nơi ở của đồng chí Hồ Chí Minh cho ông Fêđôtôp. Biết Bác là người tinh thông Hán học, ông này khi đề cập đến chuyện đó đã dùng câu trong kinh Lễ viết mấy dòng: “Lễ thượng vãng lai, hữu vãng vô lai, phi lễ dã” (lễ là có đi có lại, có đi không có lại, không phải là lễ). Đọc xong, Bác đồng ý để Chủ tịch Vôrôxilôp đến nơi ở của mình.

Giữa nǎm 1964, đồng chí Bành Chân – Uỷ viên Bộ Chính trị kiêm Phó Chủ tịch Uỷ ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc thǎm Việt Nam. Lúc này quan hệ Xô – Trung rất cǎng thẳng, do thái độ đúng đắn của Đảng ta, đó đây có dư luận cho rằng Việt Nam ngả theo xét lại. Biết được điều đó, khi tiễn đồng chí Bành Chân, Bác đã đọc hai câu thơ Đường của Vương Xương Linh:

Bắc Kinh thân hữu như tương vấn,

Nhất phiến bǎng tâm tại ngọc hồ.

(Nghĩa là: Bạn thân Bắc Kinh nếu có lời hỏi thǎm, (thì thưa hộ rằng tôi) vẫn giữ một tấm lòng trong trắng như bǎng trong bình ngọc) để nói lên sự trung thành tuyệt đối của Đảng ta – của Bác – đối với chủ nghĩa Mác Lênin.

Cái hay cái tài của Bác ở đây là, Bác chỉ đổi hai chữ Lạc Dương trong nguyên vǎn thành hai chữ Bắc Kinh, là đã nói được đầy đủ cái ý định nói. Nên nhớ, hai câu thơ, hoặc cả bài thơ tứ tuyệt đó rất được phổ biến ở Trung Quốc, câu thơ đó của Bác có tác động rất lớn lúc bấy giờ.

Bắc Kinh – Hà Nội 3/9/1969-19/5/2001

Nguồn: Báo Quốc tế, ngày 16/5/2001
cpv.org.vn

Hồ Chí Minh, một cuộc đời

Tại Mỹ vừa xuất bản cuốn sách nhan đề Hồ Chí Minh, một cuốn tiểu sử dày 704 trang, được giới Việt Nam học và người đọc khen ngợi, đánh giá cao. Tác giả là William J. Duiker, một học giả hàng đầu về cuộc đời Hồ Chí Minh. Ông đã dành gần 30 nǎm để nghiên cứu viết nên cuốn sách này, với lời đề tặng: Kính tặng nhân dân Việt Nam.

>> Ho Chi Minh: A Life

Tôi bắt đầu say mê Hồ Chí Minh từ giữa những nǎm 1960 khi đang là một sĩ quan trẻ làm việc tại đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, tôi lấy làm khó hiểu trước việc các du kích Việt cộng chiến đấu trong rừng rậm tỏ ra có kỷ luật và động cơ cao hơn đội quân đồng minh. Khi thử tìm hiểu vấn đề, tôi được giải thích rằng đó là do vai trò của nhà khởi xướng và nhà chiến lược bậc thầy cách mạng Việt Nam – ông Hồ Chí Minh. Sau khi thôi phục vụ chính quyền Mỹ để theo đuổi sự nghiệp khoa học, tôi có ý định viết một cuốn tiểu sử về nhân vật hết sức phong phú này.

Hiện nay, hơn ba thập niên sau khi ông qua đời, Hồ Chí Minh vẫn được tôn kính ở Việt Nam. Đối với nhân dân Việt Nam, hình ảnh ông vẫn là thiêng liêng. Sự nghiệp mà ông khởi xướng và lãnh đạo đã tạo thành một thời điểm quyết định của thế kỷ 20, thể hiện đỉnh cao của kỷ nguyên giải phóng dân tộc trong Thế giới thứ ba và sự ghi nhận đầu tiên về những giới hạn trong chính sách ngǎn chặn chủ nghĩa cộng sản của Mỹ.

Là thành viên của phong trào cộng sản quốc tế, kiến trúc sư của thắng lợi cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh hẳn nhiên là một trong những nhân vật chính trị có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 20. Ông có một tính cách lãnh đạo riêng bằng thuyết phục và đồng tâm hơn là áp đặt ý chí quyền lực của mình cho người khác. Khác với những nhân vật cách mạng nổi tiếng khác, Hồ Chí Minh ít quan tâm tới hệ tư tưởng và các cuộc tranh luận ý thức mà tập trung toàn bộ suy nghĩ và hoạt động của mình vào các công việc thực tế nhằm giải phóng đất nước mình và các dân tộc thuộc địa khác thoát khỏi chủ nghĩa đế quốc phương Tây.

Thật khó hình dung cuộc cách mạng Việt Nam mà thiếu sự tham gia tích cực của Hồ Chí Minh. Ông Hồ không chỉ là người sáng lập Đảng và về sau là Chủ tịch nước, ông còn là nhà chiến lược chính và là biểu tượng có sức cổ vũ nhất của đất nước ông. Là nhà tổ chức tài ba, nhà chiến lược sắc sảo và nhà lãnh đạo có sức thuyết phục, con người Hồ Chí Minh một nửa là Lênin, một nửa là Gandhi. Đó là một sự kết hợp nǎng động. Trong khi cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam là một thực tế không tránh khỏi, vượt qua số phận của những cá nhân con người riêng lẻ nhưng nếu thiếu đi sự hiện diện của ông chắc nó đã diễn ra khác với những hậu quả khác.

Hồ Chí Minh, như vậy, là người tạo sự kiện (theo cách nói của nhà triết học Mỹ Sidney Hook), là đứa con của bước ngoặt, người kết hợp được trong cá nhân mình hai sức mạnh trung tâm của lịch sử Việt Nam hiện đại: khát vọng độc lập dân tộc và đòi hỏi công bằng xã hội và kinh tế. Do các sức mạnh này vượt ra ngoài biên giới nước mình, ông Hồ đã có thể truyền thông điệp của ông đến các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới và nói lên yêu cầu chung của họ về nhân phẩm và tự do thoát khỏi ách áp bức đế quốc. Ông đã có một vị trí trong ngôi đền các danh nhân cách mạng, những người đấu tranh kiên cường để đưa lại cho những người cùng khổ trên toàn thế giới tiếng nói trung thực của họ.

Báo Tuổi trẻ
cpv.org.vn

Lần đầu gặp gỡ Hồ Chủ Tịch

Nguyễn Yên
(Sưu tầm và dịch)

Theo hồi ký của Raymond Aubrac (NXB Odile Jacob 1996)

Raymond Aubrac, một nhân vật lớn của cuộc kháng chiến chống Đức 1940. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, ông giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng lại nước Pháp và tham gia điều hành công việc của LHQ. Đặc biệt, ông trở thành bạn của Bác Hồ từ 1946, từng làm trung gian giữa Pháp và Việt Nam trong những cuộc thương lượng bí mật thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam.

Không hiểu tại sao, ngày 27/7/1946, tôi lại chấp thuận lời mời của người Việt Nam. Cuộc chiêu đãi người ta mời tôi là để đón chào Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Paris theo lời mời của Chính phủ Pháp trong khi đang diễn ra cuộc đàm phán khó khăn ở Fontainebleau.

Nói về Việt Nam, tôi quả thật không biết gì hơn đồng bào chúng tôi. Chúng tôi so sánh cuộc chiếm đóng thuộc địa như thời kỳ chúng tôi bị người Đức chiếm lĩnh.

Ngày 6/3/1946, nước Pháp ký hiệp ước công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Jean Sainteny, đại diện Chính phủ Pháp lúc ấy biết rõ rằng: đó là để đạt được sự quay lại Bắc kỳ của quân đội Pháp thay thế quân Trung Hoa rút đi. Cuộc đàm phán ở Fontainebleau phải xem xét nhiều vấn đề đang còn bỏ lửng. Cùng lúc đó, đô đốc D’ Argenlieu tiến hành ở Đà Lạt một cuộc thương thuyết khác nhằm giải quyết vận mệnh Đông Dương.

Được mới đến Pháp, Hồ Chủ tịch không tham gia phái đoàn ở Fontainebleau do ông Phạm Văn Đồng dẫn đầu. Đó là tất cả những gì tôi được biết về quan hệ Pháp- Việt khi một người trong ban tổ chức giới thiệu tôi với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đi qua đám đông, người ta dẫn tôi về phía con người nhỏ nhắn tươi cười với chòm râu và đôi mắt tinh anh. Ông cụ cầm tay tôi tách khỏi đám đông bao quanh và nói:

– Ông Aubrac, tôi đã biết những việc ông làm cách đây 2 năm ở Marseille đối với đồng bào tôi. Tôi xin cảm ơn ông!

Khi chiến tranh bùng nổ năm 1939, người ta đưa đến đây hàng ngàn lao động Đông Dương để thay thế công nhân Pháp bị động viên. Sau thất trận 1940, những ngươi đó bị tập trung trong các trại để sống qua những năm tháng bị người Đức chiếm đóng. Với tư cách ủy viên Chính phủ, tôi biết họ đang ở trong tình trạng hết sức tồi tệ. Khi công việc còn được giải quyết nhanh chóng, quyết định của tôi đã được áp dụng ngay. Ban chỉ huy cũ bị gạt ra và thay vào bằng những người trung thực. Tôi để người lao động bầu đại diện của mình vào một ủy ban thay mặt họ bên cạnh ban chỉ huy trại. Nói tóm lại, tôi gắng làm những gì có thể làm được.

Từ đấy, những người lao động Đông Dương- mà nhóm có tổ chức nhất là những người Việt Nam đã tỏ thái độ biết ơn tôi. Chúng tôi nhận được một hộp kẹo sôcôla vào ngày đầu năm, được mới đến dự Tết và ăn bữa ăn Việt Nam. Lần này, việc mời tôi đến Bagatelle không hẳn là điều bất ngờ.

Khoác tay nhau trên con đường nhỏ ở Bagatelle cùng với con người mà trang đầu của báo chí đang đưa lên thành nhân vật chính của thời sự, tôi không biết nói gì với ông.

– Thưa Chủ tịch, ngài có thích Paris không?

– Tất nhiên và tôi biết từ nhiều năm trươc, nhất là khu phố Latinh.

– Chỗ Ngài ở có tốt không?

– Chính phủ ông đã thuê cho tôi một tầng của tòa dinh thự trong khu phố Khải Hoàn Môn nhưng tôi thấy không hợp. Tôi thấy thiếu một mảnh vườn.

– Tôi rất vui lòng chỉ cho Ngài xem ngôi nhà của tôi. Nhưng, tôi ở khá xa, tận ngoại ô, ở Soisy-sous Montmonrency phía Bắc Paris.

– Vậy thì ông Aubrac, tôi rất vui lòng đến thăm vườn của ông. Nếu không phiền thì tôi sẽ đến vào thứ ba tới để uống trà, cùng đi còn 2 người bạn tôi.

Chiều hôm đó, tôi báo cho Lucie, vợ tôi, biết cuộc viếng thăm của người khách nổi tiếng này.

Vào đúng ngày giờ đã hẹn, vị Chủ tịch đã đến cùng đoàn mô tô hộ tống của Sở Cảnh sát đô thành.

Bàn ăn được dọn trước trong nhà, sân nối tiếp với khu vườn không lấy gì làm rộng rãi cho lắm. Bà mẹ của Lucie cũng có mặt, bà giúp chúng tôi vì vợ tôi sắp sinh cháu. Cháu Jean Pierre 5 tuổi đã đi học về. Cháu bé Catherine đang ngủ hay chơi đâu đó ngoài vườn.

– Đúng là một khung cảnh gia đình êm ấm, nhà ông ở lớn thật. Những ai sống ở đây?

– Những người mà Ngài thấy ở đây và một cô trông trẻ.

Tôi dẫn khách đi thăm nhà cửa.

Ngôi nhà gồm 3 tầng. Sau khi thăm khắp nhà một lượt, cụ Hồ Chí Minh kết thúc cuộc viếng thăm bằng một nhận xét ngắn như là nhân dịp nói qua:

– Tầng hai của ông không có ai ở. Tôi rất thích khu vườn. Nếu tôi được ở đây thì hơn là sống trong dinh thự chính phủ ông dành cho tôi.

Tính lịch thiệp, sự quan tâm và cả tình cảm mà con người đó biểu lộ đã khiến tôi lập tức đề nghị ông đến ở cùng gia đình. Thế là đã mở ra- có thể nói là một chương mới trong cuộc đời tôi. Hay nói đúng hơn là khởi đầu cho một loạt sự kiện trải dài trong hơn 40 năm sau và đến nay, vẫn tiếp tục khi tôi viết lại hồi ức này.

Việc ông Hồ Chí Minh đến nhà tôi không phải là chuyện ngẫu nhiên. Chắc chắn là có những quan hệ đã được những người Việt phác họa.

Không phải là đảng viên cộng sản, Lucie và tôi, vẫn được coi là những người cảm tình- cái mà người ta kêu là những người bạn đường- ở đây có sự tiếp nối thái độ dấn thân liên tục của chúng tôi.

Cuộc sống chung của chúng tôi với Bác Hồ được tổ chức không mấy khó khăn. Con người có tính cách đặc biệt đó, ngoài những đức tính thiên phú còn có ngay những mối quan hệ đơn giản nhất với tất cả những người đối thoại cho dù là bộ trưởng hay nông dân. Chỉ trong chốc lát, ai cũng thấy thoải mái. Không bao giờ Người giữ khoảng cách mà thường Người tự biết làm ra vẻ là nhà lãnh đạo sống ẩn mình.

Người bạn thân nhất của ông trong 6 tuần lễ ở nhà tôi có lẽ là bà mẹ vợ tôi. Một bà nông dân vùng Bourgogne, một người có lối diễn tả bộc trực và óc thông minh sâu sắc. Bác Hồ thường gợi chuyện cho bà kể về công việc, những thói quen, những định kiến của người trồng nho chúng tôi. Ông cũng trao đổi về những người nông dân nước mình.

Mỗi buổi sáng, người ta đem đến tất cả các báo Pháp, Anh, Mỹ, Nga và Bác Hồ không có gì thích hơn là được đọc báo. Bác đọc lướt qua tất cả ngồi xổm trên bãi cỏ giữa vườn.

Nhiều lần trong tuần, Người đi thăm người hàng xóm trong làng và trở về với nhiều hoa ôm ở trên tay.

Trong ngày, nếu không đi gặp những người đối thoại ở Paris thì Người tiếp khách tại nhà. Những nhà đàm phán Fontainebleau hầu như đến gặp ông hàng ngày. Buổi chiều, Người đề nghị chúng tôi mời ăn tối những nhân vật khác nhau: các chính khách cánh hữu, cánh tả, các nhà văn, nhà báo.

Việc chợ búa và nấu ăn là một gánh nặng đối với Lucie, bà mẹ vợ và chị giúp việc. Sau mấy ngày đắn đo- với sự ngần ngại mà tôi được hưởng của nền giáo dục tư sản- Bác Hồ đề nghị đưa một ngươi bạn cũ đến giúp việc cả ngày. Đó là một đầu bếp số một đang có quán ăn ở khu phố Latinh. Vậy là bố già Ti đã chiếm lĩnh hoàn toàn nhà bếp, hầm rượu và một nhà phụ. Nhà tôi biến thành một bếp ăn Việt Nam. Là người thành thạo, luôn tươi cười đon đả, ông Ti quả là một chuyên gia lớn.

Cuối tháng 7, nhân dịp sinh nhật tôi, Bác Hồ tặng tôi một bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm vẽ. Bức tranh một bà mẹ trong sáng với bàn tay và những ngón tay nhỏ thon ve vuốt đứa con của mình.

Hai ba ngày sau khi cháu Elisabeth chào đời, các cô y tá ở nhà hộ sinh Port Royal thấy một vị khách khác thường đến thăm cháu. Họ nhận ra ngay ông cụ vì hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đưa tin hàng ngày khắp các báo. Bác Hồ bế cháu trên tay và trước khi đặt xuống nôi đã quyết định nhận làm cha đỡ đầu cho bé. Từ ngày đó đã xảy ra một nghi thức đặc biệt cứ mỗi lần sinh nhật cháu, “người cha đỡ đầu” đều tìm cách gửi quà cho cháu cho dù xa xôi cách trở nghìn trùng và Người đang bận với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.

Khi cuộc đàm phán Fontainebleau kết thúc, Bác Hồ để phái đoàn về nước, Người ở lại một thời gian để ký với Marins Moutet một văn bản không mấy rõ ràng gọi là Tạm ước, đặt cơ sở để tiến tới một hiệp nghị hòng cứu vãn hòa bình.

Hồi năm 1952, tôi thường đến Praha (Tiệp Khắc). Những buổi gặp gỡ các bạn Việt Nam và nói về cuộc chiến tranh vô tận mà hai nước phải chịu đựng.

Trong những năm chiến tranh đó hai lần người ta yêu cầu tôi đi Việt Nam để gặp người bạn Hồ Chí Minh của tôi (Những yêu cầu đó xuất phát từ Vicent Auriol – Tổng thống – René Mayer- Chủ tịch Quốc hội). Tôi đã từ chối vì biết rằng họ không có gì đưa ra, chẳng qua chỉ là cái cớ cho các chính khách dựa vào đó tiếp tục chiến tranh.

Báo Công luận, ngày 18-24/5/2001
cpv.org.vn

Một lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sevgei Somov
Nguyễn Huy Hoàng dịch

Những năm 1960, khi tôi công tác ở Việt Nam, tôi có nhiều dịp gặp gỡ các sĩ quan cao cấp quân đội Việt Nam và đặc biệt là được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tôi có một Album ảnh về họ.

Giữa nhiều những bức ảnh, có một bức đã trở thành kỷ vật quý giá của tôi, đó là bức ảnh các phi công Liên Xô chụp chung với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có lần, những đứa cháu tôi rón rén đến ngắm bức ảnh, chúng hỏi tại sao tôi lại được đứng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và tại sao chung quanh Người không có đội bảo vệ? Tôi nói với bọn trẻ rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người vĩ đại, là lãnh tụ, là người thầy của dân tộc Việt Nam, Người không cần có vệ sĩ riêng, bởi ai cũng yêu quý, kính trọng Người, tất cả mọi người dân Việt Nam đều bảo vệ Người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ thông thái, nhìn xa trông rộng, mà còn là một con người nhân hậu và khiêm tốn, là Con Người viết hoa. Có thể đưa ra hai thí dụ. Chủ tịch hoàn toàn có điều kiện sống và làm việc trong một tòa nhà lớn, nhưng Người lại thích sống và làm việc trong một ngôi nhà sàn nhỏ, có hoa bao quanh và tự tay Người chăm sóc. Một lẵng hoa hồng luôn luôn được đặt trong phòng làm việc và bất cứ ai được Người tiếp, sau khi chia tay đều được Người tặng một bông hồng như biểu tượng của cái đẹp và lòng hiếu khách.

Một thí dụ khác. Năm 1963, Quốc hội Việt Nam quyết định trao tặng Người huân chương “Sao vàng” cao quý, nhưng Người từ chối phần thưởng, nói rằng vì lúc đó đất nước vẫn còn chưa thống nhất, tạm thời chia làm hai miền.

Tôi là người rất đỗi hạnh phúc, bởi số phận đã ban cho tôi một cơ hội không chỉ được nghe lời Người chúc Tết qua đài nhân dịp Tết âm lịch năm 1961, mà còn được gặp gỡ, nói chuyện với Người. Sau đây là câu chuyện ấy.

Vào mồng một Tết hằng năm, ở miền bắc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường đến thăm các bạn chiến đấu trong Đảng, những đồng chí đã cùng Người trải qua con đường gian khổ trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ vì độc lập và thống nhất Tổ quốc.

Tết năm ấy, khi mọi người tiến hành công việc chuẩn bị cho chuyến công tác của Người lên phía bắc thì một chỉ thị được ban ra: chiếc máy bay trực thăng từng chở Người đã đến lúc sửa chữa định kỳ và phải hoàn thành trước ngày bay. Lãnh đạo không quân Việt Nam yêu cầu phải hoàn tất công việc để chuyến bay được thực hiện theo kế hoạch đã định.

Sáng sớm ngày Chủ tịch lên đường đi công tác, tổ lái đã có mặt ở sân bay Gia Lâm. Chúng tôi cùng vị Tư lệnh Không quân Việt Nam nóng lòng chờ Người đến. Bất chợt, tôi thấy phía trước đường băng một chiếc xe con Liên Xô “Pôbêđa” lao tới. Tôi ngoảnh về đồng chí Tư lệnh nói: “Anh cho tập hợp lại kẻo anh em phân tán, để đón Chủ tịch”. Đồng chí tư lệnh quan sát phía trước và nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh đang tới”.

Cả nhóm kỹ sư và đội bay đứng chờ. Chủ tịch Hồ Chí Minh bước ra khỏi xe hơi. Cho đến lúc này tôi vẫn chưa lần nào được gặp Người, nhưng tôi biết khá rõ về cuộc đời hoạt động đầy gian truân của Người. Vì vậy, trong hình dung của tôi, tôi sẽ được gặp một người khỏe mạnh, phong trần, cao lớn như một chiến binh. Đại loại, vóc dáng của Hồ Chí Minh phải là như vậy. Nhưng thật ngạc nhiên khi từ trong xe bước ra là một người tầm thước với mái tóc gọn gàng đốm bạc, khuôn mặt điểm bộ ria cắt ngắn và một chòm râu bạc. Chủ tịch mặc bộ ka-ki trắng giản dị, đi đôi dép bình thường.

Người mỉm cười như đã quen biết chúng tôi từ lâu, đôi mắt hơi nheo ngời lên tia sáng ấm áp và nhân hậu rất đặc trưng ở Người Việt Nam. Hồ Chí Minh chính là con người tôi vẫn gặp hằng ngày trên đường phố Hà Nội và trên những cánh đồng lúa Việt Nam. Tôi báo cáo với Người: Chuyến bay đã sẵn sàng, còn Người ngoái về phía tôi hỏi bằng tiếng Nga rành rọt: “Chú là quân nhân à?”. Tôi trả lời: “Vâng ạ”. Tôi biết Người nói được nhiều ngoại ngữ, nhưng quả thật tôi khó hình dung ra Người nói tiếng Nga trong sáng đến như vậy. Về sau này tôi biết được rằng, lần đầu tiên Người đến Liên Xô vào mùa hè năm 1923 để học trường Đại học Quốc tế Phương Đông. Ngày 27-1-1924, trong bộ quần áo mỏng, giữa mùa đông nước Nga giá buốt, Người đã xếp hàng suốt ngày ở lối đi vào phòng khánh tiết Nhà Công đoàn để được vĩnh biệt Lê-nin…

Ngày hôm đó, chúng tôi không rời khỏi sân bay mà ở lại chờ Người quay trở về. Và khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra khỏi máy bay, chúng tôi lập tức đến đứng quanh Người. Tôi bước đến gần Người và đề nghị chụp ảnh kỷ niệm với các phi công Liên Xô. Và thế là chúng tôi có một bức ảnh trở thành báu vật của gia đình như thế.

Để kết thúc câu chuyện xúc động, khó quên này tôi không thể không kể thêm một chi tiết về vẻ đẹp của tâm hồn một con người thực sự vĩ đại. Khi hoa tiêu A.Xuốcnốp, bạn tôi, vừa chụp xong thì chúng tôi vội tản ra, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ngăn lại. Người nói: Các chú đứng lại đã, chú chụp ảnh không có mặt trong ảnh. Một chú khác ra chụp lần nữa. Và khi đó Xuốcnốp được đứng bên cạnh Người, còn các phi công khác được chụp lần thứ hai. Trong ảnh tôi đứng bên phải Người, trong bộ áo mầu sáng.

Văn nghệ quân đội
cpv.org.vn

Điện mừng sinh nhật đồng chí Vante Unbrích (29-6-1968)

Kính gửi: đồng chí Vante Unbrích, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Xã hội thống nhất Đức, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà Dân chủ Đức,

Béclin

Đồng chí thân mến,

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 75 ngày sinh của đồng chí, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, tôi xin gửi đến đồng chí lời chúc mừng thân ái và nhiệt liệt nhất.

Chúc đồng chí luôn luôn mạnh khoẻ để cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng Xã hội thống nhất Đức và Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà Dân chủ Đức lãnh đạo nhân dân nước Cộng hoà Dân chủ Đức giành được nhiều thắng lợi mới trong việc hoàn thành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Cộng hoà Dân chủ Đức và trong cuộc đấu tranh chống những âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Tây Đức, góp phần gìn giữ hoà bình và an ninh ở châu Âu và thế giới.

Chúc tình đoàn kết chiến đấu và sự hợp tác anh em giữa nhân dân hai nước chúng ta ngày càng củng cố và phát triển.

Hà Nội, ngày 29 tháng 6 nǎm 1968
Hồ Chí Minh

Báo Nhân dân, số 5192, ngày 30-6-1968.
cpv.org.vn

Phải hoàn thành tốt công tác phòng và chống lụt, bão nǎm 1968 (4-7-1968)

Mấy nǎm gần đây, đến mùa này, ở miền Bắc nước ta thường có mưa lũ lớn, giặc Mỹ lại đánh phá đê, kè. Đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta đã anh dũng chiến đấu, vượt nhiều khó khǎn, thêm nhiều kinh nghiệm và đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chống lụt, chống bão, chống địch.

Cả nước ta đang phấn khởi, tự hào vì miền Nam anh hùng đánh mạnh, thắng to, miền Bắc đã bắn rơi hơn ba nghìn máy bay Mỹ. Giặc Mỹ thua to nhưng vẫn rất ngoan cố, chúng vẫn dùng máy bay đánh phá các vùng đông dân và có nhiều đê. Chúng ta không được chủ quan khinh địch, phải luôn luôn cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu.

Hiện nay đang mùa mưa lũ, ở một số nước châu á đã xảy ra nạn lụt. Các ngành và các địa phương cần coi trọng hơn nữa việc phòng và chống lụt, bão, chống địch đánh phá đê, kè.

Nhiều nơi đã bồi đắp xong đê. Có nơi làm khá như Vĩnh Phú, Nam Hà, Hải Hưng, Hà Bắc, nhưng cũng có nơi làm còn chậm. Nhiều xã chưa tổ chức xong lực lượng phòng và chống lụt, bão; nhiều hợp tác xã nông nghiệp chưa chuẩn bị sẵn sàng.

Các cấp tỉnh, huyện phải kiểm tra thật kỹ việc chuẩn bị ở địa phương.

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh và huyện phải phân công nhau trực tiếp đi xuống các xã, hợp tác xã nông nghiệp để kiểm tra đôn đốc, giúp đỡ việc chuẩn bị phòng, chống lụt, bão và đẩy mạnh sản xuất vụ mùa. Phải vận động đồng bào làm nhiều thuyền, mảng, ụ đất, sàn gác, chằng chống nhà cửa cho vững, phòng khi lụt to, bão lớn. Phải giữ gìn và sửa sang hầm hố, phòng máy bay giặc Mỹ.

Các đơn vị bộ đội, các cơ quan phải có kế hoạch tích cực tham gia và giúp đỡ nhân dân chuẩn bị các mặt cho tốt.

Đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta phải có quyết tâm cao, phải chuẩn bị tốt, nhất định phải thắng thiên tai, địch hoạ trong mùa mưa lũ nǎm nay, góp phần đẩy mạnh sản xuất và giành thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

T.L.

Báo Nhân dân, số 5196, ngày 4-7-1968.
cpv.org.vn

Điện gửi Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ (13-7-1968)

Kính gửi: Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, các vị trong Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam,

Quân và dân Trị – Thiên – Huế đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu dũng cảm, vừa rồi đã chiến thắng oanh liệt, đánh đuổi hàng vạn quân tinh nhuệ nhất của Mỹ phải rút chạy khỏi Khe Sanh 27 với những tổn thất rất nặng nề. Đó là một thất bại lớn của Mỹ, một thắng lợi lớn của ta.

Cuộc thắng lợi của ta ở Khe Sanh tỏ rõ mưu lược và sức mạnh vô địch của quân, dân và cán bộ ta, nó góp phần xứng đáng vào thắng lợi to lớn của miền Nam từ đầu xuân đến nay. Cùng với những thắng lợi của ta ở các chiến trường khác, nó mở đường cho những thắng lợi to lớn hơn nữa. ở miền Bắc, vừa lập chiến công bắn rơi 3.000 máy bay giặc Mỹ, thắng lợi vẻ vang của Khe Sanh càng giục giã quân và dân miền Bắc cố gắng hơn nữa, bắn rơi nhiều máy bay giặc Mỹ hơn nữa. Giặc Mỹ tuy thua, nhưng vẫn rất ngoan cố. Đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta phải luôn luôn cảnh giác, liên tục đánh mạnh, đánh thắng.

Nam Bắc một lòng, ra sức đánh giặc,
Thắng lợi cuối cùng nhất định về ta.

Tôi nhờ Chủ tịch và các vị chuyển đến đồng bào, chiến sĩ và cán bộ toàn miền Nam, đặc biệt là đồng bào, chiến sĩ và cán bộ Mặt trận Khe Sanh lời khen ngợi nhiệt liệt nhất.

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 13 tháng 7 nǎm 1968
Hồ Chí Minh

Báo Nhân dân, số 5206, ngày 14-7-1968.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi nhân ngày 20 tháng 7 (20-7-1968)

Hỡi đồng bào và chiến sĩ cả nước,

Trước đây 14 nǎm, với chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam ta. Đáng lẽ từ tháng 7 nǎm 1956, nhân dân ta đã có tổng tuyển cử, nước ta đã hoàn toàn độc lập, tự do, hoà bình, thống nhất, Bắc – Nam đã sum họp một nhà.

Song đế quốc Mỹ hiếu chiến phản bội lời cam kết của chúng, đã phá hoại trắng trợn Hiệp định Giơnevơ. Chúng nặn ra chính quyền bù nhìn buôn dân bán nước, chúng tiến hành chiến tranh xâm lược ở miền Nam nước ta. Nhưng chúng đã vấp phải sức kháng chiến cực kỳ anh dũng của đồng bào và chiến sĩ miền Nam ta và đã bị thất bại nặng nề. Hòng gỡ thế bị động và sa lầy ở miền Nam, từ hơn ba nǎm nay, chúng điên cuồng ném bom, bắn phá miền Bắc. Chúng phá hoại nền độc lập, hoà bình, trung lập của Lào và luôn luôn uy hiếp, khiêu khích Vương quốc Campuchia.

Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ trên đất nước ta hiện nay là một cuộc chiến tranh tàn bạo nhất trong lịch sử loài người. Giặc Mỹ tưởng lầm rằng, với hơn một triệu quân, trong đó có hơn 50 vạn quân Mỹ, với sức mạnh của vũ khí hiện đại, chúng có thể khuất phục được nhân dân ta. Sự thật hoàn toàn trái lại. Đồng bào và chiến sĩ miền Nam anh hùng, cả dân tộc Việt Nam anh hùng đã kiên quyết đứng lên, triệu người như một, chiến đấu vô cùng anh dũng, đánh bại mọi kế hoạch quân sự và chính trị của quân thù, giành nhiều thắng lợi ngày càng to lớn.

Từ đầu Xuân nǎm 1968 đến nay, cuộc kháng chiến ở miền Nam tiến lên một thời kỳ mới: đồng bào và chiến sĩ miền Nam đã mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt vào các thành thị, lập nên nhiều chiến công oanh liệt, làm rung chuyển nước Mỹ và chấn động nǎm châu. Việc thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình 28 là một thắng lợi to lớn của chính sách đoàn kết toàn dân chống Mỹ, cứu nước, làm cho bọn Mỹ – nguỵ càng lộ rõ bộ mặt cướp nước và bán nước của chúng và càng bị cô lập. Ở miền Bắc, hơn ba nghìn máy bay của giặc Mỹ đã bị bắn rơi. Thế là “Nam – Bắc hai miền đều đánh giỏi”. Đế quốc Mỹ ngày càng thua to, nhất định sẽ hoàn toàn thất bại.

Song “chết thì chết, nết không chừa”, giặc Mỹ vẫn rất ngoan cố. ở miền Nam, chúng vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh, đánh phá hết sức dã man các thành thị, triệt hại nhiều vùng ở nông thôn, đồng thời bắn phá điên cuồng các tỉnh ở phía nam miền Bắc.

Tại cuộc nói chuyện ở Pari 29 trước thái độ nghiêm chỉnh và lập trường chính đáng của ta, chúng vẫn trơ tráo đòi “có đi có lại” một cách cực kỳ vô lý. Rõ ràng là đế quốc Mỹ vẫn chưa chịu từ bỏ cuộc chiến tranh xâm lược đầy tội ác của chúng, vẫn cố bám lấy miền Nam nước ta, hòng chia cắt lâu dài Tổ quốc ta.

Trước tình hình nghiêm trọng ấy, nhân dân cả nước ta càng phải kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Vì độc lập, tự do, 31 triệu đồng bào ta quyết vượt mọi gian khổ hy sinh, quyết đánh và quyết thắng. Bọn xâm lược Mỹ ngày càng bị động và thất bại, đang ở bước đường cùng. Quân và dân cả nước ta đang ở thế chủ động và tiến công, càng đánh mạnh càng thắng lớn.

Đồng bào và chiến sĩ miền Nam, đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi dưới ngọn cờ vẻ vang của Mặt trận dân tộc giải phóng, nhất định sẽ chiến đấu mạnh mẽ hơn nữa, giành những thắng lợi vĩ đại hơn nữa.

Đồng bào và chiến sĩ miền Bắc, phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, chiến đấu anh dũng, thi đua sản xuất, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của địch, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu leo thang mới của chúng và hết lòng hết sức giúp đỡ miền Nam ruột thịt, làm tròn nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn.
Nam – Bắc một lòng, nhân dân cả nước ta kiên quyết kháng chiến, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà.

Nhân dân ta rất yêu chuộng hoà bình nhưng phải có độc lập, tự do thật sự thì mới có hoà bình chân chính. Lập trường của ta rất chính đáng, rõ ràng: ngày nào đế quốc Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược nước ta, chấm dứt ném bom, bắn phá miền Bắc, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, để dân ta tự do giải quyết công việc nội bộ của mình, thì ngày đó hoà bình sẽ lập lại ngay. Đó là nguyện vọng của nhân dân ta, mà cũng là nguyện vọng của nhân dân tiến bộ Mỹ và nhân dân yêu chuộng hoà bình, công lý trên thế giới. Cách duy nhất để lập lại hoà bình là quân Mỹ và quân chư hầu phải rút hết về nước! Nước Việt Nam của người Việt Nam!

Đồng bào và chiến sĩ yêu quý!

Dân tộc Việt Nam ta đang tiến hành cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử của mình. Vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì lợi ích của phe xã hội chủ nghĩa, của các dân tộc bị áp bức và của cả loài người tiến bộ, chúng ta đang chiến đấu và chiến thắng một kẻ thù hung ác nhất trên thế giới. Trên đất nước ta đang diễn ra cuộc chiến đấu quyết liệt giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa vǎn minh và bạo tàn. Nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân tiến bộ toàn thế giới đang hằng ngày nhìn về Việt Nam ta, nhiệt liệt khen ngợi đồng bào và chiến sĩ ta. Nhân dịp này, thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi chân thành cảm ơn các nước xã hội chủ nghĩa anh em và tất cả bầu bạn khắp nǎm châu đã hết lòng giúp đỡ nhân dân ta trong sự nghiệp thiêng liêng chống Mỹ, cứu nước.

Nhân dân ta rất anh hùng. Đường lối ta rất đúng đắn. Chúng ta có chính nghĩa. Chúng ta có chí khí kiên cường, quyết chiến, quyết thắng. Chúng ta có sức mạnh vô địch của toàn dân đoàn kết và được cả loài người tiến bộ đồng tình và ủng hộ.

Đế quốc Mỹ nhất định thua!
Nhân dân ta nhất định thắng!

Đồng bào và chiến sĩ cả nước hǎng hái tiến lên!

Báo Nhân dân, số 5212, ngày 20-7-1968.
cpv.org.vn

Thư khen quân và dân Nghệ An (22-7-1968)

Thân ái gửi đồng bào, bộ đội và cán bộ Nghệ An,

Bác rất vui lòng được tin quân và dân tỉnh nhà đã bắn rơi chiếc máy bay giặc Mỹ thứ 400.

Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác thân ái gửi lời khen ngợi đồng bào, bộ đội và cán bộ tỉnh ta đã chiến đấu dũng cảm, chiến thắng vẻ vang, cùng với quân và dân cả nước đập tan mọi thủ đoạn chiến tranh tàn bạo của giặc Mỹ.

Đồng bào, bộ đội và cán bộ Nghệ An hãy nêu cao truyền thống anh dũng của Xôviết Nghệ – Tĩnh, phát huy thắng lợi, đoàn kết chặt chẽ, luôn luôn cảnh giác, thi đua chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, làm thật tốt công tác giao thông vận tải và phòng không nhân dân, giành nhiều thành tích to lớn hơn nữa.

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 22 tháng 7 nǎm 1968
Bác Hồ

Báo Nhân dân, số 5215, ngày 23-7-1968.
cpv.org.vn

Thư khen quân và dân Hà Tĩnh (5-8-1968)

Thân ái gửi đồng bào, bộ đội và cán bộ Hà Tĩnh,

Bác rất vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, gửi lời khen ngợi đồng bào, bộ đội và cán bộ Hà Tĩnh đã đẩy mạnh sản xuất, chiến đấu dũng cảm, bắn rơi máy bay Mỹ chiếc thứ 200, ra sức bảo đảm giao thông vận tải và phục vụ tiền tuyến, cùng với quân và dân cả nước đập tan mọi thủ đoạn chiến tranh tàn bạo của giặc Mỹ.

Đồng bào, bộ đội và cán bộ Hà Tĩnh hãy phát huy thắng lợi, đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu và sản xuất giỏi hơn nữa, làm công tác giao thông vận tải và công tác phòng không nhân dân tốt hơn nữa, xứng đáng với truyền thống Xôviết Nghệ – Tĩnh anh hùng.

Chào thân ái và quyết thắng

Bác Hồ

Báo Nhân dân, số 5228, ngày 5-8-1968.
cpv.org.vn

Thư khen quân và dân Quảng Bình (9-8-1968)

Thân ái gửi đồng bào, bộ đội và cán bộ Quảng Bình,

Tính đến ngày 3-8-1968, Quảng Bình đã lập chiến công vẻ vang, bắn rơi 500 chiếc máy bay giặc Mỹ, bắn chìm và bắn cháy 42 tàu chiến Mỹ các loại. Từ cuối tháng 3-1968, giặc Mỹ đánh phá Quảng Bình dã man hơn trước, song vỏ quýt dày có móng tay nhọn. Từ đầu tháng 4-1968 đến nay, Quảng Bình đã bắn rơi thêm 100 máy bay Mỹ.

Quảng Bình cũng rất hǎng hái trên mặt trận sản xuất và giao thông vận tải, luôn luôn cố gắng làm tròn nghĩa vụ đối với tiền tuyến.

Bác vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi đồng bào, bộ đội và cán bộ Quảng Bình. Bác vui mừng báo tin là Quốc hội vừa quyết định tặng tỉnh Quảng Bình thêm một Huân chương Độc lập hạng Nhì nữa.

Nhân dịp này Bác nhắc nhủ đồng bào, bộ đội và cán bộ Quảng Bình chớ vì thắng lợi mà chủ quan khinh địch, phải luôn luôn cảnh giác, ra sức thi đua chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, làm công tác giao thông vận tải và phòng không nhân dân cho thật tốt, để giành lấy nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa, cùng với đồng bào cả nước kiên quyết tiến lên đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

Chào thân ái và quyết thắng

Bác Hồ

Báo Nhân dân, số 5232, ngày 9-8-1968.
cpv.org.vn

Một lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sevgei Somov
Nguyễn Huy Hoàng dịch

Những năm 1960, khi tôi công tác ở Việt Nam, tôi có nhiều dịp gặp gỡ các sĩ quan cao cấp quân đội Việt Nam và đặc biệt là được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tôi có một Album ảnh về họ.

Giữa nhiều những bức ảnh, có một bức đã trở thành kỷ vật quý giá của tôi, đó là bức ảnh các phi công Liên Xô chụp chung với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có lần, những đứa cháu tôi rón rén đến ngắm bức ảnh, chúng hỏi tại sao tôi lại được đứng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và tại sao chung quanh Người không có đội bảo vệ? Tôi nói với bọn trẻ rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người vĩ đại, là lãnh tụ, là người thầy của dân tộc Việt Nam, Người không cần có vệ sĩ riêng, bởi ai cũng yêu quý, kính trọng Người, tất cả mọi người dân Việt Nam đều bảo vệ Người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ thông thái, nhìn xa trông rộng, mà còn là một con người nhân hậu và khiêm tốn, là Con Người viết hoa. Có thể đưa ra hai thí dụ. Chủ tịch hoàn toàn có điều kiện sống và làm việc trong một tòa nhà lớn, nhưng Người lại thích sống và làm việc trong một ngôi nhà sàn nhỏ, có hoa bao quanh và tự tay Người chăm sóc. Một lẵng hoa hồng luôn luôn được đặt trong phòng làm việc và bất cứ ai được Người tiếp, sau khi chia tay đều được Người tặng một bông hồng như biểu tượng của cái đẹp và lòng hiếu khách.

Một thí dụ khác. Năm 1963, Quốc hội Việt Nam quyết định trao tặng Người huân chương “Sao vàng” cao quý, nhưng Người từ chối phần thưởng, nói rằng vì lúc đó đất nước vẫn còn chưa thống nhất, tạm thời chia làm hai miền.

Tôi là người rất đỗi hạnh phúc, bởi số phận đã ban cho tôi một cơ hội không chỉ được nghe lời Người chúc Tết qua đài nhân dịp Tết âm lịch năm 1961, mà còn được gặp gỡ, nói chuyện với Người. Sau đây là câu chuyện ấy.

Vào mồng một Tết hằng năm, ở miền bắc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường đến thăm các bạn chiến đấu trong Đảng, những đồng chí đã cùng Người trải qua con đường gian khổ trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ vì độc lập và thống nhất Tổ quốc.

Tết năm ấy, khi mọi người tiến hành công việc chuẩn bị cho chuyến công tác của Người lên phía bắc thì một chỉ thị được ban ra: chiếc máy bay trực thăng từng chở Người đã đến lúc sửa chữa định kỳ và phải hoàn thành trước ngày bay. Lãnh đạo không quân Việt Nam yêu cầu phải hoàn tất công việc để chuyến bay được thực hiện theo kế hoạch đã định.

Sáng sớm ngày Chủ tịch lên đường đi công tác, tổ lái đã có mặt ở sân bay Gia Lâm. Chúng tôi cùng vị Tư lệnh Không quân Việt Nam nóng lòng chờ Người đến. Bất chợt, tôi thấy phía trước đường băng một chiếc xe con Liên Xô “Pôbêđa” lao tới. Tôi ngoảnh về đồng chí Tư lệnh nói: “Anh cho tập hợp lại kẻo anh em phân tán, để đón Chủ tịch”. Đồng chí tư lệnh quan sát phía trước và nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh đang tới”.

Cả nhóm kỹ sư và đội bay đứng chờ. Chủ tịch Hồ Chí Minh bước ra khỏi xe hơi. Cho đến lúc này tôi vẫn chưa lần nào được gặp Người, nhưng tôi biết khá rõ về cuộc đời hoạt động đầy gian truân của Người. Vì vậy, trong hình dung của tôi, tôi sẽ được gặp một người khỏe mạnh, phong trần, cao lớn như một chiến binh. Đại loại, vóc dáng của Hồ Chí Minh phải là như vậy. Nhưng thật ngạc nhiên khi từ trong xe bước ra là một người tầm thước với mái tóc gọn gàng đốm bạc, khuôn mặt điểm bộ ria cắt ngắn và một chòm râu bạc. Chủ tịch mặc bộ ka-ki trắng giản dị, đi đôi dép bình thường.

Người mỉm cười như đã quen biết chúng tôi từ lâu, đôi mắt hơi nheo ngời lên tia sáng ấm áp và nhân hậu rất đặc trưng ở Người Việt Nam. Hồ Chí Minh chính là con người tôi vẫn gặp hằng ngày trên đường phố Hà Nội và trên những cánh đồng lúa Việt Nam. Tôi báo cáo với Người: Chuyến bay đã sẵn sàng, còn Người ngoái về phía tôi hỏi bằng tiếng Nga rành rọt: “Chú là quân nhân à?”. Tôi trả lời: “Vâng ạ”. Tôi biết Người nói được nhiều ngoại ngữ, nhưng quả thật tôi khó hình dung ra Người nói tiếng Nga trong sáng đến như vậy. Về sau này tôi biết được rằng, lần đầu tiên Người đến Liên Xô vào mùa hè năm 1923 để học trường Đại học Quốc tế Phương Đông. Ngày 27-1-1924, trong bộ quần áo mỏng, giữa mùa đông nước Nga giá buốt, Người đã xếp hàng suốt ngày ở lối đi vào phòng khánh tiết Nhà Công đoàn để được vĩnh biệt Lê-nin…

Ngày hôm đó, chúng tôi không rời khỏi sân bay mà ở lại chờ Người quay trở về. Và khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra khỏi máy bay, chúng tôi lập tức đến đứng quanh Người. Tôi bước đến gần Người và đề nghị chụp ảnh kỷ niệm với các phi công Liên Xô. Và thế là chúng tôi có một bức ảnh trở thành báu vật của gia đình như thế.

Để kết thúc câu chuyện xúc động, khó quên này tôi không thể không kể thêm một chi tiết về vẻ đẹp của tâm hồn một con người thực sự vĩ đại. Khi hoa tiêu A.Xuốcnốp, bạn tôi, vừa chụp xong thì chúng tôi vội tản ra, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ngăn lại. Người nói: Các chú đứng lại đã, chú chụp ảnh không có mặt trong ảnh. Một chú khác ra chụp lần nữa. Và khi đó Xuốcnốp được đứng bên cạnh Người, còn các phi công khác được chụp lần thứ hai. Trong ảnh tôi đứng bên phải Người, trong bộ áo mầu sáng.

Văn nghệ quân đội
cpv.org.vn