Tag Archive | Một thời trận mạc

Vũ Xuân Chiêm – Vị tướng của Trường Sơn huyền thoại

QĐND – Tôi không có may mắn được sống, chiến đấu và học tập công tác dưới quyền Trung tướng Vũ Xuân Chiêm, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, nguyên Chính ủy Bộ tư lệnh Đoàn 559; Đại biểu Quốc hội khóa IV, khóa V, khóa VI; Cán bộ lão thành cách mạng, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Mới chỉ được gặp một đôi lần, còn phần nhiều tôi biết về Trung tướng Vũ Xuân Chiêm qua sử sách, các phương tiện truyền thông và lời kể của các cựu chiến binh với những câu chuyện đậm chất huyền thoại về Bộ đội Trường Sơn, về Đoàn 559… Dẫu vậy khi hay tin Trung tướng Vũ Xuân Chiêm (bí danh Vũ Xuân Chi) – một vị tướng tài ba, một người con ưu tú của dân tộc về cõi vĩnh hằng, chúng tôi không khỏi bàng hoàng, xúc động, nuối tiếc khôn nguôi.

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm, sinh tháng 2 năm 1923 tại thôn An Mỹ, xã Trực Đông (nay là xã Trung Đông), huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, từ quê hương giàu truyền thống cách mạng, năm lên 8 tuổi, Vũ Xuân Chiêm đã lên Hà Nội làm thợ. Sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng, thấu hiểu cảnh lầm than, cùng cực của người công nhân do bị chế độ thực dân đế quốc áp bức bóc lột, năm 1936, khi chưa tròn 14 tuổi, Vũ Xuân Chiêm đã tham gia cách mạng với nhiệm vụ vận chuyển công văn tài liệu. Năm 1938, Vũ Xuân Chiêm tham gia vào Thanh niên Phản đế, tập hợp thanh niên đứng lên chống lại chế độ thực dân ở Hà Nội, đòi quyền lợi cho người công nhân dưới chế độ thực dân, phong kiến… Với những đóng góp xuất sắc cho cách mạng, năm 1940, Vũ Xuân Chiêm được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 12 năm 1940, Vũ Xuân Chiêm bị địch bắt. Dù không tìm được tài liệu trên người, nhưng địch vẫn kết án ông 15 năm khổ sai, biệt xứ giam tại nhà tù Sơn La rồi đày ra Côn Đảo. Kẻ thù tra tấn rất dã man nhằm uy hiếp tinh thần, lấy lời khai. Chết đi sống lại nhiều lần vì những đòn tra tấn của bọn cai ngục nhưng Vũ Xuân Chi (bí danh trong tù của ông) vẫn giữ vững khí tiết người cộng sản. Cách mạng Tháng Tám thành công, tháng 9-1945, Vũ Xuân Chiêm được ra tù và tiếp tục hoạt động cách mạng. Vũ Xuân Chiêm được đồng chí Hồ Tùng Mậu đưa về Huế tham gia Ủy viên Ban Chấp hành Công đoàn Trung Bộ, Ủy viên Quân sự khu C. Tháng 1-1947, Vũ Xuân Chiêm là Tỉnh ủy viên tỉnh Thừa Thiên, Phó bí thư Thành ủy Huế.

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm (thứ 2 từ trái sang) cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Song Hào và Thượng tướng Hoàng Văn Thái bàn kế hoạch giải phóng miền Nam năm 1975.
Ảnh tư liệu

Tháng 3 năm 1950, Vũ Xuân Chiêm được cử đi học Trường Nguyễn Ái Quốc. Cùng năm đó vào tháng 7, Vũ Xuân Chiêm được cử vào Quân đội và được giao phụ trách công tác chính trị – hậu cần cho các chiến dịch lớn. Trong ký ức của mình Trung tướng Vũ Xuân Chiêm không bao giờ quên kỷ niệm lần đầu tiên được gặp Bác Hồ. Trong Chiến dịch Biên giới, ngày 28-7-1950, Trung ương Đảng quyết định thành lập Đảng ủy chiến dịch do Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp làm Bí thư, Tư lệnh chiến dịch. Đầu tháng 8-1950, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tổ chức đoàn cán bộ trực tiếp đi nghiên cứu địa hình thị xã Cao Bằng – một mục tiêu trọng yếu phải giải phóng. Sau cuộc thị sát, Đại tướng Võ Nguyên Giáp họp Đảng ủy Mặt trận mở rộng lấy ý kiến dân chủ. Bác Hồ đến Sở chỉ huy chiến dịch, nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo chủ trương của Đảng ủy Mặt trận. Trong giờ giải lao, Bác Hồ hỏi Vũ Xuân Chiêm: “Chú làm công việc gì?”. Vũ Xuân Chiêm đáp: “Báo cáo Bác! Cháu làm công tác chính trị ạ!”. Bác Hồ tiếp: “Đó là việc tuyên truyền, vận động mọi người thực hiện chủ trương, đường lối cách mạng. Công việc đó quan trọng lắm, nhưng phải có cặp tai thính, đôi mắt tinh tường mới làm tốt được. Chú hiểu chứ?”. Thấy Vũ Xuân Chiêm chưa rõ ý, Bác Hồ vui vẻ nói: “Bác kể chú nghe một chuyện nhé. Một lần Bác ở chỗ làm việc về nhà, chú bảo vệ đón, Bác khẽ gật, đưa tay lên miệng nói: “Cho Bác chút nước…”. Chú bảo vệ quay vào rồi ra ngay, đưa thuốc và lửa cho Bác. Thấy vậy mấy chú đứng gần cười ồ rồi nói: “Bác khát hỏi nước sao lại đưa lửa”. Bác nhận thuốc, đưa mọi người cùng hút và khuyên anh em không nên trách chú ấy, rồi hỏi: “Tại Bác nói không rõ hay tại chú ấy nghe nhầm, nhưng tại ai thì cũng có bài học là cán bộ nói cho dân nghe phải rõ ràng, dứt khoát và cũng chớ làm như chú bảo vệ: Dân xin nước, cán bộ lại cho lửa”. Rồi Bác cười hỏi Vũ Xuân Chiêm: “Chuyện chỉ có thế, chú thấy cái tai, con mắt, cách nói khi làm công tác tuyên truyền với quần chúng quan trọng thế nào chứ?”. Bài học về công tác chính trị mà Bác Hồ dạy trong lần gặp gỡ đầu tiên ấy được Vũ Xuân Chiêm ghi nhớ và làm theo đến hết đời.

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm từng giữ nhiều trọng trách. Tháng 10 năm 1951 đến tháng 7 năm 1963, ông là Cục phó rồi Cục trưởng Cục Chính trị Tổng cục Hậu cần. Tháng 8 năm 1963 đến tháng 2 năm 1965, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Trong giai đoạn khó khăn nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (tháng 3 năm 1965 đến tháng 5 năm 1970), với cương vị là Phó chính ủy rồi Chính ủy Bộ tư lệnh Đoàn 559, đồng chí đã tham gia lãnh đạo, chỉ huy góp phần làm nên con đường huyền thoại Hồ Chí Minh lịch sử. Tháng 6 năm 1970, Vũ Xuân Chiêm được điều động trở lại làm Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Là cán bộ chủ chốt của ngành Hậu cần Quân đội đồng chí Vũ Xuân Chiêm đã cùng với tập thể cấp ủy, chỉ huy Tổng cục Hậu cần lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức đảm bảo kịp thời cả về con người và vũ khí trang bị hậu cần – kỹ thuật cho chiến trường miền Nam, cùng quân và dân cả nước làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Sau giải phóng miền Nam, đồng chí được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Bí thư Đảng ủy Tổng cục. Tháng 9 năm 1976, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đồng chí đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trung tướng Vũ Xuân Chiêm là một người lãnh đạo, chỉ huy uy tín của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Đồng chí đã cùng với Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng vận dụng sáng tạo đường lối chính trị, quân sự của Đảng và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng LLVT cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đồng chí là người cán bộ tận tâm, tận lực, cần, kiệm, liêm, chính, với mọi nhiệm vụ được giao, sâu sát, khiếm tốn, giản dị và luôn phát huy bản chất tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Tháng 10 năm 1987, Trung tướng Vũ Xuân Chiêm được Đảng, Nhà nước cho nghỉ hưu.

Từ buổi đầu tham gia cách mạng đến khi về cõi vĩnh hằng Trung tướng Vũ Xuân Chiêm luôn giữ trọn danh hiệu cao quý của người cộng sản, một lòng một dạ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phấn đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trung tướng Vũ Xuân Chiêm là tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức của người cán bộ cách mạng. Từ ngoài trận địa, trong nhà tù, cũng như trong công tác, học tập, sinh hoạt đồng chí luôn thể hiện rõ đức hy sinh, lòng dũng cảm, sống liêm khiết, giản dị, trung thực, đoàn kết, thân mật, gần gũi cán bộ, chiến sĩ và đồng bào, đồng chí… Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên Tư lệnh Đoàn 559 – một người có nhiều năm gắn bó với Trung tướng Vũ Xuân Chiêm đã nói: “Tôi đã từng công tác với nhiều đồng chí, ở nhiều cương vị khác nhau, nhưng ở đồng chí Chiêm có những nét đặc biệt quý hiếm của một chính ủy. Anh luôn chăm lo xây dựng đơn vị, thể hiện tinh thần đoàn kết chân thật trong Đảng ủy, Bộ tư lệnh; tiêu biểu tinh thần ủng hộ sự đổi mới, sáng tạo; tiêu biểu ý chí thống nhất tư tưởng nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy hiệp đồng. Trong những năm tháng gian nguy ác liệt, anh vẫn lạc quan kiên định niềm tin tất thắng… Với Vũ Xuân Chiêm, tôi quý nhất một con người trung thực, thủy chung, giản dị, tiêu biểu nhân cách vị tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng”. Quá trình hoạt động của Trung tướng Vũ Xuân Chiêm là tấm gương sáng để chúng ta học tập, noi theo.

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm không còn nữa, song những tình cảm thân thương, quý mến và công lao cống hiến của đồng chí vẫn còn mãi trong niềm thương tiếc của chúng ta và những người thân yêu của đồng chí.

PHÙNG KIM LÂN
qdnd.vn

81 ngày đêm rực lửa tại Thành Cổ Quảng Trị năm 1972 (Tiếp theo và hết)

Bài III: Vang danh Vĩnh Định

QĐND – Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) được thành lập ngày 22-1-1946; đã lập nhiều chiến công lừng lẫy trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; hai lần được Bác Hồ khen, tặng danh hiệu: “Trung đoàn Quyết thắng” và “Trung đoàn dũng cảm, đánh hăng”.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Sư đoàn 320 được tách làm 2 khung sư đoàn, gồm Sư đoàn 320A và Sư đoàn 320B. Trung đoàn 64 thuộc Sư đoàn 320B, có nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ để chi viện cho chiến trường miền Nam. Từ tháng 1-1972, sau mấy tháng nhận quân, huấn luyện ở Thanh Hóa, Nghệ An, đơn vị hành quân vào chiến trường Quảng Trị. Những ngày tháng gian khổ, hiểm nguy cùng những chiến công đang chờ Trung đoàn…

Ngày 1-5-1972, toàn bộ tỉnh Quảng Trị, vị trí đầu cầu chiến lược được giải phóng. Không chịu nổi sự thất bại, ê chề và nhằm cứu vãn tình thế ở Hội nghị Pa-ri, ngụy quyền Sài Gòn tập trung binh lực, được hậu thuẫn tối đa của vũ khí hiện đại và cố vấn Mỹ, hòng tái chiếm Quảng Trị. Cuộc chiến khốc liệt, giành giật từng mét đất diễn ra trong 81 ngày đêm, không chỉ xảy ra ở Thành cổ và thị xã mà trên toàn tỉnh Quảng Trị, từ cánh Đông, duyên hải đến cánh Tây, rừng núi.

Trung đoàn 64 đứng chân ở đồng bằng ven biển, phía bắc huyện Hải Lăng và phía đông nam huyện Triệu Phong thuộc mặt trận cánh Đông. Địa hình tác chiến chủ yếu nằm dọc sông Vĩnh Định, một nhánh của sông Thạch Hãn. Vì thế mà Trung đoàn 64 còn gọi là Trung đoàn Vĩnh Định.

Chiến sĩ trẻ trong Thành Cổ. Ảnh: Đoàn Công Tính.

Đêm 27-6-1972, Tiểu đoàn 9, do đồng chí Lê Triệu làm Tiểu đoàn trưởng, là đơn vị chủ công của trung đoàn, được tăng cường hai đại đội thiếu, vượt qua “bức tường lửa” của bom B52, pháo hạm và pháo mặt đất, vào chốt ở hai thôn Đồng Dương, Diên Khánh. Sáng sớm 28-6, 3 tiểu đoàn thủy quân lục chiến cùng ba chi đoàn tăng thiết giáp của địch, được phi pháo dọn đường, máy bay lên thẳng yểm trợ, chia làm hai mũi, tạo gọng kìm, tấn công hai thôn trên. Vào 8 giờ cùng ngày, đơn vị nổ súng, mở màn cuộc chiến đấu của Trung đoàn 64.

Tại mũi 1, chính diện, các chiến sĩ đương đầu với hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ và hai chi đoàn xe tăng. Khi địch cách 300m thì khẩu ĐKZ của Đại đội 11 khai hỏa, phát đạn đầu thiêu cháy một chiếc xe tăng. Đạn B40, B41, AK nhất loạt chụp xuống đội hình địch, diệt nhiều tên. Cùng lúc, trận địa 12,7mm của Đại đội 12, do khẩu đội trưởng Vũ Thanh Bình chỉ huy, cũng bắn trúng một chiếc trực thăng khiến nó lao xuống cát bốc cháy. Xác địch nằm ngổn ngang trước trận địa.

Ở mũi thứ hai, một tiểu đoàn thủy quân lục chiến, có xe tăng đi cùng phối hợp với lực lượng đổ bộ từ phía bờ biển, đánh vào phía đông trận địa của ta. Ở hướng này, kẻ thù vô cùng xảo quyệt và hèn hạ. Chúng đã đẩy hàng trăm phụ nữ, trẻ em, người già đi trước để làm bia đỡ đạn. Trước tình huống phức tạp này, một câu hỏi đặt ra, làm thế nào để đánh được địch mà vẫn bảo đảm được tính mạng cho dân. Đồng chí Nguyễn Văn Bình, được đơn vị giao chỉ huy một tổ, thực hiện kế hoạch cứu dân.

Mặc cho kẻ thù bắn như vãi đạn, cả tổ vẫn trườn trên bãi cát trống trải, tiếp cận đông đảo bà con đang bị chúng xua lên phía trước. Khi các chiến sĩ ở khoảng cách rất gần, Bình liền bắn loạt đạn chỉ thiên rồi hô to cho nhân dân nằm rạp xuống. Thấy địch lộ mặt ra, không còn được che chắn, tổ bắn mấy loạt đạn, vừa bắn vừa lui để dụ chúng đuổi theo, nhằm tách xa địch với quần chúng nhân dân. Địch hí hửng, xua quân lên hòng bắt sống “mấy tên Việt cộng” to gan. Thế là, chúng dẫn xác vào trận địa phục kích của ta.

Đại đội trưởng Nguyễn Văn Bốn phát lệnh nổ súng. Từ các công sự, đạn AK, đại liên, trung liên, B40, B41, nổ giòn giã, xé nát đội hình địch. Ta tiêu diệt ngay tên chỉ huy và tên mang máy thông tin PRC-25 cùng hàng trăm tên khác. Số sống sót, bỏ chạy tán loạn.

Bị đánh bật ở cả hai mũi, giặc gọi máy bay và pháo binh, đánh phá suốt nhiều giờ rồi mở đợt tấn công mới. Trong một ngày, với 3 tiểu đoàn thủy quân lục chiến, 2 chi đoàn tăng thiết giáp, 20 máy bay lên thẳng cùng sự chi viện tối đa của không quân và pháo binh, địch mở tới 6 đợt tấn công nhưng vẫn không chiếm nổi Đồng Dương và Diên Khánh. Ngay trận đầu ra quân, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 64 đã phát huy truyền thống “Trung đoàn Quyết thắng”, “Dũng cảm đánh hăng”, chiến đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Tượng đài Thành cổ Quảng Trị. Ảnh: Việt Cường.

Ngày 18-7-1972, diễn ra trận đánh vào nhà thờ Trí Bưu, ở phía sau bờ sông Thạch Hãn, cách Thành cổ Quảng Trị khoảng 1km. Đây là một hang ổ của địch, như một thách thức với ta. Trong nhà thờ, có ngụy quân và dân. Nếu diệt địch thì sẽ làm thương vong cả dân. Do đó, ta phải dùng loa kêu gọi nhiều lần để giãn dân, bảo vệ bà con, ít đổ xương máu. Song giặc vẫn ngoan cố, tử thủ đến cùng. Nhiều lần, các đơn vị của Trung đoàn, thay nhau đánh vào nhà thờ, đều vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của chúng.

Tối 18-7-1972, Tiểu đoàn 9 xung trận. Màn đêm xuống, các mũi, các hướng đã bố trí sẵn sàng. Chiến sĩ giữ B40, Đại đội 10, Bùi Duy Dân đi theo mũi do Tiểu đoàn phó Kiều Ngọc Luân dẫn đầu. Lúc này, trên trời giặc thả pháo sáng, máy bay lượn vè vè. Dưới đất, đạn cối, pháo tầm xa của chúng bắn liên tục như giã giò. Mũi của Luân vấp phải ổ trung liên từ phía cửa sổ tầng 2 của nhà thờ bắn ra rát mặt, không tiến lên được. Dân ẩn mình dưới một hố bom, tìm mục tiêu và được lệnh bóp cò. Đạn B40 bay đi, để lại phía sau một vệt sáng và khói mù. Ổ đề kháng súng trung liên của địch câm bặt. Bắn xong, Bùi Duy Dân lao xuống hào, lập tức, mấy quả cối cá nhân của giặc bắn tới nổ ngay cạnh làm anh bị thương vào thái dương, máu ra nhiều. Đồng đội kịp thời băng bó và đưa Dân về tuyến sau. Tại trận này, anh được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba vì đã góp phần cùng đơn vị, chiếm được nhà thờ Trí Bưu.

Noi gương Tiểu đoàn 9, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8, cũng ra sức đánh giặc, lập công. Thời điểm Trung đoàn 64 bắt đầu nổ súng chiến đấu đúng vào lúc địch mở cuộc hành quân Lam Sơn 72, hòng tái chiếm Quảng Trị. Các tiểu đoàn đã kiên cường bám trụ, quyết chiến quyết thắng, đánh 230 trận, diệt hơn 5.000 tên, bắn cháy 70 xe tăng, thiết giáp và xe quân sự, bắn rơi 49 máy bay. Những trận đánh của Trung đoàn như: Đồng Dương, Diên Khánh, nhà thờ Trí Bưu, Bích La Đông, Thành Cổ, Phương Lạng Đông, chốt thép Long Quang, cảng Cửa Việt… đã góp phần làm nên trang sử vẻ vang, chiến đấu giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Trong số những đơn vị, cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, có tên Trung đoàn 64 – Trung đoàn Vĩnh Định và Anh hùng liệt sĩ Kiều Ngọc Luân.

Anh Luân là trợ lý tác chiến của tiểu đoàn. Trong trận chốt giữ làng Linh Chiểu, Tiểu đoàn trưởng Lê Triệu điều Đại đội 10 (thay thế Đại đội 11), đương đầu với một tiểu đoàn và 10 xe tăng địch, có pháo binh và trực thăng vũ trang chi viện. Giặc chia làm 3 mũi, ào ạt tấn công vào chốt. Kiều Ngọc Luân dũng cảm dùng súng AK, chờ địch đến gần, chỉ cách dăm, bảy mét mới bắn. Anh phát hiện ở gò cát, chân điểm cao 16, có ụ súng đại liên đang bắn cấp tập về phía ta. Luân nhanh chóng tìm cách tiếp cận rồi tiêu diệt tên lính và chiếm luôn được khẩu đại liên, quay nòng, bắn mãnh liệt vào sườn đội hình giặc. Chúng bất ngờ và kinh hoàng, xác địch nằm la liệt. Sau hai ngày chiến đấu quyết liệt, đơn vị diệt gần 300 tên; trận địa vẫn giữ vững. Trận này, Tiểu đoàn 9 giành thắng lợi lớn nhất. Kiều Ngọc Luân đạt thành tích cao trong chiến đấu, được trên đề bạt giữ chức Tiểu đoàn phó. Anh đã 13 lần đạt danh hiệu: Dũng sĩ diệt Mỹ.

Trung tuần tháng 8-1972, Kiều Ngọc Luân được lệnh ra ngoài Cửa Tùng, gặp các nhà báo để kể về tình hình chiến đấu của bản thân và đơn vị. Song thật không may, Luân chưa kịp lên đường thì trận đánh nhà thờ Trí Bưu xảy ra. Sau tiếng súng báo hiệu, các đại đội cùng khẩu đội ĐKZ do anh chỉ huy đồng loạt nhả đạn vào các mục tiêu định trước. Kẻ thù chống cự mãnh liệt và Kiều Ngọc Luân đã anh dũng hy sinh.

Như vậy là, khi hành quân vào chiến trường Quảng Trị, Trung đoàn 64 có hơn 2.000 cán bộ, chiến sĩ. Quá trình tham gia chiến đấu, bổ sung quân nhiều đợt, sau chiến dịch, đơn vị có 600 đồng chí hy sinh; 1.700 đồng chí bị thương. Khúc tráng ca Quảng Trị được viết bằng máu của cả một thế hệ tuổi thanh xuân cho Tổ quốc, trong đó có sự cống hiến, hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 64 – Trung đoàn Vĩnh Định, đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, còn vang danh mãi trong lòng người dân yêu nước Việt Nam.

————–

Bài I: Khí phách kỳ diệu
Bài II: Người anh hùng và trận đánh huyền thoại

Ghi chép của CHI PHAN
qdnd.vn

81 ngày đêm rực lửa tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972 (Bài 2)

Bài II: Người anh hùng và trận đánh huyền thoại

QĐND –  Đường về xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, đã láng nhựa nhẵn thín. Xã có 16 xóm với gần 2.800 hộ. Nhà xây kiên cố đã chiếm hơn 90%. Sản lượng bình quân đầu người đã đạt 1000kg thóc/năm. Khung cảnh yên bình, no ấm đang bao trùm lên Quỳnh Hoàng.

Nhân dân địa phương cũng như tuổi trẻ ở đây không bao giờ quên nỗi vất vả gian khổ, sự hy sinh xương máu của cha, anh trong các cuộc chiến đấu chống giặc, cứu nước. Với miền Nam, Đảng bộ và nhân dân Quỳnh Hoàng luôn thực hiện khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Một số gia đình có hai đến ba con nhập ngũ và đều trở thành liệt sĩ. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, hơn 1.200 con em của xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình lên đường bảo vệ Tổ quốc, trong đó có 167 là liệt sĩ. Đặc biệt, trong một con ngõ nhỏ, dài khoảng 300 mét, nối liền hai thôn An Trực và Đồng Trực của xã Quỳnh Hoàng, đã xuất hiện 3 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, đó là: Nguyễn Thế Thao, Nguyễn Công Dị (tức Hồng Quân) và Nguyễn Hồng Thế. Chuyện này xưa nay thật hiếm có.

Anh hùng Nguyễn Thế Thao sinh năm 1944, dân tộc Kinh. Sau hai năm trong quân ngũ, tháng 3-1964, anh chuyển ra công tác tại Khu gang thép Thái Nguyên. Tháng 6-1967, Thao tái ngũ, cùng đơn vị sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào.

Bộ đội chiến đấu trong Thành cổ Quảng Trị. Ảnh tư liệu.

… Đầu tháng 3-1972, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Lào, đơn vị chuyển về nước, tham gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Sau một thời gian nghỉ ở Nghệ An, với cương vị Tiểu đoàn trưởng, Nguyễn Thế Thao đã cùng đồng đội góp phần viết nên trang chiến sử huyền thoại trong những ngày hè rực lửa ở Quảng Trị. Trận đánh của đơn vị làm kẻ thù bị bất ngờ, khiếp đảm, kinh hoàng là trận Đồi Cháy.

Điểm cao này nằm ở phía đông nam làng Như Lệ, xã Hải Lệ, huyện Hải Lăng, đã bị địch đốt cháy trụi, do một đơn vị lính thủy đánh bộ ngụy chiếm giữ. Chúng rất huênh hoang, cho đây là cứ điểm bất khả xâm phạm. Tại đây, chúng cho xây dựng nhiều lô cốt, được bao bọc bởi nhiều hàng rào thép gai xen với các bãi mìn. Địch gọi Đồi Cháy là “con mắt của thị xã Quảng Trị”, đồng thời chọn nơi này làm bàn đạp, lấn dũi các địa bàn giải phóng khác. Hơn nữa, từ đây, chúng có thể phát hiện và ngăn chặn lực lượng, phương tiện, hàng hóa của ta từ Bắc vào thị xã Quảng Trị.

Trước đó, đơn vị bạn đã tiến công Đồi Cháy 3 lần nhưng không diệt được cứ điểm trên. Với Tiểu đoàn 6, Bộ chỉ huy Mặt trận B5 giao: “Trong hai ngày, phải giải quyết xong Đồi Cháy”. Mọi người ý thức được rằng, trận này cầm chắc sự ác liệt, hy sinh. Nhưng không ai tỏ ra lo sợ. Trong đầu họ chỉ có một suy nghĩ, đó là làm thế nào để bảo đảm bí mật, bất ngờ, chắc thắng?

Sau khi đi trinh sát trận địa, một phương án táo bạo, độc đáo được Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thế Thao cùng Ban chỉ huy tiểu đoàn vạch ra: Thay vì đánh địch vào lúc nửa đêm, gần sáng như phương án của đơn vị bạn trước đây đã thực hiện, Tiểu đoàn 6 sẽ đánh địch từ khoảng 17 giờ trở đi. Đây là thời điểm chúng lơ là, mất cảnh giác nhất. Ngày 8-9-1972, đơn vị bí mật đưa 300 quân của 3 Đại đội 9, 10, 11 áp sát Đồi Cháy và chỉ cách địch khoảng 70 mét. Việc giấu quân ở cự ly này là rất thích hợp bởi vừa tiện cho xung phong tiêu diệt mục tiêu, vừa tránh được hỏa lực sát thương bằng pháo binh và không quân của địch.

Cán bộ, chiến sĩ của 3 đại đội đã vùi mình trong cát gần một ngày trời: Nhịn đói, nhịn khát, không dám ho… Chỉ một sơ suất nhỏ thì địch sẽ phát hiện được ngay và gây thương vong cho tiểu đoàn. Đến 3 giờ chiều, máy bay của chúng nhiều lần đến giội bom quanh Đồi Cháy nhưng quân ta vẫn an toàn vì ở rất gần địch.

Bộ đội chiến đấu trong Thành cổ Quảng Trị. Ảnh tư liệu.

Đúng 17 giờ 25 phút ngày hôm sau, lợi dụng lúc bọn địch đang nấu cơm chiều, sau những loạt hỏa lực phủ đầu, các chiến sĩ từ trong lòng đất, nhất tề bật lên như trận gió lốc. Tiếng hô xung phong vang động một vùng. Súng B41 nhả đạn. Các khẩu AK nhả đạn. Hàng loạt lựu đạn tới tấp quăng về phía địch. Kẻ thù bị tấn công bất ngờ nên rất hoảng loạn. Tuy nhiên, sau ít phút choáng váng, chúng bắt đầu phản công. Mũi đột kích của Đại đội 9 nhanh chóng chọc thủng tuyến phòng thủ vòng ngoài song bị chững lại ở lưng đồi, vì pháo của địch trùm lên Đồi Cháy. Từ trên cao, một ổ 12,8mm quét chéo xuống sườn đồi khiến quân ta không tiến lên được. Trước tình huống phức tạp, ác liệt, Hoàng Đăng Miện trườn lên, tìm vị trí thuận lợi, rồi bỗng đột nhiên đứng vụt dậy, giương khẩu B41, bóp cò! Sau tiếng nổ đanh, ổ 12,8mm của địch câm bặt (nếu nằm bắn, đạn sẽ vọt qua mục tiêu, không tiêu diệt được chúng). Các chiến sĩ tiếp tục tràn lên tiêu diệt kẻ thù. Miện đang lắp tiếp vào đầu súng quả đạn mới thì một vầng sáng chớp lóe trước mặt anh. Hoàng Đăng Miện đã anh dũng hy sinh.

Sau hai lần xung phong, đến 19 giờ ngày 9-9-1972, toàn bộ 160 tên địch bị tiêu diệt. Ta làm chủ hoàn toàn Đồi Cháy. Do có cách đánh bí mật, bất ngờ, táo bạo của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thế Thao và đồng đội, “con mắt của thị xã Quảng Trị” như tướng ngụy Bùi Thế Lân thường rêu rao ở Đồi Cháy, đã bị “chọc mù”.

Với thành tích đặc biệt xuất sắc trong trận này, Nguyễn Thế Thao và liệt sĩ Hoàng Đăng Miện, người bị thương trong cả hai lần xung phong, vẫn xông lên tiêu diệt địch, được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 23-9-1973. Như vậy là, trong trận Đồi Cháy, Đại đội 9, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 165, Sư đoàn 312 có hai cán bộ, chiến sĩ được phong tặng Anh hùng; mang lại niềm tự hào lớn cho đơn vị.

Về với đời thường, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Đại tá Nguyễn Thế Thao, hiện ở số nhà 194, đường Hoàng Văn Thái, Hà Nội. Đận đầu năm 2012, tôi đã gặp anh tại Hội nghị thành lập Ban tổ chức kỷ niệm 40 năm Chiến dịch Quảng Trị (1972-2012) ở Hội trường Bảo tàng Phòng không – Không quân. Nguyễn Thế Thao là Trưởng ban tổ chức Lễ kỷ niệm lớn này. Trước các đồng chí, đồng đội, anh xúc động nói: “…Cách đây 40 năm, Chiến dịch mùa hè năm 1972 và Chiến dịch phòng ngự Quảng Trị 1972 là chiến dịch kéo dài nhất, ác liệt nhất, mật độ bom đạn cao nhất. Từ mặt trận Quảng Trị đến trận “Điện Biên Phủ trên không” và Hội nghị Pari là bản Anh hùng ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, mà thắng lợi đó đã mở toang khu giới tuyến, cánh cửa ngăn cách hai miền Nam – Bắc, tạo ra cục diện mới rất thuận lợi cho chiến dịch toàn thắng mùa xuân năm 1975.

Thắng lợi huy hoàng nhưng cũng có nhiều hy sinh, tổn thất: Hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vĩnh viễn nằm lại trên chiến trường. Đau thương thật là vô hạn. Đã 40 năm qua rồi mà cảnh tượng bi hùng ấy ngỡ như ngày hôm qua. Những cảm xúc luôn đau đáu trong lòng khiến ai nấy còn sống trở về càng gần gũi, giúp đỡ nhau hơn trong cuộc sống đời thường. Hơn nữa, nhiều vấn đề tồn đọng sau chiến tranh cần được giải quyết như việc quy tập hài cốt liệt sĩ, chăm lo các gia đình chính sách còn gặp khó khăn, thiếu thốn.

Xuất phát từ những suy nghĩ đó, Ban tổ chức Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến dịch Quảng Trị được thành lập và bắt đầu hoạt động…”.

Cùng ở trong Ban chỉ đạo và Ban tổ chức Lễ kỷ niệm trên, tôi có dịp gặp gỡ, trò chuyện với Đại tá Nguyễn Thế Thao. Nhỏ nhẹ, khiêm nhường, không ồn ào mà thầm lặng, sâu sắc là bản tính của anh. Qua tâm sự, Thao cho biết: Trong trận tập kích sân bay Thầm Lửng ở Lào, như trên đã nói, anh bị thương nặng. Song không hiểu sao, bản thân vẫn còn sống. Thật kỳ lạ. Thao bị ngất nhiều lần và khi tỉnh lại, sờ vào đâu trên cơ thể cũng có máu. Cảm giác đầu tiên là khát. Anh quờ quạng xung quanh chẳng có gì uống được; thoáng nghĩ, phải cố bò về hang đá, chỗ sở chỉ huy đơn vị. Thao vừa thở vừa lê lết trên đất đá lởm chởm, khét mùi thuốc súng. Anh bò tới cửa hang thì đồng đội phát hiện được, vội dìu anh vào. Thao lại ngất xỉu…

Điều trị lành vết thương, Thao tiếp tục trở về đơn vị chiến đấu. Từ Tiểu đoàn trưởng, anh lần lượt được đề bạt lên làm Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng rồi Lữ đoàn trưởng, Sư đoàn phó. Hòa bình lập lại, Nguyễn Thế Thao về Hà Nội giám định sức khỏe mới biết, mảnh đạn M79 quái ác của địch đã xuyên từ vai trái, thấu phổi của anh. Mảnh đạn đó vẫn găm ở đỉnh phổi trái và không thể mổ để lấy ra được vì đúng chỗ động mạch phổi. Gần 40 năm qua, những lúc thời tiết thay đổi, Thao phải ôm ngực, đau đớn, mồ hôi vã ra, hai mắt tối sầm. Vết thương khiến anh trở thành thương binh nặng với tỷ lệ thương tật tới 81%.

Đại tá Nguyễn Thế Thao tiếp tục tâm sự với tôi. Anh rủ rỉ, hóm hỉnh nói về “thời hiện tại” của mình:

– Tôi bị thương thế này, tưởng “ế” rồi kia đấy! Nhưng may “ông giời” thương, đến năm 1982, khi gần 40 tuổi vẫn lấy được vợ. Bà xã lại là bác sĩ cơ đấy, cùng quê Quỳnh Phụ, Thái Bình. May hơn nữa là chúng tôi sinh được hai cháu, đủ cả “nếp”, “tẻ” và đều đã tốt nghiệp đại học.

Những năm cuối thời kỳ bao cấp, cuộc sống của hai vợ chồng vất vả lắm. Lúc đầu, nhà cửa chưa có, vợ con phải đi trú nhờ Trạm khách 354 của quân đội, rồi ra ở cái “tổ tò vò” cạnh đường Điện Biên Phủ. Khi ấy tôi luôn nghĩ đồng đội, nhiều người cũng còn khó khăn, không lẽ bản thân mang cái “danh hiệu Anh hùng”, cái “máu thương binh” ra để đòi hỏi chăng? Thôi thì, anh em sống được, mình cũng sống được. Mãi sau này, hồi ở Lữ đoàn 144, đơn vị lấp mấy cái ao rau muống, chia cho mỗi cán bộ mấy chục mét vuông, mình mới có chỗ “an cư”. Được cái vợ tôi có việc làm ổn định ở Bệnh viện Thanh Nhàn, hai cháu ngoan hiền, sau khi tốt nghiệp đại học đều đã có việc làm, trong đó cháu thứ hai cũng theo bố mang nghiệp nhà binh (cháu thứ hai nhà anh Thao đã tốt nghiệp Học viện Kỹ thuật quân sự).

Tôi thành thật chúc mừng Đại tá Nguyễn Thế Thao. Quả nhiên anh có được “cái kết có hậu”. Nguyễn Thế Thao vì giữ “chức” Phó ban liên lạc Sư đoàn 312 nên đã cùng đồng đội làm nhiều việc như: Tổ chức thăm hỏi đồng đội lúc ốm đau, giúp đồng đội làm kinh tế, hoàn tất hồ sơ cho hơn hai chục cán bộ, chiến sĩ bị thương ở chiến trường, làm thủ tục công nhận thương binh, dẫn các đoàn đại biểu thăm lại chiến trường xưa và viếng những Nghĩa trang liệt sĩ ở Quảng Trị…

Những công việc ấy giúp Đại tá, Anh hùng Nguyễn Thế Thao luôn được gần gũi đồng đội, tri ân đồng đội, những người đã ngã xuống trong những trận đánh huyền thoại để đất nước mãi mãi trường tồn.

—————–

Bài 1: Khí phách kỳ diệu

Bài 3: Vang danh Vĩnh Định

Ghi chép của CHI PHAN
qdnd.vn

81 ngày đêm rực lửa tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972 (Bài 1)

Bài I: Khí phách kỳ diệu

QĐND – Qua các cuộc chiến tranh vệ quốc, cùng với biết bao vùng đất quả cảm, kiên cường của đất nước, tỉnh Quảng Trị huyền thoại là minh chứng hùng hồn cho đỉnh cao khí phách và trí tuệ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Bắt đầu từ trưa ngày 30-3-1972, sau hai cuộc tiến công bất ngờ và quả cảm, với binh chủng hợp đồng quy mô lớn của quân ta, ngày 2-5-1972, thị xã Quảng Trị được giải phóng, sau 18 năm, bị Mỹ-ngụy chiếm đóng. Trong chiến dịch này, ta đã đánh tan tập đoàn phòng ngự mạnh nhất của địch ở Quảng Trị. Hơn ba vạn quân giặc bị loại khỏi vòng chiến đấu; 178 máy bay, 11 tàu chiến, 320 xe tăng, 237 khẩu đại bác và nhiều vũ khí đạn dược của địch bị phá hủy hoặc lọt vào tay Quân giải phóng.

Sau những giờ phút hoàn hồn, để lấy lại tinh thần và nhằm gây sức ép với ta tại Hội nghị Pa-ri, họp lại vào ngày 13-7-1972, đã nhiều lần trì hoãn, địch dốc toàn bộ lực lượng, mở cuộc phản kích, tái chiếm Quảng Trị, mà mục tiêu số 1 là chiếm lại tòa Thành cổ. Chúng gọi tên cuộc hành quân này là “Lam Sơn 72” và bắt đầu từ ngày 28-6-1972.

Địch huy động máy bay phản lực, bình quân mỗi ngày 150-170 lần (có ngày 220 lần), 70-90 lần chiếc B-52; 12-16 tàu khu trục hạm và tuần dương hạm, thuộc Hạm đội 7; 2 sư đoàn dự bị chiến lược là sư dù và sư thủy quân lục chiến, một liên đoàn biệt động, 4 trung đoàn thiết giáp (mỗi trung đoàn có 79 xe tăng và xe bọc thép), cùng hàng chục tiểu đoàn khác.

Đây là cuộc hành quân cực kỳ tàn bạo mà kẻ thù không từ một hành động tội ác nào: Ném đủ các loại bom bi, bom 7 tấn, bom điều khiểu bằng la-de; bắn đủ các loại pháo chụp, pháo khoan; thả chất độc hóa học, hơi độc và hơi ngạt… Số bom đạn chúng ném xuống đây khoảng 328 nghìn tấn, tương đương với sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống hai thành phố Hi-rô-si-ma và Na-ga-sa-ki (Nhật Bản), năm 1945.

Thanh niên, sinh viên nhập ngũ vào chiến đấu tại mặt trận Quảng Trị năm 1972. Ảnh tư liệu.

Trong lịch sử chiến tranh thế giới, chưa hề có một cuộc hành quân nào mà mục tiêu chủ yếu chỉ đánh vào một tòa Thành cổ, có chu vi 2.080m, rộng chưa đầy 3km2, khiến đối phương có thể huy động một lực lượng hải, lục, không quân đông và sử dụng một khối lượng chất nổ khổng lồ như vậy.

Chính trong chiến dịch phản kích mang tính hủy diệt đó của kẻ thù, Thành cổ Quảng Trị đã mở đầu trang sử vô cùng oanh liệt, hào hùng bằng cuộc chiến đấu cực kỳ gian khổ, hiểm nguy và dũng cảm qua 81 ngày đêm mùa hè rực lửa, rung chuyển cả nước và toàn cầu từ ngày 28-6-1972 đến ngày 16-9-1972.

Lực lượng ta ở vòng trong thị xã, lúc đầu có Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B và hai tiểu đoàn bộ đội địa phương. Khi cao điểm, có thêm Trung đoàn 95, Sư đoàn 325 và Tiểu đoàn 8 của Trung đoàn 64. Chỉ huy sở của Mặt trận thị xã đặt tại hầm trong dinh Tỉnh trưởng ngụy, bên bờ sông Thạch Hãn. Lực lượng vòng ngoài có Sư đoàn 320B ở cánh Đông, Sư 308 ở cánh Nam, cùng các đơn vị xe tăng, pháo cao xạ và lực lượng du kích các xã phụ cận. Các chốt quan trọng như: Long Quang, nhà thờ Trí Bưu, ngã ba Long Hưng, trường Bồ Đề, ngã ba Cầu Ga… là những nơi, quân ta bất chấp mọi nguy hiểm, gian khổ, hy sinh, kiên quyết đập tan các đợt phản kích của địch. Đặc biệt, trong Thành cổ Quảng Trị, là tiêu điểm ác liệt nhất và cũng là nơi thể hiện tinh thần chiến đấu phi thường, huyền thoại, cực kỳ dũng cảm, hy sinh của quân dân ta. Tại đây, trung bình, một chiến sĩ phải hứng chịu hơn 100 quả bom và 200 quả đạn pháo. Có ngày như ngày 25-7-1972, kẻ thù bắn vào Thành Cổ 5.000 quả đạn. Bốn dãy tường thành ở bốn phía đông, tây, nam, bắc, dày 12m, đều bị vỡ dần; đến một viên gạch nơi đây cũng không còn nguyên vẹn.

Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra như một huyền thoại. Và cách đánh địch nhiều khi cũng vượt ra khỏi những quy ước thông thường: Súng cối 60mm, được các chiến sĩ kẹp nách, bắn ứng dụng liên tục mấy chục quả một lần; lựu đạn sau khi rút chốt, phải tính toán sao cho khi nó vừa bay tới mục tiêu là nổ. Có lúc, chiến sĩ bò sát miệng hầm của địch rồi mới tung lựu đạn vào. Trong một trận đánh, có chiến sĩ bắn tới 14 quả đạn B40, diệt 32 tên địch. Tại mặt trận, nhiều chiến sĩ bị thương một, hai, thậm chí ba lần, vẫn chiến đấu, không chịu về tuyến sau. Các chiến sĩ bộ binh, công binh, quân y, thông tin, đều cầm súng đánh địch. Bằng tính kỷ luật tuyệt vời, tinh thần dũng cảm, ý chí ngoan cường và sự hy sinh vô bờ, ai nấy kiên quyết giữ vững trận địa trong suốt 81 ngày đêm. Đó là 81 ngày đêm lịch sử bi tráng, ác liệt, hào hùng, đầy hy sinh và mãi mãi bất tử.

Đại đội 1, Tiểu đoàn 25 vận tải, Sư đoàn 320B nhận thấy, nếu chỉ dùng sức người mang vác vũ khí vào thị xã và dùng võng cáng thương binh ra, với quãng đường dài hàng chục cây số, dưới làn bom đạn của máy bay, pháo mặt đất và pháo hạm của địch thì khá vất vả, hiểm nguy mà hiệu quả thấp. Còn như dùng thuyền, vận chuyển qua sông Thạch Hãn, sẽ được nhiều hơn. Ban chỉ huy đại đội bàn bạc và thống nhất với phương án của Đại đội trưởng Nguyễn Thanh Mai (sau này, đồng chí là giảng viên của Học viện Lục quân Đà Lạt), vận động địa phương cho dùng thuyền máy của bà con ngư dân đi sơ tán, để lại ở các thôn, xóm ven sông, làm phương tiện vận chuyển. Được cấp trên chuẩn y, các chiến sĩ khẩn trương tìm những chiếc thuyền có máy móc còn tốt và một số thùng dầu ma-dút để chạy máy.

Nhớ lại những ngày ấy, các chiến sĩ không thể quên sự giúp đỡ tận tình, có hiệu quả và tình cảm chân thành của nhân dân cũng như du kích bốn thôn: Nhĩ Hạ, Vĩnh Quang, Mai Xá, Lâm Xuân… Những chiếc thuyền đánh cá, đầu máy xe tải nhỏ, máy bơm nước, máy xay xát thóc gạo, các thùng nhiên liệu chạy máy… đều là tài sản lớn mà bà con chắt chiu, dành dụm trong nhiều năm để làm ăn sinh sống. Nhưng khi bộ đội xin được trưng dụng thì ai cũng sẵn sàng ủng hộ và nói: “Mấy chú từ miền Bắc vô đây chẳng tiếc máu xương để giải phóng cho bà con, thì tụi tôi tiếc chi các thứ đó…”.

Thôn Nhĩ Hạ có o Hồng, du kích, mới 17 tuổi, mặt tròn, da trắng, mắt bồ câu. Hồng đang dẫn đường cho bộ đội thì bị pháo địch bắn dữ dội. Một số chiến sĩ mới vào chiến trường, chưa quen trận mạc nên hốt hoảng, lúng túng. Giữa lúc ấy, o bình tĩnh hướng dẫn anh em xuống trú ẩn vào các hố bom vừa nổ, bảo toàn lực lượng.

Có thuyền và nhiên liệu chạy máy, phân đội vận tải thủy của đơn vị được thành lập, kèm theo một tổ bảo đảm kỹ thuật mà nòng cốt là mấy chiến sĩ quê ở hai huyện Giao Thủy và Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ngay trong 5 đêm đầu tiên, đơn vị đã vận chuyển được 8 tấn vũ khí vào thị xã Quảng Trị và đưa gần 100 thương binh về tuyến sau an toàn. Nhưng rồi địch phát hiện ra, nên cuộc chiến ác liệt trên sông Thạch Hãn bắt đầu…

Để tìm diệt thuyền tiếp tế của ta, đêm đêm, chúng cho máy bay thả đèn dù sáng rực và rải bom từ trường trên sông, nhiều nhất là đoạn từ cầu Quảng Trị, thôn Nhan Biều đến căn cứ Ái Tử. Với ánh sáng đèn dù, các chiến sĩ cứ nghe tiếng máy bay và tiếng nổ “bụp” trên trời, liền cho thuyền đã ngụy trang, tắt máy, áp sát vào bờ; đợi đèn dù tắt, máy bay đi xa, lại tiếp tục công việc. Nhưng đối phó với bom từ trường thì không dễ, bởi bom chìm sâu dưới lòng sông, rất khó phát hiện. Nếu thuyền đi qua, tác động của chân vịt, bom sẽ phát nổ, gây thương vong, nhấn chìm vũ khí, đạn dược.

Thời gian đầu, bom từ trường của địch đã phá hủy nhiều thuyền của ta và làm hàng chục cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Đồng chí Phạm Vụ, Chính trị viên đại đội, dẫn một tổ đi tìm kiếm thi hài đồng đội để chôn cất, đã phải thu nhặt từng mảnh thi thể liệt sĩ bị bom địch hất lên bờ sông. “Cái khó ló cái khôn”, phải tìm cách chế ngự sự hiểm nguy này.

Đơn vị cử một tổ được tăng cường ba chiến sĩ công binh của Sư đoàn 320B và có du kích địa phương giúp đỡ, thực hiện rà phá bom từ trường bằng phương pháp thủ công: Dùng dây ni-lông, buộc các thùng đạn đại liên của địch (cách 5m một thùng), với độ sâu từ 1,5 đến 2m, có cây chuối làm phao; rồi chăng ngang sông và kéo xuôi dòng chảy để kích cho bom nổ. Trong quá trình rà phá bom, anh chị em phát hiện nhiều thi thể bộ đội ta hy sinh trong lúc vượt sông sang Thành cổ Quảng Trị, trôi theo dòng nước khiến anh chị em sục sôi căm thù giặc. Đêm đêm, khi đưa thuyền ngang qua các đoạn sông có bom từ trường, để hạn chế thương vong, ta tắt máy, chỉ để một người trên thuyền cầm sào giữ hướng, số còn lại, buộc dây vào mũi thuyền, lội theo mép nước, kéo qua đoạn nguy hiểm.

Trong 81 ngày đêm diễn ra chiến dịch bảo vệ thị xã, Thành cổ Quảng Trị, thì có đến gần 40 đêm, thuyền của Đại đội 1, vận chuyển vũ khí, đạn dược, thương binh cho các đơn vị bộ đội. Thường thì, mỗi đêm từ một đến ba chiếc qua sông và hầu như, đêm nào cũng có đồng đội hy sinh. Khó khăn, gian khổ và hiểm nguy như vậy, nhưng với khẩu hiệu “Đoàn Quang Sơn còn thì thị xã, Thành cổ Quảng Trị còn”, “Đại đội 1 còn thì Đoàn Quang Sơn còn được cung cấp vũ khí, đạn dược”. Anh em trong đơn vị đã đoàn kết một lòng, kiên quyết vượt qua mưa bom, bão đạn của quân thù để đưa những chuyến hàng tới đích.

Trong 81 ngày đêm, ngược xuôi dòng Thạch Hãn làm nhiệm vụ, một phần ba số quân của Đại đội 1 đã mãi mãi hóa thân vào dòng sông đầy máu lửa. Cùng với những con thuyền, hài cốt liệt sĩ của đơn vị còn nằm dưới lòng sông này. Linh hồn của các anh trở thành hồn thiêng sông nước.

… Đò lên Thạch Hãn ơi… chèo nhẹ

Đáy sông còn đó, bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm

(Thơ Lê Bá Dương)

Cuộc chiến đấu anh hùng trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, kết thúc bằng thất bại của một đội quân xâm lược đông hơn 5 vạn tên, với thừa thãi vũ khí, bom đạn hiện đại, một lần nữa làm sáng ngời chân lý: Kẻ thù dù có vũ khí tối tân đến đâu cũng phải khuất phục trước những con người có ý chí kiên cường, một lòng chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Đúng như cố Tổng bí thư Lê Duẩn tôn vinh về cuộc chiến đấu trong Thành cổ Quảng Trị: “Chúng ta đã chịu được không phải chúng ta là gang thép; vì gang thép cũng chảy với bom đạn địch; mà chúng ta là những con người thực sự, con người Việt Nam với truyền thống hàng nghìn năm, đã giác ngộ sâu sắc trách nhiệm trọng đại trước Tổ quốc, trước thời đại”.

Thành cổ cùng với thị xã Quảng Trị đã được Nhà nước ta tuyên dương danh hiệu: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Lập nên những chiến công vang dội đó, nơi đây đã thấm đẫm máu của 18 nghìn cán bộ, chiến sĩ, đồng bào Quảng Trị và cả nước. Dưới lớp cỏ non Thành cổ, ngã ba Long Hưng, được gọi là “ngã ba bom”, “ngã ba lửa”, dòng sông Thạch Hãn… bao nhiêu người con yêu nước đã mãi mãi nằm lại. Đời đời, con cháu luôn luôn tưởng nhớ một thời máu lửa, một thời oanh liệt, hào hùng mà cha anh đã làm tất cả để đánh đuổi giặc ngoại xâm, đem lại cuộc sống hòa bình, tươi đẹp như hôm nay.

————-

Bài II: Người anh hùng và trận đánh huyền thoại

Ghi chép của CHI PHAN
qdnd.vn

Tìm đồng đội trên tuyến lửa 1C (Tiếp theo và hết)

Bài 3: Điều không thể mất

QĐND – “Trở lại Tám Ngàn, chúng tôi rủ nhau xuống bờ sông, nơi xảy ra chiến trận năm xưa, tôi là người còn sống sót, đốt vài nén nhang xin tạ tội cùng các anh chị, vì chúng tôi không làm tròn trách nhiệm đưa các anh chị về nghĩa trang yên nghỉ”.

(Xin gián đoạn nhật ký của chị Minh Tâm để kể câu chuyện này cho bạn đọc rõ. Tháng 10-1969, Minh Tâm cùng các đảng viên trong đơn vị từ đất Hà Tiên sang đất bạn họp chi bộ cuối tháng. Họp xong thì được lệnh bất ngờ: Địch xuất hiện, các đảng viên ở lại để dẫn đường cho quân chủ lực đi từ Núi Dài về lộ Cái Sắn. Thật bối rối, vì dự định ban đầu chỉ là chuyến đi họp ngắn ngày, các đồng chí nữ chỉ chuẩn bị vài bộ trang phục. Nhưng vì nhiệm vụ, các chị tự làm công tác tư tưởng rồi chấp hành lệnh ngay. Xong chuyến đưa quân ấy, trên đường trở về căn cứ của đơn vị, Minh Tâm và đồng đội rơi vào ổ phục kích. Sau tiếng mìn nổ, Minh Tâm và Út Hòa dạt vào bờ nên không bị địch phát hiện. Trải qua hơn 20 ngày nhịn đói, nhịn khát, tự xác định phương hướng, hai nữ TNXP đã tìm về đơn vị trong niềm vui khôn tả của mọi người. 8 đồng đội của họ đã hy sinh trong đợt này).

Ngày 5 tháng 8 năm 1997

Các anh Sư đoàn 4 cho một vỏ máy và cử đồng chí Sư đoàn phó chính trị (Phó sư đoàn trưởng về chính trị) cùng đi với chúng tôi về rừng tràm Hà Tiên. Nay thì chẳng còn một cụm tràm nào, chỉ toàn là đồng trống, nhiều con kinh xẻ dọc, xẻ ngang, phải nhờ những người dân sống nơi ấy dẫn đường.

Gần 10 giờ sáng, theo chỉ dẫn của địa phương, chúng tôi lội lên đồng tìm được bờ đìa 3 cây gáo. Đó là điểm để dừng chân hằng đêm của chúng tôi trên đường công tác, cũng là nơi chôn cất các đồng đội của tôi. Tìm hiểu, bờ đìa này vẫn còn nguyên vẹn, chưa có dấu vết đào bới. Bởi vì, dân đồn nơi ấy có ma, họ thường thấy bóng người con gái quẩn quanh dưới gốc 3 cây gáo này.

Chị Minh Tâm (đứng giữa) cùng đồng đội trở lại Tràm Ba Đương (Kiên Giang) tìm kiếm hài cốt liệt sĩ Sáu Thiện năm 2004. Ảnh: Minh Nghĩa.

Bới cỏ tìm, vẫn còn 3 gốc gáo. Đúng rồi! Chỉ còn xác định chôn ở chỗ nào mà thôi.

Quan sát xung quanh: Đằng kia là Gộc Xây, phía trước là sông Vĩnh Tế, bên kia là đường xe thồ… tự nhiên nước mắt tôi trào ra không sao ngăn được. Đã hơn hai mươi năm rồi mới được trở lại nơi đây, được khóc cho đồng đội của mình…

Đốt ít nén nhang, đem bánh cúng… Đứng lặng nhìn làn khói hương nghi ngút, tôi hình dung về những đồng đội của mình…

Tạm biệt nơi đây, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình.

Hướng tới của chúng tôi là tìm đến Ngã Tư Đầu Trâu – một địa danh năm xưa các đơn vị TNXP đặt để gọi với nhau, vẫn còn lưu đến bây giờ. Tôi nhớ rất rõ, nơi ấy có một nền đất cao và một cây ô môi lớn: Nơi chôn cất 3 đồng đội có tên là: Việt Phương, Thông, anh Hai Quang.

Ngày Thông hy sinh, trận địa bị lộ, trực thăng quần bắn, đổ quân. Anh Sáu Thiện, Liên đội phó ra lệnh rút, sáu anh em vừa tới công sự nổi chui vào. “Cán gáo” quần sát đọt tràm, các anh lo quan sát trên trời, bộ binh luồn đi phía sau tới, leo lên nắp công sự ta mới phát hiện được. Lúc ấy ta và địch sát nhau, máy bay không quần nữa. Mấy anh em vừa bắn vừa chạy thoát khỏi vòng vây. Tìm lại đủ cả, các anh chỉ lo cho tôi, vì hôm ấy chỉ có tôi là nữ.

Khi tìm đến những người biết chỗ cây ô môi thì họ bảo rằng cây ô môi đã bị đốn từ lâu, các ngôi mộ đã lạn mất rồi! Mùa này nước lên cao quá, họ không dẫn đến đó được, hẹn lại mùa khô. Đành phải chờ! Chúng tôi nhờ họ tìm giùm, nếu gặp xin báo theo địa chỉ gửi lại.

Gần 2 giờ chiều, chúng tôi về đến Trung đoàn 30 thuộc Sư đoàn 4. Cơm nước xong, chúng tôi trao đổi với Ban chỉ huy Trung đoàn một vài nơi nữa cần tìm. Các đồng chí hứa sẽ giúp theo yêu cầu. Các anh còn nói: Ngày xưa, nơi đây là địa bàn của các anh chị, còn nay là của chúng tôi.

Qua ít phút chuyện trò làm quen, các đồng chí kể cho chúng tôi nghe vừa qua đơn vị lao động đào gặp được 12 hài cốt trên cùng một bờ đìa, còn lượm được vài chiếc kẹp bồ câu bằng vỏ máy bay; đơn vị đã đưa về Nghĩa trang Hòn Đất. Chúng tôi biết ngay đó là nơi chôn 16 người ở Liên đội 2. Như vậy còn lại 4 người nữa, nhờ các đồng chí cố gắng tìm tiếp.

Sáng ngày 6 tháng 8 năm 1997

Mưa rất to. Khi dứt hột, chúng tôi chia tay với các đồng chí Trung đoàn 30, quay về trụ sở Sư đoàn 4.

Sáng ngày 7 tháng 8

Chúng tôi chia tay nhau tại thị xã Kiên Giang.

Suốt sáu ngày, từ lúc đi cho đến khi về, có lẽ trời cũng cảm thông với nỗi đau vì đồng đội của chúng tôi, nên cứ đổ mưa dầm…

Minh Tâm viết nhật ký tại tuyến đường 1C năm 1971. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Chuyến đi này, dù chưa đạt được mục đích cuối cùng, chúng tôi cũng cảm thấy mãn nguyện phần nào. Vì đã hơn hai mươi năm rồi, niềm mơ ước mong manh này mới được thực hiện.

Chúng tôi luôn khắc ghi tình cảm của các anh Hà, Giang, Thống và các đồng chí Sư đoàn 4, Trung đoàn 30 đã nhiệt tình giúp đỡ để chúng tôi hoàn thành tốt một phần ước nguyện.

Từ chuyến đi này, chúng tôi tâm đắc chỉ có tình đồng đội mới thấu hiểu được niềm đau, nỗi khổ với nhau. Và tình đồng chí, đồng đội thật sâu nặng và lâu bền…

(Bẵng đi khá lâu, công cuộc tìm kiếm đồng đội hy sinh trên tuyến lửa 1C không được chị Minh Tâm viết tiếp vào nhật ký. Những chuyến đi của chị và đồng đội đã cuốn hết thời gian và sức lực, chị chỉ còn kịp ghi ngày tháng và một số cột mốc đáng nhớ trên hành trình tìm đồng đội. Theo đề nghị của chúng tôi, chị lần giở cuốn sổ và kể lại).

Mãi tháng 6-2000, tôi và Tuyết Thu mới có điều kiện lên Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Cần Thơ xin hỗ trợ kinh phí đi quy tập hài cốt Sáu Bé, vì Sáu Bé vốn người Cần Thơ. Họ giới thiệu sang Tỉnh đội Cần Thơ (Bộ CHQS tỉnh Cần Thơ – PV) vì Tỉnh đội là cơ quan báo tử. Tỉnh đội cử một cán bộ đi cùng chúng tôi, nhưng kế hoạch công tác đi trong ngày. Từ Cần Thơ đến nơi chôn cất Sáu Bé đã gần 12 giờ trưa. Lần trước đi tìm, chỉ xác định được khu vực vì khi đó đang mùa mưa. Nay trời khô ráo nhưng đã hơn 20 năm, chỗ này chẳng còn chút dấu vết gì của ngày xưa, muốn tìm chắc phải mất thời gian. Chúng tôi phải trở về trong ngày nhưng bụng tự nhủ nhất định không bỏ cuộc, phải tìm được đồng đội mình về.

Đến cuối tháng 5-2001, đồng chí Tuyết Thu đề xuất với anh Năm Đoàn, nguyên Liên đội trưởng TNXP đường 1C đang ở tại TP Hồ Chí Minh, có thêm đồng chí Cao Long Phiêu đi tìm một chuyến, kinh phí hoàn toàn tự lực. Chuyến đi kéo dài một tuần lễ này, tại Hòn Đất, chúng tôi đã tìm ra nơi Sáu Bé nằm, mấy anh em bàn nhau cất bốc về luôn.

Tiếp đó, chúng tôi qua kênh Vĩnh Điều, tìm đến nơi đồng chí Võ Hồng Láng hy sinh. Đồng chí Hồng Láng thuộc Đại đội TNXP Nguyễn Việt Khái II, bị biệt kích phục kích trên sông Vĩnh Tế. Đồng chí bị thương nặng, bị giặc bắt về đồn Vĩnh Gia nhưng đã chấp nhận hy sinh, không khai báo gì cho giặc (Võ Hồng Láng về sau được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân – PV). Khi Hồng Láng hy sinh, địch bắt dân đem chôn cùng đồng chí Cường và một đồng chí bộ đội chủ lực. Nhân dân trong vùng đã chôn cất và chăm sóc phần mộ cho đến khi chúng tôi tìm đến.

Sau chuyến đi này, đồng chí Tuyết Thu đi khảo sát tiếp hai, ba chuyến nữa, phát hiện mộ đồng đội của chúng tôi còn ở rất nhiều nơi: Gộc Xây nhỏ, Gộc Xây lớn, bờ đìa Ô Môi, Tràm Ba Đương… Mấy chục năm qua, khu vực đường 1C, máu lửa năm xưa thành nơi hoang vắng. Chỉ có những hộ dân đi làm rẫy thì thi thoảng, vô tình gặp hài cốt liệt sĩ. Điều đó cũng khó trách ai, vì chính chúng tôi, những người đã trực tiếp chôn cất đồng đội mình mà sau biết bao năm mới trở lại, mà trở lại cũng không dễ dàng tìm thấy nơi các anh, các chị nằm xuống. Cũng chính điều này thôi thúc chúng tôi đi nhiều hơn.

Đến ngày 27-7-2002, kỷ niệm 55 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ, được Tỉnh đoàn Kiên Giang đồng ý cùng tổ chức, chúng tôi đã tổ chức quy tập ở hai vị trí có nhiều mộ liệt sĩ nhất là Gộc Xây lớn và Gộc Xây nhỏ. Đợt này, chúng tôi cất bốc 42 hài cốt liệt sĩ, trong đó có 13 đồng chí xác định được tên tuổi, quê quán. Khi đào lên, ba chúng tôi gói từng hài cốt, ghi rõ họ tên, báo cho gia đình các liệt sĩ đã có tên. Khi các gia đình đến nhận, đồng chí Tuyết Thu và Út Mãnh cùng gia đình đưa hài cốt liệt sĩ về tận quê. Nhiều gia đình xúc động nói với chúng tôi: “Nếu không có các em, các cháu thì tôi chẳng bao giờ gặp lại được người thân”. Những tâm sự ấy là lời động viên để chúng tôi vượt qua bao thủ tục rườm rà, bao khó khăn về vật chất và tinh thần để tiếp tục công việc của mình. Hàng trăm hài cốt của đồng đội nằm lại trên tuyến lửa 1C đã được Tuyết Thu, Út Mãnh và nhiều đồng chí khác công phu, kiên trì quy tập về. Một Đoàn cựu TNXP đi quy tập hài cốt đồng đội được thành lập. Tôi bận công tác Hội nên không tham gia được, Tuyết Thu và Út Mãnh tiếp tục tham gia và có nhiều đóng góp lớn cho nghĩa cử cao đẹp ấy. Đến nay, phần lớn hài cốt của đồng đội hy sinh trên tuyến lửa 1C, rải rác khắp mấy chục địa điểm từ địa bàn Hà Tiên – Vĩnh Tế – Ba Hòn kéo dài xuống lộ Cái Sắn – Kiên Giang đã được quy tập về các nghĩa trang, nhiều người trở về với quê hương, bản quán, người thân. Đó là điều khiến mỗi chúng tôi như được an ủi, vỗ về mỗi dịp tháng 7 mênh mang khơi gợi ký ức máu lửa, khiến chúng tôi như sống lại một thời đã sống quên mình cho độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc.

———-

Bài 1: Nơi sắt thép cũng bị nung chảy
Bài 2: Trở lại Ba Hòn

HỒNG HẢI
qdnd.vn

Tìm đồng đội trên tuyến lửa 1C (Bài 2)

Bài 2: Trở lại Ba Hòn

QĐND – Hành trình đi quy tập hài cốt đồng đội của các nữ TNXP trên tuyến lửa 1C bắt đầu vào năm 1997. Năm đó, các cựu TNXP được tụ họp nhân dịp khánh thành Tượng đài TNXP đường 1C ở Kiên Giang. Tổ 3 người, Minh Tâm, Tuyết Thu và Út Mãnh hết sức vui mừng, gặp lại nhiều đồng đội của mình. Nhớ những đồng đội thân yêu đã vĩnh viễn ra đi, chị và các bạn hẹn nhau cùng đi một chuyến, tìm về góc núi, ven rừng; nơi đồng đội mình đã từng nằm lại trong những ngày chiến tranh ác liệt năm xưa.

Và những trang nhật ký đi tìm đồng đội của chị Lâm Thị Minh Tâm bắt đầu từ đây. Chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc nguyên văn những trang nhật ký xúc động này.

14 giờ ngày 2-8-1997

Đúng hẹn, tôi, Thu, Phượng, Thông cùng nhau lên đường.

Ngồi trên chuyến xe đò bon bon về thị xã Rạch Giá trong mưa bão, sao lòng tôi cảm thấy nóng ran, mong cho đến nơi thật nhanh để được nghe kế hoạch của cuộc hành trình.

Đi ngay đợt mưa bão, chắc sẽ rất khó tìm. Song chúng tôi đều nhất quyết ra đi, vì cái lạnh hôm nay đâu bằng cái lạnh của đồng đội mình hơn hai mươi năm qua vẫn còn nằm giữa rừng núi mênh mông, hiu quạnh.

Đến thị xã Rạch Giá hơn 5 giờ chiều, các anh đón chúng tôi tại khách sạn Thanh Niên. Mọi người đã đến đúng hẹn. Hồng Thắm ở TP Hồ Chí Minh cũng đã đến. Cần Thơ năm người, mới có bốn, còn thiếu chị Tám Điền ở Vị Thanh. Chị điện thoại đến, hẹn có mặt trước 7 giờ sáng 3-8.

Hơn 7 giờ sáng, ngày 3-8-1997

Chúng tôi tập trung tại Tỉnh đoàn Kiên Giang chờ chị Tám Điền đến là xuất phát. Rất nhiều người ủng hộ chúng tôi trong chuyến đi này, anh Thống, Bí thư Tỉnh đoàn Kiên Giang, anh Hà, Đài Truyền hình Kiên Giang, anh Giang, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Kiên Giang. Tuy các anh không cùng đơn vị, nhưng đã cùng kề vai, sát cánh với chúng tôi trong những ngày chiến đấu oanh liệt trên đất Ba Hòn năm ấy.

Khu di tích Hòn Đất. Ảnh minh họa/internet.

Kế hoạch đầu tiên ở phía Hòn Đất là tìm nữ đồng chí Sáu Bé, bị biệt kích bắn gần mé biển vùng Hòn Đất. Kế đó, tìm về những cửa hang nơi đơn vị chiến đấu với địch, bị chúng bao vây hơn 5 tháng ở cả Hòn Đất, Hòn Me. Chị Tám Hoa nằm lại nơi đây.

Hơn 9 giờ sáng, chúng tôi đến xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất. Các anh Hà, Giang vào báo cáo với xã mục đích của đoàn đi. Được xã nhiệt tình giúp đỡ và cử một cán bộ phụ trách thương binh – xã hội, cho một vỏ máy cùng đi với chúng tôi.

Đã hơn hai mươi năm rồi, cảnh vật hoàn toàn thay đổi, không còn một dấu vết gì của ngày ấy cả. Rừng cây mấm, rá năm nào, thay vào đó là những rẫy bí xanh um, đang mùa nở hoa vàng rực. Muốn tìm lại, nhưng nơi ấy thật khó quá! Chỉ còn cách đi tìm những người sống trước đây, nhờ họ chỉ dẫn chúng tôi.

Xuồng máy đi mấy giờ đồng hồ, hết kinh này đến rạch khác, vẫn chưa tìm được.

Gần 12 giờ trưa, chúng tôi để bớt lại một vài người sức khỏe kém, ở tạm nhà dân, mượn một xuồng máy nhỏ tiếp tục đi. Lúc này chỉ còn có anh Giang, Hà, Thống, chị Tám Điền và tôi.

Đi đến một con rạch nữa, mưa cũng đang trĩu hạt. Chúng tôi mặc áo mưa lên hỏi thăm một nhà dân. Một em nhỏ nhanh lẹ chạy ra chỉ chúng tôi:

– Kìa! Ngang con rạch có gốc me lớn lắm. Hồi mới về ở đây, tối, ai đi qua lại ngang gốc me này cũng đều thấy bóng người con gái mặc đồ đen, còn rất trẻ…

Tuy không tin vào mộng mị, nhưng những điều em nhỏ kể sao trùng hợp quá, tôi mừng thầm là mình tìm đúng nơi rồi. Nghe xong, mấy anh em liền vượt qua chiếc cầu khỉ bắc ngang con rạch nhỏ, đến gốc me. Sau khi hỏi thăm lai lịch của gốc me, tôi hỏi chị chủ nhà:

– Chị ơi! Gần đây có hố bom nào lớn không?

– Có, hố bom lớn lắm ở ngoài kia. Phía trước có hàng dừa là con mương lạn ngày xưa…

Mừng quá, mấy anh em lội ra ngay. Nhìn hố bom vẫn còn nguyên vẹn, nước vẫn trong veo như ngày nào. Lặng nhìn cảnh vật hôm nay, những kỷ niệm ngày nào hiện về trong tôi…

Hôm ấy, vào lúc 10 giờ ngày 12 tháng 4 năm 1971, mấy anh em đang nghỉ trưa, biệt kích vào nổ súng, các anh kịp thời chiến đấu. Khi giặc ồ ạt tràn qua, tôi và Sáu Bé vừa chạy ngang qua hố bom này thì Bé bị trúng đạn, ngã ngửa trên mặt nước hố bom. Tôi cứ ngỡ nó té, liền đứng lại gọi: Bé ơi! Bé! Thấy nó vẫn nằm yên, máu vọt ra đỏ cả một vùng. Tôi biết Bé đã hy sinh. Trên đầu “cán gáo”, trực thăng vũ trang, ngoài biển pháo hạm bắn lên, dưới đất thì bộ binh, không còn đường thoát, mấy anh em chỉ còn kịp chém vè (chạy – PV) vào một đám rán khô, rút chốt lựu đạn chờ chúng đến để cùng “chia”. Bọn này cũng nhát gan, đánh vào xong, rút ra ngay, không dám lùng sục nên mấy anh em hụt chết.

Tan giặc trở về, các anh vớt Bé lên, bộ quần áo đen mặc trong mình, ướt đẫm. Tìm được miếng cao su che tăng, bứt dây rừng bó Bé lại, đem đến chôn cạnh gốc me này. Khi chôn xong mấy anh em quay về đơn vị ở Hòn Đất. Đi mới hơn trăm mét, pháo hạm bắn lên làm bay mất nấm mộ, các anh phải ở lại đắp cho xong mới yên lòng đi tiếp. Từ ấy đến nay tôi mới có dịp trở lại.

Những đặc điểm cần tìm đã có đủ rồi, nhưng chưa đào tìm được vì nước còn cao quá. Chúng tôi đốt ít nén nhang, đem bánh ra cúng để ấm lòng đồng đội trong một chiều mưa bão và hứa với vong linh Bé rằng một ngày không xa, chúng tôi sẽ trở lại đưa Bé về nghĩa trang yên nghỉ và báo cho gia đình biết để viếng thăm. Chúng tôi trở về xã Bình Sơn.

Cơm nước xong hơn 4 giờ chiều, chúng tôi tranh thủ leo vào hang Hòn Me. Mưa liên tục, đất đá trơn trượt, anh Hà, Giang vẫn hăng hái đốt đuốc dẫn chúng tôi lần dò tìm tới những cửa hang, nơi đơn vị các anh, đơn vị chúng tôi chiến đấu ngày nào… Dù thời gian cứ trôi theo năm tháng, tôi vẫn nhớ như in… Đó là những giờ phút cuối cùng, giặc đã vây kín các cửa hang, gọi ta ra hàng. Đơn vị chúng tôi cùng đơn vị các anh phải chiến đấu suốt ngày đêm, giành với địch từng cửa hang, hốc đá, để bảo vệ cho cả tiểu đoàn tân binh miền Bắc mới vào chi viện cho miền Tây. Chỉ còn 25 phút nữa, được lệnh khẩn rút ra khỏi Hòn, Ban chỉ huy Đại đội chúng tôi đang hội ý bàn kế hoạch rút cho an toàn, bỗng nghe một tiếng nổ chát tai, đất đá đổ rào rào. Chúng tôi chạy tới, thì ra, một trái M79 địch bắn lọt vào cửa hang. Hiếu và Tám Hoa bảo vệ nơi ấy bị thương hết. Tám Hoa bị nặng quá, ít phút sau đó chị đã trút hơi thở cuối cùng.

Trong giờ phút khẩn trương quyết liệt này, chỉ còn kịp bó chị lại, để tại nơi ở hằng ngày. Tất cả đơn vị từng người, từng người đi qua cúi đầu chào vĩnh biệt để chị ra đi. Nỗi đau này, kỷ niệm này làm sao xóa nhòa trong tâm trí của chúng tôi. Giờ chúng tôi quyết tìm đến cửa hang, nơi để thi hài của chị thì được biết sau đó địa phương đã đưa ra nghĩa trang Hòn Đất rồi. Chúng tôi cố tìm thăm mộ và khắc tên cho chị.

Gần 6 giờ tối, không còn qua Hòn Đất kịp, chúng tôi tranh thủ đến viếng mộ chị Sứ, người con gái anh hùng trên đất Ba Hòn. Nơi đây, lúc đơn vị chiến đấu là điểm pháo của địch từ Hòn Sóc bắn qua. Xung quanh phần mộ ngày nào cũng bom cày, đạn xới. Hôm nay, ngôi mộ của chị đã được xây dựng khá khang trang. Trời mưa ẩm ướt, đốt cháy được bó nhang để viếng chị thật khó khăn.

Hết một ngày tìm kiếm, đoàn chúng tôi trở về thị xã Kiên Giang. Trên đường qua nghĩa trang Hòn Đất, dù trời đã tối, chúng tôi cũng phải dừng lại, đi tìm người quản lý để biết mộ chị Tám Hoa. Chẳng may người ấy mới tiếp nhận nên không rõ, đành phải nhờ anh Hà, Giang tìm giùm.

Xong nghĩa vụ phía Hòn Đất, chia tay với các anh ở Kiên Giang, em Thông có việc phải quay về, còn lại sáu anh em: Bảy Phi, Tám Điền, Thắm, Thu, Phượng và tôi đi về Hà Tiên – nơi chiến trường đầy gian lao và ác liệt, nhiều kỷ niệm nhất, cũng là nơi nhiều đồng đội tôi đã ngã xuống…

Sáng hôm sau, 4 tháng 8 năm 1997

Xe các anh Đài Truyền hình Kiên Giang đưa chúng tôi về Sư đoàn 4, trong gió mưa tầm tã…

Hơn 10 giờ sáng, đến Ban chỉ huy sư đoàn, anh Năm Núi, Sư phó (Phó sư đoàn trưởng – PV) tiếp chúng tôi. Khi nghe nói mục đích của đoàn đi, anh nói vui: “Đúng nguyên tắc, có giấy giới thiệu hẳn hoi chúng tôi mới tiếp các anh chị, nhưng trước tấm lòng cao quý của anh chị ở thời buổi này, hơn nữa, tìm đồng đội cũng là trách nhiệm chung của mọi người, tôi hứa sẽ hỗ trợ các anh chị đến cùng”. Anh cũng tâm sự với chúng tôi, ngày xưa các anh đã từng kề vai sát cánh với thanh niên xung phong. Các anh chị còn gian khổ hy sinh hơn chúng tôi, nhiều khi chuẩn bị cho trận đánh, các anh chị phải mang vác đạn pháo đến trước. Khi xong trận phải tải thương và thu dọn chiến trường…

Cơm nước xong trời đã xế chiều, mưa vẫn không ngớt. Các anh cho xe đưa chúng tôi đến vàm kinh Chiến Thắng. Nơi này vào năm 1969, đơn vị tôi đưa quân về miền Tây, lúc trở về bị biệt kích gài mìn dưới sông và không kích ở trên đầu doi Tám Ngàn. Khi đoàn ra mìn nổ, biệt kích Mỹ đi pho-ca bao vây 8 đồng đội của tôi chìm xuống dòng sông này, 5 người không thấy thi thể, còn 3 người trôi ra “ấp chiến lược” Vàm Rầy, dân lén vớt lên chôn cất. Chúng tôi tìm đến những người đã an táng các anh chị ngày ấy, họ đều đi vắng, phải ra tới mé biển Vàm Rầy. Khi gặp chúng tôi, nhờ diễn tả lại hình dáng của từng người, tôi biết ngay là chị Ba Cam và Út Mười Lăm. Còn một nam mặc đồ bộ đội, tôi không nhớ rõ là người nào vì quá lâu rồi.

Hỏi thăm xong, chúng tôi nhờ người ấy dẫn đến những nơi vớt từng người và chỗ an táng, thì được biết, ở xã đã đưa các anh, chị về nghĩa trang Hòn Đất cùng đồng chí xã đội phó hy sinh. Chúng tôi đã tìm đến mộ và nhờ những người chăm sóc nghĩa trang khắc tên cho các anh, chị. Còn 5 người không biết trôi dạt đến nơi nào không ai nhìn thấy. Ôi đau xót quá!

——-

Bài 1: Nơi sắt thép cũng bị nung chảy

Bài 3: Điều không thể mất

Hồng Hải
qdnd.vn

Tìm đồng đội trên tuyến lửa 1C (Bài 1)

Bài 1: Nơi sắt thép cũng bị nung chảy

QĐND – “Nhiều đêm gặp lại đồng đội mình trong giấc mơ, khi tỉnh giấc tôi luôn băn khoăn suy nghĩ và thầm ao ước được trở về chiến trường xưa, tìm nơi đồng đội mình đã ngã xuống năm nào, đem niềm an ủi dù rất muộn màng về cho gia đình họ. Đó là bổn phận, là trách nhiệm của những người còn sống hôm nay” – chị Lâm Thị Minh Tâm, Chủ tịch Hội Cựu TNXP thành phố Cần Thơ tâm sự với tôi như vậy.

Tôi biết chị Lâm Thị Minh Tâm đã lâu. Năm 2005, khi Hội Cựu TNXP Việt Nam giới thiệu các gương sáng cựu TNXP, chúng tôi đã rất xúc động khi nghe chị kể chuyện cùng với hai đồng đội (Tô Thị Tuyết Thu, Lê Thị Út Mãnh) thành lập tổ quy tập hài cốt đồng đội hy sinh trên tuyến lửa 1C.

Tuyến lửa 1C là tuyến nào? Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dân tộc ta đã hình thành nên những con đường vận chuyển huyền thoại. Đường 1C có lịch sử oanh liệt, hào hùng không khác gì hai tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển và xuyên Trường Sơn mà sử sách dân tộc đã mãi khắc ghi. Tuyến lửa 1C là đoạn nối tiếp giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, kéo dài từ biên giới nước bạn Cam-pu-chia qua kênh Vĩnh Tế, Hà Tiên, Hòn Đất… cho đến kênh Cái Sắn (Kiên Giang). Vũ khí và con người từ hậu phương lớn phải đi qua con đường độc đạo này để đến với đồng bào miền Tây. Bao xương máu của lực lượng TNXP đã đổ xuống con đường này, không bút mực nào tả xiết. Đặc biệt hơn, lực lượng TNXP ở tuyến 1C chủ yếu là nữ. Họ đối mặt với lực lượng địch luôn đông gấp bội, với bom, đạn, đói khát và thiếu thốn trăm bề… nhưng tất cả đã không sờn lòng, nản chí, người trước ngã, người sau xông lên, quyết không để vũ khí rơi vào tay giặc và đưa kịp về chiến trường. Điểm khác của tuyến đường 1C với những chiến trường khác là lực lượng TNXP trụ ở đây, dù đánh giặc hay bị giặc càn quét, không được rút đi nơi khác, mà phải kiên gan giữ vững vị trí, dù địch có càn quét, phản kích, đánh bồi, đánh nhồi ngay nơi giặc biết rõ tên từng người, từng công sự. Ta vẫn phải kiên cường tồn tại ở nơi đã “lộ”, bởi đây là tuyến đường vận chuyển độc đạo, không có con đường nào khác. Những cuộc quần thảo khốc liệt giữa ta và địch cũng từ đó mà ra. Có người đã nói ngắn gọn: 1C là nơi sắt thép cũng bị nung chảy, tan ra nhưng con người đã đi qua được.

Minh Tâm là một chiến sĩ TNXP đã có mặt từ ngày đầu và cùng đơn vị bám trụ ròng rã 8 năm trên “tọa độ chết” ấy, cho đến ngày toàn thắng của dân tộc. Ngày 19-5-1967, mới 16 tuổi, chị đã âm thầm trốn nhà nhập ngũ vào Đại đội TNXP Nguyễn Việt Khái III do Tỉnh đoàn Cà Mau tổ chức. Cuộc chiến đấu khốc liệt nơi chiến trường 1C giờ đây là ký ức không thể nào phai mờ trong tâm hồn chị. Khi chúng tôi vào Cà Mau, rồi lần theo địa chỉ của những cựu TNXP cung cấp, tìm được chị ở ngay giữa thành phố Cần Thơ thì chúng tôi rất đỗi vui mừng. Nhưng khi hỏi chị về chuyện cũ, thì vì những lý do riêng, chị lại muốn vùi sâu, chôn chặt những kỷ niệm đó.

Các diễn viên trong vai thanh niên xung phong hoạt động trên tuyến đường 1C trong một cảnh của bộ phim truyện truyền hình Huyền thoại 1C dài 20 tập (kịch bản Anh Động, đạo diễn Nguyễn Thanh Vân, Hãng phim Tây Nam sản xuất). Ảnh minh họa/internet.

Minh Tâm có một cuốn nhật ký, ghi lại rất nhiều sự kiện đã trải qua trong cuộc đời chiến đấu cũng như hành trình đi tìm đồng đội về sau… nhưng chị không muốn tiết lộ. “Nước chảy, đá mòn”, chúng tôi đã kiên trì thuyết phục. Chúng tôi nán lại Cần Thơ, mỗi tuần, đến thăm gia đình chị vài ba lần, nhắc lại những câu chuyện một thời sôi nổi. Rồi theo lời khuyên của chị, tôi đã đi về Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cà Mau, Kiên Giang, Vĩnh Long… gặp được rất nhiều cựu TNXP trên tuyến lửa 1C. Trong những câu chuyện mà họ kể, hình ảnh nữ chiến sĩ Minh Tâm gan dạ, dũng cảm lại hiện ra sáng rõ.

Khi chúng tôi trở lại Cần Thơ, dường như cảm động trước tấm lòng của phóng viên Báo Quân đội nhân dân, chị Minh Tâm đã cởi mở hơn rất nhiều. Bao nhiêu tài liệu, hiện vật trong cuộc đời chiến đấu, chị đều cung cấp cho chúng tôi. Rồi chị tâm sự: “Tôi cũng như bao đồng đội TNXP khác có may mắn được trở về với đời thường. Niềm tâm sự đau đáu nhất của tôi là nghĩ về những người đã ngã xuống, còn nhiều lắm, vẫn nằm lại nơi đồng hoang, nước độc. Tôi cũng có một kỷ niệm không bao giờ quên, muốn được kể lại”.

Câu chuyện không bao giờ quên ấy xảy ra vào trung tuần tháng 5-1971. Lần đó, Ban chỉ huy Liên đội TNXP 1 của tuyến đường 1C cử cán bộ xuống triển khai nghị quyết của Đảng ủy về việc chuẩn bị rút ra khỏi Hòn Đất, Hòn Me, trở về gần biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia, chuyển hướng hoạt động chủ yếu về phía sông Tiền. Thời gian này, địch tập trung đánh quyết liệt vào Hòn Đất, Hòn Me, căn cứ chính của Liên đội. Khi đó, nhiều cán bộ ở cơ sở bị giặc bắt, chịu không nổi tra tấn, đã khai với địch về đội hình và sự bố trí của Liên đội TNXP 1. Sư đoàn 9 của địch vừa đến thay Sư đoàn 21 nên rất hung hãn chỉ chực lập công. Bọn này có nhiều kinh nghiệm càn quét ở địa hình có nhiều hang núi. Khi còn trên đất bạn Cam-pu-chia, đơn vị của Minh Tâm đã đọ súng với chúng ở Sóc Mẹt. Hang nào muốn xuống đánh, chúng lượm đá chọi thử, nghe xem tiếng đá nông sâu rồi mới đánh. Lực lượng ta lúc đó quá ít, nhiệm vụ phải trụ lại căn cứ Hai Hòn cũng đã xong nên cấp trên quyết định tập trung trụ ở Hòn Me, chuyển hết số thương binh đi rồi rút lui bảo toàn lực lượng.

Đêm chuyển thương binh ở Bệnh xá Hòn Đất thật cảm động. Ngày 15-5-1971, giặc chiếm tất cả các hang hòn. Những tên phản bội dẫn giặc đến từng hang gọi tên anh chị em TNXP ra hàng. Ta không có cách nào đưa thương binh ra được, đành phải cử người bò vào động viên từng thương binh tự bò ra khỏi hang để TNXP đón phía dưới khiêng hoặc dìu đi. Nhiều thương binh bị gãy chân, tay vốn khó cử động, vậy mà trước tình thế đó đã tự bò ra khỏi hang. Đặc biệt nhất là có 3 thương binh bị bệnh não, cứ la hét ầm ĩ, không cách nào đưa đi được. Đơn vị Minh Tâm phải cử một tổ bảo vệ ở lại, tìm đường hầm bí mật đưa 3 thương binh ra. Nhưng bốn bên là giặc dày đặc, lại có bọn phản bội làm tai mắt rình mò, bọn địch đã thiết lập một mạng lưới vây kín các mặt. Các chiến sĩ bảo vệ nọ đã hy sinh cùng 3 thương binh. Còn trong số các thương binh tự bò ra được, có người đi lạc đường, Minh Tâm cùng đồng đội len lỏi trong đêm tối đi tìm, khi gặp được nhau, họ ôm lấy nhau mà rơi nước mắt.

Chiều 17-5-1971, Minh Tâm khắc sâu kỷ niệm đau buồn mà mãi cho đến ngày hôm nay, chị vẫn không sao quên được. Đó là sự hy sinh của người đồng đội Tám Hoa, người đã cùng chị chia sẻ mọi buồn vui trên tuyến đường lửa. Tám Hoa hy sinh đúng vào lúc đơn vị nhận lệnh rút khỏi hang, giữa lúc địch đã vây kín bên ngoài. Không còn thời gian chôn cất bạn, cũng không còn cơ hội mang bạn đi theo, Minh Tâm và đồng đội đã chăm sóc Tám Hoa lần cuối, rồi đặt người đồng đội vào đúng vị trí thường ngày chị vẫn ngủ, làm động tác chào trước lúc rút đi. Minh Tâm ngậm ngùi, lòng trào dâng bao cảm xúc, muốn gọi tên bạn nhưng cổ đã nghẹn lời. Cô thì thầm: “Hoa ơi, Tâm cùng tất cả đồng đội sẽ trả thù cho bạn”.

Cái chết của Tám Hoa chỉ là một trong rất nhiều sự hy sinh diễn ra ngay trước mắt Minh Tâm. Để rồi giờ đây, mỗi khi kỷ niệm ùa về, chị lại đứng ngồi không yên với muôn vàn cảm xúc. Chính vì thế, trên hành trình quy tập hài cốt đồng đội về sau này, việc tìm kiếm hài cốt của liệt sĩ Tám Hoa được chị Minh Tâm đặc biệt chú ý.

“Lần đầu tiên chị làm công tác thương binh, tử sĩ là vào khoảng giữa năm 1968, em ạ! Đó là quãng thời gian chị đang thử thách, chuẩn bị kết nạp Đảng” – chị Minh Tâm bất chợt nhớ lại.

Sống trên tuyến đường 1C, điều khiến các TNXP ngại nhất là thời điểm giao mùa, con đường nửa nước, nửa khô. Mỗi đêm đi công tác, qua mấy chục cây số lội sình, lội nước là điều rất gian khổ, cơ cực. Phải xắn quần để lội sình thì bị cỏ bắc cắt nát ống chân, qua đêm bị mủ sưng tấy, trắng bệch, chị em phải lấy nước gạo xát vào, rồi lại tiếp tục đi. Thời gian này, bộ đội chủ lực từ miền Bắc vào tăng cường cho miền Tây, nối nhau đi qua tuyến đường lửa máu mà đơn vị Minh Tâm phụ trách. Ta càng hành quân nhiều, đường 1C càng bị lộ, có lúc địch đánh ta hy sinh nhiều quá, các nam TNXP đi chôn cất không đủ, phải phân công cả nữ TNXP đi cùng. Lần đầu đi chôn cất đồng đội của Minh Tâm là vào dịp ấy. Đúng hôm chị vừa đi công tác về, được chỉ huy cho biết: Hai TNXP tên là Thim và Nhỏ được cử chở thương binh về miền Tây, mới tới Kinh Bèo thì bị máy bay cán gáo của địch bắn hy sinh hết. Cấp trên cử Minh Tâm phụ trách 4 đồng chí nữa đi chôn cất.

Đó quả là thử thách lớn đối với cô gái mới 17 tuổi. Nhiệm vụ được giao, Minh Tâm tự củng cố tinh thần rồi lên đường. Đến vị trí quy định thì thi thể 2 đồng đội đã hy sinh mấy ngày rồi, cơ thể bị phân hủy, bốc mùi rất khó chịu. Trước đó, máy bay địch rà qua, lại bắn thêm mấy loạt đạn khiến thi thể của hai đồng chí rã rời, nổi lềnh bềnh trên mặt sình. 5 chiến sĩ TNXP trẻ tuổi vẫn còn sợ ma, không ai dám đi trước nên hè nhau dàn hàng ngang cùng tiến. Vậy mà khi lại gần, thấy đồng đội mình đã hy sinh, lòng thương tiếc trỗi dậy dẹp đi mọi sợ hãi, cả 5 người sát cánh bên nhau tìm cách chôn cất bạn, ngụy trang cẩn thận trước khi trở về đơn vị. Từ lần đầu thử thách ấy, nhiệm vụ chôn cất đồng đội không còn là nỗi sợ hãi của Minh Tâm nữa.

———–

Bài 2: Trở lại Ba Hòn

Hồng Hải
qdnd.vn